Từ chốn buồng the, từ nơi cung cấm, từnhững công việc nội trợ bếp núc nhiều phụ nữ đã tìm cách thoát khỏi ngưỡngcửa của nhà mình, vươn tới hòa nhập với sự thay đổi của xã hội bằng cáchth
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất có thể, đượccác đồng tác giả cho phép sử dụng Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất
xứ rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu củamình
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2018
Tác giả
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 9
7. Cấu trúc luận văn: Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển khai thành 3 chương: 9
Chương 1:BỐI CẢNH XÃ HỘI ĐẦU THẾ KỈ XX VÀ SỰ NGHIỆP ĐẠM PHƯƠNG NỮ SỬ 11
1.1 Xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX và vấn đề phụ nữ 11
1.1.1 Xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX 11
1.1.2 Sự xuất hiện vấn đề phụ nữ ở Việt Nam đầu thế kỷ XX 12
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp Đạm Phương nữ sử 15
1.2.1 Tiểu sử Đạm Phương nữ sử 15
1.2.2 Sự nghiệp Đạm Phương nữ sử 18
1.3.3 Một số chủ đề trong trước tác của Đạm Phương nữ sử 20
Tiểu kết chương 1 22
Chương 2:QUAN ĐIỂM VỀ VẤN ĐỀ PHỤ VÀ CHUYÊN KHẢO CỦA ĐẠM PHƯƠNG NỮ TRONG CÁC BÀI BÁO NỮ SỬ 24
2.1 Vấn đề phụ nữ trong xã hội Việt Nam 24
2.1.1 Vấn đề phụ nữ trong xã hội Việt Nam truyền thống 24
2.1.2 Tiếp xúc với phương Tây và sự nổi lên của vấn đề phụ nữ ở Việt Nam đầu thế kỷ XX 27
2.2 Quan điểm của Đạm Phương về vấn đề phụ nữ 31
2.2.1 Vấn đề phẩm hạnh của người phụ nữ 34
2.2.2 Vấn đề chữ trinh và danh tiếng
Trang 32.2.3 Vấn đề quan hệ trong gia đình và đạo vợ chồng 46
Tiểu kết chương 2 53
Chương 3:HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TRƯỚC TÁC CỦA ĐẠM PHƯƠNG NỮ SỬ 54
3.1 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Đạm Phương nữ sử 54
3.1.1 Thơ vịnh sử 54
3.1.2 Thơ về tình bạn 58
3.1.3 Thơ về người phụ nữ 62
3.2 Hình tượng người phụ nữ trong văn xuôi của Đạm Phương nữ sử 65 Tiểu kết chương 3 72
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu thế kỷ XX, khi nền văn hóa Phương Tây du nhập vào việt Nam,vai trò người phụ nữ trong xã hội bắt đầu chuyển động, từng bước có nhữngthay đổi theo xu hướng tiến bộ Từ chốn buồng the, từ nơi cung cấm, từnhững công việc nội trợ bếp núc nhiều phụ nữ đã tìm cách thoát khỏi ngưỡngcửa của nhà mình, vươn tới hòa nhập với sự thay đổi của xã hội bằng cáchtham gia vào các công việc xã hội mà trước đó chỉ có nam giới mới được làm
và làm được như: viết văn, làm báo, dịch thuật, diễn thuyết, hoạt động cáchmạng,… Đại diện cho giới phụ nữ tiến bộ là những tên tuổi như: SươngNguyệt Anh, Đạm Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Nguyễn Thị MinhKhai,… Trong đó, Đạm Phương nữ sử là một bậc nữ lưu có nhiều đóng gópnổi bật Đặt Đạm Phương nữ sử trong hoàn cảnh lịch sử, thời đại mà bà sinhsống ta càng thêm khâm phục và trân quý con người và những quan điểm, tưtưởng tiến bộ của bà
Tuy nhiên, cho đến nay những hoạt động và cống hiến của bà vẫn chưađược nhiều người biết đến Thế hệ chúng ta hiện nay dường như chỉ biết về bàvới tư cách là cháu nội của vua Minh Mạng, là người đã sinh ra và nuôi dưỡngnhà lý luận văn nghệ mác-xít nổi tiếng là Hải Triều Nguyễn Khoa Văn và là
bà nội của nhà thơ - Bộ trưởng Nguyễn Khoa Điềm, chứ chúng ta vẫn chưađược tường tận về bà trong tư cách một nữ quý tộc có tinh thần can đảm, có tưtưởng canh tân và lòng yêu nước nồng nàn, có uy tín lớn trong xã hội, có ảnhhưởng sâu rộng trong quần chúng; cũng như một bậc nữ lưu có nhiều đónggóp cho việc canh tân văn hóa nước nhà
Chính vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Vấn đề phụ nữ trong trước tác của Đạm Phương nữ sử” với mong muốn để tìm hiểu và ghi nhận
Trang 5những đóng góp của bà trong sự phát triển, đổi mới tư tưởng, văn hóa, vănhọc nước nhà ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt là vấn đề phụ nữ và nữquyền ở nước ta giai đoạn này.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề
tài 2.1 Về lịch sử sưu tầm tài liệu
Các bài viết của Đạm Phương nữ sử, nhiều bài sau này được bà tái cấutrúc, viết thêm một số bài có cùng chủ đề và đã được xuất bản, in thành sách ởgiai đoạn trước 1945 như: công trình “Bàn về giáo dục con gái”, “Gia đìnhgiáo dục thường đàm” của Đạm Phương nữ sử được Nữ lưu thơ quán GòCông của bà Phan Thị Bạch Vân xuất bản năm 1928; cuốn “Phụ nữ dự giađình” và tiểu thuyết “Hồng Phấn tương tri” cũng được ấn hành tại cơ sở nàynăm 1929; “Giáo dục nhi đồng”, cuốn khảo cứu công phu nhất của bà, đượcnhà in Lê Cường ( Hà Nội) xuất bản năm 1942, với lời tựa của Phạm Quỳnh.Tuy nhiên, các công trình này, nhất là các bài báo, thường không đượcngười đời sau biết đến do khó tiếp cận với tư liệu báo chí, sách vở đương thời.Cuối thế kỷ XX, nghiên cứu và sưu tầm trước tác của Đạm Phương nữ
sử mới được tiến hành
Năm 1995, Cửu Thọ và Nguyễn Khoa Diệu Biên xuất bản cuốn “ĐạmPhương nữ sử” tại Nhà xuất bản Trẻ (thành phố Hồ Chí Minh) Cuốn sách này
đã giới thiệu khái quát gia thế, cuộc đời, sự nghiệp và dẫn 29 bài thơ và từ, 24 bài báo và một chương trong sách Giáo dục nhi đồng của bà.
Tuy nhiên, người có nhiều đóng góp vào quá trình sưu tầm trước tác của
bà là học giả Lê Thanh Hiền Những năm 80 của thế kỷ XX ông đã khảo sát
các báo và tạp chí giai đoạn trước 1945 và thường thấy bút danh Đạm Phương nữ sử Từ đó học giả Lê Thanh Hiền đã chú ý đến các bài viết với bút
danh
Trang 6Đạm Phương nữ sử Năm 1999, Nhà xuất bản Văn học đã xuất bản cuốn
Tuyển tập Đạm Phương nữ sử do Lê Thanh Hiền sưu tầm, tuyển chọn giới
thiệu Sự ra đời của cuốn sách ghi nhận những cố gắng lớn của học giả LêThanh Hiền và nhà xuất bản Văn học
Sang những năm đầu của thế kỷ XXI công việc sưu tầm các trước tác củaĐạm Phương nữ sử đã được các thế hệ đời sau của bà thực hiện Năm 2010,với những nỗ lực, tìm kiếm, sưu tầm, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm (cháu nộicủa Đạm Phương nữ sử ) đã có hàng trăm trang viết với chú thích rất công
phu, sửa chữa những đoạn văn sai, thiếu sót Tháng 12 năm 2010, Tuyển tập Đạm Phương nữ sử do Lê Thanh Hiền sưu tầm biên soạn và giới thiệu đã
được Nguyễn Khoa Điềm sửa chữa, bổ sung và nhà xuất bản Văn học tái bản
1000 cuốn
Tháng 1 năm 2011, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lại sưu tập được thêm
rất nhiều bài viết về Đạm Phương trên tờ Lục tỉnh tân văn Và trong Hội thảo
khoa học kỷ niệm 130 năm ngày sinh Đạm Phương nữ sử được tổ chức tạiHuế ngày 18 tháng 06 năm 2011, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã công bố tư
liệu này.
Gần đây nhất, ngày 28 tháng 2 tại Trung tâm văn hóa Pháp (Hà Nội),
Nhà xuất bản Phụ Nữ đã tổ chức buổi tọa đàm giới thiệu cuốn sách “Đạm Phương nữ sử - vấn đề phụ nữ ở nước ta”, với sự tham gia của nhà thơ
Nguyễn Khoa Điềm – cháu nội của Đạm Phương nữ sử, nhà nghiên cứu PhạmXuân Nguyên, Tiến sĩ Bùi Trân Phượng – nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa vàlịch sử phụ nữ Việt Nam, nhà nghiên cứu văn học Đoàn Ánh Dương – ngườituyển chọn, giới thiệu cuốn sách
“Đạm Phương nữ sử - vấn đề phụ nữ ở nước ta” sưu tầm tuyển chọn,
giới thiệu dày 670 trang, khổ 15.5x23.2cm, tập trung giới thiệu các bài viết về
Trang 7vấn đề phụ nữ của Đạm Phương Lời giới thiệu nhấn mạnh: “Những tư liệu vềĐạm Phương cho thấy một tư duy nhạy bén, một ý chí quả quyết, một thái độcầu thị, và một tinh thần hăng say, một tấm lòng nồng nhiệt cho sự tiến bộ củaphụ nữ Việt Nam những năm giao thời”.
