Những cải cách này, ở một góc độ nhất định, có tác dụng tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội, làm cho Thái Lan không bị rơi vào tình trạng trở thành thuộc địa như các nước láng
Trang 1Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 2Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 4Mở đầu
1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ba thập kỷ đầu thế kỷ XX là thời kỳ mang tính bản lề quan trọng trong toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam cận – hiện đại Bởi đây chính là thời kỳ quyết định chiều hướng phát triển của lịch sử Việt Nam trong những bước ngoặt tiếp theo, tạo ra tiền đề về tư tưởng, tổ chức và lực lượng cho sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở giai đoạn sau, mà sớm nhất là thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Cũng bởi vị trí quan trọng đó, thời kỳ những năm đầu thế kỷ XX (ba thập niên đầu) đã trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước
Tuy nhiên, trên lĩnh vực báo chí, cho đến thời điểm hiện tại (năm 2007), vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính tổng kết một cách đầy đủ, khách quan về ảnh hưởng của cuộc tiếp biến văn hóa Đông – Tây đầu thế kỷ
XX, khi thực dân Pháp đặt ách thống trị ở Việt Nam đến đời sống báo chí và qua lăng kính báo chí – một sản phẩm trực tiếp của cuộc xâm lăng và “khai hóa văn minh phương Tây”
Phan Khôi (1887-1959) là một trường hợp khó có thể không nhắc đến khi nghiên cứu văn hóa Việt Nam buổi đầu thế kỷ XX, bởi tầm vóc, vai trò to lớn của ông đối với nền văn hóa nước nhà trong buổi giao thời Đông – Tây
Thế nhưng, cho đến thời điểm này, chỉ có một số công trình lẻ tẻ, chưa toàn diện giới thiệu về tiểu sử học giả Phan Khôi cùng một số bài đăng báo của
ông thời kỳ những năm đầu thế kỷ XX, như Nhớ cha tôi của Phan Thị Mỹ Khanh, Nxb Đà Nẵng xuất bản năm 2001, Phan Khôi – Những tác phẩm đăng
báo năm 1928, 1929, 1930, 1931 của nhà sưu tập Lại Nguyên Ân, mà lại thiếu
vắng những công trình khảo cứu, đánh giá khách quan, khoa học những đóng
Trang 5góp của học giả này đối với nền học thuật, tư tưởng, văn hóa nước nhà qua hoạt động báo chí của ông
Tháng 8.2007, nhân 120 năm ngày sinh Phan Khôi, lần đầu tiên Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tạp chí Xưa & Nay đã tổ chức lễ kỷ niệm tại hội trường Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (25 Tông Đản, Hà Nội), với sự có mặt của một
số nhà nghiên cứu cùng con cháu dòng họ Phan Khôi Tuy nhiên, buổi gặp mặt này mới chỉ hé mở đôi chút câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp của Phan Khôi nhằm “giải oan” cho ông, chưa phải là một cuộc hội thảo khoa học được chuẩn
bị công phu, nghiêm túc, khách quan
Với mục đích làm sáng rõ một “khoảng mờ” trong lịch sử cận đại Việt Nam qua trường hợp cụ thể của một học giả từng một thời bị rơi vào quên lãng (thậm chí không được nhắc đến vì “nhạy cảm” chính trị), luận văn Thạc sĩ khoa
học “Tiếp biến văn hóa Đông – Tây đầu thế kỷ XX: Nhìn từ góc độ báo chí, qua
trường hợp Phan Khôi” là công trình nghiên cứu đầu tiên của khoa Lịch sử,
trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) về nhân vật Phan Khôi và những đóng góp cũng như hạn chế của ông trong cuộc tiếp biến văn hóa Đông – Tây đầu thế kỷ XX
Song, trong khuôn khổ, phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu, tiếp cận chân dung học giả Phan Khôi dưới góc độ báo chí, qua những tác phẩm của ông được đăng tải trên các báo tiếng Việt trước năm 1945 Sau năm 1945, Phan Khôi vẫn tiếp tục sự nghiệp báo chí cho đến khi ông mất – năm 1959 Tuy nhiên, chúng tôi không đi sâu nghiên cứu những hoạt động báo chí, văn học và chính trị của ông sau năm 1945, hoặc thời kỳ ông có liên quan đến Nhân Văn – Giai Phẩm, bởi đó là phạm vi của một đề tài khác
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cuộc tiếp biến văn hóa Đông – Tây đầu thế kỷ XX và hơn 4.000 tác phẩm đăng báo của học giả Phan Khôi thời kỳ
Trang 6từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, cùng những đóng góp, tác động, ảnh hưởng của ông đối với đời sống văn hóa – chính trị Việt Nam thời kỳ này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là: Tiếp cận cuộc tiếp biến văn hóa Đông – Tây đầu thế kỷ XX và ảnh hưởng của nó qua một trí thức Tây học điển hình – học giả Phan Khôi và những hoạt động báo chí của ông Từ
đó, luận văn bước đầu đánh giá những đóng góp cũng như hạn chế của nhân vật Phan Khôi và của cuộc tiếp biến văn hóa Đông – Tây đối với việc xây dựng nền văn hóa, học thuật, tư tưởng Việt Nam
Khi đặt vấn đề nghiên cứu hoạt động báo chí của Phan Khôi dưới ảnh hưởng của cuộc tiếp biến văn hóa Đông – Tây, chúng tôi chỉ mong muốn thu hẹp dần khoảng cách giữa sự thật lịch sử – sự thật khách quan và sự thật qua lăng kính của nhà sử học để cố gắng đưa ra câu trả lời tương đối cho một vấn đề trong lịch sử Việt Nam cận đại và cho một nhân vật có đóng góp, ảnh hưởng không nhỏ trong tiến trình lịch sử, nhưng vì một số lý do khách quan, đã bị rơi vào quên lãng Trả lại sự khách quan, công bằng cho quá khứ, thiết nghĩ, đó là một trong những nhiệm vụ chính yếu của sử học
Tuy nhiên, những luận điểm, đánh giá trong luận văn “Tiếp biến văn hóa
Đông – Tây đầu thế kỷ XX: Nhìn từ góc độ báo chí, qua trường hợp Phan Khôi”
mới chỉ là sơ bộ kết quả nghiên cứu Trong điều kiện quỹ thời gian eo hẹp cùng những hạn chế về mặt khách quan, chủ quan, chúng tôi không dám tham vọng coi đây là công trình hoàn bị nhất, bởi lẽ, việc tìm kiếm sử liệu về Phan Khôi chắc chắn vẫn còn là câu chuyện dài, và còn phải tiếp tục làm tốn kém thời gian cũng như công sức của những nhà nghiên cứu rất nhiều năm sau này
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 7Về phương pháp nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, quy nạp
5 Cấu trúc đề tài
Luận văn gồm 3 chương và các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Phần Mở đầu nêu rõ ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, cũng như phương pháp nghiên cứu Chương 1 đề cập những nét chung nhất về bối cảnh lịch sử – xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, và nội dung cuộc tiếp biến văn hóa Đông – Tây Chương 2 đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của cuộc tiếp biến văn hóa Đông – Tây qua một “sản phẩm” cụ thể – nhà báo, học giả Phan Khôi Trong chương này, chúng tôi phân tích, đánh giá hoạt động báo chí của Phan Khôi trong các năm tiêu biểu từ 1928 đến 1939 (có thể coi đây là giai đoạn rực rỡ nhất trong sự nghiệp báo chí của Phan Khôi trước Cách mạng tháng Tám
1945, với hàng nghìn bài báo, mà tư liệu hiện tại của chúng tôi mới dừng ở con
số 4000, và chắc chắn trên thực tế, con số này còn nhiều hơn thế, nhưng do nguồn tư liệu tản mát, thất lạc trong và ngoài nước, nên chúng tôi vẫn chưa thể thu thập đầy đủ) Bên cạnh đó, chúng tôi cũng điểm lại những nét chính trong diện mạo của một số tờ báo mà Phan Khôi tham gia sản xuất, cộng tác, và cũng
là những tờ báo có ảnh hưởng tương đối lớn trong thời kỳ trước năm 1945, như
Thần Chung, Đông Pháp thời báo, Lục tỉnh tân văn, Phụ Nữ Tân Văn, Tràng An báo, Sông Hương, Tao Đàn, v.v Chương 3 đưa ra nhận xét về những đóng góp
và hạn chế của nhà báo, học giả Phan Khôi trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng đầu thế kỷ XX Phần Kết luận đánh giá tổng kết chung về vị trí, vai trò của nhà báo – học giả Phan Khôi như một sản phẩm của cuộc tiếp biến Đông – Tây đầu thế
kỷ XX Danh mục Tài liệu tham khảo liệt kê những tư liệu đã tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn
Trang 81.1.1 Những tiền đề gián tiếp
1.1.1.1 Bối cảnh lịch sử phương Đông:
* Trung Quốc:
Cuối triều Mãn Thanh, xã hội phong kiến Trung Quốc bước vào giai đoạn khủng hoảng Triều đình nhà Thanh không đủ sức lực bảo vệ đất nước khi thực dân phương Tây xâm lược Sự thâm nhập của chủ nghĩa thực dân đã tàn phá nền kinh tế Trung Quốc Nhân dân Trung Quốc, nhất là nông dân, chịu mọi hậu quả nặng nề của chính sách nô dịch Thế nhưng, lo sợ trước sức ép của đế quốc phương Tây và phong trào nổi dậy của quần chúng nông dân, chính quyền Mãn Thanh, thay vì bảo vệ đất nước, lại câu kết chặt chẽ với đế quốc nhằm bảo vệ ngai vàng và trấn áp làn sóng đấu tranh của quần chúng Trong khi đó, các nước
đế quốc cũng tìm đủ mọi cách lợi dụng tình hình rối ren để mở rộng việc xâm nhập và chia cắt Trung Quốc
Điểm nổi bật trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX ở Trung Quốc là sự hình thành và phát triển của các nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa, tạo tiền đề vật chất cho những xu hướng tư tưởng mới mang tính chất tư sản ra đời và phát triển
Khang Hữu Vi và phong trào Duy Tân:
Là linh hồn của phong trào Duy Tân cuối thế kỷ XIX, tháng 6 năm 1896, Khang Hữu Vi đưa thư đề nghị biến pháp Được vua Quang Tự đồng tình, phong trào Duy Tân ngày càng có đà phát triển Để chuẩn bị lý luận, tư tưởng và
tổ chức cho cuộc biến pháp, tháng 7/1896, Khang Hữu Vi ra báo Trung ngoại ký
văn tuyên truyền tư tưởng Duy Tân Tháng 8/1896, Khang Hữu Vi tổ chức
Trang 9Cường học hội Ông cùng học trò Lương Khải Siêu đi diễn thuyết về Duy Tân ở khắp nơi trên đất Trung Hoa
Nội dung Cương lĩnh hoạt động của phong trào Duy Tân ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX gồm những điểm sau:
Về kinh tế, chủ trương bảo hộ và khuyến khích công thương nghiệp, lập hội nông nghiệp, mua sách báo, máy móc và du nhập kỹ thuật của phương Tây Ngoài ra, phái Duy Tân đề nghị lập Cục thương vụ, xây dựng xưởng chế tạo máy và yêu cầu triều đình nhà Thanh cho thương nhân tự do lập công xưởng Phái Duy Tân cũng kêu gọi khuyến khích phát minh khoa học kỹ thuật, chỉnh đốn, quản lý tài chính, xây dựng đường sắt, tiến hành khai mỏ, v.v Về chính trị, các chủ soái của phong trào Duy Tân khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân đăng đàn diễn thuyết về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội; đồng thời cũng hô hào cách chức quan lại tham nhũng Phái Duy Tân đề ra cơ sở xây dựng chế độ chính trị dựa trên nguyên tắc “Hán Mãn bất phân, quân dân cộng trị” Về quân
sự, phái Duy Tân chủ trương xây dựng quân đội theo kiểu phương Tây Về văn hóa giáo dục, chủ trương lập trường học, tổ chức học theo kiểu phương Tây, cải cách chế độ thi cử, mở nhà in sách báo, cử người đi học ở nước ngoài
Dưới ảnh hưởng của phái Duy Tân, năm 1898, vua Quang Tự đã liên tục ban hành một số pháp lệnh như mở trường học, làm đường sắt, cải cách chế độ quan lại, giảm biên chế các tổ chức hành chính Tuy nhiên, lúc bấy giờ, giới quan lại thuộc phái thủ cựu vẫn nắm nhiều chức vụ trọng yếu ở trung ương và địa phương Vì thế, mặc dù mệnh lệnh của Quang Tự và phái Duy Tân ban ra rất nhiều, nhưng cấp dưới không nghe, không thực hiện Bên cạnh đó, phái Bảo thủ ngày càng tiếm quyền Kết quả, phái Duy Tân thất bại
Như vậy, có thể thấy, những nhà Duy Tân ở Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XIX muốn thông qua con đường cải cách ôn hòa để cải tạo quan hệ sản xuất, mở đường cho sức sản xuất phát triển, chứ không đi theo con đường tiêu diệt tận gốc cơ sở kinh tế xã hội của chế độ phong kiến Mặt khác, phong trào Duy Tân chưa thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân lao động, mà mới chỉ tập hợp được một bộ phận sĩ phu, quan lại, địa chủ, phú thương và tư sản dân tộc cấp
Trang 10tiến Và cũng chính vì không dựa vào quần chúng lao động, trong khi cơ sở kinh
tế tư bản tuy phát triển nhưng vẫn còn nhỏ bé, địa vị của giai cấp tư sản chưa lớn mạnh, nên phong trào Duy Tân đã thất bại
Tuy vậy, phong trào Duy Tân cuối thế kỷ XIX ở Trung Quốc vẫn là một phong trào yêu nước mang ý nghĩa tiến bộ Những yêu cầu về độc lập dân tộc, phát triển chủ nghĩa tư bản, học tập kỹ thuật phương Tây, v.v mà phong trào Duy Tân đề ra là phù hợp với lợi ích dân tộc lúc bấy giờ Hơn nữa, nhờ phong trào Duy Tân mà các học thuyết chính trị xã hội của giai cấp tư sản phương Tây
và phổ biến khoa học tự nhiên được truyền bá rộng rãi Trung Quốc Phái Duy Tân tuyên truyền tư tưởng dân chủ tư sản, phản đối chuyên chế phong kiến, giới thiệu tư tưởng tự do bình đẳng, yêu cầu giải phóng cá tính, chống đối luân lý và đạo đức phong kiến Đây là những đòn giáng mạnh vào hệ tư tưởng phong kiến,
mở đường cho các tư tưởng tư sản tiến bộ phát triển Chính vì những lý do đó, phong trào Duy Tân và các nhà hoạt động Duy Tân được đánh giá rất cao ảnh hưởng của phong trào đã lan sang các nước láng giềng ở Đông Nam á, trong đó
có Việt Nam
Đối với Việt Nam, cuộc vận động biến pháp Mậu Tuất đã tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX Trên cơ sở biến đổi kinh tế xã hội Việt Nam, cộng với ảnh hưởng của cuộc vận động biến pháp
từ ngoài vào, tư tưởng dân chủ tư sản bắt đầu xuất hiện trên vũ đài chính trị Việt Nam qua các tác phẩm của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Rousseau, Montesquieu, v.v Một số sĩ phu yêu nước Việt Nam đã tiếp thu tư tưởng cải cách và trở thành những nhà tư tưởng Duy Tân đầu thế kỷ XX
Cách mạng Tân Hợi (1911):
Cách mạng Tân Hợi mà người đứng đầu là lãnh tụ Tôn Trung Sơn là cuộc cách mạng tư sản do giai cấp tư sản Trung Quốc lãnh đạo, được đông đảo quần chúng tham gia Xét về cương lĩnh, đường lối, sách lược đấu tranh cụ thể cũng như các biện pháp cải cách xã hội, thì cách mạng Tân Hợi khẳng định xu thế mới nhằm tiến tới xây dựng một đất nước Trung Hoa dân chủ, phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa
Trang 11Mục tiêu chính của cách mạng Tân Hợi là đánh đổ triều đại Mãn Thanh,
và trên thực tế, đã lật đổ được triều đại này Bên cạnh đó, những người làm cách mạng Tân Hợi muốn thông qua cách mạng để tiến hành các biện pháp dân chủ, ban bố dân quyền nhằm tạo điều kiện cho xã hội Trung Quốc tiến mạnh trên con đường tư bản chủ nghĩa Thế nhưng, cách mạng chưa hề đụng đến vấn đề ruộng đất - một trong những vấn đề cơ bản của các cuộc cách mạng Chính vì vậy, họ không động viên được đông đảo quần chúng nông dân tham gia để đẩy cách mạng đi lên, đánh lùi các thế lực phản động Cũng do vậy, chế độ cộng hòa chưa được triển khai trên thực tế mà mới chỉ thành lập về hình thức Một nguyên nhân khác hạn chế thắng lợi của Cách mạng Tân Hợi, đó là đường lối cách mạng thiếu chính xác, lực lượng giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc, giai cấp lãnh đạo cuộc cách mạng còn yếu ớt Mặt khác, Cách mạng Tân Hợi 1911 không giành được thắng lợi triệt để cũng vì hạt nhân lãnh đạo non yếu về đường lối và tổ chức nên nhanh chóng tan rã khi kẻ thù tấn công quyết liệt
Tuy vậy, Cách mạng Tân Hợi vẫn có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn Cách mạng Tân Hợi đã giúp lịch sử Trung Quốc kết thúc nền thống trị mấy nghìn năm của chế độ quân chủ phong kiến, làm cho tư tưởng cộng hòa dân chủ ăn sâu bắt
rễ vào quần chúng Cách mạng Tân Hợi cũng tạo điều kiện cho tư tưởng dân chủ cách mạng xâm nhập và phát triển trên đất Trung Hoa Và cho dù chế độ cộng hòa chưa trở thành hiện thực vững chãi, thì chế độ quân chủ phong kiến phản động cũng không thể lập lại hoàn toàn ở Trung Quốc Đó là một thành công to lớn của Cách mạng Tân Hợi Hơn nữa, trong quá trình đấu tranh, ý thức dân tộc,
ý thức cách mạng cũng đã phát triển mạnh mẽ Phong trào cách mạng của quần chúng làm cho giai cấp thống trị phải có một số nhượng bộ nhất định
Cách mạng Tân Hợi và tư tưởng của Tôn Trung Sơn đã có ảnh hưởng nhất định đến nhiều nước Đông Nam á Một số nhà yêu nước Việt Nam, Indonesia, Malaysia đầu thế kỷ XX cũng mang ít nhiều màu sắc của trào lưu đó
Cuộc vận động Ngũ Tứ (ngày 4/5/1919) đòi khoa học, dân chủ:
Phong trào Ngũ Tứ đánh dấu một giai đoạn cách mạng mới ở Trung Quốc Ngày 4/5/1919, hơn 3000 học sinh, sinh viên Bắc Kinh tập hợp tại quảng
Trang 12trường Thiên An Môn phản đối chính sách ngoại giao bán nước của Chính phủ Trung tâm của phong trào từ Bắc Kinh lan đến Thượng Hải, Nam Kinh, Hàng Châu, Thiên Tân, Đường Sơn, v.v , và trở thành phong trào yêu nước rộng rãi, tập hợp các tầng lớp công nhân, học sinh, thương nhân Lực lượng đấu tranh rộng lớn của nhân dân Trung Quốc đã buộc Chính phủ phản động phải thả số học sinh bị bắt, cách chức ba quan chức bán nước Tào Nhữ Lâm, Chương Tông Đường, Lục Tông Dư Từ sau ngày bãi chức ba quan chức này, yêu cầu cự tuyệt
ký vào Hòa ước Versailles trở thành nội dung trung tâm của phong trào yêu nước Ngũ Tứ Hàng trăm đoàn thể của các tầng lớp nhân dân, với sự hậu thuẫn của hàng vạn quần chúng, cử đại biểu đến Phủ Tổng thống đưa đơn thỉnh nguyện Ngày ký Hòa ước (28/6), công nhân Trung Quốc và lưu học sinh vây quanh trụ sở đoàn đại biểu Trung Quốc tại Paris, không cho họ đi ký Dưới áp lực mạnh mẽ của nhân dân toàn quốc, đoàn đại biểu Trung Quốc từ chối ký Hòa ước Versailles Phong trào yêu nước Ngũ Tứ thu được thắng lợi to lớn
Qua phong trào Ngũ Tứ, giai cấp công nhân Trung Quốc đã biểu thị sức mạnh của mình và đòi hỏi phải có một chính đảng chân chính đại biểu cho quyền lợi của giai cấp để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Trong bối cảnh thế giới sau Cách mạng tháng Mười Nga, những trí thức ưu tú hoạt động trong phong trào văn hóa mới đã tiến gần đến học thuyết cách mạng Marx – Lenin và góp phần truyền bá chủ nghĩa Marx – Lenin vào Trung Quốc, giác ngộ quần chúng,
mở ra con đường cách mạng giải phóng dân tộc kiểu mới Theo đó, có thể kể đến những nhân vật tiêu biểu, tiên phong trong phong trào văn hóa mới nói riêng
và phong trào Ngũ Tứ nói chung như Lý Đại Chiêu, Trần Độc Tú, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai Những trí thức này sau khi tiếp thu chủ nghĩa Marx – Lenin đã hoạt động rất mạnh mẽ, tích cực tuyên truyền chống đế quốc, tẩy chay hàng hóa Nhật Bản, phối hợp hành động với đồng bào cả nước trong phong trào Ngũ Tứ, thu hút hàng triệu học sinh, công nhân và quần chúng tham gia, là bước chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc
Việt Nam là nước láng giềng của Trung Quốc Trong lịch sử, hai nước đã
có mối quan hệ mật thiết, lâu đời về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội
Trang 13Vì vậy, mọi biến cố lịch sử lớn xảy ra ở Trung Quốc cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam
Sự thực, vào những năm 20 đầu thế kỷ XX, Quảng Châu (Trung Quốc) có sức hút mạnh mẽ đối với nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam, trở thành trung tâm đào tạo và căn cứ hoạt động của cán bộ cách mạng Việt Nam trong buổi đầu gây dựng phong trào Nhờ vậy, chủ nghĩa Marx – Lenin, qua sách báo Trung Quốc, được truyền về Việt Nam rộng rãi hơn trước Phan Văn Trường, trên tờ
L‟Indochine (Đông Dương) số ra ngày 30/6/1925, đã viết: “Chúng ta hãy chăm chú theo dõi những sự kiện phát xuất từ Trung Quốc Những sự kiện này sẽ dẫn đến những hậu quả thế giới Chúng ta không quên rằng thân phận của chúng ta được gắn bó mật thiết với thân phận của toàn vùng Viễn Đông” Rõ ràng là
phong trào cách mạng Trung Quốc từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm
1927 đã là một điều kiện quốc tế vô cùng thuận lợi cho cách mạng Việt Nam
* Nhật Bản:
Là một quốc gia ở châu á, nhờ vị trí cách biển khá rộng nên Nhật Bản không bị ảnh hưởng mạnh mẽ của vòng cung văn hóa Trung Hoa, và do đó, Nhật Bản có khả năng tạo nên một quốc gia mang bản sắc riêng Vào thời cận đại, dựa vào những điều kiện của riêng mình, Nhật Bản đã tìm được con đường
tự hội nhập với thế giới và phát triển Với công cuộc Duy tân Minh Trị, Nhật Bản trở thành một đế quốc tư bản duy nhất ở châu á
Cuộc Duy tân Minh Trị và Hiến pháp dân chủ năm 1889:
Vào giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Nhật Bản rơi vào tình trạng suy thoái, không thể đáp ứng yêu cầu phát triển, cũng không đủ sức chống lại sự xâm nhập của đế quốc Âu – Mỹ Chính quyền Tokugawa sau mấy thế kỷ tồn tại
đã không còn đủ sức giải quyết các mâu thuẫn xã hội và định hướng con đường phát triển của Nhật Bản Trong khi đó, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Âu –
Mỹ đòi hỏi mở cửa Nhật Bản để giao lưu buôn bán Mỹ, lúc bấy giờ, đặc biệt chú ý đến Nhật vì Nhật có thể thành trạm dừng chân cho các tàu Mỹ tỏa ra các khu vực Trung Quốc và Thái Bình Dương Việc mở cửa giao thương và ảnh hưởng của nó làm cho phong trào đòi lật đổ Shogun ở nước Nhật ngày càng dấy
Trang 14lên mạnh mẽ Các lực lượng chống Shogun đã tập hợp thành những bộ phận chống lại lực lượng bảo thủ, ủng hộ Thiên hoàng, đòi trả quyền cho Thiên hoàng, và đòi tiến hành cải cách Trước áp lực này, ngày 9/11/1867, Shogun đã phải xin trao trả quyền lực Như vậy, quyền lực Shogun của dòng họ Tôkugawa kéo dài 265 năm đến đây đã kết thúc Lịch sử Nhật Bản bước sang trang mới Ngày 3/1/1868, Thiên hoàng ra lệnh truất quyền Shogun và thành lập Chính phủ mới
Về thực chất, cuộc đấu tranh chuyển quyền lực từ Shogun sang Minh Trị, không chỉ là cuộc “trả quyền bính”, mà đánh dấu một bước đi lên, một bước đổi mới có ý nghĩa cách mạng Duy Tân Minh Trị là một cuộc biến đổi xã hội khá toàn diện Cuộc cải cách ấy bao gồm các mặt chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục, và đặc biệt là cải cách kinh tế xã hội Cải cách Minh Trị đã làm cho nước Nhật từ một quốc gia nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước tư bản có nền công nghiệp phát triển, hiện đại Có thể coi đây là cuộc cải cách mang tính chất quy luật thời đại, nhằm đưa đất nước tiến lên con đường phát triển, tạo cơ sở cho một nước Nhật giàu mạnh, thoát khỏi tình trạng bị phụ thuộc đế quốc phương Tây Cũng nhờ cải cách, nước Nhật thời Minh Trị, với lực lượng xã hội có tư tưởng canh tân, đã làm nên một kỳ tích trong lịch sử châu á: giữ được độc lập và trở thành một nước tư bản trên thế giới
Về một số biện pháp cải cách và phát triển kinh tế trong cuộc Duy Tân Minh Trị:
Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của công thương nghiệp, ngay khi lên nắm quyền, Minh Trị đã khuyến khích phát triển công thương nghiệp Ngoài việc tạo điều kiện thiết lập một thị trường thống nhất trong nước, chính quyền Minh Trị còn nhắm tới thị trường quốc tế và khuyến khích du nhập kỹ thuật tiên tiến Việc thực hiện chế độ tiền tệ thống nhất, đo lường thống nhất, quan thuế thống nhất tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Trong nông nghiệp
và quan hệ ruộng đất, ngay từ đầu, chính quyền Minh Trị đã cho phép mua bán đất và cho phép tự do kinh doanh nông phẩm Chính sách này tạo nên yếu tố kích thích kinh tế phát triển Nền kinh tế nông nghiệp được giải phóng, thúc đẩy
Trang 15thị trường tiêu thụ hàng hóa phát triển Tuy nhiên, đi kèm với sự tập trung ruộng đất do nhu cầu kinh tế là sự mất thăng bằng trong quan hệ sở hữu ruộng đất ở nông thôn và sự phân hóa giàu nghèo Nhiều nông dân không thể duy trì cuộc sống bình thường, phải bán đất, bỏ ra thành phố làm thuê Và như vậy, hiện tượng người nông dân tự do trở thành công nhân là hệ quả tất yếu của sự phát triển
Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế gắn liền với các cuộc chiến tranh đã thể hiện rõ đường lối phát triển một nước Nhật theo xu hướng đế quốc quân sự Năm 1895, Nhật giành được thắng lợi trong chiến tranh Trung – Nhật, trở thành thành viên của liên quân 8 nước tư bản tham gia trấn áp Nghĩa Hòa Đoàn ở Trung Quốc (1899-1901) Cũng nhờ đó, vị trí của Nhật Bản dần được khẳng định
Mặt khác, với khát vọng tạo nên sức mạnh lớn lao cho công cuộc cạnh tranh, Nhật Bản đã dốc toàn lực vào ngành công nghiệp nặng Vì vậy, trong một thời gian ngắn, giá trị sản phẩm công nghiệp nặng chiếm quá nửa trong tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản Những công ty cổ phần bị phá sản hợp nhất thành những công ty lớn, những tổ chức lũng đoạn kinh tế Tư bản ngân hàng ở Nhật cũng nhanh chóng tập trung Vào đầu thế kỷ XX, tập đoàn Ngân hàng Mitsui, Mitsubishi lũng đoạn hơn 50% tổng số vốn trong ngành tài chính Sự phát triển tập trung theo khuynh hướng dung hợp giữa tư bản ngân hàng với tư bản công nghiệp là đặc trưng trong quan hệ điều hành sản xuất và huy động vốn của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản ở giai đoạn lũng đoạn Kèm theo đó, sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã tạo nên sức mạnh chính trị, quân sự cho nước Nhật, giúp Nhật tham gia tích cực vào việc phân chia thị trường thế giới
Về cải cách chế độ hành chính:
Minh Trị muốn tiến hành cải cách dân chủ trong khuôn khổ quyền lực của vương triều và đưa nước Nhật phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Minh Trị thiên hoàng đã tuyên thệ, rằng: Quốc hội phải dân chủ và theo công luận quyết định việc nước; trên dưới đồng lòng lo việc nước; từ quan chức văn võ
Trang 16đến nhân dân đều phải theo đuổi chí nguyện để trong nước không còn mối bất mãn; phá bỏ những tập quán xấu, mọi công việc theo pháp luật chung; tiếp thu tri thức trên thế giới để chấn hưng sự nghiệp của hoàng triều, v.v Minh Trị cũng thành lập một bộ máy chính quyền gồm Hữu viện (cơ quan hành pháp) và
Tả viện (cơ quan lập pháp) Ngoài ra, Minh Trị tuyên bố xóa bỏ đẳng cấp cùng với những đặc quyền của nó Những quy định khắt khe về hôn nhân, hành nghề,
ăn mặc theo đẳng cấp đều bị xóa bỏ Chính quyền Minh Trị xác định học tập phương Tây về mọi mặt, từ kinh tế kỹ thuật đến tư tưởng văn hóa Bằng chứng
là, năm 1971, một phái đoàn Nhật Bản đã đến thăm và học hỏi, nghiên cứu thể chế chính trị, hiến pháp của 12 nước Âu Mỹ
Người tuyên truyền tư tưởng tự do phương Tây ở Nhật Bản là Fukuzawa Yukichi (1834-1901) – nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với xã hội
Nhật Bản cận đại, từng được tôn vinh là “Voltaire của Nhật bản” Khuyến học
(1872-1876) là tác phẩm có ảnh hưởng lớn lao nhất đến công chúng Nhật Bản
Trong Khuyến học, với tuyên ngôn “Trời không tạo ra người đứng trên người
và cũng không tạo ra người đứng dưới người”, Fukuzawa đã gây kinh ngạc và
bàng hoàng – như “không tin vào tai mình”, cho đa số người dân Nhật Bản vốn
bị trói buộc bởi đẳng cấp, thân phận, quen phục tùng phó mặc và e sợ quan quyền suốt hàng trăm năm dưới chính thể phong kiến Mạc phủ Ông khẳng định mọi người sinh ra đều bình đẳng và nếu có khác biệt là do trình độ học vấn Về học vấn, Fukuzawa Yukichi phê phán lối học “từ chương” và nhấn mạnh Nhật Bản phải xây dựng nền học vấn dựa trên “thực học” Nền học vấn “thực học” phải gắn liền với cuộc sống hằng ngày, phải dựa trên tinh thần khoa học, tinh thần độc lập, tính thực dụng Việc tiếp thu văn minh phương Tây phải có chọn
lọc Quan điểm xuyên suốt tác phẩm Khuyến học là làm thế nào để bảo vệ nền
độc lập Nhật Bản trong bối cảnh các cường quốc phương Tây đang muốn biến toàn bộ châu á thành thuộc địa
Trong cuộc cải cách Minh Trị, Hiến pháp năm 1889 ra đời nhằm tìm một thể chế thích hợp làm thỏa mãn những mong muốn quyền lực của giai cấp có của, nhưng cũng đồng thời phản ánh sự thắng lợi của quần chúng nhân dân trong
Trang 17phong trào đòi tự do, dân chủ Theo Hiến pháp này, Quốc hội Nhật chia làm 2 Viện: Viện quý tộc có 368 người gồm hoàng thân, quý tộc, những người giàu có nhất và Viện đại biểu có 300 đại biểu, bầu công khai Thiên hoàng là người có quyền tối thượng, quyền giải tán Quốc hội, xóa bỏ những đạo luật mặc dù Quốc hội đã phê chuẩn, quyền tuyên chiến, đình chiến, điều chỉnh và phân bổ ngân sách, quyền bổ nhiệm bộ trưởng Sau khi Hiến pháp ra đời, đường lối chính trị của Nhật Bản trong thời kỳ Minh Trị là đường lối của tập đoàn quân phiệt, phát triển lực lượng quân sự, tiến hành chiến tranh xâm lược, xây dựng nền kinh tế theo hướng phục vụ chiến tranh Hiến pháp đã khẳng định sự lựa chọn thể chế phù hợp với giới quý tộc quân phiệt tư bản Nhật Bản, dẫn nước Nhật đi đến con đường phát triển chủ nghĩa quân phiệt
Đầu thế kỷ XX, đế quốc Nhật cùng các đế quốc phương Tây chia nhau quyền lợi ở Trung Quốc và liên hiệp với nhau để đàn áp phong trào cách mạng Nghĩa Hòa Đoàn (Trung Quốc), nhưng mặt khác lại tìm kế tranh giành quyền lợi, xâu xé nhau Sau khi chiếm Triều Tiên, Nhật Bản thôn tính Mãn Châu và chủ trương gây chiến với Nga Năm 1905, Nga buộc phải nhượng bộ Nhật, thừa nhận Nhật chiếm Triều Tiên, trả cho Nhật những quyền lợi ở Mãn Châu, và cắt cho Nhật miền nam bán đảo Xakhalin Chiến thắng của Nhật có tiếng vang lớn trên thế giới, nhất là đối với các dân tộc ở châu á Lúc bấy giờ, Nhật được coi là
vị “cứu tinh” của các dân tộc da vàng Đó cũng là một trong những lý do chủ yếu khiến cho xu hướng thân Nhật phát triển ở Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, ấn Độ Xu hướng này ít nhiều có tác động đến tinh thần chống đế quốc ở các nước thuộc địa và bán thuộc địa ở á châu
ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, các sĩ phu yêu nước nhận thấy không thể nào
tự lực đánh đuổi Pháp nếu không trông vào viện trợ nước ngoài Vì thế, không thể nào không hướng về Nhật Bản, một nước “đồng châu, đồng chủng, đồng văn”, lại là nước tiên tiến Do đó, phong trào sang Nhật cầu học đã diễn ra rất sôi nổi từ năm 1904 đến 1908, và có một địa vị trọng yếu trong lịch sử cách mạng Việt Nam
* Thái Lan:
Trang 18Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xã hội phong kiến Thái Lan chuyển biến theo hướng tư bản chủ nghĩa Đứng trước nguy cơ bị các cường quốc phương Tây nô dịch, việc bảo vệ nền độc lập của đất nước trong thời kỳ này đã trở thành mục tiêu trọng yếu của các trào lưu tư tưởng trong xã hội Thái Lan Song song với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập, công cuộc cải cách đất nước cũng đặt ra gay gắt
Trước sự phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cải cách của Rama V và Rama VI đã tạo cho Thái Lan một bộ mặt mới theo mẫu hình phương Tây Những cải cách này, ở một góc độ nhất định, có tác dụng tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội, làm cho Thái Lan không bị rơi vào tình trạng trở thành thuộc địa như các nước láng giềng Đông Nam á, nhờ đó, Thái Lan có tầm ảnh hưởng không nhỏ đối với các quốc gia trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam
Về một số điểm đáng chú ý trong cải cách của Rama V và Rama VI cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:
Một trong những công việc có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong cuộc cải cách của chính quyền Rama là ban hành sắc lệnh thủ tiêu chế độ nô lệ đã tồn tại lâu đời ở Thái Lan vốn là trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế Kèm theo đó, chế độ lao dịch cho nhà nước cũng bị bãi bỏ Xét trên hoàn cảnh kinh tế – xã hội lúc đó, những chính sách này thực sự có ý nghĩa tiến bộ vì nó giải phóng một phần sức lao động, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp Về kinh tế, đặt mục tiêu hàng đầu là xuất khẩu gạo, nền kinh tế Thái Lan có những bước chuyển biến quan trọng Cuộc cải cách tài chính năm 1892 xóa bỏ chế độ thầu thuế, làm tăng nguồn thu nhập của ngân sách đồng thời giảm bớt phần nào sự quấy nhiễu nông dân do bọn thầu thuế gây ra, nhờ đó, kinh tế Thái Lan ngày càng phát triển, v.v
Tóm lại, cuộc cải cách do các vua Rama V và Rama VI tiến hành đã gây dựng cho Thái Lan một nền tảng để phát triển và phát triển theo tấm gương phương Tây Thế nhưng, vì Thái Lan không có một giai cấp tư sản lớn mạnh nên toàn bộ cuộc cải cách đều do nhà nước quân chủ phong kiến Rama tiến hành Vì
Trang 19vậy, cuộc cải cách ấy đã không động chạm đến gốc rễ kinh tế phong kiến là chế
độ ruộng đất, mà vẫn duy trì các hình thức bóc lột phong kiến đối với nông dân, vẫn bảo vệ quyền lực của giai cấp quý tộc trong mọi lĩnh vực đời sống Cho nên, kết quả của quá trình cải cách tuy có một số tiến bộ theo hướng tư bản chủ nghĩa, nhưng không tạo cho đất nước một bước chuyển biến cách mạng khi bước vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa thế giới Mặt khác, vì giai cấp tư sản, tiểu tư sản Thái Lan còn chưa lớn mạnh nên dù mong muốn tạo ra một sự thay đổi sâu sắc trong xã hội, nhưng vẫn không lật đổ được chế độ quân chủ phong kiến Sau những cải cách của Rama V, giai cấp phong kiến ra sức củng cố thế lực, tuyên truyền chủ nghĩa quốc gia quân chủ, lấy Nhật Bản làm khuôn mẫu Điều đó phản ánh ý thức hệ của giai cấp quý tộc thống trị muốn canh tân đất nước để thoát khỏi ách nô dịch của đế quốc, nhưng vẫn duy trì quyền lợi của triều đại Rama, tức là muốn tiến lên chủ nghĩa tư bản nhưng không muốn cắt đứt sợi dây ràng buộc với chế độ phong kiến, muốn giành độc lập cho đất nước nhưng không dám phát động quần chúng đấu tranh thoát khỏi sự khống chế của tư bản nước ngoài Và điều đó có nghĩa rằng, cuộc cải cách của Rama đã đi tìm lời giải đáp trong sự truyền bá rộng rãi chủ nghĩa quốc gia quân chủ; thức tỉnh ý thức dân tộc, phục hưng nền văn hóa và xây dựng khối cộng đồng dân tộc trong khuôn khổ nhà nước quân chủ phong kiến, dựa trên tinh thần thống nhất các dân tộc Thái
1.1.1.2 Phương Tây:
* Vài nét về bối cảnh nước Pháp nửa cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX
Cuộc cách mạng 1848 ở Pháp đã lật đổ nền Quân chủ tháng Bảy, thiết lập nền Cộng hòa thứ hai (1848-1852) Ngày 2/12/1852, Louis Bonaparte lên ngôi hoàng đế, lấy tước hiệu Napoleon III Nền Cộng hòa thứ hai sụp đổ Đế chế thứ hai được xác lập Chế độ Bonaparte thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ đã ban hành trong thời kỳ cách mạng 1848, bãi bỏ các tổ chức dân chủ, ngăn cấm các câu lạc bộ chính trị, hạn chế tự do báo chí, đóng cửa các tờ báo đối lập, kiểm soát nhà trường và rạp hát Về kinh tế, thời kỳ này, tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàng phát triển với nhịp độ nhanh chóng, tập trung sản xuất quy mô lớn
Trang 20Do ảnh hưởng của sự phát triển công nghiệp, bộ mặt Paris và các thành phố thay đổi rõ rệt Một hệ thống đại lộ, nhà ga, cửa hàng, công viên được dựng lên thay thế các phố cũ chật hẹp Quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa đem lại những món lợi kếch xù cho giai cấp tư sản, đồng thời cũng dẫn tới bần cùng hóa tầng lớp quần chúng lao động Hàng chục vạn người bị phá sản, phải kéo ra thành thị Những người dân thoát khỏi ách thống trị ở nông thôn lại sa vào nạn bóc lột của giai cấp tư sản thành thị Đế chế thứ hai cũng làm cho tầng lớp tiểu
tư sản bị phá sản nhanh chóng bằng cách cướp đoạt tài sản và cạnh tranh tiêu diệt họ để xúc tiến việc tập trung tư bản Nền tiểu sản xuất bị bóp chết trước sức
mạnh của chủ nghĩa tư bản
Để làm giàu thêm cho tầng lớp đại tư sản chính quốc, củng cố địa vị thống trị trong nước, đế chế Napoleon III đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lược bên ngoài Trong đó, Việt Nam là một trong những thị trường béo bở khiến Pháp chú ý ngay từ đầu
Cuối những năm 50 của thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược Việt Nam Nhưng thực ra, ngay từ thế kỷ XVII, những người Pháp đầu tiên đặt chân đến Việt Nam đã để lộ dã tâm chinh phục xứ sở này qua một số hoạt động truyền giáo, gián điệp và gây nên một vài cuộc xung đột nhỏ Trải qua một quá trình lâu dài chuẩn bị lực lượng và bị những biến cố lớn lao trong nước ngăn trở (cách mạng 1789, chiến tranh Napoleon, thời kỳ Trùng hưng, cách mạng
1830, cách mạng 1848 ), Đế chế II là thời kỳ thuận lợi nhất cho nước Pháp đẩy mạnh xâm lược Việt Nam Khi đó, chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến mức đòi hỏi ngày càng cấp thiết thị trường và nguyên liệu Trong khi đó, nền thống trị trong nước lại đang tạm ổn định và có một số dấu hiệu bề ngoài tựa hồ như vững vàng để có thể tiến hành những cuộc viễn chinh xâm chiếm thuộc địa Còn Napoleon III thì trông chờ vào những chiến thắng ngoài biên giới để củng cố địa
vị, nâng cao uy tín của Đế chế, vơ vét thêm của cải Với Pháp, Việt Nam lúc này thực sự là một món hời béo bở
Tuy nhiên, từ thế kỷ XVII đến nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX, ở phương Tây, các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ lần lượt thành công, tạo
Trang 21tiền đề cho sự phát triển công thương nghiệp Thời kỳ này trên thế giới cũng diễn ra sự đan xen, đấu tranh giữa nhiều luồng tư tưởng (triết học thời kỳ Khai sáng, chủ nghĩa xã hội không tưởng của Saint Simon, Furie ) Trong đó, học thuyết về chủ nghĩa cộng sản khoa học do Karl Marx và Engel sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX được xem là một sự kiện lịch sử trọng đại Ra đời trong những điều kiện nhất định của sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa và của mối mâu thuẫn tư sản – vô sản ngày càng tăng, học thuyết chủ nghĩa cộng sản khoa học của Marx và Engel cung cấp cho loài người những tri thức khoa học về các quy luật tự nhiên và xã hội, trang bị cho giai cấp vô sản vũ khí tư tưởng trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, giải phóng người lao động thoát khỏi ách áp bức, bóc lột
* Cách mạng tháng Mười Nga và ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx – Lenin với phong trào công nhân quốc tế:
Thời kỳ nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX, giữa lúc xã hội Việt Nam đang có những thay đổi quan trọng thì từ bên ngoài, những diễn biến chính trị đã tác động theo chiều hướng tích cực tới phong trào công nhân và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam Đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào cộng sản tại các nước đế quốc, sự phát triển của phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân chống chủ nghĩa đế quốc Cách mạng tháng Mười Nga đã chứng minh tính thực tiễn của lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa Với Cách mạng tháng Mười Nga, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, chính quyền của giai cấp bóc lột
đã bị đánh đổ, nền chuyên chính của giai cấp vô sản được thiết lập Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cho cả loài người, mở ra một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ở khắp nơi đang tiến tới một cuộc đời mới để chiến thắng giai cấp tư sản, thành lập chuyên chính vô sản, giải phóng nhân loại khỏi ách tư bản Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga cũng là thắng lợi của học thuyết Lê nin về chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô
Trang 22sản, về vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản và sự tham gia của quần chúng nhân dân lao động trong sự nghiệp cách mạng Học thuyết ấy trở thành “cẩm nang” soi đường chỉ lối cho các lực lượng cách mạng trên khắp địa cầu, đặc biệt là các dân tộc phương Đông đang bị các nước đế quốc nô dịch, đứng lên đấu tranh Có thể coi Cách mạng tháng Mười Nga là một bước ngoặt, một cột mốc trong lịch
sử thế kỷ XX, mở ra một thời đại mới trong lịch sử toàn thế giới, thời đại chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực tại các quốc gia
Phong trào Cách mạng tháng Mười Nga đã kích thích mạnh mẽ phong trào cách mạng vô sản trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam Hồ Chí Minh đã tổng kết như sau về ảnh hưởng lớn lao của Cách mạng tháng Mười Nga và phong trào cộng sản quốc tế những năm đầu thế kỷ XX, nhất là sự thành lập các đảng có quan hệ gần gũi như Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Pháp đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam:
“Cuộc Cách mạng tháng Mười đã thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc, làm cho nó trở thành làn sóng mãnh liệt trong tất cả các nước phương Đông: Trung Quốc, ấn Độ, Nam Dương, Việt Nam, v.v ( ) Nhờ Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người cách mạng Việt Nam đã tiếp thu ảnh hưởng đầy sức sống của Cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa Mác – Lênin Điều đó tựa như người đi đường đang khát nước mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn” [61; 569-570-571]
1.1.2 Những tiền đề trực tiếp của cuộc tiếp biến văn hóa Đông Tây nửa đầu thế kỷ XX ở Việt Nam
1.1.2.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ
XX
Trong lịch sử châu á nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng, thế kỷ XIX
là thời kỳ đầy biến động Quan hệ tiếp xúc Đông Tây đã chuyển từ thương mại
tự do sang đối địch Thay vì tôn trọng chủ quyền, thiết lập mối quan hệ buôn bán như trước đây, các nước tư bản châu Âu bắt đầu thực hiện chính sách “ngoại giao pháo hạm”, sử dụng vũ lực để từng bước thực hiện ý đồ thực dân Trong
Trang 23bối cảnh đó, các nước châu á bị đặt trước những thử thách vô cùng hiểm nghèo Nhận thức được hiểm họa này, Nhật Bản và Thái Lan đã chọn con đường duy tân đất nước để tự cứu mình Trong khi đó, ở Việt Nam, triều Nguyễn được thành lập từ năm 1802 tỏ ra lúng túng, không bắt kịp với xu thế thời đại, làm cho đất nước ngày càng lún sâu vào tình trạng trì trệ và cuối cùng bị biến thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp Về danh nghĩa, triều Nguyễn tồn tại đến năm 1945, nhưng thời gian thực sự điều hành đất nước với tư cách là một Nhà nước độc lập, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thì chỉ trong nửa đầu thế kỷ XIX
Ngay khi lên ngôi (1802), Nguyễn ánh đã đứng trước những khả năng to lớn để xây dựng đất nước Sau hơn 200 năm đất nước bị chia cắt trong cục diện
“Đàng Trong, Đàng Ngoài”, Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX thực sự là một quốc gia thống nhất với sự hoàn chỉnh cương vực quốc gia, thống nhất thị trường, tiền
tệ, có thể xây dựng kinh tế xã hội mạnh mẽ, mở rộng quan hệ giao thương quốc
tế, canh tân đất nước, vượt qua sự can thiệp, xâm lược của các thế lực phương Tây
Thế nhưng ngay từ đầu, triều Nguyễn đã bộc lộ điểm yếu cơ bản của một triều đại được dựng lên không phải trên cơ sở thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, mà bằng một cuộc nội chiến mà kẻ thắng lại dựa vào thế lực ngoại bang và đi ngược lại quyền lợi, nguyện vọng của dân tộc Chính vì thế, trong bức tranh kinh tế xã hội, chính trị thời Nguyễn, những yếu tố tiến bộ và bảo thủ, lạc hậu luôn đan xen nhau
Về kinh tế, với chủ trương “dĩ nông vi bản”, nhà Nguyễn hết sức coi trọng vấn đề ruộng đất và sản xuất nông nghiệp Thế nhưng, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhằm giải quyết vấn đề ruộng đất, nhà Nguyễn vẫn không thoát ra khỏi lối mòn của các triều đại phong kiến trước đó trong chính sách bảo vệ công điền, duy trì chế độ quân điền Mà ở vào giữa thế kỷ XIX, những biện pháp này đã trở nên lỗi thời, lạc hậu Hơn nữa, chính sách ruộng đất của nhà Nguyễn không xuất phát từ yêu cầu phát triển của sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu nhằm gia cố bệ
đỡ kinh tế cho một Nhà nước tập quyền chuyên chế lấy nông nghiệp làm nền
Trang 24tảng Vì vậy, trên thực tế, những chính sách này đã trở thành nhân tố cản trở sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, mặc dù trong số các biện pháp trọng nông, chính sách doanh điền đã tỏ ra có hiệu quả
Đầu thế kỷ XIX, sự thống nhất đất nước đã tạo tiền đề vô cùng thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế hàng hóa Song trên thực tế, thương nghiệp lại có chiều hướng suy thoái Nhà Nguyễn thi hành chính sách thuế khóa phức tạp và chế độ kiểm soát ngặt nghèo đối với hoạt động buôn bán, đồng thời hết sức dè dặt đối với các tàu buôn phương Tây Cùng với sự suy thoái của kinh tế thương nghiệp, các đô thị ngày càng kém phần phồn thịnh Cho đến giữa thế kỷ XIX, kinh tế đất nước trở nên hết sức trì trệ Trong khi đó, ở thế kỷ XIX, trước sức ép của chủ nghĩa thực dân phương Tây, việc mở cửa, khai phóng những nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa được coi là con đường duy nhất đúng để tăng sức mạnh bảo vệ nền độc lập Song, như phân tích ở trên, nhà Nguyễn đã không làm được việc đó
Về chính trị, triều Nguyễn tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình tập quyền chuyên chế, mọi quyền hành đều tập trung vào tay hoàng đế Trong chính sách đối ngoại, nhà Nguyễn chủ trương thần phục nhà Thanh Với các nước phương Tây, nhà Nguyễn tỏ ra nghi ngại ở giai đoạn đầu, do còn giữ ân nghĩa với những người Pháp đã giúp mình trong cuộc chiến tranh chống lại Tây Sơn, Gia Long thi hành chính sách tương đối cởi mở với Pháp và đạo Thiên Chúa Nhưng đến thời Minh Mạng (1820-1840), triều Nguyễn khước từ dần những mối quan hệ với người phương Tây, và bắt đầu thi hành chính sách đàn áp Công giáo Quá lo sợ trước nguy cơ thực dân, triều Nguyễn cũng từng bước thực thi chính sách “đóng cửa”, ngày càng tìm cách hạn chế ảnh hưởng của người phương Tây trên đất Việt Nam Mặt khác, song song với việc áp dụng những biện pháp cực đoan nhằm gia cố ý thức hệ Nho giáo làm bệ đỡ tư tưởng của Nhà nước quân chủ, nhà Nguyễn tỏ ra bảo thủ, đẩy đất nước vào tình trạng trì trệ, lạc hậu đến nỗi suy kiệt khả năng tự vệ
Và cũng nhằm củng cố bệ đỡ tư tưởng cho chính quyền chuyên chế, nhà Nguyễn tìm mọi cách phục hồi Nho giáo vốn đã suy đồi trong những thế kỷ
Trang 25trước Thế nhưng, cho dù nhà Nguyễn thi hành chính sách độc tôn Nho giáo, hạn chế Phật giáo và cấm đoán đạo Thiên chúa, thì đạo Phật vẫn tiếp tục phát triển ở các vùng nông thôn Bên cạnh đó là sự phát triển khá mạnh mẽ của các tín ngưỡng dân gian
Độc tôn Nho giáo, kìm chế công thương, bế quan tỏa cảng, trên thực tế đã không đem lại những kết quả như nhà Nguyễn mong muốn là tăng cường sức mạnh của dòng họ cai trị, trái lại, còn làm mất đi khả năng vươn lên cùng thời đại của dân tộc Việt Nam, làm suy kiệt sức đề kháng của đất nước trước nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây Tiếng súng của thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng năm 1858 là điểm khởi đầu cho quá trình xâm lược mà kết quả là sự thất bại của triều Nguyễn
Hai hiệp ước Harmand (1883) và Patenotre (1884) được triều đình Huế ký kết dưới áp lực quân sự của tư bản Pháp đã đánh dấu sự bại vong của nhà nước phong kiến độc lập Việt Nam và sự đầu hàng của triều Nguyễn trước chủ nghĩa
tư bản Pháp Theo đó, Việt Nam hoàn toàn trở thành thuộc địa của Pháp Các vua triều Nguyễn còn tồn tại sau đó chủ yếu do thực dân Pháp lập nên như một con bài cần thiết cho sự vận hành guồng máy thống trị
1.1.2.2 Hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và tác động của chúng đối với cuộc tiếp biến văn hóa Đông Tây nửa đầu thế kỷ XX ở Việt Nam
1.1.2.2.1 Vài nét về hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam
Sau khi công cuộc bình định Việt Nam hoàn thành, thực dân Pháp bắt tay vào việc vơ vét, khai thác, bóc lột kinh tế thuộc địa để làm giàu cho “chính quốc” Thế nhưng, cũng chính hai cuộc khai thác này đã làm xã hội Việt Nam thay đổi mạnh mẽ về tính chất, cơ cấu, tạo tiền đề cho cuộc tiếp biến văn hóa Đông Tây đầu thế kỷ XX
* Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914)
Trang 26Người thiết kế thực sự cho cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương lần thứ nhất là Toàn quyền Paul Doumer, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Pháp Ngày 22/3/1897, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer gửi cho
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp dự án chương trình hành động để khai thác thuộc địa với một số nội dung cơ bản như sau:
“1 Tổ chức một chính phủ chung cho toàn Đông Dương và tổ chức bộ máy cai trị hành chính riêng cho từng xứ thuộc Liên bang
2 Sửa lại chế độ tài chính, thiết lập một hệ thống thuế khóa mới sao cho phù hợp với yêu cầu của ngân sách, nhưng phải dựa trên cơ sở xã hội cụ thể, và phải chú ý khai thác những phong tục, tập quán của dân Đông Dương
3 Chú ý xây dựng thiết bị lớn cho Đông Dương, như xây dựng hệ thống đường sắt, đường bộ, sông đào, bến cảng rất cần thiết cho công cuộc khai thác
4 Đẩy mạnh nền sản xuất và thương mại bằng việc phát triển công cuộc thực dân của người Pháp và lao động của người bản xứ
5 Bảo đảm phòng thủ Đông Dương bằng việc thiết lập những căn cứ hải quân và phải tổ chức quân đội và hạm đội cho thật vững mạnh
6 Hoàn thành công cuộc bình định xứ Bắc kỳ, bảo đảm an ninh vùng biên giới Bắc kỳ
7 Khuếch trương ảnh hưởng của nước Pháp, mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng Viễn đông, nhất là ở các nước lân cận”
Theo đó, mục đích tối thượng của Paul Doumer là biến Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam) thành một thuộc địa khai khẩn bậc nhất, bảo đảm đem lại siêu
lợi nhuận cho đế quốc Pháp Jean Chesneaux trong cuốn Đóng góp vào lịch sử
dân tộc Việt Nam xuất bản tại Paris năm 1955 đã đánh giá cao Paul Doumer:
“Chính ông (Doumer) đã đưa chế độ thuộc địa từ giai đoạn kinh nghiệm chủ nghĩa hầu như “thủ công” sang giai đoạn tổ chức hệ thống Chính ông đã tạo dựng bộ máy thống nhất về bóc lột tài chính và đàn áp chính trị trong thực tế sẽ được duy trì nguyên vẹn đến tận năm 1945” [55; 98]
Trang 27Qua nhiều cuộc thăm dò, giới cầm quyền thực dân đã quyết định chính sách khai thác thuộc địa Đông Dương với tinh thần cơ bản là: Thuộc địa Đông Dương phải được đặc biệt dành riêng cho thị trường Pháp Nền sản xuất ở thuộc địa này chỉ được thu gọn trong việc cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì mà nước Pháp không có Do vậy, về bản chất, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất chủ yếu nhắm tới việc đầu tư thiết kế cơ sở hạ tầng, từng bước mở mang công thương nghiệp song song với việc cướp đoạt ruộng đất và tăng thuế khóa nặng nề để làm giàu ngân sách cho chính quốc Cụ thể, về công nghiệp, nếu cần được khuyến khích thì cũng chỉ nhằm bổ sung cho công nghiệp chính quốc, chứ không được làm ảnh hưởng đến sự phát triển của công nghiệp chính quốc Về phương thức hoạt động, thực dân Pháp tận dụng tối đa nguồn nhân công rẻ mạt, sử dụng đến mức tối đa lao động thủ công, kết hợp lao động thủ công với lao động cơ giới, kết hợp bóc lột tư bản chủ nghĩa với bóc lột tiền
tư bản chủ nghĩa, cốt để chi phí sản xuất giảm xuống mức thấp nhất nhằm thu được lợi nhuận cao nhất Trong công nghiệp, ngành khai thác mỏ được thực dân Pháp tập trung đầu tư vì ngành này có thể giúp Pháp nhanh chóng thu được lợi nhuận Trong ngành mỏ, khai thác than có vị trí quan trọng bậc nhất Từ năm
1883, khi Rivie chiếm khu mỏ Hồng Gai và lập ra Công ty than Hồng Gai, tư bản Pháp đã lấn lướt các tư bản người Đức, Hoa kiều, người Việt để thu lợi lớn Ngoài than, từ năm 1904, tư bản Pháp cũng khai thác các mỏ thiếc, kẽm, vàng,
đá quý Việc đầu tư vào giao thông và xây dựng đô thị cũng được thực dân Pháp quan tâm vì Pháp nhận thức được món lợi lớn cho nước Pháp từ sự đầu tư này Tính đến năm 1919, đường sắt xuyên Đông Dương đã được khánh thành xong một số đoạn quan trọng Thực dân Pháp cũng đã hoàn tất việc xây dựng 21 tuyến “đường thuộc địa” trong đó có đường xuyên Việt và đặc biệt là hệ thống cảng Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng, Vinh, Bến Thủy, và các cây cầu quan trọng Paul Doumer, Trường Tiền, Bình Lợi, cùng một số kênh như Hậu Giang, Thanh – Nghệ được mở thêm Về nông nghiệp, ngày 28/9/1897, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định mở rộng diện áp dụng quyền sở hữu cá nhân ruộng đất trên toàn lãnh thổ Theo đó, những công dân Pháp và những người được nước Pháp
Trang 28bảo hộ có đất do được ban, tặng hoặc mua lại của những người có ruộng đất, thì đất đó sẽ thuộc toàn quyền sở hữu cá nhân của họ, miễn là họ phải tuân thủ những quy định do Toàn quyền ban hành Tuy nhiên, trên thực tế, điều khoản pháp lý này đã mở đường cho tư bản thực dân Pháp chiếm hàng loạt ruộng đất của người Việt Nam
Về thương mại, thuộc địa Đông Dương được đặc biệt dành riêng cho thị trường Pháp Ban đầu, những nhà tư bản Pháp kinh doanh thương mại vấp phải
sự cạnh tranh của thương nhân Hoa kiều và ấn kiều Thế nhưng đến đầu thế kỷ
XX, thực dân Pháp đã kiểm soát hầu hết các ngành xuất nhập khẩu ở Đông Dương, đưa cán cấn ngoại thương tăng nhanh chóng Không những thế, Pháp còn thực hiện chính sách độc quyền thương mại Để độc chiếm thị trường thuộc địa,Pháp công bố các đạo luật về thương mại năm 1887 và đến năm 1892 thì coi đông dương là thuộc địa đồng hóa về thương mại và giành vị trí độc quyền cho các công ty lớn của nước Pháp Ngân hàng đông dương được độc quyền phát hành giấy bạc và kinh doanh tiền tệ Hàng hóa của Việt Nam mà Pháp cần đều phải dành cho Pháp, không được xuất sang các nước khác Những hàng hóa mà Pháp thừa ế hoặc kém phẩm chất so với hàng của các nước khác thì Việt Nam phải mua vào Việt Nam giàu than đá và khoáng sản, những nguyên liệu này được xuất sang Pháp và một số nước khác, trong khi Việt Nam lại phải nhập từ cái kim khâu, chiếc đinh đóng guốc đến đường ray, đầu máy, toa xe từ Pháp sang Sản lượng cao su Việt Nam phải xuất sang Pháp để rồi phải nhập các chế phẩm cao su từ Pháp vào Cùng với việc phát triển công nghiệp bông, vải, sợi của Pháp ở Đông Dương, thực dân Pháp đã bóp chết các ngành dệt thủ công cổ truyền của Việt Nam Các hàng mỹ nghệ xuất khẩu có giá trị như sơn mài, thêu, ren, đăng ten, khảm chạm, đan lát của Việt Nam cũng bị tư bản Pháp và Hoa kiều giữ độc quyền thu mua với giá rẻ mạt để xuất khẩu kiếm lợi nhuận cao Bên cạnh đó, thực dân Pháp cũng sử dụng tư bản Hoa kiều để lũng đoạn thị trường vì Hoa kiều có đủ sức mua hàng hóa của Pháp để bán lại ở Việt Nam hòng kiếm lời
Trang 29Về nông nghiệp, thực dân Pháp đây là ngành đầu tư ít vốn mà dễ dàng thu lợi nhuận Ngày 1/5/1900, Chính phủ Pháp ra Nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất trong luật pháp phong kiến để dễ bề cướp đoạt ruộng đất của nông dân ở Nam kỳ, Pháp vét sông đào mương, thu hút nông dân đến khai thác, rồi chiếm đoạt làm của riêng bằng cách mua với giá rẻ mạt ở Trung kỳ và Bắc kỳ, ruộng đất của nghĩa quân thời Cần Vương và Văn thân, của nông dân sơ tán đều
bị coi là “vô chủ” và bị thực dân Pháp chiếm để lập đồn điền Song, ngược lại, phương thức kinh doanh của thực dân Pháp ở các đồn điền nông nghiệp chủ yếu vẫn là phát canh thu tô theo lối bóc lột phong kiến Để khai thác nhân công thuộc địa với giá rẻ mạt, người Pháp không quan tâm đến việc sử dụng máy móc trong nông nghiệp (trừ một vài đồn điền ở Nam kỳ)
Và cũng để phục vụ kịp thời, đắc lực cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế thuộc địa, Doumer đặc biệt chú ý tới hai yếu tố chính trị “chia để trị” và
“dùng người Việt trị người Việt” Một mặt, Doumer chia cắt Việt Nam thành 3
kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) với 3 tính chất khác nhau (xứ bán bảo hộ, xứ bảo hộ và xứ trực trị) hòng phân tán lực lượng để dễ bề cai trị Mặt khác, Doumer vẫn quan tâm đến sự thống nhất của bộ máy thuộc địa toàn Đông Dương
Trong buổi đầu thiết lập chế độ thuộc địa và khai thác kinh tế, thực dân Pháp cũng đồng thời chú trọng xâm lăng văn hóa, trong đó tập trung chủ yếu vào việc nhập cơ sở vật chất kỹ thuật in ấn, tạo điều kiện để văn minh phương Tây chế ngự dần, loại bỏ dần Hán học và Nho học; đào tạo đội ngũ trí thức Tây học; cổ súy cho tư tưởng thân Pháp, vong bản
Điều này thể hiện rõ trong báo cáo của Thống sứ Bắc kỳ gửi Toàn quyền
Đông Dương ngày 1/3/1899: “Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã
chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột” Rõ ràng ngu dân về mặt giáo dục, đầu độc về mặt văn hóa là một trong
những biện pháp cai trị của thực dân Pháp Và, mục đích chính của việc xây dựng một nền giáo dục, văn hóa thuộc địa là để duy trì vĩnh viễn ách thống trị
Trang 30của thực dân Pháp, nên tuỳ theo yêu cầu chính của từng giai đoạn mà Pháp đưa
ra những chủ trương cụ thể
Đầu tiên, ý định của thực dân Pháp là muốn lợi dụng nền Nho học đã lỗi
thời Toàn quyền Paul Doumer nhận định: “Những nguyên tắc đã làm cho trong
xã hội người bản xứ, gia đình được vững mạnh, cha mẹ được kính trọng, chính quyền được tuân thủ đều được rút ra từ các sách Hán học dạy ở các trường làng Ngay từ khi học những chữ đầu tiên, họ đã được học ngay những nguyên tắc nền tảng của luân lý Nho giáo; họ khắc sâu vào lòng dạ những nguyên tắc
sẽ hướng dẫn họ trong cả cuộc đời Chính các trường làng đã đem lại cho họ nền học vấn đó” [95; 30] Từ năm 1905, Toàn quyền Paul Beau chủ trương cải
cách giáo dục, lập Hội đồng cải cách giáo dục toàn Liên bang và Nha học chính Đông Dương Riêng đối với Trung và Bắc kỳ, Paul Beau mở rộng thêm bậc tiểu học Pháp – Việt, lại còn đặt thêm bậc tiểu học bổ túc và sửa lại nền Hán học cũ thành 3 bậc: ấu học, tiểu học, trung học Chương trình khoa cử theo đó cũng được sửa đổi Bên cạnh đó, Pháp còn mở thêm các trường sư phạm ở Hà Nội, Nam Định, Huế, Gia Định; các trường chuyên nghiệp và xưởng học nghề; các trường Kỹ thuật thực hành, trường Mỹ thuật thực hành; trường Thợ máy ở Sài Gòn, Gia Định, v.v Cuối năm 1907, nhằm giành ảnh hưởng với Đông Kinh Nghĩa Thục và ngăn chặn luồng thanh niên xuất dương sang Nhật cầu học, đồng thời để củng cố thế lực của nước Pháp ở Viễn đông và loại bỏ ảnh hưởng của Trung Hoa trên đất Việt Nam, Pháp quyết định mở trường Đại học Đông Dương không ngoài mục đích đào tạo một tầng lớp tân học, “thượng lưu trí thức” mới sẵn sàng cộng tác với người Pháp Năm 1908 trường này bị đóng cửa nhưng năm 1917 thì được mở lại Với nền Hán học, kỳ thi Hương bị bãi bỏ ở Nam kỳ vào năm 1867 ở Bắc kỳ, khoa thi hương cuối cùng ở trường thi Nam Định diễn
ra vào năm 1915, ở Trung kỳ vào năm 1918 Kỳ thi Hội cũng chấm dứt vào năm
1919 ở Huế Ngày 14/6/1919, Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ các trường chữ Hán Như vậy, chế độ khoa cử phong kiến sau gần 10 thế kỷ tồn tại đã chính thức kết thúc
Trang 31Về mặt văn hóa, thực dân Pháp thi hành chính sách “bần cùng hóa” và
“ngu dân hóa”, dung dưỡng những thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè Thực dân Pháp còn mở các cơ quan thu mua và các ti bán thuốc phiện
để lập quỹ cho Phủ Toàn quyền, cũng chính là khuyến khích nạn nghiện hút ở nông thôn, hủ tục ma chay, cưới xin, tệ hương ẩm, hằn thù giữa các phe giáp, bói toán, đồng bóng, mê tín dị đoan tồn tại ngày càng nặng nề Hồ Chí Minh đã
nhận định: “Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm
quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại” [60; 9]
Về mặt xã hội, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhấtđã dẫn đến sự thay đổi tính chất xã hội Việt Nam Từ đây (từ 1897) xã hội Việt Nam đã thực sự là một xã hội thuộc địa (với cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính gồm ba kỳ: Bắc kỳ
là xứ “bán bảo hộ” của Pháp, Trung kỳ là xứ “bảo hộ”, Nam kỳ là xứ “trực trị”,
và được giữ tới năm 1945) Xã hội Việt Nam cổ truyền với kết cấu truyền thống: Nước (vua) – Làng xã - Gia đình và cơ cấu xã hội “tứ dân” (sĩ, nông, công, thương) đã thay đổi đáng kể, kéo theo là hàng loạt những thay đổi to lớn khác
* Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp (1919 - 1929)
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), tuy là nước thắng trận nhưng Pháp lại chịu nhiều tổn thất lớn Những vùng giàu có nhất nước Pháp, đặc biệt là các vùng công nghiệp phát triển, bị tàn phá nặng nề; nhiều ngành công nghiệp bị đình trệ Nước Pháp trở thành con nợ kếch xù Thực trạng khủng hoảng này đã thôi thúc chính phủ Pháp phải tìm biện cách thúc đẩy nhanh nền sản xuất trong nước đồng thời đẩy mạnh khai thác thuộc địa, nhất là ở Đông Dương, nhằm nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế
và khôi phục vị trí của nước Pháp trên trường quốc tế
Năm 1918, Toàn quyền Albert Sarraut đã dự thảo chương trình “5 năm hoạt động chính trị và kinh tế” gồm 4 điểm cho toàn Liên bang Đông Dương, nhấn mạnh việc phát triển những công cụ kinh tế và nông nghiệp; giáo dục; y tế
và sự nghiệp sức khỏe; cảnh sát và an ninh, nhất là ở những vùng xa trung tâm
Trang 32Giống như cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, mục tiêu của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai cũng vẫn là bòn rút thuộc địa để làm giàu cho chính quốc nhưng lại không cho thuộc địa có cơ hội cạnh tranh với chính quốc Song, điểm khác biệt là cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai diễn ra với một cường độ mạnh hơn, ráo riết hơn lần trước Trong Dự luật khai thác thuộc địa được Albert Sarraut trình bày trước Quốc hội Pháp ngày 12/4/1921 và được đưa vào công
trình Việc khai thác thuộc địa của Pháp xuất bản tại Paris năm 1923 thì mục
