Ông đã nói lên sự bất công của xã hội phong kiến đối với các chị em, bạn gái "… - Trong cuốn "Diện mạo thơ Đờng" của Giáo s Lê Đức Niệm - Nxb Văn hóa thông tin - 1995, tác giả nhận xét:
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi còn nhận đợc sự giúp đỡ tận tình chu đáo của thầy giáo Nguyễn Văn Tri cũng nh các thầy cô trong tổ văn học nớc ngoài, khoa Ngữ văn, sự góp ý chân thành của bạn bè và những lời động viên quý báu của gia đình, ngời thân Nhân dịp này, cho phép tôi đợc gửi tới các thầy cô giáo và toàn thể mọi ngời lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất
Vinh, tháng 5 năm 2004.
Sinh viên: Hồ Thị Huế
Trang 2mở đầu
1 Lịch sử vấn đề
Khi chúng tôi chọn đề tài này, cha có một công trình nào nghiên cứu
về nó nh một vấn đề chuyên biệt Nhng nh thế không có nghĩa là vấn đề này cha đợc đề cập tới mà ít nhiều đã có những nhận định sơ lợc, khái quát
* Về tác giả Bạch C Dị:
- Trong cuốn Văn học Trung Quốc (Giáo trình - tập 1) - Trơng Chính
(Nguyễn Khắc Phi) - Nxb GD - 1987 - trang 226 có viết: "Bạch C Dị là nhà thơ rất quan tâm đến số phận của ngời phụ nữ, không những thế, ông còn
có cách nhìn, cách nghĩ khá mới mẻ".
- Trong lời giới thiệu cuốn "Thơ Đờng" (Tập 2) (Tuyển tập thơ) - Nxb
Văn học - H.1987, Giáo s Trơng Chính cũng đã đánh giá: "Bạch C Dị là nhà thơ đề cập tới vấn đề ngời phụ nữ một cách tơng đối toàn diện Ông đã nói lên sự bất công của xã hội phong kiến đối với các chị em, bạn gái "…
- Trong cuốn "Diện mạo thơ Đờng" của Giáo s Lê Đức Niệm - Nxb
Văn hóa thông tin - 1995, tác giả nhận xét: "Có lẽ Bạch C Dị là ngời đầu tiên dùng thơ ca lớn tiếng nêu lên vấn đề ngời phụ nữ trong nhiều bài thơ với một tinh thần nhân đạo cao quý".
Ngoài những nhận xét, đánh giá khái quát của các công trình nghiên cứu, còn có những nhận định, đánh giá tác phẩm cụ thể, chẳng hạn: Trờng hận ca, Tỳ bà hành…
* Về tác giả Nguyễn Du:
- Trong báo Văn nghệ tháng 11/1965, tác giả Bùi Xuân Quý đã viết:
"Ngời ta thờng nói tới thái độ của Nguyễn Du đối với ngời phụ nữ, nhất là
đối với ngời ca kỹ - những hạng ngời bị khinh rẻ nhất trong xã hội cũ
Trang 3Không bao giờ Nguyễn Du nhìn thấy những ngời phụ nữ nh những thứ đồ chơi mà luôn luôn có thái độ trân trọng, đồng tình, đồng điệu với họ".
Những bài: Long thành cầm giả ca, Điếu La Thành ca giả, Độc Tiểu Thanh ký… là những bằng chứng rõ rệt và đó chính là chỗ vĩ đại của Nguyễn
Du
- Trong lời nói đầu cuốn "Nguyễn Du toàn tập" - Nxb Văn học -
1996, tác giả Mai Quốc Liên viết: ""Long Thành cầm giả ca" là một bài thơ tiêu biểu cho một loạt bài về số phận bi kịch của ngời phụ nữ Nó đợc viết trên một câu chuyện có thực, theo truyền thống "Tỳ bà hành" của Bạch C
Trên kia, chúng tôi vừa mới điểm qua một số nhận định khái quát của các tác giả khi nghiên cứu thơ ca viết về ngời phụ nữ của hai tác giả Mặc dù vậy, việc nghiên cứu vấn đề ngời phụ nữ trong thơ ca hai ngời trên cái nhìn so sánh một cách tổng thể thì cha ai làm
Nhìn chung, những nhận định khái quát của các nhà nghiên cứu cha đi sâu so sánh vấn đề ngời phụ nữ một cách chuyên biệt Nhng đây là những ý kiến tạo tiền đề cho chúng tôi đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu sâu rộng hơn vấn
đề ngời phụ nữ trong thơ Bạch C Dị và thơ chữ Hán Nguyễn Du qua cái nhìn
so sánh một cách toàn diện, trực tiếp và có hệ thống
2 Lí do chọn đề tài
Trang 4Bạch C Dị và Nguyễn Du là hai nhà thơ lớn của hai đất nớc Trung Quốc và Việt Nam Thơ ca của họ có tác động sâu sắc tới tâm hồn, tình cảm cũng nh nhận thức của độc giả trong nớc và trên thế giới.
Bạch C Dị (772 - 846) là nhà thơ hiện thực lớn của Trung Quốc đời ờng
Đ-Nguyễn Du (1765 - 1820) là đại thi hào của dân tộc Việt Nam
Cả hai nhà thơ đều là những "cây đại thụ" của nền thơ ca mỗi nớc
Thơ ca của họ chứa đựng giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo to lớn Một trong những nội dung sáng tác góp phần tạo nên vị trí xứng đáng cho hai ông là thơ
ca viết về ngời phụ nữ ở những tác phẩm mang nội dung này, cả hai ông đều
đạt đợc những thành công nhất định Chẳng hạn khi nhắc tới Bạch C Dị, không ai lại không biết tiếng vang của "Tỳ bà hành"; nhắc tới Nguyễn Du,
ngời ta nghĩ ngay tới "Truyện Kiều", tới "Độc Tiểu Thanh ký".