Cuốn sách được chia làm bốn phần Phần đầu tập hợp các bài báo của bà
Đạm Phương đăng trên: Nam Phong tạp chí, Lục tỉnh tân văn, Trung Bắc tân văn, Hữu Thanh,… về vấn đề nữ học Phần hai tập hợp các biên khảo công
phu của bà Phần ba tập trung vào những bài viết của Đạm Phương, cácnghiên cứu thời đó về Nữ công học hội (Hội phụ nữ đầu tiên do bà ĐạmPhương tổ chức, hoạt động rất bài bản, hiệu quả tại Việt Nam đầu thế kỷ XX).Đây là cách bà thực hành những quan điểm về vấn đề phụ nữ ở phần đầu.Phần bốn tập trung những sáng tác hư cấu của bà gồm thơ, câu đối, tiểu thuyết
về phụ nữ của bà
Việc sưu tầm trước tác của Đạm Phương nữ sử là một quá trình đòi hỏithời gian, sự công phu của gia đình và các nhà nghiên cứu Tuy nhiên để hoànthiện đầy đủ hơn về các bài viết, các khảo cứu trước tác của bà để lại thì côngviệc sưu tầm xuất bản sẽ được nghiên cứu nhiều hơn nữa trong tương lai gần
2.2 Về lịch sử nghiên cứu
Nhìn vào sự nghiệp đồ sộ của Đạm Phương nữ sử, những quan thiết của
bà tới vấn đề phụ nữ, trong đó chú trọng tới việc giáo dục phụ nữ và trẻ em,vấn đề nữ tính và nữ quyền, câu hỏi đặt ra là: Đạm Phương giữ một vị trí rasao trong sự chuyển mình của xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX nhất là khivấn đề phụ nữ mà bà trực diện luôn được xem trọng?
Theo nhà nghiên cứu Đoàn Ánh Dương trong lời giới thiệu cuốn sách
Đạm Phương nữ sử: vấn đề phụ nữ ở nước ta, nghiên cứu về vấn đề phụ nữ ở
Trang 8Việt Nam đã được tiến hành khá sớm Người mở đầu cho hướng tiếp cận này
là sử gia David G.Marr Nghiên cứu vấn đề phụ nữ ở Việt Nam những thậpniên đầu của quá trình hiện đại hóa đầu thế kỷ XX, ông đã nhìn nhận ĐạmPhương chủ yếu ở phương diện hoạt động phụ nữ của bà ở Nữ công học hội,khi khảo sát các thảo luận về quyền phụ nữ (women’s rights) được tiến hànhtrên báo chí Việt Nam trước 1945, từ các bài viết của các bỉnh bút là nam giớiđến các bài viết và báo chí do phụ nữ trực tiếp thực hiện
Sau đó, khởi đi từ những quan tâm của Marr, một tiểu luận khác củaShawn McHale về địa vị của phụ nữ trong xã hội thể hiện trong các cuộctranh luận trên báo chí Việt Nam đầu thề kỷ XX cũng được xuất bản trong ấnphẩm của Chương trình nghiên cứu Đông Á của Đại Học Cornell về quá khứViệt Nam Đó là bài viết: “Printing and Power: Vietnamese Debates overWomen’s Place in Society, 1918-1934” Ở trong nước, bao quát đời sống báochí quốc ngữ ở Việt Nam trước 1945, Đặng Thị Vân Chi cũng xuất bản công
trình có nhiều đóng góp: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm
1945 (Nxb Khoa học xã hội, H., 2008) Vấn đề ít nhiều trở lại có hệ thống
trong luận án của Bùi Trân Phượng, Việt Nam 1918 – 1945, genre etmoderrnité Emergence de nouvelles perceptions et expérimentations (ViệtNam 1918 -1945, giới tính và hiện đại Sự trỗi dậy của những nhận thức mới
và kinh nghiệm mới), được bảo vệ thành công tại Đại học Lyon II (Pháp) năm
2008, mà một toát yếu bằng Tiếng Việt đã được tác giả công bố trên tạp chíthời đại mới: “Việt Nam 1918-1945, giới tính và hiện đại: sự trỗi dậy củanhững nhận thức mới và kinh nghiệm mới (số 18, tháng 3/2010)” Ở đây, tácgiả đã xếp Đạm Phương vào xu hướng nữ quyền chính trị xã hội (bên cạnh nữ
quyền về văn hóa mà Phụ nữ tân văn là đại diện) khi nhìn nhận bà như một
nhà hoạt động nữ quyền không rứt đứt với những tác động của cách tân chịu
Trang 9tác động của Tân thư, Tân văn kết tập với kinh nghiệm đọc khác, từ một trảinghiệm giới khác.
Nhân dịp kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Đạm Phương nữ sử một cuộchội thảo cấp quốc gia đã hội tụ rất nhiều các nhà khoa học đầu ngành ở nhiềulĩnh vực khác nhau Các tham luận đã nhấn mạnh đến các khía cạnh: các hoạtđộng về văn hóa, hoạt động giáo dục, hoạt động lĩnh vực báo chí và sự nghiệpsáng tác thơ văn của Đạm Phương nữ sử Năm sau, 2012, từ các tham luận dựhội thảo này, một tập hợp các nghiên cứu về bà đã được Ban tổ chức Hội thảo
ấn hành: Đạm Phương nữ sử - Chân dung nhà văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ
XX (Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, 2012)
Tóm lại, chúng tôi nhận thấy việc đặt lại Đạm Phương vào phả hệ vấn đềphụ nữ được thảo luận trên báo chí nửa đầu thế kỷ XX là một việc làm cầnthiết để có thể xác định vị trí của bà, và cùng với đó, quá trình dịch chuyểncủa các quan niệm và hành động mang tính nữ quyền ở Việt Nam
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên
cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi khi thực hiện Luận văn này là mong muốn tìmhiểu và làm sáng tỏ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Đạm Phương nữ sử Cụthể là tìm hiểu và ghi nhận những đóng góp của bà trong sự phát triển, đổimới tư tưởng, văn hóa, văn học nước nhà ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, đặcbiệt là vấn đề phụ nữ và nữ quyền ở nước ta giai đoạn này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một, tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.Hai, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về lịch sử ViệtNam giai đoạn đầu thế kỉ XX, quan điểm về vấn đề nữ quyền
Trang 10Ba, phân tích, đánh giá những đóng góp của Đạm Phương nữ sử về vấn
đề phụ nữ trong giai đoạn lịch sử đương thời, cũng như trong mối tương quanvới các tác giả cùng thời
Bốn, tổng hợp lại đặc điểm về cuộc đời – sự nghiệp và vị trí của ĐạmPhương trong nền văn học đương thời, đặc biệt là những sáng tác về đề tàingười phụ nữ
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những sáng tác của Đạm Phương nữ sử
- Các bài báo, chuyên khảo về vấn đề phụ nữ, về Nữ công học hội
- Các sáng tác hư cấu của bà có đề tài phụ nữ
- Những bài báo, chuyên luận, sáng tác của các tác giả cùng thời về vấn
đề phụ nữ; những nghiên cứu, chuyên luận của các tác giả về Đạm Phương nữsử
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên
cứu 5.1 Cơ sở lý luận
Trang 11Luận văn được thực hiện trên cơ sở những vấn đề lý luận về bình đẳnggiới; về phái tính và nữ quyền trong văn hoá và trong diễn ngôn văn học Soisáng những cơ sở lý luận - triết học của việc phân tích nữ quyền luận và tườnggiải tác phẩm của Đạm Phương nữ sử từ đó thấy được đặc điểm và nhữngđóng góp, sáng tạo của Đạm Phương trong diện mạo văn học Việt Nam thế kỉXX.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp mô tả, loại hình
Luận văn sử dụng phương pháp mô tả để giới thiệu cụ thể về cuộc đời vàvăn nghiệp của Đạm Phương nữ sử; nêu rõ về tình hình phụ nữ Việt Nam thế
kỉ XX Qua đó, làm nổi bật được những đóng góp của tác giả với nền văn học
và đặc biệt với vấn đề phụ nữ thế kỉ XX
5.2.2 Phương pháp so sánh
Để thấy được những nét chung cũng như nét riêng của Đạm Phương nữ
sử với nền văn học đương thời và trong quan điểm về vấn đề phụ nữ, chúngtôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu
5.2.3 Phương pháp phân loại, thống kê
Với một tác giả có khối lượng trước tác đa dạng và phong phú như vậythì phương pháp phân loại, thống kê là vô cùng quan trọng Phương pháp nàygiúp chúng tôi hệ thống hóa được các tác phẩm theo các quan điểm ĐạmPhương trình bày về vấn đề phụ nữ, để qua đó, làm rõ từng nội dung và thấyđược những đóng góp của bà trong từng nội dung đó Phương pháp này còngiúp chúng tôi phân loại những bài viết, ý kiến, tư tưởng của các tác giả cùngthời để từ đó so sánh với Đạm Phương nữ sử
5.2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trang 12Từ việc phân tích những hoạt động, những quan điểm cụ thể trong sángtác của Đạm Phương nữ sử, Luận văn sẽ tổng hợp, khái quát lại thành mộtdiện mạo chung về cuộc đời và văn nghiệp của nữ sĩ.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn có những đóng góp về mặt lí luận về thực tiễn:
- Hệ thống một cách cơ bản những vấn đề lịch sử và lý luận về nữ quyềntrong văn học
- Hệ thống lại về cuộc đời và sự nghiệp của Đạm Phương nữ sử - mộtnhà báo, nhà văn hóa đáng chú ý của thế kỉ XX Đánh giá lại vị thế của bà trong tiến trình lịch sử, tiến trình đổi mới văn hóa – văn học
- Chỉ ra được sự manh nha ý thức về nữ quyền hay nói cách khác lànhững điểm mới trong quan niệm về phụ nữ của Đạm Phương nữ sử từ đó chothấy một bước tiến của tiến trình dân chủ hoá xã hội và văn học
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho giới nghiên cứu văn học
và cho công tác giảng dạy về Đạm Phương nữ sử và về vấn đề nữ quyền trongvăn học
7. Cấu trúc luận văn: Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển
khai thành 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh xã hội đầu thế kỉ XX và sự nghiệp Đạm Phương nữ sử
1.1 Xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX và vấn đề phụ nữ
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp Đạm Phương nữ sử
Chương 2: Quan điểm về vấn đề phụ nữ trong các bài báo và chuyên khảo của Đạm Phương nữ sử
Trang 132.1 Vấn đề phụ nữ trong xã hội Việt Nam
2.2 Quan điểm của Đạm Phương về vấn đề phụ nữ
Chương 3: Hình tượng người phụ nữ thể hiện trực tiếp trong trước tác của Đạm Phương nữ sử
3.1 Quan điểm nam nữ bình quyền
3.2 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Đạm Phương nữ sử
3.1 Hình tượng người phụ nữ trong văn xuôi của Đạm Phương nữ sử (tiểu thuyết)
Trang 14Chương 1:
BỐI CẢNH XÃ HỘI ĐẦU THẾ KỈ XX
VÀ SỰ NGHIỆP ĐẠM PHƯƠNG NỮ SỬ
1.1 Xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX và vấn đề phụ nữ
1.1.1 Xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
Việt Nam trong những năm trước thế kỉ XX là một đất nước theo chế độquân chủ chuyên chế lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng Việt Nam đã tồn tại
và phát triển một nền văn hóa nông nghiệp với những nét đặc trưng của vănhóa phương Đông Đó là nền văn hoá “lấy gia tộc làm gốc; lấy tình cảm làmtrọng; trông vào con cháu duy trì nòi giống và nối nghiệp tổ tiên; coi trọngtính trường tồn, đời xưa sao đời nay thế; ưa chuộng hoà bình, an cư lạcnghiệp” , [16, tr.360] Riêng người phụ nữ trong xã hội, họ luôn bằng lòng với
vị trí và vai trò của bản thân là những kẻ đứng sau, không danh vọng, khôngđịa vị Họ bị kìm kẹp bởi “tam tòng tứ đức”, bởi “công, dung, ngôn, hạnh”,bởi “trọng nam khinh nữ” và luôn bằng lòng với những giáo lí đó
Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây, từnăm 1858 thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam Saukhi đánh chiếm được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thựcdân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lộtnhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa Triều đình Huếchấp nhận guồng máy cai trị của nước ngoài, trở thành những con rối trongtay thực dân tư bản lúc bấy giờ
Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hìnhkinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình
Trang 15thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới.Phố xá xuất hiện, các thành phố cận đại ra đời và lớp cư dân đô thị hình thành.
“Họ là những người thợ thủ công, những người buôn bán, những người làmthuê trong nhà máy, xí nghiệp, các bến xe, bến tàu, bến cảng, là những côngchức trong guồng máy cai trị, những nhà tư sản và tiểu tư sản” [16, tr.361].Lớp cư dân này phát triển nhanh sau chiến tranh thế giới thứ nhất
Vào những năm 20 của thế kỉ XX, “cư dân thành thị chiếm khoảng 3,6%dân số, đến những năm 30 đã tăng lên 8% đến 10% dân số Lớp cư dân thànhthị sống hoàn toàn khác trước” [16, tr.362] Họ sống tập trung tại các thànhphố, thị xã, hoạt động công thương sôi nổi, mạnh mẽ
Xã hội thuộc địa còn tồn tại một tầng lớp trí thức Tây học biết tiếng Pháp,hiểu văn hóa Pháp và xuất hiện một lực lượng sáng tác mới để đáp ứng nhucầu của cư dân thành thị với những thị hiếu mới trong xã hội đang du nhậpnhiều nền văn hóa khác nhau Từ đây hình thành một bộ phận mới – là nhữngchủ thể mới của văn hóa Việt Nam – đó là tầng lớp thị dân
Đặc biệt là trong cư dân thành thị Việt Nam những thập niên đầu thế kỉ
XX tồn tại một bộ phận người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam như ngườiHoa, người Ấn Độ và đặc biệt là người Pháp Sự có mặt của họ đương nhiênhình thành nên các luồng văn hóa giao thoa Điều đó dẫn đến sự đổi mới trongcách tư duy, hành xử của con người, gây nên những luồng văn hóa mới
1.1.2 Sự xuất hiện vấn đề phụ nữ ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
Bắt đầu từ thời trung đại, đặc biệt trong giai đoạn thế kỉ XVIII – nửa đầuthế kỉ XIX, vấn đề quyền con người đã được các nhà văn đặt ra gay gắt Hơnthế nữa, trong giai đoạn ấy, người ta bắt đầu quan tâm sâu sắc hơn đến thânphận người phụ nữ trong xã hội, trong guồng quay và sự kìm kẹp của thể chếphong kiến Tuy nhiên, phải đến những thập niên đầu thế kỉ XX, khi các nhà
Trang 16trí thức đã có sự nhận thức rõ ràng hơn, được tiếp xúc trực tiếp với các nềnvăn hóa phương Tây thì ý thức về “nữ quyền” mới chính thức được hìnhthành.
Đầu thế kỷ XX, dưới tác động của các chương trình khai thác thuộc địa,chính sách văn hóa giáo dục của Pháp, ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởngtrên thế giới, Việt Nam có sự thay đổi trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóagiáo dục Khi xã hội thay đổi, tất cả đều ảnh hưởng tới phụ nữ Cùng với sự
ra đời của giai cấp công nhân là bộ phận nữ lao động làm thuê có mặt ở hầuhết các ngành kinh tế “Họ làm việc trong các hầm mỏ, xưởng máy, đồn điền
Số đông phụ nữ còn được đưa vào làm công việc dịch vụ trong các đô thị, làmngười bán hàng, đi ở, làm con sen, bồi bếp và thậm chí cả nghề mãi dâm Bên cạnh đó chính sách văn hóa giáo dục của Pháp cũng tạo nên một tầng lớpphụ nữ trí thức, làm thư kí, làm giáo viên, nhà thơ, nhà báo phụ nữ trở thànhmột lực lượng xã hội, một đối tượng quan tâm, tranh thủ của mọi khuynhhướng chính trị” [9]
Theo quan sát của Đặng Thị Vân Chi từ thông tin trên đời sống báo chíViệt Nam nửa đầu thế kỷ XX, từ những năm cuối thập niên 1910 ở miền Nam
– thông qua những tờ báo như Lục tỉnh tân văn, Nông cổ mín đàm – và nhất là
trong ba thập kỉ tiếp theo, báo chí đã truyền tải và bổ sung thêm rất nhiều cácthông tin khác nhau về nữ quyền vào đời sống, vào văn học và nhà trường, tạothuận lợi cho sự phát triển chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa nữ quyền
Năm 1908, Nghị viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ Lê Văn Trung cùng
vợ của Tổng Đốc Phương đề nghị chính quyền thực dân Pháp thành lập mộtngôi trường đa cấp dành cho nữ Đề nghị được chấp nhận nhưng mãi đến
1913 ngôi trường mới được khởi công trên một khu đất rộng đường Legrand
Trang 17de la Liraye, Sài Gòn (nay thuộc đường Điện Biên Phủ, Thành phố Hồ ChíMinh).
Năm 1917, Quy chế về giáo dục Đông Dương được ban hành trở thành
tiền đề dấy lên các cuộc bàn luận sôi nổi về nữ học, nữ quyền Các quan chứcgiáo dục của chính quyền thực dân như Tôn Thất Đàm, Trịnh Thu Tâm,Nguyễn Đình Tỵ, Trần Thúc Cáp, Vũ Ngọc Liên, và các học giả tên tuổinhư Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học, Phạm Ngọc Thiều, kể cả phụ nữ như bàĐạm Phương đều viết báo hoặc diễn thuyết về vấn đề này
Phan Bội Châu được coi là nhà lãnh tụ cách mạng quan tâm nhiều nhấtđến vấn đề phụ nữ giai đoạn này, ông đã có rất nhiều những quan điểm mới
mẻ về phụ nữ, là người mở đầu cho nhiều tư tưởng tiến bộ Phan Bội Châukhẳng định “quyền lợi mà người phụ nữ đáng được hưởng và phải đượchưởng, trước hết là quyền sống, quyền làm người, rồi cao hơn nữa là quyềnbình đẳng với nam giới, quyền công dân” [7, tr 303-317]
Nguyễn Ái Quốc cũng đã thể hiện quan điểm mới trong việc nhìn nhận
vấn đề phụ nữ Trong Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam
(1930), 1 trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là thựchiện nam nữ bình quyền Tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất của Đảngtháng 10 - 1930, Đảng đã ra Nghị quyết về vận động phụ nữ và giải phóngdân tộc: “Lực lượng phụ nữ là một lực lượng rất trọng yếu Nếu quảng đạiquần chúng phụ nữ không tham gia cuộc đấu tranh cách mạng thì cách mạngkhông thể thắng lợi được, cũng như nếu phụ nữ đứng ngoài cuộc đấu tranhcách mạng của công nông thì không bao giờ đạt được mục đích phụ nữ đượcgiải phóng” [76, tr174] Trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, có một sốkhẩu hiệu đấu tranh đòi quyền lợi cho phụ nữ: “quyền đàn bà ngang quyền
Trang 18đàn ông”, “phản đối cha mẹ ép gả”, “phản đối chế độ nhiều vợ”, “đánh đổ hủtục khinh thị đàn bà”,…
Có thể nói, việc nhận thức vấn đề nữ quyền thời kì này với nội dung củakhái niệm nữ quyền và giải phóng phụ nữ đã được mở rộng trên nhiều phươngdiện: xã hội, giáo dục, chính trị,
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp Đạm Phương nữ sử
1.2.1 Tiểu sử Đạm Phương nữ sử
Đạm Phương nữ sử tên thật là Công nữ Đồng Canh, tự Quý Lương, sinhnăm Tân Tị (1881) tại phủ Tôn Nhơn, kinh đô Huế Thân phụ bà là NguyễnMiên Triện, hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng, thụ tước Hoằng hoá Quậnvương
Thời niên thiếu Công nữ Đồng Canh được thụ hưởng nền giáo dục truyềnthống nghiêm túc của hoàng tộc, nhờ vậy bà giỏi cả Hán văn, Pháp văn, quốcngữ, cầm, kì, thi, hoạ và giỏi nữ công gia chánh Những kiến thức phong phúđược rèn luyện trong suốt thuở thiếu thời đã chung đúc thành vốn văn hoávững chắc, sâu rộng, tạo điều kiện cho bà thành công trong cuộc sống và sựnghiệp
Năm 1897, 16 tuổi, Công nữ Đồng Canh lập thân với ông nghè tập ấmNguyễn Khoa Tùng, hậu duệ thứ 6 của Nguyễn Khoa Chiêm, quê gốc Hải
Dương (nay thuộc xã Lê Lợi - huyện An Hải - Hải Phòng), tác giả cuốn Nam triều công nghiệp diễn chí, tiểu thuyết lịch sử Hán văn đầu tiên ở nước ta.
Ông bà sinh hạ được ba người con gái và ba người con trai, tất cả đều đượcrèn luyện trong nền giáo dục nghiêm cẩn Ba người con trai của bà lần lượtngã xuống trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp giải phóng dân tộc,trong đó có nhà lý luận mác xít tiền bối xuất sắc Hải Triều Nguyễn Khoa Văn
Trang 19Có lợi thế từ vốn văn hoá sâu rộng của nền giáo dục cung đình, nhờthông thạo Hán văn, Pháp văn, Công nữ Đồng Canh còn trau dồi tự học Bàđọc nhiều, hiểu sâu, biết rộng, sớm tiếp cận tư tưởng tiến bộ của nhân loại,đặc biệt là tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền của các nhàcách mạng tư sản dân chủ Pháp, Trung Quốc như Jean Jacques Rousseau,Henride Saint Simon, Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên,… bà còn được tiếpxúc với các bậc chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, HuỳnhThúc Kháng, và các đảng viên cộng sản như Phan Đăng Lưu, Nguyễn ChíDiểu,… Tri thức và những mối quan hệ đó đã thúc đẩy Công nữ Đồng Canhchuyển hoá nhận thức, tự giác đứng vào hàng ngũ những trí thức tiến bộ củathời đại.
Năm 1918, nhờ sự động viên của Phạm Quỳnh, Công nữ Đồng Canh bắtđầu sự nghiệp viết báo Bút hiệu Đạm Phương nữ sử được ra đời từ thời điểm
này Khoảng hơn mươi năm, từ Nam Phong tạp chí, bà mở rộng mạng lưới
cộng tác, viết bài cho nhiều tờ báo, tạp chí ở Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ
như: Nam Phong tạp chí, Lục tỉnh Tân văn, Hữu Thanh, Trung Bắc Tân văn, Thực nghiệp dân báo, Phụ nữ Tân văn, Tiếng Dân,… và trở thành nữ nhà báo
hàng đầu ở Việt Nam những năm 1920
Năm 1926, Đạm Phương nữ sử sáng lập Nữ công học hội Huế, trực tiếplàm Hội trưởng, tự dự thảo tôn chỉ, mục đích, nội quy, chương trình hoạt độngcủa Hội Đây là tổ chức phụ nữ phi chính phủ đầu tiên ở nước ta Hội thu hútnhiều hội viên từ ba miền Bắc, Trung, Nam tham gia sinh hoạt theo định kì.Chương trình hoạt động của Hội rất phong phú, cụ thể và thiết thực: tổ chứcdạy chữ cho những hội viên chưa biết chữ, từ a-b-c đến đọc thông viết thạo; tổchức dạy chuyên đề để nâng cao hiểu biết cho những hội viên đã biết chữ; saucùng là dạy đại cương về giáo dục phụ nữ, dạy cách nấu ăn, dạy những
Trang 20nghề thông dụng để phát triển thành một nghề kiếm sống Hội còn cung cấptri thức và kinh nghiệm tổ chức gia đình, nuôi dạy con cái, đồng thời tạo điềukiện cho chị em làm quen với hoạt động tập thể, tiến tới tham gia công việc xãhội, đã trở thành chỗ dựa cho phong trào nữ học sinh trường Đồng Khánh,trường Quốc học Huế,… Các bậc chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, HuỳnhThúc Kháng và các trí thức trẻ như Đào Duy Anh, Đoàn Nồng, Nguyễn Lânrất hoan nghênh và nhiệt tình tham gia nhiều hoạt động của Hội, đã góp phầnvào thành công và nâng cao uy tín của Hội Xu hướng tiến bộ của Nữ cônghọc hội Huế dưới sự lãnh đạo của Đạm Phương Nữ Sử được dư luận, báo chíđánh giá cao và nhiệt tình cổ vũ Ảnh hưởng của Hội lan truyền khắp cả nước,
đã dấy lên phong trào hoạt động xã hội tích cực của phụ nữ ở các vùng Vinh,Thanh Hoá, Hà Nội, Hải Phòng, Hội An, Nha Trang, Sài Gòn, Gia Định, CầnThơ,
Năm 1929, Đạm Phương bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam, trongcuộc bố ráp các đảng viên Tân Việt, song không làm án Tuy nhiên, việc bắt
bớ này cũng có thể liên quan đến những ảnh hưởng không nhỏ của bà, của Nữcông học Hội, tới phong trào yêu nước, phong trào xã hội ở Huế và các thànhphố lớn ở Việt Nam lúc bấy giờ Hai tháng sau bà được thả nhưng không được
tự do hoạt động và ngày càng bị giám sát chặt chẽ hơn; các con trai bà,Nguyễn Khoa Tú, Nguyễn Khoa Vĩ, Nguyễn Khoa Văn cũng lần lượt ngãxuống trên đường tranh đấu Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) ,
bà tản cư ra Thanh Hoá
Tuổi già sức yếu lại phải chịu những nỗi đau riêng, Đạm Phương nữ sử
đã tạ thế ngày 10 tháng 12 năm 1947 tại Lạc Lâm, Thanh Hoá, hưởng thọ 66tuổi Sinh thành nơi lầu son gác tía nhưng Công nữ Đồng Canh đã trở thànhĐạm Phương nữ sử - một trong những nữ ký giả Việt Nam đầu tiên, một phụ
Trang 21nữ yêu nước đem cả cuộc đời, văn nghiệp cống hiến cho sự nghiệp độc lậpdân tộc và tiến bộ của đất nước Hiệu quả trong nỗ lực hoạt động xã hộinhững năm đầu thế kỷ XX cùng với những trang viết của bà, đặc biệt, những
công trình giá trị như Giáo dục nhi đồng, Phụ nữ dự gia đình, Gia đình giáo dục thường đàm,… không chỉ là những đóng góp cho các lĩnh vực ngôn ngữ
báo chí, văn, thơ, dịch thuật, mà còn là những đóng góp không nhỏ cho phongtrào đấu tranh vì sự tiến bộ của phụ nữ
- Từ năm 1918-1929 (37 – 48 tuổi): Là thời kì bà hoạt động sôi nổi nhất:viết báo, viết tiểu thuyết, sáng tác thơ văn, dịch thuật, sưu khảo tài liệu, biênsoạn sách thường thức nữ công, thành lập Nữ công Học hội, giao lưu với nhiềunhà yêu nước như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Đào Duy Anh,
cổ suý thực nghiệp, đấu tranh cho phong trào phụ nữ, quyền phụ nữ và nữquyền
- Từ năm 1930-1947 (49-66 tuổi): Bà tiếp xúc nhiều chiến sĩ cách mạng,hun đúc khí tiết cho các con để làm cách mạng, đầu tư nghiên cứu, dịch thuật,biên khảo về sách giáo dục gia đình, phụ nữ, nhi đồng, nghiên cứu Phật học,
Trang 22hồi ức để viết tiểu thuyết lịch sử; các biến cố đau thương trong gia đình, bà đi
tu, tản cư ra Thanh Hoá và qua đời
Chừng ấy năm nghiên cứu và sáng tác, Đạm Phương đã để lại cho đờimột khối lượng tác phẩm lớn Theo thống kê bước đầu của nhà thơ NguyễnKhoa Điềm, riêng về báo chí, bà có đến 181 bài, ngoài ra còn: 42 bài thơ, kể
cả từ khúc, câu đối; các tập thơ chữ Hán: Đông quán thi tập, Tú dư xích độc, Hiệp bích thi cảo (tập thơ cùng làm với chồng), cả ba tập thơ trên đều bị thất lạc; 4 tiểu thuyết: Kim Tú Cầu (xuất bản thành sách 1928); Hồng phấn tương tri (xuất bản thành sách năm 1929); Chung Kỳ Vinh đăng trên Lục tỉnh tân văn từ đầu tháng 7/1924 đến 19/1/1925 (kết thúc), 50 năm về trước (năm
1944, bản thảo bị kiểm duyệt và tiêu hủy sau khi đưa đến nhà xuất bản); 5
(tập) khảo cứu: Lược khảo về Tuồng hát An Nam (1923), Bàn về vấn đề giáo dục con gái, Phụ nữ dự gia đình, Giáo dục nhi đồng, Nữ công thường thức.
Quan điểm sáng tác của bà được bộc lộ trong một số bài viết trên các báo
như: Lục tỉnh tân văn, số 2943, ra ngày 18-6-1928 với bài viết Văn chương buồn lắm chị em ôi, tác giả chia sẻ quan điểm: “văn hay chẳng lựa là dài,
miễn đủ nghĩa tả được hết cái tình cảnh của mình - văn chương là cái hình ảnhcủa tư tưởng” [15, tr.335] Qua đó, bà bộc lộ rất rõ ràng quan điểm về nộidung của một tác phẩm, tác phẩm hay phải là những tác phẩm truyền tải được
“tư tưởng” của người viết, không quan trọng hình thức dài hay ngắn
Hay trên Trung Bắc tân văn, số 1778, ra ngày 23-3-1923, trong bài Đoản thiên thi thoại, tác giả có viết: “Than ôi! Làm thơ là khó lắm, cổ nhân đã có
câu: “Đàm hà dung dị thuyết công thi”, lại có câu: “Tác thi nan, bình thi vưunan” ( ) Làm bài thơ ra, hay dở mặc dầu, nhưng cốt làm sao phải có nghĩa lícho đủ, đã là người làm thơ, vẫn biết, điệu làm thơ đối với ngày nay cũngchẳng có ích gì cho đời, nhưng mà đã muốn cách phong nhã tiêu khiển, thì
Trang 23phải nên biết rằng: nghề chơi cũng lắm công phu” [15, tr.337] Bà coi việc làmthơ chỉ là một thứ “nghề chơi”, nhưng cho dù chỉ là thú vui tiêu khiển, bà vẫnrất nghiêm túc coi trọng nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ Với bà, thơtrước hết vẫn là để “tải đạo” – theo quan điểm của đại đa số các nhà thơ thờitrung đại, ảnh hưởng cho đến đương thời Điều này dường như là tất yếu bởingay từ nhỏ bà đã được thấm đẫm chất văn chương của họ hàng, dòng tộc vớinhững tên tuổi xuất sắc như Miên Thẩm, Miên Trinh, Miên Bửu, Mai Am, trong các sinh hoạt văn học cung đình cũng như trong ảnh hưởng của nhómMạc Vân thi xã.
Đạm Phương nữ sử là một trong những nữ kí giả tên tuổi xuất hiện rấtsớm trên nhiều tờ báo có số độc giả đông của nước ta vào những thập niênđầu của thế kỷ XX Trước tác của bà có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩycác nhận thức về vấn đề phụ nữ nói riêng, và văn hóa xã hội Việt Nam nóichung, ở những năm đầu tiên của quá trình hiện đại hóa dân tộc
1.3.3 Một số chủ đề trong trước tác của Đạm Phương nữ sử
Trong khoảng hơn 10 năm cầm bút (1918-1930), Đạm Phương nữ sử đãcông bố hàng trăm bài viết với nhiều thể loại về nhiều vấn đề khác nhaunhưng tập trung nhất và tâm huyết nhất là những vấn đề phụ nữ và nhi đồng
1.3.3.1 Thơ và từ
Với gia tài gồm 42 bài thơ, bài từ và câu đối, bà đã mang đến những cáinhìn khác nhau về nhiều phương diện đời sống Thơ và từ của bà là nhữngsáng tác với nghệ thuật thanh tao, tự nhiên, thấm đẫm tính truyền thống Quacác bài thơ của bà, chúng ta còn nhận thấy phong cách nghệ thuật hết sức tàihoa nghệ sĩ, với những đề tài hết sức dung dị, gắn bó với đời sống thườngngày Một số đề tài nổi bật trong thơ và từ của bà như sau:
Trang 24- Thơ vịnh cảnh: Nhớ cảnh núi, Trời thu cảm hoài, Cảnh mùa thu, Trùng
du Trúc Lâm tự, Qua đèo Ngang tức cảnh, Thược dược mới nở, Trả lời người hỏi thăm Xuân Thành phong cảnh, Lên chùa tức cảnh, Đề núi Bàn A ở Thanh Hóa, Thu gian cảm hoài Các bài thơ, nhìn chung đều là thầm kín gửi gắm nỗi
ưu thời mẫn thế của nhà thơ
- Thơ vịnh sử: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Vịnh cờ hoa lau, Bà Mị Châu,
Bà Mị Ê Đây là những bài thơ nói về những tấm gương tiêu biểu mà Đạm
Phương lựa chọn để nhằm giáo dục tư tưởng, đạo đức cho thế hệ trẻ đương thời
- Thơ về tình bạn: Nhớ bạn, Tiễn bạn, Viếng người đạo hữu, Ngày xuân nhớ bạn, Coi chị Đ.X.NH thêu bức tranh hoa điều, Chị B.T.D dạy các trò gái học quốc văn, số lượng bài thơ viết về tình bạn của bà khá lớn, đó chủ yếu
là tình bạn của nữ giới Điều này phản ánh khá chân thật con đường hoạt độngcủa bà – làm những công tác học hội gắn liền với phụ nữ
- Thơ về người phụ nữ: đây là vấn đề bà đặc biệt quan tâm, nên các sángtác của bà về chủ đề này cũng chiếm một số lượng không nhỏ Chúng ta
không thể không kể đến chùm bốn bài thơ Người đẹp chơi đàn, Người đẹp câu cá, Người đẹp tiễn bạn, Người đẹp điểm trang Ngoài ra còn có những bài thơ biểu dương tấm gương tốt để qua đó manh nha ý thức nữ quyền như: Lời
tạ ơn bà Trần Thị Thọ ở Nam Kì, Tặng cụ Phan Bội Châu, Thơ tiễn biệt chị Trần Thị Quyên, Mảng thơ này đã đánh dấu một bước tiến mới trong quá
trình hiện đại hóa sự nghiệp thơ ca của nữ sĩ
Những bài từ Cảnh mùa thu, Ngày xuân nhớ bạn, Trời thu cảm hoài là
một trong những bài từ đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ, để qua đó bà bộc lộnội tâm sâu sắc, thể hiện trăn trở, suy tư, thâm trầm bằng một ngòi bút tài hoa
Trang 251.3.3.2 Chuyên khảo
Với 5 tập khảo cứu cùng hàng loạt các bài báo, Đạm Phương đã thể hiệncái nhìn sắc sảo của bà về vấn đề phụ nữ và giáo dục nhi đồng Đây cũng làhai chủ đề chính, xuyên suốt trong các sáng tác của bà
- Vấn đề phụ nữ: Phụ nữ dự gia đình, Nữ công thường thức
- Vấn đề giáo dục nhi đồng: Bàn về vấn đề giáo dục con cái, Giáo dục nhi đồng.
1.3.3.3 Tiểu thuyết
Trong môi trường của báo chí đang lan tỏa dường như lúc nào cũng cóthể đẩy lùi các tập tục xã hội đã lỗi thời ấy, bà Đạm Phương đã trở thành nữtác giả tiểu thuyết có nhiều trước tác đầu tiên trong nền văn học hiện đại Việt
Nam, với các tác phẩm: Kim Tú Cầu (1922), Chung Kỳ Vinh (1924), Hồng phấn tương tri (1929), Năm mươi năm về trước (1944).
- Đề tài người phụ nữ: Kim Tú Cầu, Chung Kỳ Vinh, Hồng phấn tương tri.
- Phê phán hiện thực xã hội: Năm mươi năm về trước.
Tiểu kết chương 1
Đạm Phương nữ sử (1881-1947) được đánh giá là nữ trí thức tiến bộhàng đầu của Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Xuất thân dòng dõi quýtộc nhưng bà vẫn luôn có tư tưởng canh tân đổi mới, sớm thức tỉnh lòng yêunước và tinh thần dân tộc Nguồn tư tưởng Âu hóa đã giúp bà có cái nhìn mớihơn về mọi mặt, đặc biệt về vấn đề phụ nữ Cuộc đời hoạt động sôi nổi chonhững cách tân về phụ nữ; đồng thời không ngừng sáng tác, viết báo,… tất cả
Trang 26những điều đó đã giúp bà có được một sự nghiệp trước tác đồ sộ Nổi bật nhấttrong những sáng tác ấy chính là quan điểm mới về phụ nữ, bà khao khát và
cố gắng thực hiện, kêu gọi đổi mới cho vấn đề giáo dục phụ nữ, mở mang dântrí cho nữ giới để họ có thể tìm lại chỗ đứng và vị thế xứng đáng của mìnhtrong xã hội
Những sáng tác của bà phong phú về mặt thể loại: có các bài báo, chuyênkhảo, thơ, tiểu thuyết Đặc biệt với thể loại tiểu thuyết, bà được đánh giá làngười đặt nền móng cho thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Bằng trái timnhân hậu, tầm nhìn đi trước thời đại, bà đã có một cuộc đời hoạt động sôi nổihết mình và một sự nghiệp sáng tác khiến nhiều người ngưỡng mộ
Trang 27Chương 2:
QUAN ĐIỂM VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ TRONG CÁC BÀI BÁO
VÀ CHUYÊN KHẢO CỦA ĐẠM PHƯƠNG NỮ SỬ
2.1 Vấn đề phụ nữ trong xã hội Việt Nam
2.1.1 Vấn đề phụ nữ trong xã hội Việt Nam truyền thống
Theo dòng chảy của lịch sử, xã hội phụ hệ thay thế cho xã hội mẫu hệ,dẫn đến hệ quả, vai trò của người phụ nữ sẽ bị coi nhẹ, vị thế của người đàn
ông trong xã hội được nâng lên Theo Văn minh Việt Nam của Nguyễn Văn
Huyên: “Gia đình người Việt Nam thuộc loại hình gia trưởng, tất cả uy quyềnđều tập trung trong tay người cha, người đứng đầu gia đình” [31, tr.46] Uyquyền tuyệt đối này được thể hiện trên nhiều mặt: quản lí tài sản, quản lí hônnhân con cái, quyền trong quan hệ vợ chồng
Thứ nhất về quản lí tài sản, người cha có quyền nắm tuyệt đối mọi tài sảntrong gia đình, người mẹ - người phụ nữ trong gia đình chỉ có nghĩa vụ phảilàm giàu thêm, không có tài sản riêng Thậm chí, người cha có thể bán con,bán vợ; hoặc đem vợ con đi gán cho chủ nợ để làm tin Điều đó cũng cónghĩa, người vợ - người phụ nữ trong gia đình phụ thuộc tuyệt đối vào ngườiđàn ông [31 , tr.51] Điều này chủ yếu do chịu ảnh hưởng của quan điểm củaNho giáo – thứ tôn giáo thống trị nước ta thời bấy giờ - “tam tòng tứ đức”;
“công, dung, ngôn, hạnh” Người phụ nữ bị trói buộc hoàn toàn bởi lễ giáo,thứ lễ giáo được giáo dục ngay từ nhỏ - “tiên học lễ, hậu học văn” – họ có thểkhông biết chữ, nhưng nhất định phải thuộc lòng lễ giáo Tam tòng, tứ đứcchính là sợi dây trói buộc người phụ nữ ở mọi giai đoạn trong cuộc đời - “Tạigia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” có nghĩa là cả ba giai đoạn
Trang 28của đời người thời thơ ấu, khi trưởng thành, lúc xế chiều chỉ gói gọn trong haichữ phục tùng Đồng thời, còn có cả một loạt nghĩa vụ được tập hợp lại trong
“tứ đức”: công, dung, ngôn, hạnh Về công, người phụ nữ phải biết nấu nướng,may vá, thêu thùa, nhưng thông thường không biết đọc và viết Về dung,người phụ nữ học cách trở thành hấp dẫn đối với chồng nhưng không lôi cuốnnhững người khác Ngoài ra còn có hàng trăm các quy tắc truyền miệng màcha mẹ nhắc lại cho con gái của mình
Thứ hai, về việc quản lí hôn nhân con cái, người cha được coi như một vịvua chuyên chế trong nhà, có quyền sinh quyền sát, quyền trao và quyết địnhhạnh phúc hôn nhân của các con [31, tr 51] Điều đó có nghĩa, người phụ nữchỉ được lấy về và có duy nhất quyền “sinh” đối với những đứa con mà mình
đẻ ra, còn lại, họ không có bất kì một tiếng nói nào đối với cuộc đời và hạnhphúc con cái Bản thân người phụ nữ vốn không có tiếng nói với chính cuộcđời mình nên họ không thể quyết định được hạnh phúc con cái cũng là điều dễhiểu
Thứ ba, trong quan hệ vợ chồng, người chồng đương nhiên có vị thếtuyệt đích, theo đó, người phụ nữ bị bó chặt trong hàng loạt những lễ tiết hàkhắc Quan trọng nhất là nguyên tắc đạo lí về trinh tiết, không chỉ là giữ gìntrinh tiết trước khi lấy chồng mà còn là nhất mực thuỷ chung với chồng, dùchồng còn sống hay đã chết, và có một tâm hồn trong sáng vượt qua các hammuốn trần tục Khi đã lấy chồng (tất nhiên là do cha mẹ sắp đặt), người phụ
nữ cần ghi nhớ “Chồng giận thì vợ bớt lời, Cơm sôi bớt lửa cho vui cửa nhà”.Công việc của phụ nữ từ những trò giải trí mang tính văn hoá của tầng lớpthượng lưu đến việc làm cỏ, gieo cấy, kiếm củi, lấy nước, nấu ăn, may vá vàchăn nuôi của hầu hết phụ nữ nông thôn, không bao giờ có được uy tín và thùlao như công việc của nam giới Tất nhiên, như đã nói ở trên, vai trò chính
Trang 29của người phụ nữ khi được lấy về nhà chồng chính là sinh con, và một nghĩa
vụ bất di bất dịch khác, là cần sinh được con trai Nếu hai vợ chồng lấy nhau
mà lâu không sinh được con, hoặc sinh đẻ được nhưng không có con trai, mặcnhiên người phụ nữ phải chấp nhận để chồng lấy vợ khác – người vợ mớiđược gọi là “vợ lẽ” Tất yếu, vị thế của người vợ lẽ trong gia đình lại càng
“thấp cổ bé họng” hơn bao giờ hết Họ không chỉ bị rẻ rúng bởi vị thế củangười phụ nữ nói chung trong gia đình, mà so với bản thân người vợ cả, thì vịthế của họ cũng “lép vế” hơn hẳn [77, tr.227-37] Ngoài ra, còn có một loại vợkhông cưới, cũng là thành viên của gia đình, đó là những người đầy tớ, hay
“nàng hầu” được người chồng mua về chứ không phải do cưới hỏi Nhữngngười vợ này chủ yếu xuất hiện trong những gia đình sung túc, chủ yếu ở cácnhà quan to Trong các ngày Tết, lễ của gia đình, các vợ lẽ chỉ được xếp vàohàng con cái, do đó mọi con cái, thậm chí con của chính họ sinh ra cũng chỉgọi họ là “chị” hoặc “dì” Chỉ có một vợ chính thất, còn lại số vợ lẽ thì khônghạn định Chế độ đa thê này được tồn tại một cách hợp pháp, được pháp luậtbảo vệ [31, tr.62-63] “Theo luân lí, chồng có quyền bỏ vợ trong bảy trườnghợp: 1, Vô sinh: không có con là bất hiếu với cha mẹ Vì thế, người ta có thể
bỏ người vợ không có con 2, Ba hoa: hay nói xấu và ghen tuông quá đáng 3,Mắc bệnh khủng khiếp: bệnh hủi, bệnh đó có thể làm ô uế các lễ vật cúngthần linh 4, Phẩm hạnh xấu 5, Trộm cắp của chồng hay của cha mẹ chồng 6,Thất lễ với cha mẹ chồng 7, Hành hung chồng” [31, tr.60]
Như vậy, người đàn bà Việt luôn phải chịu khuất phục trước quyền giatrưởng, ông chủ của cuộc hôn phối và chấp nhận bị ruồng bỏ bất cứ lúc nàonếu phạm phải bảy điều trên Họ bao giờ cũng trong tình trạng phụ thuộc vàquên đi những quyền con người vốn có của mình, bó buộc bản thân trong mọithứ lễ giáo, tiết nghĩa
Trang 30Tuy nhiên, so với những lề thói ngặt nghèo của đời sống phong kiếnTrung Quốc, được coi là khuôn mẫu cho văn hóa phong kiến Việt Nam, thìngười phụ nữ Việt Nam vẫn còn được hưởng ít nhiều quyền lợi Thậm chí,như trong luật Hồng Đức, bộ luật đầu tiên của Việt Nam dưới triều Lê, ngườiphụ nữ còn được pháp luật bảo vệ.
Ngoài ra, khi “phép vua thua lệ làng”, luân lý xã hội Việt Nam truyềnthống cũng tạo nhiều cơ hội cho phụ nữ phát triển Phụ nữ có vai trò trongkinh tế, trong gia đình, thậm chí ở một số trường hợp, còn tham gia vào cáccông việc xã hội với chồng con “Nội tướng” là danh xưng không phải phụ nữnước nào cũng có được như phụ nữ nước Nam
Bên cạnh đó, ngoài những dòng tộc, gia đình, cá nhân chịu ảnh hưởngsâu sắc của Nho giáo, bộ phận còn lại, thậm chí là ở các nhà nho có gắn bóthân mật với đời sống dân quê – các nhà nho bình dân – thì cách ứng xử của
họ với phụ nữ cũng có nhiều phần tương trợ, trân trọng, quý mến Chính tínhchất “tương kính” này làm cho đời sống gia đình Việt Nam trở nên hài hòa,hòa nhã và vui vẻ hơn, tính chất “thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”cũng trở thành tính chất nổi trội
2.1.2 Tiếp xúc với phương Tây và sự nổi lên của vấn đề phụ nữ ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
Theo như những phân tích ở trên, trước khi Việt Nam trở thành thuộc địacủa Pháp, với thể chế chính trị quân chủ chuyên chế và hệ tư tưởng Nho giáo
là hệ thống tư tưởng bảo vệ cho chính quyền của Vua thì người dân Việt Namnói chung bị kìm kẹp trong vô vàn giáo lí, đặc biệt phụ nữ rất ít có quyền lợi
về kinh tế, chính trị và văn hóa Vì vậy, tư tưởng về nữ quyền là một kháiniệm hết sức xa lạ
Trang 31Trong khi đó, ở Phương Tây, thế kỉ XVII – XVIII đã nảy sinh trào lưu
của Pháp với những tác phẩm Tinh thần luật pháp của de Montesquieu, hay Luận về nguồn gốc và cơ sở của sự bất bình đẳng, Khế ước xã hội của Rútxô
đã liên tiếp tấn công vào chế độ quân chủ chuyên chế làm nảy sinh nhiều vấn
đề như: vai trò phụ nữ, sự bất lợi về kinh tế của phụ nữ, vị trí thấp kém củaphụ nữ về mặt pháp luật so với nam giới,…
Khi Pháp tiến hành khai thác thuộc địa ở Việt Nam, cùng với hệ lụy phụthuộc, những trào lưu tư tưởng dân chủ trên thế giới đặc biệt là của Pháp cùngvới sự xuất hiện của báo chí đã ảnh hưởng một phần không nhỏ đến nhận thứccủa người dân Việt Nam, làm thay đổi đời sống xã hội Việt Nam Vị thế củangười phụ nữ lúc này đã bắt đầu được nhìn nhận theo một cách khác, vấn đềphụ nữ bắt đầu nổi lên trong xã hội
Nói về vấn đề phụ nữ ở Việt Nam lúc này, Nguyễn Văn Huyên nhậnđịnh: “Ở thành phố, trong các giai tầng trên và trung lưu, và cả trong đámbình dân, tục đa thê bị một đòn rất nặng do ảnh hưởng của các tư tưởngphương Tây, của đạo Cơ Đốc, của giáo dục, của các nhu cầu kinh tế, các quanniệm mới về địa vị của người phụ nữ Việc đọc tiểu thuyết và xem phim ảnhcũng đóng góp nhiều vào việc làm đổi thay tình cảm và ý nghĩ của các cặp vợchồng về hôn nhân ( ) Sự tiến hóa này diễn ra rất sâu sắc và nhanh chóng.”[31, tr.61-62]
Theo Đặng Thị Vân Chi, khái niệm nữ quyền lần đầu tiên được nhắc đến
trong bài Về thói trọng nam khinh nữ của ta trên Đông Dương tạp chí ngày
11/2/1914 Trong bài này, sau khi phân tích thực trạng địa vị phụ nữ Việt Namtrong gia đình và xã hội, Phạm Quỳnh đã kêu gọi phụ nữ đấu tranh cho nữ
quyền Như vậy, “nữ quyền” trong bài báo này chỉ là để cho nam giới không
thể “bắt nạt” phụ nữ được nữa Lần thứ hai “nữ quyền” được nhắc đến
Trang 32trong mục Nhời đàn bà số 5 ngày 21/1/1915 trên Trung Bắc tân văn khi đặt
vấn đề “muốn mang tư tưởng cùng chị em bàn bạc để đúc lấy nữ quyền dạybảo nhau chóng nên người khôn ngoan, tài đảm để gây nên một giống nòimạnh bạo, mai sau này chiếm lấy một phần nữ sử với hoàn cầu” [9]
Năm 1916, trên Trung Bắc tân văn trong mục Nhời đàn bà, Nguyễn Văn
Vĩnh có Bàn về nữ quyền và cho rằng “người đàn bà trời sinh ra để làm bạn,
để gánh vác một công việc với người đàn ông chứ không phải để làm thântrâu ngựa” và việc coi thường phụ nữ của người đàn ông Việt Nam xưa nay làmột cách tự hạ thấp mình vì đã coi thường một người gắn bó với mình, mộtngười cùng mình gánh vác mọi công việc
Năm 1918, tờ báo đầu tiên dành cho phụ nữ, báo Nữ giới chung phát hành số đầu tiên vào ngày 1/2/1918 Ngay sau khi ra đời, Nữ giới chung đã có
một cuộc thảo luận về khái niệm nữ quyền và quyền bình đẳng nam nữ Các
tác giả Nữ giới chung đã bàn đến Nghĩa nam nữ bình quyền là gì (của Sương Nguyệt Anh) trên báo ra ngày 22/2/1918, Bàn thêm về chữ nữ quyền (của cô Bích Đào) trên báo ngày 15/3/1918 hay Nữ quyền bình đẳng luận (của cô Liễu) trên báo ngày 15/3/1918 và Nữ quyền (của Cự Hải Nguyễn Hồng
Nguyên) [9]
Như vậy, có thể nói, cuộc thảo luận cho thấy tư tưởng này khi về ViệtNam đã bị thay đổi, biến dạng, khôn còn được hiểu đúng như ý nghĩa ban đầunữa Nhìn chung lại, về nguồn gốc của khái niệm nữ quyền hầu như các tácgiả đều cho rằng đó là một khái niệm của phương Tây và áp dụng ở Việt Namchưa phù hợp
“Bước sang những năm 30, tiếp thu ảnh hưởng văn hóa trực tiếp từphương Tây (không phải chỉ ít nhiều qua sách báo nữa), các quan điểm vănhóa Việt Nam cũng đã trở nên phân hóa sâu sắc, đặc biệt ở khu vực thị dân và
Trang 33văn hóa đô thị mới thành hình Vấn đề phụ nữ không còn gói gọn trong mấychủ điểm về giáo dục, luân lí hay thực nghiệp nữa, mà mở ra các chủ điểmmới như xã hội, chính trị, hay đào sâu đến các đặc điểm về sinh lí và tính cách.
Chẳng hạn, chỉ xét trên chính Phụ nữ tân văn, quan điểm “duy trì gia đình”
cũng đã bị chất vấn Từ sự khác biệt của ý hệ các nhà diễn giải (như giữa PhanKhôi với Nguyễn Thị Chính (phu nhân Phan Văn Hùm), hay của chính PhanVăn Hùm chẳng hạn) Ở đấy, xung đột xuất phát từ việc một phía xuất phát từ
ý hướng cá nhân tự nhiệm (“tu thân”) của Nho giáo còn một phía xuất phát từcảm hứng (tranh đấu) xã hội của chủ nghĩa Marx, một phía nhấn mạnh vàotính cách đạo đức của vấn đề trong khi phía kia nhấn mạnh vào tính chất chínhtrị của nó Nhưng quan trọng hơn là, cả hai cùng bị chất vấn bởi thực tại mới,nỗi lo lắng từ cảm nghĩ thông thường (đơn cử như trước các vấn đề của “phụ
nữ tân tiến”): hiện đại hóa thực sự đã luồn lách vào những vấn đề sát sườnnhất của đời sống thế tục, đời sống chi phối và ảnh hưởng sâu rộng tới quầnchúng chứ không còn là đời sống tinh thần của một bộ phận tinh hoa Chủnghĩa Marx và các tư tưởng phương Tây về phụ nữ sẽ từng bước xâm chiếmvào diễn ngôn về phụ nữ, theo đà phát triển của các phong trào chính trị vàtheo đà của xu hướng giao lưu văn hóa… Trong khi ở một khía cạnh khác, ởđời sống thế tục của vấn đề,… luôn có những trồi sụt trong quan điểm về phụ
nữ hay nữ quyền ở Việt Nam, khi tư tưởng thường khi bị triệt thoái về mặtbằng thực tại, bởi một truyền thống ít luận lý và một thực tại bị phân hóa bởinhiều lựa chọn chấp nhận và nghi hoặc lối tư duy còn xa lạ Cho đến trước
1945, vấn đề nữ quyền vẫn ở trong thế hỗn dung các quan điểm đối thoại nhưvậy Nhưng chiều hướng nữ quyền được “dân tộc hóa”, như một vận dụngkhéo léo quan điểm của sử gia Françoise Thébaud của Bùi Trân Phượng để tìmhiểu giai đoạn lịch sử rối ren này, xuất phát từ phía các nhà hoạt động cánh tảdần trở nên lấn lướt hơn, và về sau mang tính cách áp đặt
Trang 34hơn khi phụ nữ được huy động vào hai cuộc kháng chiến và kiến quốc, dầnchiếm thế thượng phong Nó làm cho vấn đề phụ nữ nói chung và nữ quyềnnói riêng, từ sau đổi mới 1986, phải bắt đầu lại ở một số chủ điểm mà trước
đó nửa thế kỷ, người ta đã khá trở nên thân thuộc” [14, tr.5-12]
Tóm lại, từ những nhận thức còn mơ hồ những năm đầu thế kỷ XX, chỉ
30 năm sau đó các trí thức Việt Nam đã thể hiện sự hiểu biết của mình về nữquyền và bình đẳng nam nữ từ điều kiện thực tiễn của Việt Nam qua nhữngcuốn sách chuyên khảo về nam nữ bình quyền, nữ quyền và cuộc vận độnggiải phóng phụ nữ…
2.2 Quan điểm của Đạm Phương về vấn đề phụ nữ
Vấn đề nữ học được Đạm Phương đặt ra lần đầu trên Nam phong, số 43
(tháng 1/1921), khởi thủy là bức thư bà gửi cho chủ bút Phạm Quỳnh, có lẽ lànhân loạt trao đổi được khởi đi từ bài viết của Phạm Quỳnh bàn về vấn đề phụ
nữ: Sự giáo dục đàn bà con gái, số 4 (tháng 10/1917), dẫn tới các trao đổi sau
đó trên Nam phong Song nguyên nhân trực tiếp, bắt đầu từ ý kiến của Phạm Quỳnh trong bài viết Đàn bà con gái nước ta có nên học mới không?, đăng trên Nam phong, số 40 (tháng 10/1920), là bài trực tiếp đã gây cảm hứng cho
Đạm Phương
Ba năm sau, Đạm Phương, cũng dưới nhan đề này, Vấn đề nữ học, Đạm Phương đã viết và đăng trên Trung Bắc tân văn, số ra các ngày 19&20/3/1924,
để đáp lại một số ý kiến bấy giờ phủ nhận chuyện giáo dục phụ nữ, đồng thời
có bổ sung thêm một số quan điểm mới trong việc giáo dục phụ nữ đã được bànêu ra trước đó
Đạm Phương có một quan niệm thống nhất và rõ ràng về vấn đề nữ học
Trong bài viết trên tạp chí Nam phong, bà viết:
Trang 35“Nay cái vấn đề nữ học thật là một sự rất quan trọng thứ nhất trong mấynghìn năm của nước ta… (…) Người đàn bà cốt phải có đức hạnh làm bản,nghĩa ấy dầu cho thiên cổ bất dịch, không những từ đây về trước đã thế,nhưng dầu cho muôn ức nghìn năm nữa về sau, cũng không có thể thay đổibao giờ, vậy cho nên học hạnh kiêm ưu mới là danh giá; còn như học mà vôhạnh, chính là danh giá tội nhân, chớ có phải học giới danh giá đâu, mà người
đời bình phẩm cho hư tiếng tân học của nữ giới” [15, tr.32].
Theo Đoàn Ánh Dương, trong bài viết khởi đầu này, Đạm Phương đặtthế đối sánh “trí” với “đức”, giáo dục cái “đức” (tức phẩm hạnh) thì nền cựuhọc cũng đã làm rồi, nay nhất thiết phải bổ túc thêm cái “học vấn” (tức trithức Âu Tây) của nền tân học cho người phụ nữ Ở đây, bài viết mới chỉ đặt racái sự cần thiết của giáo dục phụ nữ và đề xuất nội dung cơ bản của nền giáodục ấy
Đến bài viết trên Trung Bắc tân văn, Đạm Phương đã bắt đầu chú trọng
đến việc đòi hỏi sự công bình cho giáo dục nữ nhi so với nam nhi Bà viết:
“Đương buổi phong trào tiến hóa, dân trí khai thông, khoa học mở mang,trình độ thay đổi, người ta ở trong xã hội cũng ví như các thứ hoa thảo, tùytheo thời tiết mà sinh trưởng, đã không trái đặng lẽ tự nhiên của thời tiết, mà
lại phải vận động cho hợp với lẽ sinh trưởng ấy nữa… Bởi vậy mà sự giáo dục học thức của con trai làm sao, thì của con gái cũng phải có làm vậy; đứa
con gái tương lai thành nhơn, là một người đàn bà có công lớn đối với xã hội,
vì người đàn bà có chịu cái thiên chức về sự sinh dục, gây nên nòi giống chonhơn loại Bổn phận người đàn bà, lại có cái trách nhiệm nặng nề khó nhọc,gánh vác việc gia đình, để cho người đàn ông khỏi phần nội cố, mới rảnhmình mà hiệu lực với bang quốc; cái trách nhiệm ấy, cái thiên chức ấy, nếu
Trang 36không có học thức giáo dục, thì khó lòng làm cho hoàn toàn nghĩa vụ đặng"[28, tr.178].
Trước hoàn cảnh xã hội rối ren, xã hội “pha tạp” lúc bấy giờ, ĐạmPhương đã đề xuất quan điểm nữ học rất mới mẻ, với chủ kiến rất rõ ràng về
sự giáo dục trong gia đình Bà cho rằng, giáo dục nói chung là trách nhiệmlớn của cả đất nước, do quyền quốc gia đào tạo; tuy nhiên, bà vẫn khẳng định,giáo dục gia đình là quan trọng hơn cả, và có vai trò tiên quyết
“Giáo dục trong gia đình, với Đạm Phương, (1)/ đảm bảo cho việc thựchiện đầy đủ thiên chức phụ nữ, (2)/ hậu thuẫn tới việc giáo dục trẻ em, và (3)/
là bước chuẩn bị cho giáo dục học đường, giáo dục xã hội Tất cả những ưuđiểm ấy, nếu được thực hành một cách đầy đủ, sẽ tôn cao vị trí của phụ nữtrong gia đình và xã hội.” [15, tr.15]
Từ trong những dò dẫm bước đầu này, những năm sau, nhất là khoảng
1923 đến 1926, khi viết thường xuyên cho chuyên mục Lời đàn bà trên Trung Bắc tân văn, Phụ nữ diễn đàn trên Lục tỉnh tân văn, Đạm Phương đã triển
khai ở mức độ sâu rộng hơn về vấn đề nữ học
Bà quan niệm, người phụ nữ phải có trách nhiệm: trước hết với bản thân,
phải tự lập, mà cách để có thể tự lập chính là cần có nghề nghiệp (Vấn đề lý tài, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 09/01/1923; Một hiệu buôn mới mở, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 22/05/1923), rồi cần phải cần kiệm (Cần kiệm, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 20/01/1923; Dạy con gái nên kiệm ước làm đầu, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 27/11/1923), song cũng phải biết trang điểm (Cách trang điểm của người đàn bà thế nào là đẹp, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 30/10/1923), phục sức (Cách phục sức của người đàn bà, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 11/02/1924); với gia đình, phải nên chăm coi việc nhà (Người đàn bà phải nên chăm coi việc nhà, Trung Bắc tân văn, số ra ngày
Trang 3725/02/1925), phải hiếu kính với cha mẹ (Trăm nết thảo làm đầu, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 14/06/1923), phải thuận hòa với chồng (Cái cảnh lạc thú trong gia đình, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 17/04/1923; Người đàn bà phải biết cách ăn ở với chồng, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 28/06/1923), phải hòa mục với anh em (Đối với anh em chồng, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 25/01/1924), rồi với con cái phải biết cách dưỡng dục (Bàn về sự học vấn của con gái, Lục tỉnh tân văn, số 1334, ra ngày 8/1/1923; Gia đình giáo dục, Lục tỉnh tân văn, từ số 1383 (ra ngày 13/3/1923) đến số 1387 (ra ngày 17/3/1923); Trẻ con trong nhà phải nên dạy cho biết thứ tự cách ăn ở, Trung Bắc tân văn,
số ra ngày 20/05/ và 06/06/1924; Dạy trẻ con khi giao thiệp với người ngoài, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 11/10/1925; Cách dạy trẻ con, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 16/01/1926); với người ngoài, khi giàu có phải rộng lượng (Người giàu đối với người nghèo, Trung Bắc tân văn , số ra ngày 04/05/1923), khi nghèo đói phải khẳng khái (Người nghèo đối với người giàu, Trung Bắc tân văn , số ra ngày 22/05/1923),…
Đạm Phương gần như đã hướng dẫn rất cụ thể và tỉ mỉ vào từng mảngtrong đời sống nữ giới, có những vấn đề dù đã cũ, đã nhắc đến nhiều trongquan niệm Nho giáo, nhưng Đạm Phương nhìn nó dưới góc nhìn mới của thờiđại, khuyên phụ nữ vẫn giữ nếp nhà nhưng cũng thức thời để phù hợp và đổimới Từ đó, bà giúp người phụ nữ hoàn thiện mình hơn để góp phần sức lựcxây dựng gia đình ấm no, xã hôi phồn thịnh
2.2.1 Vấn đề phẩm hạnh của người phụ nữ
Về giáo dục phụ nữ, bà Đạm Phương không phải là người đề xướng đầutiên so với Phạm Quỳnh và một số nhà nghiên cứu khác, nhưng các công trìnhcủa Đạm Phương toàn diện hơn cho tất cả các thành phần là phụ nữ trong xã
Trang 38hội, đa dạng hơn, phong phú và hấp dẫn hơn nên mang lại hiệu quả to lớn hơn
và trực tiếp đi vào cuộc sống hàng ngày của nữ giới
Việc đầu tiên bà muốn hướng đến vẫn là vấn đề thực hiện trách nhiệm
của nữ giới Trong bài Bổn phận con gái, sau khi bình phẩm về những cơ hội
đổi thay mà nữ giới có được ở thời đại mới, Đạm Phương nhắn nhủ:
“Công, dung, ngôn, hạnh, bốn đức thường gồm: hiếu, nghĩa, trinh, thuận,tam tùng vẹn giữ Thế là lời xưa dạy con gái phải nên giữ gìn tánh nết chođoan trang, chăm lo tần tảo, phòng toan xuất cát nghi gia Kinh Thi nói rằng:
“Vô phi vô nghi trung quĩ, thị chi” , đều là phép dạy về mặt xướng tùy hếtthảy.” [15, tr.53]
Hay: “không quý gì bằng sẵn có nền nếp cũ, lại thêm tư tưởng mới, mĩthuật mới, kĩ nghệ mới, ta nên điều hòa châm trước với nhau, điều hay nênthuộc, lẽ dở nên chừa, một mai làm vợ làm mẹ người, tự lương tâm mình hỏimình có ưng con mình giống mình không? Tôi xin vô phép trả lời rằng: khôngnhững là ưng con mình không giống mình, mà lại cũng không ưng lời thị phican thiệp đến danh giá bổn phận nữa” [15, tr.54]
Theo quan niệm Nho giáo xưa, công – dung – ngôn – hạnh là phẩm chấtđáng có và cần có của người phụ nữ Phan Kế Bính giảng giải về “tứ đức” nàynhư sau:
“1, Công: Việc nữ công, gia chánh phải khéo léo Tuy nhiên các nghề vớiphụ nữ ngày xưa chủ yếu chỉ là may, vá, thêu, dệt, bếp núc, buôn bán, vớingười phụ nữ giỏi thì có thêm cầm kỳ thi họa
“Vá may giữ nếp đàn bà
Mũi Kim nhỏ nhặt mới là nữ công”
Trang 39(Gia Huấn Ca)
2, Dung: dáng người đàn bà phải hòa nhã, gọn gàng, biết tôn trọng hìnhthức bản thân
3, Ngôn: lời ăn tiếng nói khoan thai, dịu dàng, mềm mỏng
4, Hạnh: Tính nết hiền thảo, trong nhà thì nết na, kính trên nhường dưới,chiều chồng thương con, ăn ở tốt với anh em họ nhà chồng Ra ngoài thì nhu
mì chín chắn, không hợm hĩnh, cay nghiệt.” [5, tr.77]
Thoạt nhìn có vẻ quan điểm của Đạm Phương vẫn theo nếp cũ, nhưngthực chất, quan niệm của bà về “công – dung – ngôn – hạnh” của người phụ
nữ đã có nhiều đổi khác, bà nhìn nhận nó trong quan hệ bình đẳng với namgiới nên cách hiểu rộng hơn so với quan điểm cũ
2.2.1.1 Công
Đạm Phương đã dành rất nhiều bài viết để bàn về chữ công với phụ nữ
như: Một ưu điểm của đàn bà nước ta, Vấn đề lí tài, Phụ nhơn công nghệ, Nghề làm bánh, Đàn bà ngày nay nên học nghề nghiệp, Đàn bà mình nhiều
kẻ thất nghiệp; Muốn cho nữ lưu biết chức nghiệp phải có Nữ công học hội, Chữ công cũng là điểm mấu chốt trong lí thuyết về giải phóng phụ nữ của
Đạm Phương Theo bà, phụ nữ muốn độc lập với nam giới thì trước tiên phải
tự nuôi sống mình để không bị phụ thuộc vào nam giới như trước kia nữa.Như vậy, chữ công theo quan niệm của bà không còn bó hẹp trong phạm vicông việc trong bếp, trong nhà của người phụ nữ như tư tưởng Nho giáo mà
nó đã phát triển thành chức nghiệp cho phụ nữ
Trong khi theo quan niệm cũ, thân phận và địa vị của người phụ nữ vốnvẫn luôn bị coi là thấp kém hơn đàn ông, đàn bà chỉ được quanh quẩn trongnhà, nơi xó bếp, không tài cán gì, thì Đạm Phương lại có quan điểm hoàn toàn
Trang 40khác: “Từ khi nhờ ơn nhà nước bảo hộ mở mang học giới, thời bọn quần thoacũng có nhiều người theo đòi bút nghiên, sự học hành thăng tiến không kháccác bậc nam nhi mấy chút, thế thời đủ biết tài trí con gái có phải hèn kém chiđâu, nếu thực hành mà dạy cho các nghề nghiệp, tương lai cùng chiếm một cái
địa vị xứng đáng trên con đường sinh hoạt cùng xã hội vậy.” (Đờn bà đối với nghề nghiệp) [15, tr.45].
Trong quan niệm của Đạm Phương, chữ “công” của phụ nữ trước hết làxuất phát từ việc tự làm chủ được chính cuộc đời mình: “đàn bà con gái nướcmình, từ xưa đến nay là đã chịu lắm đoạn lôi thôi, mà sao không biết hồi đầunghĩ ngợi, để cho có một ngày kia ngõ mong thoát vòng khổ nhục là cứ làm
bậu cho người đàn ông.” (Đờn bà đối với nghề nghiệp) [15, tr.46].
Bà quan niệm rất rõ ràng rằng: “Bỏ cái dây bó buộc ngày xưa, mở đườngquyền tự do mà mưu lấy thân thế của mình để chen vai cùng đời; cho nênngười đàn bà bây giờ không phải chịu cái tục làm dâu khó nhọc như trước, chỉ
còn có cái nghĩa theo chồng theo con mà làm ra tiền của mà thôi.” (Làm sao
mà gọi là nội tướng) [15, tr.61].
Nhưng muốn làm chủ cuộc đời thì lại cần sự nghiệp, và sự nghiệp màĐạm Phương nhắc đến ở đây, không phải những điều cao siêu, những việcnặng nhọc, nó được bắt đầu từ chính những công việc giản đơn nhất, vốn đơnthuần nhất của người phụ nữ là may, vá, thêu, thùa Bà viết: “nghề nghiệp đàn
bà nước ta thời thêu dệt khâu vá, và các món thực phẩm thường dùng đó màthôi Thế mà nhiều người cũng chưa biết cho đủ, huống hồ nói bao hàm vạn
tượng ra nữa” (Đờn bà đối với nghề nghiệp) [15, tr.45] Nhưng nói vậy không
có nghĩa là phụ nữ không thể làm được những việc đàn ông vẫn làm, mà theoquan điểm của bà, chỉ cần đàn bà được giáo dục, có cơ hội được tiếp cận thì tấtyếu họ đều có thể làm, thậm chí làm tốt mọi công việc mà đàn ông vẫn làm: