Số lượng bài phê bình thơ Nguyễn Đức Mậu chưa nhiều nhưng đã phác họa được chân dung của nhà thơ và đánh giá, ghi nhận những thành công đáng khích lệ của ông: Vũ Quần Phương đã có nhận x
Trang 1TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NGUYỄN ĐỨC MẬU
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2013
Trang 2TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 602234
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Dục Tú
HÀ NỘI - 2013
Trang 3MỤC LỤC:
A Phần mở đầu: 3
1 Lý do chọn đề tài: 3
2 Lịch sử vấn đề: 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 6
4 Phương pháp nghiên cứu: 7
5 Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của luận văn: 7
6 Cấu trúc luận văn: 7
B Phần nội dung: 9
CHƯƠNG I: THƠ NGUYỄN ĐỨC MẬU TRONG HÀNH TRÌNH THƠ 9
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 9
1.1: Phác thảo diện mạo thơ kháng chiến chống Mĩ : 9
1.3 Hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Đức Mậu: 14
1.3.1: Thơ người ra trận ( NXB Quân đội nhân dân 1971) 16
1.3.2 Cây xanh đất lửa: ( NXB Văn học -1973) 18
1.3.4: Trường ca sư đoàn: ( NXB Quân đội nhân dân-1980) 20
1.3.5 Hoa đỏ nguồn sông ( NXB Tác phẩm mới- 1987) 21
1.3.6: Bão và sau bão ( 1994) 23
1.3.7: Cánh rừng nhiều đom đóm bay: 23
CHƯƠNG II: THẾ GIỚI HIỆN THỰC TRONG THƠ NGUYỄN ĐỨC MẬU 25
2.1 Cảm hứng về thực tại chiến tranh của đất nước 25
2.1.1 Hình ảnh đất nước 25
2.1.2 Hình ảnh người lính 31
2.1.2 Hình ảnh nhân dân 37
2.2: Kí ức về chiến tranh trong cuộc sống hòa bình: 40
2.3 Cảm hứng từ cuộc sống đời thường: 49
2.3.1 Đất nước, quê hương, thiên nhiên thanh bình: 49
2.3.2 Những người thân yêu 54
Trang 4CHƯƠNG III: NHỮNG PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO TRONG
THƠ NGUYỄN ĐỨC MẬU 66
1 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ 66
2 Phương thức chuyển nghĩa và sáng tạo hình ảnh: 72
3 Giọng điệu thơ 77
4 Thể thơ: 83
C PHẦN KẾT LUẬN: 91
DANH MỤC THAM KHẢO: 93
Trang 5A Phần mở đầu:
1 Lý do chọn đề tài:
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã khơi nguồn cảm hứng cho thơ, lôi cuốn một lực lượng sáng tác đông đảo Các thế hệ làm thơ cùng có mặt bên nhau trong trận tuyến đánh Mỹ Lớp lớp nhà thơ trưởng thành từ trước cách mạng tháng Tám nâng cao tầm tư tưởng, phong phú kinh nghiệm, trẻ trong tâm hồn, khỏe trong sức viết đã khẳng định được hướng đi và “ truyền lửa” cho thế hệ sau Tiếp nối thế
hệ đi trước là lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ Những con người ấy, trước khi làm thơ, trong khi làm thơ, đều là những người lính, hoặc tình nguyện sống như những người lính chống Mỹ Điều đáng quý là thế hệ nhà thơ này
đã nhận thức sâu sắc sứ mệnh lịch sử lớn lao của thế hệ mình, chọn một con đường
đi cho mình trong nhịp sống cuồn cuộn của dân tộc thời đánh Mỹ Họ mang đến sự đông vui cho cả nền thơ bằng tiếng nói sôi sục, mới mẻ, lạc quan và tràn đầy sức
sống của một dân tộc dám “ xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” Nét đặc sắc ấy khác
hẳn với “ cái tôi” tiểu tư sản của điệu nhạc tâm hồn của thơ mới ( 1930-1945), khác với sự tươi sáng của cả một quần chúng rộng lớn, hồn nhiên đi làm cách mạng và trở về thắng lợi của giai đoạn ( 1954-1960) Nói cách khác, thơ ca chống Mỹ mang nét mới mẻ, sục sôi- đặc trưng riêng của lứa tuổi trẻ mà thế hệ nhà thơ trước đó
không thể nói thay được “ Họ hiểu và nhận thức đúng đắn con đường đi của mình Vừa cầm súng, vừa cầm bút, họ đã viết về thế hệ của mình một cách trân trọng và rất đỗi tự hào” ( Hữu Thỉnh)
Trong tiến trình thơ hiện đại, thơ chống Mỹ giống như một dàn đồng ca, một dàn hợp xướng lớn bởi nó được sinh thành trong một bối cảnh tinh thần đặc biệt “
những năm tháng đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt” ( Chế Lan Viên) và khi nhà thơ “tự hát” thì cũng ý thức được “ nhưng giọng anh đơn lẻ - sánh sao bằng đồng ca” Tuy thế, trong dàn hợp xướng của cả nền thơ, người ta vẫn nhận
ra nhiều chất giọng khác nhau, nhiều phong cách và thế giới nghệ thuật riêng của một số nhà thơ tiêu biểu: Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Hoàng Nhuận Cầm, Lê Anh Xuân… Với mỗi tác phẩm của họ, ta như nhận
Trang 6ra một phong cách riêng, một gương mặt riêng, một dấu ấn riêng của mỗi nhà thơ – mỗi người nghệ sĩ
Là một trong số những nhà thơ trưởng thành và lăn lộn nhiều năm ở các chiến
trường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, “ đôi tay cầm súng và bản thảo trên lưng”, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã tạo dựng cho mình một phong cách riêng và
một thế giới nghệ thuật trong thơ vô cùng rõ nét, đóng góp quan trọng vào thành công của nền thơ ca thế hệ chống Mỹ Thơ ông vừa giản dị, chân thành, trải nghiệm
và sâu lắng, ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về một nhà thơ có phong cách và tâm hồn thi sĩ nhạy cảm
Tìm hiểu về Nguyễn Đức Mậu, tôi lựa chọn cách tiếp cận, nghiên cứu về thế giới nghệ thuật độc đáo trong thơ ông, cũng như làm sáng tỏ nguồn cảm hứng cùng những nét đặc sắc nghệ thuật độc đáo trong các tác phẩm của ông Bên cạnh đó,
xuất phát từ quan niệm Thi pháp học cho rằng “ hình thức nào cũng mang một nội dung nhất định và nội dung nào cũng nằm trong một hình thức cụ thể”, càng thôi
thúc tôi khai thác đề tài này Với cá nhân tôi, đây là một cơ hội đào sâu, mở rộng và tìm hiểu về tiếng thơ Nguyễn Đức Mậu Qua đó góp phần làm sáng tỏ phần nào nét đặc sắc về thế giới nghệ thuật trong thơ và tài năng của “ nhà thơ áo lính” này
2 Lịch sử vấn đề:
Trên tinh thần tiếp thu những quan niệm về phong cách thơ, chúng tôi đi sâu tìm hiều về thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Đức Mậu- một gương mặt tiêu biểu trong thơ ca chống Mỹ và thơ Việt Nam hiện đại Thơ ông không chỉ thành công khi viết về chiến tranh mà còn đạt đến độ chín trong suy tư cảm xúc giữa bộn
bề đời thường nơi cuộc sống thanh bình Thơ Nguyễn Đức Mậu dù ra đời trong hoàn cảnh nào, thời gian nào cũng được độc giả khá chú ý, đón nhận Số lượng bài phê bình thơ Nguyễn Đức Mậu chưa nhiều nhưng đã phác họa được chân dung của nhà thơ và đánh giá, ghi nhận những thành công đáng khích lệ của ông:
Vũ Quần Phương đã có nhận xét về thơ Nguyễn Đức Mậu ở hai thời kì trước
và sau chiến tranh: "Cuộc sống ở chiến trường vô cùng phong phú, Nguyễn Đức Mậu kiên trì tạo ra những bức tranh miêu tả, với nhiều chi tiết cụ thể độc đáo, chỉ
Trang 7có những cây bút sống ở chiến trường mới dễ có các chi tiết ấy" [23;3] và " Nguyễn Đức Mậu vốn mạnh về tình cảm, xúc cảm Ông đã phát huy đúng sở trường của mình Tình cảm của ông thấm thía hơn, sâu sắc hơn theo năm tháng từng trải của đời ông[ 34;3] Hơn thế nữa, Vũ Quần Phương đã khẳng định rằng: dù thời điểm
nào, phong cách thơ Nguyễn Đức Mậu vẫn sáng lên đặc sắc của một nhà thơ mặc áo lính giàu tình cảm, đôn hậu
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã bày tỏ sự cảm phục một tài năng thơ và nhấn
mạnh “ thơ ông là thơ của một tấm lòng sâu sắc đầy rung cảm và những xúc động nội tâm- một tiếng thơ hết sức chân thành”, [2;34]
Tác giả Trần Đăng Suyền lại có sự nhận xét về một khía cạnh khác trong thơ
Nguyễn Đức Mậu “ sự nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình, đan xen nhiều thể thơ trong trường ca nhằm mở rộng hiện thực, tăng cường tính chính luận, triết lý trong thơ”,
Các nhà nghiên cứu như GS Mã Giang Lân, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ lại nhắc đến ông như một trong những hiện tượng tiêu biểu của thời kì kháng chiến chống Mỹ và phân tích một số phương diện trong đặc điểm thơ Nguyễn Đức Mậu,
hay như nhà thơ Trần Mạnh Hảo, Võ Văn Trực lại khẳng định “ Chiến tranh đã qua rất lâu nhưng thơ ca Nguyễn Đức Mậu chưa có một ngày bình yên Hầu như trái tim ông đã biến thành quả bom kí ức đêm đêm ném xuống trang bản thảo tất cả nỗi đau chưa nguôi ngoai của chiến tranh, khiến các con chữ bị thương nghiêng ngả”[21;56] Nói cách khác như Trịnh Thanh Sơn, sự dằn vặt với quá khứ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu dai dẳng và săn sâu như " những ám ảnh hóa thạch"- " hóa thạch máu và nước mắt của cả một dân tộc đã vùng lên, giữ vững nền độc lập, tự do cho đất nước" [66;34]
Một số tác giả lại đi sâu phân tích những hình tượng nghệ thuật độc đáo của thơ Nguyễn Đức Mậu như: tác giả Nguyễn Văn Long, nhà thơ Phạm Hổ cùng chung
sự yêu mến với hình tượng: người lính, tác giả Nguyễn Thanh Tú với hình tượng Đất… đã nhắc đến Nguyễn Đức Mậu như là một trong những hiện tượng tiêu biểu của thơ ca thời kì kháng chiến chống Mỹ
Trang 8Và bản thân nhà thơ cũng đã từng bộc bạch: " Kỉ niệm về cuộc sống chiến đấu nơi chiến trường đã để lại dấu ấn sâu sắc không thể nhạt phai trong tôi Nghĩ đến cái chết của đồng đội như là sự thôi thúc của lương tâm" Chiến tranh đã chạm khắc
rất sâu trong cảm xúc và tư duy của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, trở thành một đặc điểm riêng trong phong cách thơ
Như vậy, qua việc tìm kiếm, nghiên cứu tư liệu, khảo sát các bài viết, nghiên cứu về thơ Nguyễn Đức Mậu, cá nhân tôi nhận thấy đã có nhiều bài tiếp cận nghiên cứu thơ ông bằng nhiều cách khác nhau, làm sáng tỏ những vấn đề khác nhau, đa dạng và đa chiều nhưng thực sự phần lớn chỉ là những bài viết nhỏ, những nhận xét, đánh giá về một bộ phận trong thơ ông, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, hoàn chỉnh, mang lại cái nhìn khái quát về thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Đức Mậu Đó như là một khoảng trống gợi ý để chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tìm
hiều về “ Thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Đức Mậu” một cách có hệ thống
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Với yêu cầu của nội dung đề tài, tôi tập trung vào khảo sát, tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Đức Mậu Sự tìm hiểu này được tiến hành dựa trên toàn bộ sáng tác của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã được xuất bản, một số bài thơ lẻ, những bài giới thiệu thơ, bài phỏng vấn, tiểu luận phê bình văn học, bài viết đăng các báo, tạp chí gần đây của tác giả Trong số đó, tôi đặc biệt chú ý đến những tập thơ đã được ghi nhận bằng những giải thưởng cao quý, tìm được chỗ đứng trong trái tim bạn đọc
Những tập thơ được khảo sát cụ thể gồm: Thơ người ra trận ( Thơ in chung 1971), Cây xanh đất lửa (1973), Áo trận ( 1976), Mưa trong rừng cháy ( 1976), Trường ca sư đoàn ( Trường ca 1980), Hoa đỏ nguồn sông ( 1987), Từ hạ vào thu ( 1992), Bão và sau bão ( 1994), Cánh rừng nhiều đom đóm bay ( 1998), Bầy chim và
lá vàng ( 2004), Mở bàn tay gặp núi ( 2008) Ngoài ra, tác giả Nguyễn Đức Mậu cũng có những đóng góp nhất định ở thể loại truyện ngắn và văn xuôi: Con đường không quên ( truyện ngắn 1984), Tướng và lính (1990), Chí Phèo mất tích ( tiểu thuyết 1993) Ở những tác phẩm này, chúng tội không đề cập sâu nhưng vẫn sử
Trang 9dụng như một tư liệu để đối chiếu và so sánh khi cần thiết để làm rõ hơn nét độc đáo của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng những sáng tác của các nhà văn, nhà thơ cùng thời và các nhà thơ thuộc thế hệ đi trước để có sự đối chiếu, nhìn nhận, tìm ra những nét chung, nét riêng độc đáo của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu Những sáng tác này được sử dụng làm tài liệu tham khảo quan trọng để soi sáng, nổi bật vấn đề trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp tư liệu nhằm có cái nhìn khái quát vấn đề
- Phương pháp hệ thống: Người viết có thể hệ thống được vế sự hình thành, vận động, phát triển của các yếu tố cấu thành nên phong cách nghệ thuật cũng như cái nhìn riêng trong thơ Nguyễn Đức Mậu
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh: Luận văn tiến hành phân tích những sáng tác cụ thể của Nguyễn Đức Mậu trên nhiều chiều, trong một
hệ thống chung của cá nhân nhà thơ và thời đại Bước nghiên cứu đó đồng thời dựa trên kết quả của sự so sánh thơ Nguyễn Đức Mậu với các thế hệ nhà thơ cùng thời, giữa thơ Nguyễn Đức Mậu ở các chặng đường sáng tác
- Phương pháp lịch sử: Vận dụng phương pháp này để tìm hiểu ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử, xã hội và các yếu tố con người, quê hương… đối với việc góp phần làm nên một hồn thơ Nguyễn Đức Mậu riêng biệt
5 Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của luận văn:
- Luận văn là một công trình nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Đức Mậu Kết quả nghiên cứu trong luận văn này hy vọng sẽ đem đến một cái nhìn khái quát, sâu sắc về diện mạo thơ Nguyễn Đức Mậu Từ đó, ta thấy được
sự vận động của thơ ông trong tiến trình thơ đồng thời khẳng định những đóng góp của tiếng thơ Nguyễn Đức Mậu đối với nền thơ Việt Nam hiện đại
6 Cấu trúc luận văn:
- Ngoài phàn mở đầu, kết luận và danh sách thư mục tham khảo, luận văn gồm
3 chương :
Trang 10* Chương 1: Thơ Nguyễn Đức Mậu trong hành trình thơ hiện đại Việt Nam
1.1 Phác thảo diện mạo thơ kháng chiến chống Mỹ
1.2 Diện mạo thơ Việt Nam sau năm 1975
1.3 Hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Đức Mậu
* Chương 2: Thế giới hiện thực trong thơ Nguyễn Đức Mậu:
2.1: Cảm hứng về thực tại chiến tranh của đất nước
2.3.1: Đất nước, quê hương, thiên nhiên thanh bình
2.3.2: Những người thân yêu
* Chương 3: Những phương diện nghệ thuật độc đáo trong thơ Nguyễn Đức Mậu
Trang 11B Phần nội dung:
CHƯƠNG I: THƠ NGUYỄN ĐỨC MẬU TRONG HÀNH TRÌNH THƠ
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1: Phác thảo diện mạo thơ kháng chiến chống Mĩ :
Trải qua một quá trình phấn đấu, rèn luyện không mệt mỏi, đồng thời có sự định hướng chính trị, sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng, văn học giai đoạn chống Mỹ nói chung và thơ ca chống Mỹ nói riêng đã có bước trưởng thành nhanh chóng cả về
số lượng và chất lượng, trở thành một mặt trận quan trọng trong công cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ Có thể thấy rằng, văn học cách mạng là một nền văn học của Đảng, của giai cấp công nhân Do đó, nhiệm vụ của văn học và thơ ca kháng chiến chống Mỹ phải phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Có thể nói rằng, văn học thời kỳ này đã đạt được nhiều thành tựu lớn Trong đó thơ chống Mỹ là một nền thơ phát triển ở trình độ cao – phản ánh được tương đối đầy đủ bức tranh toàn cảnh của
một thời kỳ vẻ vang của dân tộc, nó vừa là “người thư ký trung thành của thời đại”
vừa để lại những ấn tượng sâu lắng, những cảm xúc chan chứa mang tầm cao tư tưởng, có giá trị và sức sống lâu bền với thời gian
Tiếp nối văn học kháng chiến chống Pháp, văn học chống Mỹ hướng vào sự ngợi ca các chiến công, kỳ tích anh hùng của dân tộc Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong văn học giai đoạn này nói chung và thơ ca nói riêng là sợi chỉ
đỏ xuyên suốt toàn bộ các tác phẩm Chủ nghĩa anh hùng được phản ánh ngay ở chính những con người đang sống, chiến đấu cho một lý tưởng xã hội cao cả Họ là những con người xuất phát từ quần chúng bình thường, được quần chúng tin yêu, có tinh thần cách mạng tiến công, sẵn sàng hi sinh cho đất nước Dưới sự lãnh đạo chặt chẽ và thống nhất của Đảng, thơ ca kháng chiến chống Mỹ có những bước chuyển mình phát triển tạo nên một diện mạo mới cho nền văn học nước nhà
Một đặc điểm đáng chú ý nhất của thơ ca thời chống Mỹ là sự mở rộng của hình ảnh cái Ta, thu nhỏ cái Tôi trữ tình Hình ảnh dân tộc, nhân dân, hình ảnh non
Trang 12sông đất nước cùng với những tình cảm lớn hướng về quê hương, Tổ quốc, hướng tới cộng đồng đã dần dần trở thành xu hướng khái quát của thơ ca Cái Ta ở đây là cái tổng thể với ý nghĩa trọn vẹn nhằm đối lập với kẻ thù, tạo nên một mối đồng cảm chung của mọi tầng lớp nhân dân Cái Ta thật sự trở nên hoàn chỉnh, tròn đầy vừa có ý nghĩa bao quát, vừa có ý nghĩa cụ thể, nó vừa là một nhân vật, một con người, một biểu tượng:
Ta sẵn sàng xé trái tim ta Cho Tổ quốc và cho tất cả
Lá cờ này là máu là da Của ta của con người vô giá (Tố Hữu)
Do xu hướng ngày càng mở rộng cái ta nên cái tôi trữ tình dần dần bị ẩn khuất Các nhà thơ nhân danh đất nước mình, dân tộc mình để nói đến những tình cảm chung, khát vọng chung, ca ngợi những con người sống, chiến đấu, hi sinh cho lý tưởng của Tổ quốc Trước đây, chúng ta bắt gặp hình ảnh cái tôi của các nhà thơ bộc lộ một cách trực tiếp - đấy là sự đồng cảm, sẻ chia với những số phận bất hạnh trong xã hội Cảm nhận về cuộc sống, con người, về mọi miền quê, ta vẫn thấy được một cái tôi trữ tình mang ý nghĩa cái tôi nội dung Dù cái tôi đó đã “mở hồn mình đón những vang vọng từ cuộc đời” nhưng dù nhiều hay ít cái tôi trữ tình vẫn mang hình ảnh của tác giả, mang những tâm tư, tình cảm của chính tác giả đó chứ không phải cái tôi nói hộ, cái tôi nhân danh nhân vật khác Cái tôi trong thơ giai đoạn này không còn là đối tượng nhận thức, cái tôi bị che lấp, bị mờ nhạt để hòa cùng, để nói cùng, để nhân danh cho toàn thể quốc gia, dân tộc Mỗi một hình ảnh, một biểu tượng, một xúc cảm, khi được viết ra phải mang trong mình cái chung của cả thời đại Tuy nhiên có thể thấy không phải mọi tác giả, mọi bài thơ đều nhằm phản ánh hiện thực khách quan Mỗi một tác giả, mỗi một bài thơ có khi hướng tới những biểu hiện riêng của cảm xúc nhưng cái riêng đó lại đạt đến cái chung, vận động đến cái chung một cách không cố ý Sự hòa quyện giữa nét chung và những nét riêng tạo được sự cân xứng hài hòa, không xa lạ mà vô cùng gần gũi với cuộc sống, tình
Trang 13cảm con người Cái riêng ở trong cái chung, cái tôi ở trong cái ta, bởi tất cả những tâm tư, tình cảm của con người đều hướng về lý tưởng chung Cái chung, cái riêng, cái bình thường, cái vĩ đại đều được thể hiện theo nguyên tắc điển hình hóa Tư tưởng, hành động của con người Việt Nam đang chiến đấu và sản xuất đều được chọn lọc khát quát để mang tính chất tiêu biểu cho dân tộc, thời đại Như một xu thế tất yếu, sự vận động của hình tượng thơ từ cái tôi sang cái ta có nghĩa là tư duy thơ chuyển từ hướng nội sang hướng ngoại - tạo nên một nền thơ mang tính sử thi, đậm chất anh hùng ca, đây là một đặc điểm quan trọng của thơ ca kháng chiến chống
Mỹ
Thơ chống Mỹ là một giai đoạn phát triển khá rực rỡ của nền thơ cách mạng hiện đại Bên cạnh những hạn chế, thơ ca đã đạt được những thành công nhất định, đánh dấu bước trưởng thành của văn học nói chung và của thơ kháng chiến chống
Mỹ nói riêng Đó là một nền thơ có sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, đồng thời là một nền thơ mang tính nhân dân, tính quần chúng, rộng rãi sâu sắc nhất từ trước cho tới nay Phản ánh được hiện thực chiến đấu, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.Thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử mà Đảng và dân tộc giao phó kêu gọi nhân dân hành động, đánh giặc, là tiếng nói tự hào, kiêu hãnh của người Việt Nam trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước Với những thành tựu đã đạt được, thơ ca giai đoạn chống Mỹ có thể sánh với bất kỳ một nền thơ phát triển nào của nhân loại, xứng đáng đứng ở vị trí tiên phong của nền văn học chống đế quốc
1.2 Diện mạo thơ Việt Nam sau năm 1975
Sau năm 1975, cuộc sống thời hậu chiến có quá nhiều điểm khác biệt so với cuộc sống thời chiến tranh Điều đó đòi hỏi nghệ sĩ phải xác lập vị thế của mình sao cho thích hợp với hoàn cảnh lịch sử mới Từ chỗ là những ca sĩ ngợi ca đất nước và nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, giờ đây các nhà thơ chuyển từ
“bè cao” sang “giọng trầm” Cái nhìn sử thi đã dần phai nhạt và thay vào đó là cái nhìn phi sử thi Đây là yếu tố hết sức quan trọng khiến cho văn học giai đoạn này thể hiện tinh thần dân chủ hóa sâu sắc Cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh ý thức
cá nhân đã trở thành nền tảng và cảm hứng chủ đạo của văn học và thơ ca sau 1975
Trang 14Nhà thơ không còn bị vướng bận với những kiểu hiện thực chủ yếu và hiện thực thứ yếu, không bị bó buộc trong những khung tư tưởng định sẵn mà cố gắng thể hiện tính đa chiều của hiện thực Nói đúng hơn, hiện thực trong văn học phải là thứ hiện thực của suy tư Chỉ một khi nhà thơ nhìn cuộc sống bằng đôi mắt cá nhân, nói lên tiếng nói cá nhân, lúc đó mới hi vọng anh ta tạo nên giọng điệu và tư tưởng nghệ thuật riêng Tuy nhiên, trong những năm đầu sau khi chiến tranh kết thúc, cần chú ý đến hai mạch chính trong sự vận động của tư duy thơ Thứ nhất, cảm hứng sử thi vẫn được tiếp nối như một quán tính nghệ thuật Không phải ngẫu nhiên mà giai đoạn này xuất hiện hàng loạt trường ca có ý nghĩa như những bức tranh hoành tráng tổng kết cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Sự thay đổi trong cái nhìn nghệ thuật trong các trường ca này so với thơ ca thời chống Mỹ là ở chỗ, tuy vẫn mang chủ âm
hào hùng, nhưng các nhà thơ đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến bi kịch của con người
Nói khác đi, trong khi cố gắng miêu tả sự lớn lao, kỳ vĩ của Tổ quốc, các nhà thơ đã quan tâm trực diện đến số phận của cá nhân, thậm chí nhiều khi số phận của đất nước được đo ướm bằng nỗi đau của cá nhân:
Một mình một mâm cơm
Ngồi bên nào cũng lệch
Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền
chán nản là cảm giác khá nổi bật trong tâm trạng nhiều người: thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ câu trả lời thật chẳng dễ dàng chi (Nguyễn Trọng Tạo - Tản mạn
thời tôi sống) “Từ xa” nhìn về Tổ Quốc, Nguyễn Duy đã thật lòng nói lên nỗi cay đắng của mình khi nhìn thấy sự khổ nghèo và bất hạnh của con người trong cuộc sống đầy khốn khó Lưu Quang Vũ cũng cay đắng nghẹn ngào khi nghĩ về Tổ quốc
Trang 15Các hình tượng nghệ thuật mang tính huyền thoại hóa về một hiện thực kỳ vĩ và cảm hứng sử thi không còn xuất hiện như là hiện tượng nổi bật của thơ ca giai đoạn này Trái lại, bằng cái nhìn tỉnh táo và giàu màu sắc chiêm nghiệm, nhiều thi phẩm sau chiến tranh đã thể hiện một cách khá riết róng những mặt trái của đời sống, những thay đổi các thang bậc giá trị và không né tránh việc nói đến những bất công
xã hội Theo đó, thể tài thế sự, đời tư trở nên nổi bật Ở đây chất giọng giễu nhại mang trong mình nó ít nhất hai chức năng nghệ thuật cơ bản: một là làm cho thơ bớt
đi sự nghiêm trang thái quá, ngôn ngữ thơ bớt đi sự “trong suốt” mà tăng thêm phù
sa của “cây đời”; hay đôi khi cho phép người đọc hình dung cuộc sống như một thực thể đa trị, bên cạnh cái trong veo, thuần khiết là những thứ “tèm nhem tâm hồn” Thơ sau 1975 xuất hiện “cái tôi” đa diện, nhiều bất an, giằng xé, hướng Đến khi công cuộc đổi mới được khởi xướng vào năm 1986 là một sự kiện trọng đại làm thay đổi cuộc sống nước ta vốn đã có lúc rơi vào khủng hoảng sâu sắc Văn nghệ, trong tình hình mới đã dám “nói thẳng”, “nói thật” về nhiều vấn đề khúc mắc, nhiều
sự thật đau lòng Theo đó, cá tính sáng tạo của nhà thơ cũng được giải phóng triệt
để hơn Cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và giới văn nghệ sĩ cả nước vào tháng 10 năm 1987 có tác động rất lớn đến tinh thần của những người cầm bút Bối cảnh lịch sử và văn hóa mới, cả mặt phải và mặt trái của nó khiến các nhà thơ không thể nhìn cuộc sống như trước đây mà buộc họ phải thích ứng với những thay đổi nhiều khi chóng mặt của cuộc sống Điều đó dẫn tới sự thay đổi sâu sắc về
tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn này qua ba điểm đáng chú ý sau đây:
Ý thức nhìn cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo và thơ ca hiện ra như một hình thức tra vấn không ngừng về đời sống Khát vọng đổi mới ấy trong nghệ thuật đã được tiếp sức bởi công cuộc đổi mới của đất nước Màu sắc duy lí “tỉnh táo, tỉnh bơ” khá đậm trong thơ cho thấy ý thức tạo dựng nhãn quan nghệ thuật mới của nhiều nghệ sĩ ý thức ấy bộc lộ qua hai dấu hiệu cơ bản: thứ nhất, thơ ca đã bắt đầu bứt thoát khỏi những trận mưa trữ tình và sự ngọt ngào thường thấy trong thơ 1945-
1975 để tiến đến sự đa dạng với những câu thơ trúc trắc, mang tính đối thoại cao, giọng điệu thơ gần gũi với đời sống thường ngày; thứ hai, cái nhìn tỉnh táo của nhà
Trang 16thơ thực ra là cái nhìn giàu chất suy tư, là bề ngoài của một nỗi đam mê lớn bên trong Gắn liền với những thay đổi ấy trong cấu trúc tư duy nghệ thuật là vị thế của nhà thơ trong hoàn cảnh mới Nhà thơ không phải là những người rao giảng đạo đức hay minh họa cho một tư tưởng sẵn có mà anh ta phải góp phần đánh thức những khát khao, những niềm trắc ẩn của con người trên cơ sở trình bày cảm nhận của mình về các giá trị
Nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, dám phơi bày những bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để đi tìm những giá trị mới Với tư cách là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo ra được quan
niệm riêng về đời sống Quan niệm ấy không hiện lên qua những lời thuyết lý khô khan mà phải hoá thân vào chữ nghĩa và hình tượng Đó là lý do khiến các nhà thơ sau 1986 chú ý nhiều hơn đến tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ ca Bên cạnh xu hướng đưa thơ gần với đời sống là một cực khác: ý thức tạo ra tính nhòe mờ trong ngôn ngữ và biểu tượng Xu hướng này muốn gia tăng chất ảo trong thơ, buộc người đọc phải giải mã các sinh thể nghệ thuật qua nhiều chiều liên tưởng văn hóa khác nhau
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, thơ sau 1975 đã vận động một cách mạnh
mẽ theo hướng dân chủ hóa Tất nhiên, trong quá trình tìm tòi, đã xuất hiện không ít trường hợp rơi vào cực đoan Tuy nhiên, với những “cực đoan lành mạnh”, nhìn thấy khía cạnh tích cực của nó: Nó sẽ là những cú hích để: phá bỏ những tín điều mòn cũ một cách triệt để Điều đó có ý nghĩa như một kinh nghiệm nghệ thuật để những người đi sau tìm cách điều chỉnh hoặc tạo ra một lối rẽ khác triển vọng hơn Nếu hình dung như thế sẽ thấy, tuy chưa tạo được những đỉnh cao nghệ thuật như ta vẫn trông đợi, song với sự thay đổi về tư duy nghệ thuật, sự nhận thức toàn diện hơn
về bản chất thơ ca và cấu trúc thể loại, thơ Việt đã thực hiện một cuộc tạo đà mạnh
mẽ cho những kết tinh nghệ thuật trong chặng đường sắp tới
1.3 Hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Đức Mậu:
Như chúng ta đã biết: Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu lấy tên khai sinh làm bút
danh, sinh ngày 14 tháng 1 năm 1948 tại làng Vị Khê- xã Nam Điền- huyện Nam Trực- tỉnh Nam Định
Trang 17Quê hương Nguyễn Đức Mậu là một làng quê đồng bằng Bắc bộ nghèo như bao làng quê chiêm trũng khác, đã phải hứng chịu biết bao biến động của lịch sử, bao khắc nghiệt của thiên nhiên và bao tấn bom đạn của kẻ thù trong chiến tranh Mảnh đất ấy cũng là nơi quy tụ và sinh thành những ngôi sao sáng chói trong lịch
sử văn học nước nhà: Trần Tế Xương, Á Nam Trần Tuấn Khải, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính… Mảnh đất Nam Định bên dưới lớp sỏi khô cằn là những mạch nguồn trong mát nuôi dưỡng bao thế hệ sáng tác suốt cả thời kì lịch sử dài Sức sống dồi dào, sự trỗi dậy kiên cường, bất khuất của quê hương Nam Định khắc khổ
mà anh dũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến phẩm chất con người và phẩm chất thơ Nguyễn Đức Mậu
Say mê sống và say mê sáng tạo, Nguyễn Đức Mậu là người đam mê thơ ca thuở
ấu thơ Ngay từ nhỏ, ông đã làm thơ có tác phẩm đăng báo, Mười bảy tuổi lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của tổ quốc, Nguyễn Đức Mậu đã phải sống những tháng ngày gian khổ, đã giáp mặt với chiến tranh, cận kề với bom đạn và cái chết những thử thách
đó, như lửa thử vàng càng làm sáng tỏ lý tưởng cách mạng kiên định trong tâm hồn nhà thơ Cuộc đời chiến sĩ với năng khiếu bẩm sinh, Nguyễn Đức Mậu đã biết chắt lọc từ khói lửa, trong hy sinh mất mát những vần thơ mang âm hưởng sử thi hào hùng Nói đến duyên thơ của Nguyễn Đức Mậu không thể không nhắc đến sự song song và thống nhất của con đường văn nghiệp và con đường binh nghiệp Đến nay, với trên hai chục đầu sách gồm cả thơ, văn, tác phẩm viết cho thiếu nhi tất cả đã cho thấy Nguyễn Đức Mậu có một sức sáng tạo thật dồi dào
Với công việc biên tập thơ cho tạp chí Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu càng góp được nhiều hơn cho sự nghiệp thơ ca Bằng kinh nghiệm sáng tác của mình, Nguyễn Đức Mậu đã góp phần vun đắp những tài năng thơ đương đại Hiện nay, ông đã nghỉ hưu nhưng vẫn tiếp tục bền bỉ trên con đường sáng tác, như
ngày nào ông viết những vần thơ trong nỗi đam mê không thể dứt: Với nhà thơ, thơ
là nỗi đam mê
Họ theo đuổi, suốt đời chưa dứt được
…Khi kết thúc tập thơ mới nhất Lại bắt đầu vỡ đất tập thơ sau ( Ghi chép về thơ)
Trang 18Chính vì thế, thơ Nguyễn Đức Mậu là sự kết tinh trí tuệ và cảm xúc- trí tuệ giàu có, tư duy sắc sảo và một tấm lòng, một trái tim có sức lay động tâm hồn người đọc Thơ ông đã để lại ấn tượng sâu sắc về tiếng nói thơ đầy trách nhiệm trước đất nước và cuộc sống đồng thời cũng phản ánh rõ những chuyển biến của tư duy thời đại Xin đưa ra mốc thời gian phân chia chặng đường sáng tác của thơ Nguyễn Đức Mậu là những năm 1976- một năm sau hơn 30 năm đấu tranh gian khổ của dân tộc
Sự phân định này nhằm mục đích phân biệt, so sánh sự khác nhau về đề tài, cảm hứng nghệ thuật, các hình tượng thơ, cảm xúc trữ tình trong thơ Nguyễn Đức Mậu giữa các chặng đường sáng tác
Trước năm 1976, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu cho ra đời bốn tập thơ: Thơ ngưởi ra trận ( in chung với Vương Trọng- năm 1971), Cây xanh đất lửa ( 1973),
Áo trận ( 1976), Mưa trong rừng cháy ( 1976) Do sự xuất hiện trùng lặp của một số bài thơ nên tôi tập trung khảo sát những tập : Thơ người ra trận, Cây xanh đất lửa, Mưa trong rừng cháy
Sinh ra từ sau cách mạng tháng Tám 1945, được trau dồi tri thức, văn hóa trong nhà trường của chế độ mới, Nguyễn Đức Mậu thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mỹ đã từ cánh cửa trường đi thẳng tới chiến trường cầm súng chiến đấu
Hiện thực đời sống những năm chống Mĩ và ngọn lửa chiến tranh cách mạng
đã tôi luyện Nguyễn Đức Mậu thành con người vững vàng trong cuộc sống, có bản lĩnh nghệ thuật Giáp mặt với thực tế chiến tranh, Nguyễn Đức Mậu đã ý thức sâu sắc về vị trí, vai trò của thế hệ mình, sự xuất hiện đúng lúc của thế hệ mình
Cùng với giải Nhất cuộc thi thơ do Báo Văn Nghệ tổ chức năm 1972-1973 cho
bốn bài thơ chân thật và cảm động về người lính ( Đất- Đôi mắt- Nằm hầm- Ghi ở chiến trường), Nguyễn Đức Mậu khẳng định tài năng, vị trí và trở thành một trong
những nhà thơ tiêu biểu của thời chống Mỹ
1.3.1: Thơ người ra trận ( NXB Quân đội nhân dân 1971)
Đây là tập thơ đầu tay in chung với nhà thơ Vương Trọng Tạo của anh lính trẻ- nhà thơ Nguyễn Đức Mậu Lúc này Nguyễn Đức Mậu vừa tròn 23 tuổi và đứng
Trang 19trong quân ngũ được sáu năm Phần thơ của Nguyễn Đức Mậu có 19 bài trong đó có
những bài rất nổi tiếng: Ngủ rừng theo đội hình đánh giặc, Âm điệu đồng bằng, Hầm vây lấn, Công sự trên điểm cao…
Trong tập thơ, ta bắt gặp một giọng thơ vừa trẻ trung, tươi tắn, chan chứa men
say nồng của tuổi trẻ ( Tháng ba, mùa đông lên đường…) khao khát sống và chiến đấu một cách chân thành, trong sáng ( Khát, Mùa xuân Trường Sơn, mưa Trường Sơn….)
Nguyễn Đức Mậu đưa người đọc theo bước chân của người lính từ giã thôn xóm, làng mạc ra đi, hòa nhập cùng đồng đội trên mọi nẻo chiến trường
Nhà thơ như hòa cùng khí thế lên đường của cả một thế hệ, đi trong tiếng
trống giục giã, sôi động, trong niềm tự hào “ tôi mặc màu xanh đến chiến trường”, “ tôi được là người lính", được lên đường chiến đấu
Không chỉ có vậy, tập thơ còn tái hiện được phần nào không khí của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng hiện thực nóng bỏng của cuộc chiến đấu vẫn còn chưa có nhiều ở tập thơ này Hình ảnh con người thời đại chống Mỹ chủ yếu được nhấn mạnh ở sự thanh tao, bình dị, nhưng lại ánh lên sức mạnh của cả một thế hệ, một dân tộc kiên cường
Suối ơi: in nhịp cầu xa tắp Rừng già bom dội suốt mùa khô Đánh trăm trận đã quen cơn khát Những vẫn không nguôi khát diệt thù
( Khát)
Mặc dù không tránh khỏi những non nớt của tập thơ đầu tay và suy nghĩ của một thanh niên trẻ tuối, nhưng đây vẫn được coi là một tập thơ thành công, đáng ghi
Trang 20nhận, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển của thơ Nguyễn Đức Mậu ở những
chặng đường sau, định hình một phong cách riêng “ thơ viết về người lính một cách trung thực và giản dị” Ngoài ra trong một số bài thơ của tập thơ này, Nguyễn Đức
Mậu cũng đã thể hiện được suy nghĩ sâu sắc, trưởng thành hơn trong cách nhìn nhận, phản ánh hiện thực
1.3.2 Cây xanh đất lửa: ( NXB Văn học -1973)
Tiếp tục khẳng định phong cách thơ của mình từ sau tập thơ “ Người ra trận" Nguyễn Đức Mậu đã cho ra đời tập thơ “ Cây xanh đất lửa” Tập thơ gồm 30 bài thơ
và nội dung chủ yếu của nó vẫn là những câu chuyện ở chiến trường, những chuyện sinh hoạt đời thường của người lính Các bài thơ trong tập thơ này thường là các bài thơ dài hơi Có những bài thơ đã trở thành tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách của
Nguyễn Đức Mậu thời chiến tranh như: Nằm hầm, anh Pa-thét Lào ngủ trong chum
đá, Nấm mộ và cây trầm, Ghi ở chiến trường…
Có lẽ chưa có tập thơ nào lại tái hiện và mô tả đầy đủ công việc của những
người lính như Cây xanh đất lửa Tập thơ có lời tâm sự của anh lính công binh ( Theo những con đường), có người chiến sĩ phá bom dũng cảm ( Nơi em có nhiều bom đến nỗi), người coi kho ( Kho chiến rừng), chién sĩ pháp binh ( Hoa phong lan
ở trận địa pháo), bộ binh ( tiểu đội bộ binh trên chốt mùa mưa), chiến sĩ Pathét Lào ( Anh Pa- thét Lào ngủ trong chum đá…)
Ngoài ra, nhà thơ cũng thể hiện lòng yêu tha thiết quê hương, đất nước ( Tổ Quốc, đất Việt Nam)
Ơi! tổ quốc- Mẹ hiền sao kì diệu thế
Từ thuở vua Hùng dựng nước vẫn hành quân”
( Tổ quốc)
Và tình cảm kính trọng với vị cha già của dân tộc :
Tháng Năm, tháng Năm ở mỗi con người
Nghĩ về Bác tình yêu thêm rộng mở
Trời cao, trời cao đong đầy thương nhớ
Trái đất này như xích lại gần nhau
( Tháng năm nhớ Bác )
Trang 21Nhìn chung, Cây xanh đất lửa là một tập thơ khá toàn diện và hoàn chỉnh về đời sống chiến trường, nó càng khẳng định tài năng và bản lĩnh người nghệ sĩ Nguyễn Đức Mậu
1.3.3: Mưa trong rừng cháy (NXB Giải Phóng- 1976)
Tập thơ gồm 25 bài xuất bản năm 1976 Ở tập này, Nguyễn Đức Mậu đã thực
sự khẳng định tiếng nói riêng của mình qua những vần thơ giàu cảm xúc sinh động như còn vương bụi chiến trường, khét mùi bom đạn, mang khí thế hừng hực của cuộc chiến đấu Nếu như ở hai tập thơ trước, Nguyễn Đức Mậu có khuynh hướng đi tìm chất thơ trong mảng hiện thực đời sống nên thơ thì ở tập thơ này, người đọc cảm nhận ông đã nhìn thấy chất thơ ngay cả trong hiện thực trần trụi, thô nhám, dữ dội và đầy ác liệt của cuộc sống chiến trường Cảm hứng thơ vì thế mà càng mãnh
liệt, sôi nổi và sâu sắc hơn ( kỉ niệm về một người anh, Nói với con, Điệp khúc một con đường, Bến cảng mặt trời)… Đồng thời ý thức về cái tôi đầy tự hào ( Lời tâm
tình, Cánh rừng nhiễm độc, Khoảng trời mùa thu trong trận sốt, Tưởng nhớ số II )
Phần lớn những bài thơ trong Mưa trong rừng cháy đều mang tâm sự riêng tư của người lính; lại vừa là cái tôi thế hệ ý thức, chiêm nghiệm về vị trí, nhiệm vụ của
mình cũng như là tất cả những người lính trong cuộc đối đầu lịch sử với kẻ thù dân tộc Có lẽ vì thế mà người đọc cảm nhận được những bài thơ gần nhau về vóc dáng
và trùng nhau về chủ đề, nhưng bổ sung cho nhau, tạo dựng hình ảnh đời sống chiến đấu Chưa bao giờ, hình ảnh thế hệ trẻ sống, chiến đấu giữa chiến trường lại được
tập trung khắc họa đạt tới tính chân thực cao như vậy (Lời tâm tình, thơ người đi biển gửi người đi rừng, Điệp khúc một con đường…)
Nhà thơ đã từng tâm sự “ Con đường Trường Sơn và miền đất nóng bỏng kia
có dài rộng đến vô cùng Hai mươi năm qua đất nước mình dồn sức lực và của cải vào đó để làm nên giai đoạn lịch sử hào hùng So với độ dài của con đường, so với chiến công lớn lao của những trận đánh , chúng tôi cảm thấy còn viết quá ít” Có lẽ
vì thế mà trong tập thơ này, các chi tiết đời sống mặt trận được nhà thơ chăm chỉ lưu giữ Mỗi bài thơ như khái quát từng mảng hiện thực lớn của cuộc chiến tranh chống Mỹ với tính chất ác liệt và dữ dội, làm ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách
Trang 22mạng của thế hệ trẻ lúc bấy giờ Tập thơ không chỉ thể hiện sự thống nhất cao độ giữa ý thức nhà thơ với trách nhiệm công dân mà còn thể hiện sự nhận thức rõ ràng của Nguyễn Đức Mậu về trách nhiệm của thế hệ mình với dân tộc, đất nước trong gia đoạn này
1.3.4: Trường ca sư đoàn: ( NXB Quân đội nhân dân-1980)
Dẫu có nhiều bài thơ trận mạc nhưng có vẻ như chiến tranh còn chưa chấm dứt trong thơ của Nguyễn Đức Mậu Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, Bắc-
Nam thu về một mối, Ông cho ra đời tập thơ Trường ca sư đoàn Tập thơ thể hiện
một cái nhìn bao quát, toàn cảnh về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc Tầm nhìn cùng với nhận thức về hiện thực cuộc sống chiến trường được mở rộng và sâu sắc hơn: có hi sinh, có mất mát, có chiến thắng lạc quan tin tưởng Bản trường
ca dài 2000 câu thơ, được chia làm 5 chương khắc họa không gian chiến trận dọc đường hành quân: từ mặt trận miền Tây, chiến trường Quảng Trị, cánh rừng Trường Sơn rồi tới thành phố Sài Gòn Tập thơ ca ngợi những sư đoàn, những chiến sĩ đã từng có mặt khắp các chặng đường của tổ quốc , chiến đấu, hi sinh quên mình để giành giật từng hàng cây, từng mảnh đất để giành chiến thắng
Sư đoàn tôi vừa đi qua chiến tranh
Hòa bình đến trên bàn tay lắp đạn
Chúng tôi đi
Bước đồng bằng, bước biển
Bước núi đồi
Bước biên giới rừng xanh
Không đếm hết dấu chân dừng lại dọc đường
( Ngày 30-4)
Người đọc như bắt gặp hình ảnh những người mẹ, những chiến sĩ, o du kích, cùng những con người vô danh, những con người bình thường mà bất khuất, khiên cường Qua mỗi bài thơ, ông đều thể hiện những suy tư giản dị nhưng vô cùng chính xác giữa những sự đối lập tồn tại trong hiện thực chiến tranh: sự phi nghĩa và chính nghĩa, sự hủy diệt, tàn bạo của kẻ thù và khát vọng sinh sôi của nhân dân ta
Trang 23Và cuối cùng, tất nhiên chiến thắng phải dành về ta- những người lính dũng cảm, sản sinh từ một dân tộc kiên cường
Cuộc đọ sức giữa con người và sắt thép Giữa rừng cây và loài thú phá rừng Cây mãi xanh tươi, con người chiến thắng Ngôi sao vàng tìm đến lòng dân
( Mặt trân miền Tây)
“Trường ca sư đoàn” không chỉ khám phá những ngọn nguồi sâu sa của sức mạnh Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù mà còn thể hiện sự suy tư sâu sắc, một cái nhìn trầm tĩnh về cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta Hiện thực chiến tranh theo đó mà được tái hiện toàn vẹn, đầy đặn và cô cùng sắc nét Bản thận
nhà thơ cũng đã từng nói rằng “ Trường ca sư đoàn là tác phẩm dài hơi và ông cảm thấy hài lòng nhất” Tác phẩm đã chứng tỏ một bước tiến mới trong thơ Nguyễn
Đức Mậu Bước tiến ấy khiến cho chính những đồng nghiệp cũng cảm thấy cảm
phục : “ Chúng tôi thấy thơ anh thật lạ lùng Nhưng rồi chúng tôi hiểu được Đó là những hoa trái mà anh trồng nên, hái được về sau bao năm dũng cảm, cần cù quyết tâm lao vào cuộc sống ác liệt và anh hùng, đã thâu nhận và vun đắp một cách đáng quý, đáng trọng [ 23:6] Đó chính là lý do vì sao mà Trường ca sư đoàn thường
được đọc vang lên như một bản hùng ca đầy hào sảng Phải chăng tác phẩm thể hiện
niềm tự hào, tiếng nói chung của những người lính bộ binh đã từng “ nằm gai, nếm mật” trong cuộc chiến khốc liệt đã qua? Chỉ biết rằng, với độc giả và đồng nghiệp,
Nguyễn Đức Mậu đã để lại một dấu ấn sâu sắc về một hồn thơ thực sự trưởng thành trong khói lửa chiến tranh
1.3.5 Hoa đỏ nguồn sông ( NXB Tác phẩm mới- 1987)
Sau trường ca sư đoàn, bảy năm sau thì Nguyễn Đức Mậu bắt đầu cho ra đời tập thơ có cái tên rất trữ tình- chính trị: “ Hoa đỏ nguồn sông” Tập thơ gồm 26 bài Và
cũng giống như tập thơ trước, ông coi đây là tập thơ ghi chép lại những âm vang vọng
về từ quá khứ Hoa đỏ nguồn sông chính là những ký ức về một thời tuổi trẻ, của chiến
tranh đã lùi xa vào quá khứ nay “ trở về” trong ông thật bi tráng, bi hùng
Trang 24Cảm xúc, sự từng trải và hiện tại cuộc sống, một giây phút nào đó đã đưa nhà thơ trở về với những năm tháng gió bão chiến tranh, trở về với cánh rừng năm xưa, sống lại với những kỉ niệm về đồng đội, về chiến trường…
Muýt- xê từng nói rằng : “ Hãy đập vào trái tim anh, thiên tài nằm ở đó” “ Chiến tranh đã qua rất lâu nhưng thơ ca Nguyễn Đức Mậu chưa có một ngày bình yên Hầu như trái tim ông đã biến thành một quả bom kí ức đêm đêm ném vào trang bản thảo tất cả nỗi đau còn chưa nguôi ngoai, khiên các con chữ cũng theo đó mà
bị thương nghiêng ngả Những cái chết của đồng đội trở thành những vết thương không thể cầm máu trong tâm hồn nhà thơ” [ 21; 69] Chính vì lẽ đó, trong Hoa
đỏ nguồn sông, ta thấy Nguyễn Đức Mậu như trầm ngâm hơn, suy tư trải nghiệm
hơn trong cách thể hiện kí ức dữ dội về cuộc chiến đã qua
Ta ngồi xuống bóng cây tròn thế kỉ
Năm tháng qua đi hồi tưởng lại theo về
Vậy là năm tháng qua đi, chiến tranh giờ đây chỉ là kí ức nhưng với nhà thơ Nguyễn Đức Mậu Những hoài niệm ấy lúc nào cũng thường trực trong ông như
một phần quá khứ vừa hào hùng vừa bi tráng không thể nào quên
Một thời đau thương và oanh liệt, dù buồn, đôi khi là đau khổ và tuyệt vọng nhưng đối với Nguyễn Đức Mậu, ông vẫn luôn gìn giữ và mang theo như một kho báu Nhà thơ coi đó như là cội nguồn sức mạnh để mình vững bước trên chặng
đường phía trước Tập thơ Bão và sau bão gồm 25 bài thơ được coi như là sự nối
tiếp cảm hứng về chiến tranh và ghi chép lại những kí ức của một người lính không nguôi nỗi nhớ, ám ảnh về quá khứ Những khoảnh khắc, thời gian quá khứ đọng lại cũng là một lần kỷ niệm chiến trường dội về ngày càng như khắc khoải hơn, đau đớn hơn Ký ức trong nhà thơ dồn dập, niềm tâm tư ấy như con sóng và bão gió nổi cồn không chút bình yên:
Năm chiến tranh Dòng tên khắc trên chuôi dao, vách đá
Ôi, tuổi trẻ bạn bè thật nhiều Chung sống chết, căn hầm sụp đổ
( Từ hạ vào thu)
Trang 25Để rồi nhà thơ như khắc khoải đi tìm lại những dấu vết của quá khứ với biết bao vui vui buồn tuổi trẻ trong chiến tranh khốc liệt:
Năm chiến tranh Đâu mảnh thuyền tan Đâu là nơi non bão nát nhàu Tôi như con sóng và cơn gió Tìm mảnh thuyền tan tìm chiếc lá đau
( Bão và sau bão) 1.3.6: Bão và sau bão ( 1994)
Với Bão và sau bão, người đọc dễ dàng nhận thấy sự mở rộng đề tài trong
thơ Nguyễn Đức Mậu Ông đã dành những trang thơ đẹp để khắc họa những tâm sự đời tư, những vui- buồn, mừng- lo trong cuộc sống bề bộn¸khắc họa chân dung
những con người bình thường nhưng vẻ đẹp giản dị nhưng vô cùng cao quý Đó là : người mẹ nhân hậu ( Dâng mẹ), người đàn bà bất hạnh ( Cô tôi), người hát rong ( trong tác phẩm cùng tên) , người chiến binh già, ông nghệ nhân,người bán chổi…
Qua đó thể hiện những suy tư, trải nghiệm rất “ con người”
Trong tác phẩm này, ông đã thể hiện nội dung tư tưởng, những lời bộc bạch, suy tư một cách chân thành Những suy nghĩ ấy đôi khi được bôc lộ một cách tự
nhiên, thông qua những sự vật nhỏ bé, sự kiện bình dị: Nhánh xương rồng ( nhánh xương rồng trên cát), hạt lúa ( Ngợi ca hạt lúa), pho tượng đá ( Nghìn năm tuổi), dòng suối ( Suối mát), bông hoa quỳnh ( Thức với hoa quỳnh) hay: Độc thoại đêm
30 Tết, Nhà bạn bên cầu Chương Dương, Tự sự, Thư những ngày xa…
Với sự từng trải chiến trường, cuộc sống cùng kinh nghiệm trong nghiệp cầm bút, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã vinh dự nhận giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam với tập thơ “ Bão và sau bão” này
1.3.7: Cánh rừng nhiều đom đóm bay:
Sau “ Hoa đỏ nguồn sông” thì đây được coi là tập thơ thành công của Nguyễn Đức Mậu Tập thơ gồm 35 bài với sự mở rộng đề tài và cảm hứng chủ đạo Ở tập thơ này, ta bắt gặp những triết lý đời sống sâu sắc Đó là những vần thơ được đúc
Trang 26rút từ tâm hồn một người từng trải, nhạy cảm và sống đầy trách nhiệm với dân tộc, đất nước và cuộc sống Ngoài những bài thơ hoài niệm về chiến trường cũ, xuất hiện những âm thanh ríu ran của cuộc sống mới, những tâm sự trước cuộc đời, thế
sự Phải chăng, chính thời bình, cuộc sống hiện tại đã mang đến cho nhà thơ những cảm hứng mới – cảm hứng trữ tình thế sự?
Ta muốn phân thân nghe tiếng vọng hai bờ Mọi vật quanh ta ríu ran tiếng nói
(Tạp bút)
“ Cánh rừng nhiều đom đóm bay” hé lộ cho người đọc một số khía cạnh tâm hồn nhà thơ, những khía cạnh mới mà một số tập thơ khác còn bị khuất lấp hoặc chưa dễ dàng bộc lộ Để rồi, người đọc bắt gặp một Nguyễn Đức Mậu đầy bản lĩnh nghệ sĩ, suy tư và day dứt, thao thức dằn vặt với những cảm xúc, nỗi niềm nhiều khi
là canh cánh trong lòng, nay mới có dịp chia sẻ:
Xa quê biền biệt tháng ngày Ngủ rừng, ngủ phố, đêm nay ngủ nhà
Mọt kêu rờn rợn thịt da Tiếng vô tri cũng khiến ta chạnh lòng ( Khúc cảm)
Và thế là kí ức lại trở về với nhà thơ Ông nhớ đến những vì sao lấp lánh, những con đom đóm bay giữa bầu trời đêm thanh bình, yên tĩnh cũng khiến nhà thơ
nhớ về cánh rừng đêm đêm chiến tranh rùng rợn năm xưa: “ Đêm đơn vị dừng chân trong sâu hút cánh rừng Có giếng nước ai đào dưới lòng suối cạn? Múc nước lên tôi uống trong cơn khát khô vòm họng Nước ngọt mát cơ thể cỗi cằn Chúng tôi đâu biết lòng giếng có xác người chết Đêm mịt mùng, cánh rừng nhiều đom đóm bay, những sợi mỏng chập chờn như ảo giác ( Cánh rừng nhiều đom đóm bay)
Như vậy, Nguyễn Đức Mậu với cái tôi công dân, các sáng tác mang âm hưởng ngợi ca cách mạng đã phản ánh chân thực hiện thực lịch sử của thời đại oai hùng và vinh quang của dân tộc Những rung động sâu lắng, tinh tế bằng trái tim nhiều xúc cảm yêu thương, hình ảnh người lính, hình ảnh quê hương, đất nước, hình ảnh những con người Việt Nam nhỏ bé nhưng dũng cảm, kiên cường đã đi vào thơ ông thật đằm thắm thiết tha, dung dị…
Trang 27CHƯƠNG II: THẾ GIỚI HIỆN THỰC TRONG THƠ NGUYỄN ĐỨC MẬU
2.1 Cảm hứng về thực tại chiến tranh của đất nước
2.1.1 Hình ảnh đất nước
Thời đại chống Mỹ là thời đại đầy biến động, đau thương, anh hùng và thử thách Trong không khí cách mạng, chủ nghĩa yêu nước là nguồn động lực tinh thần lớn nhất đối với tất cả mọi người và cũng là nguồn cảm hứng lớn bao trùm và thấm sâu trong từng tác phẩm Và trong lớp những nhà thơ trẻ tiếp bước cha anh viết tiếp những bản trường ca dân tộc, người đọc lại một lần nữa bắt gặp gương mặt quen thuộc của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu Ông đã mang đến một tư thế mới, một thế đứng mới từ chỗ đóng khung trong lĩnh vực đời riêng đã mở rộng sang lĩnh vực đời sống chung
Trong thời kì này, các nhà thơ đã nhìn nhận lịch sử dân tộc từ quá khứ đến hiện tại chiến tranh anh dũng để hình thành cách cảm nhận mới mẻ về đất nước Cảm hứng về đất nước là một cảm hứng nổi bật trong thơ ca Việt Nam hiện đại
"Đất nước" không còn là một khái niệm mơ hồ, xa xôi nữa, nó đã trở nên gần gũi,
ấm áp gắn liền với tấm lòng yêu quê hương thiết tha của mỗi con người:
Ôi Việt Nam! Yêu suốt một đời
Nay mới được ôm Người trọn vẹn, Người ơi
( Vui thế hôm nay- Tố Hữu)
Hay:
Ôi Việt Nam! Tổ quốc thân yêu
Trong khổ đau, người đẹp hơn nhiều
Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng
Biết hy sinh nên chẳng nhiều lời
( Bài ca Xuân 67- Tố Hữu)
Tố Hữu là nhà thơ đã thể hiện thành công hình ảnh đất nước Đất nước không chỉ được khắc họa ở nhiều khía cạnh như: vị trí địa lý, núi cao, biển rộng, sông dài với những cánh đồng thẳng cánh cò bay Đất nước còn là một cơ thể sống,
Trang 28cũng trăn trở, suy ngẫm, phập phồng hy vọng, có khi nổi sóng căm hờn, có khi lại trầm tĩnh tin yêu
Với Chế Lan Viên, ông coi Tổ quốc như một phần thân thể, máu thịt của mình Đất nước bị chia cắt chẳng khác nào một phần máu thịt bị san sẻ, chia lìa Đau đớn và xót xa
Chúng muốn xé bản đồ ta làm hai nửa Tổ quốc
Xé thân thể ta thành máu thịt hai miền
( Đừng quên- Chế Lan Viên)
Trong giờ phút xung trận khi cả nước đánh Mỹ, giữa đau thương, bom đạn, Chế Lan Viên vẫn nhìn ra sự dịu dàng, êm ả của tâm hồn và cảnh sắc Việt Nam ẩn chứa chiều sâu của văn hóa dân tộc Đây là những cảm nhận tinh tế, thấm thía về tổ quốc:
Ta đã yêu Việt Nam đẹp, Việt Nam thơ, bát ngát câu Kiều, bờ tre, mái rạ Mái đình cong như bàn tay em gái giữa đêm chèo
Cánh cò Việt Nam trong hơi mát xẩm xoan, cò lả
Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa keo
( Thời sự hè 72- Chế Lan Viên)
Như vậy, mỗi nhà thơ có một cảm nhận, cách nhìn khác nhau về đất nước.Với Nguyễn Đức Mậu, ông viết về đất nước như một nhiệm vụ nhưng đồng thời cũng là
sự thôi thúc của con tim, trách nhiệm công dân khi đất nước không bình yên Hình ảnh đất nước trong thơ Nguyễn Đức Mậu giản dị, thanh bình và cao đẹp như chính tâm hồn của ông Đất nước là những hình ảnh rất cụ thể như dòng sông, làng xóm thân yêu, mảnh vườn, thửa ruộng, ngôi nhà … Đặc biệt , hình ảnh đất nước trong những năm tháng không bình yên đươc khắc họa sâu sắc trong hiện thực chiến tranh
qua những chi tiết ngổn ngang bề bộn của đời sống chiến trường
Là một nhà thơ mặc áo lính, sống giữa chiến trường khốc liệt, lăn lộn nhiều năm ở tuyến đường Trường Sơn lịch sử, Nguyễn Đức Mậu đã chứng kiến tận mắt cảnh tượng dữ dội nhất của chiến tranh Chính vì thế, ông cảm nhận vô cùng sâu sắc
về thực tại đất nước:
Trang 29Trời thấp xuống vỡ ra từng mảng nước
Vẫn mùa mưa miền gió cát kéo dài
Trông phía làng bồng bềnh nước trắng
Trông phía rừng mưa khuất màn cây
Nhìn mặt đất sông đầy suối lũ
Nhìn lên trời xám ngắt môt màu cây
( Trường ca sư đoàn)
Nhà thơ không chỉ cảm nhận được đất nước trong không gian chiến trường, những mảnh đất khét mùi đạn bom mà hình ảnh thiêng liêng ấy còn được khắc họa tinh tế, đầy cảm xúc trong vùng hậu phương và địch tạm chiếm:
Khẩu pháo không một ngày mặc áo
Đồi thông vàng che giàn tên lửa
Trận địa súng trường ở cao, đào sâu
Lưng rồng tỏa ra ngang dọc chiến hào
( Trận địa trên lưng rồng)
Dọc con đường hành quân, ông ghi lại cả cảnh vật thiên nhiên trải dọc theo chiến trường Đất nước không bình yên, cây cỏ, hoa lá cũng không một ngày nghỉ ngơi, cùng người lính bộ binh, chiến đấu, ngụy trang chống lại kẻ thù:
Cây thông cháy đứng lên làm cây số
Vết dao anh khắc gỗ vẫn còn đây
Những con số thơm thơm dòng nhựa
Hương nồng nàn hơi ấm bàn tay
( Theo những con đường)
Nhưng đôi khi, trên đường ra trận, thiên nhiên chiến trường khắc nghiệt lại vô tình trở thành những khó khăn, thử thách lòng người:
Giặc Mỹ thả bom phát quang, bom cháy
Gió Lào khắc nghiệt mưa rừng liên miên
( Hoa phong lan ở trận địa pháo)
Trang 30Hình ảnh đất nước trong thơ ông không chỉ chân thực, bình dị mà còn rất cụ thể Nguyễn Đức Mậu luôn có ý thức dùng những địa danh cụ thể , tên sông, tên núi
để khắc họa không khí chiến tranh của đất nước Những địa danh mà chỉ nhắc đến tên thôi, không chỉ những người lính bộ binh mà cả thế hệ trẻ sinh ra thời bình cũng tưởng tượng ra không khí chiến tranh cam go, ác liệt Đó là sông Thạch Hãn, Tích Tường, Như Lệ, Động Tiên, đồi Pháo, đồi Tăng, đồi Tròn, đồi Khói, dốc O Hà…
Ngọn đồi Khói ngày đêm âm ỉ khói
Đất đùn lên loài nấm độc dị kỳ
Đồi Pháo một ngày hai mươi trận bom
Cây trút lá, cỏ thay màu cỏ
Đồi Tăng còn phơi xác xe tăng
Bàn chân đốt đuổi theo vòng xích
Rừng U Minh hằn dấu chân bọn thú khát máu người
(Tổ quốc )
Hơn ai hết, hiện thực chiến trường trong thơ Nguyễn Đức Mậu chân thực và
cụ thể, cho ta thấy những vất vả, đau thương mà anh hùng của đất nước, cho ta thấy thấm thía những hi sinh, gian khổ tột cùng của đời sống chiến tranh Nhiều khi trong thơ ông, người đọc cảm nhận thiên nhiên và cảnh vật chiến trường của đất nước nhiều khi không còn là bức tranh hiện thực thông thường mà nó như một nhân chứng tố cáo tội ác dã man của kẻ thù
Trang 31Nếu nối những vòng dây thép gai nơi vành đai Quảng Trị
Hẳn sẽ dài hơn đất nước Việt Nam
Dây thép gai chia xóm làng
Mọc trên đồi cao
Máng dẫn nước vào buôn thôi không chảy
Cỏ mọc, dây leo quanh cột tung còn
Mảnh bom chém cây đào ứ nhựa
Không tiếng gà trưa, vắng tiếng trẻ con
(Những ngôi nhà bỏ không)
Nhịp đập của cuộc sống bị xáo động, cảnh chia ly, tan tác loạn lạc khiến những ngôi nhà trở nên hoang vắng tiêu điều và xơ xác Không còn hơi ấm của những ngọn lửa trong mỗi gia đình, những dòng nước mát lành nuôi dưỡng con người, những gốc cây, ngọn cỏ không có tay người chăm sóc, những đứa trẻ lớn lên trong chiến tranh phải xa cha, xa mẹ theo bà đi tản cư Gia đình mỗi người một ngả, không được toàn tụ cùng nhau bởi đất nước vẫn còn bóng giặc thù Những ngôi nhà không còn hơi ấm con người, làng mạc thôn xóm trơ trọi Tất cả đều do bàn tay tội
ác của quân xâm lược dội hàng ngàn tấn bom xuống quê hương đất nước ta
Trang 32Và ở chiến trường, con mắt tuổi trẻ xanh tươi của chàng lính trẻ cũng đã ghi lại những khoảnh khắc mến yêu, yên bình hiếm có Dù chỉ tích tắc thôi nhưng cũng đáng quý vô ngần:
Trưa vắng vang vọng trưa bình yên
Cây dấu trong nốt nhạc nền
Cành lá chiếc lá nơi gió
Ngỡ khoảng im lìm có tiếng chim
( Nhạc rừng)
Hay:
Mưa xuân dịu dàng rơi
Đọng tròn trên mũ vải
Rừng vương vương làn khói
Xanh khoảng trời nơi xa
(Mùa xuân dọc đường)
Vậy là nơi chiến trường ác liệt, ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh nhất, chàng lính trẻ Nguyễn Đức Mậu với tâm hồn thi sĩ đã tinh tế lắng nghe những âm thanh kì diệu của núi rừng, những khoảng im lìm giữa hai trận đánh Để rồi người lính ấy vừa đối mặt với cái chết bỗng chốc trở thành một người nghệ sĩ say mê trước cảnh đất nước thương yêu Những vần thơ ghi lại những khoảng khắc ấy thật trong trẻo, tươi sáng biết nhường nào
Lá xanh khâu ngàn sợi mưa rơi
Rồi tụ lại từng giọt tròn trong suốt
Mưa khép miệng vũng bòm màu gỉ sắt
Bao hạt chồi từ đất chuyển thành cây
( Lời tâm tình)
Xuyên suốt các tập thơ của Nguyễn Đức Mậu, ngoài hình ảnh đất nước, dân tộc, ta còn bắt gặp những vần thơ khắc họa khá sinh động và chân thực hình ảnh con người trong chiến tranh, loạn lạc Họ là những người con ưu tú nhất của đất nước Hết lớp này đến lớp khác, hết thế hệ này tới thế hệ khác, khi Tổ quốc vẫn còn bóng
Trang 33giặc thù, khi những thôn làng vẫn còn tiếng bom rơi, những đứa trẻ vẫn còn phải xa vòng tay mẹ, những đòn thù tra tấn dã man của lũ giặc cướp nước đang ngày đêm gieo chết chóc xuống đồng bào ta thì những chàng trai, cô gái vẫn còn tiếp tục lên đường chiến đấu để bảo vệ quê hương, giành lại tự do, độc lập cho đất nước
2.1.2 Hình ảnh người lính
Cũng như nhiều nhà thơ mặc áo lính thời kì này, người lính trong thơ Nguyễn Đức Mậu là nhân vật trung tâm quy tụ mọi vẻ đẹp, người lính trong thơ ông mang một chiều sâu trong tâm tưởng Họ ý thức được sâu sắc sứ mệnh lịch sử thiêng liêng
mà mình đã lựa chọn, chiến đấu để bảo vệ độc lập của dân tộc,thống nhất đất nước Người lính khẳng định mình là một thành viên trong cuộc trường chinh giải phóng
Họ hiện diện với tư cách là người nhập cuộc, người tham gia lịch sử nên trong tâm hồn đầy những suy tư, trăn trở Người lính tự nguyện ra đi vì nghĩa lớn nhưng không còn cái thanh thản vô tư bề ngoài, mà có sự xáo động ít nhiều trong suy nghĩ
và tâm trạng với những suy tư sâu lắng về đất nước và con người:
Nói với người đi xin hãy yên lòng
Người ở lại sức nhân đôi đánh giặc
Đất năm tấn mở chiến hào trong gió bấc
Mùa đông lên đường trong sắc lá mùa xuân
(Mùa đông lên đường)
Để lại đằng sau luống cày đất đỏ, bỏ lại mẹ già vợ trẻ con thơ, rời xa lũy tre làng xanh ngắt nơi quê nhà yêu dấu, người lính lên đường với bao lưu luyến, nhớ thương Tâm thế vui tươi, hồ hởi của cả người đi và kẻ ở không còn Tất cả như lặn vào trong ánh mắt, trái tim, vào hành động cùng những nguyện thề của hai chiều thương nhớ
Vượt lên tất cả mọi hiểm nguy, người lính với trí thông minh, lòng dũng cảm, một nghị lực phi thường để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, không một thế lực nào ngăn cản nổi:
Trang 34Và bàn tay xém lửa xù xì
Thành bàn chân: như trẻ nhỏ
anh đi
Bám đất chiến hào nhích lên từng bước
Đầu gối sát dây thép gai lạnh buốt
Bàn tay anh biết đi
Lửa bộc phá lóe lên phá sập bốt đồn
(Bàn tay biết đi- Nguyễn Đức Mậu)
Hình ảnh người lính trong thơ Nguyễn Đức Mậu vẫn luôn mang một âm hưởng thân quen giản dị nhưng cũng rất phi thường Cố gắng cuối cùng của người lính là hoàn thành nhiệm vụ dù biết rằng cái chết đang kề cận ở bên Một niềm tin bất diệt, sức mạnh của lòng căm thù và tình yêu với quê hương khiến người lính không thể chùn bước trước bất cứ khó khăn gì Toàn thân người lính đã nhuốm máu, đôi chân không thể bước được nữa, đấy là lúc tưởng chừng vô vọng Nhưng với bản lĩnh, ý chí kiên cường, ý thức trách nhiệm, người lính đã dùng đôi bàn tay của mình để chiến đấu với kẻ thù Đôi bàn tay tưởng chừng như không còn vẹn nguyên trước bom đạn, những bước đi bé nhỏ, không chắc chắn như đứa trẻ nhỏ mới biết đi còn không vững Nhưng những bước đi ấy lại làm nên điều kì diệu, bởi một sức mạnh ghê gớm của con tim, khối óc, của người lính
Nơi chiến trường gian khổ mà người lính phải chống chọi với bao khó khăn
Họ đã phải đối mặt với bao khốc liệt của cuộc sống chiến đấu Lời của nhà thơ đồng thời là người trong cuộc kể về chính mình, đồng đội mình do đó những điều ông viết ra mang được niềm tin đến cho người đọc:
Đôi giày không khô, áo quần không khô
Chiếc mũ sắt thành gầu múc nước
Mưa trắng xóa bầu trời mặt đất
Lòng núi ầm ầm nước réo ở bên trong
( Tiểu đội bộ binh trên chốt mùa mưa)
Trang 35Những khó khăn, áo liệt gian khổ dường như đã trở thành hơi thở quen thuộc, nhịp điệu trong công việc hàng ngày của những người lính ngoài trận địa Bằng những quan sát tinh tế, liên tưởng thú vị, hình ảnh người lính trong thơ Nguyễn Đức Mậu cứ thế hiện lên trong câu chữ, nó được bật ra từ cảm xúc chân thành của tác giả.Tất cả đều tự nhiên như chính cuộc đời, như những xúc cảm được chắt lọc từ sâu thẳm tâm hồn nhà thơ
Những người lính gối võng đầu võng bạt
Nhớ quê hương gặp trăng sáng lưng trời
Đường biên giới quanh co cây khuất lá
Một tấm lòng thương nhớ chẳng hề nguôi
( Trường ca sư đoàn)
Phản ánh cuộc sống của người lính trong những năm tháng chiến tranh, nhà thơ đã
có những quan sát khá chân thực và cụ thể Không chỉ nhắc tới những điều lớn lao chung chung mà hình ảnh người lính hiện lên trong thơ ông được khắc họa với sự đa diện của cuộc sống Sự nhạy cảm của người trong cuộc đã khiến cho Nguyễn Đức Mậu nhìn chiến tranh không hề đơn giản, một chiều Trong thơ ông, hình ảnh người lính hiện lên thật sâu sắc, đầy đặn Đó là những con người kiên trung, tinh thần quả cảm, ý chí, nghị lực và nhận thức sâu sắc tính mục đích hành động
Nhiều vô tư gian khổ đi qua
Có lúc nhìn nhau thấy lạ cho mình
Những thiếu thốn tưởng chừng nhỏ nhặt nhất cũng được nhắc tới trong thơ ca Khi chiến tranh ác liệt xảy ra, người ta thường miêu tả những gì lớn lao, kì vĩ mà quên đi những thứ bình dị của cuộc sống Nhưng với Nguyễn Đức Mậu lại khác, chính những điều bình dị ấy lại làm nên một diện mạo, một chân dung đầy đủ nhất
về hình ảnh người lính chống Mỹ cứu nước:
Họ ngồi bên chiếc bi đông thủng đạn
Mắt nhìn trời mong gặp cơn mưa
Họ ngồi bên đám lửa bập bùng
Mảnh băng quấn trên đầu trắng xóa
Vết thương đòi uống nước, máu rưng rưng
(Cơn khát ở chốt)
Trang 36Đặc điểm nổi bật trong tâm hồn người lính ngoài sự kiên trì chịu đựng gian khổ, nhẫn nại, hi sinh là tinh thần lạc quan yêu đời Và khi ranh giới của sự sống và cái chết cận kề, họ vẫn tưởng tượng ra một cuộc sống thật thanh bình:
" Quán trọ giữa rừng là trạm giao liên
Bệnh viện văn công ở trong hang đá
Bộ đội gọi nơi đây thành phố
Dù không có một ngôi nhà
( Thành phố trong rừng)
Tinh thần lạc quan được biểu hiện muôn vàn sắc thái khác nhau trong thơ Nguyễn Đức Mậu Đôi khi là nét hồn nhiên, vô tư, nghịch ngợm trong giấc ngủ người chiến sĩ " hồn nhiên giấc ngủ nói cười trong mơ" Lúc thì là nụ cười hóm hỉnh khi nhìn thấy những người lính nằm chồng chất trong căn hầm chật hẹp Hoàn cảnh khắc nghiệt nơi chiến trường khiến giấc ngủ của các anh không tròn Nhưng những người lính không coi đó là khó khăn cản bước mà họ vẫn vô tư, khắc phục cam go, cực khổ để hướng về " ngày mai", hướng về phía trước:
" Chữ I nằm thẳng đã quen
Đông người hầm chật nằm nghiêng đã đành
Một người thao thức năm canh
Nằm eo chữ Z là mình nhớ ta
( Nằm hầm)
Phải là con người từng trải, từng thấy, hiểu tâm lý người lính thì Nguyễn Đức Mậu mới cảm nhận và phản ánh chân thực đến thế Trong thơ ông, tinh thần lạc quan thể hiện thật đáng yêu Những người lính tuổi đời còn trẻ, chỉ mười tám, hai mươi đã làm nên biết bao kì tích anh hùng nhưng họ không kể về những chiến công của mình mà họ chỉ say sưa kể về cây phong lan giữa rừng bom đạn
" Sau trận đánh chúng tôi ngồi trên mâm pháo ngắm hoa
Rừng im lá nghe véo von sáo trúc
Anh nhạc sĩ đến đây ví hoa Phong lan là nốt nhạc
Gõ lên trời cao, trời mở cung đàn
Chúng tôi bảo nhau khi đạn pháo quây tròn
Khói cũng trắng như chùm phong lan ấy
( Hoa phong lan trên trận địa pháo)
Trang 37" Điều gì đã làm nên chất phi thường trong những con người bình thường ấy?" Họ vốn chỉ là những con người bình dị, ra đi từ những miền quê nghèo khó khác nhau nhưng lại mang trong minh khí thế ngạo nghễ Phải chăng chính niềm tin yêu cuộc sống, lạc quan chiến đấu có được là từ niềm tin vào chính mình, tin vào con đường lớn mà cuộc cách mạng dân tộc đã rộng mở Chính niềm tin của người làm chủ vận mệnh đất nước, sự lạc quan yêu đời, tiếng cười ngạo nghễ lấn át tiếng bom thù đã tạo nên những chiến công ấy
Ngoài tinh thần lạc quan, niềm tin vào ngày mai độc lập thì tình đồng chí, đồng đội trở thành hai tiếng thiêng liêng, là điểm tựa, là sức mạnh giúp các chiến sỹ vượt qua những tháng năm nhiều gian khó:
Súng chào nhau trên khắp lối mòn
Trạm giao liên mái nứa mốc mưa rừng
Đường dựng đứng, rêu xanh sườn núi
Đêm dừng chân hai đứa một chăn
Nằm trên nước lũ cùng mưa xối
Áo giặt ba ngày vẫn ướt đầm
Cơm nắm, nước mưa hòa với muối
(Mưa Trường Sơn)
Ra đi vì nghĩa lớn của dân tộc, người lính sống vì quê hương, đất nước và Tổ quốc thiêng liêng Những năm tháng đằng đẵng xa vợ con, gia đình, tình cảm ấm áp của những người chiến sĩ dành cho nhau là động lực, xoa dịu nỗi cô đơn trong bom đạn ác liệt của chiến tranh Người lính trong chiến tranh dường như quên đi cái Tôi nhỏ bé của mình, họ sống bởi lý tưởng và mục đích chung, vì thắng lợi cuối cùng của dân tộc, tất cả tạo nên bản hợp xướng tình yêu, của sự chở che, làm nên sức mạnh diệu kỳ cho con người vượt qua mọi khó khăn thử thách Tình đồng chí, đồng đội trong cuộc kháng chiến chống Pháp vẫn tiếp nối ngọn nguồn mọi xúc cảm cho cuộc kháng chiến chống Mỹ Thời gian và những nhọc nhằn của cuộc sống là thứ thuốc thử thách tình cảm của con người Sau những phút giây chiến đấu, đối mặt giữa cái sống và cái chết, người lính còn phải chịu đựng bao thiếu thốn,vất vả của
Trang 38cuộc sống hàng ngày Sự đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi trong năm tháng chiến tranh sẽ sống mãi trong trái tim người lính và với con người thuộc thế hệ mai sau Với Nguyễn Đức Mậu, sự nhạy cảm của trái tim cùng năm tháng nếm mật nằm gai nơi đạn bom máu lửa, tình cảm người lính trong ông là những gì giản dị nhất, trung thực nhất và cũng con người nhất Trong không gian lạnh lẽo của núi rừng, những cơn mưa xối xả đổ xuống từ lưng trời, đấy là lúc con người cảm thấy cô đơn,
lẻ loi Cái lạnh không chỉ cảm nhận từ cơ thể mà còn buốt giá từ con tim Đấy là lúc người chiến sĩ sưởi ấm cho nhau, chiếc chăn mỏng manh đắp chung nhau để thấy mình không cô đơn, lạnh lẽo giữa nơi hoang vu sương gió:
Tay quờ hơi ấm cho nhau
Là chăn của bạn đắp đầu hở đuôi
(Nằm hầm)
Chiếc chăn không đủ che ấm cho hai người nhưng sự chia sẻ, san sẻ cho nhau
đã làm nên sự ấm áp diệu kì xoa dịu cái rét buốt của con người nơi rừng hoang sương muối Những quân trang thiếu thốn trong mùa mưa, quần áo không khô, đôi giày còn ướt, thân thể tái tê trong giá lạnh… tất cả ngập tràn trong thác lũ, trong cơn rét run người Đấy là lúc người lính trao cho nhau những tình cảm chân thành, nâng
đỡ nhau trong lúc khó khăn khốn khó của cuộc đời:
Miếng lương khô, củ sắn bẻ làm đôi
(Tiểu đội bộ binh trên chốt mùa mưa)
Tình cảm người lính không chỉ được tập trung khai thác ở hiện tại mà còn là mạch nguồn cảm xúc từ quá khứ hướng đến tương lai Những lời thơ chân thành, giản dị nhưng thấm đẫm những xúc cảm thiêng liêng, những cảm nhận chân thực nhất của người trong cuộc:
Rau trinh sát ăn rồi nhớ lâu
Thêm hiểu tình rừng hai lần kháng chiến
Thêm hiểu những người áo xanh cầm súng
Dấu chân in khắp nẻo rừng già
(Câu chuyện về cây rau trinh sát)
Trang 39Khai thác những chi tiết bình thường, sử dụng ngôn ngữ trong sáng, gần gũi, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã khiến cho người đọc có thể cảm nhận được sâu sắc tình cảm đồng chí, đồng đội Một thứ tình cảm thiêng liêng, sâu lắng nhưng không
hề xa lạ, nó là những hình ảnh vô cùng thân quen trong cuộc sống, tất cả trở nên thật hơn, mộc hơn bởi ông luôn bám sát cuộc sống trong cái đa dạng, phong phú và
cụ thể
Tình cảm của những người lính trở thành tiếng nói chung cho tình đoàn kết, yêu thương, đùm bọc chở che nhau trong những năm tháng chiến tranh Khi chiến đấu hay trong đời sống hàng ngày, tình cảm người lính trở thành những bức tranh đẹp về tình người, về lẽ sống qua bao nhiêu mất mát hi sinh:
Trong chiến đấu một điều đơn giản nhất
Mỗi con người đều biết sống thương nhau
Đều muốn thành công sự chở che nhau
(Công sự trên điểm cao )
Cái điều đơn giản ấy trở thành điểm tựa lớn lao, là điểm sáng lung linh ấm áp,
là động lực nâng đỡ con người trong chiến tranh khắc nghiệt Chiến tranh như một cơn bão dữ quật lên cuộc đời, số phận, ở đó sự sống và cái chết chỉ cách nhau một đốt ngón tay Đứng trước sự lựa chọn ấy khó khăn và nghiệt ngã ấy, bản chất người lính hiện lên như một ngôi sao sáng lung linh về tình yêu đồng loại, về một nhân cách sống cao đẹp trong cuộc đời mỗi con người mà chúng ta cần hướng tới Cảm nhận nét đẹp trong chiến tranh, những vần thơ không chỉ ca ngợi phẩm chất anh hùng, tình đồng chí đồng đội của người lính mà còn khái quát chúng trở thành chân
lý bất hủ về cách sống của con người trong cuộc đời
2.1.2 Hình ảnh nhân dân
Còn gì tình nghĩa hơn, quý giá hơn khi những người bộ đội của chúng ta- những con người kiên cường, gan dạ, lạc quan và rất đỗi yêu đời- đi đâu cũng được dân quý, dân yêu, được dân đùm bọc như con cái trong nhà ở đâu bộ đội cũng gặp
mẹ, gặp chị, gặp em và sống chan hòa trong tình cảm gia đình đầm ấm yêu thương
ấy Không phải là trường hợp cá biệt, Nguyễn Đức Mậu đã chớp lấy tình cảm đẹp
Trang 40đẽ ấy Ông giành trọn những trang thơ đẹp nhất để khắc họa " những tượng đài nhân dân" trong sáng, hồn hậu, thủy chung và thắm đượm tình nghĩa
" Nghìn năm mong được cấy trồng
Nhân dân xuống biển lên rừng chia xa
Bao đời gieo hạt dựng nhà
Bàn tay lam lũ mở ra núi đồi"
( Khúc hát cội nguồn)
Viết về nhân dân, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đều tập trung vào hình tượng người mẹ với tình cảm trân trọng nhất Bởi người mẹ là nơi quy tụ những phẩm chất tốt đẹp từ trong truyền thống của dân tộc Và thơ Nguyễn Đức Mậu cũng không nằm ngoài quy luật tình cảm ấy
Một sớm tôi qua sông rộng
Bà mẹ chở tôi sang, không lấy tiền đò
Mẹ gọi tôi là con, tôi chào mẹ
Tôi có tình thương của mẹ, của em
Dù chưa quen, chưa một lần gặp gỡ
Tôi có ngôi nhà đón tôi vào ở
Cả những miền tôi chưa đến chưa qua
(ý nghĩ một chiến sĩ)
Từ những người mẹ tiễn con ra trận, đến những người mẹ trực tiếp tham gia cách mạng, tham gia đội du kích, những người mẹ ở hậu phương mòn mỏi mong tin con, những người mẹ cô đơn đã tiễn bao đứa con lên đường ra trận rồi chẳng trở về Hình ảnh những người mẹ được xây dựng và chiếu sáng ở những khía cạnh khác nhau nhưng họ cùng chung ở một phẩm chất Đó là sự lo toan, sức chịu đựng gian khó và hi sinh cao cả:
Mẹ thương chúng con mặc áo lính bạc màu
Chúng con thương mẹ bạc màu áo vá
Mẹ thương chúng con nhạt muối sốt rừng
Chúng con thương dáng lưng còng vất vả