ở hướng nghiên cứu này, thường là các bài phê bình, cảm nhận về một truyện nào đó được giải hoặc có sự độc đáo, thú vị, cũng có thể nhân một tuyển tập truyện ngắn của tác giả ra mắt bạn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HỎA DIỆU THÚY
Hà Nội - 2010
Trang 2MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
PHẦNMỞĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài: 6
2 Lịch sử vấn đề: 6
3 Mục tiêu nghiên cứu: 9
4 Đối tượng và phạm vinghiên cứu: 10
5 Phương phánghiên cứu: 10
6 Cấu trúc của luận văn: 11
PHẦN NỘI DUNGChương một: Truyện ngắn từ nguyên tĩnh - Một không gian xứ Thanh đậm nét……….12
1.1 Nông thôn Xứ Thanh qua hình ảnh “làng tôi” của tác giả 12
1.1.1 “Làng tôi” với những hiện thực bi hài trong quá khứ 12
1.1.2 “Làng tôi” trong thời mở cửa 18
1.2 Một Xứ Thanh kiên cường bất khuất qua hình ảnhHàm Rồng 25
1.2.1 Hình ảnh Hàm Rồng, trọng điểm hủy diệt của Đế quốc Mỹ 25
1.2.2 Hình ảnh Hàm Rồng hiên ngang,bất khuất 27
Chương hai: Thế giới nhân vật đa dạng, phong phú 34
2.1 Nhân vật tư tưởng 34
2.2 Nhân vật số phận 41
2.3 Nhân vật loại hình 45
2.3.1 Nhân vật người tốt 45
2.3.2 Nhân vậtngười xấu 52
2.4 Nhân vật tính cách 57
2.4.1 Kiểu tính cách “lưỡng hóa” 58
2.4.2 Kiểu tính cách “tự nhiên bản thể” 60
Chương ba: Một số đặc điểm ở phương diện trần thuật .64
3.1 Điểm nhìn trần thuật linh hoạt 64
Trang 33.1.1 Điểm nhìn gián tiếp 64
3.1.2 Điểm nhìn trực tiếp 66
3.1.3 Điểm nhìn nửa trực tiếp, nửagián tiếp 68
3.2 Sử dụng yếu tố huyền ảo để dẫn dắt và kết nối mạch truyện 71
3.2.1 Khai thác đề tài dân gian để tạo dựng cốt truyện kỳ ảo 71
3.2.2 Sử dụng tình tiế, chi tiết hoang đường, kì ảo làm hạt nhân của tứ truyện 72
3.3 Giọng điệu trần thuật đa giọng 74
3.3.1 Giọng nghiêm cẩn, cung kính 74
3.3.2 Giọng ngợi ca 75
3.3.3 Giọng khách quan, lạnh lùng 76
3.3.4 Giọng cảm thông, chia sẻ 78
3.3.5 Giọng hài hước, châm biếm 78
3.3.6 Giọng giễu nhại 79
PHẦN KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Luận văn được hình thành từ những lý do sau:
Từ Nguyên Tĩnh là nhà văn xứ Thanh với đúng nghĩa của cách gọi ấy: ông sinh
ra và lớn lên ở xứ Thanh, vào bộ đội thì trở thành anh lính Hàm Rồng Trừ mấy năm được “mài đũng quần” trên ghế của giảng đường khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp rồi lại trở về với mảnh đất đã sinh thành và chắp cánh cho ông trở thành nhà văn như bây giờ Đó là lí do khiến phần lớn sáng tác của Từ Nguyên Tĩnh đều lấy cảm hứng từ xứ Thanh, đậm đặc không gian xứ Thanh, thấm đẫm tâm hồn tính cách xứ Thanh Ở một mức độ nào đó muốn tìm hiểu về con người và mảnh đất Thanh Hóa giai đọan hiện đại có thể tìm đến sáng tác của Từ Nguyên Tĩnh như một địa chỉ đáng tin cậy
Từ Nguyên Tĩnh vẫn luôn nhận mình là nhà văn tỉnh lẻ, nhưng “nhà văn tỉnh lẻ” này trong ngót ba mươi năm cầm bút đã cho ra mắt 6 tập truyện ngắn, 4 tiểu thuyết, 2 tập thơ và một trường ca Tuy nhiên, nghệ thuật không quen đo đếm ở số lượng, tác phẩm của Từ Nguyên Tĩnh cũng đã được nhận nhiều giải thưởng văn chương
Truyện ngắn dường như là thể loại gắn bó suốt đời của cây bút này: sáng tác đầu tay là truyện ngắn, đỉnh cao thành công của sự nghiệp sáng tác là truyện ngắn và
hình như cứ vài năm lại đều đặn cho ra đời một tuyển tập truyện ngắn Tập Truyện
ngắn Từ Nguyên Tĩnh – NXB Công an nhân dân, 2006 cho thấy truyện ngắn là nơi
tập trung “cái hồn, cái tạng của nhà văn”
Tìm hiểu thế giới nghệ thuật của truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh, luận văn nhằm hướng tới tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của một tác giả tiêu biểu, có đóng góp cho sự phát triển của một vùng văn học nói riêng, nền văn học Việt Nam nói chung
Hiện nay trong chương trình ở các cấp phổ thông và đại học đã đưa nội dung giới thiệu tác giả và tác phẩm văn học địa phương vào giảng dạy Luận văn nghiên cứu
Trang 5một tác giả địa phương nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu, học tập và góp phần xây dựng chương trình này
2 Lịch sử vấn đề:
Từ Nguyên Tĩnh từng đoạt nhiều giải thưởng văn chương, vì vậy, tác phẩm của ông đã thu hút được sự quan tâm độc giả trong đó có giới phê bình, nghiên cứu Là cây bút xông xáo trên nhiều thể loại nên số lượng bài viết về tác phẩm ông cũng không
ít Theo thống kê của chúng tôi, những bài viết phần lớn tập trung cho mảng truyện ngắn, với hai hướng nghiên cứu sau:
Hướng nghiên cứu thứ nhất, tập trung vào một truyện hoặc một tập truyện cụ thể ở hướng nghiên cứu này, thường là các bài phê bình, cảm nhận về một truyện nào
đó được giải hoặc có sự độc đáo, thú vị, cũng có thể nhân một tuyển tập truyện ngắn của tác giả ra mắt bạn đọc Chẳng hạn, bài viết “Từ Nguyên Tĩnh qua truyện ngắn
Người tình của cha” của Nguyễn Minh Khiêm - Báo Văn hóa Thông tin số
31-32(918-919) ngày21/6/2007 Theo Nguyễn Minh Khiêm, truyện ngắn Người tình của cha: “là
một tác phẩm có sức lôi cuốn và ám ảnh ( ) Cái tầm văn hóa dân tộc, cái đặc trưng
nhất của người Việt được thẩm thấu trọn vẹn qua Người tình của cha ” Khi tập
truyện ngắn “Mối tình chàng Lung mù” ra mắt đã nhận được sự hưởng ứng của độc giả
Đáng chú ý hơn cả là ba bài viết của các tác giả: Bùi Việt Thắng, Văn Đắc và Nguyễn Văn Lưu Bùi Việt Thắng trong “Mối tình chàng Lung mù- tập truyện ngắn
Từ Nguyên Tĩnh NXB HNV 1992” in trên báo Văn nghệ quân đội tháng 12/1993, cảm nhận rằng trong “Mối tình chàng Lung mù” Từ Nguyên Tĩnh đã “viết bằng cả tấm lòng, cả bầu tâm sự muốn dốc hết và chia sẻ với mọi người những suy ngẫm của mình trước con người( ) Truyện ngắn của Từ Nguyên Tĩnh cuốn hút người đọc nhờ lối kể chuyện nửa thực nửa hư, bàng bạc màu sắc huyền thoại cổ tích ” Văn Đắc trong
“Mối tình chàng Lung mù- tập truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh NXB HNV 1992” in trên báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam số 25(1745) thứ 7 ngày 19/6/1993 thì tâm đắc với cách kể chuyện “ngắn về lời mà thật dài về thân phận, kể, ngẫm mãi không dứt Truyện như thế là có dư vị” Nguyễn Văn Lưu trong “ Nhìn cuộc đời nhân ái - về tập truyện ngắn Mối tình chàng Lung mù” in trên báo Nhân Dân thứ 7, ngày 1/8/1993 thì
bị lôi cuốn bởi “cách viết trầm tĩnh và cái nhìn nhân ái về cuộc đời” của tập truyện
Trang 6Tuy nhiên, như đã nói, những bài viết trên đây mới là những ý kiến nhận xét bước đầu, những cảm nhận, đánh giá khái quát chứ chưa đi sâu khảo sát, nghiên cứu phân tích Song đó cũng là những ý kiến bổ ích cho đề tài của chúng tôi
Hướng nghiên cứu khái quát:
ở hướng nghiên cứu này có hai dạng: thứ nhất, nghiên cứu bao quát toàn bộ tác phẩm của tác giả, như bài viết: “Cây bút xứ Thanh” của tác giả Bùi Việt Thắng in trên báo Văn Hóa Thanh Hóa số 383, 7/1998 Trong khuôn khổ của một bài báo mà đưa ra
ý kiến về tất cả các thể loại thì chỉ có thể là những nhận xét bước đầu hoặc những cảm nhận khái quát, chẳng hạn “Từ Nguyên Tĩnh viết cả ký, tiểu thuyết và truyện ngắn, nhưng dĩ nhiên người đọc vẫn nhớ anh là một nhà văn viết truyện ngắn rất có duyên hiện nay góp phần làm khởi sắc thể loại “nhỏ” vốn có truyền thống và thành tựu trong nền văn học dân tộc, đặc biệt ở thế kỉ XX”
Tác giả Đỗ Văn Phác trong bài viết “Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Từ
Nguyên Tĩnh (Nhân đọc Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh– NXB Công an nhân dân, năm
2006)” in trên tạp chí Xứ Thanh tháng 8/2007 thì cảm nhận được nội dung cụ thể của một số truyện ngắn tiêu biểu và phần nào phát hiện ra bút pháp nghệ thuật của nhà văn
Đáng kể hơn cả là một số bài viết đã đi sâu nghiên cứu về một phương diện nào đó của truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh, như : “Thế giới nhân vật trong truyện ngắn
Từ Nguyên Tĩnh” in trên tạp chí Xứ Thanh số 323, 5/2008; “Về yếu tố huyền thoại kì
ảo trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh” ” in trên tạp chí Xứ Thanh 8/2008, và “Truyện
ngắn Từ Nguyên Tĩnh- món nợ làng quê” (Đọc Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh, NXB
Công an ND, 2006 ) in trên tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số 148, 5/2007 của
TS Hỏa Diệu Thúy Theo TS Hỏa Diệu Thúy, thế giới nhân vật trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh “đa dạng về tính cách, phức tạp trong tâm hồn”; ấn tượng nhất trong nghệ thuật truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh là yếu tố “huyền thoại kì ảo”; cũng theo TS Hỏa Diệu Thúy, quê hương là nỗi ám ảnh lớn nhất của Từ Nguyên Tĩnh, nỗi ám ảnh
ấy như trở thành “món nợ” trong xúc cảm nghệ thuật của ông
Tác giả Mạnh Lê trong bài viết “Mấy đặc sắc truyện ngắn Từ NguyênTĩnh” trên tạp chí Xứ Thanh số 45 cũng đã cảm nhận về truyện ngắn của ông: “ quả là văn anh có nguồn mạch Cái mạch nguồn dễ nhận ra trước mắt là sắc thái một vùng quê”
Trang 7Tác giả cũng nhấn mạnh nét đặc sắc truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh là truyện đậm chất triết lí và “yếu tố huyền ảo”
Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh cũng đã thu hút được sự chú ý của sinh viên đại học Chẳng hạn, sinh viên Hứa Linh Phương K44 Báo Chí- Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội có bài viết “Những câu chuyện Hàm Rồng và cái nhìn nhân ái”
(Về tập truyện ngắn Mối tình chàng Lung mù – Từ Nguyên Tĩnh NXB HNV 1992)
Một công trình dài hơi hơn là khóa luận tốt nghiệp của Huỳnh Sơn- sinh viên Đại học Huế với tên gọi “Bản sắc nghệ thuật Từ Nguyên Tĩnh” Khóa luận có 3 chương: Chương một: “Từ Nguyên Tĩnh và truyện ngắn”, ở chương này tác giả lí luận chung về truyện ngắn và giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm; Chương hai “Nội dung truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh” Như tên chương đã gợi ra, tác giả tìm hiểu nội dung truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh ở các nội dung cụ thể sau: “Mỗi truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh là một tấm lòng, một nỗi niềm tâm sự, một ước vọng và khát khao riêng”, đó là
“sự chiêm nghiệm về số phận của con người” ;và Chương ba “Nghệ thuật truyện ngắn
Từ Nguyên Tĩnh” Về nghệ thuật của truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh, khóa luận đưa ra nhận xét như sau: Mỗi câu chuyện của truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh là một sự chiêm nghiệm về số phận của con người, là sự “liên tưởng, hồi tưởng đan xen qúa khứ, hiện tại, tương lai”
Tuy nhiên trong khoá luận, Huỳnh Sơn chủ yếu đi vào lí thuyết chung về thể loại truyện ngắn và phân tích nội dung một số truyện ngắn của Từ Nguyên Tĩnh Các ý triển khai có sự lặp lại ở các chương chứ chưa phát hiện ra những ý mới Nhìn chung, trong phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp, Huỳnh Sơn chưa đưa ra được những ý kiến có chiều sâu bàn bạc, nghiên cứu
Như vậy, nhìn chung, các bài viết, kể cả khóa luận tốt nghiệp của Huỳnh Sơn cũng mới dừng ở “bước đầu tìm hiểu”, hoặc “nhân đọc” hoặc chỉ đi sâu vào một phương diện nào đó của tác phẩm chứ chưa nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện toàn bộ thế giới nghệ thuật truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh Các bài viết trên tuy đã cho chúng tôi những gợi ý quý báu song chúng tôi nhận thấy nguồn tư liệu đánh giá về truyện ngắn của ông là khá phong phú tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về thế giới nghệ thuật truyện ngắn
Từ Nguyên Tĩnh Chúng tôi coi đó là chỗ còn bỏ ngỏ để đặt vấn đề nghiên cứu
Trang 83 Mục tiêu nghiên cứu:
Luận văn hướng tới tìm hiểu, nhận diện thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn
Từ Nguyên Tĩnh, từ đó nhằm tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật của một nhà văn đồng thời chỉ ra nét đặc trưng riêng của một nhà văn gắn bó với địa phương, vì vậy tác phẩm mang sắc thái địa phương rõ nét
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Quan niệm về đề tài: Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi chủ biên- NXB Giáo dục, năm 2000, “Thế giới nghệ thuật” là “một thế giới riêng được sáng tạo theo các nguyên tắc tư tưởng”; Thế giới nghệ thuật có “không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ
xã hội riêng, quan niệm đạo đức thang bậc giá trị riêng”; Mỗi thế giới nghệ thuật “ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới” Thế giới nghệ thuật giúp ta “hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan, văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ”
Xét theo quan niệm trên, Từ Nguyên Tĩnh quả đã tạo ra được một thế giới nghệ thuật riêng trong các sáng truyện ngắn của mình Thế giới nghệ thuật ấy gắn liền với mảnh đất và con người xứ Thanh được lọc qua lăng kính của một người con xứ Thanh
- Phạm vi và cũng là đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Thế giới nghệ thuật” trong các sáng tác truyện ngắn của Từ Nguyên Tĩnh
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi vận dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống Nghiên cứu toàn bộ toàn bộ sáng tác truyện ngắn của một nhà văn rất cần tới những thống kê, phân loại Phương pháp hệ thống giỳp cho việc phỏt hiện ra hạt nhõn lụ gớc tạo nờn tớnh khu biệt của loại hỡnh thể loại, từ đó xác định
rõ đối tượng nghiên cứu, khảo sát
- Phương pháp loại hình Đề tài tập trung khảo sát nghiên cứu một thể loại là truyện ngắn vì vậy cần tới những thao tác của phương pháp loại hình
- Luận văn cũng sẽ sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích văn học, phương pháp so sánh văn học hoặc phối hợp một số phương pháp nghiên
cứu liên ngành
Trang 9- Từ Nguyên Tĩnh là nhà văn đương đại, cho nên trong khi giải quyết đề tài, chúng tôi có thể sử dụng phương pháp phỏng vấn để làm sáng rõ đề tài
6 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của luận văn sẽ được kết cấu thành
ba chương:
Chương một: Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh, một không gian Xứ Thanh đậm nét
Chương hai: Thế giới nhân vật đa dạng, phong phú
Chương ba: Một số đặc điểm ở phương diện trần thuật
Trang 10NỘI DUNG Chương một
TRUYỆN NGẮN TỪ NGUYÊN TĨNH, MỘT KHÔNG GIAN
XỨ THANH ĐẬM NÉT
Là một trong những cây bút khi đã thành danh rồi vẫn bám trụ tại mảnh đất quê
nhà, phải chăng đó chính là lí do khiến không gian nghệ thuật chính trong truyện ngắn
Từ Nguyên Tĩnh là không gian xứ Thanh, là con người và cuộc sống của mảnh đất
miền trung nắng gió mặn mòi
1.1 Nông thôn Xứ Thanh qua hình ảnh “làng tôi” của tác giả
Từ Nguyên Tĩnh sinh ra ở làng Bàn Thạch, xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân,
Thanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá 36 km về phía tây tính theo đường chim bay
Đó là một làng thuần nông “ít học, chỉ thích cày ruộng, quanh quẩn với vài sào ruộng
hoặc cày thuê cuốc mướn.” Một vùng đất bán sơn địa, song có lẽ là mạch đất hưng
vượng nên “sinh ra cả anh hùng và thi sĩ” Đây là quê hương của hai bậc anh hùng hào
kiệt có công sáng lập nên hai triều đại lớn trong lịch sử dân tộc: Lê Hoàn và Lê Lợi;
cũng là nơi phát tích nghề ca công Mảnh đất giàu trầm tích văn hoá này trở thành
nguồn cảm hứng dồi dào cho các sáng tác của Từ Nguyên Tĩnh
1.1.1 “Làng tôi” với những hiện thực bi hài trong quá khứ
Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh có một mảng lớn về hiện thực nông thôn và nông
thôn ấy chủ yếu là sự việc và con người của quê hương tác giả Có nhà nghiên cứu đã
nhận xét rằng Từ Nguyên Tĩnh đã “mượn ô cửa làng mình để nhìn ra thế giới” Từ
làng Bàn Thạch trong thực tế, vào đến tác phẩm lúc thì vẫn là làng Bàn Thạch, lúc lại
trở thành làng La Đá Hạ Với không gian làng mình, Từ Nguyên Tĩnh đã tái hiện bức
tranh nông thôn xứ Thanh sống động đủ những cung bậc bi hài
Hãy bắt đầu bằng truyện ngắn “Kiếp người” “Kiếp người” lấy cảm hứng từ
hiện thực sau Cách mạng tháng Tám 1945, tiếp đến là cuộc cải cách ruộng đất vào
những năm 50, 60 của thế kỉ trước ngay ở chính làng quê của tác giả, “làng tôi”, thậm
chí là câu chuyện của chính gia đình “tôi” – tác giả Những vui buồn của những năm
tháng ấy dường như không thể nguôi ngoai trong cảm xúc của những người trong
cuộc Qua câu chuyện của chị Kén- nhân vật trong truyện cũng là “chị ruột” của nhân
vật người kể chuyện, hiện lên cuộc sống và không khí nông thôn xứ Thanh một thời
Trang 11“Năm 1945 chị Kén tôi mười sáu Cùng lũ gái làng ra đình Bàn Thạch xem nghĩa quân cách mạng về cướp chính quyền Nam Triều” Sau đó là những ngày tháng sôi nổi của một nông thôn hừng hực khí thế cách mạng “Chị tôi vào thanh niên cứu quốc, đi “một hai” tập võ bị Cha mẹ tôi vui lắm Chị Kén đã thành cách mạng rồi.” [33; 135]
“Chị Kén tôi” đẹp nức tiếng trong vùng, “mặt tròn như vành trăng, da trắng, tóc dài Trời sao lại cho nhà tôi Bây giờ những người còn sống cùng tuổi chị vẫn kể lại Trầm trồ khen chị đẹp.” Chị đã lọt mắt xanh người cưỡi bạch mã về làng tước ấn tín của bọn cường hào địa chủ - anh Lượng “Nhà tôi vinh dự có con rể làm lãnh đạo cách mạng Đám cưới của chị Kén và anh câu Lượng nổi tiếng cả một vùng”
Cải cách đến, bỗng dưng anh câu Lượng bị bắt, bị qui là phản động: “làm người cách mạng nằm bờ nằm bụi mà dám lấy con nhà bóc lột làng Bàn Thạch, mà tổng Cương Thạch này ai lạ gì con cháu cố Cửu Ruộng đất của ông ta bằng cả hồ làng Bàn Thạch” Chả là, “ông bà tôi vốn giàu có, cũng từ chuyện chân lấm tay bùn” mà nức tiếng tốt bụng của làng Bàn Thạch “Có năm làng mất mùa, đã lấy lúa của nhà giúp làng nộp thuế” Song, giàu khi ấy là một “tội”, trở thành mầm họa Máy bay Đa-cô-ta của Pháp oanh tạc chợ Rạng, cầu Quần Kênh được nghi là có “chỉ điểm” Anh Câu Lượng “bị li khai khỏi tổ chức”, “không hiểu có bị tra tấn không nhưng người anh còm rom và mắc bệnh ho lao” “Xưa làng xã tung hô anh bao nhiêu thì thì bây giờ tẩy chay phỉ nhổ: “Cái quân phản động ấy dây vào làm gì chắc là bị tra tấn trong tù không chịu nổi khai ra Mà phải lắm đấy Nó lại lấy con cái nhà giàu ” “Người ta quên đi công lao thầy mẹ tôi, chị Kén mua vàng , hiến của cho cách mạng Họ cũng chẳng cần biết bom đạn và tai biến nhắm vào gia đình tàn tạ ” [33, 139]
Đó là không khí của những năm cải cách ruộng đất với những chính sách bắt nguồn từ tư duy ấu trĩ, cực đoan mà ngay sau đó Đảng ta đã nhận ra sai lầm Cái ấu trĩ, thiển cận của một thời khiến con người ta không quan tâm đến ngọn nguồn của sự việc
để xem xét đánh giá, yêu và ghét một cách hồn nhiên theo cảm tính dẫn đến những oan sai cho bao số phận Chị Kén “tôi” từ ngày ấy chìm nổi, ngụp lặn trong cuộc sống
bi đát nhất, bị hạ nhục, bị dày vò, chị trở thành nạn nhân của sự sai lầm trong tư duy
ấu trĩ Tác giả không giấu nổi sự xót xa cho thân phận người chị khốn khổ chân yếu tay mềm bị vùi dập tức tưởi: “…bó chị vào manh chiếu rách nát, khênh chị ra Mã
Trang 12Tiền Chị không tưởng tượng nổi được mình ra đi lại khốn khổ như thế này Chị từng đẹp một thời Ai nhìn đến chị thảy đều giật mình, cùng một kiếp người…Chị ra Mã Tiền không kèn trống, áo quan Con Tấn khóc như xé vải: Mẹ ơi! Mẹ ơi”[33, 150] Qua câu chuyện về người chị gái, câu chuyện về làng Bàn Thạch, Từ Nguyên Tĩnh đã dựng lại không khí của những năm tháng ấy trên mảnh đất xứ Thanh Nỗi đau không
hề nhỏ, những mất mát xuất phát từ những sai lầm, song dẫu sao, khí thế cách mạng đang hừng hực khi đó đã cuốn đi tất cả
Truyện Gã nhà quê lại là câu chuyện về một kiếp người khác, kiếp của lão Cao,
lão già cô độc chột một mắt để lại cho tác giả nhiều ấn tượng nhất mỗi khi nhớ về làng mình hay nếu có ai nhắc đến hai chữ “nhà quê” Chuyện về cuộc đời lão Cao làm nghề chăn vịt, biết đủ thứ chuyện trên đời Cuộc đời lão như một pho sử của làng Câu chuyện về cuộc đời lão cho ta hình dung về một nông thôn xứ Thanh ở một giai đoạn lịch sử một đi không trở lại “Thời ấy dân mình ngu hơn bây giờ Chỉ biết nai lưng ra làm cho bọn chánh, lý hào mục hưởng” Câu chuyện của lão Cao với lũ trẻ đưa người đọc trở về cái “thời ấy”, cái thời nô lệ Lão Cao tứ cố vô thân không tấc đất cắm dùi, đổi lại Cao khoẻ mạnh và khá lanh lợi (bằng chứng là anh ta xúi cho cường hào địa chủ đào ao thả cá và người làng Bàn Thạch đã có một dãy ao tới vài chục mẫu) Cao phải đi làm thuê cho địa chủ, anh chàng nghèo hèn nhưng khoẻ mạnh đã đem lòng yêu con gái địa chủ và cũng được yêu lại Sự việc bị phát giác, Cao bị nhà địa chủ đánh cho gục đổ như cây chuối, lại bị làm nhục trước mặt người yêu May nhờ có người đàn
bà tàn tật dìu về thuốc thang mới thoát chết Nhưng tình yêu của thời trai trẻ còn mạnh hơn cái chết Cao rình gặp Liên và lần liều mạng này Cao phải trả giá bằng một con mắt Cao bị đuổi ra đám cồn hoang cắm lều chăn vịt
Rồi những năm cải cách, những người nghèo khổ như lão Cao trở thành “yếu nhân” trong làng Lão Cao đã lọt vào tầm ngắm có thể làm chủ tịch xã bởi “cải cách người ta tìm người khổ nhất làng để làm chủ tịch xã Trong làng, lão là người “bị ăn đòn roi của địa chủ nhiều nhất” [33; 27] Nhưng cuối cùng lão Cao đã không được làm chủ tịch bởi lão gây ra chuyện động trời là tiếp tế trứng vịt cho địa chủ phản động
Câu chuyện về cuộc đời lão Cao càng tô đậm thêm bức tranh ảm đạm của những thân phận tối tăm, bé mọn chịu nhiều áp bức đè nén trong những năm trước cách mạng Tháng Tám Đặc biệt, tác giả trở về với việc phản ánh những sai lầm, ấu trĩ
Trang 13của một số chủ trương trong công cuộc cải cách ruộng đất, một hiện thực mà trước đây những cây bút thường né tránh Có thể coi đó là một thái độ dũng cảm Những câu chuyện của chị Kén, của lão Cao làm hiện lên bóng mây u ám của nông thôn xứ Thanh một thời
Truyện Họ hàng nông dân lại là một cách tiếp cận khác, tiếp cận từ cái nhìn bên
trong Họ Công “toàn nông dân Điều đó tỏ ra không có gì là thiệt thòi Bốn đời là nông dân Thậm chí cả chục đời là nông dân” “Điều đó đáng tự hào lắm” Họ ấy
“đông thật… mạnh thật” Ngày giỗ họ “các bậc bô lão ngồi ngắm con cháu ăn như dâu tằm ăn mà không dừng lại được, đưa tay lên vuốt chòm râu” Đã thế, dòng họ này còn
đã từng “thay nhau làm chánh, phó lý; hết cành trên lại xống cành dưới, hết cha đến con” Song, dòng họ này cũng có “khối chuyện buồn” và buồn nhất là “không đào đâu
ra người có chữ nghĩa” “Mạnh và đông nhưng có nỗi buồn về thất học” Nếu nói về đức tính thì ông tổ họ này nổi tiếng tằn tiện Thủa hàn vi “đi chợ tỉnh bán chanh không dám ăn quà, uống nước sợ tốn tiền Dọc đường đái cố nhịn bằng được về nhà mới tiểu kẻo mất của Còn ba cây số nhịn không nổi phải chọn một cục đất cay của người ta mà
tè, đem về”[1, 8] Có thể nói đây là chi tiết đắt giá về tính kiệm cần của người nông dân xứ Thanh Nó “ngang cơ” với chi tiết ăn “cá gỗ” của người nông dân xứ Nghệ Xứ Thanh vốn là mảnh đất thiên nhiên hà khắc, thiên tai địch họa luôn là nỗi lo sợ đối với người dân, vì vậy để sống được ở đây người dân phải hết sức tằn tiện và chịu khó Đời con, đời cháu hình như cũng kế thừa được “đức tính” ấy Ông Thầu “có tài tần tiện đến mức lạ lùng Lò vôi của xã giao cho thằng cháu họ mỗi lần đi qua ông xin một cục, một năm trời ông đã có hố vôi tôi làm được cái chuồng lợn Người ta nói, gạch làm bếp là do ông đi hót phân rơi ở đường nhặt về xây đủ đấy” Họ này giàu là nhờ tiết kiệm cùng với tính chịu thương chịu khó, thành có máu mặt ở làng Qua những chi tiết độc đáo trên ta thấy nó tiêu biểu cho tâm lý và cách sống tằn tiện chi li đến tội nghiệp của một bộ phận người nông dân Giàu do tiết kiệm, do chắt bóp Đó là cách vươn lên để tự khẳng định của người nông dân xứ Thanh
Dòng họ ấy không chỉ nổi tiếng về tính tằn tiện, tiết kiệm mà cũng nổi bật về tính háo danh Cả họ Công đều giàu nhưng hầu hết cả họ đều buồn một nỗi là trong họ không có ai làm quan to và con em “thiếu ăn học”, “Cái buồn làm nẫu ruột bọn choai choai, cái buồn làm khô héo người già cả” Con trai chú Thầu “nghe đâu đánh nhau rất
Trang 14máu me ở Hàm Rồng suýt được phong anh hùng” nhưng lại trật lất bởi cái tính huyếnh hoáng của chú Thầu Chưa được đưa tin lên đài báo mà mới có anh cán bộ về thẩm tra
đã “loan tin” và “ngã ngay con lợn ra liên hoan”, lại thêm cái tội “lãng phí lương thực phá hoại sản xuất, chống Mỹ” Chuyện con trai chú mất anh hùng làm “cả họ tiếc ngẩn ngơ hàng năm trời”
Ông Thầu có niềm tha thiết “con cái có danh giá” Ông muốn “một ngày nào đó, chi của cành thứ hai này phải nêu danh, là trụ cột của họ này” Vì vậy khi đứa con trai học hàm thụ đại học của ông bị “bóng gió” là “đại học giả cày Đại học “bia –thịt chó”
là chú cứ bực mình Tư tưởng này lan đến cả ông Tứ thuộc “cành cuối cùng của dòng họ” cũng muốn “họ mình phải có cán bộ chủ chốt ở xã, ông muốn tiếng nói của mình phải vang lên trong dòng họ” Ông Tứ cứ băn khoăn “tại sao họ này lại không có một người làm tướng là chính ông hay con trai ông chẳng hạn” Từ ý thức về sự kém cỏi của họ mình, họ Công quyết định nghĩ đến sự “phương trưởng” của dòng họ để không thua kém họ khác Điều đó lại làm họ khác trong làng “giật mình”, họ Công “đông lắm, không khéo phải mổ trâu bò mới đủ thức ăn Chắc họ sẽ thuê tiền quảng áo trên ti vi” “Nhưng có người lại cười khẩy, họ ấy toàn nông dân cả, trừ vài liệt sĩ có ai rời làng ra đi đâu mà quảng cáo” Ông Thầu nghe vậy mà “sốt ruột, tiếc ngẩn ngơ, có phải thằng cháu của họ này làm chủ tịch xã trị cho bọn nó một trận cho trắng mắt ra, quân ngụ cư hỗn láo” [33; 15]
Bằng sự thể hiện tâm trạng ông Thầu và ông Tứ, Từ Nguyên Tĩnh đã đi vào mổ
xẻ tâm lí háo danh, thích oai oách của đại đa số người nông dân Dù không biết chữ nhưng bao giờ cũng muốn chứng tỏ bản thân Mỗi dòng họ như một tập đoàn chính trị nhỏ, luôn tự đấu tranh, họ này nhìn họ kia để giành giật quyền cai trị
Cho đến khi ông Thầu không đạt được khát vọng, ông quay trở về với tinh thần cào bằng, tự an ủi với lí lẽ nông dân là tất cả, là gốc rễ để an ủi cho sự thất bại đó Ông răn dạy con cháu về sự cố thủ làng quê của họ mình “Họ ta toàn là nông dân Bộ
ai cũng ra thành thị mà sống lắy đâu ra thóc gạo mà nuôi con người” rồi cuối cùng cũng “cáo chết ba năm quay đầu về núi”, “đằng nào cũng thành nông dân ( ) Họ này
là nông dân, điều đó chỉ đáng tự hào mà thôi” Ông lại nhấn mạnh “tướng tá gì ở đâu không biết, hãy cứ về đây họ này sẽ nhuộm thành nông dân cho mà xem” Cũng từ cách suy nghĩ ấy, ông Tứ lại có cách cai trị dòng họ hết sức độc đoán, gia trưởng “Tôi
Trang 15cấm ai có ý nghĩ bỏ làng, bỏ họ mà đi Bắt chước những thằng bỏ làng hay sao? Tôi là cấm Họ này cấm đấy” Đó là cái lối cai trị cực đoan, ích kỉ và gia trưởng rất tiêu biểu cho tính cách người nông dân ở những vùng quê xa xôi, căn cốt, ít có điều kiện giao tiếp Ở đấy, tập tục, lề thói ngự trị hầu nhue theo quy luật “mạnh được yếu thua”
Truyện Họ hàng nông dân phải chăng là cách Từ Nguyên Tĩnh “luận” về tính
cách người nông dân nói chung, đặc biệt là tính cách con người xứ Thanh qua cách ông quan sát và đúc kết từ một dòng họ? Tuy nhiên, qua đó cũng cho thấy cách sống, cách nghĩ của người nông dân xứ Thanh với những nét đặc trưng của xứ này
Trong truyện Đứa bỏ làng lại là một hiện thực khác, một hiện thực nông thôn
lạc hậu, đời sống dân trí thấp, người dân lẩn quẩn trong đói nghèo, mê tín Dốt nát đi liền với nghèo đói, căn bệnh cố hữu của nông thôn Việt Nam một thời, xứ Thanh không là ngoại lệ Viết về thực trạng đó, nhà văn muốn gióng lên hồi chuông về vấn
đề phát triển nông thôn trước hết chính là vấn đề nâng cao dân trí: Cả làng Bàn Thạch
“trí thức” chỉ có ba người: “Bác Lung làm thầy bói, ông Lật thầy cúng và chú tôi” Tuy chú tôi không biết chữ “nhưng cũng nói được những lời lạ lùng” Bác Lung thầy bói “tiếng tăm hàng nửa thế kỉ của bác nổi như cồn Đâu đâu người ta cũng đến xin ý kiến bác”, từ chuyện “mất của” đến “tình duyên dang dở”, nhất là những người “mộ lạc” Thậm chí ông còn “bói về thời cuộc thua được của ta, ẩu đả của thế giới, luận về Kiều” Đã thế lại có lão Lật, “người thấp, đen sắt miệng méo làm nghề thầy cúng ủng hộ” nên bác Lung rất “mạnh”
Lão Lật thì lo liệu sức khỏe cho cả làng, “bọn nhóc ốm, hái lá léo không khỏi Cúng Người ốm thập tử nhất sinh lập đàn cầu đảo, khỏi ngay Động mồ động mả cúng ăn nên làm ra” Chính quyền xã là con cháu trong nhà, lại ít chữ thành ra người
“lo cho sinh mệnh của làng tôi là bác Lung và lão Lật thầy cúng” Còn chú Ngũ tôi
“một chữ cắn đôi cũng không biết”, nhưng có dạo đã “làm tới chân chủ tịch xã” nhưng
“cũng chỉ nhập tâm các cuộc họp Sau đã có máy đứa đàn em văn hoá lớp hai lớp ba lên thay” [33; 34].Tri thức khoa học và sự văn minh là một điều xa lạ, lạc lõng ở làng quê này
“Trí thức” của làng thì như vậy, cán bộ xã chỉ lo ăn chơi, “ban ngày thì mấy ông chính quyền xã điều hành- ăn uống lỉnh kỉnh, đêm về thì âm binh”, làng càng
“bại” Điều hành cả xã không phải là bộ máy chính quyền vững mạnh, liêm khiết mà
Trang 16chính là thầy bói Lung và lão Lật – thầy cúng Con người làng quê tôi “nhỏ bé như con chuột” Chú Ngũ – tuy không biết chữ nhưng cảm nhận được điều ấy mà bất lực,
“không bác lại được những gì đã ăn sâu bén rễ trong tâm thức người dân bao đời”
“Làng mình đất đẹp đấy cháu ạ Nhưng có con sông án ngữ mất rồi Đứa nào vượt qua được sông thì khá” Ông chú giải thích cho thế hệ sau và cũng là để tự an ủi mình bằng chính lời của thầy bói Trong sự u mê và sợ hãi, con sông quê thành con sông tiền định, nằm án ngữ ngăn cách làng Bàn Thạch với thế giới bền ngoài Luỹ tre làng cũng thành vật thiêng, thành thành luỹ vững chắc vừa bảo vệ vừa níu giữ bước chân những con người nơi đây “Đứa nào vượt qua được sông thì khá” Câu nói như một lời nguyền Chú Ngữ cũng có khát khao vượt qua được con sông ấy để thay đổi cuộc đời nhưng cái sợ cố hữu luôn ngăn cản khiến chú luôn bị dày vò thổn thức: “ngay chú hèn cũng không dám đi”, bởi nếu đi sẽ thành “đứa bỏ làng – cái tiếng ấy ngày xưa là lời chửi độc, khinh rẻ của dân làng tôi- không được làng chấp nhận, ghét bỏ phải bỏ làng
ra đi - đời chết rấp – bờ bụi ở đâu đâu…mà có khi đói kém không dám mò mặt về làng”[31;33] Cũng đã có người bỏ làng ra đi, nhưng phần lớn những kẻ ấy đều ra đi với đúng nghĩa của từ ấy: “Người đầu tiên là Đỏ Vạc – vào rừng hái củi mà chết đói Nghe đâu cha nó cũng dắt chị dâu đi hái củi bị cọp vồ…mấy ông đi lính Pháp, đi Tân thế giới ở luôn bên đó nên danh nên giá Mấy chú vào đồn điền cao su Mấy anh chàng
đi chém thuê vì chẳng có nghề nghiệp và cái lá lót ruột…[33;33] Bị những tập quán, phong tục từ nghìn đời trói buộc, lại thiếu kiến thức khoa học, người dân nơi đây lẩn quẩn trong đói nghèo, trong sợ hãi và bất lực
Làng Bàn Thạch trong quá khứ qua những trang viết của Từ Nguyên Tĩnh thật u buồn Đó cũng là sự u buồn của một thời Bằng quan điểm đổi mới trong cách nhìn hiện thực, tác giả đã cho người đọc tiếp cận với “hiện thực mặt trái”, “hiện thực khuất lấp” của một thời Dưới cái nhìn ấy, thực tiễn hiện ra với những cung bậc bi hài Sự nghèo khổ, bị áp bức dài lâu, lại thêm chiến tranh liên miên, người nông dân trong mỗi làng quê Việt Nam phải gồng mình để chịu đựng và tồn tại Có cái gì đó thật xa xót khi nhìn lại những tháng năm ấy Chân thực và sống động, Từ Nguyên Tĩnh đã cho người đọc cảm nhận hình ảnh nông thôn xứ Thanh một thời qua cửa sổ “làng tôi”
1.1.2 “Làng tôi” trong thời mở cửa
Trang 17Năm 1986, chủ trương thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đã đem đếm cho
cả nước một không khí phấn khởi, hồi hởi khiến xã hội thay đổi về mọi mặt, trong đó
sự thay đổi sâu sắc nhất là đổi mới về tư duy Người Việt Nam nói chung và người Thanh Hoá nói riêng dần dần thoát khỏi lối tư duy làng xã để đến với văn minh đô thị Người dân làng Bàn Thạch của tác giả cũng đã vượt qua được “dòng sông định mệnh”
để vươn ra tự khẳng định mình Đây cũng là một trong những chủ đề chính trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh được ông dành nhiều tâm huyết: “Làng tôi” đã đổi mới
Như trên đã nói, sự thay đổi lớn nhất của “làng tôi” nói riêng, nông thôn Thanh Hóa và mở rộng ra trong cả nước thời “mở cửa” chính là đổi mới tư tưởng, đổi mới tư duy Truyện “Đứa bỏ làng” cùng một lúc đã đặt ra hiện thực ấy Chi tiết về cái chết của chú Ngũ “treo lơ lửng trên chiếc dây thừng Chú như muốn bay lên trời mà không bay nổi…” như là kết cục tất yếu của sự tăm tối, bế tắc Trong số những kẻ lần mò tìm cách thay đổi ấy chính là “tôi”, có sự ngấm ngầm đồng tình của dòng họ “cả họ góp cho tôi gạo thóc, tế lễ rồi cũng tốt nghiệp đại học” Có lẽ nhờ những năm tháng trong quân ngũ (có đến mười năm rồi lại trở về làng) mà có thêm bản lĩnh và quyết tâm thay đổi chăng? Và “tôi” chính là đứa “bỏ làng” sớm nhất “Tôi theo vợ nhập cư vào nửa gian nhà của ủy ban kế hoạch Ba mươi cây số phải mất bốn chục năm mới rời được làng đi đến cái thị xã lèo tèo, bề bộn Tôi bùi ngùi, muốn quên đi cái khổ truyền kiếp” Lác đác lại có đứa bỏ làng “Chiều nay, tôi lại có khách Thằng cháu họ” Sau một hồi tâm sự, nó khóc lên hu hu: “Bác ạ, dù có phải mang tiếng là đứa bỏ làng, cháu cũng ra
đi thôi” Quyết định “bỏ làng” chính là quyết định về tư tưởng, là sự thay đổi tư tưởng thâm căn cố đế, đã trở thành máu thịt, tâm hồn, phong tục, lối sống của người nông dân nơi đây Sự thay đổi ấy khó khăn và đau đớn đến nỗi, vì nó người ta đánh đổi cả sinh mạng Đến đây, khái niệm “bỏ làng” đồng nghĩa với sự đổi thay, kẻ dám bỏ làng
là kẻ dám thay đổi Và trong số những kẻ dám “bỏ làng” để học hành, để làm ăn xa ấy
đã trở về để thay đổi quê hương
Truyện ngắn “Đứa bỏ làng” vừa thể hiện cái khó, vừa thể hiện tính tất yếu của công cuộc đổi mới Đối với người nông dân xứ Thanh, vùng đất cực khổ đến nghiệt ngã, nhưng hình như, chính sự nghiệt ngã đó sẽ là tiền đề thôi thúc sự đổi thay
Sự đổi thay bắt đầu từ những cá nhân, nhưng đổi thay có ý nghĩa nhất là sự đổi thay của quê hương, làng xã Từ Nguyên Tĩnh thầm thán phục những cá nhân đã góp
Trang 18phần đổi thay quê hương Cũng ngay trên chính làng quê của mình đã cho ông hình mẫu để ông sáng tạo nên hình tượng con người không chỉ biết đổi mới tư duy mà còn mang tư duy mới ấy làm thay đổi cuộc sống của bà con nơi đây: cô kỹ sư Hương Mơ
Cô gái ấy, ngay từ những ngày đất nước còn giặc giã, ngay khi những con người của làng Bàn Thạch còn âm u trong lũy tre làng đã dám khuyên người yêu: “Anh giỏi bắn súng nhưng còn phải biết cầm bút, sau này đất nước cần có trí thức, không phải lúc nào cũng đi theo con trâu và cái cày” Biết người yêu còn nặng nợ với làng quê, cô ngấm ngầm ghi tên cho anh đi học, buộc anh phải đi học, phải “vượt sông” rời làng Bản thân cô, sau khi tốt nghiệp kỹ sư, cô trở về làng và băt đầu những ngày “trả nghĩa” cho quê hương và cũng là để thực hiện ước mơ đổi mới quê hương của mình:
“Mơ mạnh dạn đưa giống mới vào ruộng đồng quê nhà Bao ngày trần lưng với ruộng thí nghiệm…Không biết nàng nghe ai xui dại mà muốn giao đất cho từng hộ quản lý Nàng thuyết trình với Ban chủ nhiệm để từng hộ lo thì công chăm bón đỡ đi rất nhiều Họ có thể tranh thủ ra thăm ruộng mà không cần đến sự đốc thúc của đội sản xuất…” Sự đổi mới nào phải chả phải trả giá bằng mồ hôi và nước mắt Cái bảo thủ, khi cần sẽ cấu kết với tiêu cực để chống lại cái mới Con đường và ước mơ đổi mới quê hương của Hương Mơ cũng đầy chông gai Khó khăn đến mức đôi lúc tưởng như phải đầu hàng, ngay đến người yêu của cô, đã từng trải qua binh nghiệp vì lo lắng cho
cô cũng phải lên tiếng can ngăn, bàn lùi, chấp nhận thỏa hiệp Nhưng Mơ thì không,
cô tin vào những điều mình làm, cô tin vào bà con, cô tin vào chân lý Đám cưới của
cô với chính người mà trước đây đã “đổ toàn bộ lỗi lầm giống má của mấy vụ cấy chui cấy lủi” lên đầu Hương Mơ cho thấy niềm tin của cô thật trong sáng: “Anh đừng nói thế…Cái sai của sự ấu trĩ một thời…có thế, bây giờ anh ấy mới thương em gấp nghìn lần…”[33; 47] Đám cưới của cô ồn ào trong sự đông vui, cởi mở Dân làng thể hiện tình cảm yêu quý, kính trọng và biết ơn cô kỹ sư đã mang sức sống mới cho làng Cô trở thành người anh hùng của làng quê trong sự ngưỡng mộ, tự hào: “Mới đây tôi về huyện nhà viết báo Viết về những người anh hùng của làng quê Chủ tịch huyện niềm
nở mới: - Anh Bùi nên viết về người làm ruộng ở Bàn Thạch – Ai vậy? – Chị Hương
Mơ anh biết chứ ?” Cuối truyện, ta biết thêm một nét đẹp nữa ở con người này: “Mơ không đồng ý cho tôi viết Nàng nói, cái chuyện làm ruộng ai chả biết”
Trang 19Nếu Nợ làng quê là câu chuyện về “người anh hùng làm ruộng” của làng Bàn Thạch thì Thằng K-X lại là viết về “người anh hùng V.A.C” Đến truyện ngắn này, sự
thay đổi của làng “tôi” đã rõ nét hơn “Quê tôi vốn là vùng tự do( ) chuyện học hành lại ít ai nghĩ đến” chỉ “giỏi cày bừa cấy gặt” Vì vậy việc chú Bân có “bằng cử nhân sử học, lại được phân công về dạy ngay ở trường cấp III huyện nhà” là một niềm vinh dự cho cả “họ tôi” thậm chí “cả hàng xã” bởi “người có học đỗ đạt ở quê tôi thật hiếm hoi” Tuy nhiên bấy giờ, khó khăn là tình trạng chung của xã hội và ông giáo trường làng uyên thâm đến đâu cũng không ngoại lệ “Gian nhà của trường giành cho chú tím thật chật hẹp Ngoài giường chiếu từ thời chú thím lấy nhau đóng bằng gỗ xoan ra, chẳng có gì đáng kể Chỉ có giá sách là đồ sộ” Cái tâm lí của ông giáo với một kho kiến thức như vậy luôn háo hức được truyền thụ cho những học trò nghèo quê hương Vừa dạy học vừa viết báo, chú Bân rất có uy tín trong làng và được bạn văn kính nể Nhưng cuộc sống khốn khó của những năm bao cấp khiến chú khó chú tâm vào công việc dạy học Tiền nhuận bút chỉ “một vài đồng bạc”, còn thím phải “nấu rượu rải cho các quán và nuôi lợn nái” Cái “vất vả của cuộc đời đã làm thím không còn bóng dáng của cô gái Hà Nội năm nào” Là người có trình độ và niềm tin vững chắc ông giáo đi đến quyết định táo bạo “sang năm chú về hưu non Không thể để cho thím và các em khổ mãi được” và dũng cảm “bán một cặp lợn tạ để mua ba-bet-ta làm nghề V.A.C Chú tự đi lấy phân ở các cơ quan về chăm cho cá của mình Chú thường đi rất sớm và
về khi chưa có người đi làm” Bằng sự cần cù dám nghĩ, dám làm mà năm ấy trời thương “đổ của cho nhà chú Lợn nhiều lấy phân cho cá ăn nên bán cá có bạc triệu” [33; 413] gia đình chú thực sự đổi đời Chú “xây nhà hai tầng ngay đầu phố huyện”, thím thì “béo ra, trẻ lại ( ) Mái tóc uốn kiểu làn sóng càng tôn thêm vẻ đẹp duyên dáng” còn chú “mang cặp kính trắng nom trí thức hơn thời kì chú dạy học” Hai đứa con gái “mặc minidíp, không cần thoa phấn mà vẫn hồng hào ” Đặc biệt là trong nhà của chú “điệu nhạc Lăm-ba-đa từ chiếc viđiô chảy tràn ra phố” gợi nên không khí cuộc sống văn minh, hiện đại Mô hình kinh tế của chú được các nhà báo muốn đến
“lấy tài liệu” để viết bài
Có lẽ để có được một quyết định táo bạo như vậy hẳn chú Bân phải trăn trở, suy nghĩ nhiều lắm Nghề giáo vốn coi trọng chữ nghĩa, đề cao danh dự, vì vậy từ một ông giáo uyên thâm đến một “thằng kà xia” suốt ngày bận rộn tính toán là cả một bước
Trang 20chuyển quan trọng mang cả sự đau đớn, chua xót lẫn quyết tâm lớn lao Dù xã hội vẫn công việc của chú độc nhất vô nhị và thuộc loại “hạ đẳng”, dù người ta toàn gọi chú là
“thằng Kà- xia” và ngay cả “mẹ tôi”- người chị dâu của chú khi nói về chú cũng “quay
đi che dấu nụ cười” nhưng trong con người ấy vẫn giữ một bản lĩnh vững vàng và niềm tin sắt đá về con đường mình đã chọn
Thực tế của cuộc sống đòi hỏi người ta phải lựa chọn, trăn trở, suy nghĩ thiết thực hơn, đối đầu với thực tế để thoát ra khỏi định kiến xã hội để làm mới cuộc sống Chú Bân đã biết tận dụng những gì của quê hương mình để làm giàu nhanh chóng và giúp đỡ nhiều người có công ăn việc làm Điều quan trọng không phải là làm việc gì
mà cái chính là con người biết lợi ích và ý nghĩa của công việc Hình ảnh của chú Bân cũng là của nhiều người dân Việt Nam thời bấy giờ Đất nước đã qua thời kì bao cấp
mà bước sang thời kì kinh tế thị trường nhưng vẫn còn khó khăn về mọi mặt Chất lượng cuộc sống của nhân dân đang còn thấp, cán bộ công chức chưa thể dựa vào đồng lương của mình để sống Nhu cầu sinh tồn buộc nhiều người phải đưa ra những quyết định quan trọng như chú Bân để giải phóng mình Quan niệm “làm ruộng theo làng” dần dần mai một Họ giám từ bỏ những vỏ bọc cố hữu của mình để tự tin hơn, bản lĩnh hơn, tìm cho mình một chỗ đứng trong xã hội Họ giám thay đổi mình và sẵn sàng chịu trách nhiệm với những thay đổi đó Làm giàu cho mình cũng là làm giàu cho đất nước thì những quyết định đó dù thế nào thì vẫn là một quyết định đúng đắn
Viết về mảng đề tài này, truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh không chỉ đi sâu vào sự tiến bộ về lĩnh vực kinh tế ở “làng tôi” mà còn thấy được sự đổi mới trong chính cuộc
sống sinh hoạt hằng ngày ở, trong quan niệm về hạnh phúc Mùa yêu đương là một
truyện ngắn như vậy
Làng Bàn Thạch đã thực sự thay đổi với nếp sống mới Xưa kia người dân vốn
“đi ngủ kịp cùng gà vịt” nhưng nay điện đã về làng thì “hôm nào có bóng đá quốc tế là
