1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề phụ nữ trong trước tác của Phan Khôi

124 383 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự gặp gỡ, một cách gián tiếp, dưới dạng trao đổi bằng thơ tín, giữa Phan Khôi với Đạm Phương nữ sử, trong cuộc trưng cầu ý kiến của tuần báo PNTV năm 1929, tựu trung chỉ có vậy; đó là

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

CAO CẨM THI

VẤN ĐỀ PHỤ NỮ TRONG TRƯỚC TÁC CỦA PHAN KHÔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ : 60 22 34

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS TRẦN HẢI YẾN

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1.Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Cấu trúc của luận văn 9

7 Các chữ viết tắt 9

NỘI DUNG 10

Chương 1 Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX và vấn đề phụ nữ 10

1.1 Khi giới nữ trở thành một vấn đề xã hội 10

1.1.1 Phụ nữ trong diễn ngôn truyền thống 10

1.1.2 Phụ nữ trong những chuyển biến lịch sử, văn hóa, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX 18

1.2 Phương tiện và phạm vi thể hiện quan điểm về phụ nữ 22

1.2.1 Phương tiện truyền tải thông tin về vấn đề phụ nữ 22

1.2.2 Phạm vi thể hiện vấn đề phụ nữ 26

1.3 Phan Khôi - những trải nghiệm tri thức 30

1.3.1 Nền tảng học vấn, tư tưởng của Phan Khôi 30

1.3.2 Hoạt động báo chí của Phan Khôi 34

Tiểu kết 37

Chương 2 Nhà báo Phan Khôi và vấn đề phụ nữ 39

2.1 Những vấn đề phụ nữ qua các bài báo của Phan Khôi 39

2.1.1 Nguyên tắc chung: Nam nữ bình quyền 39

2.1.2 Phụ nữ trong môi trường gia đình 41

2.1.3 Phụ nữ trong môi trường xã hội 52

Trang 4

2.2 Những tương tác và tranh luận của Phan Khôi với học giả đương

thời về vấn đề phụ nữ 61

2.2.1 Tranh luận về bình quyền nam nữ 62

2.2.2 Tranh luận về phụ nữ trong gia đình 65

2.2.3 Tranh luận về phụ nữ trong môi trường xã hội 68

2.3 Nghệ thuật viết báo của Phan Khôi 74

2.3.1 Cơ sở lập luận 74

2.3.2 Phong cách báo chí……… 77

Tiểu kết 85

Chương 3 Tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra và vấn đề phụ nữ 87

3.1 Vấn đề phụ nữ qua cốt truyện và nhân vật 87

3.1.1 Cốt truyện 87

3.1.2 Nhân vật 89

3.2 Đặc thù diễn ngôn của tác phẩm 97

3.2.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 97

3.2.2 Ngôn ngữ và nghệ thuật kể chuyện 100

3.3 Giao thoa và khoảng cách giữa diễn đàn xã hội và diễn đàn nghệ thuật 105

Tiểu kết 107

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 117

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Những năm đầu thế kỷ XX, việc thay đổi chế độ cai trị sang dân sự của thực dân Pháp đã gây nên nhiều thay đổi trong đời sống xã hội Việt Nam Những thay đổi trong xã hội và ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng tự do, dân chủ, bình đẳng từ phương Tây (trong đó có vấn đề bình quyền nam nữ

và giải phóng phụ nữ) đã làm hình thành nên vấn đề phụ nữ trong xã hội Việt Nam Trước thực tế đó, vốn là một học giả thức thời với chủ trương duy tân cải cách mạnh mẽ, Phan Khôi đã tích cực luận giải vấn đề này Các bài báo về phụ nữ và liên quan đến phụ nữ chiếm một phần lớn trong sự nghiệp của Phan Khôi, cũng là những trang viết giá trị nặng tâm lực và giàu trí lực của ông, làm sôi động không khí báo chí, tư tưởng đương thời Tuy nhiên, cho đến nay, những đóng góp của Phan Khôi đối với vấn đề phụ nữ trong bối cảnh hiện đại hóa dân tộc đầu thế kỉ XX vẫn chưa được nhìn nhận một cách hệ thống và thấu đáo Việc đánh giá như thế nào về vị trí của Phan Khôi như một nhà nữ quyền với hệ thống các bài nghị luận, phê bình, khảo cứu, bút chiến, sáng tác vẫn đang để ngỏ Đó là lý do để chúng tôi lựa chọn

đề tài Vấn đề phụ nữ trong trước tác của Phan Khôi Với đề tài này, người

viết đi vào khảo sát và đánh giá những luận bàn của Phan Khôi xung quanh vấn đề phụ nữ Cùng với các ngôn luận trên báo chí của ông, chúng tôi kết

hợp tìm hiểu cuốn tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra (1939), hướng đến nhận diện

đầy đủ hơn công lao của Phan Khôi với tư cách một cây bút canh tân trong

môi trường hợp pháp của chế độ thuộc địa

2 Lịch sử vấn đề

Trang 6

Trong khóa luận tốt nghiệp: Đóng góp cho văn học của Phan Khôi

qua báo chí những năm 20- 30 của thế kỷ XX (tháng 6/ 2012), chúng tôi đã

trình bày đầy đủ lịch sử vấn đề nghiên cứu tác gia Phan Khôi Vì vậy ở đây, chúng tôi chỉ tập trung nhìn lại những đánh giá về vấn đề phụ nữ trong di sản của Phan Khôi và một số tác giả cùng thời với ông

Vương Trí Nhàn trong Nghiệp văn có bài viết Phan Khôi, hình ảnh

còn lại đã đề cập đến phương diện này ở Phan Khôi Nhà nghiên cứu đưa ra

một cái nhìn chung về Phan Khôi, đó là: “người can dự” vào những vấn đề

xã hội ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, người “đi trước thời đại” với sự nhạy cảm và bộc trực của một “nhà thăm dò” những vấn đề quan yếu nảy ra trong đời sống Ông đưa ra ví dụ tiêu biểu: “Cuộc đấu tranh để từ bỏ những ràng buộc cổ hủ đối với phụ nữ là một vấn đề lớn của xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ Phan Khôi với các bài báo vài ngàn chữ của ông đã rải rác ra đời

sớm hơn các tiểu thuyết, chẳng hạn bài Tống Nho với phụ nữ in ra từ 13/8/1931, bài Một cái hại của chế độ đại gia đình: bà gia với nàng dâu in

ra 20/8/1931 Hai bài này đã khiến cho nhà thơ nổi tiếng đương thời như Tản

Đà hết sức bất bình, ông viết rằng như vậy là Phan Khôi “loạn ngôn hoặc chúng, gây bại hoại phong hóa” Ngày nay, đọc lại từ khoảng cách xa về thời gian, người ta nhận thấy Phan Khôi tuy xuất thân từ cựu học nhưng đã có tư tưởng khá mới, và trong một số việc, ông còn đi trước cả Tự lực văn đoàn” [33,28] Lại Nguyên Ân - người đã “trục vớt” đáng kể di sản báo chí của Phan Khôi cũng có một số bàn luận về Phan Khôi với vấn đề giới nữ Ông nhận định, đương thời, Phan Khôi là người làm sắc hơn, rõ hơn những khái niệm gọi là “nữ học, nữ quyền” Gần đây nhất (18/6/2011), trong bài tham

luận Phan Khôi và Đạm Phương nữ sử, qua một bức thư và một bài báo, khi

đề cập đến mối liên hệ giữa Phan Khôi và Đạm Phương (qua cuộc trưng cầu

ý kiến về vấn đề phụ nữ do Phan Khôi chủ trì trên tờ PNTV), Lại Nguyên Ân

Trang 7

đã đưa ra so sánh: “mức độ cởi mở và công bằng hơn cho nữ giới, trong cách đặt vấn đề của nữ sĩ Đạm Phương, là còn khá dè dặt, trong khi đó, cách đặt vấn đề nữ quyền của Phan Khôi, nêu ra sau nữ sĩ chừng 7-8 năm, là mạnh

mẽ hơn nhiều, căn bản hơn nhiều, quyết liệt hơn nhiều Sự gặp gỡ, một cách gián tiếp, dưới dạng trao đổi bằng thơ tín, giữa Phan Khôi với Đạm

Phương nữ sử, trong cuộc trưng cầu ý kiến của tuần báo PNTV năm 1929,

tựu trung chỉ có vậy; đó là sự đồng thuận về ý kiến trên một vấn đề đời sống rất quan thiết là giới nữ, cũng chính là một vấn đề xã hội, dưới cái nhìn duy tân, yêu cầu “cải lương” nhiều mặt trong quan niệm sống, trong sinh hoạt xã hội, hướng theo các chuẩn mực của văn minh Âu Tây” [49] Ngoài Lại Nguyên Ân và Vương Trí Nhàn, một số tác giả khác đều có đề cập đến việc học giả Phan Khôi “dũi” vào những vấn đề liên quan đến phụ nữ và bênh vực cho họ, nhưng chưa có một công trình, bài viết nào đi vào hệ thống, chiều sâu để lí giải, đánh giá tư cách ấy qua trước tác của ông

Về việc nghiên cứu vấn đề phụ nữ qua báo chí giai đoạn giao thời nói chung, có thể kể đến tác giả Đặng Thị Vân Chi với cái nhìn khá bao quát

Dòng báo phụ nữ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 Trong bài viết này,

tác giả diễn giải về quá trình hình thành diễn đàn phụ nữ và sự ra đời của dòng báo phụ nữ trước Cách mạng tháng Tám cũng như đội ngũ tác giả đã tạo ra sự hùng hậu của dòng báo này Đồng thời, thâu tóm lại nội dung chính của các tờ nữ báo, đó là: phản ánh vai trò và địa vị của phụ nữ trong xã hội; vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ; cuộc sống sinh hoạt của các tầng lớp

phụ nữ Tiếp tục mạch quan tâm này, bài viết Phan Bội Châu với vấn đề phụ

nữ đầu thế kỷ XX của Đặng Thị Vân Chi tìm hiểu nhận thức của Phan Bội

Châu đối với vai trò và vị trí của người phụ nữ trong xã hội Qua so sánh với những học giả khác, nhà nghiên cứu đi đến nhận định: Phan Bội Châu là người có tinh thần triệt để hơn hết khi đánh giá cao khả năng cách mạng của

Trang 8

người phụ nữ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX và nhận thức các tư tưởng dân chủ tư sản về phụ nữ [50]

Nhiều bài viết của các tác giả bàn luận về đóng góp của Đạm Phương

nữ sử với vấn đề phụ nữ đầu thế kỷ XX, tiêu biểu là Nguyễn Khoa Diệu

Biên với: Bà Đạm Phương và công tác giáo dục nữ giới trên Tạp chí Đồng

Khánh MTX - Huế - 1994; Thế Thanh với Đạm Phương - người rung tiếng chuông đòi quyền sống của phụ nữ từ hồi đầu thế kỷ (Báo Đại Đoàn Kết, số

xuân năm 1998), hay Lê Thanh Hiền với loạt bài trên các tạp chí Văn hóa

nghệ thuật; Cánh buồm Điểm chung của các bài viết này là đề cao những

nỗ lực của Đạm Phương trong việc vận động phát triển cuộc sống cho phụ

nữ, quan tâm đến vấn đề nữ học, hướng nghiệp, hướng dẫn cách thức tổ chức gia đình, nuôi dạy con cái để phụ nữ có một cuộc sống tốt đẹp hơn

Về những đóng góp cho vấn đề phụ nữ, không chỉ có Phan Bội Châu hay Đạm Phương nữ sử, Phan Thị Bạch Vân cũng được nhìn nhận như một tác gia nữ đã tích cực đấu tranh cho nữ quyền vào đầu thế kỷ XX Khi bàn luận về “tinh thần phụ nữ” đương thời ở Nữ lưu thư quán Gò Công, tác giả

Lê Tâm với bài viết Phan Thị Bạch Vân và tinh thần phụ nữ, đã khẳng định

vai trò của nhà báo, nhà văn Phan Thị Bạch Vân như là trụ cột tinh thần cho một trong những hoạt động đầu tiên của phụ nữ Nam Kỳ, thể hiện bước chuyển mình của thời đại đối với các vấn đề canh tân Lê Tâm cũng nhận

diện lại một số tiểu thuyết như: Giám hồ nữ hiệp, Nữ anh tài, Kiếp hoa thảm

sử, Lâm Kiều Loan, cho thấy sự tiến bộ của nhà văn Phan Thị Bạch Vân

trong việc thể hiện hình tượng người phụ nữ mới, có bản lĩnh, tự chủ trong tình yêu, hôn nhân, sự nghiệp, dám hy sinh vì nghĩa lớn

Có hai nghiên cứu của học giả nước ngoài về “Vấn đề phụ nữ thời kỳ

cận đại qua tư liệu báo chí” Trong tập Essay into Vietnamese pasts (Những bài tiểu luận về Việt Nam xưa) của Shawn Mc Hale có bài viết Printing and

Trang 9

power: Vietnamese debates over women’s place in society, 1918-1934 (In ấn

và quyền lực: Các cuộc tranh luận ở Việt Nam về vị trí của người phụ nữ trong xã hội 1918-1934), tác giả đã đưa ra một số nhận định về những ý

nghĩa của cuộc tranh luận trên 2 tờ báo: Nữ giới chung và PNTV về vai trò

và vị trí của người phụ nữ trong xã hội Tác giả David Marr với bài viết The

quyền ở Việt Nam trong những năm 1920) trong cuốn Vietnamese tradition

cho rằng: ngay từ những năm 1920, vấn đề phụ nữ nhanh chóng trở thành

“trung tâm điểm mà các cuộc thảo luận khác thường xoay quanh nó”, và ông

đề cập đến vai trò nổi bật của một số tờ báo như: Nữ giới chung, PNTV hay

tổ chức Hội nữ công của Đạm Phương nữ sử Cả Shawn Mc Hale và David

Marr đều chủ yếu khảo sát trên qua hai tờ báo Nữ giới chung và PNTV

Những bài viết trên của các tác giả đều ít nhiều có liên quan đến nội

dung của đề tài Vấn đề phụ nữ trong trước tác của Phan Khôi mà chúng tôi

thực hiện Đó cũng là cơ sở, nguồn tư liệu được người viết tận dụng cho việc liên hệ, đối sánh, để đem đến một cái nhìn tổng quát, khách quan về nhận thức và mức độ đóng góp của Phan Khôi trong vấn đề phụ nữ cho văn hóa, văn học, xã hội đương thời

3 Phạm vi nghiên cứu

Khoảng thời gian, tư liệu

Phan Khôi có vai trò tâm điểm trên diễn đàn báo chí và văn chương trong khoảng thời gian từ 1928 đến năm 1939 Dựa trên nguồn tư liệu là 5 ấn phẩm đăng báo của Phan Khôi trong các năm 1928, 1929, 1930, 1931, 1932

do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân sưu tầm và công bố, chúng tôi lọc ra được 57 bài báo Phan Khôi viết về phụ nữ Khảo sát thêm các báo từ năm

1933 đến năm 1939 mà Phan Khôi tham gia với các vai trò khác nhau như:

Trang 10

tiếp tục vai trò chủ bút cho PNTV (1933, 1934); bắt đầu là chủ bút kiêm cây viết chính của PNTĐ (1933, 1934); Tràng An (1935); là sáng lập kiêm chủ bút của Sông Hương (1936 đến tháng 3/1937); là cộng tác viên cho loạt báo:

Thực nghiệp dân báo (1933), Hà Nội báo (1936), Đông Dương tạp chí tục bản (1937-1938), Thời vụ (tháng 7&8.1938), Dư luận (tháng 8& 9/1938), Tao đàn (1939), chúng tôi tìm được thêm 20 bài báo của ông về vấn đề phụ

nữ (thực chất, từ sau 1935, Phan Khôi không có bài viết nào về vấn đề phụ nữ) Tổng hợp la ̣i, 77 bài báo đã lựa lo ̣c nói trên sẽ là tư liê ̣u khảo sát chính

của luận văn Bên cạnh đó, chúng tôi kết hợp tìm hiểu cuốn tiểu thuyết Trở

vỏ lửa ra 1 (năm 1939), tác phẩm cũng mang tư tưởng nữ quyền mà Phan Khôi đã thể hiê ̣n trên báo chí

Phạm vi vấn đề

Trong luận văn này chúng tôi không tìm hiểu toàn bộ di sản phong phú của Phan Khôi mà giới hạn diện nghiên cứu, khảo sát của mình trong vấn đề phụ nữ qua các bài báo và tiểu thuyết thể hiện quan niệm, nhận thức của ông

4 Mục đích nghiên cứu

Như tên luận văn Vấn đề phụ nữ trong trước tác của Phan Khôi, ở

đây, Phan Khôi được đánh giá trên tư cách một tác giả văn học trình bày một vấn đề xã hội Mục đích của chúng tôi khi thực hiện luận văn này là nhận diện việc Phan Khôi đã quan tâm đến vấn đề phụ nữ trong giai đoạn giao thời như thế nào Đồng thời, tìm hiểu những tác động đến không khí xã hội, văn chương về chính vấn đề này, cũng như những đường hướng phát triển

1

Cuốn tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra do nhà nghiên cứu, nhà sưu tầm Lại Nguyên Ân cung cấp

Chúng tôi xin cảm ơn ông đã bảo lưu được một văn bản hiện nay đã trở thành quý hiếm và chia sẻ với chúng tôi tư liệu này

Trang 11

chung của văn hóa dân tộc mà Phan Khôi đã tạo ra khi đưa vấn đề phụ nữ

lên báo chí và vào sáng tác văn học

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, người viết nhìn nhận, đánh giá đóng góp về một vấn đề tư tưởng - xã hội trong trước tác của một nhà báo, tác giả văn học Bản thân đối tượng nghiên cứu liên quan đến nhiều vấn đề: Lịch sử, văn hóa,

xã hội, báo chí trong những mối liên hệ đa chiều Bởi vậy, người viết vận dụng những phương pháp tiếp cận: nghiên cứu liên ngành, văn học sử và nghiên cứu văn học từ văn hóa

Để cụ thể hóa những phương pháp đó, người viết sử dụng những thao tác thống kê, khảo sát, tổng hợp kết hợp phân tích, lý giải những quan niệm của Phan Khôi về vấn đề phụ nữ như: nữ quyền, vị trí của phụ nữ, giải phóng phụ nữ Thao tác so sánh (đồng đại, lịch đại) cũng là không thể thiếu, đặc biệt là đặt đối tượng nghiên cứu trong không khí văn hóa, văn học

- báo chí đương thời, đồng thời cố gắng khu biệt đối tượng để nhận diện những đóng góp riêng cũng như những giới hạn của tác giả

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tư liệu tham khảo , nội dung chính của luận văn được triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX và vấn đề phụ nữ Chương 2: Nhà báo Phan Khôi và vấn đề phụ nữ

Chương 3: Tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra và vấn đề phụ nữ

Trang 12

NỘI DUNG

Chương 1

Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX và vấn đề phụ nữ

1.1 Khi giới nữ trở thành một vấn đề xã hội

1.1.1 Phụ nữ trong diễn ngôn truyền thống

Việt Nam là một đất nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi chế

độ phong kiến tồn tại một cách dai dẳng và bền vững Giai cấp thống trị phong kiến đã sử dụng các phương tiện khác nhau để biến hệ tư tưởng Nho giáo trở thành ý thức hệ chi phối nhận thức, hành vi, thiết chế, tâm lí và tập tục xã hội Với tính chất nam quyền mạnh mẽ, Nho giáo đã phân định không gian và phạm vi rạch ròi cho nam-nữ, trong đó, vị thế chủ chốt tất yếu là nam giới Trong xã hội Nho giáo, người đàn ông nắm trong tay quyền quyết định và phụ nữ là người phục tùng (phu xướng, phụ tùy) Những quan niệm

“phụ nhân nan hóa”, “tam tòng, tứ đức” của Nho giáo là mạng lưới lí thuyết phản động đã tạo ra sự bất bình đẳng giới trong xã hội phương Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Thứ nhất, phụ nữ bị xem là thấp kém hơn và chỉ đáng để phục vụ cho nam giới Quan niệm đó ấn định rất rõ ràng trong đời sống văn hóa, người phụ nữ luôn bị coi và tự coi là “phái yếu”, tồn tại một cách “khiêm nhường” bên cạnh “phái mạnh” Chữ “tài”, chữ “trí” chỉ gắn liền với người quân tử,

kẻ trượng phu Phụ nữ bị xếp chung hàng với hạng tiểu nhân Họ không có quyền đi học hay tham gia thi cử, không có mặt trong bộ máy quản lí làng xã hay có bất kì tiếng nói nào trong những vấn đề “nghị sự” Thực tế ấy xuất phát từ một quan niệm đầy miệt thị: “Phụ nhân nan hóa” Khổng Tử cho

Trang 13

rằng: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân, vi nan dưỡng dã Cận chi, tắc bất tốn, viễn chi tắc oán” (chỉ có đàn bà và bọn tiểu nhân là khó nuôi dạy Hễ ta gần gũi thì khinh nhờn, hễ ta xa cách thì oán ghét) Từ đó nảy sinh tư tưởng trọng nam khinh nữ, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, tạo nên chế độ tôn tộc, gia trưởng, cha truyền con nối theo người đàn ông

Thứ hai, Nho giáo qui định phụ nữ phải giữ đạo “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) Thân phận người phụ nữ được xác định phụ thuộc tuyệt đối vào đàn ông, “khuê môn bất xuất” Như một qui ước đã được mặc định, phụ nữ có bổn phận lớn nhất là chăm sóc và phụng dưỡng những người đàn ông (cha, chồng, con trai), theo từng giai đoạn trong đời mình Khi chồng chết, người phụ nữ góa vẫn phải thủ tiết thờ chồng

Trương Vĩnh Ký khi trích lời cổ nhân Nho gia, trong Minh Tâm Bửu Giám

phần nói về phụ hạnh, có viết: “Trong đàn bà góa, có người nghèo khổ, có nên lấy chồng lại nữa chăng? Và trong trường hợp này câu trả lời: sự đói rét

là sự rất nhỏ, chứ sự lỗi tiết là điều rất lớn” Nếu lỗi tiết, người phụ nữ thậm chí có thể phải chịu hành hạ, ngược đãi một cách dã man nhất2

Sự bất bình đẳng thể hiện ở chỗ: Người phụ nữ giữ gìn trinh tiết cho một chồng, trong khi người đàn ông có thể có nhiều vợ, được bỏ vợ khi người vợ không đẻ được con trai hoặc thất xuất (phạm một trong 7 tội: không con, dâm dật, không thờ cha mẹ chồng, lắm lời, trộm cắp, ghen tị, bệnh hiểm nghèo) Trong chế độ phong kiến Việt Nam, luật Hồng Đức (ban hành năm 1483) và luật Gia Long (ban hành năm 1815) đều công nhận và bảo vệ chế độ gia tộc phụ quyền, thể hiện rõ nhất ở tình trạng đa thê Chế độ cung tần thực chất là đỉnh cao phát triển nhất và dã man nhất của chế độ đa thê

2

Luật Gia Long - điển hình cho sự áp bức phi nhân đối với người phụ nữ - đã đề ra các cực hình, nhục hình đối với họ như: gọt gáy bôi vôi, thả bè trôi sông, voi giày ngựa xéo…

Trang 14

Nguyên tắc thành văn “tam tòng” thực chất là cái cùm để giam cầm nữ giới,

“đẩy vị trí của họ xuống hàng kẻ nô lệ, nô lệ không chỉ về kinh tế, chính trị, văn hóa, mà nô lệ cả về tình cảm và tình dục” [3,25]

Thứ ba, Nho giáo đặt ra nguyên tắc người phụ nữ phải trau dồi “tứ đức”

“Tứ đức” là “nữ hữu tứ hạnh” gồm: Phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công – qui định khắt khe về hành vi đạo đức và hành vi sinh hoạt của người phụ

nữ 3 Việc trau dồi “tứ đức” yêu cầu phụ nữ phải thực hiện trong cuộc sống hằng ngày Những tiêu chuẩn này thực chất là công cụ áp chế tinh thần người phụ nữ, ăn sâu vào tiềm thức của họ quán tính: “tự mình tu dưỡng, tự mình ràng buộc, tự mình nhược hóa mình” Thuyết “tam tòng, tứ đức”, hay

“phụ nhân nan hóa” là rào cản vô hình, hà khắc trói buộc tự do và kìm hãm

sự phát triển của người phụ nữ Nó cũng là thước đo duy nhất để xã hội định giá họ, đồng thời, làm cơ sở đưa vào luật tục và văn chương; đồng thời các hình thức văn chương cũng luôn được vâ ̣n du ̣ng để chuyển tải những bài gia huấn hoă ̣c bô ̣c lô ̣ quan điểm của người viết về người phu ̣ nữ

Nhiều nho gia đã dành thời gian tâm sức soạn các tác phẩm Gia huấn,

Nữ huấn với mục đích giáo dục “tại gia” cho phụ nữ, thay thế cho giáo dục

học đường Các bài gia huấn, nữ huấn thường tập hợp những lời dạy dỗ, hướng dẫn, bao quát toàn bộ cuộc đời một người phụ nữ từ khi còn bé ở nhà với cha mẹ cho đến khi làm dâu và tới lúc về già Hình thức văn bản hầu hết

dưới dạng văn vần, thể loại lục bát, dễ nhớ, dễ truyền khẩu, và vì thế “có thể

3

“Công” là công việc Công việc của người phụ nữ truyền thống là dành cho gia đình, tề gia nội trợ, sinh con đẻ cái để dòng họ đông đúc, phục vụ cả nhà chồng, lựa ý chồng để “nâng khăn, sửa túi” hợp đạo làm vợ

“Dung” là dung nhan, dung mạo, dáng dấp thể hiện ra ở bên ngoài gương mặt, trên thân hình Dung đòi hỏi người phụ nữ ra vào e lệ, đi đứng khép nép Dù trong lòng đau khổ hay giận dữ vẫn phải kìm nén cho gương mặt nhẹ nhàng, tươi cười

“Ngôn” là lời ăn, tiếng nói “Ngôn” đòi hỏi người phụ nữ phải dùng những lời lẽ ngọt ngào, lựa lời cho đúng ý người nghe để không bị chạnh lòng, giận dữ Đàn bà con gái không được cười to, nói lóng, bàn vào mọi việc trong nhà

“Hạnh” là đức hạnh, phẩm giá “Hạnh” đòi hỏi người phụ nữ phải chịu thương chịu khó, phục tùng chồng và gia đình chồng Đàn bà suốt đời phải giữ tiết hạnh, thủy chung dù chồng có năm thê bảy thiếp

Trang 15

làm lời khuyên răn được, làm châm ngôn cho bọn đàn bà con gái [51], có

thể lưu truyền qua nhiều thế hệ Cổ huấn nữ ca của tác giả Đặng Xuân Bảng

là một tác phẩm tiêu biểu cho việc giáo dục phụ nữ tại gia Cổ huấn nữ ca

gồm 468 câu, viết theo thể thơ lục bát Tác phẩm giảng giải chi tiết, cụ thể mọi vấn đề phụ nữ cần nhận thức, ứng xử, trong đó, Đặng Xuân Bảng dành

39 câu (câu 369 đến câu 408) để lưu ý phụ nữ về cách xử thế trong trường hợp chẳng may phải chịu cảnh góa chồng:

Kiên trinh hai chữ là đầu,

Đá trơ trơ vững, gương lầu lầu trong…

… Dẫu mà tuổi trẻ đầu xanh Quyết lòng ở vậy, chẳng tình trăng hoa Bướm ong đâu mặc người ta Nước trong, trăng sáng mới là gái trinh…

Phụ nữ được khuyến khích không tái giá, ở vậy thờ chồng, nuôi con

Và phẩm giá cao đẹp nhất của họ được khẳng định là đức đoan chính, ý thức giữ gìn tiết trinh Quan niệm được rao giảng phổ cập bằng thơ ca đó đã chi phối mạnh mẽ số phận của người phụ nữ qua nhiều thế hệ

Song hành với sự nêu gương và đề cao đến mức cực đoan về đức hạnh, nhà nho né tránh hoặc phê phán vẻ đẹp dung mạo của người phụ nữ:

Ăn mặc chớ mỹ miều chải chuốt Hình dung đừng ve vuốt ngắm trông

(Gia huấn ca4) Nguyễn Trãi không dưới một lần cảnh báo về nguy cơ tiềm ẩn hậu quả “mất quốc gia, lìa thiên hạ, bại tan gia thất, tổn hại tinh thần” từ nữ sắc:

Trang 16

Sắc là giặc đam làm chi

Thuở trọng còn phòng có khi suy Trụ mất quốc gia vì Đát Kỷ Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi Bại tan gia thất đời từng thấy Tổn hại tinh thần sự ích chi Phu phụ đạo thường chăng được chớ Nối tông họa phải một đôi khi

(Giới sắc)

Nữ sắc - một thứ tự thân nó đáng được trân trọng, nâng niu, đã bị các nhà đạo đức phong kiến “hạ giá” xem như một thứ cám dỗ, „tội đồ”, cần phê phán và loại bỏ Lê Thánh Tông khi vịnh về Dương Quí Phi đã coi người con gái đẹp này là yêu ma mê hoặc Đường Huyền Tông, gây nên viễn cảnh

mù mịt đáng sợ của vương triều

Đến thế kỷ XVI, Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục càng làm rõ hơn

thái độ kỳ thị của nhà nho với nữ sắc Kiểu nhân vật phụ nữ có dung nhan xinh đẹp, hấp dẫn đàn ông nhưng lại là những yêu quái, hồ ly đội lốt người được tác giả xây dựng như là biểu trưng cho quan niệm đương thời: phụ nữ chứa chất sự mê hoặc, là nguồn gốc của tội lỗi, gây nên oan nghiệt, sai trái,

lụn bại cho những đấng nam nhi (nàng Liễu, nàng Đào (Truyện kỳ ngộ ở

Trại Tây), Giáng Hương (Từ Thức gặp tiên), Thị Nghi (Truyện yêu quái ở Xương Giang), Nhị Khanh (Truyện cây gạo) Bên cạnh đó, Truyền kỳ mạn lục còn có kiểu nhân vật phụ nữ chính diện, điển hình cho những phẩm chất,

tiết hạnh truyền thống: công dung ngôn hạnh, xứng đáng là bậc liệt nữ Đó là

Nhị Khanh (Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu), Lệ nương (Truyện Lệ

nương), Vũ Thị Thiết (Truyện người con gái Nam Xương), những người

chung thuỷ, luôn chăm lo hiếu nghĩa, khao khát cuộc sống bình thường

Trang 17

Nhưng xã hội loạn ly đẩy họ ra khỏi nếp nhà yên bình , phải chịu đo ̣a đày, bất công, và cuối cùng bị đẩy tới cái chết Đặc biệt, hành động tuẫn tiết theo chồng hay lấy cái chết để chứng minh tiết hạnh với người chồng của họ

được tác giả khuyến khích, ngợi ca Truyền kỳ mạn lục là một dấu mốc quan

trọng trong việc nâng cao vai trò của hình tượng nhân vật nữ trong văn chương nhà nho Nhân vật người phụ nữ chiếm số lượng lớn trong tác phẩm,

có tới 10/20 truyện trong tập lấy nhân vật chính là người phụ nữ, nhiều câu chuyện về cuộc đời họ còn được gọi thẳng ra, trở thành tiêu đề truyện Tuy với nhãn quan, tư tưởng phong kiến, nhà văn không tránh khỏi cái nhìn khắt khe đến cay nghiệt đối với người phụ nữ khi đòi hỏi họ phải có "nhân thân trong sạch", tuyệt đối trung trinh, nhưng trong cách miêu tả của Nguyễn Dữ, vẫn ẩn chứa niềm thương cảm với những nghịch cảnh mà họ đương đầu Khi lựa chọn đối tượng phản ánh trung tâm là người phụ nữ với những bất hạnh

và khát vọng hạnh phúc, Nguyễn Dữ đã là người đầu tiên đưa số phận người phụ nữ vào văn học trung đại Việt Nam, dự báo cho những thay đổi về hình tượng người phụ nữ trong văn học nhà nho những giai đoạn sau

Sang thế kỷ XVIII-XIX, đời sống văn học đã có những thay đổi tích cực Theo cách nói của nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn, đó là thời đại của văn học chủ tình Trong trào lưu văn học này, các tác phẩm văn học xuất sắc đều có nội dung về tình yêu, khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ Nhân vật trung tâm là người phụ nữ được đề cập đến một cách phổ biến trong

nhiều tác phẩm: người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn

- Đoàn Thị Điểm, người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương, những nàng Dao Tiên

trong Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự, Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang của

Phạm Thái, Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du… Nhân vật phụ

nữ đã bước vào văn chương với một tư cách, tính chất hoàn toàn khác biệt

Trang 18

Họ là đối tượng thẩm mỹ, chứ không chỉ là đối tượng phản ánh Sự hiện diện phong phú của những số phận, nhan sắc, cảm xúc, khát vọng, tình yêu… tự thân phản ánh một vấn đề lớn - vấn đề phụ nữ, góp vào đời sống văn học một giá trị nhân văn cao cả Các tác giả đều nói lên một cách sâu sắc, thấm thía địa vị thấp kém, nghịch cảnh éo le, số phận khổ đau cũng như tâm tư của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến Chẳng hạn, Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm với đề tài người chinh phụ chờ chồng đi chiến trận trở về

(Chinh phụ ngâm) đã thể hiện được những tâm sự thầm kín, những khát khao về đời sống tinh thần và thể xác của người chinh phụ Trong Chinh phụ

ngâm có những diễn đạt đầy ám ảnh sự mỏi mòn đến khô héo của người phụ

tâm trạng sầu thảm và bi kịch của người cung phi Trong khi diễn tả sâu sắc

và đầy xúc động thế giới nội tâm của người con gái bị hủy hoại tuổi xuân, bị quân vương thất sủng nơi cung cấm, nhà thơ gián tiếp lên án chế độ cung tần, sự áp bức tột cùng về giới đối với phụ nữ Theo nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn, màu sắc ái ân, nhục thể của cả hai tác phẩm là nét nữ quyền nổi bật, vượt qua được định kiến nói chung của văn chương nhà nho [54]

Đứng ở vị trí là người phát ngôn cho giới mình, Hồ Xuân Hương, người phụ nữ “nổi loạn” của thời đại, đã có những bài thơ bày tỏ niềm kiêu hãnh về vẻ đẹp hình thức, tâm hồn, trí tuệ của giới nữ Bà nêu bật vẻ đẹp bên

trong (Bánh trôi nước; Con ốc nhồi; Quả mít); ca ngợi tuổi trẻ tươi mát, phồn thực của các cô gái đang xoan (Đề tranh tố nữ); và cũng táo bạo đi vào

Trang 19

đến từng chi tiết của vẻ đẹp cơ thể phụ nữ (Thiếu nữ)… Người phụ nữ trong

thơ Xuân Hương luôn ngẩng cao ở tư thế hiên ngang, đầy bản lĩnh với ý thức

về giá trị bản thân Gắn chặt đời mình cùng với số phận bi đát, bé nhỏ trong vòng lễ giáo khắc nghiệt, thơ Xuân Hương phản kháng mạnh mẽ sự bất công của chế độ đa thê:

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung (Làm lẽ)

Truyện Kiều của Nguyễn Du được xem như tác phẩm đỉnh cao về tính

nhân văn trong việc phản ánh số phận người phụ nữ Nhân vật Thúy Kiều là biểu tượng cho sự phá vỡ những nguyên tắc đã nghiễm nhiên “mặc định” của chế độ nam quyền Kiều dám mạnh dạn, chủ động đến với tình yêu của mình, vượt qua đi cái rào cản “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” mà “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” Bước chân “xăm xăm” ấy của Kiều đã cho thấy bản lĩnh của người nữ nhi đạp lên kiềm tỏa của lễ giáo phong kiến để tìm lấy hạnh phúc cá nhân Từ thời đại của Nguyễn Du, nhiều người đã cho

Truyện Kiều là một cuốn dâm thư đáng bị lên án Cho đến những thập kỷ

đầu của thế kỷ XX, Truyện Kiều vẫn bị những nhà nho cuối cùng, vốn được

coi là những người có tư tưởng tiến bộ (Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Ngô Đức Kế) phê phán Họ chủ yếu dựa vào hai lập luận của luân lí Nho giáo để chê trách và lên án Kiều: Thứ nhất, nàng đã không “tòng nhất chi chung” với Kim Trọng mà đi lấy hai người đàn ông khác; thứ hai, nàng đã không “tuẫn tiết” để giữ lấy tấm thân trong sạch suốt 15 năm đọa đầy chốn thanh lâu nhơ nhớp Điều đó cho thấy tư tưởng tiến bộ, vượt thời đại của Nguyễn Du, cái nhìn cảm thông, yêu thương, trân trọng đặc biệt dành của một nhà Nho, một người nam nhi dành cho người phụ nữ

Trang 20

Như vậy, từ những tác phẩm của Đặng Xuân Bảng, Nguyễn Trãi,

Nguyễn Dữ, đến những sáng tác vào thế kỷ XVIII, XIX với đỉnh cao Truyện

Kiều đã là bước tiến dài trong lịch sử văn học về sự bênh vực quyền sống và

quyền hạnh phúc cho người phụ nữ Từ việc bị khinh miệt, kiêng dè, nữ giới được công nhận và ngợi ca về sắc đẹp, tài năng, và được bênh vực về quyền được hạnh phúc một cách trực diện Đó là một sự biến chuyển lớn trong việc tiếp cận nữ quyền của văn chương trung đại

1.1.2 Phụ nữ trong những chuyển biến lịch sử, văn hóa, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX

Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh chương trình khai

thác thuộc địa ở Viê ̣t Nam, tạo ra những biến đổi to lớn trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

Nền kinh tế có tính xã hội hóa cao của phương thức sản xuất tư bản không còn phù hợp với chế độ gia đình cũ nữa Phụ nữ dù muốn hay không cũng bị cuốn hút vào các hoạt động sản xuất xã hội

Các trào lưu tư tưởng mới, các thành tựu khoa học kĩ thuật, văn hóa nghệ thuật từ phương Tây thông qua sách báo nước ngoài tràn vào Việt Nam, góp phần hình thành phương pháp tư duy duy lý tồn tại bên cạnh lối tư duy duy cảm của người Việt Những nề nếp, kỷ cương, đạo đức và lối sống của một xã hội phương Đông đóng cửa hàng ngàn năm đến nay đã bị một phen lung lay Chưa bao giờ ảnh hưởng của thế giới bên ngoài dội đến các sĩ phu Việt Nam mạnh đến như vậy Những tác động của tân thư, tân văn và sự bùng nổ của phong trào Duy tân ở Nhật Bản, Trung Quốc, của tư tưởng dân chủ châu Âu đã tạo ra những thức nhận đáng kể cho họ Những trí thức vốn thâm nhiễm văn hóa Trung Hoa từ máu thịt như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quí Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế… đã nỗ lực tự vứt

bỏ, tự phủ định, hướng tới một cuộc canh tân văn hóa, cải cách sinh hoạt có

Trang 21

sức ảnh hưởng mạnh mẽ rộng khắp ba miền Phong trào yêu nước và duy tân đầu thế kỷ XX là một cuộc vận động giải phóng dân tộc về mặt chính trị - xã hội cũng như khai sáng về phương diện tư tưởng Và le lói trong tinh thần canh tân này có sự đổi mới bước đầu về người phụ nữ

Một trong những hệ quả to lớn của quá trình thực dân hóa là việc thúc đẩy sự phát triển mau chóng của đô thị ở Việt Nam Kéo theo đó là sự xuất hiện những tầng lớp mới của xã hội, với lối sống tư sản hóa mau chóng hình thành đã đem lại một luồng gió tinh thần khác biệt Đô thị cũng là cửa ngõ giao lưu, du nhập các tư tưởng dân chủ tư sản, thu hút một số sĩ phu tân tiến Các phong trào canh tân, cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX đều có xuất xứ từ địa bàn đô thị: Phong trào duy tân Quảng Nam - Đà Nẵng, phong trào Minh tân Sài Gòn, trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội… Do đó, đô thị cũng trở thành nơi tập trung diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt về tư tưởng, văn hóa, lối sống, trong đó có những vấn đề về bình quyền nam nữ và hoạt động của giới nữ

Cùng với sự hình thành của các đô thị lớn, tầng lớp phụ nữ thành thị tăng lên nhanh chóng Bên cạnh đội ngũ nữ công nhân đông đảo với các hình thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là bộ phận phụ nữ tiểu tư sản thành thị gồm tiểu thương, vợ con các viên chức làm việc trong các công sở của Pháp

và của tư nhân, các công chức (y tá, thư kí, hộ sinh), trí thức (dạy học, viết báo, viết văn, làm thơ…) Phụ nữ dần tách khỏi môi trường gia đình và trở thành một lực lượng xã hội quan trọng, lao động với sự chuyên môn hóa trong các hoạt động: kinh doanh, hành chính, giáo dục, văn hóa Quá trình tiếp xúc, hội nhập với văn hóa phương Tây đầu thế kỷ XX đã đem lại cho phụ nữ cơ hội để tự cởi trói bản thân, tiếp cận những tư tưởng về nữ quyền

và giải phóng phụ nữ Nhiều phụ nữ trí thức đã nhanh chóng nhập cuộc, đi đầu trong việc cổ động phong trào giải phóng phụ nữ qua các hoạt động viết

Trang 22

báo, sáng tác văn chương, diễn thuyết, lập các Hội phụ nữ, tổ chức các phong trào quyên góp từ thiện Tiêu biểu đó là: Đạm Phương nữ sử, Sương Nguyệt Anh, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Vân Đài, bà Nguyễn Đức Nhuận, Nguyễn Thị Kiêm…

Thêm một sự thay đổi đáng kể trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX là việc mở các trường công cộng dành cho nữ sinh5 Lần đầu tiên phụ nữ Việt Nam được đi học cùng một chương trình giáo dục như nam giới, nhưng khác với nam sinh là nữ sinh mỗi tuần được học thêm một số giờ nữ công gia

chánh (theo quy định của Học chính Tổng quy ban hành năm 1917) Tiếng

Pháp cũng được học phổ cập cho họ Chương trình đào tạo của các trường

nữ học hướng tới mục tiêu xây dựng một nền giáo dục đa ngành nghề, bình đẳng giữa hai giới Phụ nữ có một môi trường xã hội mới để chứng tỏ bản thân Họ được củng cố thêm niềm tin về khả năng độc lập và quyền được khẳng định không thua kém đàn ông của giới mình Một tầng lớp nữ sinh tân học chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp với lối sống mới trái ngược với quan điểm đạo đức truyền thống xuất hiện Nhiều vấn đề về lối sống, phong tục, tập quán liên quan đến giới nữ đã không còn phù hợp và đứng trước yêu cầu phải thay đổi

Thêm vào đó, làn sóng đấu tranh đòi nữ quyền và giải phóng phụ nữ trên

số lượng ngày càng đông, và qui mô được mở rộng sang các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Ninh Bình… Ở Sài Gòn, trường nữ giới Áo Tím được mở năm 1915 Năm 1917, trường Nữ học của miền Trung: Đồng Khánh (Huế) ra đời

6

Thực trạng phụ nữ bị áp bức ở nhiều nơi, nhiều nền văn hóa khác nhau đã tạo nên một phong trào rộng khắp Cho đến đầu thế kỷ XX, cuộc đấu tranh của họ đã đi được những bước dài Cùng với phong trào giải phóng nô lệ ở Mỹ, phụ nữ Mỹ đã lập Hội quyền phụ nữ và tổ chức Đại hội lần đầu tiên vào năm 1848 Đến năm 1920, chính phủ Mỹ phải công nhận quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ Ở châu Âu, trước chiến tranh thế giới thứ nhất,lần lượt, phụ nữ một số nước như

Trang 23

luận Việt Nam, tạo khí thế, động lực mạnh mẽ cho giới nữ Đây là yếu tố khách quan, mang tính thời đại, toàn cầu, đi liền với chính yêu cầu nội tại,

cụ thể của tình hình trong nước về vấn đề phụ nữ Các trào lưu vận động giải phóng của phụ nữ thế giới đã giúp phụ nữ Việt Nam thức nhận về tình trạng

của mình, “ý thức rằng họ là một nhóm người trong xã hội với các nỗi bất

bình và yêu cầu riêng” Các tổ chức phụ nữ như Phụ nữ giải phóng, Hội nữ quyền, Nữ công học hội được tổ chức ở nhiều nơi với các cấp độ khác nhau

của mục tiêu vận động phụ nữ, khuyến khích phụ nữ tham gia các công việc ngoài xã hội7 Đúng như nhận định của Trần Thiện Ty và Bùi Thế Phúc

trong Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam (1932): “Hiện nay mọi việc đã thay đổi

Phụ nữ không muốn bị đàn ông áp chế nữa, chị em cần phải biết gió mát trời xanh Luồng gió tự do đã thổi khắp đám phụ nữ tân thời… Thế thì trên mảnh đất Việt Nam này phụ nữ đã thành một vấn đề rồi đó” [50]

Khi thực thể xã hội thực dân ngày càng rõ nét, số phận người phụ nữ càng trở thành mối quan tâm lớn Như một yêu cầu tất yếu của thời đại, đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam, “nữ quyền” và “giải phóng phụ nữ” bắt đầu trở thành những khẩu hiệu được phát động, phổ biến rộng khắp Trong xã hội Việt Nam đã dần xuất hiện “vấn đề phụ nữ” bên cạnh các vấn đề xã hội khác Hơn thế, vấn đề phụ nữ có ý nghĩa quan trọng trong bước chuyển mình

Phần Lan, Đan Mạch, Nauy, Ailen, Nga, Đức, Anh… giành được quyền chính trị như nam giới

Ở các nước phương Đông, phong trào nữ quyền ở Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ đều có những diễn biến tích cực Tháng 6/1930 tờ thời báo New York đã lên tiếng kêu gọi những người phụ nữ Ấn

Độ vốn bị đè nén dã man dưới chế độ đẳng cấp bước ra khỏi nhà bếp để giành lấy cuộc sống mới gắn với quyền lợi xã hội, quốc gia Cuộc đấu tranh của phụ nữ đã buộc chính phủ Nhật Bản xét đến quyền tuyển cử của phụ nữ Phong trào Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc cũng đã đưa ra những chính sách về bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực kinh tế, thi cử, quân sự và hôn nhân… Phong trào phụ nữ thế giới phát triển mạnh mẽ đã dẫn đến việc nhóm họp Hội nghị phụ nữ thế giới (vào tháng 6/1929 tại Luân Đôn) với sự tham dự của phụ nữ 40 nước, trong đó có cả phụ nữ các nước châu Á Đến tháng 1/1931, Đại hội phụ nữ châu Á tổ chức tại thành phố Laho, Ấn Độ

đề cập đến việc liên kết phụ nữ châu Á để đấu tranh đòi quyền bình đẳng nam nữ, chống chế độ

đa thê, quyền được trợ cấp khi đau ốm, thai sản, bảo vệ văn hóa, bảo vệ hòa bình

7

Trong đó, Nữ công học hội (1926) do Đạm Phương nữ sử khởi xướng và làm Hội trưởng hoạt

động khá hiệu quả Đây là một tổ chức phụ nữ phi chính phủ đầu tiên của nước ta và là một trường giáo dục văn hoá và chức nghiệp cho phụ nữ Việt Nam

Trang 24

đi tới hiện đại hóa của một dân tộc đã bị kìm hãm suốt nghìn năm Bắc thuộc

về tư tưởng

1.2 Phương tiện và phạm vi thể hiện quan điểm về phụ nữ

1.2.1 Phương tiện truyền tải thông tin về vấn đề phụ nữ

Xuất phát từ nhu cầu cai trị, sinh hoạt văn hóa của người Pháp ở thuộc địa và nhu cầu thực tiễn cần có phương tiện ngôn luận làm cầu nối giữa người đi chinh phục và người bị chinh phục, cùng với nghề in và hoạt động xuất bản, thực dân Pháp đã đưa báo chí vào Việt Nam Báo chí trở thành phương tiện thông tin, diễn đàn xã hội văn hóa trên cả nước Nằm trong chiến lược văn hóa chung với mục đích đẩy lui ảnh hưởng của Hán học, báo chí Quốc ngữ đã được triển khai và trở thành một hiện tượng mới

mẻ, một thành tố của quá trình hiện đại hóa đời sống văn hóa xã hội Việt Nam Đây cũng là một phương tiện hữu hiệu để các trí thức yêu nước Việt Nam thực hiện khát vọng canh tân tự cường, dịch thuật, truyền bá tư tưởng dân chủ phương Tây Thông tin về các phong trào nữ quyền và giải phóng phụ nữ trên thế giới cũng được quan tâm truyền tải rộng rãi Trước thực tế giới nữ đã trở thành một vấn đề xã hội bức xúc, đông đảo học giả làm dấy lên những cuộc thảo luận thể hiện sự thay đổi quan điểm về phụ nữ và hoạt động của giới nữ so với diễn ngôn truyền thống Phụ nữ trở thành một vấn

đề nổi bật trên báo chí theo ý nghĩa tích cực của nó Do đó, báo chí - một công cụ thông tin và giao tiếp hàng đầu đặc trưng cho một xã hội hiện đại đầu thế kỷ XX, đã có tác động mạnh mẽ đến cuộc đấu tranh cho công bằng giới Nhìn lại gần mười thế kỷ trước đó của xã hội cổ truyền Việt Nam, có thể coi đây là một diễn đàn xã hội “đột xuất” cho mọi vấn đề trong đó có vấn

đề phụ nữ được luận bàn trực diện, công khai

Trang 25

Bắt đầu từ số 799 ra ngày 9-5-1907, Đăng cổ tùng báo có một mục mới là Nhời đàn bà bắt đầu đề cập đến những vấn đề về phụ nữ, do Nguyễn Văn Vĩnh viết với bút danh Đào Thị Loan Sau khi Đăng cổ tùng báo bị đình bản do những nhạy cảm chính trị, trên Đông Dương tạp chí (trong hai năm 1913-1914) và Trung Bắc tân văn (trong hai năm 1915-1916) mục Nhời đàn

bà lại xuất hiện, chủ yếu vẫn do Nguyễn Văn Vĩnh viết dưới bút danh Đào

Thị Loan và Nguyễn Thị Bổng

Từ sau chiến tranh Thế giới Thứ nhất, phong trào đòi nữ quyền của phụ nữ châu Âu phát triển mạnh mẽ đã tạo ra không khí sôi nổi cho các cuộc thảo luận trên báo chí Hầu hết các báo đều dành một số trang để bàn về vấn

đề phụ nữ, hoặc có mục giành riêng cho phụ nữ như: Khai hóa Nhật Báo có mục Văn nữ giới, Phụ nữ diễn đàn; Hữu thanh tạp chí có mục Văn thơ đàn

bà và Gương nữ giới; Thần chung có mục Lời bạn gái; ĐPTB cũng có mục Văn nữ giới và Lời đàn bà; Hà Thành ngọ báo có mục Tiếng oanh; Báo Văn minh và báo Tiếng dân có mục Phụ nữ diễn đàn; Công luận có mục Lời bạn gái…

Đặc biệt, việc xuất bản báo Nữ giới chung 1918 đã đánh dấu sự khởi

đầu của một dòng báo mới, dòng báo chuyên biệt về nữ giới Từ năm 1929 với sự ra đời của tờ báo phụ nữ thứ hai, cũng là tờ báo phụ nữ thành công

nhất: PNTV 8, hàng loạt các báo phụ nữ được xuất bản Tính đến năm 1945,

8

PNTV do bà Nguyễn Đức Nhuận làm chủ bút có ảnh hưởng không nhỏ về xã hội, văn chương trên khắp ba miền, được đánh giá là mở màn cho thể loại tuần báo Việt Nam Về chính trị,

PNTV giữ thái độ tương đối ôn hòa, với tôn chỉ: “không có đảng phái nào hết, chỉ thờ chân lí,

xem Tổ quốc là tôn giáo” và “chuyên tâm khảo luận những vấn đề liên quan tới đàn bà, tức là quan hệ của quốc gia xã hội Tờ báo có xu hướng cấp tiến, khởi xướng và giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của nữ giới bấy giờ dưới ánh sáng của tư tưởng mới; cổ động cho việc cải cách phong tục, nếp sống và hôn nhân gia đình (Nho giáo và vấn đề gia đình người Việt Nam hiện đại; phụ

nữ với quốc sự, văn chương…).

Trang 26

đã có 12 đầu báo nữ giới phục vụ cho đông đảo độc giả khắp ba kỳ9

với những tôn chỉ, mục đích rõ ràng như: “hướng đạo chỉ vẽ chị em trong lúc sôi nổi tân thời, đặng vững vàng trên con đường văn minh tiến hóa…dung hòa

tân cựu, bênh vực lợi quyền chị em” (Phụ nữ tân tiến), hay “quyết đánh đổ

những sức phản nghịch do cái dư luận bất chánh hoặc cái dư luận thiên vị khư khư đứng một chỗ định ngăn cản, không chịu theo sự tiến bộ trong tư

tưởng và cuộc sinh hoạt của đàn bà mới, người mới, đời mới”(Đàn bà mới);

“hành động theo một chủ nghĩa tân tiến có lợi ích trực tiếp cho chị em chúng

ta” (Phụ nữ) Các tờ báo phụ nữ thường tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, viết

bài và thăm dò ý kiến, làm rõ hơn nhận thức của xã hội về các vấn đề xung quanh đời sống giới nữ10

Những diễn đàn và các báo chuyên biệt về giới nữ tạo được không khí sôi nổi để các học giả thể hiện quan điểm về một vấn đề quan yếu của buổi giao thời Đây cũng chính là cơ hội cho phụ nữ nói lên các vấn đề của giới mình, đòi hỏi những quyền lợi thiết thực nhất mà họ đáng được hưởng

Sự hình thành “vấn đề phụ nữ” cùng với sự phát triển của “nền văn hóa in ấn” đã làm xuất hiện ngày càng nhiều ấn phẩm viết về phụ nữ Phải

kể đến các sách chuyên khảo về phụ nữ như: Nam nữ bình quyền của Đặng Văn Bẩy ở Sài Gòn (1928), Vấn đề phụ nữ của Phan Bội Châu (1929), Nam

quốc nữ lưu, Nữ lưu văn học sử của Sở Cuồng Lê Dư (1929), Vấn đề phụ nữ

ở Việt Nam của Trần Thiện Ty và Bùi Thế Phúc (1932)…

10

Ngay trong số ra mắt, PNTV đã tổ chức cuộc “Trưng cầu ý kiến các danh nhân về vấn đề phụ

nữ”, sau đó là các cuộc thi viết về “Văn chương và đức hạnh”, cuộc thảo luận “Kiều nên khen hay nên chê”; Đàn bà mới khởi xướng những cuộc tranh luận như: “Đàn bà góa có nên cải giá không”; “Có nên tự giải phóng không khi chồng có vợ bé không đoái hoài đến vợ?”; “Vợ không

có con thì có nên lấy vợ hai để có con nối dõi không?”; Báo Đàn bà tổ chức cuộc thi viết “Người đàn bà Việt Nam kiểu mẫu”

Trang 27

Song hành cùng với báo chí, văn học đầu thế kỷ XX cũng là một diễn đàn sôi động bàn về những vấn đề phụ nữ Hầu như các tác phẩm văn học

thời kỳ này đều được đăng tải trên báo trước khi in thành sách Những tiểu thuyết của Đạm Phương nữ sử như Kim Tú Cầu, Hồng phấn tương tri hay của Phan Thị Bạch Vân như Gương nữ kiệt, Giám hồ nữ hiệp, Nữ anh tài,

Lâm Kiều Loan, Kiếp hoa thảm sử đã nói lên tinh thần người phụ nữ buổi

giao thời Đó là những người phụ nữ đầy bản lĩnh, tự chủ trong tình yêu, hôn nhân, học tập, sự nghiệp, dám hy sinh vì nghĩa lớn Loạt tiểu thuyết của Phan Thị Bạch Vân là câu chuyện về ý chí nữ lưu, có phần phản chiếu bóng dáng “nữ kiệt, nữ hiệp” của riêng Việt Nam

Tố Tâm (sáng tác năm 1922, xuất bản năm 1925) của Hoàng Ngọc

Phách là một dấu ấn đáng kể trong đề tài viết về nữ giới và tình yêu Cuốn tiểu thuyết mang tên nhân vật chính là một cô gái mới với mối tình say đắm sầu thảm và cái chết bi thương gây ra bởi những ràng buộc của hệ ý thức phong kiến và chế độ đại gia đình Cái chết để bảo vệ tình yêu của Tố Tâm

là ngòi nổ tạo những hiệu ứng xã hội trong lớp thanh niên nam nữ đương

thời Tố Tâm nhận được sự ủng hộ của lớp thanh niên nam nữ ảnh hưởng

văn hóa phương Tây, ngược lại, vấp phải sự phản đối kịch liệt của các nhà

cựu học Từ nguồn mạch mà Tố Tâm đã khơi ra, với tiêu chí “trọng tự do cá

nhân, làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa”, nhiều tiểu

thuyết của các nhà văn, nhà báo tự do TLVĐ đã đấu tranh mạnh mẽ cho

quyền lợi và cổ vũ phong trào giải phóng phụ nữ Các nhân vật nữ của Nhất Linh, Khái Hưng, Tú Mỡ, Thạch Lam luôn cố vùng dậy thoát khỏi những ràng buộc của lễ giáo phong kiến, giành lấy quyền hạnh phúc, quyền định

đoạt cuộc sống của mình (Nhung trong Lạnh lùng, Loan trong Đoạn tuyệt, Trâm trong Nắng thu, Mai trong Nửa chừng xuân, Hồng trong Thoát ly)…

Họ là những hình tượng đầy sống động cho chủ đề nữ quyền mà các tác giả

Trang 28

muốn thể hiện trong không khí chung của báo chí học thuật, văn chương đương thời

sĩ phu yêu nước phát động rộng rãi khắp ba miền với chủ trương đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, mở mang trí tuệ, đào tạo nhân tài nhằm thay đổi tận

gốc xã hội và con người Việt Nam Văn minh tân học sách (1902) ra đời,

hàm chứa những tư tưởng đổi mới lớn lao, sau này đã trở thành một trong những tài liệu giảng dạy quan trọng nhất của trường Đông Kinh nghĩa thục11

Tuyên ngôn của phái duy tân qua Văn minh tân học sách với sự nhấn mạnh:

“mở rộng dân quyền, cải thiện dân sinh", tuy chưa đề cập đến vấn đề phụ nữ nhưng bước đầu cũng đã nói đến những vấn đề bình đẳng xã hội Do đó đã gián tiếp tạo ra một bước thay đổi trong nhận thức về vấn đề phụ nữ

Trong các nhà nho duy tân, Phan Bội Châu là người thể hiện rõ nhất những quan niệm tiến bộ về vai trò của phụ nữ trong xã hội Ông luôn có ý thức gắn khái niệm nữ quyền với tư tưởng dân quyền Phan Bội Châu nhấn

11

Văn Minh Tân Học Sách là một áng văn nghị luận, bàn về văn minh ta, văn minh Tây, nêu lên

những nguyên nhân làm cho nước ta chậm tiến, ngưng trệ kéo dài, đồng thời đưa ra những biện pháp văn hóa và kinh tế nhằm đưa nước ta tiến kịp phương Tây Những mặt văn minh Tây khác

Ta cần phải học tập bao gồm: Tự do tư tưởng, tự do viết sách bày tỏ ý kiến của mình; chế độ giáo dục nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản, thiết thực; chế độ chính trị lập hiến, cộng hòa, bàn việc gì cũng khai hội, ai nấy đều góp ý, cốt làm sao cho đúng chân lý, hợp tình hình; coi nước và dân có quan hệ mật thiết, không có việc trên áp chế dưới [58]

Trang 29

mạnh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, phụ nữ bình đẳng với nam giới Theo Phan Bội Châu, muốn giải phóng phụ nữ, cần phải: Mở mang về đường tri thức cho phụ nữ; Liên kết đoàn thể của người phụ nữ; Chấn hưng chức nghiệp của người phụ nữ; Nâng cao địa vị của người phụ nữ12 Tuy nhiên, theo Phan Bội Châu cũng như các chí sĩ duy tân, phụ nữ mới chỉ được

đề cao như nam giới trong phạm vi đấu tranh vì công cuộc “cứu vong” của dân tộc và phần nhỏ trong việc canh tân xã hội

Giai đoạn thứ hai là thời kỳ của các trí thức tân - cựu thích ứng với sự

đô hộ của Pháp, tức là chấp nhận xu thế biến đổi theo phương Tây như: Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Diệp Văn Kỳ, Sương Nguyệt Anh, Đạm Phương nữ sử… Phan Khôi thuô ̣c nhóm tác giả này

Vấn đề phụ nữ gắn với quan điểm duy tân được đề cập từ rất sớm, bắt

đầu từ Nguyễn Văn Vĩnh trên ĐCTB qua mục Nhời đàn bà Trong bối cảnh

của phong trào duy tân và Đông Kinh nghĩa thục, những vấn đề phụ nữ chủ yếu nhằm phê phán hủ tục, tập quán cũ (tang ma, cưới xin), tục đa thê, trinh tiết, chuyện vợ cả vợ lẽ và những quan niệm không đúng về việc phụ nữ đi

học Về sau khi ĐCTB đình bản, mục Nhời đàn bà chuyển sang ĐDTC và

Trung Bắc tân văn, lần đầu tiên, đã nhắc đến khái niệm nữ quyền: “Sao cho

nữ quyền chúng ta ngày càng nhớn để cho các thầy nó đố dám lên mặt tu mi

mà bắt nạt căn quắc” (ĐDTC,11/2/1914); “muốn mang tư tưởng cùng chị em

bàn bạc để đúc lấy nữ quyền, dạy bảo nhau chóng nên người khôn ngoan, tài đảm để gây nên một giống nòi mạnh bạo, sau này chiếm lấy một phần nữ sử

với hoàn cầu” (Trung Bắc tân văn, 21/1/1915)

Chủ bút Nữ giới chung (1918), Sương Nguyệt Anh cũng giải nghĩa

“nam nữ bình quyền là gì” Theo bà, quyền bình đẳng nam nữ có nghĩa là

12

“Phan Bội Châu với vấn đề phụ nữ đầu thế kỷ XX”, Phan Bội Châu, con người và sự nghiệp

(Kỷ yếu Hội thảo khoa học); 1998, Nhà in Khoa học công nghệ, Hà Nội

Trang 30

“phụ nữ có cùng lợi ích như nam giới” Tác giả Lan Anh trong bài Quyền lợi

của phụ nữ ta phải tương xứng với nghĩa vụ trên PNTV, sau khi trích dịch

một đoạn trong “Bách khoa toàn thư” về số phận của phụ nữ toàn thế giới,

đã đưa ra ý kiến: “… Em cũng nghĩ như nhà Bách khoa nọ ở trong bài nầy, không hề chủ ý về chánh trị quyền, chỉ muốn bàn xem có phải là xưa nay trong tư tưởng của kẻ đàn ông, chỉ xem đàn bà là con vật để sai, cái máy để sanh, cái đồ để vui chơi tiêu khiển hay không? Mà phụ nữ ta nào có phải là đáng chịu cái số phận nhục nhã như thế sao?”

Còn Phạm Quỳnh đề cập đến vấn đề nữ quyền trên ĐDTC trong bài

Về thói trọng nam khinh nữ của ta (1914) và bài Sự giáo dục đàn bà con gái

(1917) Ông đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong gia đình, nhưng cho rằng phụ nữ vốn bị đánh giá thấp suy cho cùng chỉ vì không có học thức mà thôi”

và quyền bình đẳng nam nữ được hiểu là “phải lưu tâm đến việc giáo dục đàn bà” Cuộc đấu tranh đòi nữ quyền là cuộc đấu tranh “sao cho nữ quyền chúng ta ngày càng nhớn và làm thiên hạ kinh hồn bạt vía chẳng dám khinh chi đến lũ má hồng quần lĩnh chúng ta” Giáo dục phụ nữ được coi là biện pháp để thực hiện bình đẳng nam nữ Đây cũng là quan niệm chung của nhiều học giả Nhưng một số người vẫn quan niệm vị trí của phụ nữ là ở trong gia đình nên nội dung giáo dục cũng chủ yếu nhằm giúp phụ nữ làm tốt việc nội trợ, “con gái phải học để nhân cách hoàn toàn” để “hiểu được tam tòng, tứ đức”

Càng về sau, khi những ảnh hưởng của văn hóa Pháp ngày càng trở nên sâu đậm hơn, ở một đất nước chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, một phương diê ̣n tốn nhiều giấy mực bàn luận của các học giả là việc vận động giải phóng phụ nữ thoát khỏi lễ giáo phong kiến, nhìn nhận lại quan niệm về trinh tiết, sự thủ tiết của phụ nữ góa chồng, hôn nhân tự do, nạn đa thê… Đạm Phương nữ sử phủ định lễ giáo phong kiến, chỉ ra sự hà khắc, coi

Trang 31

thường phụ nữ như nô lệ: "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, bắt người đàn bà

thủ tiết thờ chồng khi chồng chết, hạn chế học hành của phụ nữ đều phải vứt

bỏ cùng với tam tòng tứ đức" [Trung Bắc Tân Văn, 21/6/1926] Diệp Văn

Kỳ thì cho rằng: Ở một đất nước mà mọi người dân đều không có sự tự chủ

về chính trị thì “đối với phụ nữ chỉ còn chuyện giải phóng, giải phóng ở phong tục, giải phóng ở gia đình, giải phóng ở xã hội” Hay như Phan Khôi kêu gọi “chỉ trích Khổng giáo, đả phá cái chế độ đại gia đình”, vì chị em phụ

nữ mà “xóa cái luật nam tôn, nữ ty, giảng lại cái nghĩa chữ trinh, bênh vực

sự cải giá là vô tội”

Sự thay đổi của văn hóa xã hội cũng đặt ra vấn đề xác định mẫu hình phụ nữ lí tưởng thích hợp với thời đại mới Tác giả Văn Tâm cho rằng một người đàn bà mới phải vừa là một người vợ đảm đang trong gia đình, vừa là

một người hoạt động ngoài xã hội [Đàn bà mới, 24/8/1936] Chung Thị Vân

thì kết luận: “người đàn bà mới thật sự cũng không thua các chị em xưa về

sự quán xuyến trong gia đình Hơn nữa, người đàn bà mới biết trông xa, hiểu

rộng, rõ địa vị trách nhiệm mình trong xã hội” [Đàn bà mới, 24/8/1936] Và

vấn đề phụ nữ chức nghiệp cũng được đặt ra như một trách nhiệm của

“người đàn bà mới” Nhiều tác giả coi việc giải quyết nghề nghiệp để tự lập

là một yếu tố quan trọng để mang lại quyền bình đẳng cho phụ nữ, “là một cái chìa khóa để mở cửa phụ nữ giải phóng” Như ý kiến của tác giả Cô Diệu

Vân trên Tràng An (12/3/1935): “Muốn cho người ta trọng mình trước hết

mình phải trọng lấy mình, nghĩa là mình phải có chức nghiệp”

Những ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản về quyền con người còn làm nảy sinh các cuộc thảo luận về quyền lao động, quyền hưởng lương ngang bằng và các chế độ bảo hiểm, quyền bầu cử, ứng cử của phụ nữ… Trong diễn tiến của sinh hoạt văn nghệ Việt Nam đầu thế kỷ XX, vấn đề phụ

nữ đã thực sự lôi cuốn sự tham gia của nhiều nhà văn, nhà báo, học

Trang 32

giả và thu hút sự chú ý của bạn đọc Trước một phương diện nhất định của vấn đề phụ nữ: nữ quyền, nữ học, phụ nữ chức nghiệp, giải phóng phụ nữ khỏi lễ giáo phong kiến, quyền lợi chính trị của phụ nữ… đều có hai luồng ý kiến trái chiều: ủng hộ và phản bác Cuộc thảo luận về vấn đề phụ nữ theo

đó có thể được chia theo ba hướng: cấp tiến, thủ cựu và ôn hòa Song dù ở bất kỳ cấp độ nào cũng có thể thấy vấn đề phụ nữ ở giai đoạn này thay vì trực diện đặt mình trước mục tiêu giải phóng dân tộc, đã chuyển sang phạm

vi xã hội sâu rộng hơn các nhà nho duy tân trước đó

1.3 Phan Khôi - những trải nghiệm tri thức

1.3.1 Nền tảng học vấn, tư tưởng của Phan Khôi

Phan Khôi (1887-1959), hiệu là Chương Dân, sinh ở làng Bảo An,

huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Ông xuất thân trong gia đình có truyền thống Nho học, ông ngoại là tổng đốc Hoàng Diệu, cha là phó bảng Phan Trần Ông học giỏi Hán học từ nhỏ, nổi tiếng thông minh, ham học hỏi và hay “lý sự” Phan Khôi đã tự thuật về mình: "Tôi từ nhỏ có tư bẩm thông minh lạ Lên 13 tuổi đã "cụ thể tam trương": là về lối văn khoa cử, kinh

nghĩa ở trường nhất, thi phú trường nhì, văn sách trường ba tôi đều làm được

cả trong tuổi ấy Ông nội tôi và ông thân tôi đều để hy vọng vào tôi nhiều lắm”13 Phan Khôi được cha gửi đi trọ học trường Trần Quý Cáp trong 10 năm (từ 1896 đến 1906) Trần Quý Cáp là người thầy đầu tiên và cũng là người có ảnh hưởng sâu xa đến tư tưởng và phương thức tranh đấu bất bạo động của Phan Khôi sau này Càng trưởng thành, tư tưởng cựu học càng rời

xa ông Đã không ít lần, Phan Khôi thẳng thắn tranh luận về xu thế thời đại với cha và ông nội, kiên quyết bảo vệ những quan điểm của mình Đức tính ngay thẳng, cương trực, đôi khi ngang ngạnh rất đặc trưng của người Quảng

13

Bài Đi học đi thi có tiểu tựa: Ký ức lục của một vị lão Nho, ký tên Tú Vườn, in trên Sông

Hương từ số 23 (7/1) đến 30 (13/3/1937), Phạm Hồng Toàn sưu tập

Trang 33

Nam này đã trở thành phong cách “độc” của học giả Phan Khôi Năm 19 tuổi (1906), vâng lời cha, Phan Khôi ra Huế dự thi Hương nhưng chỉ đậu tú tài Trình độ Hán học của ông vẫn được Phan Châu Trinh đánh giá là có thể sánh với trình độ tiến sĩ xuất sắc

Những biến chuyển lịch sử khiến tuổi trẻ của Phan Khôi giống như nhiều trí thức Nho học Việt Nam bấy giờ, phải đứng trước lựa chọn: Rời bỏ văn hóa Hán, tiếng Hán - thứ giá trị đã trở thành cổ truyền, truyền thống để chấp nhận văn hóa Pháp - tức là chấp nhận một thứ ngoại lai, một thứ được xem là vô đạo trước truyền thống Phan Khôi đã mạnh bước lựa chọn con đường tân học, hướng hẳn về phương Tây hiện đại Ông cũng đã tự nói về thái độ lựa chọn dứt khoát của mình: “…tôi đã đọc sách họ Khổng từ lúc lên sáu tuổi, đẻ ra và lớn lên trong cửa ngài, mà đến lúc chia tay, chẳng được một giọt nước mắt gọi là có”14 Và sự dứt khoát này thống nhất trong toàn bộ

tư tưởng và sự nghiệp báo chí của ông Ngay lúc ngọn gió Đông du và Duy tân thổi đến Quảng Nam, Phan Khôi nhanh chóng hưởng ứng phong trào của

ba sĩ phu “tam hùng đất Quảng” là Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp Ông là một trong những người đầu tiên ở Quảng Nam cắt đi cái búi tóc - biểu tượng của chế độ phong kiến đã đè nặng tư tưởng người dân Việt Nam hàng trăm năm Bài vè cắt tóc của Phan Khôi thời bấy giờ được lưu truyền rộng rãi, cổ vũ thanh thiếu niên mạnh dạn bứt phá, chuyển theo trào lưu mới Từ sự thức nhận sâu sắc rằng khung cảnh thế giới mở ra khiến cho không gian văn hóa hàng nghìn năm đã quá chật hẹp, Phan Khôi bắt đầu bước vào quá trình tích cực học quốc ngữ, tiếng Pháp, miệt mài nghiên cứu khoa lý luận học, thâu nhận tri thức mới mẻ của thế giới15

Trong Hồi kí “Nhớ cha tôi Phan Khôi” Phan Thị Mỹ Khanh viết: “…ông nhanh chóng đổi mới

nhờ sự tự học, nâng cao trình độ trí thức kịp với thời đại Mà sự tự học là do cái ý chí tiến thủ quyết tâm và bền bỉ của ông Nhờ sự tự học, ông sớm sử dụng nhuần nhuyễn khoa luận lý học,

Trang 34

1916 đến 1919, Phan Khôi đã tìm hiểu và rất tâm đắc với các tác giả là nhà văn, học giả Trung Hoa tân thời như Hồ Thích, Lâm Ngữ Đường, đặc biệt là

Lỗ Tấn bởi kiến văn phong phú, lập luận chặt chẽ, văn phong sáng sủa của

họ Từ 1920-1925 ông dịch Kinh Thánh cho Hội Tin lành của Mỹ Bản dịch của ông được đánh giá cao bởi câu văn gãy gọn, trong sáng, văn phạm chuẩn mực Quá trình tiếp xúc sâu sắc với Kinh Thánh cũng giúp ông hiểu thấu đáo văn minh Tây phương từ nguồn cội Những trải nghiệm dày dặn đã tạo nên nhà báo và học giả Phan Khôi am hiểu hai nền văn hoá Đông Tây

Vào giai đoạn lịch sử mà tư tưởng duy tân đang lan tràn rộng khắp, nhà nho Phan Khôi nhiệt thành hô hào cải cách, bài trừ thủ cựu - “những cái thù địch với mọi sự mới” Và sự giải quyết tận gốc, theo ông, đó là “bắt đầu từ học thuật tư tưởng mà duy tân cải cách trước”16 Thực thi phương châm đó, trong sự nghiệp cầm bút của mình, Phan Khôi khởi xướng những đề tài tranh

luận lớn có tiếng vang khắp ba kỳ về vấn đề học thuật (quốc học, chữ quốc

ngữ, sử học, thơ mới-thơ cũ, nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân

sinh…), và vấn đề tư tưởng như: tư tưởng Tây phương và Đông phương,

đánh giá lại Nho giáo, chủ nghĩa cá nhân, nữ quyền Trong những nội dung

tư tưởng Phan Khôi bàn luận, vấn đề phụ nữ được quan tâm nhiều Chủ

trương giải phóng phụ nữ, đặc biệt là đưa phụ nữ thoát khỏi những lề thói

đạo đức phong kiến luôn hiển hiện trong sự nghiệp cầm bút của Phan Khôi

Cụ thể, trong cuộc đụng độ văn hóa Đông Tây, việc học theo văn minh

Âu Mỹ là điều nhiều trí thức thừa nhận Tuy nhiên nhiều người cho rằng, dù

khoa văn phạm vào cách suy nghĩ và cách viết văn sáng sủa, rành mạch Ngay khi tên tuổi ông đã

có chỗ đứng trong làng văn, làng báo rồi, ông vẫn không ngừng học hỏi… Ông am hiểu văn học Đông Tây kim cổ, lịch sử Âu Á, một số vấn đề về triết học, một số học thuyết chính trị, toàn những lĩnh vực mới mẻ, phức tạp Cái ý chí tiến thủ ấy đã đưa ông từ một tú tài nho học vươn lên thành nhà văn hiện đại”[16,118]

16

Trung lập, [s.6218 (9.8.1930) ; s.6220 (12.8.1930) ; s.6221 (13.8.1930) ; s.6223 (18.8.1930)]

Trang 35

phải dung nạp nền văn minh ấy, vẫn phải giữ lại tinh thần truyền thống văn hóa phương Đông Chủ trương tân cựu điều hòa, thổ nạp Á Âu của Phạm Quỳnh được nhiều người tán thưởng Phan Khôi kịch liệt phản đối, “bác cái thuyết tân cựu điều hòa”, xem đó là động thái không dứt khoát, khẳng định muốn đưa xã hội mình lên trình độ của thế giới hiện đại phải dám vứt bỏ cái yếu kém, tụt hậu của nền văn hóa cũ17 Với Nho giáo, Phan Khôi đặt ra vấn

đề đánh giá lại vai trò của nó trong xã hội hiện đại một cách cấp thiết Trong những cuộc tranh luận sôi nổi về Nho giáo với các học giả đương thời, ông

đã chứng minh đạo Nho không còn là khuôn vàng thước ngọc nữa mà đã trở nên phản tiến hóa, lỗi thời khi gặp làn sóng Âu hóa từ phương Tây tràn sang

Sự tự phản tỉnh, tự phủ định quyết liệt hơn cả nhiều cây bút Tây học chính là điểm độc đáo trong tư tưởng một người vốn vỡ lòng bằng sách vở thánh hiền18 Ông rất chú trọng đến mối quan hệ của Nho giáo, đặc biệt là Hán

Nho và Tống Nho với phụ nữ, bác bỏ những tín điều trái tự nhiên, phi nhân, những lễ giáo hủ lậu xưa nay áp chế họ Nội dung này nằm trong “xu hướng phê phán Nho giáo như một học thuyết nam quyền - đàn áp nữ quyền của nhiều trí thức vùng Đông Á đầu thế kỷ XX19 Nho giáo Việt Nam trong đời

17

“Học thuyết cũ với vận mạng mới nước Tàu; Mấy lời kết luận về Cô Hồng Minh và cái thuyết

châu Âu sắp tan nát; Tư tưởng của Tây phương và Đông phương; Bác cái thuyết tân cựu điều hòa”

18

Khởi đầu, trên Thần chung, Phan Khôi có bài“Tên ông Khổng Tử nằm ở đầu lưỡi các nhà

chính trị”, đề cập đến vấn đề: “liệu học thuyết Khổng Tử có còn phù hợp với thời đại ngày nay

hay không?” Tiếp đó là loạt bài với nhan đề lớn“Ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta” (từ số

213 đến 249/1929) - cách nhìn có hệ thống của Phan Khôi với Khổng giáo Loạt bài này được

xem như dấu ấn đáng kể trong việc công phá thành lũy tư tưởng bảo thủ ở xứ sở này để mở ra một sự đổi mới trong tư tưởng, suy nghĩ; và do đó có tác động đến nhiều mặt, cả về đời sống xã hội cũng như sự phát triển của văn học nghệ thuật

19

Theo Trần Nho Thìn, đầu thế kỷ XX, trong xu thế chung của châu Á mà Fukuzawwa Yukuchi diễn tả là “thoát Á luận”, nhiều trí thức vùng Đông Á hay vùng văn hóa Hán đã tiến hành phê phán nhiều giá trị truyền thống phương Đông trong đó có Nho giáo Trong các xu hướng phê phán Nho giáo đó, có một xu hướng phê phán Nho giáo như một học thuyết nam quyền - đàn áp

nữ quyền Tại Trung Quốc, có thể kể đến Lỗ Tấn, Lâm Ngữ Đường, tại Việt Nam tiêu biểu là Phan Khôi [54]

Trang 36

sống tư tưởng xã hội Việt Nam căn bản là Tống Nho Những mặt hủ bại của

nó đã gây nên những biến cố, “nạn dịch” xã hội như nạn tự tử của thanh niên nam nữ, việc xô xát trong gia đình, vợ giết hại chồng… Phan Khôi đã thể hiện mối quan tâm về sự thủ cựu của Tống Nho và những ý tưởng canh tân

xã hội qua vấn đề phụ nữ

Về vấn đề chủ nghĩa cá nhân (Individualisme) của tư tưởng phương

Tây, Phan Khôi đề cập từ cuối những năm 1920 đầu những năm 193020 Ông nhấn mạnh rằng phải phổ cập nội dung chủ nghĩa cá nhân vào đơn vị con người trong xã hội ta Đó là điều kiện tiên quyết cho một xã hội hiện đại: chú trọng quyền con người Có thể xem đây là động thái đáng kể của Phan Khôi trong khung cảnh cái tôi cá nhân hầu như bị ức chế trong đời sống xã

hội Á Đông Thực chất, đề xuất vấn đề nữ quyền của Phan Khôi cũng là một

nội dung cụ thể của sự vận động phổ biến chủ nghĩa cá nhân

Như vậy, từ việc Phan Khôi đề cập và giải quyết vấn đề chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng Tây phương và Đông phương đến việc đánh giá lại Nho giáo

đều có mối liên hệ với vấn đề phụ nữ Tất cả đều nằm trong chủ trương duy

tân, hiện đại hóa của một học giả, nhà báo, nhà văn thức thời Đây cũng chính là những tư tưởng có giá trị làm tiền đề cho nền văn học mới, khai mở

tinh thần cho TLVĐ và Thơ mới

1.3.2 Hoạt động báo chí

20

Năm 1928, trong bài “Tư tưởng của Tây phương và Đông phương” [ĐPTB, 27/9/1928;

2/10/1928], Phan Khôi đã làm rõ sự khác biệt căn bản giữa tính chất “thống thuộc”, gò trong nghĩa vụ ở con người phương Đông và tính tự chủ của con người cá nhân phương Tây Chủ nghĩa

cá nhân trong lí giải của Phan Khôi chính là một quan niệm trong các xã hội phương Tây về quyền, lợi ích và tính chất (tự chủ, tự do, bình đẳng) của con người trong tổ chức cộng đồng đó

Tiếp đó, trong bài báo“Cá nhơn chủ nghĩa” [Trung lập, 28/11/1931], Phan Khôi trực tiếp nói rõ

hơn đến từ chủ nghĩa cá nhân và sự liên hệ của nó với tư tưởng dân chủ ở con người và xã hội

Việt Nam đương thời Theo Phan Khôi, chủ nghĩa cá nhân là khi mỗi người tự độc lập về tinh

thần (tự suy nghĩ, phán đoán, chủ động) và vật chất (tự nuôi sống mình)

Trang 37

Phan Khôi “xông” vào báo chí một cách rất tự nhiên Năm 1907, hưởng ứng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, ông ra Bắc học tiếng Pháp,

viết bài cho tờ Đăng cổ tùng báo (cơ quan ngôn luận cổ động tư tưởng cải

cách của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục) Khi trường Đông Kinh Nghĩa Thục

và tờ Đăng Cổ tùng báo bị cấm, ông về Nam Định học chữ Pháp với

Nguyễn Bá Học rồi sau đó về quê do bị mật thám Pháp theo dõi

Ông chính thức bước vào nghề báo vào năm 1918, khi được giới thiệu

làm cho NPTC tại Hà Nội Thời gian này, ông chuyên tâm nghiên cứu về

khoa lí luận học và đã bộc lộ là một trong những nhà báo đầu tiên có lối viết gãy gọn, trình bày tư tưởng dễ hiểu, dễ thuyết phục độc giả Trong giai đoạn

Phan Khôi cộng tác với NPTC, văn học Trung Quốc nổi lên những cuộc vận

động đổi mới Một lối văn gần với quốc dân - văn bạch thoại - được cổ vũ và văn ngôn có tính bác học bị kiêng dè hơn Không khí đó ít nhiều ảnh hưởng đến văn giới nước ta và Phan Khôi là người đón nhận tinh thần ấy đầy say

mê Ông tìm hiểu về Hồ Thích, Lỗ Tấn Hơn một năm sau, do những bất đồng ý kiến với chủ bút Phạm Quỳnh, Phan Khôi đã bỏ vào Nam làm cho tờ

Lục tỉnh tân văn Ông tiếp xúc nhiều với sách báo Trung Quốc Lục tỉnh tân văn là một tờ báo ra đời sớm, theo khuynh hướng cấp tiến gây chú ý ở Nam

Kỳ Báo ra đời trong phong trào vận động Minh tân ở Nam Kỳ (số đầu ra ngày 14/11/1907), chủ bút là Trần Chánh Chiếu Phan Khôi đã làm việc ở

đây một thời gian, vì bài báo Giải đại ý bài diễn thuyết của quan toàn quyền

Sarraut về cuộc Đông Dương tự trị, ông bị cho nghỉ việc Năm 1920, ông trở

ra Hà Nội viết cho Thực nghiệp dân báo Năm 1921, tạp chí Hữu Thanh ra

mắt do Nguyễn Khắc Hiếu làm chủ bút đã mời Phan Khôi tham gia Tuy nhiên, do báo chí miền Bắc hạn chế việc bộc lộ những quan điểm có tính cách tân của Phan Khôi, ông lại trở vào Nam Vì lí do chính trị, Phan Khôi không ở Sài Gòn mà xuống Cà Mau ẩn náu ở đồn điền của một người bạn,

Trang 38

đọc sách, viết bài, cộng tác với các báo và rèn luyện tiếng Pháp, thông qua thư từ qua lại với Djean de la Bâtie, một nhà báo tự do ở Sài Gòn Khi Diệp

Văn Kì, Nguyễn Văn Bá tiến hành những thay đổi mạnh mẽ trên tờ ĐPTB

mà họ vừa tiếp quản, đầu năm 1928 Phan Khôi được mời làm cộng tác viên đặc biệt bên cạnh bộ biên tập gồm những kẻ sĩ đất Bắc như: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Ngô Tất Tố Đây là dấu mốc ghi nhận thời kì thứ hai Phan Khôi góp mặt với báo chương Sài Gòn, kéo dài đến năm 1933, gắn với các tờ

ĐPTB (1928), Thần chung (1929-1930), PNTV (1929-1933), Trung lập

(1930-1933), và cũng chính là thời kỳ “làm nên thương hiệu Phan Khôi”

Ông đồng thời gửi bài cộng tác với Đông Tây ở Hà Nội (1930-1932) Đặc biệt, từ 1929, Phan Khôi trở thành cây bút trụ cột trong tờ tuần báo PNTV -

một gương mặt đặc biệt trong dòng báo chí công khai Phan Khôi là một cây bút sung sức trên tuần báo này với hàng trăm bài báo trong 5 năm, từ 1929-

1933, (và một thời gian rất ngắn cuối năm 1934) Ông viết trên nhiều mục:

xã thuyết, nghiên cứu, khảo luận, lí luận phê bình văn học, sáng tác, tranh

luận, và đề tài nổi bật là về giới nữ Qua PNTV, Phan Khôi đã ghi dấu một

giai đoạn cầm bút “thăng hoa” của mình Ngoài chuyện bài vở đăng báo, Phan Khôi cũng tham gia chấm thi để trao "học bổng phụ nữ" cho học sinh

đi du học tại Pháp do PNTV tổ chức Đó cũng có thể xem là hoạt động xã hội

nổi bật ở một tác gia chủ yếu tác động đến xã hội bằng ngôn luận như Phan Khôi Tháng 4 năm 1933, Phan Khôi lại trở ra Hà Nội, hợp tác với “cố

nhân” là Thực nghiệp dân báo trong khoảng thời gian ngắn (đến tháng

8/1933) Từ 17/9/1933 đến 11/2/1934, Phan Khôi nhận lời ông bà Nguyễn

Văn Đa, làm chủ bút của PNTĐ Ông đã biến đổi PNTĐ từ khuynh hướng

bảo thủ chuyển sang cấp tiến, nhất là trên vấn đề giới nữ Đầu năm 1935,

Phan Khôi vào Huế, làm chủ bút nhật báo Tràng An Hoạt động cho đến 7/1/1936, với bài báo Nên bài xích lối văn không thành thực đụng chạm đến

Trang 39

việc nội cung triều đình Nguyễn, ông buộc phải rời vị trí chủ bút Đầu tháng

8 năm 1936, ông cho ra mắt tuần báo Sông Hương, tờ báo duy nhất trong đời

mình ông là người sáng lập, là chủ nhiệm kiêm chủ bút Ông tạm ngừng sau

số ra ngày 27/3/1937 và bán lại tờ báo cho nhóm cộng sản Phan Đăng Lưu

Ngoài những tờ báo chính trong hoạt động báo chí của Phan Khôi giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám trên đây, ông còn góp bài trên một số báo

như: Hà Nội báo (1936-1937), Đông Dương tạp chí (1937-1938), Dư luận (1938), Thời vụ (1938), Tao đàn (1939), Phổ thông bán nguyệt san (1939) Cuốn tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra được in trên Phổ thông bán nguyệt san (s41,

16/8/1939) của nhà xuất bản Tân dân

Qua trước tác của Phan Khôi, người ta thấy rõ nét chân dung một tác gia nhập cuộc say sưa, một Phan Khôi uyên bác, thẳng thắn, lập luận gai góc, phản biện xã hội bằng trí tuệ sắc bén và tư duy cấp tiến, kiên quyết bài trừ Hán học, cổ xúy cho tân học, trong đó có vấn đề phụ nữ Đó là “hình ảnh

kỳ lạ nhất, cô độc nhất, bản lĩnh nhất của lịch sử báo chí Việt Nam hiện đại Ngay trong cái cõi nhân sinh ta bà bụi bặm, ông đã chọn thái độ sống như một cây thông Ông đứng sừng sững, không bè phái, băng nhóm dù đơn độc nhưng lại dám “gây sự” từ Nam chí Bắc trên trường văn trận bút” [38,19]

Tiểu kết

Trong xã hội Việt Nam, dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đậm chất nam quyền, phụ nữ phải chịu nhiều áp chế, bị khinh miệt và tước mất quyền lợi Điều đó cũ ng được thể hiện trong các diễn ngôn truyền thống Đầu thế kỷ XX, chương trình khai thác thuộc địa của Pháp đã gây những biến chuyển lớn cho xã hội Việt Nam Sự biến chuyển đó đã tác động đến cuộc sống của phụ nữ trên mọi phương diện Từ chỗ chỉ quanh quẩn với trong phạm vi gia đình, nhiều phụ nữ đã vươn tới hòa nhập với xã hội, chứng

Trang 40

minh khả năng của mình với nam giới Với sự thay đổi và phát triển ý thức

về giới, họ đã có thể bước đầu kề vai sát cánh cùng người nam để hít thở chung không khí của thời đại Tình hình trong nước và những ảnh hưởng của phong trào nữ quyền và giải phóng phụ nữ trên thế giới đã hình thành nên vấn đề phụ nữ Cũng lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, báo chí xuất hiện

và với sự xuất hiện của báo chí, hết những vấn đề của phụ nữ được các học giả đề cập: vai trò và vị trí của phụ nữ, bình quyền nam nữ, phụ nữ giáo dục, phụ nữ chức nghiệp, phụ nữ với chính trị… Xuất hiện trên báo chí thời kỳ này, một số tác phẩm văn học với đề tài về phụ nữ trong cuộc sống, tình yêu, hôn nhân cũng cho thấy cái nhìn nhân bản và những quan niệm tiến bộ về

nữ quyền, giải phóng phụ nữ

Vốn là một đại diện cho lớp nhà nho cuối cùng, nhưng trước những yêu cầu của lịch sử, Phan Khôi đã chủ động tiếp thu Tây học, hưởng ứng con đường cải cách văn hóa, thực thi dân chủ Phan Khôi hăng hái nhập cuộc, nắm bắt những vấn đề mới “trên bước đường tấn hóa”, đặc biệt là vấn đề phụ nữ Hai chương tiếp theo đây sẽ là sự khảo sát cụ thể trước tác báo chí

và văn chương của Phan Khôi để hiểu hơn mức độ quan tâm và đóng góp của ông với vấn đề phụ nữ

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
2. Nguyễn Kim Anh (nc,st,gt) (2004), Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Kim Anh (nc,st,gt)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
3. Phùng Thị Kim Anh (2004), “Các quan niệm nửa đầu thế kỷ XX về việc phụ nữ tham gia lao động xã hội”, TC Khoa học về phụ nữ, (6), tr 25 4. Lại Nguyên Ân (2008), “Phan Khôi và chủ nghĩa cá nhân”, NCVH, (12),tr22 - tr28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quan niệm nửa đầu thế kỷ XX về việc phụ nữ tham gia lao động xã hội”, "TC Khoa học về phụ nữ", (6), tr 25 4. Lại Nguyên Ân (2008), “Phan Khôi và chủ nghĩa cá nhân”, "NCVH
Tác giả: Phùng Thị Kim Anh (2004), “Các quan niệm nửa đầu thế kỷ XX về việc phụ nữ tham gia lao động xã hội”, TC Khoa học về phụ nữ, (6), tr 25 4. Lại Nguyên Ân
Năm: 2008
5. Phan Cự Đệ (1990), Tự lực văn đoàn con người và văn chương, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự lực văn đoàn con người và văn chương
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1990
6. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (2003), Văn học Việt Nam 1900 - 1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
7. Vu Gia (2003), Phan Khôi – Tiếng Việt, báo chí và thơ mới, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Khôi – Tiếng Việt, báo chí và thơ mới
Tác giả: Vu Gia
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
8. Trần Văn Giàu (2000), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
9. Bằng Giang (1974), Mảnh vụn văn học sử, Nxb Chân Lưu, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mảnh vụn văn học sử
Tác giả: Bằng Giang
Nhà XB: Nxb Chân Lưu
Năm: 1974
10. Lê Thanh Hiền, Nguyễn Khoa Điềm (st, bs) (2010), Tuyển tập Đạm Phương nữ sử, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Đạm Phương nữ sử
Tác giả: Lê Thanh Hiền, Nguyễn Khoa Điềm (st, bs)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2010
11. Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng (1996), Văn học Việt Nam 1900-1930, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900-1930
Tác giả: Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
12. Mai Quỳnh Hoa (1983), “Đôi nét về bà Sương Nguyệt Anh, chủ bút tờ tuần báo Nữ giới chung”, TCVH, (3), tr10 - tr15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về bà Sương Nguyệt Anh, chủ bút tờ tuần báo Nữ giới chung”, "TCVH
Tác giả: Mai Quỳnh Hoa
Năm: 1983
13. Nguyễn Anh Hùng (1997), “Những nhà báo và những tờ báo quốc ngữ đầu tiên”, Tạp chí xưa nay, (369), tr12 - tr16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhà báo và những tờ báo quốc ngữ đầu tiên”, "Tạp chí xưa nay
Tác giả: Nguyễn Anh Hùng
Năm: 1997
16. Phan Thị Mỹ Khanh (2001), Nhớ cha tôi – Phan Khôi (hồi ký), Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhớ cha tôi – Phan Khôi
Tác giả: Phan Thị Mỹ Khanh
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2001
17. Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn) (2003), Nxb Đà Nẵng, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928
Tác giả: Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2003
18. Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1929 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn) (2005), Nxb Đà Nẵng, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1929
Tác giả: Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1929 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
19. Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1930 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn) (2006), Nxb Đà Nẵng, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1930
Tác giả: Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1930 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2006
20. Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1931 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn) (2007), Nxb Đà Nẵng, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1931
Tác giả: Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1931 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2007
21. Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1932 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn) (2010), Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1932
Tác giả: Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1932 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2010
22. Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn) (2007), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn
Tác giả: Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2007
23. Phan Khôi (1939), Trở vỏ lửa ra, Phổ thông bán nguyệt san, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở vỏ lửa ra
Tác giả: Phan Khôi
Năm: 1939

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w