Chọn đề tài này, trớc hết chúng tôi bày tỏ sự yêu mến và ham thích thơ
ca của hai ông, từ đó mà tạo nguồn động lực thôi thúc việc tìm hiểu điểm tiến
bộ trong nhân sinh quan, thế giới quan về ngời phụ nữ trong thơ ca hai ông
Đồng thời thấy đợc chủ nghĩa nhân đạo là mạch ngầm thâu suốt nội dung t ởng trong thơ ca viết về ngời phụ nữ của hai ông
t-Hơn thế, chọn đề tài này, chúng tôi cũng muốn góp phần vào việc nhận diện sắc thái giống và khác, nguyên nhân của sự giống nhau và khác nhau đó trong thơ ca của Bạch C Dị và thơ chữ Hán Nguyễn Du khi đề cập tới vấn đề ngời phụ nữ Đồng thời, khẳng định một cách sơ lợc sự ảnh hởng của thơ Đờng tới văn học trung đại Việt Nam và tới Nguyễn Du
Mặt khác, chúng tôi cũng nhận thấy rằng: trong những năm gần đây, những tác phẩm viết về ngời phụ nữ đợc đa vào giảng dạy trong chơng trình văn học phổ thông ngày càng nhiều Đặc biệt đối với hai tác giả, cũng đã có một số tác phẩm nh: "Tỳ bà hành" của Bạch C Dị, "Độc Tiểu Thanh ký",
"Long thành cầm giả ca" của Nguyễn Du.
Trang 5Điều đó cũng đã chứng tỏ phần nào giá trị t tởng và giá trị nghệ thuật những sáng tác viết về ngời phụ nữ của hai ông Chọn đề tài này, chúng tôi cũng muốn vừa đi sâu tìm hiểu từng tác phẩm cụ thể, vừa muốn có một cái nhìn tổng diện, khái quát trong thơ viết về ngời phụ nữ của họ để giúp cho việc ứng dụng giảng dạy sau này.
Cuối cùng, chọn đề tài cha đợc ai quan tâm nh một vấn đề chuyên biệt này ngoài việc giúp cho bản thân có sự tích lũy vốn liếng kiến thức, chúng tôi cũng đợc nhận thức sâu hơn một số vấn đề lý luận nh: giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, loại văn học, thể loại văn học, một số vấn đề về lý thuyết, văn học
so sánh
3 Giới thuyết vấn đề
Đề tài đã xác định rõ "Vấn đề ngời phụ nữ trong một số bài thơ của
Bạch C Dị và thơ chữ Hán Nguyễn Du"
Nh vậy, trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập tới một số bài thơ có nội dung viết về ngời phụ nữ của hai tác giả ở Nguyễn Du, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát, nghiên cứu trong mảng thơ chữ Hán
Có một thực tế đối với việc thu thập, gom nhặt tài liệu của chúng tôi,
đó là: thơ viết về ngời phụ nữ của Bạch C Dị không đợc bố trí, sắp đặt tập trung trong một t liệu cụ thể mà lại nằm rải rác trong nhiều tuyển tập khác nhau, hơn thế, dù sáng tác khá nhiều thơ về ngời phụ nữ nhng việc dịch ra tiếng Việt vẫn cha hết, chỉ hạn chế trong một số bài
Mặc dù vậy, trong khuôn khổ giới hạn của luận văn này cùng với kết quả tra khảo tìm kiếm chúng tôi thu thập thống kê đợc một số lợng thơ viết
về ngời phụ nữ nh sau:
- Bạch C Dị: 11 bài
- Nguyễn Du: 8 bài
Trang 6Dĩ nhiên, thơ viết về ngời phụ nữ của Bạch C Dị không dừng lại ở con
số đó, vẫn còn một số tác phẩm cha đợc dịch ra tiếng Việt, hiện còn nằm trong "Bạch thị trờng khánh tập".
Chúng tôi tiến hành thống kê khảo sát trong các tài liệu:
1 Thơ Đờng (2 tập), Nxb Văn học, H.1987
2 Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Lê Thớc, Trơng Chính)NXB Văn học,
1978
3 Giáo trình văn học Trung Quốc - Đại học tổng hợp, 1958
* 11 bài thơ viết về ngời phụ nữ của Bạch C Dị cụ thể là:
1 Điếu La Thành ca giả.
Trang 78 Long Thành cầm giả ca.
Mặt khác, đi sâu tìm hiểu đề tài này, chúng tôi không giải quyết vấn đề
lý thuyết văn học so sánh mà chỉ vận dụng nó nh một yếu tố bổ trợ cho việc nghiên cứu làm sáng rõ điểm giống nhau và khác nhau của vấn đề ngời phụ nữ trong thơ Bạch C Dị và thơ chữ Hán Nguyễn Du
Trang 8nội dungChơng 1: những nét tơng đồng của vấn đề phụ nữ trong thơ Bạch C Dị và thơ chữ hán Nguyễn Du 1.1 Đối tợng và nội dung phản ánh
Viết về ngời phụ nữ là cảm hứng nhân văn tuôn chảy trong thi ca mọi thời đại, vì thế mà vấn đề ngời phụ nữ trở thành mảnh đất quen thuộc, màu
mỡ để các tác giả từ Đông sang Tây, từ Phục Hng tới Châu Âu thể hiện nhận thức, tài năng, t tởng, thái độ, tình cảm của mình trong những sáng tác viết về cuộc đời, số phận ngời phụ nữ
Từ thơ Đờng (618 - 907) tới văn học trung đại Việt Nam, nói hẹp hơn
là từ Bạch C Dị tới Nguyễn Du, mạch nguồn cảm xúc ngời phụ nữ bám rễ từ hiện thực xã hội, nảy nở thành những "hoa", những "quả" Đó chính là những tác phẩm cụ thể có giá trị
Cuộc đời, số phận, phẩm chất của ngời phụ nữ trong thơ Bạch C Dị và thơ chữ Hán Nguyễn Du trở thành đặc trng, thành điểm sáng thẩm mĩ trong sáng tác thơ ca của hai ông Góp phần làm nên đóng góp to lớn của hai ông
đối với thơ ca mỗi nớc trên thế giới Viết về ngời phụ nữ, Bạch C Dị và Nguyễn Du cùng đề cập tới nỗi khổ của họ: Khổ vì áp bức bóc lột giai cấp,
Trang 9khổ vì chế độ nam quyền, khổ vì những quy định bất công, bất hợp lí trong tình yêu và hôn nhân, có tài sắc thì bị ruồng rẫy, vùi dập…
Bạch C Dị đã khái quát:
"Nhân sinh mạc tác phụ nhân thân Bách niên khổ lạc do tha nhân"
(Ngời ta sinh ra chớ nên làm con gái Trăm năm sớng khổ do ngời khác quyết định).
Trong "Văn chiêu hồn", một thi phẩm viết bằng chữ Nôm nổi tiếng
của Nguyễn Du, cũng có sự khái quát tơng tự:
"Đau đớn thay phận đàn bà Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu".
Ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến là nạn nhân, ngời gánh chịu nặng
nề nhất từ biến động xã hội tới những quy định, luật lệ phi lí, tàn khốc Nỗi khổ của những ngời phụ nữ ấy là hiện thực đi vào trong thơ Bạch C Dị và thơ chữ Hán Nguyễn Du, trở thành điểm chung của lòng nhân đạo và giá trị tố cáo sâu sắc
Trong thơ Bạch C Dị và thơ chữ Hán Nguyễn Du, đối tợng ngời phụ nữ
đợc cả hai tác giả đề cập tới là đối tợng phụ nữ lao động nghèo; đối tợng phụ nữ là cung phi; đối tợng phụ nữ là ca nhi kĩ nữ
1.1.1 Hình tợng phụ nữ lao động nghèo
Họ là ngời chịu ảnh hởng trực tiếp chế độ bóc lột tô thuế, ruộng đất cộng với thiên tai, mất mùa đẩy họ vào hoàn cảnh túng quẫn, khổ sở
Bạch C Dị nói tới bà mẹ vừa địu con trên lng, vừa lầm lũi cặm cụi mót những hạt lúa còn sót lại trên đồng trong cái nắng nh thiêu nh đốt và trong khung cảnh lao động vất vả của những ngời nông dân Đó là hình ảnh bà mẹ trong bài "Quan nghệ mạch":
"Phục hữu bần phu nhân Bão tử tại kì bàng
Trang 10Hữu thủ bỉnh di tuệ Tả tý huyền tuệ khuông".
(Lại có một bà nghèo
Bế con đứng bên cạnh Tay phải cầm những bông lúa mót đợc Cánh tay trái đeo cái giỏ rách).
Trong khung cảnh lao động cực nhọc, thấm tháp mồ hôi, tác giả đa vào hình ảnh bà mẹ nghèo địu con đi mót lúa khiến chúng ta liên tởng thấy dấu vết chung trong “Sở kiến hành” của Nguyễn Du và hình ảnh bà mẹ ăn xin:
“Hữu phụ huề tam nhi Tơng tơng tọa đạo bàng Tiểu dạ tại hoài trung
Đại giả trì trúc khuông”
(Một mẹ cùng ba con Lân la bên vệ đờng
Đứa bé ôm trong lòng
Đứa lớn tay mang giỏ).
[15 – 449]
Trang 11Sự xuất hiện trên đờng cảnh “Một mẹ cùng ba con” dật dờ, xiêu vẹo,
Y quần hà khuông nhơng ”
(Trong giỏ đựng những gì
Mớ rau lẫn tấm cám Nửa ngày bụng vẫn không Quần áo vẻ co dúm).
[15 – 449]
Ngời phụ nữ trong bài thơ chịu hậu quả trực tiếp của mất mùa, đói kém, có nguyên nhân từ sự bóc lột thậm tệ của bọn quan lại Gần cuối bài thơ, tác giả đã vẽ lại cảnh tiệc tùng, ăn uống xa xỉ của bọn quan lại Đó là sự
đối lập, tơng phản gay gắt và thảm khốc:
“Lộc câu tạp ng xú Mãn trác trần t dơng Trởng quân bất hạ tự Tiểu môn chỉ lợc thờng ”
(Vây cá hầm gân hơu Lợn dê mâm đầy ngút Quan lớn không gắp qua Các thầy chỉ nếm chút).
[15 – 499]
Trang 12Dẫn ra sự đối lập đến tàn nhẫn này, giọng thơ trở nên gay gắt, thể hiện
sự bất bình cao độ:
“Bát khí vô cổ tích Lân cẩu yếm cao lơng Bất t quan đạo thợng Hữu thử cùng nhi nơng ”
(Thức ăn thừa đổ đi Quanh xóm no đàn chó Biết đâu trên đờng quan
Có mẹ con khổ).
[15 – 449]
Trong “Quan nghệ mạch”, Bạch C Dị đã có sự liên hệ của bản thân dựa trên hoàn cảnh của bà mẹ trong bài thơ Thực chất, đó là sự phản ánh thực tại và là sự day dứt, băn khoăn về số phận con ngời, đặc biệt là ngời phụ nữ
Dờng nh ông đã thấy rõ sự vô lý, đối xử tàn tệ của xã hội đối với ngời phụ nữ - Mặc dù họ cũng là lực lợng lao động quan trọng, quanh năm bơn bả, lam lũ, thế nhng những gì họ thu nhận đợc là con số 0, họ rơi vào thảm cảnh
đói khổ Tác giả nh cũng bất bình với thực trạng vô lý ấy:
“Kim ngã hà công đức Tằng bất sự nông trang Lại lộc tam bất thanh Tuế án hữu d lơng”
(Nay mình có công đức gì
Cha từng mó tay vào việc nông trang Thế mà lơng làm quan đến ba trăm thạch
Trang 13Hết năm ăn vẫn còn thừa ”
[13 - 336]
Nh vậy, cả Bạch C Dị và Nguyễn Du đều đã có sự đề cập và thể hiện sâu sắc tới đối tợng ngời phụ nữ lao động nghèo Nhng không dừng lại ở đấy, cả hai ông cũng đều đã có sự tiếp cận với hiện thực có liên quan đến đối tợng ngời phụ nữ khác Đó chính là đối tợng ngời cung phi
1.1.2 Hình tợng cung phi
Viết về đối tợng phụ nữ này, Bạch C Dị có “Tr ờng hận ca ,” Nguyễn
Du của chúng ta thì viết “D ơng phi cố lý ” Tất nhiên cùng nói tới một đối ợng có thật trong lịch sử Trung Quốc là Dơng Quý Phi, nhng “D ơng phi cố lý” lại là cảm thức chủ quan của Nguyễn Du đối với hiện thực lịch sử Trung
t-Quốc – hiện thực có liên quan tới nhân vật Dơng Quý Phi
Chế độ xã hội phong kiến tập trung quyền lực cao nhất vào tay một
ng-ời Đó chính là ông Hoàng (ông vua) Dới ngời ấy có hàng loạt cung tần, mĩ nữ Những ngời phụ nữ đợc tuyển vào cung giống nh “cá chậu chim lồng”, suốt đời bị trói buộc trong cung cấm “ch a chết thì thân chẳng đợc ra ”
Cả “Tr ờng hận ca” và D“ ơng phi cố lý” đều là cái nhìn mới mẻ, nhân
đạo, rộng lợng của Bạch C Dị và Nguyễn Du đối với ngời đàn bà (Dơng Quý Phi) từng bị lịch sử lên án Cả hai tác giả đều đã nhìn thấy phần “đáng thơng” hơn “đáng tội” của ngời phụ nữ này: cái chết của Dơng Quý Phi đợc Nguyễn
Du diễn tả trong mối thơng cảm ngầm chứa sâu kín dới lớp vỏ ngôn từ:
“Lang tạ đàn hồng vô mịch xứ Đông phong thành hạ bất thăng bình”
(Không tìm thấy đâu những cánh hoa hồng tàn rơi bừa bãi Dới thành gió thổi tình khôn xiết).
Bạch C Dị viết:
“Uyển chuyển nga mi mã tiền tử Hoa điền ủy địa vô nhân thu
Trang 14Thúy Kiều kim trớc ngọc tao đầu”
(Gái mày ngài phải quằn quại chết trớc đầu ngựa Bông hoa vàng, cành thúy liễu, hình kim tớc và trâm ngọc cài đầu, rơi rắc trên mặt đất chẳng còn ai nhặt).
[13 – 153]
Trong hai tác phẩm thơ này, Bạch C Dị và Nguyễn Du đã nhìn thấy nhân vật Dơng Quý Phi không phải là “tội nhân” mà là nạn nhân của lịch sử Cái chết của Dơng Quý Phi nh là một nỗi oan lớn, nh dấu chấm than về cuộc
đời của một trang tuyệt sắc, là dấu chấm hỏi chĩa thẳng vào xã hội:
“Tự thị cử triều không lập trợng Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành”
(Trách kẻ đầy triều đồ đứng phỗng Oan ai nghìn thuở thội khuynh thành).
[15 – 292]
Nh vậy, thông qua nhân vật Dơng Quý Phi, hai tác giả cũng đã phần nào thể hiện một cách sâu sắc thái độ, tình cảm của mình đối với số phận của ngời phụ nữ mà tác giả cho đó là ngời có “nỗi oan thiên cổ ”
Tuy nhiên, xét về đối tợng và nội dung phản ánh, đề cập tới hình tợng ngời phụ nữ là cung phi cha phải là tất thảy của cái chung đối với hai tác giả
mà sự gặp gỡ của hai ông còn thể hiện thông qua đối tợng ngời phụ nữ là ca nhi, kỹ nữ
1.1.3 Hình tợng ca nhi, kỹ nữ
Nguyễn Du đề cập tới đối tợng phụ nữ này trong nhiều bài thơ, nhng tiêu biểu là Long Thành cầm giả ca “ ” Bạch C Dị cũng có một “viên ngọc thơ” tuyệt tác là “Tỳ bà hành ” Bài thơ này đợc xem là đỉnh cao của thơ ca và
đỉnh cao trong loại thơ viết về ngời phụ nữ của tác giả
Hình tợng ngời phụ nữ trong bài thơ tiêu biểu cho rất nhiều những ngời phụ nữ có hoàn cảnh tơng tự
Trang 15Trong xã hội phong kiến, phụ nữ bị khinh rẻ, ca nhi, kỹ nữ bị coi nh là một thứ đồ chơi Khi đã tàn phai nhan sắc, họ bị vứt ra ngoài lề cuộc sống, chịu những va động xô đẩy của cuộc sống, sống trong cảnh cô đơn, lạnh lẽo.
Ngời phụ nữ trong “Tỳ bà hành” vừa có tài, vừa có sắc, vừa có tình Ngời nh thế đáng lẽ phải đợc hởng một cuộc sống hạnh phúc nhng xã hội phong kiến là xã hội “ghét tài, ghét đẹp, vùi dập công lý, chính nghĩa ” [4 – 123] Từ hiện thực tàn nhẫn, phi lý ấy, Bạch C Dị đã xây dựng thành công hình tợng ngời phụ nữ đánh đàn Cuộc đời tâm sự của nhân vật này dờng nh
đợc biểu thị qua tiếng đàn và rõ nhất, trực tiếp nhất qua lời tự thuật của nàng:
Xa kia vốn là ngời kẻ chợ, trú ở lân la, học đàn từ thuở 13, năm 18 tuổi đã nổi tiếng:
“Khúc bại thờng giáo thiện tài phục Trang thành mỗi bị thu nơng đố Ngũ lăng niên thiếu tranh triền đầu Nhất khúc hồng tiêu bất tri số ”
(Gã thiện tài sợ phen dừng khúc
ả thu nơng ghen lúc điểm tô
Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn).
[13 – 153]
Ngời phụ nữ ấy đã từng là ngời nổi tiếng, mua vui cho bao nhiêu khách nhng lại cô đơn, lạnh lẽo lúc về già Những ba động của cuộc đời xô
đẩy tới bớc giang hồ lu lạc:
“Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền Nhiễu thuyền minh nguyệt giang thủy hàn”
(Thuyền không đậu bến mặc ai Quanh thuyền trăng dãi nớc trôi lạnh lùng)
Trang 16[13 - 153]
Cuộc đời, số phận của ngời kỹ nữ trong bài thơ là thực tại đợc phản
ánh Hiện thực phản ánh cũng quan trọng, nhng quan trọng hơn là thái độ của tác giả đối với hiện thực ấy Bài thơ là những nét hiện thực sâu sắc về xã hội phong kiến trung Đờng Số phận ngời kỹ nữ trong bài thơ tiêu biểu cho lớp ca nhi, kỹ nữ bấy giờ Đồng thời tác phẩm cũng là sự thể hiện tâm t, tình cảm, thái độ của tác giả trớc cảnh ngộ đáng thơng của ngời kỹ nữ
Tác giả Nguyễn Du của chúng ta cũng có một thi phẩm có nội dung ý nghĩa tơng tự Đó là bài “Long Thành cầm giả ca ,” bài thơ vừa khái quát những biến động xã hội và những biến động trong cuộc đời cả một ngời phụ nữ tài hoa, vừa thể hiện sự suy ngẫm sâu sắc của tác giả trớc hiện thực xô đẩy ngời phụ nữ vào hoàn cảnh ấy Cách cấu tứ ở việc xây dựng hình tợng ngời phụ nữ đánh đàn của hai bài thơ “Tỳ bà hành” (Bạch C Dị) và “Long Thành cầm giả ca” (Nguyễn Du) là tơng tự nhau Có khác nhau chăng chỉ là ở thời
điểm gặp gỡ và hoàn cảnh cụ thể của nhân vật
Trong lời tựa, Nguyễn Du viết “Ng ời gảy đàn đất Long Thành ấy không rõ họ tên là gì nghe nói thuở nhỏ nàng học đàn Nguyễn trong đội nữ nhạc ở cung vua Lê, quân Tây Sơn kéo ra, các đội nữ nhạc kẻ chết, ngời bỏ
đi, nàng lu lạc ở các chợ, ôm đàn hát rong ”
Ngời phụ nữ ấy đã từng tài sắc lừng danh một thời nhng sau 20 năm gặp lại ngời con gái năm xa tác giả đã gặp nay đã biến đổi khác hẳn: Tàn phai nhan sắc, tàn tạ dáng hình, đau đớn ở chỗ tồn tại mà nh không tồn tại:
“Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa Nhan sắc thần khô hình lợc tiểu Lang tạ tàn mi bất sức trang Thùy tri, tựu thị, đơng thời thành trung đệ nhất diện ”
(Phía cuối chiếu một ngời tóc hoa râm Nét mặt võ vàng, thần sắc khô khan
Trang 17Môi mày phờ phạc không điểm tô
Ai biết đó là ngời kỳ diệu nhất bậc kinh thành lúc bấy giờ).
[15 – 231]
Hình tợng ngời phụ nữ trong bài thơ là sự khái quát từ rất nhiều ngời phụ nữ đáng thơng nh thế Nguyễn Du đã đứng cao hơn những ngời cùng thời
ở cái nhìn nhân đạo đối với ngời phụ nữ
Do đó, điểm gặp gỡ, tơng đồng của Bạch C Dị và Nguyễn Du cũng chính là điểm gặp gỡ của lòng nhân đạo thống thiết đối với cuộc đời, số phận của ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến
Nh vậy, ở đối tợng và nội dung phản ánh, hai tác giả đã có sự nhìn nhận và phản ánh chung về các đối tợng: Phụ nữ lao động nghèo, phụ nữ cung phi, ca nhi kỹ nữ Đề cập tới những đối tợng này, hai ông tuy ở hai thời
đại, hai đất nớc khác nhau, song cũng đã có cái nhìn, quan điểm tiến bộ thể hiện trong việc mô tả, bày tỏ tình cảm thái độ đối với cuộc đời, số phận của những ngời phụ nữ bị xã hội chà đạp, vùi dập một cách không thơng tiếc
Song điểm tơng đồng của hai tác giả khi đề cập tới vấn đề phụ nữ không dừng lại ở đó
1.2 Nghệ thuật biểu hiện
Vấn đề hình thức (nghệ thuât) thể hiện nội dung là vấn đề có liên quan tới tài năng, cá tính sáng tạo của nhà văn Trong một tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại hai phơng diện: nội dung và hình thức vì “nội dung và hình thức là một cặp phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ở những tác phẩm văn học chân chính, có giá trị thẩm mỹ cao, hình thức và nội dung có sự thống nhất hài hoà cao độ Mối liên hệ biện chứng đích thực giữa nội dung và hình thức vẫn là một mối tơng quan cơ bản nhất của tác phẩm văn học ” [12 – 249]
Trên kia, chúng tôi đã xét điểm tơng đồng về đối tợng và nội dung phản ánh trong thơ của hai tác giả Bên cạnh đó, xét về hình thức biểu hiện,
Trang 18thơ viết về ngời phụ nữ của hai ông cũng có những điểm tơng đồng Cũng phải thấy rằng, hình thức của tác phẩm văn học là một phạm trù rộng lớn và phổ quát, tuy nhiên điểm tơng đồng cụ thể và rõ nhất trong nghệ thuật biểu hiện của hai tác giả này khi đề cập tới vấn đề ngời phụ nữ là: Hình thức ngôn ngữ, thể thơ, phơng thức phản ánh.
1.2.1 Hình thức ngôn ngữ
Có một điều đã rõ rằng: cả hai ông đều viết bằng thứ chữ truyền thống của dân tộc Trung Quốc là chữ Hán Nguyễn Du đã sử dụng thứ chữ này nhuần nhuyễn không kém Bạch C Dị Văn hoá Trung Quốc nói chung, chữ Hán nói riêng ảnh hởng rất sâu đậm vào xã hội Việt Nam thời phong kiến nh-
ng đó là vấn đề mà chúng tôi sẽ trình bày ở chơng 3 Điều cần nói trớc hết ở
đây dó là: Nguyễn Du cùng với một số tác giả khác của Việt Nam đã tiếp thu nền văn học viết bằng chữ Hán của Trung Quốc với tinh thần mạnh dạn, đấu tranh chống lại nạn đồng hoá, dị biệt để xây dựng nền văn học dân tộc đậm
đà màu sắc truyền thống
1.2.2 Thể thơ
Nói tới thơ Đờng là nói tới loại thơ sáng tác đời Đờng Đó là loại thơ
có ngôn ngữ nhìn chung trong sáng tinh luyện Nhà thơ Nguyễn Du đã tiếp thu sáng tạo thể thơ này, thổi nên “phần hồn” cho những tứ thơ có giá trị hiện thực “rất Việt Nam”
Qua việc khảo sát, thống kê, chúng tôi nhận thấy rằng: Khi đề cập tới vấn đề phụ nữ trong thơ của mình, hai tác giả Bạch C Dị và Nguyễn Du đã sử dụng cả hai thể thơ: Thơ Cổ phong và thơ Đờng luật
Thơ Cổ phong (còn gọi là Cổ thể) là tên gọi thể loại thơ ra đời trớc, trong và sau đời Đờng, không chịu sự quy định nh thơ Đờng luật
Trang 19Đặc điểm nổi bật của thơ Cổ Phong là không chịu sự gò bó, trói buộc
về số chữ, niêm, vần, luật Thể thơ này rất có u thế trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống và giải bày tâm t tình cảm của con ngời
Thơ Đờng luật là thuật ngữ thi học Trung Quốc thể loại thơ cách luật
đợc định hình và hoàn thiện ở thời Đờng (cũng đựơc gọi là thơ cận thể để phân biệt với thơ cổ thể), có quy định, luật lệ nghiêm ngặt về câu chữ, vần, luật Bạch C Dị và Nguyễn Du đều đã sử dụng tối u hai hình thức thể loại này trong việc đề cập, phản ánh hiện thực
Nói cách khác, đề cập tới nhân vật phụ nữ trong thơ ca của mình, hai tác giả đã sử dụng nhuần nhụy hai thể thơ: Thơ Cổ Phong và thơ Đờng luật, chẳng hạn nh các bài “Hậu cung từ , Đại mãi tân nữ tặng ch” “ kỹ” của Bạch
C Dị là viết theo thể loại thơ Đờng luật (Thất ngôn tứ tuyệt) Các bài “Quan nghệ mạch , Lăng viên thiếp” “ ”…lại đợc viết theo thể thơ Cổ Phong
Đối với tác giả Nguyễn Du, những tác phẩm viết theo thể thơ Đờng luật “Tam liệt miếu , Vọng phu thạch” “ ”…Bên cạnh đó cũng có một số tácphẩm viết theo thể loại thơ Cổ Phong nh “Sở kiến hành , Long Thành cầm” “
giả ca ”
Nh vậy, xét về hình thức biểu hiện hai tác giả đã cùng có những điểm tơng đồng về việc sử dụng hình thức ngôn ngữ và hình thức thể loại Không những thế, hai ông còn gặp nhau trên cả bình diện phơng thức phản ánh
Trang 20Trữ tình là khái niệm chỉ loại văn học phản ánh hiện thực bằng
đạo rộng lớn nh Bạch C Dị, Nguyễn Du
Hai tác giả đã có sự đề cập, phản ánh chân thực sinh động những ý nghĩa, sắc thái phong phú, đa dạng của hiện thực có liên quan tới ngời phụ nữ Bạch C Dị và Nguyễn Du đều đã sử dụng hình thức tự sự trong thơ một cách linh hoạt Không chỉ phản ánh hiện thực hai ông còn trực tiếp bộc lộ, bày tỏ cảm xúc, có khi là của nhân vật, có khi là của chính bản thân
Phải nói rằng, sự kết hợp yếu tố tự sự, trữ tình cũng là điểm chung khá
rõ về nghệ thuật biểu hiện của hai tác giả khi họ đề cập tới vấn đề phụ nữ trong thơ ca của mình
Sự kết hợp yếu tố tự sự, trữ tình không những là đặc trng nghệ thuật trong thơ của hai tác giả mà còn là yếu tố dẫn tới thành công, góp phần khẳng định tài năng, vị trí của họ trong lịch sử văn học của mỗi nớc Nói tới
sự kết hợp đạt tới mức chuẩn mực, hai yếu tố tự sự, trữ tình, chúng ta không thể không nói đến các thi phẩm: "Trờng hận ca", "Tỳ bà hành" của Bạch C
Dị; "Long Thành cầm giả ca", "Độc Tiểu Thanh ký" của Nguyễn Du ờng hận ca" (viết năm 806) là tác phẩm viết về mối tình giữa Đờng Minh
"Tr-Hoàng và Dơng Quý Phi Đó là thiên tình sử đã đi vào truyền thuyết dân gian
và đợc truyền tụng rộng rãi Từ hiện thực có thật trong lịch sử, Bạch C Dị khái quát lại thành bi kịch tình yêu giữa Đờng Minh Hoàng và Dơng Quý Phi
- trong đó, tác giả đặc biệt thể hiện lòng cảm thơng sâu sắc đối với nhân vật Dơng Quý Phi
Trang 21Nhng trớc hết là hiện thực lịch sử gắn liền với nhân vật Tác giả kể lại thiên tình sử, đồng thời để cho nhân vật trực tiếp bày tỏ tình cảm của mình,
cụ thể trong bài thơ là tâm trạng nhớ nhung, thơng xót của Đờng Minh Hoàng với nàng Dơng Quý Phi:
“Quân thần tơng cố tận triêm y
Đông vọng đô môn tín mã quy Quy lai trì uyển giai y cựu Phù dung nh diện liễu nh mi ”
(Đầm vạt áo vua tôi giọt lệ Gióng dây cơng ngựa tế về đông Cảnh xa dơng liễu phù dung
Vị cơng, thái dịch hồ cung vện mời).
Nói theo thi pháp học hiện đại: lối kể chuyện (hình thức tự sự) trong bài thơ tuân theo một kết cấu nhất định, đó là kết cấu tuyến tính Diễn biến của thiên tình sử đẫm lệ ấy có thể khái quát thành các chặng: yêu chạy loạn chia biệt bằng cái chết của Dơng Quý Phi Đờng Minh Hoàng nhớ nhung, thơng xót Bên cạnh yếu tố tự sự có ý nghĩa dàn dựng bộ khung cho tác phẩm, tác giả còn kết hợp hòa quyện sắc thái trữ tình Đó chính là phần
“hồn” của tác phẩm Đan kết hai yếu tố này để ngời đọc vừa nhận biết một cách cụ thể sự việc (tri giác), vừa cảm xúc trực tiếp tới nhân vật (xúc giác)
Yếu tố trữ tình của bài thơ vừa là cảm xúc của nhân vật, vừa là thái độ tình cảm, cảm xúc của tác giả
Chẳng hạn, khi tác giả bày tỏ hoàn cảnh chia biệt của hai ngời và nỗi
đau trong cảnh chia biệt:
“Nhất biệt âm dung lỡng diểu mang Chiêu Dơng điện lý ân ái tuyệt Bồng lai cung trung nhật nguyệt trờng
Trang 22Hồi đầu hạ vọng nhân hoàn xứ Bất kiến Trờng An kiến trần vũ”
(Một lần từ biệt đôi ngả cách mặt khuất lời Tình ân ái ở điện Châu Dơng thế là đoạn tuyệt Ngày tháng trong cung bồng lai dài đằng đẵng Ngoảnh mặt nhìn xuống cõi đời
Không thấy Trờng An chỉ thấy bụi trần mù mịt)
[13 – 359]
Sự thơng cảm, đồng tình của tác giả là cảm hứng chung thâu suốt bài thơ: Từ những lời thơ đẹp đẽ ca ngợi mối tình chung thủy của họ tới cả những câu thơ nh khóc, nh than cho số phận bi thơng của nàng Dơng Quý Phi Đó là những yếu tố mang lại màu sắc trữ tình cho thiên “Tr ờng hận ca”
này Bên cạnh “Tr ờng hận ca , Tỳ bà hành” “ ” của Bạch C Dị cũng đợc xem là bài thơ hay nhất, đạt tới mức tinh luyện về nghệ thuật kết hợp tự sự và trữ tình
Yếu tố tự sự của “Tỳ bà hành” thể hiện trớc hết ở việc xây dựng hai câu chuyện Câu chuyện thứ nhất kể về cuộc gặp gỡ của tác giả và ngời kỹ nữ chơi đàn tỳ bà, câu chuyện thứ hai là câu chuyện về cuộc đời của ngời kỹ nữ
Thông qua hai câu chuyện đó, tác giả đã khéo léo kết hợp yếu tố: tâm
t, tình cảm của nhân vật và của chính mình Sự tinh tế tới mức tài tình của tác giả còn thể hiện ở việc thông qua hoàn cảnh, tâm sự của nhân vật mà bày tỏ tâm sự của mình, tạo thành một mối đồng cảm sâu xa thật đáng trân trọng
Sự kết hợp yếu tố tự sự, trữ tình còn thể hiện ở cách miêu tả ngoại cảnh gắn với nội tâm
Cảnh thiên nhiên: trăng, sông nớc mênh mông, trầm lắng đa con ngời vào thế giới kỳ ảo, cô quạnh, mênh mông:
- Phong diệp địch hoa thu sắt sắt“ ”
(Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu).
Trang 23- Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt“ ”
(Nớc mênh mông đợm vẻ gơng trong).
- Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn“
Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch”
(Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt Một vầng trăng trong vắt lòng sông)
- Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền“
Nhiễu thuyền minh nguyệt giang thủy hàn”
(Thuyền không đậu bến mặc ai Quanh thuyền trăng dãi nớc trôi lạnh lùng).
[4 – 359]
Tiếng đàn và tâm sự về cuộc đời của ngời kỹ nữ là mối đồng cảm sâu sắc đối với tác giả - chủ thể trữ tình của bài thơ Đó chính là sự “đồng thanh tơng ứng, đồng khí tơng cầu ”
Tác giả đã kết hợp một cách uyển chuyển, hài hòa hai yếu tố tự sự, trữ tình: kể để rồi bộc lộ tình cảm, miêu tả để rồi bày tỏ trực tiếp mối thơng tâm của mình đối với nhân vật những giọt nớc mắt cuối bài thơ chính là sự hội ngộ của những ngời “tri âm, tri kỷ”, những giọt nớc mắt từ một cuộc tri ngộ không hề có sự phân biệt kẻ thứ, trên, dới nh sự quy định, của xã hội phong kiến:
“Thê thê bất tự hớng tiền thanh Mãn tọa trùng văn giai yểm khấp Tọa trung khấp hạ thùy tối đa?
Giang Châu T mã thanh xan thấp ”
(Điệu đàn sầu ai không giống nh ban nãy nữa Những ngời nghe thấy đều bng mặt
Nớc mắt của ai trong đám đó nhiều nhất
Trang 24Ta T– mã Giang Châu vạt áo xanh ớt đẫm nớc mắt).
[4 – 153]
Trên kia, chúng tôi đã vừa làm sáng tỏ bút pháp kết hợp tự sự, trữ tình
đạt tới mức điêu luyện, hài hòa của tác giả Bạch C Dị
Để thấy đợc rằng: trong thơ chữ Hán viết về ngời phụ nữ, Nguyễn Du
là bậc thầy trong việc sử dụng, kết hợp nhuần nhuyễn, khéo léo và có hiệu quả hai yếu tố tự sự, trữ tình, chúng ta không thể không nhắc tới những tác phẩm “Long Thành cầm giả ca” và “Độc Tiểu Thanh ký” của ông Dĩ nhiên, bút pháp này không dừng lại ở số ít bài thơ nh vậy mà chúng tôi chỉ muốn đa
ra những minh chứng tiêu biểu nhất để có thể thấy rõ nhất điểm chung, sự
t-ơng đồng của hai tác giả về bút pháp kết hợp tự sự, trữ tình Đồng thời, khẳng
định tài năng, vị trí của cả hai tác giả một cách cụ thể hơn Tác phẩm “Long thành cầm giả ca” của Nguyễn Du có cấu tứ gần giống Tỳ bà hành “ ” của Bạch C Dị, tuy nhiên sự việc, hay nói cách khác, hiện thực phản ánh trong bài thơ này là hiện thực của Việt Nam
Yếu tố tự sự (câu chuyện về sự biến đổi của thời cuộc, của cuộc đời nhân vật cô Cầm) kết hợp yếu tố trữ tình (sự bày tỏ mối đồng cảm sâu sắc của tác giả đối với ngời phụ nữ đánh đàn sau 20 năm gặp lại)
Yêú tố tự sự của tác phẩm chính là câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa tác giả sau 20 năm với ngời đánh đàn tài danh một thời, xoay quanh trục gặp gỡ
ấy, hàng loạt sự kiện, vấn đề đợc kể ra: sự biến động của cuộc đời nhân vật gắn liền với sự sự biến động của thời cuộc Đọc bài thơ chúng ta bắt gặp những câu thơ giàu màu sắc tự sự:
“Long Thành giai nhân Ttính thị bất kỳ thanh
Độc thiện Nguyễn cầm
Cử thành chi nhân dĩ cầm danh”
(Đất Long Thành khách giai nhân nọ
Trang 25Không nhớ ra tên họ là gì.
Nguyễn cầm nổi tiếng đơng thì
Tên cầm mợn của đàn kia gọi ngời)
(Ngẫm trăm năm thì giờ chợp mắt
Lệ thơng tâm ớt vạt tà Nam về đầu bạc ngẫm ta Trách gì hơng phấn bông hoa chẳng tìm Trừng trừng đôi mắt mơ màng
Quen mà hóa lạ nghĩ càng thêm thơng).
[15 – 231]
Cuộc gặp gỡ, tri ngộ của tác giả và nhân vật ngời phụ nữ đánh đàn kia
và việc nhận ra tiếng đàn giống nh sự tri âm, tri kỷ, đồng cảm tơng giao giữa Bá Nha và Chung Tử Kỳ Nh vậy, cái “gốc tự sự” làm cho cái “ngọn trữ tình” của bài thơ vừa “vút cao”, vừa “thấm sâu”
Trang 26Qua “Độc Tiểu Thanh ký”, một lần nữa ta lại nhận diện thêm về tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du thông qua việc vừa sử dụng yếu tố tự sự, vừa khéo léo bộc lộ tâm sự, tình cảm của mình đối với nhân vật Sự biến thiên của tạo vật, sự đổi thay của số phận con ngời tựa nh vô hình ấy cứ tác động đến những cá nhân cụ thể, những kỳ quan cụ thể Trên cái nền của sự tàn phá khốc liệt này, nhà thơ dừng lại nhiều hơn ở nhân vật Tiểu Thanh:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành kh
Độc điếu song tàn nhất chỉ th”
(Hồ Tây cảnh đẹp hóa gò hoang Thổn thức bên trong mảnh giấy tàn)
[15 – 172]
Cuộc đời của nàng Tiểu Thanh là điển hình của hai nỗi oan lớn: hồng nhan bạc phận, tài mệnh tơng đố, cái chết của Tiểu Thanh là một khái quát xót xa cho nỗi đau thân phận ngời phụ nữ
“Son phấn hữu thần lân tử hận Văn chơng vô mệnh lụy phần d””
(Son phấn có thần chôn vẫn hận Văn chơng vô mệnh đốt còn vơng).
đời, thơng ngời sang thơng mình Từ nỗi đau của nhân vật nhân rộng lên