tụ tập ngồi xem thấu sáng rồi ra đồng luôn” Người nông thôn giờ đây không chỉ lo cơm ăn áo mặc mà đã biết chú ý đến nâng cao đời sống tinh thần Cái vất vả của nhà nông không còn là gánh nặng số mệnh mà đã có cách nhìn lạc quan hơn “dễ dàng chấp nhận mất mát, lo âu, thanh thản” của mùa cấy cày, coi “niềm vui và mệt mỏi” của đời người nông dân là một phần của cuộc sống Cái mới ở làng Bàn Thạch còn thể hiện ngay trong việc cưới xin của người dân Đám cưới giờ đây được phục vụ bởi “mấy gã
Trang 21dịch vụ đám cưới” với tiếng “loa đài” rộn ràng vui vẻ Cái bầu không khí vốn thanh bình, yên tĩnh của làng quê nay đã nhộn lên bởi những giai điệu sôi nổi, hiện đại của cuộc sống mới Chỉ có những con người yêu quê, có tâm hồn nhạy cảm như Từ Nguyên Tĩnh mới lắng nghe được âm thanh diệu kì của cuộc sống nơi đây
Đặc biệt làm chủ làng xã bây giờ không còn là những con người như ông Thầu, chú Ngữ nữa mà là một thế hệ mới với cách sống và tư duy hết sức mới mẻ - anh chàng Thốn Thốn vốn là anh chàng sinh ra và lớn lên ở làng Bàn Thạch nhưng đã có
cơ hội để “đi ra” trong mấy năm thực hiện chính sách nghĩa vụ Rời quân ngũ anh lại trở về làng quê làm một người nông dân với bao điều mới mẻ Có thể nói, Thốn là mẫu người nông dân mới ở làng quê: tự tin, cởi mở, nồng nhiệt và cả pha chút ngang tàng Chàng nông dân Thốn tự tin trước hết ở quyết định không cưới vợ trong làng mà
ở rất xa, xa lắc xa lơ, mãi tận trong Nam, mà cưới một cách nhẹ nhàng “đành cưới thôi, người ta giàu cưới xin linh đình, còn mình nghèo cưới xin cũng cỗ bàn” Mặt khác người xưa vốn quan niệm “trâu ta ăn cỏ đồng ta” khi chọn vợ thì chàng nông dân đặc sệt ấy lại mò vào tận Quảng Nam rước người đẹp về làm vợ Thốn nói với người chú ruột “cháu hồn nhiên chơi chơi lại vớ được con vợ như tiên” Đấy là một sự dũng cảm, liều lĩnh và cũng là cách Thốn đang cố gắng cởi trói, phá bỏ những trật tự quan niệm cũ
Quyết định của Thốn khiến người chú phăi băn khoăn “chết thiệt con gái nhà ai đẹp mà lại lấy cháu tôi Làm sao dám chui đầu vào cảnh thiếu thốn này ( ) rồi ra ai cày cuốc mà nuôi vợ ngồi soi gương chải tóc” Thốn lí sự lại “ Chú ơi, cháu mài cái đẹp ra ăn đấy, chú cứ nghĩ quẩn, vợ cháu làm gì chả được, bộ nhà mình quanh đi quẩn lại chỉ toàn bộ mặt khảo cổ thôi làm sao chịu nổi” [33; 375] Quan niệm vợ chồng trong tư duy của Thốn không còn là hình ảnh “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”, người vợ bây giờ không cần đầu tắt mặt tối, lam lũ bươn chải như thân cò nơi đồng ruộng mà có thể ở nhà để chăm lo gia đình Đó mới chính là thiên chức lớn nhất của người phụ nữ Người chồng hiện đại là người có những suy nghĩ bình đẳng, dân chủ hơn với vợ và một người đã từng đi ra, lại có lối suy nghĩ linh động như Thốn chắc chắn sẽ là người biết tìm ra cách làm giàu để nuôi vợ con Với Thốn cày ruộng để cho
vợ soi gương chải tóc cũng là một hạnh phúc Thốn sẽ là một trong những người tiên phong trong việc xây dựng một gia đình kiểu mới
Trang 22Mặt khác, qua chi tiết ấy đã thể hiện một quan niệm mới mẻ của người nông dân về cái đẹp Giờ đây họ đã biết chú ý đến cái đẹp hình thức của vợ, thay vào cái vẻ khoẻ mạnh, cục mịch, chắc lẳn của các cô thôn nữ xưa kia thì cái đẹp bây giờ phải mảnh mai, mềm mại thậm chí có thể hơi “tiểu thư khuê các”, người chồng bây giờ đã biết làm tất cả để giữ gìn cái đẹp ấy
Đổi mới về tư duy còn thể hiện ngay trong ngôn ngữ của Thốn Trong lời nói của Thốn không còn cái rụt rè nhút nhát thuần tuý của người dân chân lấm tay bùn, Thốn đối đáp với chú của mình rất hồn nhiên, bỗ bã, cà chớn “Chú mới lạc hậu làm sao đời sống mới có nghĩa là mời các cụ mặc áo lương, các cô bận áo dài đến động viên họ hút thuốc lào và ngồi nhìn mình mà đánh chẩu hả chú!”, “Cũng phải có gì cho các cụ nhắm chứ, chú bảo từ khi đẻ ra mình các cụ đã ngồi chờ rồi mà!” [29;366] Cũng có lúc ngôn ngữ của Thốn lại “lếu láo”, “ngạo nghễ‟: “ chú biết không nhà gái
ở tận miền Nam chứ không thì bỏ mẹ” hay “Em thấy không, thằng Cui lừa lúc nhà mình có việc chuồn đi theo gái rõ thật là ”
Rồi từ trong cách nói chuyện với Diệu Linh- vợ sắp cưới của mình Thốn rất tự nhiên, lém lỉnh “Em đã thấy tình yêu của gã thợ cày chưa!”, “Anh gặp em cái dạo đi lính ở trong đó là biết mình sẽ lấy em làm vợ mà!” Anh chàng nông dân ấy cũng âu yếm vợ mình một cách “sắc bẻm”: “Diệu Linh nàng ơi!”, “Đừng cưng”.v.v Đó là ngôn ngữ của một anh chàng nông dân vừa mới “đi ra” mang chút “bụi bặm”, mới mẻ của thành thị nhưng vẫn chưa thoát khỏi chất mộc mạc, chân chất thôn quê Ngôn ngữ của Thốn bớt rườm rà mà ngắn gọn tự nhiên, khách quan hơn, phù hợp với nhịp sống mới chứ không phải là sự pha trộn từ ngữ nước ngoài tạo ra một giọng điệu lai căng, kệch cỡm
Tuy nhiên trong những cái mới ở làng quê ấy còn có những cái tiêu cực, cái tiêu cực thể hiện ở dấu hiệu học đòi, hãnh tiến; ở lối sống hưởng thụ, ăn chơi đàng điếm
Đó là những “tay bợm đánh tiết canh lòng lợn nhìn đã tưng bừng no nê, đó là lối ăn mặc không còn “hương đồng gió nội” của hai cô con gái chú Bân với chiếc “minidíp” cũn cỡn và cách nhảy “Lăm-ba-đa” của những anh chàng nông dân - dấu hiệu manh
nha của những trò Karaôke trá hình (Thằng K-X) Đặc biệt cái tiêu cực rõ nét nhất
“làng tôi” là có nguy cơ bị “bỏ không” bởi sự mưu sinh làm giàu của con người Làng
Trang 23đã có tới “hàng trăm đứa bỏ làng ra đi”, “trút lại cái đói”, cái khổ cho người già Văn
Từ Nguyên Tĩnh rõ ràng có tính dự báo nhiều hơn là miêu tả
Như vậy, qua những trang văn của Từ Nguyên Tĩnh, qua hình ảnh “Làng tôi”, người đọc đã thấy được sự am hiểu và tình yêu của ông đối với làng quê xứ Thanh ở làng quê ấy mọi cung bậc tình cảm, mọi số phận con người vui và buồn, may mắn và bất hạnh đều “châu tuần” về đây tạo nên một nông thôn xứ Thanh thu nhỏ với đầy sự ngổn ngang, bộn bề, phức tạp Độc giả cũng nhận ra làng Bàn Thạch nói riêng hay xứ Thanh nói chung đang có những bước chuyển mình, làng quê thuần nông ấy đã và đang du nhập những ảnh hưởng của văn minh đô thị hay có, dở có Sự chuyển mình lột xác tuy còn có những vật vã, đau đớn song đó là hệ quả tất yếu của lịch sử Đó chính là xu thế chung của dân tộc, thời đại
1.2 Một xứ Thanh kiên cường, bất khuất qua hình ảnh Hàm Rồng
Những năm tháng mảnh đất Xứ Thanh trở thành mục tiêu hủy diệt nằm cắt đứt con đường giao thông huyết mạch tiếp viện cho chiến trường miền Nam của đế quốc
Mỹ cũng là những năm tháng Từ Nguyên Tĩnh trở thành lính pháo thủ Hàm Rồng Đó
là nguyên nhân có một xứ Thanh kiên cường, bất khuất qua hình ảnh không gian Hàm Rồng
Bị thất bại ở chiến trường miền Nam Việt Nam, cuối năm 1964 đầu năm 1965
đế quốc Mỹ vạch kế hoạch ném bom miềm Bắc nhằm cắt đứt sự chi viện vào miền Nam Là tỉnh trọng điểm về kinh tế của khu vực bắc miền Trung với nhiều khu công nghiệp, dân số của tỉnh lại đông thứ hai cả nước nên Thanh Hóa là nơi cung cấp nhiều sức người, sức của cho cuộc kháng chiến Mặt khác Thanh Hoá còn nằm trên con đường huyết mạch Bắc Nam, là nơi trung chuyển, tiếp viện cho chiến trường với nhiều cầu giao thông lớn như cầu Lèn, cầu Tào, cầu Hàm Rồng và cầu Ghép Phá được một trong những chiếc cầu lớn ấy coi như cắt đứt tuyến đường chi viện cho miền Nam, đè bẹp được tinh thần, ý chí chiến đấu của quân dân miền Bắc xã hội chủ nghĩa Chính vì vậy tỉnh Thanh Hoá đã nằm trong tầm ngắm của máy bay Mỹ và đã chịu sự tàn phá nặng nề của bom đạn
Trước khi trở thành nhà văn, Từ Nguyên Tĩnh là chàng pháo thủ thực thụ, tham gia chiến đấu bảo vệ cây cầu Hàm Rồng huyền thoại Bắt đầu là những mẩu tin, những bài phóng sự rồi đến truyện ngắn Chùm truyện ngắn viết về Hàm Rồng, về xứ Thanh
Trang 24trong những năm tháng đánh Mỹ của Từ Nguyên Tĩnh giống như những phóng sự tái hiện hình ảnh một Hàm Rồng trọng điểm huỷ diệt và một Hàm Rồng hiên ngang bất khuất
1.2.1 Hình ảnh Hàm Rồng, trọng điểm hủy diệt của Đế quốc Mỹ
“Chờ B52” là một trong những truyện ngắn đặc sắc về hình ảnh con người và
vùng đất Hàm Rồng hồi âý B52, loại máy bày chiến đấu mới nhất, sức mạnh của nó được phía bên kia rêu rao là “bất khả chiến bại” Với độ cao, bay trên mười nghìn mét, hiện chưa có thứ vũ khí nào chạm tới Sức rải thảm của B52 thật đáng sợ Nó có thể rải bom một vùng rộng lớn khoảng 2,5 kilômét vuông Khi Oasinhtơn dọa sẽ mang con ngáo ộp B52 ra huỷ diệt miền Bắc “đưa Hà Nội trở về thời kì đồ đá”, tổng thống
Mỹ Níchxơn tưởng khuất phục được quân dân miền Bắc bởi sức huỷ diệt khủng khiếp của nó Hãy nghe Từ Nguyên Tĩnh miêu tả một trong những trận huỷ diệt ấy: Vùng Hàm Rồng chỉ với diện tích chưa đầy một kilômet vuông nhưng biến thành một túi bom “ Một vùng đỏ lòm từ chân cầu tới Nam Ngạn Từ Nam Ngạn đến nhà máy điện, đồi Cô Tiên Đâu đâu cũng có hố bom, chết chóc” Những chiếc B52 “vào ném bom rồi lao ra biến mất” như tia chớp đầy sự ma quái và bí hiểm, nếu những người lính không tinh nhanh thì thị xã Thanh Hoá có thể bị san phẳng trong chốc lát Đêm máy bay B52 rải thảm, cả một vùng náo động bởi “tiếng nổ rền rền kéo dài tưởng là vô tận” và “khoảng cách các hố bom cách nhau rất đều” Chi tiết này cho thấy để huỷ diệt Hàm Rồng, đế quốc Mỹ đã lên kế hoạch ném bom một cách chính xác, chi li đến từng centimet, một con kiến cũng khó sống sót huống hồ là con người Chỉ cần một sự bất cẩn của những người lính cao xạ thì B52 sẽ “xoá sổ toàn bộ các đơn vị” Sự ác liệt thể hiện ở những tổn thất mà quân và dân Hàm Rồng phải gánh chịu: “Tuy những người pháo thủ vẫn kịp bắn chặn máy bay cường kích và bắn phá Hàm Rồng” nhưng bộ đội vẫn hy sinh nhiều Chùa Nam Ngạn nằm sát trận địa Hàm Rồng phải mở cửa để đón
bộ đội vào cấp cứu và dưỡng thương Sư Đàm, trụ trì chùa Nam Ngạn thường phải “bí mật cầu siêu cho hương hồn người lính” siêu thoát trở về đất Mẹ
Cùng bị bắn phá với cầu Hàm Rồng là cây cầu Đò Lèn (Cô gái Đò Lèn) Ở đây,
“bom dội như rây bột”, đoạn đường từ cầu Lèn về đến Hàm Rồng có xa xôi gì cho cam nhưng mất hai ngày xe chi viện và chàng pháo thủ San vẫn chưa đến được Những trạm gác phòng không được dựng lên liên tiếp, các cô thanh niên xung phong
Trang 25trở thành cọc tiêu sống đứng canh chừng bom nổ chậm, chỉ đường, dẫn đường cho xe Ngày “Mỹ trở mặt đánh lại Miền Bắc Lèn và Hàm Rồng chúng đánh ác liệt hơn” Chúng “cho thí nghiệm tất cả các loại vũ khí hiện đại nhất và cũng man rợ nhất: bom laze, bom tinh khôn khiến bộ đội, dân quân và thanh niên xung phong hy sinh nhiều” Hàm Rồng càng chịu nhiều trận mưa bom của máy bay B52 “Hố bom, san sát là hố bom Mấy toa xe lửa hất lên nằm chỏng chơ đổ nát, vắng bóng người” Cảnh vật đầy chết chóc, hoang liêu Con mương nép mình vào sườn đồi nhuốm “một màu đỏ quạch” như máu của những con người đã ngã xuống, bờ sông Lèn “khô kiệt, bờ bị vỡ nát” Với sức tàn phá như vậy, sự sống tưởng như không còn có thể hiện diện ở đây
Cái ác liệt của chiến tranh thể hiện rõ hơn và đau đớn hơn là những di chứng để lại trên gương mặt con người Tuyết Mai vốn là cô thanh niên xung phong trẻ trung ở trạm gác Đò Lèn, “nắng gió bom đạn không làm mất vẻ duyên dáng thiếu nữ Khoé miệng cười phô ra chiếc răng khểnh ánh lên vẻ dìu dịu” Nhưng chỉ mấy năm sau, gương mặt người nữ anh hùng gác cầu năm nào đã bị bom na pan làm cho “rỗ chằng
rỗ chịt” Cô thiếu nữ nổi tiếng hoa khôi một thời ở tổ đội thanh niên xung phong gác cầu đã phải chạy trốn quá khứ, chạy trốn đồng đội San, người yêu của cô đã mất bao nhiêu thời gian để đi tìm cô Nhiều năm mày mò anh đã tìm đến địa chỉ nhưng chính anh cũng không ngờ, người phụ nữ - chị cấp dưỡng ở một địa chỉ mà anh vẫn hằng qua lại chính là Tuyết Mai Giờ, cô đã đổi tên, người đàn bà cô đơn, không chồng con,
có gương mặt rỗ chằng rỗ chịt chính là Tuyết Mai duyên dáng và xinh tươi năm nào,
nữ anh hùng của gác cầu Đò Lèn năm xưa Cô lại tránh anh, “cô không muốn cho người quen cũ nhận ra bộ mặt bị bom na pan của mình” Có biết bao nhiêu những người như Tuyết Mai đã hi sinh tuổi thanh xuân và hạnh phúc của mình vì sự bất tử của những cây cầu ấy và bao nhiêu người đã ngã xuống
Bức tranh Hàm Rồng – xứ Thanh trong những năm tháng ác liệt tô đậm thêm bức tranh về những năm tháng máu lửa mà kẻ thù đã gây ra cho đất nước này
1.2.2 Hình ảnh Hàm Rồng hiên ngang bất khuất:
Song trong khói lửa đạn bom huỷ diệt, Hàm Rồng – xứ Thanh vẫn hiên ngang bất khuất Là người trong cuộc, Từ Nguyên Tĩnh tự hào ngợi ca tinh thần kiên cường, dũng cảm, ý chí bất khuất của đồng chí, đồng đội, những người con của quê hương Thanh Hóa anh hùng Những chàng lái xe, những pháo thủ, những thiếu nữ, những cô
Trang 26thanh niên xung phong… Hãy nghe một cuộc đối đáp của họ ở trạm gác Đò Lèn sẽ thấy những con người đang đối mặt với đạn bom ấy học sống như thế nào: “- Anh gì ơi! có tranh thủ giặt quần áo mà phơi đi kẻo máy bay nó đến đấy! Thật chả bõ cho đêm qua nghe cái giọng ra lệnh mới gắt chứ Tôi đã bảo các anh phải lùi xe lại Thì đồng chí cứ để cho bọn này đi né qua hố bom có được không? Không thể được, xe đi qua chỗ có bom nổ chậm nó kích nổ, sẽ nguy hiểm đến tính mạng Thì tính mạng của bọn này, việc gì đến cô Này đồng chí bộ đội nói hay nhỉ? Lại có cái kiểu ăn nói thế à! Tôi nói thế phạm thượng gì đến o? Không o cháu gì sất, đề nghị ăn nói cho nghiêm túc trong lúc làm nhiệm vụ…Lái xe buông ra một câu đủ cho San và cô gái trẻ nghe thấy: Cậu ôm chặt lấy cô ấy cho mình lái xe có được không? – Này đồng chí trung sĩ ! không được ăn nói kiểu ấy nhé…v.v ”[33; 232] Bom đạn cày xới suốt ngày nhưng không làm mất đi sự trong trẻo, hồn nhiên vô tư của họ nhưng nghiêm túc, trong công việc, là anh chàng pháo thủ kiêm nhà báo Bùi vừa đánh giặc vừa đi lấy tin ở trận địa kịp thời phục vụ cho trận chiến, chàng Lung mù mang tiếng hát của mình để át đi tiếng bom động viên anh em chiến đấu Tất cả đều bị hút về vấn đề trọng tâm: vận mệnh dân tộc Họ là những con người anh hùng bất khuất kiên định vững vàng
Hình ảnh hiên ngang bất khuất của Hàm Rồng trước hết được thể hiện qua những người lính đang trực tiếp chiến đấu để bảo vệ cây cầu huyền thoại Bùi và Tân
(Chuyện tình bên cầu Tào) là những người lính chiến đấu ở trận địa cầu Tào Tân,
chàng trai Hà Nội, ngày cùng đồng đội kéo pháo vào, tâm trạng náo nức được “chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng” song vị trí của họ là ở cầu Tào Cầu Tào cách Hàm Rồng không xa là mấy và đều là cửa ngõ để vào thị xã Thanh Hoá Những chàng pháo thủ nếu phát hiện từ xa có B52 mò vào rải thảm là họ quay pháo bắn trả để “chia lửa” với Hàm Rồng Hàm Rồng mới là mục tiêu chính của bom Mỹ, nhưng nếu chỉ có mình quân dân Hàm Rồng thì vẫn không thể đứng vững Hai anh chàng háo hức “chiến đấu
vì mục đích lớn lao”, “cầu Tào có phải hi sinh cho Hàm Rồng cũng là vinh dự”
Bom đạn cứ quần nhau trên đầu nhưng để “tiếng hát át tiếng bom”, đơn vị cử Bùi và Tân “có chữ viết đẹp làm bích báo” khích lệ tinh thần đồng đội “Con người ta chạm đến sống chết cũng có nhiều tâm sự cao sang lắm” Bây giờ còn bên nhau nhưng
có thể ngã xuống bất cứ lúc nào vì vậy họ yêu thương nhau, chắt chiu từng giây phút Tuy nhiên, “chiến tranh tuy ác liệt”, “khẩu đội bị thương vong gần hết nhưng hai
Trang 27thằng cứ trơ ra không hề suy xuyển” Bom đạn không thể quật ngã được Bùi và Tân,
số phận đã buộc hai con người yêu đời, dũng cảm lại với nhau Tình đồng đội và ý chí quyết chiến của những người lính đã giúp họ vượt qua sự khắc nghiệt của chiến tranh
Và cây cầu Tào vẫn còn đó như là “số phận riêng của hai đứa, lúc lành lặn khi bị đánh gẫy vẫn nằm án ngữ trước mặt” Vì vậy hết ông chính trị viên đại đội đến cán bộ tiếp thu cứ giữ hai người làm “nòng cốt cho đơn vị”, “chủ chốt cho trận địa” Tân như nhà
“sử gia” của đơn vị, anh “hí hoáy ghi chép những suy nghĩ, trận đánh” với niềm say sưa kì lạ Có lẽ trong anh được chiến đấu cho Hàm Rồng là một sứ mệnh lớn lao đối với người lính, “biết trụ vững vị trí của mình đã là anh hùng” Song họ chiến đấu không đơn lẻ, ngoài những người lính còn có dân quân cầu Tào Sau trận oanh tạc của máy bay Mỹ, cầu Tào bị gãy, “Thuỷ đã vào tiếp đạn cho khẩu đội” Tân và Bùi Thuỷ
bị thương, Tân vừa tiếp tục chiến đấu vừa cứu sống Thuỷ bằng máu của mình Dòng máu của Tân chảy trong huyết quản Thuỷ, ngay cả khi Tân hi sinh rồi, dòng máu ấy vẫn chảy và nồng ấm tình người Tân đã ngã xuống nhưng tình yêu đối với Tổ quốc vẫn dạt dào gửi lại “Anh không hề chết” [16; 220]