đích trọng yếu của việc khai thác thuộc địa, về mặt kinh tế, không phải chỉ nhắm đến nông phẩm nhiệt đới mà còn là những nguồn tài nguyên thiên nhiên dưới lòng đất, tức là mỏ quặng Đây chính là hai loại sản phẩm đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế chính quốc sau chiến tranh Trong Dự luật Khai thác thuộc
địa, Albert Sarraut đã viết: “Trong toàn bộ hệ thống thuộc địa của chúng ta,
chương trình này lựa chọn và nhằm vào những trung tâm chính về sản xuất nguyên liệu và thực phẩm cần cho chính quốc, những kho báu lớn về tài nguyên thiên nhiên, những vựa lúa, những vùng trồng trọt quy mô lớn, những vùng rừng đại ngàn, những vùng mỏ quặng lớn nhất, nói tóm lại những điểm chính mà nước Pháp có thể tận khai, ở mức cao nhất những nguồn lợi có ích cho nó bởi nơi đây là nguyên liệu béo, nơi kia là ngũ cốc, nơi kia nữa là bông sợi, xa hơn là đàn gia súc, nơi khác là rừng, nơi khác nữa là kim loại” Thực hiện chương
trình này, trong Dự luật khai thác thuộc địa, Albert Sarraut cũng đề ra những
biện pháp cụ thể, như: “Trước hết, tạo ra những điều kiện cho tất cả mọi cố
gắng, hệ thống hóa đường giao thông cần thiết để tiến vào những vùng trung tâm sản xuất và nối chúng với các hải cảng bằng hệ thống đường sắt Trang thiết bị cho những hải cảng đó, sao cho, có thể tạo thuận lợi dễ dàng cho việc vận chuyển lớn bằng đường biển Tăng khả năng sản xuất hiện có của những vùng được nhằm vào, mở rộng diện tích khai thác, đưa chúng vào trồng trọt, tăng số lượng sản phẩm, giá trị và chủng loại đối với những thứ mà cả trong lòng đất và trên mặt đất có thể cung cấp, hoặc là bằng những phương tiện tưới tiêu, hoặc là bằng việc trồng trọt được cơ khí hóa, hoặc là bằng những nguồn tài nguyên được khai thác một cách khoa học ”
Trang 33Về vốn đầu tư, nếu như trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Pháp chủ yếu sử dụng vốn đầu tư của tư bản nhà nước thì trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, vốn đầu tư của tư bản tư nhân đứng vị trí hàng đầu Theo nhà sử học Joseph Buttinger, trước chiến tranh, nền kinh tế Việt Nam thuộc địa đã để mặc cho tư bản tư nhân phát triển nhưng đã không tỏ rõ chút năng động nào Trong 32 năm (1888-1920), đầu tư của tư bản tư nhân chỉ đạt 500 triệu francs vàng và 98,4 triệu đồng tương đương với 492 triệu francs vàng, rải ra trên các lĩnh vực kỹ nghệ mỏ, vận tải, thương mại, nông nghiệp [14; 188] Thế nhưng sau chiến tranh, vốn đầu tư của tư bản tư nhân trở thành khu vực quan trọng nhất ở Đông Dương Theo Jacques Marseille, “trong những năm 20 của thế kỷ XX, các công ty thuộc địa chiếm gần 70% toàn bộ số vốn mà chính quốc đổ ra nước ngoài, trong khi vào năm 1913, thì tỷ lệ đó chỉ là 25% [121; 120]
Các lĩnh vực đầu tư của Pháp đối với Việt Nam thời kỳ này cũng có sự thay đổi vị trí rất lớn Nếu như ở cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, ngành khai khoáng chiếm vị trí hàng đầu, thì trong cuộc khai thác thuộc địa lần này, vị trí đó thuộc về ngành nông nghiệp Nền kinh tế nông nghiệp thuộc địa bị khai thác một cách tổng lực, trong đó, Pháp đặc biệt chú trọng khu vực đồn điền, bởi khu vực này cho phép các nhà tư bản và các công ty tư bản thực hiện được vốn đầu tư trên quy mô lớn và theo đúng định hướng của việc sản xuất lúc bấy giờ Chỉ có điều, phương thức khai thác được các chủ đồn điền người Pháp và người Việt vận dụng vẫn là lối phát canh thu tô kiểu phong kiến và tiền tư bản, nhằm mục đích bóc lột lao động sống, không quan tâm tới đầu tư kỹ thuật
Thế nhưng, đối với ngành kinh tế công nghiệp, Pháp không có ý định
“công nghiệp hóa” xứ Đông Dương hoặc tạo cho xứ này những cơ sở của một nền công nghiệp, tức là phát triển những ngành công nghiệp hạ tầng, mang tính chất chủ lực như công nghiệp điện, công nghiệp luyện kim, cơ khí Lý do của tình trạng này là do Pháp đặt mục tiêu thực lợi lên trên hết Tuy nhiên, vì lợi nhuận và nhu cầu của giới tư bản chính quốc sau chiến tranh mà một số ngành công nghiệp của Việt Nam đã có biểu hiện phát triển, nhưng chủ yếu là những ngành cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp chính quốc, ví dụ như công
Trang 34nghiệp mỏ, công nghiệp tơ lụa, công nghiệp chế biến sản phẩm mỏ và trong chừng mực nhất định là những ngành sản xuất ra các vật phẩm tiêu dùng tại thuộc địa mà trước đây phải nhập từ chính quốc cùng những ngành công nghiệp phục vụ dân sinh (điện, nước) do nhu cầu phát triển đô thị và mở rộng các khu kinh tế
Về thương nghiệp, ngoại thương là lĩnh vực buôn bán mà người Pháp độc quyền Thực dân Pháp dùng hàng rào thuế quan để bảo hộ hàng hóa chính quốc, bằng cách đánh thuế cao hàng hóa nước ngoài, đặc biệt là hàng hóa Trung Quốc
và Nhật Bản nhằm hạn chế đến mức tối đa hàng hóa của nước ngoài nhập vào Đông Dương, tạo điều kiện tốt nhất cho hàng hóa Pháp tràn ngập thị trường Việt Nam Nếu như trước chiến tranh thế giới thứ nhất, thị phần hàng hóa của Pháp ở Đông Dương chiếm 37% thì đến cuối năm 1920 đã lên tới 63% Đặc trưng của nền thương mại thuộc địa được phản ánh rõ nét trong cơ cấu xuất – nhập khẩu: xuất những mặt hàng nguyên liệu, nông sản sang chính quốc và nhập những mặt hàng công nghiệp, kỹ thuật, tiêu dùng cao cấp từ chính quốc sang thuộc địa Bao trùm và chi phối toàn bộ đời sống kinh tế Đông Dương là hệ thống ngân hàng,
mà đứng đầu là Ngân hàng Đông Dương Ngân hàng này, ngoài chức năng độc quyền phát hành giấy bạc, đã chỉ đạo các ngân hàng khác trong việc cho vay lãi, góp vốn thành lập các công ty, đồn điền, nhà máy
Bên cạnh đó, ở các thuộc địa, Pháp cũng tiến hành một số cải cách chính trị nhằm đối phó với biến động và hỗ trợ đắc lực cho chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai Về thực chất, mục tiêu của các cuộc cải cách nhỏ giọt đó, không gì khác, ngoài việc nới rộng nền tảng xã hội cho chế độ thuộc địa Chẳng hạn, trong khu vực nông thôn, thực dân Pháp tiến hành “cải lương hương chính” nhằm từng bước can thiệp vào làng xã, loại bỏ dần tính chất tự trị của nó Thật
ra, trước đó, ngay từ năm 1904, bằng Nghị định Toàn quyền ngày 27/8, việc tổ chức lại bộ máy hành chính làng xã đã được tiến hành lần đầu tiên ở Nam kỳ Thế nhưng, phải đợi đến sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, khi mà cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, có quy mô lớn được mở ra trên phạm vi toàn Đông Dương, dựa trên cái gọi là “chính sách bản xứ” hay “chính sách hợp tác với
Trang 35người bản xứ” thì việc tổ chức lại bộ máy làng xã mới được đặt ra ráo riết Lần này, công cuộc cải lương hương chính được thực hiện trên hai xứ Bắc kỳ và Nam kỳ với nội dung: Tổ chức lại bộ máy hành chính theo hướng thực dân hóa (tân học hóa, viên chức hóa, tư sản hóa và pháp chế hóa); thống nhất quản lý tài sản và tài chính của các làng để tránh sự tuỳ tiện của chức dịch trong việc sử dụng đất công làng xã, v.v Tất cả đều nhằm đạt mục tiêu biến làng xã, mà đại diện là bộ máy chính quyền, thành một công cụ hữu hiệu trong tay chính quyền thuộc địa để khống chế và điều khiển khối đại đa số quần chúng, làm lợi cho chế
độ thuộc địa Xu hướng thực dân hóa trong việc tổ chức lại bộ máy hành chính làng xã được thể hiện trước hết ở việc thay thế bộ máy chính quyền cũ, trong đó các thành viên hội đồng có chức trách riêng Ví dụ, Nghị định ngày 12/8/1921 lập ra Hội đồng tộc biểu (còn gọi là Hương hội) ở Bắc kỳ, trên cơ sở những tiêu chuẩn và phương pháp lựa chọn, đã hoàn toàn phủ nhận vai trò các kỳ mục Mục đích của việc này là khơi lại vai trò truyền thống của gia đình, dòng họ ở nông thôn, dựa vào đó để quản lý làng xã Số thành viên của Hội đồng tộc biểu, tối đa
là 20, tối thiểu là 4 Đứng đầu hội đồng tộc biểu là chánh và phó chánh hương hội Hội đồng này vừa là cơ quan quyết nghị vừa là cơ quan chấp hành Hội đồng tộc biểu có nhiệm kỳ 3 năm chứ không vô hạn định như Hội đồng kỳ mục trước đây và có chức năng rộng rãi là quản trị mọi mặt đời sống của làng xã, thi hành những mệnh lệnh của nhà nước, đặt lệ làng, phân bổ công điền, sưu thuế, ngân sách Nghị định ngày 12/8/1921 không thừa nhận vai trò của các tiên thứ chỉ, mà khẳng định vai trò của chánh hương hội Nghị định thay thế Hội đồng tộc biểu cho Hội đồng kỳ mục đã gây ra sự xáo trộn lớn về nhân sự, tâm lý, tập quán Vì điều đó, Bắc kỳ chứng kiến cuộc cải cách lần thứ hai thông qua Nghị định ban hành năm 1927 Tinh thần cơ bản của văn bản này là sự thỏa hiệp của chính quyền thuộc địa đối với cơ chế truyền thống của làng xã đã bị tước bỏ từ năm 1921 Nghị định năm 1927 lập lại Hội đồng kỳ mục, cho phép Hội đồng này tồn tại bên cạnh Hội đồng tộc biểu mới được lập ra, với chức năng tư vấn, giám sát hoạt động của Hội đồng tộc biểu Nhiệm kỳ của Hội đồng tộc biểu giờ cũng được kéo dài thành 6 năm thay vì 3 năm theo quy định cũ Một khía cạnh
Trang 36khác biểu hiện xu hướng cải cách trong việc tổ chức hệ thống chính quyền làng
xã là tiêu chuẩn tuyển chọn các thành viên Ngoài việc duy trì một số tiêu chuẩn truyền thống, chính quyền thuộc địa dần dần đưa vào những tiêu chuẩn mới nhằm cách tân từng bước thành phần hội đồng Nghị định năm 1927 quy định thành viên Hội đồng tộc biểu ở Bắc kỳ phải là “những người có học, từ 25 tuổi trở lên ” và để được bầu vào Hội đồng kỳ mục thì phải là những người “có bằng cựu hoặc tân học, có phẩm hàm văn giai hoặc võ giai – cựu chánh, phó tổng hiện cư ngụ tại xã - chánh hương hội đã qua 6 năm làm việc làng – cựu lý trưởng từ dịch có tối thiểu 3 năm làm việc làng” Còn ở Nam kỳ, bên cạnh địa chủ – thành phần vốn có, Nghị định ngày 30/10/1927 thể hiện xu hướng viên chức hóa các thành viên Hội đồng kỳ mục bằng những người từng làm việc trong bộ máy hành chính thuộc địa, có quyền lợi gắn với chính quyền thực dân
và đã quen làm việc trong các cơ quan hành chính đồng thời tăng cường vai trò đàn áp của bộ máy làng xã bằng việc thu nạp những người từng tham gia bộ máy đàn áp ở các cấp trên Xu hướng viên chức hóa bộ máy hành chính cấp xã còn thể hiện qua việc trả lương dưới hình thức tiền lưu trú và tiền thù lao công cán cho những chức dịch trong bộ máy chính quyền làng xã khi thi hành công vụ Cuộc cải lương hương chính trong giai đoạn này cũng bộc lộ rõ ý đồ nắm chặt hơn bộ máy chính quyền làng xã thông qua những quy định về sự giám sát, kiểm soát và điều khiển một cách sát sao mọi hoạt động của làng xã Đây là biểu hiện của tính hiện đại hóa của bộ máy chính quyền làng xã, làm cho nó mất dần tính biệt lập, ly khai, đối lập, và thậm chí chống lại chính quyền cấp trên, qua “lệ làng” Ngoài việc cải cách bộ máy hành chính, việc quản lý các nguồn ngân sách làng xã cũng là một nội dung của cuộc cải lương hương chính ở Bắc kỳ và Nam
kỳ Theo đó, chính quyền thuộc địa từng bước chi phối lĩnh vực tài chính của làng xã, nhằm ngăn ngừa tình trạng tuỳ tiện, quá lạm, giấu diếm, tham nhũng của hàng ngũ chức dịch, cường hào bằng các văn bản lập ra các chức danh thủ quỹ, hương bản chuyên trách việc thu chi, tổ chức “đạc điền” hay quy định gửi vào ngân hàng các khoản tiền dự trữ của làng xã Theo đó, đối với tài sản công của làng, chính quyền chỉ giao cho Hội đồng kỳ mục quản lý; còn quyền cho
Trang 37thuê, cho lĩnh canh, bán ruộng công của làng đều do chính quyền cấp tỉnh hay cấp xứ quyết định Mọi khoản thu, chi, Hội đồng kỳ mục phải lập thành chương mục hẳn hoi và phải đệ trình lên chính quyền cấp tỉnh phê duyệt, v.v Những điều này cho thấy chính quyền thuộc địa rất quan tâm đến bộ máy quản trị xã thôn ở Việt nam, bởi đó là chính quyền cấp cơ sở trực tiếp, và bởi chỉ có nắm chắc bộ máy chính quyền này, thực dân Pháp mới mong thực hiện được các kế hoạch khai thác thuộc địa và củng cố chế độ thực dân Mặt khác, cũng không thể phủ nhận một số điểm có thể coi là tiến bộ, là thành công của chủ trương cải lương hương chính của chính quyền thuộc địa Và đó cũng là lý do tại sao một
số lực lượng dân chủ, tiến bộ, về mặt sách lược, đã coi một số điểm trong chính sách cải lương hương chính của thực dân là chỗ dựa hợp pháp để vận động
phong trào dân chủ Trên Đông pháp thời báo số ra ngày 14/3/1927, Phan Bội
Châu cũng đã nhiệt thành lên tiếng khuyên các làng cải lương hương tục Trong khi đó, ở khu vực trung ương và thành thị, các viện dân biểu Bắc kỳ, Trung kỳ được thành lập, các phòng thương mại và canh nông được mở rộng cho người Việt tham gia Năm 1928, thực dân Pháp còn lập ra Đại hội đồng Kinh tế, Tài chính Đông Dương với tư cách là cơ quan tham vấn về vấn đề kinh tế, tài chính trong Liên bang Đông Dương Thực dân Pháp cũng nới rộng một số quyền lợi cho các tầng lớp trên, tạo mảnh đất tốt cho chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề cũng như tạo sự ổn định chính trị để thu hút vốn đầu tư vào Đông Dương nhằm thực hiện hiệu quả chương trình khai thác thuộc địa
Toàn quyền Albert Sarraut, trong một buổi tiệc trà tại Hội Khai trí Tiến
Đức ngày 27/4/1919, đã nói: “ nghĩa vụ cần nhất của chúng tôi là phải dạy
cho bọn thượng lưu ngày càng có học, ngày càng đông thêm lên, biết cái danh nghĩa làm dân, vừa có quyền lợi vừa có nghĩa vụ, khiến cho những người nào tài giỏi có thể cùng chúng tôi ra cáng đáng cái trách nhiệm nặng nề trong việc cai trị xứ này Trong một nước, thế nào cũng phải có bọn thượng lưu thì mới sống được Phải có bọn thượng lưu thì mới vừa có tiến hóa mà vừa giữ được trật tự, giữ được kỷ luật trong nước Phàm cái dân quyền và nhất là dân quyền
An nam, lại cần phải có trật tự lắm, vậy thời phải có bọn thượng lưu để mà duy
Trang 38trì cái trật tự đó Phá đổ bọn thượng lưu đi là một sự cuồng dại Hạn chế bọn thượng lưu là một sự nguy hiểm vì nếu hạn chế lại thì bọn thượng lưu thành bọn hào trưởng, chỉ biết lợi riêng mình và hay áp bức kẻ bần dân Phàm Chính phủ giữ đạo công bằng, muốn theo phép khôn ngoan thì phải tìm đường mở rộng lần lần cái bọn thượng lưu ấy ra, xem cái trình độ của dân đã cao, lòng trung thành của dân đã chắc thì phải liệu mà ban những quyền lợi tương đương cho xứng đáng ” [Bài diễn thuyết của Albert Sarraut tại tiệc trà Hội Khai trí Tiến Đức, Nam Phong, số 22, ngày 27/4/1919] Bởi lẽ, muốn cai trị, trước hết, người Pháp
cần một sự “yên ổn” về chính trị, có nghĩa là cần dẹp hết mọi tư tưởng phản kháng trong dân chúng và tạo ra những người “đầy tớ” tận tụy, trung thành, những tầng lớp thượng lưu, ưu tú đủ sức lôi kéo các thành phần xã hội khác Cũng do vậy, chương trình mở đầu cho nhiệm kỳ đầu tiên của Toàn quyền Albert Sarraut ở xứ Đông Dương chính là chương trình về “hợp tác với người bản xứ”
Vị Toàn quyền này nói: “Phải tôn trọng một cách thành thật truyền
thống, phong tục, thiết chế của người bản xứ, trung thành với quan niệm về chế
độ bảo hộ, đảm bảo thực hiện tự do những hiệp ước, nhưng mặt khác, đảm bảo thực hành những quyền hạn mà chính quyền của nước Pháp đã phó thác cho đại diện của mình, hướng những người dân bảo hộ của chúng ta tới những tiến bộ
về vật chất, đưa vào áp dụng trong bộ máy hành chính những quy tắc lớn của những nước đã được khai hóa văn minh, cứu thoát sự tự do cá nhân , xóa bỏ những phong tục ngàn đời , nhân rộng các trường học, sự nghiệp y tế, bảo đảm quyền lợi của những viên chức bản xứ, đảm bảo sự công bằng, nới rộng sự tham gia của dân chúng vào việc quản lý đất nước” [121; 39]
Tờ Đông phương số ra ngày 6/9/1930 dẫn lời đại tá Digne, một quan chức
ngạch quân sự tại Đông Dương, phát biểu rằng: “ mọi sự cải cách, những sự
cốt để thu phục lấy nhân tâm của các dân tộc bảo hộ của ta Về phương diện
xã hội thì ta tỏ cách tử tế với các quan chức bản xứ, những chức dịch ta nên tỏ lòng trọng đãi cho xứng đáng ”
Trang 39Chương trình khai thác thuộc địa theo kiểu “hợp tác” này được Albert Sarraut thể chế hóa ở Đông Dương bằng một số chính sách về kinh tế và xã hội, thể hiện qua những cải cách nhỏ giọt về hành chính, giáo dục, y tế Chẳng hạn, người Việt tức người “bản xứ” được hưởng nhiều hơn các phúc lợi công cộng Còn theo Nghị định Toàn quyền được ban hành từ ngày 27/12/1913, người dân cũng được tham gia vào việc xin cấp nhượng, khai khẩn đất hoang và được quyền sở hữu đối với những đất đai đã khai thác được Với những “cải cách”
kiểu này, người Pháp mong muốn: “ nước Pháp sẽ mở rộng sự bảo hộ của
mình bằng sức mạnh vật chất và phẩm cách, nước Pháp sẽ đem lại cho Đông Dương nền an ninh và hạnh phúc, một nền pháp lý công minh, sẽ phát triển nền giáo dục và bảo vệ sức khỏe, sẽ gắn họ theo cấp bậc trong một sự hợp tác tự do
vì quyền lợi chung với trách nhiệm tập thể của việc quản lý nó Sự hợp tác được thử thách này là sự nghiệp của ngày mai Việc khai thác Đông Dương là một nghĩa vụ Cần phải vượt lên những đổ nát của chúng ta và lấy lại vị trí của chúng ta trong cái hiệp đồng các dân tộc” Và tất cả đều nhắm tới mục đích
cuối cùng: “Biến Đông Dương thành một xứ thuộc Pháp, tránh để Đông Dương
thành một xứ Đông Dương thuộc Trung Hoa” [theo báo Đông phương, số 221,
ra ngày 6/9/1930]
Những năm 1925-1926, trong cuộc tranh luận quyết liệt giũa những người Việt Nam mà một bên chủ trương và một bên phản đối chính sách “hợp tác” hay
là chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề, trên tờ L‟Annam, số 121, ra ngày 3/12/1926,
Hồ Hải Từ đã viết: “Mục đích ích kỷ của những người Pháp khi họ kêu gọi hợp
tác, thì không cần chứng minh cũng thấy rõ lắm rồi Họ cần nhân công bản xứ
để khai thác tài nguyên xứ ta làm giàu cho họ; họ cần chúng ta để bán hàng hóa của họ, thương mại của họ sẽ sụp đổ nếu chúng ta tẩy chay; mộng đế quốc của
họ sẽ tan vỡ nếu chúng ta thực hiện bất hợp tác toàn diện Bằng lời lẽ quỷ quyệt,
họ yêu cầu chúng ta giúp họ để bóc lột chúng ta Bằng cớ chứng minh rõ nhất rằng họ dối trá chính là ở chỗ họ không bao giờ xác định đến mức rõ ràg cần thiết thế nào là sự “hợp tác”, chỉ dùng những từ như “chân thành”, “không mưu mô thầm kín” mà họ hiểu một cách khác” [139; 472]
Trang 40GS Trần Văn Giàu đã nói về tác hại của “chính sách hợp tác” này: “Dù
sao ảnh hưởng của những bài diễn văn của Sarraut khá rộng rãi và khá lâu dài, một lúc nó đánh lừa được nhiều người, kể cả nhiều người yêu nước chân thật,
nó là một nguồn cảm hứng lý luận cho bọn truyền bá chủ nghĩa dân tộc cải lương ngoài Bắc và trong Nam suốt thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới” [139; 507] Còn theo nhận định của Viện Sử học thì sự ngập ngừng, dè
sẻn, vụn vặt và mâu thuẫn trong việc hoạch định một chính sách thuộc địa nói chung, chính sách “hợp tác” nói riêng, thể hiện sự lúng túng, sự mâu thuẫn trong giói thực dân và điều đó đã làm cho nền kinh tế và xã hội thuộc địa chỉ phát triển
và phân hóa trong tình trạng nửa vời, thiếu triệt để, co kéo giữa xu hướng cách tân và bảo thủ, còn phong trào giải phóng thuộc địa thì giằng co giữa các khuynh hướng cách mạng, ôn hòa và cải lương, với các trào lưu tư tưởng diễn biến hết sức phức tạp gắn liền với các tầng lớp xã hội và các bộ phận dân cư khác nhau, trong đó tư tưởng “hợp tác” hay là “chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề” không phải là
đã không “phát huy” những tiêu cực của nó trong các tầng lớp xã hội [121; 47]
Dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, cơ cấu kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội và hệ tư tưởng Việt Nam có những biến chuyển biến mạnh mẽ về chất (sẽ trình bày trong phần dưới đây)
Như vậy, trên nền tảng bối cảnh quốc tế và trong nước cùng hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam và ảnh hưởng mạnh mẽ của nó, Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX đã có những tiền đề trực tiếp cho cuộc tiếp biến văn hóa Đông – Tây
1.1.2.2.2 Tác động từ hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đến cuộc tiếp biến văn hóa Đông Tây ở Việt Nam
Tiền đề kinh tế:
Việc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp cùng với việc xây dựng những
cơ sở vật chất, kinh tế, kỹ thuật, trong một chừng mực nào đó đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam phát triển trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp