Nhận định của một nhà phê bình về các nhà văn nữ của văn học đương đại thông qua các hình thức biểu hiện của nhân vật nữ trong sáng tác của họ trong đó có Đoàn Lê như sau: “Đặc điểm tron
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-oOo -
VŨ THÚY HẰNG
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN ĐOÀN LÊ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học PGS – TS Lê Dục Tú
Hà Nội - 2010
Trang 2PHẦN II: NỘI DUNG
2 Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm văn học sau 1975 11
3 Những cảm hứng nghệ thuật cơ bản trong truyện ngắn của Đoàn Lê 14
1 Đặc điểm nhân vật trong truyện ngắn của Đoàn Lê 51
1.1 Đặc điểm nhân vật của văn học giai đoạn trước và sau 1975 51
Trang 31.2 Đặc điểm nhân vật trong truyện ngắn Đoàn Lê 55
2 Các kiểu nhân vật và phương thức biểu hiện trong truyện ngắn Đoàn Lê 59
CHƯƠNG III: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG
Trang 4PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học Việt Nam sau chiến tranh có nhiều khởi sắc Những tìm tòi, đổi mới về cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật của văn học giai đoạn này đã khẳng định những bước chuyển mạnh mẽ của văn học nước nhà Đặc biệt từ sau đổi mới, văn học thực sự có những bước tiến quan trọng bắt nhịp kịp thời với bước chuyển của thời đại Sự xuất hiện của hàng loạt những cây bút nữ đã tạo nên diện mạo mới cho văn xuôi giai đoạn này như Đoàn Lê, Lê Minh Khuê, Y Ban, Lý Lan, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, nhất là với thể loại truyện ngắn Họ nhìn nhận những vấn đề của cuộc sống bằng sự tinh
tế, nhạy cảm của trái tim phụ nữ Họ đưa vào tác phẩm của mình “một sinh khí mới rất cần thiết để thể hiện bề sâu, bề sau của cuộc sống con người hôm nay” (Nguyễn Minh Châu) Mỗi người một phong cách, một hướng tiếp cận, khám phá đời sống, các cây bút nữ giai đoạn này đều nỗ lực thể hiện sự phong phú phức tạp muôn màu của cuộc sống thời mở cửa, góp phần làm nên diện mạo của một nền văn học mới Đóng góp của họ được thể hiện nhiều nhất ở thể loại truyện ngắn Có thể nói văn học từ sau đổi mới là sự lên ngôi của thể loại này Những tìm tòi, đổi mới về tư tưởng chủ đề, về hình thức nghệ thuật trong truyện ngắn là những đóng góp quan trọng làm nên những bước phát triển vững chắc cho thể loại truyện ngắn Việt Nam Vì vậy tìm hiểu những khám phá nghệ thuật của bất cứ một tác giả nào trong giai đoạn văn học này cũng là những đóng góp
có ý nghĩa để có cái nhìn khái quát hơn về diện mạo của cả một giai đọan văn học
1.2 Đoàn Lê là một trong những gương mặt nữ ít nhiều đã thể hiện phong cách nghệ thuật của mình trên văn đàn sau 1975, nhất là thập niên cuối thế kỷ
XX và những năm gần đây Là một nghệ sỹ đa tài, Đoàn Lê đã để lại dấu ấn của mình trên nhiều lĩnh vực: từng là diễn viên điện ảnh, thiết kế mỹ thuật, biên kịch, đạo diễn phim, họa sỹ, nhà văn, nhà thơ Đến nay vốn liếng văn chương của Đoàn Lê đã khá dày dặn Ngoài những kịch bản phim truyện, bà có năm tập truyện ngắn, bốn cuốn tiểu thuyết và rất nhiều tác phẩm hội họa được giới phê bình đánh giá cao Đặc biệt, trong tư cách nhà văn, Đoàn Lê được biết đến như một cây bút nữ có phong cách đa dạng và sức sáng tao tươi mới cùng với một ngôn ngữ dịu dàng nền nã Bà từng có hai tập truyện ngắn được dịch ra tiếng
Trang 5Anh để giới thiệu với bạn đọc Mỹ là Trinh tiết xóm chùa và Nghĩa địa xóm chùa, một tiểu thuyết được giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam Cuốn gia phả
để lại và gần đây nhất là cuốn tiểu thuyết Tiền định được lọt vào vòng chung khảo của giải thưởng Bách Việt, cùng một số truyện ngắn được nhận giải thưởng của các báo, các tạp chí (truyện Đêm ngâu vào - Giải A tạp chí Sông Hương, truyện Hạt vừng- Giải thưởng Tạp chí tác phẩm Văn học, truyện Trinh tiết xóm Chùa - Giải thưởng báo Văn nghệ) Ở mảng truyện ngắn, Đoàn Lê được đánh
giá là một cây bút viết truyện ngắn đặc sắc Truyện ngắn của bà xuất hiện đều đều trên các báo Truyện ngắn Đoàn Lê lúc thì đằm thắm trữ tình, lúc lại hiện thực sắc sảo, có khi táo bạo hiện đại đến bất ngờ, có lúc lại trẻ trung thổn thức như một cô gái mới lớn Đọc truyện ngắn của bà, người đọc dễ dàng nhận ra một trái tim phụ nữ giầu yêu thương với tất cả những vấn đề của cuộc sống nhân sinh, nhất là vấn đề người phụ nữ Đoàn Lê cũng may mắn được sống và cảm nhận những giá trị cuộc sống ở cả hai giai đoạn văn học: những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và mảng hiện thực cuộc sống sau chiến tranh nhất
là từ thời kỳ đổi mới Bởi vậy, trong những sáng tác của bà, số phận của những con người bước ra từ cuộc chiến tranh cùng bi kịch của những con người trong cuộc sống muôn mặt đời thường đã hiện lên thật sâu sắc và cảm động Dù không phải là người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học, nhưng truyện ngắn của Đoàn Lê vẫn có nhiều yếu tố cách tân về thi pháp, phần nhiều là nằm trong ranh giới của truyện truyền thống- hiện đại Trong truyện ngắn của Đoàn Lê, một không gian nghệ thuật luôn trở đi trở lại gây ám ảnh lòng người là không gian của một xóm Chùa cụ thể Nhưng đó cũng là không gian bao trùm cả nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới- không gian với sự giao tranh quyết liệt của những yếu tố mới – cũ Đây cũng là một trong những đề tài nổi trội của văn học giai đoan này Bởi vậy tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Đoàn Lê cũng chính là cách tiếp cận với cuộc sống và truyện ngắn đương đại Đồng thời phong cách truyện của bà cũng rất tiêu biểu cho những cây bút nữ giai đoạn văn học sau đổi mới
Với những lý do ấy, chúng tôi chọn đề tài tìm hiểu Thế giới nghệ thuật
truyện ngắn của Đoàn Lê với hy vọng giúp bạn đọc hôm nay nhận diện một
gương mặt văn học và từ đó nhìn nhận diện mạo của văn chương đương đại
Trang 62 Lịch sử vấn đề
Văn học sau 1975 là sự nở rộ các truyện ngắn của nhiều cây bút nữ Họ là lớp nhà văn trẻ tài năng và giầu nhiệt huyết Lối viết của họ có sự kế thừa tinh hoa của giai đoạn văn học trước đồng thời cũng chứa đựng nhiều nét cách tân, đột phá ở cả phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Tuy vậy, sáng tác của họ còn khá mới mẻ đối với nhiều bạn đọc Tình hình nghiên cứu tác phẩm, phong cách tác giả còn rải rác chưa có hệ thống, chưa đáp ứng được nhu cầu đọc ngày càng cao của xã hội Đoàn Lê là một cây bút có những dấu ấn nhất định trên văn đàn hôm nay, nhất là trong thời gian gần đây, sáng tác của Đoàn Lê đã được khá nhiều bạn đọc quan tâm Tuy nhiên để có một cái nhìn khái quát về toàn bộ sáng tác của nhà văn này thì cho đến nay chỉ có rất ít công trình khoa học đi sâu nghiên cứu truyện ngắn Đoàn Lê một cách cụ thể Hầu hết các bài viết mới chỉ dừng ở dạng giới thiệu, nhận xét sơ bộ, trình bày cảm xúc về một truyện ngắn, một tập truyện ngắn hay một tiểu thuyết nào đó của nhà văn
Nhận xét về truyện ngắn Đoàn Lê, các nhà nghiên cứu, phê bình thường ghi nhận những đóng góp của bà với văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới nhất
là giai đoạn sau 1986 Vương Trí Nhàn khi lý giải về sự xuất hiện đông đảo của các cây bút nữ sau 1975 trong đó có sáng tác của Đoàn Lê đã cho rằng : “phụ nữ bắt mạch nhanh hơn nam giới Họ luôn gần gũi với cái lỉnh kỉnh dở dang của cuộc sống Mặt khác, với cái cực đoan sẵn có- tốt, dịu dàng, rộng lượng thì không ai bằng, mà nhỏ nhen, chấp nhặt, dữ dằn cũng không ai bằng, từng cây bút đã tìm ra mặt mạnh của mình khá sớm, định hình khá sớm” [49] Sự góp mặt của những nhà văn nữ những năm gần đây trong đó có Đoàn Lê đã tạo ra một luồng sinh khí mới cho văn học đương đại Cách nhìn hiện thực và con người bằng những ưu thế của giới tính trong sáng tạo nghệ thuật và cách lựa chọn đề tài, xử lý tình huống đã tạo nên những nét khác biệt có nhiều đóng góp của các cây bút nữ cho nền văn xuôi đương đại Nhận định của một nhà phê bình về các nhà văn nữ của văn học đương đại thông qua các hình thức biểu hiện của nhân vật nữ trong sáng tác của họ trong đó có Đoàn Lê như sau: “Đặc điểm trong những truyện ngắn của các tác giả nữ là hiện thực xã hội đang thay đổi nhanh chóng, quyết liệt và ảnh hưởng đến từng cuộc đời, ít nhiều làm vỡ những giấc mộng lớn, mộng con với thái độ chung là chấp nhận như một chuyển động tất yếu của cuộc đời” [79, 103] Bên cạnh những nhận định chung về sáng tác của
Trang 7các tác giả nữ trong đó có Đoàn Lê thì những ý kiến, nhận xét riêng về truyện ngắn của bà cũng góp phần khẳng định sự ảnh hưởng của cây bút này đối với văn học nữ giai đoạn đổi mới Tạp chí Nghiệp đoàn Xuất bản ở Mỹ năm 2005 đã nhận xét rất tinh tế về phong cách sáng tác Đoàn Lê và giá trị tập truyện ngắn:
“Trinh tiết xóm Chùa”: “Đoàn Lê được ghi nhận ở phong cách đa dạng và sức
sáng tạo tươi mới Với giới học giả, những truyện ngắn này cho một cái nhìn vào bên trong văn hóa Việt Nam sau “đổi mới” Với người đọc nói chung, đây là những tác phẩm bao quát và đầy nhân văn về những đề tài như lòng tham, hôn nhân, ly dị, tuổi già Đó là những tác phẩm về quyền con người, khảo sát tất cả
những gì bí ẩn, tinh tế của trái tim con người” Trong bài viết: Đoàn Lê “chị tôi” [61], nhà văn Hồ Anh Thái đã có những ý kiến đánh giá rất tinh sắc về một
số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn của Đoàn Lê: “Với ngôn ngữ dịu dàng, nền nã, hóm hỉnh, hài hước một cách nhẹ nhàng, chị viết về những vấn đề thời cuộc ở cái làng ven đô thị trong hàng loạt tác phẩm gắn với tên Xóm Chùa: Đất xóm Chùa, Nghĩa địa xóm Chùa, Người đẹp xóm Chùa, Giường đôi xóm Chùa.” Tuy là chuyện xóm Chùa nhưng Đoàn lê đã “tìm tòi và sử dụng rất nhiều
kỹ thuật viết, chính thế mạnh này đã lôi cuốn người đọc” Cũng trong bài viết này, tác giả còn đề cập đến nghệ thuật sử dụng yếu tố kỳ ảo trong hai truyện
Nghĩa địa xóm Chùa và Lên Ruồi của Đoàn Lê “Cả Nghĩa địa xóm Chùa và Lên Ruồi đều nằm trong mạch truyện có yếu tố kỳ ảo của Đoàn Lê Nhưng ngay
cả trong những truyện kỳ ảo nhất của bà thì “cái thực vẫn lấn cái ảo, cái ảo chỉ làm lạ hóa, chỉ thay đổi một góc nhìn hiện thực, chứ không phải là yếu tố xoay chuyển và quyết định hiện thực nghệ thuật” Cũng nói về nghệ thuật viết truyện
có yếu tố kỳ ảo, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú khi cho in trên tạp chí Tác Phẩm
Mới truyện Nghĩa địa xóm Chùa của Đoàn Lê đã bày tỏ cảm xúc mãnh liệt của
mình như sau: “Hay Đoàn Lê nghi có mầm bệnh trong người? Chỉ có người ốm mới dám viết những chuyện khủng khiếp như vậy”
Kirkus Reviews, một tạp chí có uy tín trong ngành xuất bản của Mỹ,
nhận xét về văn phong của tập truyện Nghĩa địa xóm Chùa của Đoàn Lê: “Mười
truyện mang màu sắc Gogol trong một bản dịch tiếng Anh đầu tiên của Đoàn
Lê Thảng hoặc Đoàn Lê có xu hướng ẩn dụ kiểu Kafka như trong Lên ruồi, hay một truyện ngắn đạt tới giọng điệu riêng tư thấm thía như Giường đôi xóm Chùa Đó là những truyện ngắn đặc sắc”, những truyện ngắn “như những viên
Trang 8đá quý”, những truyện “phúng dụ, châm biếm, huyễn tưởng” với văn phong tinh
tế, linh hoạt Trong bài viết “Đoàn Lê- nghệ sỹ đa tài” (Báo nhân dân http /wv.nd com.vn) nhận định về văn phong Đoàn Lê: “giản dị, hóm hỉnh, sâu sắc, Đoàn Lê có biệt tài phát hiện và miêu tả những chi tiết đắt giá ngay trong những cái tưởng chừng như vụn vặt đời thường Văn phong Đoàn Lê cuốn hút người đọc bằng những câu chữ tinh tế, mượt mà”
Trong luận án tiến sỹ với đề tài “Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam”, Tiến sỹ Bùi Thanh Truyền đã khảo sát hàng loạt truyện ngắn có yếu
tố kỳ ảo trong đó có truyện ngắn Nghĩa địa xóm Chùa của Đoàn Lê Ông đã phát
hiện được khả năng kỳ diệu của ngôn ngữ Đoàn Lê trong việc khu biệt thế giới
kỳ ảo: “Đặc trưng của thế giới huyền thoại đã chi phối rất rõ cách sử dụng ngôn ngữ của nhà văn Đến lượt mình, hệ thống ngôn ngữ này cũng có chức năng khu biệt quan trọng thế giới kì ảo ấy Khi miêu tả tình làng nghĩa xóm , Đoàn Lê viết: "Từ ngày ra nhập tịch nghĩa địa xóm Chùa tôi được sống trong cảnh chan
hoà tình người, tối lửa tắt trăng có nhau cực kì vui vẻ." Hạ xuống một chữ trăng, người viết đã tạo lập nét khu biệt đáng kể của không gian, thời gian và
đặc tính của những "cư dân nghĩa địa" với đêm, bóng tối cùng sự dị ứng bởi ánh
sáng mặt trời” [74, 170] Còn khi viết truyện ngắn Chờ nhật thực, gửi cho Báo tuổi trẻ cuối tuần chính Đoàn Lê nói về việc sử dụng yếu tố kỳ ảo trong truyện
của mình: “Yếu tố huyền ảo được sử dụng, nhằm tôn lên những nét hiện thực và lịch sử.”
Trong bài viết “Ai cứu xóm Chùa” [13], tiến sỹ Nguyễn Lân Dũng nhận
xét về không gian xóm Chùa trong hàng loạt những sáng tác của Đoàn Lê như sau: “Xóm Chùa là tên một làng quê được nhắc đến trong nhiều truyện ngắn của
nữ tác giả Đoàn Lê Có thể đó không phải là một địa danh thật và không phải mọi câu chuyện ở đây đều xảy ra tại một làng quê cụ thể nào Nhưng với cái nhìn sắc sảo và nhân ái của tác giả, tôi tin là những câu chuyện xảy ra liên quan đến cái Xóm Chùa này đều là những chuyện có thật tại nông thôn nước ta từ ngày Mở cửa Tôi khâm phục văn tài của Đoàn Lê vì chị đã làm cho người đọc không thể không khắc khoải suy nghĩ và lo âu cho tương lai của nông thôn nước
ta trước những diễn biến đi ngược lại với truyền thống nhân văn, nhân ái qua hàng nghìn năm qua”
Trang 9Những nhận định, ý kiến của những nhà phê bình, nghiên cứu văn học đã góp phần giúp bạn đọc có cái nhìn khái quát về truyện ngắn cũng như sáng tác chung của Đoàn Lê Đồng thời cũng phần nào hiểu được những nét cách tân trong nghệ thuật viết truyện của bà Tuy nhiên, những ý kiến đánh giá, nhận xét
về truyện ngắn Đoàn Lê đa phần là những ý kiến trên mạng còn chung chung, sơ lược, chưa cụ thể, chi tiết Những ý kiến chính thống về Đoàn Lê chưa nhiều và cũng chưa có hệ thống Và để hiểu một cách trọn vẹn, sâu sắc, có hệ thống những giá trị về nội dung, những đặc sắc về nghệ thuật của truyện ngắn Đoàn Lê thì cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đáp ứng được điều đó Luận văn này với mong muốn bước đầu đi sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật truyện ngắn Đoàn Lê một cách có hệ thống nhằm giúp bạn đọc có nhiều cơ hội tiếp cận, tìm hiểu và yêu mến cây bút này hơn, đồng thời cũng là cách tiếp cận
để hiểu những đặc trưng cơ bản của văn học đương đại Bởi những đóng góp của nhà văn này cho nền văn học đương đại Việt Nam là điều không thể phủ nhận
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát chính là thế giới nghệ thuật truyện ngắn Đoàn Lê như: Cảm hứng nghệ thuật, Thế giới nhân vật, Một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Đoàn Lê
Các tập truyện của Đoàn Lê được khảo sát trong luận văn:
- Thành hoàng làng xổ số- Nhà xuất bản Phụ Nữ Hà Nội 1990
- Nghĩa địa xóm chùa - Nhà xuất bản Hội nhà văn 1999
- Trinh tiết xóm chùa - Nhà xuất bản Hội nhà văn 2005
4 Phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những phương
pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp thống kê, phân loại; phương pháp
Trang 10phân tích, tổng hợp; phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh đối chiếu Với những phương pháp này, chúng tôi cố gắng tìm những đặc điểm cơ bản nhất của thế giới nghệ thuật truyện ngắn Đoàn Lê trong mối tương quan giữa tác phẩm của bà với những nhà văn cùng giới, cùng thời kỳ và cả những cây bút ở giai đoạn văn học trước
4.1 Phương pháp thống kê phân loại:
Phương pháp thống kê, phân loại: giúp cho việc tìm hiểu, phân loại các kiểu nhân vật, mô hình cốt truyện khi nghiên cứu thế giới nghệ thuật truyện ngắn Đoàn Lê
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: giúp cho việc nghiên cứu, phân tích, cắt nghĩa, lý giải các vấn đề, các chi tiết nghệ thuật từ đó khái quát lên những đặc điểm chung về hình thức nghệ thuật trong toàn bộ hệ thống truyện ngắn của nhà văn
4.3 Phương pháp lịch sử:
Phương pháp lịch sử: xem xét những đặc trưng nghệ thuật trong truyện ngắn của Đoàn Lê trong sự kế thừa của văn học truyền thống nhưng cũng có những cách tân độc đáo tạo nên dấu ấn riêng của Đoàn Lê trên văn đàn hôm nay
4.4 Phương pháp đối chiếu so sánh:
Phương pháp đối chiếu so sánh nhằm làm nổi bật những đặc trưng riêng trong thế giới nghệ thuật của Đoàn Lê trong sự so sánh với văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, nhất là với những cây bút nữ cùng thời và với văn học giai đoạn trước
5 Những đóng góp mới của luận văn
Tìm hiểu thế giới nghệ thuật truyện ngắn của Đoàn Lê: cảm hứng nghệ thuật, thế giới nhân vật, các phương diện nghệ thuật cơ bản…để khẳng định vai trò, vị trí, tên tuổi, những đóng góp về sự cách tân nghệ thuật của Đoàn Lê đối với văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Từ đó có cái nhìn khái quát, đa diện về truyện ngắn Việt Nam đương đại
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:
Trang 11Chương I: Cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn của Đoàn Lê gồm
cảm hứng bi kịch và cảm hứng triết luận
Chương II: Thế giới nhân vật gồm các phần: Đặc điểm nhân vật trong
truyện ngắn của Đoàn Lê, các kiểu nhân vật và phương thức biểu hiện
Chương III Một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn của Đoàn
Lê gồm: Cốt truyện, tình huống truyện, không gian- thời gian, ngôn ngữ nghệ thuật, giọng điệu nghệ thuật
Trang 12PHẦN II : NỘI DUNG
CHƯƠNG I CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT
1 Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm văn học
Từ trước đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau với khái niệm “Cảm hứng nghệ thuật”, các cách hiểu đó đều thống nhất ở chỗ khẳng định vai trò quan
trọng của cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm văn học giống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt, xâu nối các khối văn bản trong
tác phẩm Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra khái niệm về cảm hứng
nghệ thuật (hay còn gọi là cảm hứng chủ đạo) là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm.”[21, 32] Có thể nói cảm hứng nghệ thuật chính là những cảm xúc, tình cảm chân thành của nhà văn gửi gắm trên mỗi trang giấy Cảm hứng nghệ thuật được xem như “một điều kiện không thể thiếu trong việc tạo ra những tác phẩm đích thực”(Bêlinxki) Nhờ “sợi dây” cảm hứng này mà toàn bộ các cấp độ, các yếu tố của nội dung tác phẩm được thống nhất trong một không khí cảm xúc nhất định Nhưng với ý nghĩa lớn lao hơn, cảm hứng nghệ thuật còn trở thành “công cụ đắc lực” để thông qua đó nhà văn thể hiện thế giới quan của bản thân và khẳng định phong cách cá nhân của mình trên văn đàn.Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm văn học với niềm say
mê khẳng định cái tốt, cái tích cực; phủ nhận những điều xấu xa giả dối
sẽ đem lại cho tác phẩm một luồng sinh khí, biến những tư tưởng khô khan thành các hình tượng sinh động, tạo ra một bầu khí q uyển nóng bỏng, biến tác phẩm trở thành một sợi dây truyền tình cảm của tác giả đến người tiếp nhận Sự nhiệt thành trong việc bộc lộ cảm xúc của nhà văn, nhà thơ sẽ khiến “cảm hứng chủ đạo của tác phẩm chi phối sự thống nhất cảm xúc của hình tượng, chi phối hệ thống nghệ thuật biểu cảm của tác phẩm”
Đối với truyện ngắn, cảm hứng nghệ thuật càng đóng một vai trò vô cùng quan trọng Người ta thường nói về thể loại truyện ngắn như một “lát cắt của mặt gỗ”, là “sự dồn nén và cô đặc lại”, một “khoảnh khắc ngắn ngủi” của đời sống được lồng vào trong một thiên truyện chỉ dài mấy mươi trang giấy Tuy
Trang 13nhiên sức gợi cảm của thể loại này lại rất lớn và thường mang tính chất mở ở sự ngắn gọn và cô đọng của nó Truyện ngắn nên gọn nhưng phải tinh tế và bén nhọn về tư tưởng nghệ thuật Chính vì tính chất ngắn gọn ấy mà cảm hứng chủ đạo của tác phẩm trở thành “chất keo” gắn kết ý tứ và các phần nội dung để trở thành một thiên tác phẩm có giá trị Bởi vậy có thể coi cảm hứng chủ đạo gần như linh hồn của tác phẩm Nếu thiếu đi linh hồn, tác phẩm chỉ còn là cái xác khô cứng và đương nhiên sẽ không thể sống trong lòng độc giả Nếu như đối với truyện dài và tiểu thuyết, do dung lượng lớn nên việc miêu tả chi tiết sự vận động của một tâm hồn, một tính cách với những diễn biến tâm lý phức tạp nhằm đạt tới chiều dài của một cuộc đời và sự khái quát hóa về một số phận con người nên cảm hứng chủ đạo của tác phẩm được thể hiện rất rõ thì truyện ngắn do dung lượng tác phẩm có hạn, cảm xúc của tác giả càng phải dồn nén nhiều hơn
Vì thế mà có nhiều nhận xét cho rằng: truyện ngắn gần với thơ hơn các thể loại
tự sự khác như truyện dài và tiểu thuyết Ở một số truyện ngắn có xuất hiện các
“tứ” “Tứ” trong truyện ngắn chính là “chủ đề nhưng đã gắn với hình ảnh, với chất liệu” (Ma Văn Kháng) “Tứ” là yếu tố chủ yếu tạo nên “chất thơ” trong truyện ngắn Chất thơ hay tính chất trữ tình trong tác phẩm truyện ngắn toát lên
từ khung cảnh, chất liệu, từ không khí chung của toàn tác phẩm, hay từ sự hòa hợp giữa yêú tố khách quan và chủ quan của toàn thiên truyện Truyện ngắn cũng có điểm tương đồng với thơ ở chỗ những xúc cảm tâm lý thường bộc lộ một cách cao độ hơn, thể hiện nội dung tư tưởng một cách nổi bật, tập trung vào một vấn đề nhân sinh trọng tâm chứ không dàn trải như ở thể loại tiểu thuyết, như lời nhận xét của nhà văn Lỗ Tấn “qua một mảng lông mà biết toàn bộ con báo, qua một con mắt mà truyền được cả tinh thần” Vì vậy, truyện ngắn luôn đòi hỏi cảm hứng nghệ thuật phải dồi dào, có định hướng, từ đó thể hiện nội dung tư tưởng một cách s ắc bén
và tạo nên một cấu trúc nghệ thuật chặt chẽ, hài hòa giữa yếu tố lí trí và tình cảm
Cảm hứng nghệ thuật không phải là tình cảm được xướng lên thành một phát ngôn trong tác phẩm, nó là tình cảm mà người đọc cảm nhận được từ tình huống, từ khung cảnh, từ chất liệu, từ không khí chung của toàn tác phẩm Lí luận văn học coi cảm hứng nghệ thuật là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm của nhà
Trang 14văn với thế giới được mô tả Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm văn học luôn thống nhất với đề tài và tư tưởng tác phẩm, nó tạo nên cho tác phẩm một sự thống nhất ở mọi cấp độ Đồng thời, cảm hứng nghệ thuật còn thể hiện được thế giới quan của nhà văn, bộc lộ được quan điểm của nhà văn trước mọi vấn đề của cuộc sống Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm có vai trò quan trọng, có vai trò không thể thiếu, như Bêlinxki đã nói, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành”
2 Cảm hứng nghệ thuật trong văn học Việt Nam sau 1975
Cảm hứng chủ đạo trong văn chương Việt Nam trước năm 1975 gắn liền với những sự kiện lớn lao có liên quan tới vận mệnh dân tộc: công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và sự nghiệp xây dựng Tổ quốc Sau ngày đất nước thống nhất (1975), đời sống con người đổi khác, tư tưởng, tâm lí, nhu cầu vật chất và tinh thần của con người cũng không còn như trước, vì vậy văn học cũng không thể chỉ mang mãi cảm hứng
cũ Hiện thực cuộc sống đời thường sau chiến tranh mở ra những vùng đất mới, khơi gợi những nguồn cảm hứng mới mẻ cho các nhà văn Sau
1975, cảm hứng ngợi ca trong văn học không còn đóng vai trò chủ đạo như trong văn học 30 năm trước Đề tài, chủ đề của tác phẩm văn học gần với đời sống hiện thực hơn Các nhà văn đã đụng đến một số hiện tượng ít được đề cập trong văn học trước 1975 như phơi bày một vài mặt tiêu cực trong xã hội hoặc nhìn thẳng vào những tổn thất nặng nề trong chiến tranh hay bước đầu đề cập đến bi kịch cá nhân
Đất nước cần được đổi mới toàn diện và sâu sắc, văn học cũng đòi hỏi như vậy Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khẳng định “đổi mới đang là nhu cầu bức thiết”, “có ý nghĩa sống còn” và nói rõ: “Thái độ của Đảng
ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh gía đúng sự thật, nói rõ sự thật” Đại hội Đảng lần thứ VI là một sự kiện lịch sử trọng đại đã cắm một cột mốc lớn đánh dấu sự đổi mới mạnh mẽ của nền văn học nước nhà Thành tựu quan trọng nhất của văn học sau 1975 là sự đổi mới trong ý thức nghệ thuật của giới cầm bút Sau Đại hội Đảng lần VI, hầu hết người làm thơ, viết văn
Trang 15thuộc các thế hệ khác nhau đều chung một ý nghĩ “không thể viết như cũ được nữa” (Lê Lựu trả lời phỏng vấn báo Quân đội nhân dân, ngày 24/4/1988) Và từ
đó, một khuynh hướng văn học mới phát triển mạnh mẽ với cái nhìn hiện thực thẳng thắn hơn, đa chiều hơn Công cuộc đổi mới càng ngày càng phát triển cả ở bề rộng lẫn chiều sâu, sự đổi mới diễn ra từ tư tưởng thẩm mĩ đến hệ thống thể loại, thi pháp và phong cách nghệ thuật Các nhà văn không còn “nhìn đời và nhìn người một phía”, họ không chỉ dừng lại ở cảm hứng ngợi ca mà nhận thức được rằng “hiện thực không phải là một cái gì đơn giản, xuôi chiều; con người là một sinh thể phong phú, phức tạp, còn nhiều bí ẩn phải khám phá; nhà văn phải là người có
tư tưởng, phải nhập cuộc bằng tư tưởng chứ không chỉ bằng nhiệt tình và trong tìm tòi sáng tạo không chỉ dựa vào kinh nghiệm cộng đồng mà còn phải dựa vào kinh nghiệm của cá nhân mình nữa; độc giả không phải là những đối tượng để thuyết giáo mà là những người bạn để giao lưu, đối thoại một cách bình đẳng…[42,16] Với cái nhìn đa chiều ấy, văn học đồng thời cũng xuất hiện những cảm hứng mà văn học thời chiến tranh
rất ít xuất hiện như: cảm hứng bi kịch, cảm hứng trào lộng…
Cảm hứng bi kịch khai thác những bi kịch đổi đời; bi kịch hậu chiến; bi kịch tình yêu, hôn nhân…phản ánh đúng những bộn bề của cuộc sống của thời kinh tế thị trường đầy xáo động Những tác phẩm mang cảm hứng này đánh dấu sự khởi sắc của văn chương thời kỳ đổi
mới Có thể nhắc tới những sáng tác ở giai đoạn đầu như Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu), Thời xa vắng (Lê Lựu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn
Kháng)…Và ở chặng đường sau là hàng loạt những tên tuổi như Bảo Ninh, Đoàn Lê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ…
Cảm hứng phê phán, cảm hứng trào lộng cũng là một nguồn cảm hứng lớn trong văn học giai đoạn này Khi ý thức cá nhân phát triển, khi con người không còn được nhìn ở góc nhìn lịch sử, công dân nữa mà chủ yếu được nhìn nhận ở phương diện cá nhân trong quan hệ đời thường, những bi, hài kịch bắt đầu xuất hiện Cảm hứng trào lộng mở ra những bức tranh cuộc sống với nhiều mảng màu tương phả n: niềm vui chiến thắng xen với nỗi buồn mất mát, sự đủ đầy của vật chất thời mở
Trang 16cửa lại là mầm mống của mất mát đạo đức, tình cảm trong cuộc sống tinh thần, hạnh phúc tồn tại song song với những bất hạnh của đời thường…Những hiện tượng dở khóc dở cười diễn ra trong cuộc sống tạo thành nguồn cảm hứng cho các tác giả sáng tác Cái Tôi cá nhân càng được đề cao, thì việc khai thác vào tận cùng của những nỗi niềm càng được chú ý tới và vì thế mà văn chương ngày càng sâu sắc hơn Chính vì vậy sáng tác văn học trong giai đoạn này đã đạt được đến những thành
công nhất định khi Vấn đề quyền sống, nỗi đau khổ và hạnh phúc của con người được khai thác trong văn chương với cảm hứng nhân đạo sâu
sắc [46,3]
Việc tìm hiểu những đặc điểm tiêu biểu của văn học Việt Nam sau
năm 1975 là một điều quan trọng, vì trong bài Khái quát về văn học Việt Nam từ cách mạng tháng tám 1975 đến hết thế kỷ XX [42,17] có nhận xét
về văn học thời kỳ đổi mới như sau “cảm hứng thế sự tăng mạnh, trong khi cảm hứng sử thi lãng mạn giảm dần; từ đó văn học quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong những quy luật phức tạp của đời thường; nội tâm của nhân vật được khai thác sâu hơn, bút pháp hướng nội được phát huy, không gian đời tư được chú ý, thời gian tâm lý ngày càng mở rộng, phương thức trần thuật trở nên đa dạng, giọng điệu trần thuật trở nên phong phú hơn; ngôn ngữ văn học cũng gần với hiện thực đời thường hơn…”[42,18] Từ đó có thể thấy sự tác động to lớn của cảm hứng nghệ thuật với các thành tố khác trong văn chương Tìm hiểu được
kỹ cảm hứng nghệ thuật người nghiên cứu sẽ hiểu rõ thế giới nghệ thuật, quan niệm sáng tác, phong cách nhà văn, thậm chí của cả một giai đoạn văn học
Là một cây bút ít nhiều để lại dấu ấn của mình trên văn đàn hôm nay, truyện ngắn của Đoàn Lê thường xuất phát từ những nguồn cảm hứng chủ đạo như: cảm hứng bi kịch, cảm hứng phê phán trào lộng, cảm hứng triết luận… Từ những nguồn cảm hứng đó, nhà văn đã mạnh dạn đưa vào tác phẩm những bức tranh chân thực, sống động về cuộc sống hiện thực đời thường “ như nó vốn có”
Từ đó cung cấp cho người đọc những cái nhìn đa diện, đa chiều về cuộc sống thời đổi mới
Trang 173 Những cảm hứng nghệ thuật cơ bản trong truyện ngắn của Đoàn Lê
3.1 Cảm hứng bi kịch
Cảm hứng bi kịch xuất hiện trong văn học từ rất sớm Tuy nhiên phải đến văn học hiện đại nguồn cảm hứng này mới được thể hiện rõ nét và sâu sắc Cuộc sống thời mở cửa có nhiều thay đổi do sự thâm nhập của nền kinh tế thị trường
Sự thay đổi ấy dẫn đến biết bao bi kịch của con người
Cảm hứng bi kịch xuất hiện trong văn học Việt Nam từ xa xưa nhưng mới chỉ nằm rải rác trong các giai đoạn văn học mà chưa có sự tập trung thành hệ thống Từ thời văn học dân gian đã xuất hiện những tấn bi kịch: bi kịch nước
mất nhà tan trong truyền thuyết An Dương Vương và Mỵ Châu Trọng Thủy, bi kịch hôn nhân gả bán, ép buộc trong truyện thơ Tiễn dặn người yêu của tộc
người Thái, bi kịch thân phận người phụ nữ - những con người thấp cổ bé họng, những “con sâu cái kiến” trong xã hội cũ ở Ca dao Văn học trung đại thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX xuất hiện hàng loạt bi kịch của những “hồng nhan bạc mệnh”, “hồng nhan đa truân” như bi kịch của những người cung nữ
xinh đẹp bị biến thành đồ chơi rồi bị bỏ quên nơi lãnh cung trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều hay bi kịch của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn , bi kịch của người con
gái đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” nhưng cuộc đời là một chuỗi những bất
hạnh khổ đau trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, bi kịch về thân phận khổ đau
bất hạnh phải chịu cảnh chồng chung cùng muôn vàn những hủ tục giàng buộc người phụ nữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương… Bước sang giai đoạn văn học hiện đại, phong trào Thơ mới là chuỗi bi kịch của cái “tôi” cá nhân, cá thể Đó
là một cái “tôi” cô đơn bế tắc hoàn toàn đối lập với xã hội, một cái tôi được đào sâu đến tận cùng và càng đi sâu càng thấy lạnh: Thế Lữ thoát lên tiên nhưng động tiên đã khép, Lưu Trọng Lư phiêu diêu trong trường tình nhưng tình yêu không bền, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên điên cuồng rồi lại tỉnh, Xuân Diệu say đắm vẫn bơ vơ…Đến văn học 30 năm chiến tranh, cảm hứng bi kịch vẫn chưa
có một vị trí đáng kể do những điều kiện khách quan của lịch sử Phải đến những năm 80 của thế kỷ XX, cảm hứng bi kịch mới trở thành một trong những nguồn cảm hứng xuyên suốt trong văn học Lúc này do sự tác động của nền kinh
tế thị trường cùng xu thế toàn cầu hóa, văn học có sự biến đổi nhanh chóng để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới Cuộc sống xã hội muôn màu, muôn vẻ tạo
Trang 18nên những tình huống bi kịch, những xung đột điển hình cho văn học “Cái nhất thời trong cái muôn đời, cái độc ác nằm trong cái nhân hậu, cái cực đoan nằm giữa cái tinh thần xởi lởi, cởi mở, cái nhảy cẫng lên lấc láo lên giữa cái dung dị,
thái độ bình thản chịu đựng và tinh thần trách nhiệm đầy suy nghĩ” [10] Hiện
thực cuộc sống thời hậu chiến với bộn bề những vấn đề nhức nhối đã khơi nguồn cảm hứng bi kịch cho những nhà văn giai đoạn văn học này
Sau khi hòa bình lập lại, nỗi đau và sự mất mát mà chiến tranh để lại là những căn nguyên sâu xa của những tấn bi kịch mà con người hậu chiến phải gánh chịu Thêm vào đó, cuộc sống thời mở cửa với tốc độ đô thị hóa chóng mặt
là căn nguyên dẫn tới những tấn bi kịch thương tâm cho biết bao gia đình Là nhà văn thuộc thế hệ “gạch nối giữa hai thời kỳ của đất nước”, hơn nữa bản thân Đoàn Lê đã từng sống chứng kiến, thậm chí trải nghiệm nỗi đau tột cùng và những mất mát lớn lao của con người do chiến tranh gây ra Bởi vậy những trang viết về chiến tranh của bà luôn sâu sắc và cảm động
3.1.1 Bi kịch chiến tranh
Chiến tranh bao giờ cũng là nỗi ám ảnh lớn nhất đối với tất cả những
ai từng trải qua nó Ở đó có nỗi đau, có sự hy sinh mất mát Đoàn Lê thuộc thế
hệ nhà văn sinh ra và lớn lên trong thời chiến, được tận mắt chứng kiến cuộc sống cùng cực của con người dưới bom đạn chiến tranh Bản thân Đoàn Lê suốt thời thơ ấu biết bao lần cùng những chị em của mình chạy tản cư: giặc càn rất dữ dội, chúng lùng sục, bắt bớ, bắn giết người rất dã man, rồi cảnh nhà tan tác chia
ly, người còn người mất Những ký ức đau thương ấy được nhà văn biến thành những tư liệu quý giá cho những trang viết của mình Cũng nhờ những trải nghiệm thực tế ấy mà cách tiếp cận bi kịch của nhà văn dường như có phần sâu sắc, xúc động hơn
Khảo sát toàn bộ sáng tác của Đoàn Lê, chúng ta nhận thấy hầu như mọi sáng tác của bà đều bắt nguồn từ cảm hứng bi kịch: bi kịch chiến tranh, bi kịch tình yêu hôn nhân- gia đình, bi kịch từ cuộc sống thời mở cửa…Trong đó những trang viết của Đoàn Lê về bi kịch chiến tranh không nhiều nhưng lại có sức ám ảnh thật ghê gớm với lòng người
Viết về đề tài chiến tranh, người đọc biết đến rất nhiều cây bút có tên
tuổi như: Chu Lai với “Ăn mày dĩ vãng”, “Vòng tròn bội bạc”; Nguyễn Minh Châu với “Miền cháy”, Bảo Ninh với “Nỗi buồn chiến tranh”, Lê Lựu với
Trang 19“Thời xa vắng”…Họ viết về chiến tranh bằng tất cả sự xúc động của người trong
cuộc- những người lính đã đi qua cuộc chiến tranh Bởi thế, qua những trang viết của mình, họ đã tái hiện được rất chân thực bộ mặt tàn khốc của chiến tranh Đoàn Lê cũng là nhà văn sống qua thời chiến, bà cũng từng chứng kiến và trải nghiệm nỗi đau đớn, mất mát tột cùng do chiến tranh để lại Bởi thế bộ mặt chiến tranh hiện hình trong những trang viết của bà có sức sống, có sức gợi tả nỗi đau thật ghê gớm Dù bà không hề đi sâu vào việc miêu tả diễn biến của cuộc chiến, cũng không chú tâm đến việc tái hiện sự gian khổ, thiếu thốn của cuộc sống thời chiến mà người lính phải trải qua nhưng bộ mặt gớm ghiếc của chiến tranh với tất cả sức hủy diệt của nó vẫn hiện lên mồn một trong những trang văn của bà
Viết về chiến tranh, Đoàn Lê thường đi sâu khai thác đời sống nội tâm của những người lính khi cuộc sống không còn tiếng súng Họ bước ra khỏi cuộc chiến với tâm hồn rách nát tả tơi Chiến tranh tàn khốc đã cướp đi của họ tất cả: tình yêu, cuộc sống, niềm tin, cướp đi mọi niềm vui sống ở họ Đó là mảng đời sống nội tâm đầy ắp những kỷ niệm đau đớn, nhức nhối của nhân vật
“tôi” khi sống lại “Một ngày ở xứ em” Thời gian chỉ một ngày nhưng dồn chứa
nỗi đau của một thời, một đời Nhân vật tôi đã sống với tất cả ký ức đau thương của một thời máu lửa Chỉ trong một khoảnh khắc, bom đạn khốc liệt của chiến tranh đã vĩnh viễn cướp đi người con gái anh yêu cùng bao đồng đội của anh Chứng kiến cảnh người yêu bị chôn vùi dưới lớp đất đá chỉ còn hở một cánh tay cầu cứu tuyệt vọng, trái tim anh như muốn vỡ ra trăm mảnh Đặc biệt ấn tượng
về chiếc vòng bạc trên cổ tay người con gái anh yêu rạch một đường nhỏ rớm máu luôn hiển hiện nhức nhối trong anh Chiếc vòng bạc chính là kỷ vật tình yêu
mà anh tặng nàng Nó được tạo nên từ những vòng thép sáng loáng của một trái bom bi bị tháo gỡ Nhờ chiếc vòng đặc biệt ấy mà tình yêu của họ đã nổi tiếng khắp rừng trường Sơn những năm tháng ấy Nhưng chiến tranh tàn khốc với bộ
mặt ghớm ghiếc đã chỉ trong phút chốc “tiếng súng, tiếng bom, tiếng rít căng thẳng của máy bay cường kích ào đến…” trong khoảnh khắc ý thức bị tê liệt,
anh chạy bổ xuống cung đường nơi người yêu đang làm việc Trái tim anh đau
thắt khi thấy “hình ảnh cánh tay em lọt giữa khe hở của hai cây xà cừ vươn lên vẫy gọi, cầu cứu Cánh tay giống như một búp cây trắng mọc lên từ mặt đất vừa
Trang 20bị cày xới ám đen đang còn nghi ngút khói…” Chỉ trong phút chốc, người anh
yêu đã vĩnh viễn bị vùi sâu, chôn chặt dưới lớp đất đá loang lổ
Anh bước ra khỏi cuộc chiến như người mất hồn, trái tim anh đã hoàn
toàn rệu rã “chỉ còn mang chức năng của một cái bơm máu” Anh sợ hãi trốn
tránh quá khứ, mỗi khi nhớ đến nó là thần kinh anh lại không thể chịu nổi Tất
cả ký ức đau thương gắn với cánh tay cầu cứu của người con gái anh yêu vươn lên giữa những mảnh đất đá bị cày xới, vẫn sống, vẫn hiển hiện, vẫn cào xé nhức nhối lòng anh Nỗi đau đó đeo đẳng ngay cả trong đêm tân hôn, khi anh cận kề
bên người vợ mới thì “một luồng điện buốt giá xâm chiếm tâm hồn tôi Trong nháy mắt, tất cả như sụp đổ, vỡ toác ra.Tôi bỗng chìm nghỉm vào vòng bom đạn Trường Sơn Lửa cháy, mùi khét thuốc súng, mùi hăng lá cây giập nát Cả người tôi nôn nao sống dậy cảm giác kinh hoàng tuyệt vọng khi tay em từ mặt đất bừa bộn vươn lên, níu lấy tay tôi, xoắn lại với nỗi đau đớn thầm lặng…” Ngay trong
giây phút hạnh phúc nhất của đời người, những ám ảnh của chiến tranh vẫn không buông tha người lính để anh phải trải qua một đêm tân hôn thật khốn khó Và hôm nay, sau mười hai năm trở về với cuộc sống đời thường, né tránh
những va đập của quá khứ, anh lại sống “Một ngày xứ em tràn đầy và nhức nhối
kỷ niệm” Mọi thứ lại sống dậy hiển hiện đau đớn đến quay quắt Chỉ một ngày
nhưng anh đã uống trọn nỗi đau của một thời, một đời…
Theo dõi câu chuyện được kể qua dòng hồi ức của nhân vật “tôi”, thần kinh người đọc như căng lên, trái tim thổn thức, quặn đau theo nỗi đau của nhân vật Những trang văn này gợi chúng ta liên tưởng đến tâm trạng nhức nhối của nhân vật Kiên trong chuyến đi ngược Trường Sơn thu nhận hài cốt đồng đội ở
“Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh Ký ức đau thương ở chuông Gọi Hồn cứ
ẩn hiện cào xé nhức nhối trong Kiên Rồi lần lượt từng số phận gắn với những cái chết kinh hoàng của đồng đội hiển hiện trong Kiên như một thước phim quay chậm ở mọi góc cảnh Những lúc ấy Kiên lại đau đớn đến chết lịm Nỗi
đau của Kiên có khác gì nỗi đau của nhân vật “tôi” trong “Một ngày xứ em” Bi
kịch của họ cũng là bi kịch chung của những người lính bước ra từ cuộc chiến tranh Họ đều cống hiến hết mình cho Tổ Quốc, những người may mắn sống sót bước ra khỏi cuộc chiến thì hoặc mang thương tật về thể xác hoặc bị chấn động
về tinh thần đến không thể hoà nhập được với cuộc sống mới
Trang 21Sau này, trong cuốn tiểu thuyết vừa xuất bản- “Tiền định”, một lần nữa
Đoàn Lê lại tái hiện không khí chiến tranh, bi kịch chiến tranh trong cái nhìn của người trong cuộc Đó là nỗi đau của bà ngoại khi cậu Định hy sinh trong chiến tranh, rồi những ký ức tuổi thơ chạy loạn đến ngộp thở, thót tim trong những ngày giặc càn quét lùng sục của chính tác giả… Dù nhìn ở góc độ nào thì
bộ mặt của chiến tranh hiện lên trong sáng tác của Đoàn Lê cũng thật gớm ghiếc, ghê rợn
Nhìn chung những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh trong sáng tác của Đoàn Lê không nhiều nếu không muốn nói là còn hiếm hoi nhưng những gì bà cảm nhận về chiến tranh đều hết sức chân thực gây ám ảnh lòng người Đằng sau những bi kịch về chiến tranh, nhà văn muốn gửi gắm thông điệp về tình người, giống như một sự cứu rỗi cho chính tâm hồn con người khi nhìn về tương lai bằng lăng kính của quá khứ
3.1.2 Bi kịch đời thường
Văn học sau 1975 chứng kiến một giai đoạn lịch sử mới của dân tộc Đất nước hoà bình nhưng cũng kéo theo những biến động khác thường trong đời sống xã hội Từ chiến tranh chuyển sang giai đoạn hoà bình, xã hội có những chuyển động lớn Đã kết thúc sự tàn phá, chết chóc, hy sinh trong chiến tranh để trở về với cuộc sống thanh bình, xây dựng và lo toan hạnh phúc Nhưng chính ở cuộc sống mới này, nhiều bi kịch đã bất ngờ xuất hiện Văn học là tấm gương trung thành phản ánh đời sống xã hội nên không thể không ghi lại những bi kịch
ấy Vì thế, cảm hứng bi kịch cũng bắt đầu trở lại trong sáng tác văn chương Cảm hứng về cái bi đã làm thay đổi diện mạo của văn xuôi thời kỳ đổi mới
Là một nhà văn nữ khá nhạy cảm với những vấn đề của cuộc sống, Đoàn
Lê có nhiều tác phẩm quan tâm đến số phận con người, đến bi kịch của những gia đình do tốc độ đô thị hoá đến mức chóng mặt ở nông thôn Cùng với bi kịch
ấy, bi kịch về tình yêu- hôn nhân và hạnh phúc gia đình cũng là một loại bi kịch được nhà văn quan tâm thể hiện trên những trang viết của mình Đó là những loại bi kịch rất phổ biến trong cuộc sống xã hội thời đổi mới
3.1.2.1 Bi kịch cuộc sống thời mở cửa
Cuộc sống thời mở cửa với muôn vàn những phức tạp kéo theo đó là hàng loạt những bi kịch: bi kịch cá nhân, bi kịch gia đình, bi kịch của cả nông thôn Những bi kịch đó đã được tái hiện vô cùng chân thực, sinh động trong
Trang 22hàng loạt sáng tác của Đoàn Lê Bộ mặt nông thôn sau chiến tranh bắt đầu thay đổi từ sự hiện đại hóa đồ vật kéo theo sự thay đổi nếp cảm nếp nghĩ, thói quen, lối sống của người dân ở một xóm nghèo ven đô có tên là xóm Chùa Trước nay dân xóm Chùa vẫn sống thật bình lặng, yên ổn Sự xuất hiện chiếc cát-sét của ông Sĩ Duệ nơi xóm Chùa ông là mốc son đánh dấu điểm khởi đầu của sự thay đổi (Xóm Chùa Ông nằm sát bờ một dòng sông đẹp, chỉ cách trung tâm thành phố hơn mười cây) Chiếc cát-sét làm đủ mọi nhiệm vụ trong đám cưới, đám tang Vào ngày đám cưới, chiếc cát sét được bật oang oang với những băng nhạc giậm giật, hát toàn tiếng Tây cắm cẳn không ai hiểu gì cả Nhưng đám thanh niên trong xóm thì nhấp nhổn, rộn rực, ngứa ngáy không yên Rồi chiếc cát sét còn tiến thêm một bước vào lĩnh vực phục vụ đám ma Khi chiếc cát sét được
bật lên tức thì con cháu nhà đám im tịt, ngơ ngác xúm cả vào cái cát sét Những người đến chia buồn cũng quyên luôn bà già nằm đó, chỉ còn trầm trồ bàn tán xôn xao Không ngày nào không có người tìm đến chủ nhân với hàng đống các
loại băng khóc cha, khóc mẹ, loại dành riêng cho con dâu, con dể, con nuôi, có
cả loại kinh Phật dành cho đối tượng đang thập tử nhất sinh Về mặt kinh tế, chỉ tốn ít điện, không mất mâm cao cỗ đầy, không mất hàng chục nghìn đồng cung phụng thợ kèn trống và nó gào khóc suốt ngày đêm cũng không biết mệt Như vậy vừa đỡ được bao nhiêu hơi sức cho con cháu, nhất là các nàng dâu, người có trách nhiệm phải “gào to” hơn tất cả Tuy nhiên sự tiện lợi ấy lại cũng phần nào làm mai một đi những nét đẹp truyền thống nhân bản, những tình cảm chân thành đáng quý của người Việt tự bao đời nay Đó là những nét đẹp của thuần phong mỹ tục trong đó có tình thân, có nghĩa cử cao đẹp của con cháu với người thân quá cố
Tiếp đó sự xuất hiện của cái ti-vi do doanh trại bộ đội đóng bên kia sông mang về cũng làm xôn xao cả xóm Chùa Cách xa đến ba cây số nhưng dân thôn
cả xóm không đêm nào không lũ lượt kéo nhau đi xem đến nỗi xóm làng vắng ngắt vắng ngơ Rồi đến bà Chiu bán rượu nếp bị chiếc xe của Tây móc vào đòn gánh kéo lê một quãng gây xây xát nhẹ mà được đền tới 400 đô-la, khiến cho nhiều người ao ước được vướng vào xe của Tây như bà Nhiều người ra tỉnh, thấy chiếc xe lịch sự đi qua bỗng đứng ngẩn ngơ, lưu luyến Ngay cả ông Sỹ Duệ, kinh tế gia đình vào dạng khá giả ở xóm Chùa Ông, vậy mà khi ông bố ra
tỉnh chơi với cháu cũng ước: “Ồ…giá nó đụng vào ông cụ xem…xem có ra vấn
Trang 23đề không nào” Rồi chuyện cô gái lai đen tên Mừng, chuyên hủ hóa với trai làng
và quy đổi ra thành gạo Từ đó, xóm Chùa không còn là một vùng quê bình lặng, thuần phác với những người dân cần mẫn trên đồng ruộng bên lũy tre xanh nữa Xóm Chùa đang chộn rộn lên vì sự thay đổi, tích cực cũng có mà tiêu cực cũng nhiều Xóm Chùa đang nhà nhà thay đổi, người người thay đổi Nhưng chưa có gì đáng xáo trộn bằng chuyện mở đường cao tốc qua làng làm bao gia đình rơi vào bi kịch Cả làng mắc dịch “sốt đất” dẫn đến cảnh xô xát, anh em
chém giết lẫn nhau: “con cả lão Tự Nghệch chém vỡ đầu thằng thứ hai, tranh nửa thước đất bên cạnh đường cao tốc vô hình” Rồi tình cảm hàng xóm láng giềng sứt mẻ, chia rẽ thành thù hận “bốn nhà vẫn chung ngõ đi bỗng om sòm đánh nhau chia bôi đường biên giới Ai cũng cố ngoi ra mặt đường Đất mặt đường đắt như vàng…”, đến mức “bà Lăng kiện con rể, đòi lại cái chuồng trâu
đã cho con gái làm hồi môn từ hai chục năm trước” Từ đó không ai còn thiết
tha làm ăn gì nữa, chỉ nháo nhác chuyện mua bán đất Nhà nào cũng cố co lại thật bé, để dư tí đất bán Gặp vận may một phút lên ông, một phút có quyền coi thằng hàng xóm bằng nghoé Người đau đớn nhất trong thảm kịch đất cát là gia đình lão Hớn- chuyên sản xuất tiền vàng, đô la âm phủ Nhân vụ đất cát được giá, lão dồn ba bà vợ và lũ con lên nhà trên để cắt nhà ngang và nửa khoảng sân bán nghiến cho một gã buôn ngoài tỉnh được ba cây định mua một nơi xa hẳn cho hai bà vợ khuất mặt đi, khỏi sinh sự với bà ba Nhưng chỉ nửa tháng sau, giá đất vọt lên cao chưa từng thấy, lão Hớn tiếc của đến hộc máu như chết nửa phần hồn Khi gã ngoài tỉnh bán trao tay khu nhà ngang của lão lấy mười ba cây thì lão Hớn ngã bệnh, cấm khẩu rồi tự vẫn khi biết mất ba cây vàng Không chỉ có gia đình lão Hớn mà tốc độ đô thị hoá nhanh chóng ở nông thôn đã đẩy bao gia đình vào thảm kịch mất nhà cửa nhưng cũng khiến bao gia đình nhờ đó mà phất lên như diều gặp gió Đặc biệt nền kinh tế mở đã làm tha hóa cả một tầng lớp cán bộ thất học và tham lam Chủ tich xã Quang sau bốn năm cầm quyền, bằng cách “nhử mồi câu cá”, sợi dây bảo hiểm cho “gã hoạn lợn” đã dài tận huyện,
tận thành phố, gã cóc sợ ai nữa Gã thường bật cười bảo dân xóm Chùa: “Các vị
đi xe đạp lên Tỉnh kiện tôi sao nhanh bằng tôi đi xe máy?” Nếu không có
chuyện sốt đất do mở đường cao tốc thì chắc gia đình lão Hớn và bao gia đình khác ở xóm Chùa vẫn sống bình yên vô sự Sẽ không có chuyện tranh chấp, xô xát giữa anh em, mẹ con, láng giềng đến sứt đầu, mẻ trán, cũng không có
Trang 24chuyện tham ô, hối lộ, gây bè kết cánh Họ đua nhau làm “cò mồi” dẫn khách mua bán đất, rồi bị cuốn vào cơn lốc đất cát đến mức chẳng ai còn thiết làm ăn
gì nữa Họ chỉ còn lo chạy đôn chạy đáo nghe ngóng chuyện mua bán đất cát mà thôi
Đáng sợ hơn về sự đổi thay ở xóm Chùa là việc người ta giao bán “trinh
tiết”- thứ quý giá nhất của đời người con gái (Trinh tiết xóm Chùa) Truyện bắt
đầu từ cô Khờ (có ông nội là mõ làng, bố đi đánh dậm nuôi cả nhà) lấy người Đài Loan và trở nên giầu có, đổi tên là Lầy Lầy Lầy Lầy mừng tết Trung Thu cho mỗi người một đô-la, trẻ con mỗi đứa một gói bánh quy kèm mấy viên kẹo Tàu Cả làng được dịp rộ lên kéo nhau đi nhận quà như đi nhận phát chẩn Từ đó mọi người đều nhìn Khờ với ánh mắt thèm thuồng lẫn thán phục Lầy Lầy về làng là để tuyển con gái đi Đài Loan mà tiêu chuẩn phải xinh xắn, dễ coi, trẻ, khỏe…lại còn phải “xịn”.Thế là khắp làng quê lại rộ lên cơn sốt “lấy chồng ngoại” Đó là một cuộc cách mạng cứu gia đình thoát nghèo, thoát khổ Những
bà mẹ có con gái xinh thấp thỏm hy vọng đổi đời Những nhà sinh toàn con trai thì chồng mắng vợ vụng đẻ, vợ nhiếc chồng hãm tài Nhất là sau vụ cái Huệ xinh xắn mới mười tám tuổi chính thức trở thành vợ lão già ngoại quốc sáu mươi ba tuổi nhưng đổi lại lão giầu có đã gửi tiền về cho bố mẹ xây nhà, sắm xe cho em thì các gia đình có con gái lại càng háo hức chuyện cho con gái lấy chồng ngoại Bà Duệ có cô con gái xinh như nụ hồng mới hé thì đau đớn, xót xa tiếc nuối như đứt từng khúc ruột Nếu cái Hoa con bà không bị “làm thịt” bởi thằng phó nháy đểu cáng thì giờ bà đã sắp được mở mày, mở mặt vì con Giữa lúc bà Duệ đang dầu gan héo ruột vì tiếc của thì Lầy Lầy dám bảo bà Duệ lo cho khoản tiền kha khá để “vá màng trinh” cho con bà trước khi đưa đi xuất ngoại Thế là bà Duệ quyết định để con gái bà theo người ta đến cơ sở y khoa đặc biệt
để “vá trinh”, để tân trang nguyên lành như cũ Tân trang xong, con gái đã hư cũng trở lại thành “xịn‟, lại rách, lại toạc, lại có quyền lên giá nhờ cái “trinh tiết
y khoa” ấy Dầu bà biết rằng bọn đàn ông ngoại quốc phát hiện bọn con gái không còn nguyên vẹn, nó bán luôn vào nhà chứa, hoặc vùi dập hơn con ở nhà
nó Vậy mà bà vẫn bằng mọi cách đưa con gái đi “tân trang” lại để xuất ngoại
Vì tiền mà bà bất chấp cảm nhận của con gái bà Bà đâu biết rằng cái giây phút nằm tênh hênh trên bàn bệnh viện, cô Hoa ngây thơ phập phồng tình yêu của xóm Chùa đã chết rồi Giờ còn lại đây một cái xác lạnh khô, chán chường đến
Trang 25mức không buồn…chết nữa Bi kịch cuộc đời cô Hoa là bi kịch điển hình cho rất nhiều cô gái ở xóm Chùa Ông Họ đều là nạn nhân của thói hám lợi, tối mắt vì tiền- một sản phẩm của nền kinh tế mở buổi đầu Và bi thảm nhất là chuyện cả làng há hốc mồm ra khi biết kết quả khám nghĩa vụ quân sự có tới một nửa thanh niên xóm Chùa bị loại vì máu có khoản dương tính với con Hít Lão Bản
ngậm ngùi: “Còn đâu Xóm Chùa ngày xưa nữa Giờ tha hồ con gái đóng mác xuất ngoại, con giai đu đưa ma túy, ca-ve lẻn vào tận làng hoạt động kiếm tiền”
Ngay đến ông Sỹ Duệ vốn được tiếng là mẫu mực không bị vòng xoáy của nền kinh tế mở cuốn vào, vậy mà vẫn bị lão kép cải lương “đưa vào đời” Thi thoảng lão vẫn đón ca-ve non thật xinh về ngôi nhà độc thân suốt đêm, để nó hầu hạ Chờ trời tối, chạy xe máy cái vèo lên đến đầu tỉnh đã đón được “của lạ” về tận nhà Vậy là sự tha hoá len lỏi vào mỗi gia đình, nó không từ một ai, bất kể già trẻ, gái trai Mỗi người tha hoá theo cách riêng của mình: con gái thì hoặc dại dột để mất cái đáng quý nhất của đời mình rồi nhắm mắt để người ta đưa đi “tân trang” lại đem giao bán xứ người và rơi vào bi kịch sống không bằng chết hoặc
để cứu gia đình thoát nghèo phải chấp nhận xa xứ lấy ông già đáng tuổi ông mình làm chồng; con trai nghiện ngập, hút hít nhận lấy những cái chết trắng thật khủng khiếp; ông già ham”của lạ”; các bà mẹ tối mắt vì tiền…Đó là đầu mối của những tấn bi kịch hết sức thương tâm ở xóm Chùa Ông
Không chỉ dừng lại ở đó, bi kịch đổi thay của xóm Chùa còn được đánh dấu bằng sự kiện ông Hưởng- đại tá về hưu bị ca-ve khiêu khích chết ngay trên giường do nhồi máu cơ tim Ông này có thằng con trai “phá gia chi tử” đã dám phá hang Dơi làm Khu Du lịch sinh thái rởm để kiếm lời Để thoả mãn tham vọng làm giầu, Cường đã bất chấp tất cả Hắn có thể phá Hang Dơi, tạo hiện trường giả về động xương người, công nhiên bao gái hoạt động mại dâm dưới hình thức tiếp viên nhà hàng Đấy là đầu mối của những căn bệnh thế kỷ mà hơn một nửa trai làng mắc phải Hơn thế nữa, Cường còn đưa cả ca-ve về nhà để hại cha Cái chết của cha hắn còn là cơ hội để Cường quảng bá khu du lịch rởm và kinh doanh làm giầu…
Thế đấy mặt trái của nền kinh tế mở đã kéo theo nó biết bao bi kịch, bao
tệ nạn từ việc tranh chấp nhau từng mét đất mặt đường, đến cơn sốt lấy chồng ngoại và khát vọng làm giầu bất chấp mọi thủ đoạn, từ sự hiện đại hóa vật chất
Trang 26đến sự mai một những nột truyền thống nhõn bản vốn quý của con người Tất
cả đều được Đoàn Lờ thể hiện một cỏch chõn thực, sinh động trờn mỗi trang viết của mỡnh Giọng văn của bà ngỡ như bỡnh thản, lạnh lựng nhưng bờn trong lại hàm chứa biết bao chua xút Khụng cũn cảnh xúm làng bỡnh yờn với những nột nhõn bản vốn quý của con người nữa Sức mạnh của đồng tiền đó huỷ diệt tất
cả Nú làm tha hoỏ bao nhõn cỏch, làm dị dạng bao tõm hồn ở xúm Chựa ễng
Đọc những truyện ngắn này của Đoàn Lờ gợi ta nhớ đến tỏc phẩm Mựa lỏ rụng trong vườn của Ma Văn Kháng Trong tỏc phẩm ấy, nhà văn đi vào phản ánh
b-ớc chuyển biến của xã hội miền Bắc về nếp sống đạo đức, đặc biệt là những
đạo lý truyền thống vốn tốt đẹp của con ng-ời đang bị băng hoại trong gia đình nhiều thế hệ Cụ thể là gia đình ông Bằng và mở ra ở bối cảnh rộng lớn gắn liền với tác động mạnh mẽ của thế lực đồng tiền Một hệ quy chiếu đ-ợc đặt ra từ cửa
sổ và mảnh v-ờn nhà ông Bằng ra cuộc sống, soi rọi vào mỗi gia đình để thấy rằng tâm lý con ng-ời bị phân hoá, bị đồng tiền chi phối Với ngòi bút sắc sảo,
Ma Văn Kháng đã khắc hoạ nên từng tính cách nhân vật: một ông Bằng nhân hậu sống hết mực thương con cháu, một ông Đông nhu nhược… và đặc biệt là một Lý nhân vật chính xuyên suốt tác phẩm với cái “mặt phinh phính, bừng lên một màu men hồng bóng lọng của cái nắng ph-ơng Nam Mắt Lý tô xanh, lẳng
và táo tợn…” Một người đàn bà “tay hòm chìa khoá” nắm quyền quản lý gia
đình đã “yêu đời nồng nhiệt và hoan lạc thầm kín cũng bộc phát…” sống trong thời đại kinh tế thị tr-ờng, Lý đã bị biến chất, từ ng-ời con dâu tr-ởng rất mực
đảm đang đến một con ng-ời vụ lợi, bất chất khuôn phép, đạo đức để những ham muốn của bản thân đ-ợc đáp ứng thoả mãn Mùa lá rụng, những chiếc lá rụng trong khu v-ờn hay chính là những truyền thống tốt đẹp đang dần bị mai một đi trong những con ng-ời nh- Lý? Và phải chăng bi kịch gia đình ông Bằng là điển hình cho rất nhiều những gia đình khác đang bị ảnh h-ởng của nền kinh tế thị tr-ờng làm rung chuyển tới tận căn nguyên của nó mà những tỏc phẩm của Đoàn
Lờ đó lại một lần nữa minh chứng cho điều đú
Sống trong thực tại cuộc sống nghốo cực, tăm tối con người luụn cú khỏt khao vươn lờn bằng mọi giỏ, kể cả phải đặt niềm hy vọng ấy vào những tấm vộ
xố vốn nhiều rủi ro Đú là bi kịch của những con người mong đổi đời nhờ vận
may ở Thành hoàng làng sổ xố Toàn tỏc phẩm là cõu chuyện cuộc đời lóo
Trang 27Khiển- một viên chức nhà nước cần mẫn, đúng mực Vì cần mẫn, đúng mực nên lão nghèo khổ, nghèo sở, đến nỗi suốt đời lão không xây nổi mộ phần cho tứ thân phụ mẫu và cũng không xây nổi một gian nhà gạch thay cho túp lều tranh xiêu vẹo ở xóm ngoại ô Với đồng lương ít ỏi nuôi bốn đứa con còn chật vật, vậy
mà lão còn nghiện món xổ số cầu may Rồi một lần lão trúng cái giải sáu được bảy trăm đồng Sau chuyện đó, lão Khiển càng tin vào vận số, lão quyết định mua tăng gấp đôi số vé với sự hỗ trợ của các món tính toán cả khoa học lẫn duy tâm: nào theo sự mách bảo của giấc mơ, theo ngày sinh, tháng đẻ của những người thân trong gia đình, theo người gặp đầu tiên ngoài ngõ…Biết kiểu nào lão theo tất kiểu ấy Thậm chí lão còn học luôn cả bài khấn của dân xổ số chuyên nghiệp Nhưng thật là chớ trêu đen đủi, trong suốt mấy tháng, lão không thu được nửa xu Các khoản chi tiêu bị cắt giảm ngày một tồi tệ, vợ chồng lão thường xuyên lục đục cãi cọ: lão nhiếc mụ vợ hãm tài; mụ giễu lão bị ma ám,
có lần cả hai suýt nện nhau Nhưng khát khao đổi đời nhờ vận may vẫn ngày đêm thôi thúc khiến lão Khiển không cách gì thoát ra khỏi niềm hy vọng chết người ấy Thậm chí càng ngày lão càng đam mê hơn, đam mê đến mức bỏ bê gia đình, trễ nải cả công việc cơ quan Sau vụ trúng trượt giải nhất liên tỉnh thì lão lao vào số đề như một con thiêu thân mê ánh lửa Lão quyết tâm bằng bất cứ giá nào cũng phải gỡ lại mười triệu hụt ấy Từ hôm sau, lão mua xổ số như điên, cứ
có đồng nào trong túi lão mua tuốt Lão như một con đề khát nước, bốn giờ chiều chưa xoay nổi tiền mua hai vé số, lòng lão tựa có lửa đốt, ấm ức, thất thần Trong óc lão dày đặc một màu u ám xui lão nói dối ai để vay tiền bằng được Cho dẫu đang buồn phiền vì đủ thứ chuyện nhưng khi cầm hai tấm vé số trên tay, lòng lão bỗng dịu đi, nhẹ như hồi sinh, vui vẻ, thư thái Chỉ trong nháy mắt, hai tấm vé làm cuộc đổi hồn quái đản cho lão Khiển Sau giấc mơ gặp được ông già râu tóc bạc phơ mách nước, lão Khiển như người mất hồn, lão sùng tín một cách mù quáng đã đặt toàn bộ niềm tin vào canh bạc cuối cùng này Đúng là canh bạc cuộc đời, lão đã không thắng được số mệnh Lão đã bị mất tất cả: chiếc
xe đạp- tài sản duy nhất có giá trị trong nhà, công việc và cả gia đình Lão Khiển
bị dồn tới chân tường, gia đình tan nát, lão thành kẻ lang thang bơ vơ đầu đường
xó chợ Càng ngày lão càng cay cú, tìm mọi cách gỡ lại canh bạc cuộc đời , thậm chí phải bán dẻ cả nhân phẩm và lương tâm Lão chấp nhận “mặt dạn mày dày” chiều bà góa già để mỗi ngày bớt của bà số tiền chợ vừa đủ hai tấm vé xố
Trang 28chờ cơ hội đổi đời Nhưng rồi niềm hy vọng mong manh ấy cũng chẳng kéo dài được bao lâu, hai đứa con bà góa sợ phải chia tài sản, chúng phối hợp với nhau tìm cách vừa đe dọa vừa cưỡng chế đuổi lão ra khỏi nhà Một lần nữa lão lại vất vưởng, bơ vơ lần hồi kiếm ăn Dầu vậy lão vẫn không sao từ bỏ được niềm đam
mê chết người kia Hàng ngày lão thà bớt khẩu phần ăn để dành tiền mua hai vé
số Ngày nào chưa có nổi hai vé số, lòng lão nôn nao, bồn chồn như có lửa đốt Dần dần khi miếng ăn nuôi thân cũng không kiếm nổi, lão đành chơi xổ số bằng tưởng tượng Dù chơi bằng tượng nhưng tâm trạng lão vẫn phập phồng lo lắng, vui buồn, hy vọng rồi thất vọng như khi lão cầm những tấm vé số chờ thông báo kết quả Chính vì thế mà thảm kịch cuộc đời đã đến với lão Sau khi xem xong kết quả tấm vé số tưởng tượng trúng giải độc đắc, lão đã hét toáng lên như người
bị dại trước hàng ngàn người Và điều gì phải đến đã đến… Lão bị đám đông xô đẩy chen lấn, người lão mềm oặt như một tấm dẻ rách, mụ bán vé số đã lôi lão
ra từ đám đông và đưa về nhà chăm sóc Mụ cũng như bao kẻ khác mong có thể kiếm chác từ giải độc đắc của lão Bởi thế mụ chăm chút lão tận tình cả vật chất lẫn tinh thần Nhưng thật là bi kịch đấy chỉ là tấm vé số tưởng tượng Khi đã hiểu cơ sự mụ liền tống cổ lão ra đường như đuổi một con chó giữa đêm đông giá rét Lão đã được hóa kiếp Bi kịch cuộc đời lão Khiển là bi kịch chung cho bao kẻ ngộ độc sổ xố, bao kẻ khát khao nhanh chóng đổi đời bằng vận may Họ đều là nạn nhân của nền kinh tế mở với tham vọng làm giầu từ công việc không chính đáng- chơi số đề Kết cục của những bi kịch ấy là sự tan cửa nát nhà và cả tính mạng bản thân: lão Khiển đã chết cô độc không gia đình không người thân thích giữa đêm đông giá lạnh Cái chết của hắn chính là hồi chuông cảnh tỉnh với những kẻ đam mê số đề đến mụ mị
Bên cạnh bi kịch của những người mong đổi đời nhanh chóng nhờ vận may, trong sáng tác của Đoàn Lê còn một loại bi kịch nữa, bi kịch của những người phụ nữ bị cuộc sống khốn khó dồn đẩy đến bước đường cùng phải bán thân nuôi miệng Đó là bi kịch cuộc đời của những người đàn bà nghèo ở xóm
liều trong truyện ngắn “Hạt vừng” Họ sống lang thang, vật vờ bằng đủ thứ
nghề, sống dai dẳng kiểu tầm gửi, cỏ dại, chỉ cần bám hờ vào mảnh gỗ mục cũng sống Kết quả của cảnh sống ấy là sự ra đời của những đứa con không cha sống
vạ vật chui rúc nơi các xó xỉnh mà chỉ cần nhận được ổ bánh mỳ, khúc sắn luộc
Trang 29hay mấy cái bánh rán cũng đủ khiến chúng sung sướng đến thắt lòng Cũng vì sống không ra sống ấy mà chị Đỗ, cái Tấm, cái Mằn, con Vừng, thằng Muối đã lần lượt biến mất không ai biết vì sao Có lẽ chúng bị đem bán, trao đổi như món hàng, như lũ chó con chỉ vì mẹ chúng không đủ khả năng nuôi nấng chúng Và một ngày kia, mẹ chúng cũng chết ở khúc sông không biết là chết đuối hay tự tử Chị- con bé hạt Vừng là đứa cuối cùng trôi dạt sau hôm mẹ mất Thân cô thế cô
bơ vơ, lang bạt trên cõi đời, chị thường xuyên bị đám trẻ nhặt rác xóm liều trêu chọc, chúng dùng những chiếc móc sắt tua tủa vẫn thường bới rác tấn công vào những lỗ thủng trên quần áo chị, có đứa nghịch ác ý còn cầm hai bên ống quần rách của chị lôi tuột khiến chị đau đớn, tủi hổ co rúm lại Ấy là những ký ức khủng khiếp vẫn thường trở đi trở lại trong những cơn ác mộng của chị…
Hôm nay trong cương vị một luật sư bào chữa, chị đã thông cảm, sẻ chia lẫn xót thương người nữ phạm nhân kia một cách thành thực Chị thấu hiểu hơn
ai hết cảnh ngộ đáng thương của người đàn bà ấy Đó là sự cảm thương của người “cùng hội cùng thuyền”, của những người đồng cảnh ngộ Bi kịch cuộc đời người nữ phạm nhân kia cũng chính là bi kịch cuộc đời mẹ chị, bi kịch tuổi thơ cay đắng, hãi hùng của chính chị Số phận cuộc đời người nữ phạm nhân có phần còn may mắn hơn mẹ chị bởi bà ta còn có chồng, có bốn đứa con Người
nữ phạm nhân rơi vào bi kịch từ khi người chồng chết vì đói, một mình chị ta không nuôi nổi bốn đứa con, lại thêm việc chúng ốm đau bệnh tật luôn Không thể chống chọi nổi với cuộc sống quá khốn khó, chị ta đã phải nhắm mắt sa chân chốn bùn nhơ tanh tưởi Chỉ vì một trăm bạc đưa con vào viện cắt Amiđan và lo mâm cơm giỗ đầu chồng, người phụ nữ khốn khổ ấy đã chấp nhận bán dẻ nhân phẩm Nhưng thật là oan nghiệt, lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng ấy, người đàn
bà đã bị khép vào tội giết người Theo lời kể của người nữ phạm nhân, chị sống lại toàn bộ hồi ức tủi nhục, ê chề của cuộc đời mẹ chị Chính bà cũng phải làm cái việc nhớp nhúa của người đàn bà kia để có tiền nuôi các con Thủa ấy nhìn những vết bầm tím rớm máu trên ngực, trên vai mẹ, chị thấy nhói nơi ngực tựa
hồ có một mũi tên mơ hồ chạm phải Khi vô tình chứng kiến cảnh mẹ bị kẻ háo sắc hành hạ thân xác, chính chị cũng đã hành động như bé Trang con người nữ phạm nhân khốn khổ kia Trong nỗi khiếp sợ kinh hoàng, con bé Vừng đã vùng dậy, ôm chặt lấy bàn chân quái vật của kẻ đang xoắn chặt chân mẹ nó mà ngoạm
Trang 30cắn bằng tất cả sức lực của sự căm thù…Thế là, bằng sự trải nghiệm của một tuổi thơ cay đắng, tủi nhục, chị đã tin và xót thương người đàn bà bằng tất cả nỗi đau của quá khứ dồn cộng lại Chị nghĩ về bi kịch cuộc đời mẹ chị, nỗi thống khổ của người nữ phạm nhân kia…Phải chăng họ đã bị hoàn cảnh phũ phàng xô đẩy để phải ngụp lặn trong nỗi tủi nhục, ê chề nhất của kiếp sống con người Đoàn Lê đã viết về bi kịch cuộc đời những người đàn bà dưới đáy bằng tất cả sự cảm thông, sót xa của người đồng giới Bởi thế những trang văn kể về bi kịch cuộc đời những người đàn bà ở xóm liều thật xúc động, thấm thía
Cũng một giọng văn chứa chan niềm trắc ẩn ấy, Đoàn Lê viết về kiếp sống của những cô gái giang hồ, những cô gái bị hoàn cảnh xô đẩy phải bán thân
ở Con bướm nhựa cánh xanh thật xót xa Họ đều là những cô gái trẻ trung, xinh
tươi bị vòng xoáy cuộc đời cuốn trôi đến xóm biển này để làm món đồ chơi cho đám khách ham “của lạ” Bản thân họ có thể chưa đủ ý thức về sự hủy diệt ghê gớm từ công việc mà họ đang dấn thân và đã vô tình đặt tính mạng vào tay tử thần Vì thế hầu hết các cô gái giang hồ đều có chung một kết cục bi thảm: hoặc chết mất xác như Tiểu Anh- một cô bé con mới mười bốn tuổi, hoặc nhận lấy căn bệnh thế kỷ như Thúy Nhân vật “tôi” người chứng kiến cuộc đời của những
cô gái giang hồ thấy “lòng mình quặn thắt run rẩy, đôi chân như không thể cất lên nổi” Đó là sự cảm thương của những người đồng giới trước bi kịch bất hạnh của những cô gái trẻ bị hoàn cảnh vùi dập đến phũ phàng Cái chết của họ chính
là hồi chuông cảnh tỉnh với những cô gái trẻ vì lý do này hay lý do khác mà phải dấn thân vào cuộc đời cát bụi
Bi kịch của người phụ nữ giữa vòng xoáy của nền kinh tế thị trường được Đoàn Lê cảm nhận bằng tất cả niềm trắc ẩn của một trái tim phụ nữ giầu yêu thương Vì thế những trang viết của bà về bi kịch cuộc đời họ không chỉ chân thực làm xúc động lòng người mà còn có sức ám ảnh ghê gớm Vẫn là những đề tài muôn thủa, nhưng Đoàn Lê đã mạnh dạn lách bút vào bề sau, chiều sâu, mặt trái của nền kinh tế mở để phơi bày chân thực, sống động hậu quả mà nó gây ra Tất nhiên viết về những mặt tiêu cực của xã hội, rất nhiều cây bút trước Đoàn Lê
đã từng đề cập đến nhưng Đoàn Lê không đi thẳng trực tiếp vào những vấn đề
ấy mà thông qua bi kịch của những số phận cụ thể Dẫu vậy ý nghĩa hiện thực của những tác phẩm ấy vẫn rất sâu sắc và thấm thía làm nhức nhối lòng người
Trang 313.1.2.2 Bi kịch tình yêu
Tình yêu là đề tài muôn thủa trong văn học Thời kỳ đổi mới, nhất là đối với các cây bút nữ, tình yêu với muôn vàn cung bậc đã được các nhà văn tái hiện hết sức sinh động dưới cảm quan tinh tế, sâu sắc cũng như cách lý giải riêng của mình Đề tài này cũng được trở đi trở lại trong nhiều sáng tác của Đoàn Lê
Ái tình giống như một thứ gia vị mà không thể không có trong hạnh phúc của mỗi đời người nhưng nó cũng là căn nguyên của những tấn bi kịch Tình yêu trong sáng tác của Đoàn Lê có nhiều cunng bậc, sắc thái khác nhau: Có tình yêu
đơn phương vô vọng (Dấu hỏi gửi thượng đế, Tình Guột); có tình yêu tan vỡ chia lìa ( Na ơi); có tình yêu chung thủy thầm lặng (Oan hồn ngõ đá dốc, Chờ nhật thực, Đêm ngâu vào.), Có tình yêu nông nàn say đắm đến si mê điên dại nhưng chỉ thoáng chốc, thoảng qua (Trăng đường, Giao cảm cuối cùng)
.Nhưng dù ở cung bậc sắc thái nào thì trong sáng tác của Đoàn Lê tất cả những câu chuyện tình ấy đều có chung một sắc thái bi kịch
Tình yêu trong sáng tác của Đoàn Lê mang rất nhiều cung bậc Mỗi cung bậc đều được nhà văn thể hiện đến tận cùng Nếu đã yêu là yêu hết mình, suốt đời chung thuỷ với mối tình ấy, chết rồi vẫn yêu, vẫn mong được chăm sóc bảo
vệ người mình yêu Đó là một tình yêu thánh thiện, yêu bằng cả tấm lòng mà không đòi hỏi phải đền đáp Vì thế mà rơi vào bi kịch Ấy là tình yêu của lão
Guột trong Tình Guột Lão Guột không có may mắn được thượng đế ban phát
cho một hình hài đầy đủ, ưa nhìn như người ta Lão chỉ có một con mắt sáng, đôi chân vòng kiềng đi khuỳnh khuỳnh…Đổi lại, lão có một tâm hồn trong sáng, có một tình yêu thánh thiện Tình yêu ấy lão dành cả cho cô Thảo- con chủ nhà kém lão mười tuổi mà lão được giao nhiệm vụ trông nom, chăm sóc để ông bà chủ lo buôn bán Lão đã yêu cô Thảo bằng tất cả mọi thứ tình yêu trên thế gian cộng lại: tình anh em, tình cha con, tình bạn bè, tình đôi lứa… lão coi việc che chở, bảo vệ cô là thiên chức thiêng liêng của mình Thậm chí khi vô tình để cô khóc, lão liền bị ông bà chủ đánh đòn, lão còn lấy làm hạnh phúc và mong được thường xuyên bị đánh để được cô dỗ dành, an ủi, vỗ về Vì thế cô Thảo chính là niềm vui là mục đích sống của cuộc đời lão Năm cô lấy con ông Phán ngoài tỉnh, dù đau đớn đến tan nát cả cõi lòng, lão vẫn cầu chúc cho cô có được hạnh phúc Lão biết mình không xứng với cô và cũng chưa bao giờ dám mơ mình có thể sánh duyên cùng cô Thảo mà chỉ mong được gần gũi che chở, bảo vệ cho cô
Trang 32Từ khi cô Thảo theo chồng ra tỉnh lão sống lầm lũi như cái bóng, lặng lẽ dõi theo cô Lão đau đớn thẫn thờ như đứt từng khúc ruột khi biết cô bị hành hạ, rồi
bị bỏ rơi khi cô ốm đau bệnh tật Một hôm lão trốn nhà lên thành phố, tìm đến nhà thương thăm cô Thảo, lão phải nói dối là ông bà chủ cử ra để cô an lòng Nhìn dáng hình tiều tụy của cô, lão xót xa nuốt thầm những giọt nước mắt, rồi
cô ra đi nhẹ nhàng thanh thản trên tay lão Guột Từ đó lão nguyện gần gũi, che chở, bảo vệ để cô yên lòng an nghỉ Sau nghĩa cử cao đẹp của cô Thảo: nguyện hiến mình cho y học, lão Guột đã tìm mọi cách trở thành người bảo vệ chăm chút cho những mẫu tiêu bản của trường đại học Y khoa nơi cô Thảo hiến mình Lão chăm chút cho cô như người mẹ hiền chăm chút đứa con thơ, Lão hầu như không cho ai động đến mẫu ấy
Một ngày kia lão nhìn thấy con bé Mận - con vợ chồng người bán hàng nước ở cổng trường, giống cô Thảo như đúc, Lão thấy mình như được tái sinh, sống cuộc đời thứ hai Lão chăm chút con bé, yêu thương nó bằng tất cả tình yêu thương đã dành cho cô Thảo Có bao nhiêu tiền lương giành dụm, lão đều gửi tiết kiệm cho con bé Mận đến mức cha nó nghi ngờ tư cách của lão khiến lão suýt mất mạng Lão nhìn thấy ở nó tất cả những nét gần gũi yêu thương của cô Thảo ngày nào Cũng vì thế lão yêu nó bằng tất cả nỗi nhớ nhung khắc khoải về
cô Thảo trong suốt bao nhiêu năm qua Cũng vì nó mà lão cố gắng sống và thấy cuộc đời mình có ý nghĩa hơn Sau trận ốm trở về, thấy mẫu xác của cô Thảo bị
mổ xẻ, lão cảm nhận như có hàng trăm mũi dao đang cắt xẻ thân thể mình, lão ngã lăn ra đất ngất lịm đi và chẳng bao giờ còn dậy được nữa Trước khi chết, lão vẫn muốn nhắn gửi một ước nguyện được gần gũi bảo vệ cô Thảo Lão đã hiến thân cho y học để đời đời kiếp kiếp được ở bên cô Thảo
Đa phần những câu chuyện viết về tình yêu của Đoàn Lê không phải là những câu chuyện tình lãng mạn, lâm ly với những kết thúc có hậu Truyện viết
về tình yêu của Đoàn Lê có triết lý sâu sắc để lại những dư vị sâu xa cho lòng người Tình yêu của lão Guột gần như tình yêu của một vị thánh: yêu hết mình, yêu hết lòng, yêu hết kiếp này sang kiếp khác, một tình yêu cao thượng bao dung đến hỷ sả Nếu cuộc đời này ai cũng có được tình yêu như tình yêu của lão Guột thì trái đất sẽ bớt đi nỗi khổ đau của kiếp người Nhưng vì là tình yêu đơn phương nên dai dẳng , mãnh liệt và có sắc thái bi kịch bùi ngùi day dứt Trong sâu thẳm lòng lão luôn khát khao hạnh phúc, khát khao được yêu nhưng những
Trang 33mặc cảm về hình hài thân phận khiến lão rơi vào bi kịch Điều đáng quý ở lão Guột cũng như nhiều nhân vật khác của Đoàn Lê là: dù rơi vào bi kịch họ vẫn không hề buông xuôi, phá phách, tha hóa trái lại phẩm chất nhân cách họ vẫn
thật cao thượng xứng đáng là Con Người
Cũng một loại bi kịch về sự thiếu hụt hình hài, cô Huệ trong Dấu hỏi gửi thượng đế rơi vào bi kịch tình yêu đơn phương Cô có hẳn hai mươi ba người
tình tưởng tượng để đêm đêm vẫn đi về nâng niu, ve vuốt tâm sự cùng cô Dù là những cuộc tình tưởng tượng nhưng nó vẫn có đủ sắc thái cung bậc của những tình yêu lãng mạn Cô Huệ không có may mắn được thượng đế ban phát cho một hình hài, nhan sắc hoàn thiện như những cô gái khác, cô vừa nhỏ lại gù Những mặc cảm về hình hài khiến cô luôn sống trong âm thầm lặng lẽ: cố không làm phiền đến ai và cũng không để ai nhìn ngó đến mình, một lối sống rất giản dị, khiêm tốn Đó là cái vỏ bọc bề ngoài để ẩn dấu con người thực bên trong Thực
tế cô là một cô gái có tâm hồn phong phú, có khát vọng tình yêu mãnh liệt, trong sáng, lành mạnh và vô cùng cao thượng Cô thường gửi tình yêu ấy qua những trang nhật ký và những giấc mơ đêm đêm vẫn ru vỗ tâm hồn, xoa dịu những khát khao yêu đương cháy bỏng nơi sâu thẳm lòng cô Bằng chứng của những cuộc tình ấy là những cánh hồng khô nơi những trang nhật ký có những nét chữ rất ngay ngắn và rất đẹp gửi gắm giấc mộng tình yêu của cô với một người đàn ông nào đó Những người đàn ông lướt qua cuộc đời cô Huệ đều là những người đàn ông lý tưởng, tài hoa: một đạo diễn điện ảnh hết sức phong nhã, một nhà thơ, một họa sỹ độc thân, một ông trung tướng về hưu, một diễn viên điện ảnh…Dẫu chưa một lần được nghe lời thổ lộ tiếng nói thổn thức từ một trái tim yêu nhưng cô Huệ vẫn tưởng tượng đầy đủ những cung bậc sắc độ của một tình yêu mãnh liệt: có hy vọng phập phồng, có hờn ghen giận dỗi, có đau đớn tủi hổ…Đó là mối tình tưởng tượng của cô với một diễn viên điện ảnh đóng vai Chí
Phèo trong phim Làng vũ đại ngày ấy khi anh dừng ở hàng cô mua mấy tấm
phong bì Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ khiến lòng cô thổn thức, trái tim cô run rẩy loạn nhịp Cô muốn kéo dài mãi cái giây phút được sát gần bên anh, được cảm nhận hơi ấm từ thân thể cường tráng của anh lan thấm sang cô Khi anh đi rồi,
“cái giọng trầm êm với tiếng cười nhẹ nhàng cứ khiến lòng em đau thắt” Và
đêm đó cũng như nhiều đêm khác cô mơ thấy anh trong những giấc mơ thật
nồng cháy, ngọt ngào: “Những người tình đã đến thủ thỉ bên gối nàng cả ngàn
Trang 34những lời âu yếm, không ai gian dối, không ai thô lận vô tình, mọi người đều tìm cách chiều lòng nàng, nhận sự dâng hiến từ nàng như nhận một ân phước Đêm đêm những vòng tay êm ái nâng niu đưa nàng vào giấc ngủ êm đềm…” Rồi một
hôm nào đấy, cô Huệ vô tình bắt gặp một người tình trong mơ của mình sánh bước với một cô gái xinh đẹp khác, trái tim cô đau thắt, ánh mắt nhìn ngây dại tuyệt vọng, chưa bao giờ cô thấy mình bị tổn thương đến thế Cô Huệ vĩnh biệt mối tình đó trong đớn đau tuyệt vọng
Bi kịch tình yêu của cô Huệ là bi kịch của một tâm hồn luôn khao khát yêu đương mà không được thỏa Đó là chuỗi những khao khát dày vò cô đến khổ sở, đau đớn Dĩ nhiên không thể thỏa mãn trong cuộc đời thực, cô tìm cách giải tỏa trong những giấc mơ Nhưng giấc mơ vẫn mãi chỉ là giấc mơ, cô Huệ không sao thoát khỏi những khao khát yêu đương cháy bỏng đang ngày đêm dày
vò cô Dù đã tự huyễn hoặc mình bằng những cuộc tình tưởng tượng để xoa dịu
sự khô cháy của những năm tháng tuổi xuân cô độc, nhưng thiên chức người phụ
nữ với khát khao làm vợ, làm mẹ vẫn canh cánh trong lòng cô Trong một đêm mưa gió bão bùng, không thể cầm lòng, cô đã bước qua ranh giới của những phép tắc, luật lệ và cả sự mặc cảm của thân phận để chủ động đến với người đàn ông cũng có cảnh ngộ như mình mong có một đứa con để ôm ấp, bế bồng, xóa
đi khoảng trống vô tận trong lòng Nhưng thật là bi thảm, người đàn ông ấy đã
bị những năm tháng quân ngũ cướp đi cái đáng quý nhất của đời người đàn ông, ông ta đã chẳng thể cho cô Huệ một mụn con Rút cục cô Huệ vẫn phải sống trong bi kịch cô đơn đến hết cuộc đời Nhìn từ mọi góc độ, khát vọng của cô Huệ là rất chính đáng, rất nhân bản của người phụ nữ từ xưa đến nay Chỉ tiếc
nó không thể trở thành sự thực trong hoàn cảnh của cô nên mới thành bi kịch
Quả thực những trang viết của Đoàn Lê về bi kịch cuộc đời cô Huệ là những trang viết cảm động nhất Nó được tạo nên từ sự rung động sâu sắc của một tâm hồn phụ nữ giầu yêu thương với nỗi cô đơn, khao khát của người đồng giới Cũng vì cảm thông, yêu mến, trân trọng nên Đoàn Lê mới phát hiện ngợi
ca vẻ đẹp tâm hồn phong phú ẩn sâu bên trong vẻ bề ngoài đầy thiếu hụt của người phụ nữ kia Đó là một trái tim chỉ biết yêu thương không đòi hỏi, không
thù hận: “hồn nhiên khao khát được dâng hiến, bao dung, hỷ xả đến mức thánh thiện” Nó không bao giờ bị mặc cảm dung tục làm vấy bẩn Đó chính là ước ao
Trang 35vươn tới một tình yêu cao đẹp đạt đến mức thánh thiện của nhà văn và của con người ở mọi thời đại
Là người phụ nữ đã trải qua nhiều thăng trầm, nhiều nỗi chuân chuyên trong cuộc sống, Đoàn Lê rất nâng niu những giá trị đích thực của tình yêu Bà luôn trân trọng những khoảnh khắc yêu chân thành và cũng đau đớn, xót xa cho những mối tình đẹp bị chia lìa tan vỡ Qua những bi kịch tình yêu tan vỡ ấy, nhà văn như muốn gửi đến mọi người nhất là thế hệ trẻ- những người đã yêu, đang yêu và sẽ yêu bức thông điệp: hãy mạnh dạn đón nhận tình yêu khi nó đến, hãy sống hết mình vì tình yêu, hãy bao dung độ lượng, đừng vì chút tự ái cá nhân mà vuột mất tình yêu để suốt đời phải sống trong sự hối tiếc
Tình yêu luôn là khát khao tuyệt đích: khát khao được khám phá, chiếm lĩnh tâm hồn người mình yêu, cả khao khát được che chở bảo vệ cho người mình yêu Tình yêu cũng luôn đòi hỏi sự tuyệt đối, duy nhất, trọn vẹn, nó không chấp nhận sự chia sẻ cho dẫu ở hình thức nào Nếu phá vỡ nguyên tắc đó, tình yêu sẽ rơi vào bi kịch của sự đổ vỡ chia ly Tình yêu của một anh cán bộ khoa học và
một cô diễn viên nhà hát ở “Na ơi” là một tình yêu như thế Họ đã yêu nhau
bằng tất cả sự rung động bỏng cháy của một tình yêu đầu đời khờ dại và sự bồng bột nhiều tự ái của tuổi trẻ Bất chấp giông bão từ phía hai gia đình, anh vẫn nói:
“Cho dù tôi phải lên giàn thiêu, tôi vẫn không thôi yêu em, Na ơi” Tưởng rằng
tình yêu mãnh liệt ấy sẽ giúp họ vượt qua mọi sóng gió để cập bến bờ hạnh phúc Nhưng thật bất ngờ, chỉ vì một phút tự ái, họ đã vĩnh viễn mất nhau Anh không chấp nhận được việc người yêu của mình có tì vết, cho dẫu đó là “tai nạn nghề nghiệp” ngoài ý muốn Trong một phút giây không thể kiềm chế được mình, anh đã buông lời trách cứ phũ phàng khiến cô bị tổn thương ghê gớm Thế
là không một lời xin lỗi, giải thích, họ đã mãi mãi xa nhau để lại một nỗi đau, một khoảng trống, một nỗi khắc khoải day dứt ân hận không gì khỏa lấp nổi
Sau hai mươi năm, họ tình cờ gặp nhau khi cả hai đã có tổ ấm đủ đầy, chỉ
có điều cuộc sống riêng của cả hai người đều không được hạnh phúc lắm Chị có một con gái và gia đình bao phen đứng trước sóng gió của sự tan vỡ Anh có hai con trai và một bà vợ đau yếu, ghen tuông Cuộc gặp gỡ ấy khiến những xúc cảm dồn nén trong hai mươi năm cùng lúc xối xả tràn về, họ cùng hối tiếc đã để mất nhau Khi muốn khỏa lấp những trống trải của hai mươi năm thì một trong hai người đã không còn trên cõi đời này nữa, để lại nỗi đau và sự luyến tiếc đến
Trang 36ngẩn ngơ cho người còn sống… Bi kịch của họ là bi kịch của một tình yêu tan
vỡ, chia lìa do sự tự trọng quá cao, do đặt cái tôi lên trên mọi thứ Dĩ nhiên tự trọng là phẩm chất đáng quý của con người, song trong tình yêu, nhất là khi đã yêu hết mình thì vẫn cần sự bao dung, độ lượng để dung nạp cả những khuyết điểm của người kia Có như thế tình yêu mới không rơi vào bi kịch và những người yêu nhau mới không phải hối tiếc, không bị những day dứt dày vò đến hết cuộc đời Bao dung độ lượng, hết lòng vì người mình yêu phải chăng là những thông điệp tình yêu mà Đoàn Lê muốn gửi gắm qua mỗi trang viết của mình
Trong tình yêu, bên cạnh phẩm chất bao dung độ lượng vẫn rất cần một
sự mạnh bạo, dứt khoát, quyết đoán giành lấy tình yêu để suốt đời khỏi phải hối tiếc vì sự rụt dè không quyết đoán mà để mất nhau Đó là bi kịch của “tôi” và
“nàng” ở “Đêm ngâu vào” Anh đã yêu nàng bằng tất cả sự đam mê, tôn thờ,
ngưỡng mộ Nàng đáp lại tình yêu ấy bằng sự rụt rè, kín đáo Cũng vì sự thiếu quyết đoán của anh mà anh đã vĩnh viễn mất nàng Dù trong thâm tâm cả ngàn
lời anh đã nói: “Anh sinh ra là để cho em Ngược lại, em sinh ra là để cho anh, Nếu không có em anh không thể sống được” Vậy mà đến giây phút quyết định
anh lại không chứng minh được tình yêu mãnh liệt của mình Chỉ trong một giây phút do dự anh đã vuột mất nàng để suốt đời không hết ân hận, suốt đời chết chìm trong sự hối tiếc Lẽ ra trong giây phút quan trọng ấy, anh phải có hành động quyết định, anh phải mạnh bạo hơn, quyết đoán hơn thì suốt đời đã chẳng phải khổ sở đến thế Giờ đây sau gần hai mươi năm đã trôi qua, những giây phút gặp nàng vẫn khiến lòng anh thổn thức, bồi hồi Anh yêu những đứa con của nàng bằng tất cả tình yêu với mẹ của chúng để tìm thấy ở chúng sức mạnh huyền diệu của nàng Sau khi đã vĩnh viễn mất nàng, anh vẫn thầm cám ơn số phận đã xếp đặt cho anh được sống trong căn nhà của mẹ nàng Ở đó anh được lặng lẽ hít thở những gì là nàng: đôi guốc cũ nàng bỏ lại một lần về thăm nhà, vỉ thuốc nàng dùng dở, cái quạt giấy có chữ nàng ghi, chiếc khăn tay phơi trên dây… Cả đời anh đã sống trong những ký ức về nàng, trong mỗi bức tranh anh
vẽ đều có hình bóng của nàng: nàng là chiếc cốc thủy tinh đầy nước trong suốt,
là cái cây non cô đơn trên con đường mòn hun hút, là một vệt nắng hoe giữa vườn cây… Và lúc này đây khi căn bệnh ung thư quái ác đang dần cướp nàng khỏi cõi đời này, anh thấy mình như đang chết dần chết mòn Anh biết cái chết của nàng cũng là cái chết của anh Anh lặng lẽ phác họa nàng những ngày cuối
Trang 37trong nỗi đau thầm lặng… Vậy đấy chỉ vì một giây phút lưỡng lự thiếu quyết đoán mà cả anh và nàng đã phải sống trong nỗi hối tiếc dày vò đến hết cuộc đời
Bi kịch của đời họ là bi kịch của một tình yêu lỡ dở nên suốt đời khắc khoải không nguôi
Những bi kịch tình yêu trong sáng tác của Đoàn Lê thật phong phú: không chỉ có sự khắc khoải của tình yêu đơn phương, sự hối tiếc vì để lỡ một tình yêu đẹp mà còn có cả sự day dứt ám ảnh bởi định mệnh mà không dám đón
nhận tình yêu…Đó là cảnh ngộ của đôi trẻ ở “Oan hồn ngõ đá dốc” Có lẽ trên
đời này khó mà tìm được tình yêu nào tha thiết sâu nặng như tình yêu của Tú và Thơ Tình yêu của họ được xây đắp trên cơ sở một ký ức tuổi thơ đầy ăm ắp những kỷ niệm Cả hai đứa đều là trẻ mồ côi: tú mồ côi mẹ ở với cha, còn Thơ
mồ côi mẹ, bố đi lấy vợ lẽ, Thơ ở với bà ngoại Thủa nhỏ hai đứa quấn quýt nhau như chị em ruột (vì Thơ hơn Tú một tuổi) Rồi hai đứa cùng lớn lên bên nhau, tình cảm của chúng ngày càng thân thiết Khi Tú thành một chàng trai lừng lững, Tú đã âm thầm yêu Thơ bằng tất cả sự mãnh liệt của một chàng trai vùng biển Nhưng thật là bi kịch, ngay cả khi Tú đã chấp nhận tất cả, yêu Thơ bằng một tình yêu chân thành, bao dung độ lượng thì Thơ lại không dám chấp nhận tình yêu ấy Thực tế Thơ rất yêu Tú, rất cảm động trước tình cảm mà Tú đã dành cho cô, nhưng cô luôn bị ám ảnh bởi định mệnh cuộc đời mẹ cô Mẹ cô cũng một thời vì hơn tuổi bố mà bị ông bỏ rơi sau khi sinh cô Và giờ đây nỗi đau khổ của mẹ đã thành nỗi ám ảnh án ngữ tình yêu của cô Hơn nữa giờ cô lại trót dở dang, cô không muốn làm liên lụy đến người mình yêu nên quyết chống chọi một mình Cô chỉ mong Tú có một hạnh phúc trọn vẹn, xứng đáng Nhưng thật là chớ trêu, oan nghiệt, hình ảnh cô đã ngự trị cả tâm hồn và trái tim Tú, anh không thể nghĩ đến ai ngoài cô Sau lần sảy thai “thập tử nhất sinh”, Thơ đã thấu hiểu được tấm lòng của Tú Cả hai đều nhận ra rằng họ sẽ không thể sống được nếu thiếu nhau Tú quyết không để Thơ và mình sống riêng rẽ nữa Tú định sau chuyến ra biển lần này sẽ cưới Thơ Nhưng giống như một định mệnh oan nghiệt, có ai ngờ chuyến ra biển ấy Tú mãi mãi không trở về nữa Nghe tin dữ, Thơ lại đột quỵ lần thứ hai Lần này nỗi đau quá lớn đã giết chết toàn bộ phần tâm hồn, ý thức của cô Cô trở thành một người đàn bà ngẩn ngơ, ngây dại với dáng hình gầy gò, thất thểu, suốt ngày tha thẩn ngoài bãi đá, âm thầm lặng lẽ ngóng ra biển như chờ đợi ai…Chính định mệnh cuộc đời, những bóng ma của
Trang 38quá khứ, những ám ảnh của số phận đã giết chết hai con người Tình yêu của họ giống như một cuộc rượt đuổi, gần đấy mà như xa vời: yêu mà không dám đón nhận, khi quyết định đón nhận, gắn bó thì người yêu lại không còn, để laị nỗi đau đớn đến ngây dại cho người còn sống Bi kịch tình yêu của họ chính là hồi chuông cảnh tỉnh với những ai còn do dự trước hạnh phúc
Trong chuỗi những bi kịch tình yêu trong sáng tác của Đoàn Lê còn có loại bi kịch dành cho tình yêu sét đánh do sự sắp đặt của định mệnh Đó là tình
yêu cuồng si đến mê dại của một nhà văn với một nữ họa sỹ ở “Đường trăng”
Họ đã tình cờ gặp nhau trong một Hội nghị Văn hóa và như một sự sắp đặt của định mệnh, của số phận, cả hai đều có nốt ruồi giống như đặt khuôn trên mu bàn tay phải Sau sự ngẫu nhiên tình cờ ấy, họ bị hút vào nhau như hai cực của một nam châm Rồi bất chấp hoàn cảnh, anh đã lặn lội cả ngàn cây số đi tìm cô trong những ngày tháng sáu trời nắng đổ lửa Và chỉ đủ thời gian trao cô nụ hôn cháy bỏng, anh phải vội vã theo đoàn trở về Thời gian xa cách với người đang yêu thật khủng khiếp, sau bao ngày mong nhớ, họ đã có ba ngày dành trọn vẹn cho nhau Ba ngày nhưng họ đã yêu bằng tình yêu, nỗi nhớ thương của cả một đời
Ba ngày ấy thời gian được tình bằng giây, bằng khắc Vì thế ngay cả khi kề sát bên nhau, tận hưởng hạnh phúc ngọt ngào, họ vẫn không bớt đi được nỗi khao khát, mong nhớ cháy bỏng của những ngày tháng xa cách Thậm chí nỗi khao khát nhớ thương như đầy thêm, chứa chất, không hề vơi đi sau những khoảnh khắc chung sống Sau khoảng thời gian chờ đợi đến cháy lòng, tình yêu của họ được tính bằng đơn vị bỏng cháy của con tim Nó mãnh liệt, đắm say nhưng cũng hối hả, vội vã, họ đã sống cho nhau đến tận cùng để mãi mãi xa nhau Hoàn cảnh chớ trêu đã không cho phép họ kéo dài mối tình ấy, anh đã có gia đình, có con trai Vì thế, sau ba ngày sống trọn vẹn cho nhau, tận hưởng hạnh phúc của một đời người, cô đã quyết định chấm dứt mối tình vô vọng ấy, cho dẫu sẽ đau khổ đến tận cùng
Nhìn chung những tác phẩm viết về tình yêu trong sáng tác của Đoàn Lê đều có sắc thái bi kịch Nạn nhân của những tấn bi kịch này hầu hết là phụ nữ,
họ thường bị tổn thương nhiều hơn, và trái tim cũng da diết, khắc khoải hơn Trong mỗi nhân vật nữ, dường như đều có dáng dấp tình yêu của chính tác giả
Vì thế, nỗi đau tinh thần của họ thường chân thực gợi sự đồng cảm cho lòng người Dẫu biết yêu là sẽ thương nhớ, khổ đau nhưng họ vẫn nguyện được sống
Trang 39và chết cho tình yêu của mình Và tình yêu nhiều khi là cứu cánh, là động lực thúc đẩy họ, nâng đỡ tâm hồn họ trong cuộc sống Qua những câu chuyện tình
ấy nhà văn như muốn gửi gắm những thông điệp tình yêu: hãy cứ chân thành mạnh dạn thổ lộ lời yêu, và hãy chân thành rất mực với lòng mình Tình yêu không dành riêng cho một người nào, đối tượng nào mà dành cho tất cả mọi người Bạn hãy thử tưởng tượng xem cuộc sống của mọi người trên trái đất này
sẽ buồn tẻ biết bao nếu thiếu đi tình yêu Bởi vậy cho dẫu là tình yêu đơn phương, tình yêu sét đánh hay tình yêu tan vỡ chia lìa thì những nhân vật của Đoàn Lê vẫn khao khát được yêu và cả đời sống với tình yêu ấy Điều đó làm nên nét phong cách đặc biệt của Đoàn Lê góp phần làm phong phú một chủ đề quan trọng của văn học đương đại
Trong truyện ngắn Đoàn Lê, bên cạnh bi kịch tình yêu Đoàn Lê còn đề cập đến một loại bi kịch nữa khá phổ biến trong các gia đình Việt Nam hiện đại
đó là bi kịch hôn nhân gia đình
3.1.2.3 Bi kịch hôn nhân gia đình
Xã hội càng hiện đại đời sống vật chất càng đủ đầy, thừa thãi, người ta càng chú ý nhiều hơn đến cái tôi cá nhân, nhất là những nhu cầu giao lưu trao đổi tâm tình Điều đó khiến không gian gia đình trở nên quá tù túng chật chội, không đủ để thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mỗi thành viên
Vì thế họ thường tìm đến một không gian khác rộng dãi thoáng đãng hơn, ấy là không gian xã hội với những cuộc du hý, dã ngoại Được giao lưu, mở rộng tâm hồn, mở rộng tầm hiểu biết là mong muốn của tất cả mọi người, nhưng quá phóng túng, mải mê theo đuổi những đam mê dục vọng ích kỷ của bản thân mà lãng quên trách nhiệm với gia đình thì thật đáng sợ Tổ ấm gia đình vốn là cái nôi bảo tồn gìn giữ tất cả những giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hiến một dân tộc Bởi thế đã là một gia đình được pháp luật thừa nhận thì các thành viên trong gia đình đều phải nỗ lực bảo vệ và gìn giữ nó Không nên đặt lợi ích cá nhân mình lên quá cao mà bất chấp tất cả Xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao kéo theo ngày càng nhiều những mâu thuẫn bất đồng trong gia đình Sau một thời gian chung sống một trong hai người bỗng nhận ra rất nhiều khuyết điểm ở nửa kia của mình- điều mà trước đây khi yêu, họ không
hề nhìn thấy Lại thêm trong quá trình giao tiếp ngoài gia đình, họ lại phát hiện rất nhiều điểm tốt, điểm đáng yêu của người khác-người giúp khỏa lấp những
Trang 40trống trải tâm hồn họ- điều mà họ không thể tìm thấy ở người bạn đời của mình
Đó chính là nguyên nhân gây nên sự đổ vỡ của những cuộc hôn nhân Ngoài ra mâu thuẫn giữa lối sống của các thế hệ sống chung khác nhau về quan điểm cũng là một bi kịch Vấn đề này được các nhà văn thời kỳ đổi mới nhìn nhận như một vấn đề bức xúc của xã hội Họ đã dùng tác phẩm của mình như một cách để chia sẻ với xã hội những vấn đề đó Vì thế vấn đề gia đình hiện đại trở thành một đề tài lớn trong văn học thời kỳ đổi mới
Là một người phụ nữ đã từng trải qua rất nhiều giông bão trong cuộc sống gia đình, Đoàn Lê thấu hiểu hơn ai hết những bi kịch gia đình hiện đại Kết thúc của những bi kịch gia đình, người luôn nhận lấy những đau khổ thiệt thòi chính
là người phụ nữ Họ thường không có cách gì gượng dậy được sau sự mất mát quá lớn ấy Bởi với người phụ nữ ngay cả trong xã hội hiện đại thì gia đình là tất
cả Họ đã dành trọn niềm tin, sự tận tụy cho gia đình, gia đình là điểm tựa nâng
đỡ cuộc đời họ Bởi vậy với họ mất gia đình là mất tất cả Đó là bi kịch cuộc đời
nhân vật “Hồn ma thiếu nữ” ở “Trái táo nham nhở” “Hồn ma thiếu nữ” là nhân
vật duy nhất trong cuộc đời diễn viên mà chị thủ vai năm 17 tuổi, rồi chuyển sang làm người nhắc vở cho đoàn Cũng dạo đó chị đã quen và yêu anh – diễn viên nam số một của đoàn - người tiếng tăm nổi như cồn Vì thế chị chỉ vụng trộm yêu anh bằng tất cả sự tôn thờ Với chị anh quá cao vời kiểu như một thần tượng nên chị chỉ dám nhìn lén và âm thầm tương tư anh Nhưng khi anh đứng sát màn nhung, chị không thể ngăn được mình khẽ áp nhẹ cánh tay vào thân thể anh, chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ biến chị thành miếng bọt biển thấm đầm hơi thở, tiếng nói của con người mà chị khao khát Chị cứ lẳng lặng yêu anh như thế và không bao giờ dám mơ tưởng một ngày nào đó anh sẽ thuộc về chị Thế mà một điều tưởng không thể xảy ra ấy lại diễn ra Sau khi cưới nhau, cả anh và chị đều rời bỏ sân khấu: chị chọn một công việc thích hợp với mình, anh chuyển sang nghề sáng tác kịch Họ đã sống chung được hai mươi năm, suốt hai mươi năm
ấy, chị đã yêu anh bằng tất cả sự tận tụy, trung thành mà không một lời kêu ca oán thán Chị quan tâm chăm sóc anh bằng tất cả tình yêu với thần tượng, nhưng lại luôn có cảm giác chưa lúc nào vươn tới anh, nắm giữ được anh Với chị, anh cao vời quá nên chị luôn sống trong sự phấp phỏng lo sợ, luôn thiếu tự tin vào bản thân mình và luôn nhạy cảm với bất kỳ điều gì liên quan đến hạnh phúc Chị luôn kiềm chế mình, chiều chuộng anh hết mức, đông viên anh đi thực tế mỗi