Nhiều tài liệu đã được xuất bản, công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông và một số trong chúng đã được biên tập, dịch ra tiếng Việt như: “Nền kinh tế tri thức” của Viện nghiên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
Phùng Bình Lâm
KINH TẾ TRI THỨC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa
Mã số : 5.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHÍ MẠNH HỒNG
Trang 2MỤC LỤC Trang
Mở đầu
Chương 1: Khái luận về kinh tế tri thức
1.1 Khái niệm kinh tế tri thức
1.2 Một số đặc điểm của kinh tế tri thức
1.3 Đo lường trình độ phát triển kinh tế tri thức của một quốc gia
Chương 2: Chiến lược hướng tới kinh tế tri thức của một số quốc
gia
2.1 Tình hình phát triển kinh tế tri thức trên thế giới
2.2 Thích ứng với xu hướng kinh tế tri thức qua chiến lược phát
triển ở một số quốc gia
2.3 Nhận xét chung về các chiến lược
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nhằm tiếp cận
kinh tế tri thức ở Việt Nam
3.1 Tổng quan kinh tế Việt Nam hiện nay
3.2 Đánh giá nền móng kinh tế tri thức ở Việt Nam
3.3 Một số giải pháp định hướng
Kết luận
Phụ lục
Phụ lục 1 Hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức của APEC
Phụ lục 2 Hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức KAM của
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Kinh tế tri thức là một xu hướng toàn cầu đang diễn ra rất mạnh, lan tỏa nhanh, tác động không nhỏ đến kinh tế thế giới, đặt ra cho các nước đang phát triển nhiều cơ hội và thách thức Tuy thực tế chưa chín muồi nhưng quá trình phát triển của nó đang tuân theo một logic thống nhất mặc cho sự tồn tại của nhiều quan điểm, thậm chí trái ngược nhau về định nghĩa, đặc điểm, bản chất,
xu hướng phát triển và tác động đến các mặt kinh tế- xã hội Do đó việc tìm hiểu khái niệm, nhận diện kinh tế tri thức với ý nghĩa chính xác hóa, chỉ ra xu thế phát triển trở thành vấn đề hết sức quan trọng
Để hiểu rõ vấn đề trên thì bên cạnh nghiên cứu lý luận, việc xem xét chiến lược hướng tới kinh tế tri thức của một số quốc gia tiêu biểu sẽ giúp chúng ta nhận thức đầy đủ hơn cũng như sẽ gợi ra những nội dung quan trọng cho việc xây dựng chính sách phát triển kinh tế đúng, hiệu quả ở VN
2 Tình hình nghiên cứu
Từ những năm 90 thế giới đã rất quan tâm nghiên cứu kinh tế tri thức, không chỉ ở mức quốc gia riêng lẻ mà còn có các tổ chức quốc tế và khu vực như OECD, WB, UNDP, APEC Nhiều tài liệu đã được xuất bản, công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông và một số trong chúng đã được biên tập, dịch ra tiếng Việt như: “Nền kinh tế tri thức” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế T.W; “ Kinh tế tri thức – Xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI” của tác giả Ngô Quý Tùng; “ Thời đại kinh tế tri thức” của Tần Ngôn Trước;
“Nền kinh tế mới” do Diễn đàn Kinh tế – Tài chính Việt Pháp xuất bản
Trong nước cũng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo như “ Kinh tế tri thức
và những vấn đề đặt ra đối với VN” do Ban Khoa giáo TƯ, Bộ KH, CN &
MT, Bộ Ngoại giao đồng chủ trì vào tháng 6/2000; “ Sử dụng tri thức phục vụ
Trang 4phát triển đối với VN” do Bộ KH, CN & MT, Ngân hàng thế giới tổ chức vào ngày 1-2/11/2000; “Kinh tế tri thức và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam”
do Viện Nghiên cứu phát triển Phương Đông và Văn phòng khu vực ASEAN Hanns Seidel Foundation (Đức) tổ chức tại Tp Hồ Chí Minh vào tháng 6 năm
2002 với sự tham gia của rất nhiều quan chức và các nhà khoa học đầu ngành Ngoài những bài nghiên cứu trên báo và tạp chí, các tác giả Việt Nam đã xuất bản nhiều sách viết về khía cạnh khác nhau của vấn đề này như: “ Kinh tế tri thức: Những khái niệm và vấn đề cơ bản” của Đặng Mộng Lân;“ Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục ở Việt Nam” của Trần Văn Tùng Tuy nhiên, do cách hiểu khác nhau nên trong các nội dung có sự không thống nhất thậm chí mâu thuẫn
3 Mục đích nghiên cứu
Kinh tế tri thức là một hiện tượng đang tiến triển ở giai đoạn đầu nên nền móng thực tiễn của khái niệm này còn rất mỏng manh Nhiều vấn đề quan trọng như bản chất của nền kinh tế tri thức là gì? Tác động của nền kinh tế tri thức và ý nghĩa của nó đối với quá trình phát triển? vẫn đang được các nhà kinh tế học hàng đầu nghiên cứu, tranh luận Luận văn không có tham vọng giải quyết các vấn đề trên mà chỉ nhằm mục đích nhận diện nền kinh tế này thông qua việc:
- Làm rõ khái niệm kinh tế tri thức và một số đặc điểm nổi bật của nó;
- Giới thiệu các chỉ số đo lường kinh tế tri thức phổ biến hiện nay;
- Xem xét chiến lược hướng tới kinh tế tri thức của một số quốc gia như
là những quan niệm thực tế từ đó đi đến những giải pháp mang tính định hướng để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 5Nghiên cứu nền kinh tế tri thức trên phương diện lý luận và những vấn
đề trong thực tiễn qua đó làm rõ một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu ở trên, đề tài tự giới hạn ở chỗ:
- Phân biệt các quan niệm phổ biến hiện nay, từ đó đưa đến cách hiểu chung về kinh tế tri thức
- Phân tích và so sánh chiến lược hướng tới kinh tế tri thức của một số quốc gia
- Xem xét thực trạng Việt Nam hiện nay từ góc độ kinh tế tri thức và làm rõ các giải pháp định hướng phát triển kinh tế tri thức
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, logic và lịch sử với tinh thần lý luận kết hợp với thực tiễn, trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật Luận văn sử dụng số liệu của Tổng cục Thống
kê, các công trình, dự án, bài viết trên các sách báo, tạp chí và từ mạng Internet
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận khái niệm kinh tế tri thức;
- Giới thiệu một cách hệ thống các chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức phổ biến trên thế giới hiện nay;
- Trên cơ sở xem xét thực trạng kinh tế Việt Nam trong góc độ phát triển kinh tế tri thức, luận giải một số giải pháp định hướng nhằm tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam
7 Bố cục của luận văn
Chương 1: Khái luận về kinh tế tri thức
Trang 6Chương 2: Chiến lược hướng tới kinh tế tri thức của một số quốc gia Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nhằm tiếp cận kinh tế tri
thức ở Việt Nam
Trang 7Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ KINH TẾ TRI THỨC
1.1 KHÁI NIỆM KINH TẾ TRI THỨC
1.1.1 Khái niệm tri thức
1.1.1.1 Định nghĩa, phân loại
Tri thức có thể được định nghĩa trong sự phân biệt với thông tin và dữ liệu:
- Dữ liệu là các sự kiện không cấu trúc hóa, không mang theo ý nghĩa, ngoài ngữ cảnh hay một tập hợp các hình thức cụ thể như con số, chữ, tiếng động, hình ảnh cho phép có thể rút ra thông tin
- Thông tin là các dữ liệu đã được tổ chức, xử lý, có mục đích nhưng chưa được đồng hóa
- Tri thức là một khối lượng thông tin đã được xử lý, đồng hóa, đưa vào sự nhận thức của cá nhân
Nói một cách ngắn gọn thì thông tin ( theo nghĩa hẹp ) là dữ liệu đã được xử lý đến mức độ nào đó Tri thức là thông tin được chế biến ở mức độ
Trang 8được có mưa ( thông tin ) và mưa có ảnh hưởng đến sinh trưởng của thực vật ( tri thức ) Tuy nhiên, sự phân biệt chỉ mang tính chất tương đối Nó có thể thay đổi theo thời gian hoặc khi áp dụng vào những đối tượng cụ thể tùy theo
sự hiểu biết của mỗi người: thông tin đối với người này chỉ có thể là dữ liệu đối với người khác, và lại có thể là tri thức đối với người khác nữa
Sự phân biệt thông tin và tri thức còn được xem xét trên cơ sở khả năng chuyển giao Thông tin được được xem là cái sẵn sàng để chuyển giao, còn tri
thức bao gồm nhiều loại Một số có thể điển chế hóa và do đó có thể biến đổi
thành thông tin để chuyển giao Một số tri thức khác không điển chế hóa được chỉ có thể thu nhận được nhờ quá trình học hỏi Hai loại tri thức theo sự phân
biệt như vậy được gọi là tri thức hiện ( explicit knowledge ) và tri thức ngầm
( tatic knowledge ) Tri thức ngầm không thể điển chế hóa được hoàn toàn nên khó có thể chuyển giao không phải do có tính chất trực giác mà vì trong quá trình hoạt động những yếu tố của tri thức ngầm mới lại liên tục xuất hiện Tuy vậy nó lại có một vai trò quan trọng và là công cụ để lựa chọn và khai thác tri thức điển chế hóa mà ngày nay tương đối dễ có và rẻ hơn rất nhiều
Điển chế hóa là biến đổi một loại tri thức ngầm cụ thể thành một loại dễ hiểu hơn song vẫn còn ngầm ở một mức độ nào đó Trong một số tài liệu, điển chế hóa tri thức được mô tả như một qui trình lấy thông tin từ các tác nhân con người, cố gắng phát biểu nó một cách rõ ràng, sau đó cấu trúc lại để làm giảm sự phức tạp sao cho có thể đưa vào vật thể vật chất hay mô tả trên giấy Nói cách khác, điển chế hóa là chuyển tri thức thành mã để nó trở nên
có dạng hiện, có thể tiếp cận và dễ dàng hiểu được ở mức độ cao nhất Nhờ vậy tri thức điển chế hóa có thể được chuyển giao vượt qua không gian và thời gian Ở khía cạnh kinh tế, điển chế hóa có ý nghĩa rất to lớn khi nó cho phép giảm bớt tình trạng phân tán của tri thức, cũng như các khoản chi phí để
tự tìm ra nó Cuộc cách mạng kỹ thuật số và những thành tựu vượt bậc của
Trang 9công nghệ thông tin đã thúc đẩy nhanh quá trình điển chế hóa tri thức Các mạng lưới điện tử ngày nay đã nối liền một tập hợp lớn các nguồn thông tin công cộng và tư nhân tạo nên những yếu tố rất đa dạng của một thư viện số
mà mọi người có thể truy nhập Tri thức ngày càng gần như một hàng hóa, các cuộc giao dịch trên thị trường đã trở nên dễ dàng, việc truyền tri thức tăng nhanh
Tuy nhiên trong thực tế tri thức luôn tồn tại là một tổ hợp của hai dạng ngầm và hiện Chúng có thể biến đổi liên tục từ dạng này sang dạng kia thông qua quá trình học hỏi – học bằng làm, học bằng sử dụng, học để học Do đó nhiều học giả cho rằng nền kinh tế và xã hội trong tương lai là “nền kinh tế học hỏi” và “ xã hội học tập” bởi vì tri thức ngày càng có tầm quan trọng đặc biệt
Nhiều nghiên cứu cho thấy sự tiến bộ và phát triển của xã hội loài người là do kết quả hội tụ của nhiều quá trình tiến triển riêng rẽ và độc lập trong đó có sự thay đổi căn bản về ý nghĩa của tri thức Tri thức theo cách hiểu của thời kỳ cổ đại là một thứ chung chung, chỉ phục vụ cho chính nó Mục đích là làm cho con người có tri thức có thể hiểu được cái gì cần phải nói
và làm thế nào để nói chúng Khi đó tri thức có nghĩa là logic, ngữ pháp và hùng biện và hoàn toàn tách rời kỹ thuật Bởi vì theo quan niệm thời đó, kỹ thuật gắn liền với ứng dụng đặc biệt và không có những nguyên tắc áp dụng chung, chỉ có thể thu nhận qua kinh nghiệm, không thể dạy và học được Tiếp theo đó đã có sự chuyển hóa căn bản về mặt ý nghĩa của tri thức Trong giai đoạn đầu, tri thức được áp dụng cho các công cụ sản xuất, phương pháp sản xuất và sản phẩm tạo ra cuộc cách mạng công nghiệp Trong giai đoạn thứ hai, tri thức được áp dụng cho tổ chức lao động dẫn tới cuộc cách mạng năng suất gắn liền với tên tuổi của F.Taylor ( 1856-1915) Giai đoạn cuối cùng tri thức được áp dụng cho chính bản thân nó, đó chính là dùng tri thức để tạo ra
Trang 10thức Ngày nay quan niệm tri thức là những hệ thống kiến thức chuyên sâu, thể hiện được trong hành động và trở thành các bộ môn chuyên ngành Mỗi một bộ môn chuyên ngành sẽ chuyển từng bí quyết thành phương pháp luận Mỗi phương pháp luận đó chuyển đổi những vấn đề riêng lẻ, kinh nghiệm thành hệ thống do đó có thể dạy và học được Bước chuyển từ đơn lên đa tri thức đã làm cho nó trở nên có sức mạnh sáng tạo nên một xã hội mới, làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn Đây chính là sự thay đổi rất cơ bản về nhận thức của tri thức [28, 160-208]
Định nghĩa tri thức đang được sử dụng phổ biến hiện nay, đặc biệt là
trong các tài liệu của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( OECD ) là “ Mọi
hiểu biết của con người đối với bản thân và thế giới” Nó bao gồm biết cái
gì? ( know what ), biết vì sao? ( know why ), biết làm thế nào? ( know how ), biết ai? ( know who ) Biết cái gì? còn bao gồm cả tri thức về thời gian và địa điểm ( know where và know when ) Trong nền kinh tế linh hoạt và năng động, tri thức về thời gian, địa điểm đang ngày càng quan trọng đảm bảo cho quá trình nhận thức, hành động được chính xác
Trong các loại tri thức trên thì tri thức về sự vật, sự kiện ( know what )
và nguyên nhân, giải thích ( know why ) thuộc nhóm hiện, có thể được thu nhận thông qua đọc tài liệu, truy nhập cơ sở dữ liệu Tri thức về cách làm ( know how ), về người biết ( know who ) thuộc nhóm ngầm và chỉ có được qua hoạt động, kinh nghiệm thực tế Tri thức về cách làm, về người biết thường được phát triển, duy trì trong mỗi cá nhân, tổ chức riêng lẻ, không thể
dễ dàng chuyển giao và có vai trò ngày càng lớn, nhất là trong những nền kinh tế mà các kỹ năng bị phân tán do sự phân công lao động Đây chính là một lý do quan trọng để hình thành các mạng lưới doanh nghiệp và tổ chức nhằm kết hợp và chia sẻ những tri thức này
Trang 111.1.1.2 Đặc điểm của tri thức
Với quan niệm mới về ý nghĩa, tri thức đã trở thành một nhân tố sản xuất mà tầm quan trọng ngày càng tăng của nó làm giảm vai trò của vốn và lao động Nó có thể được sinh ra, trao đổi và sử dụng trong các phương thức sản xuất để tạo ra các loại sản phẩm Tuy nhiên nó có một số đặc điểm riêng khác với các tư liệu sản xuất khác
Thứ nhất, tri thức nói chung và khoa học, kỹ thuật, công nghệ nói riêng
có một đặc điểm nổi bật là khi đã được phát hiện, phát minh, sáng chế ra nó
có thể trở thành nền tảng cho các kỹ thuật, công nghệ khác ra đời, phát triển Ngày nay sự gia tăng và đổi mới, thay thế giữa những thế hệ tri thức diễn ra thường xuyên, nhanh chóng Những tri thức mới thường là sự liên kết, tích hợp giữa các dòng tri thức khác nhau Ví dụ như khoa học công nghệ viễn thông ngày nay là sự hội tụ các lĩnh lực trước đây tồn tại độc lập như truyền dẫn vô tuyến tín hiệu thoại, truyền dẫn hữu tuyến tín hiệu truyền hình, truyền hình cáp, truyền số liệu, Internet, vệ tinh và vô tuyến nhiều kênh
Thứ hai, mức độ lan truyền về không gian và thời gian của tri thức
được mở rộng và đẩy mạnh nhờ khả năng hệ thống hóa của chúng Ngày càng nhiều khối lượng tri thức có thể giản đơn hóa, đồng nhất hóa, tiêu chuẩn hóa thành những thông tin rõ ràng, ngắn gọn, dễ dàng cho việc truyền tải, lưu trữ và tái tạo
Thứ ba, tri thức có nhiều đặc tính cơ bản của một hàng hóa công cộng,
thực chất là một hàng hóa công cộng toàn cầu:
- Không có tính cạnh tranh Một người sử dụng một khối lượng tri
thức nhất định không ảnh hưởng đến việc những người khác cũng sử dụng những khối lượng tri thức đó Thomas Jefferson đã mô tả tính chất không có cạnh tranh của tri thức và thông tin theo cách dưới đây: “ Ông ta là người
Trang 12nhận được ý tưởng ở tôi, tự mình đã nhận được kiến thức mà không làm giảm kiến thức của tôi; vì ông là người châm dây thắp nến ở chỗ của tôi, đã nhận được ánh sáng mà không làm cho tôi bị tối đi” [17, 32]
- Không có tính loại trừ Khi tri thức đã ở trong lĩnh vực công
cộng thì người tạo ra tri thức đó rất khó ngăn không cho người khác dùng
Hai tính chất này của tri thức làm giảm lợi ích của những người tạo ra
nó nên sẽ không khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu và triển khai Do vậy các chính phủ, tổ chức phải có thiết chế để phục hồi những khuyến khích tạo
ra tri thức dưới hình thức bằng sáng chế, bản quyền Tuy nhiên những nỗ lực nhằm khuyến khích tạo ra phải được cân bằng với nhu cầu phổ biến tri thức
để nâng cao hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Thứ tư, tri thức khi được chuyển giao cho nhiều người thì khả năng sử
dụng nó để tạo ra của cải và lợi ích sẽ lớn hơn Mặt khác chi phí cho việc phổ biến tri thức để làm tăng số người sử dụng là không đáng kể
Các đặc điểm trên cùng với sự thay đổi trong ý nghĩa tri thức trình bày
ở trên đã lý giải tại sao tri thức trở thành yếu tố mang tính quyết định và không có gì thay thế nổi đối với toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội của loài người
1.1.1.3 Vai trò của tri thức trong phát triển
Tri thức có vai trò rất quan trọng đối với phát triển bởi vì muốn cho cuộc sống tốt hơn, sức khỏe được cải thiện, tiện nghi sinh hoạt thuận tiện phải vận dụng nó để biến đổi có hiệu quả các nguồn lực vật chất ngày càng khan hiếm Đối với các nước công nghiệp phát triển hiện nay cán cân kinh tế
đã nghiêng hẳn về tri thức với những biểu hiện như tỷ trọng các ngành dựa trên tri thức chiếm trên 50% GDP, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển tăng mạnh, lao động có trình độ và kỹ năng cao
Trang 13Tri thức đối với tăng trưởng kinh tế
Những công trình nghiên cứu về sự tăng trưởng thần kỳ của một số nước Đông Á cho thấy vai trò của tri thức Khởi đầu là những nền kinh tế có thu nhập thấp trong những năm 60, các nền kinh tế này đã bắt kịp các nước có thu nhập cao thuộc OECD không chỉ do khai thác tài nguyên thiên nhiên hay tăng tích lũy vốn vật chất ở mức cao thể hiện qua việc tập trung đầu tư cơ sở
hạ tầng Nguyên nhân quan trọng là các nước này đã có một chiến lược san lấp khoảng cách về tri thức bằng cách đầu tư vào tri thức được chứa trong nguồn vốn vật chất, vào con người và thiết chế để thúc đẩy tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản sinh, hấp thụ và phổ biến, sử dụng tri thức có hiệu quả
Điều này không chỉ xảy ra với trường hợp của Đông Á mà còn đúng với nhiều quốc gia khác [17, 34-40] Để lý giải, các nhà kinh tế học hiện đại
đã phát triển rất nhiều lý thuyết tăng trưởng Khởi đầu là lý thuyết của R Solow đã gán thành phần tăng trưởng, ngoài phạm vi tích lũy vốn vật chất và lao động, cho sự thay đổi công nghệ Thành phần này được gọi là năng suất nhân tố tổng hợp ( Total Factor Productivity – TFP ) Trong lý thuyết này công nghệ hay tri thức được xem xét như những yếu tố bên ngoài ( ngoại sinh ), không phải là một bộ phận liên kết của hàm sản xuất Những năm gần đây, với nhận thức ngày càng tăng về tầm quan trọng của tích lũy tri thức, đã xuất hiện nhiều lý thuyết tăng trưởng mới xem nó như nguồn bên trong ( nội sinh ) của tăng trưởng bền vững Đó là lý thuyết của P.M.Romer ( 1986, 1990 ), G.M Grossman và E.Helpman ( 1991 ) và R.E.Lucas ( 1988 ) Các công trình này bắt nguồn từ ý tưởng của K.Arrow đưa ra năm 1962, theo đó tăng trưởng không thể giải thích chỉ bằng sự tích lũy vốn vật chất và việc sử dụng vốn không chỉ dẫn đến hiệu ứng qui mô mà còn làm tăng tri thức được sử dụng trong sản xuất do kinh nghiệm thu được trong sử dụng vốn Đó chính là quá
Trang 14trình học hỏi của tổ chức – học bằng làm và điều đó giải thích vì sao học hỏi
có vai trò quan trọng đặc biệt trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Ngoài ra còn có một số yếu tố không liên quan trực tiếp đến tri thức nhưng có mối tương quan lớn với tỷ lệ tăng trưởng, đó là chất lượng của thể chế và chính sách kinh tế, giáo dục, mở cửa mậu dịch và sự phát triển của hạ tầng thông tin Tác động của chúng lên tăng trưởng có thể đến 4% [17, 41] đối với những nước chuyển từ mức thấp tới trên trung bình là do:
- Sự mở cửa mậu dịch có quan hệ đến khai thác tri thức nước ngoài đựoc bao hàm trong những hàng hóa và dịch vụ Mậu dịch cũng cho phép dân chúng học tập về những thực tiễn kinh doanh trong những xã hội khác Những lợi nhuận mậu dịch có quan hệ đến tri thức cộng thêm vào những lợi nhuận truyền thống được thiết lập một cách chắc chắn từ mậu dịch quốc tế
- Trình độ giáo dục đạt được của dân chúng có quan hệ tới năng lực sử dụng tri thức của họ
- Mật độ điện thoại có quan hệ tới khả năng của dân chúng thâm nhập thông tin có ích khi cần thiết
Đây là những yếu tố cơ bản làm thu hẹp khoảng cách về công nghệ và tri thức của Đông Á đối với các nước công nghiệp khác
Tri thức đối với phúc lợi con người
Trong thời gian gần đây tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh đã giảm mạnh trên khắp thế giới Nguyên nhân không chỉ do thu nhập và mức sống tăng mà còn
do những giá trị cũng như sự ứng dụng tri thức vào việc chăm sóc sức khỏe:
- Việc phát minh ra thuốc kháng sinh và vắc-xin trong những năm
30, với sự tiến bộ không ngừng của hệ thống chăm sóc sức khỏe hiện nay và
Trang 15tri thức về các dịch bệnh đã chế ngự được sự lây lan của phần lớn các bệnh truyền nhiễm
- Giáo dục đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe Trình độ học vấn của người dân nói chung và của các em gái, phụ nữ có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao sức khỏe của người dân cũng như làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em Công trình nghiên cứu tại 45 nước đang phát triển của Ngân hàng thế giới cho thấy tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi giảm dần từ 144/1000 xuống 106/1000 và 68/1000 tương ứng với học vấn của bà
mẹ tăng từ không có đến bậc trung học [17, 34]
- Các phát hiện, phát minh khoa học, tiến bộ trong công nghệ làm thay đổi phương pháp điều trị bệnh, phổ biến rộng rãi tri thức y học trong cộng đồng
Tri thức đối với bảo vệ môi trường
Trong vấn đề môi trường tri thức được xem xét trên hai khía cạnh:
Thứ nhất, môi trường bị ô nhiễm, tàn phá do nhiều nguyên nhân trong
đó có sự thiếu tri thức về nó Môi trường sẽ cải thiện và bảo vệ khi tri thức đánh giá chất lượng, tác động của nó cũng như các chi phí để giảm nhẹ ô nhiễm được phổ biến, thực thi một cách rộng rãi, hiệu quả trong khuôn khổ thể chế, pháp lý chặt chẽ
Thứ hai, những tri thức mới về khoa học và công nghệ cho phép sử
dụng có hiệu quả hơn tài nguyên không tái sinh như than đá, dầu mỏ cũng như tìm ra các nguồn năng lượng sạch, phương pháp sản xuất mới ít gây tổn hại và trong một vài trường hợp còn có lợi cho môi trường
Trang 16Bảng 1 Cơ cấu các thời kỳ khác nhau của nguồn năng lượng thế giới Nguồn
Năng lượng mặt trời
Thủy điện
Những năng lượng khác
Hố ngăn cách số ( Digital Divide ) Hiện nay hố ngăn cách số có xu hướng
mở rộng bởi tác động của hai vòng xoáy Vòng xoáy thứ nhất, sự nghèo về kinh tế dẫn đến lạc hậu về khoa học công nghệ và thông tin khiến cho khoảng cách về phát triển kinh tế càng sâu sắc hơn Vòng xoáy thứ hai là sự đi lên của các nước giàu, dẫn đầu về kinh tế nên cũng dẫn đầu về khoa học công nghệ
do đó kinh tế càng phát triển hơn Mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức, các nước đang phát triển cũng có những cơ hội mới khắc phục khoảng cách tụt hậu để vươn lên
Thứ nhất, bằng nhiều cách thức khác nhau khai thác khối tri thức toàn cầu:
Trang 17- Thông qua mậu dịch quốc tế để thu nhận tri thức hàm chứa trong hàng hóa và dịch vụ
- Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để tiếp thu tri thức công nghệ, quản lý từ các công ty đa quốc gia
- Thông qua giấy phép công nghệ, các nước đang phát triển thâm nhập công nghệ độc quyền mới có hiệu quả hơn về mặt chi phí so với việc tự phát triển
- Tận dụng dòng di chuyển và di cư để thu nhận tri thức như đưa người đi học, tham quan trao đổi
Thứ hai, các nước đang phát triển có thể tận dụng lợi thế “của người đi
sau” đi thẳng vào một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến hiện đại Ví dụ như xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, ứng dụng tiến bộ của công nghệ sinh học thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp
1.1.2 Khái niệm kinh tế tri thức
Sự xuất hiện những mầm mống của nền kinh tế tri thức trong thời gian gần đây được xem như một cuộc cách mạng sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc khung cảnh kinh tế - xã hội thế giới
1.1.2.1 Kinh tế tri thức và những thuật ngữ có liên quan
Ở khía cạnh từ vựng, knowledge economy có thể được dịch thành hai
thuật ngữ trong tiếng Việt, đó là “kinh tế tri thức” hoặc “nền kinh tế tri thức”
( Từ economy trong tiếng Anh vừa có nghĩa là nền kinh tế, vừa có nghĩa là khu vực hay thành phần kinh tế ví dụ như individual economy – kinh tế cá thể
) Mặc dù chỉ có rất ít khác biệt về hình thức, hai cách dịch này thể hiện hai quan điểm khác nhau về xu thế phát triển mới của kinh tế thế giới Tuỳ theo từng ngữ cảnh riêng, trong luận văn này sử dụng không phân biệt cả hai cách
Trang 18dịch trên, xem “kinh tế tri thức” và “nền kinh tế tri thức” là hoàn toàn tương
đồng cùng đại diện cho thuật ngữ knowledge economy
Gắn liền với kinh tế tri thức là thuật ngữ “đổi mới”, được dịch từ thuật
ngữ tiếng Anh innovation xuất phát từ khái niệm ban đầu của nhà kinh tế J.Schumpeter Theo đó, đổi mới là những quá trình và những hoạt động nhằm
chuyển hoá các tri thức, kiến thức đã được phát minh ra thành một “sức sản xuất” cụ thể, được chấp nhận trong một hệ thống xã hội (một hãng, một nền
kinh tế v.v) Một đổi mới có thể là một quá trình sản xuất mới, một cách sử
dụng nguyên liệu mới hoặc một hình thức tổ chức mới Như P Drucker (1995) đã nói: “ Đổi mới là nghệ thuật cung cấp cho những nguồn tài nguyên một năng lực mới để tạo ra của cải” Nói đơn giản, không chỉ giới hạn trong công nghệ, đổi mới là quá trình biến tri thức thành sự tăng trưởng kinh tế thực
sự Theo cách này, mối quan hệ giữa kinh tế tri thức với đổi mới được thể
hiện thông qua đẳng thức: kinh tế tri thức = “tri thức” +“đổi mới”
Để nói về sự nổi lên của nền kinh tế này còn có một số thuật ngữ khác như nền kinh tế dựa trên tri thức (knowledge-based economy), nền kinh tế được dẫn dắt bởi tri thức (knowledge-driven economy), nền kinh tế dựa trên
ý tưởng (idea-based economy), xã hội thông tin (information society), nền kinh tế công nghệ cao (high-technology economy), nền kinh tế thông tin (information economy), nền kinh tế mạng (network economy), nền kinh tế số hoá (digital economy), kinh tế không gian điều khiển học (cyber economy), nền kinh tế sinh học-số hoá (bio-digital economy), nền kinh tế mới (new economy) Mỗi thuật ngữ trên thể hiện cách hiểu và góc độ xem xét khác nhau:
Thứ nhất, cách hiểu kinh tế tri thức với quan niệm hẹp về tri thức
Trong cách hiểu này có hai góc độ tiếp cận phổ biến :
Trang 19- Tri thức đồng nghĩa với khoa học công nghệ: Những người theo
cách tiếp cận này hiểu “tri thức” với nghĩa hẹp, tức là đồng nghĩa với khoa học và công nghệ hoặc hẹp hơn nữa là đồng nghĩa với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, bao gồm bốn công nghệ cột trụ là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghiệp không gian vũ trụ và công nghệ vật liệu mới Cách hiểu này có thể được đại diện bởi thuật ngữ “nền kinh tế công nghệ cao” Hoặc hẹp hơn nữa, nhấn mạnh vào vai trò to lớn và độc nhất của công nghệ thông tin, người ta có thể sử dụng các thuật ngữ “kinh tế thông tin”,
“kinh tế mạng”, “kinh tế số hóa” và “kinh tế không gian điều khiển học”
- Phân biệt nền kinh tế quốc dân thành hai bộ phận là khu vực kinh tế tri thức và khu vực kinh tế cũ: Khu vực kinh tế tri thức bao gồm các
được gọi là dựa trên tri thức, phần còn lại là khu vực kinh tế cũ với các ngành truyền thống Hai khu vực kinh tế này hoạt động với những cơ chế, quy luật,
và kết quả khác hẳn nhau Nền kinh tế tri thức phát triển tới trình độ càng cao nếu các ngành dựa trên tri thức chiếm phần càng lớn trong nền kinh tế Theo quan niệm của OECD, có hai cột mốc cho thấy một nền kinh tế quốc gia đã chuyển sang giai đoạn kinh tế tri thức: (i) Tỷ trọng của khu vực công nghiệp
và nông nghiệp lên tới điểm cực đại và càng ngày càng giảm đi Điểm mốc này đã xuất hiện ở các nước tiên tiến nhất từ cách đây khoảng 30 năm; (ii) Tỷ trọng của các ngành tri thức theo phân loại của OECD chiếm trên 70% GDP quốc gia
Thứ hai, cách hiểu kinh tế tri thức với quan niệm về tri thức theo định
nghĩa của OECD như đã trình bày ở trên, tức là mọi hiểu biết của con người đối với bản thân và thế giới Cách hiểu này có hai góc độ tiếp cận:
- Từ khía cạnh lực lượng sản xuất: Kinh tế tri thức là trình độ
phát triển cao của lực lượng sản xuất Trong đó có một số quan điểm nhấn
Trang 20mạnh kinh tế tri thức chỉ là một nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất, tuyệt nhiên không liên quan tới một hình thái kinh tế- xã hội mới Muốn xem xét về hình thái kinh tế- xã hội thì còn phải đề cập tới nhiều mặt khác, đặc biệt
là mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất và phương cách giải quyết mâu thuẫn giữa hai mặt đó
- Từ khía cạnh sự đóng góp của tri thức vào phát triển kinh tế:
Cách quan niệm này diễn giải định nghĩa của OECD đã nêu ở trên theo đúng nghĩa đen của nó Tri thức hay cụ thể hơn là những hoạt động sản xuất, truyền
bá và sử dụng tri thức, đã vượt quá vốn và lao động để trở thành nguồn lực chi phối mọi hoạt động tạo ra của cải trong nền kinh tế Trong đó, tri thức là một khái niệm rất rộng, bao trùm mọi hiểu biết của con người
Thứ ba, cách hiểu kinh tế tri thức là một môi trường hay hình thái kinh
tế- văn hoá- xã hội mới với những đặc tính phù hợp và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo Trong môi trường đó, tri thức tất yếu sẽ trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất đóng góp vào sự phát triển kinh tế Do vậy, cốt lõi của việc phát triển một nền kinh tế tri thức không phải đơn thuần là phát triển khoa học công nghệ mà là phát triển một nền văn hoá đổi mới, sáng tạo để tạo thuận lợi nhất cho việc sản xuất, khai thác và sử dụng mọi loại tri thức, hiểu biết của nhân loại Xét theo nghĩa này, kinh tế tri thức
có thể được hiểu như một giai đoạn phát triển mới của toàn bộ nền kinh tế, hoặc nói rộng hơn điều này sẽ dẫn tới một giai đoạn phát triển mới của xã hội nói chung Hiện nay ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu, quốc gia, tổ chức quan niệm về kinh tế tri thức từ góc độ tiếp cận này
Trong nhiều tài liệu nghiên cứu, góc độ tiếp cận của các tác giả thường theo một trong ba cách trên hoặc có sự dao động giữa các cách Khó có thể nói cách hiểu nào đúng, cách hiểu nào sai bởi vì chưa có một mốc chuẩn trên
Trang 21thực tế cho khái niệm kinh tế tri thức Cách hiểu kinh tế tri thức với quan niệm hẹp về tri thức nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng nền móng của khoa học công nghệ và “tăng trưởng năng suất” đối với mọi sự tăng trưởng kinh tế Nó tách rời tri thức về khoa học công nghệ ra khỏi nguồn tri thức rộng lớn hơn nhiều của con người cũng như tách rời khoa học công nghệ ra khỏi môi trường kinh tế-xã hội-văn hoá nói chung Cách hiểu kinh tế tri thức với quan niệm về tri thức theo định nghĩa của OECD có hạn chế là không rõ ràng Tiếp cận từ góc độ lực lượng sản xuất thì vào bất kỳ giai đoạn lịch sử nào lực lượng sản xuất cũng ở trình độ phát triển cao so với những giai đoạn trước đó Nói rằng hiện nay tri thức là nguồn lực đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng kinh tế nhưng người ta lại chưa có phương pháp được thừa nhận chung để đo lường [36, 29-31] Cách hiểu kinh tế tri thức là một môi trường kinh tế- văn hoá- xã hội mới với những đặc tính phù hợp và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo có nhiều khía cạnh bao gồm cả hai cách quan niệm đầu Cách hiểu này hữu ích cho phát triển kinh tế
ở các nước đang phát triển nơi mà việc hấp thụ, phổ biến và sử dụng tri thức
có một vai trò đặc biệt quan trọng
Với mục đích chính là nhận diện “kinh tế tri thức”, đề tài này khởi đầu
bằng việc thừa nhận định nghĩa của OECD: kinh tế tri thức là một nền kinh tế
trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức với cách hiểu
đây là một giai đoạn phát triển mới của toàn bộ lịch sử phát triển kinh tế của
loài người
1.1.2.2 Sản xuất tri thức
Sản xuất tri thức được hiểu một cách đơn giản là tạo ra hoặc rộng hơn
là để có được tri thức Đối với mỗi tổ chức kinh tế, quyết định tạo ra hay thu
Trang 22nhận và sử dụng tri thức bên ngoài bị chi phối bởi khả năng tài chính, trình độ phát triển khoa học – kỹ thuật trong đó có nhân lực
Tri thức được tạo ra thông qua R&D và trong một chừng mực nào đó
có thể là một sản phẩm phụ của quá trình hoạt động với các mục đích khác nhau, khi con người rút ra kinh nghiệm từ phương pháp sản xuất hoặc tiêu thụ hàng hóa, hay khi họ lắng nghe, học hỏi những kinh nghiệm của người khác Đối với mỗi quốc gia sản xuất tri thức có vai trò quan trọng bởi vì sẽ không tận dụng khối tri thức toàn cầu trừ phi xây dựng được năng lực tìm kiếm công nghệ thích hợp, chọn lựa và hấp thụ, thích nghi những gì đã tìm ra
Giữa sản xuất tri thức và sản xuất tư liệu sản xuất có nhiều khác biệt: (i) Sản xuất tri thức có tính không chắc chắn cao và rủi ro rất lớn; (ii) Tri thức được biểu hiện bởi vốn nhân lực và tổ chức; (iii) Nhiều phương pháp sản xuất tri thức sử dụng tri thức đã có như là các đầu vào và đây chính là điểm khác biệt quan trọng nhất
Hệ quả của những vấn đề trên là các hoạt động tạo ra tri thức rất khó được đo lường, đánh giá, thể hiện ở bốn khó khăn Đó là đo lường đầu vào của tri thức, đầu tư vào tri thức, cải tiến chất lượng và sự lỗi thời Những khó khăn trên làm cho kết quả đo lường tăng trưởng GDP và năng suất thường thấp hơn so với thực tế
Để kiến lập cơ sở tri thức, thu nhận được lợi thế tốt nhất từ công nghệ nhập vào, các nước đang phát triển phải khai phá tất cả các phương tiện nhằm khai thác khối tri thức toàn cầu thông qua những phương thức đã trình bày ở phần trước cũng như thích nghi nó với điều kiện địa phương Vai trò của Nhà nước là tạo lập cơ chế khuyến khích các tổ chức tìm kiếm những kỹ thuật tốt nhất, đầu tư vào đào tạo và đổi mới Ngoài ra cũng phải giải quyết hài hòa vấn
đề quyền sở hữu trí tuệ để phổ biến nó với chi phí thấp nhất có thể được Theo
Trang 23WB 1999 , những vấn đề của Nhà nước là tạo lập một thị trường cạnh tranh,
mở cửa và xóa bỏ mọi trợ cấp; tiến hành nghiên cứu triển khai trước hết trong nông nghiệp rồi tăng dần trong công nghiệp khi công nghiệp chế tạo phát triển
và sau đó khuyến khích tư nhân thực hiện
1.1.2.3 Phân phối tri thức
Trong kinh tế tri thức, tài nguyên trí lực mà biểu hiện của nó là vốn nhân lực và tổ chức trở thành quan trọng nhất, xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Thông qua tri thức việc khai thác, phân phối nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm được thực hiện một cách hữu hiệu, có lợi cho môi trường Vì vậy việc chiếm hữu nhân tài, tri thức khoa học và công nghệ quan trọng hơn nhiều so với chiếm hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác
Phân phối tri thức có thể diễn ra mạnh mẽ dưới nhiều hình thức như phổ biến, mua bán, trao đổi thông tin, bản quyền, cấp giấy phép công nghệ trong môi trường thể chế, pháp lý chặt chẽ Sự phát triển của công nghệ thông tin mà đặc biệt là quá trình hội tụ trong công nghiệp vô tuyến viễn thông tạo điều kiện thuận lợi cho phổ biến, trao đổi tri thức Tuy nhiên việc áp dụng công nghệ tiên tiến bị phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như sự khác biệt
về văn hóa – xã hội, thu nhập thấp, nguồn vốn con người không thỏa đáng, những môi trường cạnh tranh và điều tiết yếu kém làm chậm việc sử dụng chúng Mặc dù có một số trở ngại nhưng người ta không thể phủ nhận vai trò
to lớn của cách mạng công nghệ thông tin trong kinh tế tri thức
1.1.2.4 Sử dụng tri thức
Tri thức có thể được sử dụng như hàng hóa thông thường cho nhiều mục đích Con người có thể dùng tri thức như một hàng hóa tiêu dùng hoặc để tạo ra các hàng hóa khác, các cơ hội thị trường hoặc là tri thức mới Tuy nhiên việc sử dụng tri thức như một tư liệu sản xuất có một số đặc điểm khác biệt
Trang 24Thứ nhất, việc sử dụng tri thức dẫn đến hiệu ứng lợi nhuận tăng dần theo qui
mô Các tri thức mới được áp dụng trong quá trình sản xuất giúp làm tăng sản lượng đầu ra trong khi không tăng chi phí đầu vào Điều này không phù hợp
với khuôn khổ cân bằng tổng quát trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo Thứ
hai, việc sử dụng tri thức tự động tạo ra sự lỗi thời của các tri thức cũng như
tư liệu sản xuất khác- tạo ra các ngoại ứng Chẳng hạn tìm ra vật liệu mới composit có độ bền và nhẹ hơn dần được thay thế thép cũng như thay đổi các
qui trình chế tạo trong công nghiệp sản xuất ô tô Thứ ba, việc sử dụng tri
thức sẽ không chỉ tạo ra nhiều sản phẩm với phí tổn ít hơn mà còn tạo ra các sản phẩm chưa từng tồn tại
Tri thức không phải là thứ cho không, việc sử dụng nó hoàn toàn phải trả giá Mọi người đều phải học tập để có tri thức, hấp thụ và chuyển hóa nó thành kỹ năng để sử dụng Trong kinh tế tri thức, tri thức hàng hóa ngày càng tăng nhưng việc sử dụng tài sản tri thức phải được bảo vệ một cách hữu hiệu bởi quyền sở hữu là một trong những yêu cầu đầu tiên bảo đảm động lực sáng tạo và bảo vệ khai thác nguồn tài nguyên trí lực
1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA KINH TẾ TRI THỨC
Từ nhiều góc độ tiếp cận, các tài liệu phổ biến hiện nay nêu ra các đặc điểm khác nhau Trong đó một số đặc điểm được gán cho kinh tế tri thức là chưa thực sự có sức thuyết phục Ví dụ như dịch chuyển cơ cấu kinh tế, “mờ nhạt” chu kỳ kinh tế, cạnh tranh cao độ Tuy nhiên có bốn đặc trưng nổi bật
và khác biệt so với các nền kinh tế trước
1.2.1 Tri thức khoa học và công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là
lực lượng sản xuất thứ nhất, là lợi thế phát triển quyết định
Trang 25Khác với nền kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp là những nền kinh tế chủ yếu dựa vào các nguồn vốn hữu hình, nền kinh tế tri thức chủ yếu dựa vào tri thức, trong đó thông tin là tài nguyên quan trọng nhất Vai trò của tri thức, của thông tin ngày càng to lớn trong việc tạo ra của cải vật chất cũng như tinh thần và là yếu tố quyết định tạo nên sức cạnh tranh Theo P.Drucker (1994): “Các nước đang phát triển không còn có thể mong chờ đặt sự phát triển của mình dựa trên lợi thế so sánh về lao động - tức lao động công nghiệp
rẻ - được nữa Lợi thế so sánh có hiệu quả bây giờ phải là ứng dụng tri thức” Cũng từ đó cuộc cạnh tranh chủ yếu sẽ hướng vào việc giành ưu thế về tri thức, thông tin, nắm bắt bí quyết công nghệ cao để tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhằm thoả mãn tối đa những yêu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của khách hàng Từ đặc điểm này đặt ra một số vấn đề là:
Thứ nhất, sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia chủ yếu tùy thuộc vào
nguồn vốn tri thức của quốc gia đó, tức là tùy thuộc vào nguồn lao động tri thức và việc khai thác, sử dụng cũng như phương pháp nhân nguồn tri thức đó lên nhiều hơn sự phụ thuộc vào đất đai, tài nguyên thiên nhiên
Thứ hai, trọng tâm của mối quan hệ kinh tế quốc tế sẽ chuyển sang lĩnh
vực quan hệ về khoa học công nghệ và những lĩnh vực liên quan trực tiếp tới khoa học công nghệ Do đặc tính của nền kinh tế tri thức là tri thức có vai trò quyết định, nên các quốc gia một mặt tăng cường đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu và phát triển , mặt khác tìm cách thu hút tri thức bằng nhiều con đường khác nhau Ngoài ra, vì tri thức mang một đặc điểm vốn có là tính chất xã hội hóa cao nên muốn có được tri thức phải phát triển hợp tác rộng lớn trên các lĩnh vực đào tạo, giáo dục, trao đổi chuyên gia, thông tin
Thứ ba, trong nền kinh tế tri thức nhân tố thông tin có vai trò quan
trọng và có điều kiện phổ cập, công khai do đó đã tạo cơ sở cho việc thực
Trang 26hiện dân chủ hóa rộng rãi Vì vậy muốn phát triển, mọi quốc gia phải theo ướng dân chủ hóa, công khai hóa, minh bạch hóa mới thu hút được sự quan tâm của dân chúng và các nhà đầu tư nước ngoài Điều đó đòi hỏi một Chính phủ có năng lực, đội ngũ công chức nhà nước trong sạch không tham nhũng
h-và có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu quản lý một xã hội dân trí cao
1.2.2 Tốc độ biến đổi cao
Đặc điểm quan trọng bậc nhất của kinh tế tri thức là tốc độ biến đổi cực
kỳ cao Đặc điểm này thể hiện ở các khía cạnh:
Thứ nhất, tốc độ sản sinh tri thức tăng theo cấp số nhân Theo một số
tính toán, hiện nay lượng tri thức của loài người được nhân đôi sau mỗi một
15 năm và với cấp độ chất lượng khác hẳn
Thứ hai, cùng với sự tăng lên của tốc độ sản sinh tri thức, chi phí trong
các hoạt động sản xuất, dịch vụ giảm rất nhanh
Bảng so sánh dưới đây cho thấy sự giảm giá của máy tính hay chi phí tính toán là nhanh nhất và cũng quan trọng nhất bởi vì công nghệ thông tin giúp rút ngắn thời gian giao dịch, giảm chi phí, tăng hiệu quả, dẫn dắt quá trình sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng
Trang 27Bảng 2 Chi phí giao thông, truyền thông và máy tính (USD, 1990)
Cước vận tải biển vượt đại dương và phí cảng/tấn
Cước hàng không (doanh thu 1 dặm/hành khách)
Cuộc điện thoại (3 phút
từ New York tới Luân đôn)
Máy tính (chỉ số 1990=100)
giảm hơn 1/2 giảm 6 lần giảm 82 lần giảm 125 lần
Nguồn: UNDP , Báo cáo phát triển con người 1999
Thứ ba, tốc độ ứng dụng của phát minh khoa học vào thực tiễn Từ phát
hiện khoa học đến phát minh kỹ thuật trước đầu thế kỷ 20 mất khoảng 30 năm Trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 20 đến giữa thế kỷ là 10 năm và đến cuối thế kỷ rút lại còn khoảng 5 năm Kết quả này làm cho khoảng cách giữa phát hiện khoa học và phát minh kỹ thuật ngày càng thu hẹp hơn, nhiều kết quả nghiên cứu được đưa vào thực tế
Đặc điểm biến đổi cao đặt ra các vấn đề Thứ nhất, sự phát triển diễn ra
với độ bất định cao và việc dự đoán khả năng xảy ra các biến cố trong tương
lai trở nên cực kỳ khó khăn Thứ hai, khả năng bắt kịp các nước đi trước cũng
lớn như khả năng bị tụt hậu xa hơn Mức độ hiện thực hoá mỗi một khả năng tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan, trong đó trước hết phải kể đến tính hợp
lý của mô hình và chiến lược "đi tắt" được lựa chọn cũng như quyết tâm theo
Trang 28đuổi nó Thứ ba, khả năng phát triển "rút ngắn" để chuyển sang kinh tế tri
thức là rất cao Điều này thể hiện trong bản thân logic của quy trình hiện thực hoá tri thức gồm năm công đoạn là tạo ra, thu nhận, đồng hóa, sử dụng, truyền
bá [1, 101] và khả năng "nhảy vọt cơ cấu" theo nguyên lý chu kỳ sản phẩm
của kinh tế học
Bảng 3 Thời gian từ phát hiện khoa học đến phát minh kỹ thuật
Phát hiện khoa học Năm Phát minh kỹ thuật Năm Khoảng
thời gian
Nguyên lý chụp ảnh 1782 Máy ảnh 1838 56 năm Nguyên lý máy điện 1831 Máy phát điện 1872 41 năm Nguyên lý máy đốt trong 1862 Máy diezen 1883 21 năm Nguyên lý thông tin sóng
điện từ 1895
Đài phát thanh công cộng
thứ nhất 1921 26 năm Nguyên lý máy tuabin 1906 Máy phát động tuabin 1935 29 năm Phát hiện chất kháng sinh 1910 Chế tạo chất kháng sinh 1940 30 năm Nguyên lý radar 1925 Chế tạo radar 1935 10 năm Phát hiện phân chia hạt
Uranium 1938 Chế ra bom nguyên tử 1945 7 năm Phát hiện chất bán dẫn 1948 Sản xuất đài bán dẫn 1954 6 năm Nêu ra ý tưởng thiết kế
mạch IC 1952 Sản xuất mạch IC 1959 7 năm Nguyên lý thông tin cáp
quang 1966 Chế tạo ra cáp quang 1970 4 năm Nêu ra ý tưởng thông tin
Trang 291.2.3 Cấu trúc mạng
Với xu hướng phát triển kinh tế tri thức, các quan hệ kinh tế thị trường truyền thống vốn được cấu trúc theo chiều ngang đang dần dần được tái tổ chức lại theo kiểu cấu trúc mạng, phức tạp Cấu trúc mạng này được hình thành bởi: (i)sự tiến bộ của lực lượng sản xuất đặc biệt là khoa học công nghệ; (ii)sự phát triển của các chủ thể, thể chế khu vực và toàn cầu;(iii) quá trình phi tập trung hóa cấu trúc kinh tế xã hội Trong cấu trúc mạng, cơ cấu quyền lực trong nền kinh tế có sự thay đổi Hình thái phát triển dựa trên quan
hệ lệ thuộc, cai trị của các nền kinh tế dựa vào sức người, tài nguyên (theo cách phân chia của Ngô Quý Tùng, [32,34-44]) được thay thế bằng quan hệ tham dự, bình đẳng về chức năng trong cơ cấu của các thành tố Tuy nhiên sự bình đẳng về nguyên tắc của các bộ phận cấu trúc mạng không có nghĩa là bình đẳng trên thực tế giữa chúng tại từng thời điểm nhất định trong những quan hệ xác định do nguyên nhân chênh lệch trình độ phát triển giữa các ngành, quốc gia và khu vực
Gắn liền với cấu trúc mạng là sự xuất hiện của phương thức tổ chức quản lý mới trong nội bộ nền kinh tế, các tổ chức và doanh nghiệp Mô hình
tổ chức hình tháp, thứ bậc phân cấp rõ rệt về chức năng với một hệ thống chỉ huy từ trên xuống theo kiểu “dây chuyền Taylor” hiện nay được thay thế bởi các loại hình tổ chức mới theo kiểu mạng lưới trong đó con người được đặt vào vị trí trung tâm để phát huy vai trò sáng tạo của từng cá thể Kiểu tổ chức quản lý mới này đang được các nước công nghiệp phát triển coi là hết sức phù hợp đối với việc tự quản của các công ty, tập đoàn, các cơ quan và tổ chức nghiên cứu, cũng như để cạnh tranh có hiệu quả cao thông qua đổi mới công
Trang 30nghệ Trong lĩnh vực lập pháp môi trường "nối mạng" cũng đang tạo điều kiện thuận lợi để thực thi dân chủ trực tiếp
1.2.4 Kinh tế tri thức về bản chất là nền kinh tế toàn cầu
Về bản chất, kinh tế tự nhiên là nền kinh tế mà các quan hệ kinh tế bị giới hạn trong phạm vi địa phương Kinh tế thị trường truyền thống dựa trên nền tảng công nghiệp “ống khói” là nền kinh tế quốc gia Kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu vì nó dựa chủ yếu trên việc tạo ra và sử dụng tri thức vốn mang bản chất năng động, lan toả không biên giới nên các hoạt động kinh tế ngày càng được quốc tế hoá và đa phương hoá Mặt khác, xuất phát từ các đặc điểm riêng, hoạt động sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức phải được tiến hành trên phạm vi toàn cầu thì mới đem lại kết quả Các hoạt động này được
hỗ trợ và thúc đẩy bởi tiến bộ của công nghệ thông tin, nhất là mạng Internet
Đặc điểm này đặt ra cho các quốc gia yêu cầu phát huy năng lực nội sinh, tạo lập các điều kiện cần thiết như thể chế, nhân lực, hạ tầng thông tin
để khai thác và sử dụng hữu hiệu khối tri thức toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Các đặc điểm nêu trên là những thuộc tính chủ yếu của kinh tế tri thức Dựa trên những đặc điểm này mà người ta cho rằng kinh tế tri thức là một vận hội đối với các nước đang phát triển cũng như đặt ra nhiều thách thức mà nghiêm trọng nhất là nguy cơ tụt hậu Khái niệm nền kinh tế tri thức phản ánh một quan điểm phát triển mới về chất của nền kinh tế thế giới khi mà tri thức vừa trở thành nội dung, vừa là động lực của sản xuất Xưa nay, về cơ bản tri thức được coi là của cải tinh thần, tức là một thứ sản phẩm Nhưng tri thức còn tồn tại như một nguồn lực vật chất, nằm trong con người, được vật chất hoá trong các phương tiện công nghệ - kỹ thuật Nó được tạo ra do con người,
Trang 31thông qua con người và các nguồn lực khác để can dự trực tiếp vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần Do trong nền kinh tế tri thức, tri thức đóng vai trò là lực lượng sản xuất quyết định nhất nên quy trình hiện thực hoá tri thức với năm công đoạn ( tạo ra, thu nhận, đồng hóa, sử dụng, truyền bá) cũng
là quy trình sản xuất chủ yếu quyết định sự phát triển
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, nhận xét trên gợi ý hướng lựa chọn trọng tâm của chiến lược phát triển của mỗi quốc gia Đối với những nước nghèo có trình độ phát triển thấp, để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách tụt hậu phát triển thì không nhất thiết phải trải đều nguồn lực ít ỏi mà có thể tập trung nỗ lực vào bốn khâu cuối là thu nhận, đồng hóa, sử dụng và truyền
bá tri thức Tuy nhiên để hấp thụ và sử dụng tri thức có hiệu quả các nước đang phát triển cần phải chú trọng một số vấn đề:
Thứ nhất, tăng cường phát triển năng lực nội sinh làm cơ sở chọn lọc,
thu nhận, đồng hóa, sử dụng và truyền bá tri thức trong phạm vi quốc gia Ví
dụ Trung Quốc nhập một nhà máy lọc dầu, trong quá trình vận hành nhờ nắm vững nguyên lý và có nghiên cứu cơ bản nên đã tiến hành cải tiến, làm tăng công suất nhà máy, sau đó tự chế tạo, lắp đặt nhà máy lọc dầu khác có công suất lớn hơn với chi phí thấp 2-3 lần Ngoài ra tri thức tại chỗ đôi khi tỏ ra hữu hiệu hơn trong giải quyết các vấn đề đặt ra tại địa phương Đây là những tri thức truyền thống có ích cần được phát huy như việc chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, các giống cây trồng vật nuôi bản địa
Thứ hai, phát triển dựa trên tri thức đòi hỏi và cho phép việc học tập
được tiến hành liên tục Thích ứng với điều kiện đó, hệ thống giáo dục ở các nước đang phát triển cần phải được đổi mới theo hướng: giáo dục cơ bản tập trung phát triển những năng lực làm nền tảng cho việc học tập suốt đời; giáo dục đại học tập trung xây dựng tri thức cho một xã hội dựa vào thông tin; mở
Trang 32rộng các hình thức đào tạo, coi trọng đào tạo hướng nghiệp và học hỏi thông qua việc làm
Thứ ba, ứng dụng các thể chế mới đảm bảo độ tin cậy của thông tin sẽ
vừa có tác dụng khắc phục các hạn chế cản trở giao dịch trong nước vừa tạo
sự khuyến khích giao lưu thông tin với quốc tế Công việc cụ thể là phát triển
hệ thống tiêu chuẩn - đo lường – chất lượng, xây dựng những chuẩn mực về
kế toán – kiểm toán, dảm bảo các luồng thông tin hai chiều, tăng cường năng lực của hệ thống pháp lý cũng như các quyền sở hữu trí tuệ Thực tế khẳng định khả năng ứng dụng các thể chế tiên tiến đảm bảo độ tin cậy của thông tin ngay tại các nền kinh tế kém phát triển Khảo sát của Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO) cho thấy trong số 53 doanh nghiệp chủ yếu được xem xét ở Braxin có 55% đã tăng năng suất do kết quả áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO9000, 35% đã cải tiến việc tiêu chuẩn hóa các qui trình sản xuất, 31% đã tăng cường sự tham gia của nhân viên trong kiểm soát chất lượng và hơn 20% đã báo cáo là làm tăng sự thỏa mãn của khách hàng [17,47]
1.3 ĐO LƯỜNG TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC CỦA MỘT
QUỐC GIA
Giống như tri thức, đo lường trình độ phát triển kinh tế tri thức của một quốc gia là một trong những khó khăn lớn nhất của kinh tế học tri thức Những chỉ số kinh tế truyền thống không thể nắm bắt và phản ánh đầy đủ tầm quan trọng ngày càng tăng của tri thức trong những hoạt động kinh tế ở nhiều nước Do vậy cần phải phát triển một “chỉ số tổng hợp” về trình độ phát triển chung của một nền kinh tế tri thức, tương tự như chỉ số GDP truyền thống Hiện nay chưa có bất kỳ chỉ tiêu nào như vậy ngoài một chỉ tiêu tương đối bao trùm là Chỉ tiêu Xã hội Thông tin (ISI), do World Times Inc và Tập đoàn
Trang 33dữ liệu quốc tế xây dựng Chỉ tiêu này bao gồm bốn nhóm lớn là kết cấu hạ tầng máy tính; kết cấu hạ tầng thông tin; kết cấu hạ tầng Internet và kết cấu hạ tầng xã hội Gần đây, một số tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia đã phát triển các hệ thống chỉ tiêu đo lường trình độ phát triển kinh tế tri thức của một quốc
gia Các hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức này phần nào phản ánh
cách nhìn nhận về kinh tế tri thức của những cá nhân và tổ chức xây dựng hệ thống chỉ tiêu đó
1.3.1 Hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức của các nước OECD
( hệ thống chỉ tiêu phân thành 4 nhóm )
Hệ thống chỉ tiêu sử dụng tại các nước OECD để đo lường thành tích của một nền kinh tế tri thức quốc gia được xếp vào bốn nhóm rộng:
- Những chỉ tiêu đo lường các đầu vào và đầu ra tri thức;
- Những chỉ tiêu đo lường sự truyền bá tri thức;
- Những chỉ tiêu đo lường tri thức; và
- Những chỉ tiêu về vốn con người
1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức của APEC
APEC xây dựng một hệ thống chỉ tiêu để đo lường và so sánh các nước khác nhau về phương diện trình độ phát triển kinh tế tri thức ( Cụ thể các chỉ tiêu trong phụ lục 1 ) trên bốn góc độ:
- Môi trường kinh doanh với 8 chỉ tiêu ngụ ý xem xét mức thuận lợi cho việc sản sinh, hấp thụ, sử dụng tri thức cũng như thành tựu đạt được;
- Kết cấu hạ tầng thông tin có 6 chỉ tiêu;
- Phát triển nguồn nhân lực với 5 chỉ tiêu;
- Hệ thống đổi mới gồm 6 chỉ tiêu
Trang 341.3.3 Hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức của Ngân hàng thế giới
( Knowledge Assessment Matrix- KAM )
Chương trình “Tri thức vì phát triển” của Ngân hàng thế giới (WB) sử
dụng phương pháp Ma trận đánh giá tri thức - KAM (Knowledge Assessment Matrix), bao gồm một bộ chỉ tiêu đánh giá cơ cấu và tính chất kinh tế- xã hội
của một quốc gia về trình độ kinh tế tri thức Tất cả các chỉ tiêu được quy về thang điểm 10 Mục tiêu của KAM là xác định các vấn đề và cơ hội mà một nước phải đối mặt trong bối cảnh kinh tế tri thức, cũng như những trọng tâm chính sách và đầu tư trong tương lai
Trong lần giới thiệu đầu tiên KAM gồm 61 chỉ tiêu Đến thời điểm này, sau khoảng 2 năm , WB đã có 2 lần thay đổi và bổ sung một số biến số KAM năm 2002 có 69 biến số, bao gồm : 7 chỉ tiêu đo lường thành tựu kinh tế, 11 chỉ tiêu đo lường chế độ kinh tế, 7 chỉ tiêu đo lường chế độ thể chế, 15 chỉ tiêu đo lường nguồn lực con người, 15 chỉ tiêu đo lường hệ thống đổi mới và
14 chỉ tiêu đo lường kết cấu hạ tầng thông tin ( Cụ thể các chỉ tiêu trong phụ lục 2 )
Nếu đi sâu phân tích các biến số, sự thay đổi số lượng, loại chỉ tiêu và cách sắp xếp có thể thấy rõ hơn sự thay đổi trong quan điểm đánh giá và làm thế nào để tạo ra, phổ biến, thực sự sử dụng tốt tri thức cho phát triển của
WB Tuy nhiên có thể thấy ngay hệ thống các chỉ tiêu này đo lường bốn mảng thiết yếu trong sự phát triển một nền kinh tế dựa trên tri thức, đó là:
- Một môi trường kinh tế và thể chế cung cấp nhiều sự khuyến khích đối với việc sử dụng có hiệu quả những tri thức hiện có và tri thức mới,
và thúc đẩy sự nẩy nở tinh thần kinh doanh
- Một lực lượng lao động có giáo dục và có kỹ năng để sản xuất, chia sẻ và sử dụng tốt tri thức
Trang 35- Một kết cấu hạ tầng thông tin năng động để tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên lạc, truyền bá và xử lý hữu hiệu thông tin
- Một hệ thống đổi mới có hiệu quả gồm các hãng, trung tâm nghiên cứu, trường đại học, các nhà tư vấn và các tổ chức khác để khai thác khối tri thức toàn cầu, cập nhật và đồng hoá chúng nhằm phục vụ cho những nhu cầu địa phương
Thêm vào đó, KAM còn bao gồm các chỉ số theo dõi thành tựu của nền kinh tế Những chỉ số này cho thấy một nền kinh tế đã thực sự sử dụng tốt tri thức như thế nào vì sự phát triển kinh tế xã hội chung
Ba hệ thống đo lường trên cho thấy sự thừa nhận chung trên thế giới về vai trò ngày càng quan trọng của tri thức và công nghệ trong phát triển kinh
tế Mặc dù có một số khác biệt nhưng cơ bản các hệ thống chỉ tiêu do OECD, APEC và WB xây dựng đều thống nhất ở quan điểm để phát triển kinh tế tri thức đòi hỏi phải thiết lập một môi trường kinh tế – văn hóa – xã hội có những đặc tính phù hợp và tạo thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo Xét theo nghĩa này kinh tế tri thức có thể được hiểu như một giai đoạn phát triển mới của toàn bộ nền kinh tế
Trong điều kiện nền móng lý thuyết liên quan tới kinh tế tri thức vẫn chưa được xác định rõ ràng, chương 2 sẽ phân tích một số chiến lược quốc gia hướng tới kinh tế tri thức như là những quan niệm thực tế để củng cố luận điểm lý thuyết đã nêu nhằm nhận diện nền kinh tế này
Trang 36Chương 2: CHIẾN LƯỢC HƯỚNG TỚI KINH TẾ TRI THỨC
CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TRÊN THẾ GIỚI
Có rất nhiều bằng chứng cho thấy kinh tế tri thức đã thực sự xuất hiện ở nhiều quốc gia Quá trình chuyển giao này đã và đang diễn ra mạnh mẽ trong các nền kinh tế đã phát triển, đặc biệt là ở Mỹ, Canada, Tây Âu, Nhật, Singapore, Hồng Kông Do tính quá độ đó nên sẽ có sự đan xen giữa các nhân
tố của nền kinh tế cũ và những nhân tố của nền kinh tế mới; ngay trong từng lĩnh vực sản xuất cụ thể dù là nông nghiệp hay công nghiệp, những yếu tố truyền thống để tạo nên các sản phẩm vẫn tiếp tục tham gia vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của chúng trong cấu thành sản phẩm ngày càng giảm đi, và ngược lại giá trị của các nguồn lực phi hình ngày càng chiếm vị trí áp đảo Đồng thời, các công nghệ mới cao đã và đang tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ
và kỹ nghệ mới Những phương tiện này cũng làm thay đổi nếp sống, nếp nghĩ cũng như cách làm việc và giải trí của xã hội
Trong các nước thuộc OECD, nhiều ngành công nghiệp dựa trên tri thức ( công nghệ mới cao, thông tin, tài chính, bảo hiểm, dịch vụ cộng đồng,
xã hội và chăm sóc sức khoẻ ) đã đóng góp trên 40% GDP Tỷ lệ này là 57,3% ở Singapore, 55,3% ở Mỹ, 53% ở Nhật, 51% ở Canada Các cơ sở hạ tầng thông tin được đặc biệt quan tâm đầu tư và phát triển mạnh đảm bảo tốt nhu cầu thông tin với giá cả ngày càng giảm Đây là một trong những lĩnh vực
có mức tăng trưởng cao nhất
Trang 37Bảng 4 Mức đạt được của hạ tầng thông tin
Mỹ Canada Tây Âu Nhật Singapore Hàn Quốc
Trang 38Thương mại điện tử là một lĩnh vực quan trọng trong kinh tế tri thức đã
và đang phát triển hết sức nhanh chóng Tại Mỹ, thương mại điện tử bắt đầu
mở ra từ năm 1991 đến năm 2002 được dự báo sẽ có thể đạt tới 327 tỷ USD, tương đương 2,3% GDP và sẽ nhảy vọt tới 6% GDP vào năm 2005 Thương mại điện tử hiện chiếm một tỷ lệ tiêu thụ lớn, từ 20-60% sản phẩm của các ngành máy tính điện tử, phần mềm, năng lượng và sách báo của Mỹ
Nhiều nước phát triển đã thay đổi rõ rệt chính sách, chuyển hẳn ưu tiên cao cho việc tăng đầu tư vào phát triển khoa học, công nghệ và giáo dục Tại
Mỹ tổng đầu tư cho nghiên cứu triển khai, bao gồm của liên bang và các công
ty, tăng mạnh chiếm 2,63% GNI trong thời kỳ 1987 – 1997 Ngân sách liên bang được dùng cho lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, mang tính chất nhiều rủi ro
và một phần để tài trợ cho các dự án, chương trình nhằm đạt được tri thức mới, công nghệ mới Ví dụ như chương trình nghiên cứu đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ SBIR Các khoản tài trợ từ liên bang được Nhà nước thu hồi qua thuế về mặt ngân sách Đầu tư của các công ty tư nhân chiếm tỷ trọng lớn, từ 50/50 cuối thập kỷ 70 đến nay là 70/30 Điểm đặc biệt trong nghiên cứu triển khai ở Mỹ là mối quan hệ khăng khít giữa khoa học công nghệ với sản xuất mang đậm tính chất thị trường Sự bùng phát các
doanh nghiệp khởi sự ( Start-up ) là một ví dụ Tỷ trọng công nghệ cao trong
xuất khẩu hàng chế tác năm 1999 đạt 35%
Bảng 5 Đầu tư cho khoa học công nghệ và nguồn lực con người
Mỹ Tây Âu Nhật Bản Singapore Hàn Quốc
Trang 39Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Internet
Dịch chuyển của lực lượng lao động từ khu vực công nghiệp chế tạo sang khu vực dịch vụ nhiều kiến thức là một trong những bằng chứng thường được đưa ra cho thấy sự xuất hiện và phát triển kinh tế tri thức của một quốc gia Các dịch vụ nhiều kiến thức có thể là cung cấp nguồn thông tin và kiến thức hoặc là đầu vào trung gian cho các quá trình và sản phẩm thể hiện rõ rệt trong các hoạt động về công nghệ sinh học, vật liệu mới, môi trường, thông tin và truyền thông Số liệu tại Mỹ cho thấy những công việc dựa trên tri thức
(Knowledge-based jobs) tăng lên Năm 1960, số nhân viên lập trình máy tính
dưới 5000 nhưng đến nay là 1,3 triệu người Số lượng lao động làm công tác quản lý và chuyên môn cao tăng từ 22% lên 28,4% trong khoảng thời gian 1979-1995 Theo dự báo xu hướng này vẫn tiếp tục xảy ra, từ 31% năm 1996
sẽ lên đến 32,4% vào năm 2006 Tại các nước đang phát triển như Ấn Độ công nghệ phần mềm cũng tạo ra 50 vạn cơ hội việc làm có lương cao Các khu khai thác kỹ thuật cao của Trung Quốc tạo được hơn 2 triệu việc làm cho công nhân Việc những người lao động có kỹ năng cao dễ tìm việc và được trả công ngày càng cao hơn cũng thể hiện mức độ gia tăng tầm quan trọng của tri thức Riêng ở Mỹ, chỉ riêng trong lĩnh vực công nghệ thông tin vốn chỉ chiếm khoảng 8,3% tổng sản phẩm quốc nội nhưng đã đóng góp gần một phần ba sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ và một nửa sự tăng trưởng về năng suất của nước này từ 1995 đến 1999 Người ta dự đoán rằng, nếu phát triển toàn diện các ngành kỹ thuật cao khác thì việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn nữa là hoàn toàn khả quan
So với các nước phát triển hàng đầu, các nước có trình độ phát triển thấp hơn như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông cũng đã chuyển mạnh theo hướng phát triển kinh tế tri thức và đã đạt được nhiều tiến bộ Một số nước
Trang 40bị các cơ sở cơ bản cho phát triển kinh tế tri thức, đặc biệt là tập trung xây dựng, phát triển những ngành kinh tế như thông tin, công nghệ phần mềm, nghiên cứu và ứng dụng một số công nghệ hiện đại, dịch vụ, đào tạo-giáo dục
Những thực tế mà nền kinh tế tri thức mang lại đã được Viện nghiên cứu phát triển chính sách Mỹ đưa ra trong “Chỉ số nền kinh tế mới 2002” là:
- Các ngành công nghiệp mới, đặc biệt là dịch vụ thương mại và thương mại điện tử đang trở thành phần quan trọng hơn trong nền tảng kinh
- Trong khi đầu vào có giá trị của các công ty là kỹ năng và tài năng của lực lượng lao động thì vốn công nhân có tay nghề vẫn là yếu tố quan trọng
Như vậy, có thể khẳng định phát triển kinh tế tri thức đang trở thành xu hướng của thế giới và là vấn đề mới trong hợp tác quốc tế Nó phản ánh một quan điểm phát triển chiều sâu mới của nền kinh tế thế giới Động lực chủ yếu của xu hướng này là sự bùng nổ của tiến bộ khoa học công nghệ trong nhiều lĩnh vực, và xu thế toàn cầu hoá