Nhưng có lẽ ác liệt hơn, kiên cường hơn vẫn là trận địa Hàm Rồng Hàm Rồng Nam Ngạn là mục tiêu bảo vệ chính của quân dân Thanh Hoá lúc này Sự sống còn của cầu Hàm Rồng có ý nghĩa quan trọng trong cuộc kháng chiến, cả nước hướng về nơi đây với một niềm tin mãnh liệt cho ý chí quyết chiến quyết thắng Vì vậy quân và dân Hàm Rồng chiến đấu kiên cường viết nên trang sử chói lọi trong lịch sử đấu tranh bảo vệ dân tộc Vốn là người lính Hàm Rồng, hiện thực của những năm chiến đấu ấy sống lại trong truyện ngắn Từ NguyênTĩnh chân thực và sinh động
Nếu ở cầu Tào là những chàng trai ngày đêm “chia lửa” với Hàm Rồng thì ở
trận địa Hàm Rồng là những chàng pháo thủ trực tiếp đón chờ B52 (Chờ B52) Chờ
đợi sự huỷ diệt trong tư thế chủ động, bình tĩnh và tự tin Tĩnh (nhân vật kể chuyện xưng “tôi”) cùng đồng đội phải phát hiện ra B52 vào thả bom để bắn ba phát về thị xã Thanh Hoá báo động Nhiệm vụ lớn lao như vậy nhưng khẩu đội đã đi sơ tán một nửa, một số vào núi đá ẩn nấp, “chỉ còn ba số ở lại quyết chiến với B52 của địch” Ba chiến
sĩ, hai người mới đi bệnh viện về còn một người là sinh viên mới ra trường, tuổi đời
và kinh nghiệm chiến đấu còn non nớt nhưng luôn luôn phải “trực để chiến đấu”
Trang 28Đông là trợ lý ra đa, anh có “độ nhạy cảm hết sức đặc biệt” trong cái đám nhiễu hiện lên màn huỳnh quang, anh nhận ra tín hiệu của B52 Anh luôn“ say mê giao giảng cho tôi về cách nhận bộ mặt B52” để tiêu diệt nó Sự sống còn của thị xã và cây cầu Hàm Rồng phụ thuộc vào độ tinh nhanh và dũng cảm của những người lính Tuy nhiên cũng có phút giây chờ đợi dài, đầy căng thẳng, hồi hộp lo lắng Cả ba người
“chui vào chiếc hầm chữ A sát bờ công sự, ép người như nêm”, “tiếng ù ù ào ào ép sâu trong tai Tôi cố nén sự run rẩy do lúng túng” 33; 264] Căn hầm chật chội, chật tới mức nghe được tiếng “thì thụp của tim người bên cạnh” Chỉ cần một người run lên
là tạo nên sự phản ứng dây chuyền Đó không phải là cái run của sự sợ hãi mà là nỗi lo không hoàn thành nhiệm vụ Chỉ cần một chút sai sót là cả thị xã Thanh Hoá có thể bị san phẳng Những chú lính trẻ “chưa một lần uống hơi thở đàn bà mà người ta dám nhìn thẳng vào quân thù mà bắn”, ra chiến trận là hiến thân cho đất nước lo gì đến cái chết Bên ngoài, tiếng máy bay gào rú như xé nát bầu trời, chiếu những tia lửa tạc vào nền màn đêm hình ảnh bất tử của những anh chàng pháo thủ
Đêm B52 vào trải thảm, tưởng như có thể “xoá sổ toàn bộ các đơn vị trên đồi cao” nhưng pháo của ta ở các trận địa vẫn “tung lên đỏ trời”, cả vùng Hàm Rồng như một biển lửa Đó chính những chàng pháo thủ quyết sống mái cho cây cầu bất tử
“Chờ B52” mang ý nghĩa “trang trọng của sự chờ đợi và dĩ nhiên có sự bỡn cợt coi thường cái chết”
Nếu những chàng pháo thủ trực ngoài chiến trận kiên cường bất khuất thì những
cô thanh niên xung phong cũng vô cùng gan dạ Họ là những cô gái trạm gác cầu Đò
Lèn (Cô gái Đò Lèn) chân yếu tay mềm song cũng rất nguyên tắc, vừa rời khỏi ghế
nhà trường đã xung phong ra trận địa Công việc của các cô là “lấp hố bom, tháo bom
nổ chậm, kịp cho đêm đến thông đường cho xe đi” Có điều trong khi các cô lo sợ cho tính mạng của những chàng lái xe thì chính các cô lại đang đứng trên những túi bom khổng lồ Để đảm bảo an toàn cho các anh, các cô khăng khăng “tính mạng của các anh không thể đem ra mà thách đố với bom nổ chậm được” Có lúc cánh lái xe láu cá
đã phải nghĩ ra “mẹo”để cho xe đi: “cậu ôm chặt lấy cô ấy để cho mình lái xe qua có được không?” hoặc “bế” cô gái lên ca bin Chi tiết thể hiện vẻ đẹp ngời sáng của những con người trong lửa đạn Nó vừa anh hùng vừa hết sức lãng mạn, vừa tinh nghịch, lém lỉnh vừa nghiêm túc, nhiệt tình trong công việc Trong những điều kiện
Trang 29khắc nghiệt của chiến tranh, đôi khi người ta phải biết thi vị hoá để tiếp tục sống và chiến đấu Vì vậy trong thư, những người lái xe gửi về luôn một niềm cảm phục, yêu mến những cô gái phòng không nơi đây “lúc cần thì nguyên tắc ra phết Nhưng giáp mặt sao dễ thương đến thế” Các lớp người này ngã xuống rồi lại có những người khác
“ngày đêm bám trụ” Dù bất cứ hoàn cảnh nào cũng không để cây cầu gục ngã
Nếu ở ngoài trận địa, cuộc chiến cấp bách, khẩn trương đòi hỏi ý chí và tinh thần cao độ của các chiến sĩ thì ở hậu phương công cuộc phục vụ kháng chiến của
nhân dân cũng dũng cảm và gian nan, kiên trì không kém Truyện ngắn Thuyền nan đã
tái hiện lại không khí ấy
Sát trận địa Hàm Rồng là vùng hậu cứ làng Giàng, Nam Ngạn Cả làng Giàng, nhà nhà chống giặc, người người chống giặc Trong làng, “Thanh niên trai tráng ra đi hết cả”, còn ở nhà người già và phụ nữ là hậu phương vững chắc Dù thiếu thốn nhưng người dân vẫn cố gắng học chữ để “đánh nổi thằng sen đầm quốc tế” Mọi người vừa sản xuất vừa chiến đấu và “tranh thủ giờ nghỉ trưa đến lớp” bất kể “máy bay của Mỹ
bổ nhào trút bom đạn xuống cầu Hàm Rồng”
Ngày đế quốc Mỹ leo thang bắn phá Hàm Rồng, cả làng Giàng như một cuộc tổng động viên, số thanh niên còn lại được huy động “lên trận địa giúp bộ đội lau súng, tập thay thế làm pháo thủ”, chuẩn bị cho lực lượng sau này Nhân dân trong làng được lệnh đan thuyền nan cho thanh niên đi hoả tuyến Giặc đánh ta bằng đường bộ thì
ta đi đường thuỷ nhằm đảm bảo cho miền Nam thân yêu không một ngày thiếu lương nhu đạn dược Một chiếc thuyền nan cũng chở được “vài ba tấn, laị dễ cơ động, luồn lách” Những ngày ấy “cả làng Giàng thệt sôi động Người đi lên tận ngã ba sông chở nứa về Người ở nhà đập nứa, vót nan Tiếng dùi nện vào đòn kê nghe râm ran cả một vùng” Nhịp sống ở đây thật náo nức, tất bật “Đêm đan lát, giã gạo Sáng ra bửng mắt
đã quang gánh chợ búa khắp nơi( ) Trâu ra đồng cày cho kịp phần đêm, về nhà sẵn sàng lên trận địa tiếp đạn cho bộ đội Người biết đan thuyền thì nhận về đan không công xá gì, kịp cho binh đoàn thuyền nan ra trận” [33; 301]tạo nên một không khí náo nhiệt, khẩn trương Tất cả đều sục sôi quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ Đến “ngày hạ thuỷ những chiếc thuyền nan, làng Giàng thật sự trở thành ngày hội”, các chiến binh
từ khắp các huyện đổ về, háo hức học cách bơi, chèo thuyền sẵn sàng vào tuyến lửa
Trang 30Nổi bật lên trong hình ảnh dân quân làng Giàng là Ngân- cô cán bộ đoàn của xã
Cô vừa sản xuất, vừa làm công tác xã hội lại vừa tiếp tế cho bộ đội Mọi công việc nặng nhọc cô giành lấy phần hơn mà không nghĩ đến bản thân mình Hạnh phúc riêng
rư Ngân đều gác lại Ngân còn nghĩ đến nhiệm vụ, còn “muốn phụng dưỡng cha mẹ, nuôi đứa em mù loà tội nghiệp” Có thầy giáo Dĩnh đến nhà ở trọ để dạy chữ, Ngân yên tâm cùng binh đoàn thuyền nan đi vào tuyến lửa Người con gái vốn từ nhỏ đã
“thạo sông nước và biết sửa thuyền ngấm nước” nay được giao nhiệm vụ làm đoàn phó binh đoàn thuyền nan là một niềm vinh dự, một sứ mệnh lớn lao Quà tặng Ngân mang về cho em gái sau lần lên đường đầu tiên là mảnh dù pháo sáng, cô khoe “chiếc
dù này rơi xuống thuyền của Ngân ở sông Son” như thể chiến công cô giành được Và
đó cũng là kỉ vật cuối cùng Ngân để lại cho Nga, “Ngân ra đi biền biệt từ ngày ấy”, từ bữa cào hến ở sông Mã và nằm lại ở chiến trường Quảng Bình nhẹ nhàng, thanh thản Người lính vì đất nước thì chết ở đâu cũng là quê hương mình
Qua khảo sát các truyện ngắn về đề tài chiến tranh của Từ Nguyên Tĩnh có thể thấy gắn với những câu chuyện về người lính, người dân quân trong truyện ngắn của ông là những chuyện tình trong sáng, cảm động Tình yêu riêng tư đã hoà quyện với tình yêu quê hương đất nước tạo nên sức mạnh vô biên lấn át bom đạn của kẻ thù Tân chiến đấu không mệt mỏi để bảo vệ cầu Tào bởi nơi thủ đô thân yêu vẫn có người con gái đang hướng về anh với niềm tin yêu, hi vọng Tuyết Mai và San mỗi người ở một chiến tuyến nhưng hứa hẹn “sẽ ra quê Mai thưa chuyện với cha mẹ và họ hàng” Ngân
ra đi vào tuyến lửa bởi một niềm tin vững chắc về tình yêu và trách nhiệm của thầy giáo Dĩnh nơi quê nhà “Nhà Ngân mà có chàng rể như vậy thì phúc đời” Chàng Lung mù- tác phẩm của “nhà điêu khắc chán đời” mỗi lần đệm đàn cho cô thanh niên Toàn hát “đôi tay như có ma lực, nhảy múa trên phím đàn” Mỗi lần “liên hoan văn nghệ, hát mừng chiến thắng”, mỗi lần “lên trận địa gặp gỡ bộ đội vui hát cùng họ” tiếng hát của anh đã phần nào làm dịu đi nỗi đau thân thể của những người lính bị thương và khích lệ thêm tinh thần chiến đấu của họ
Thiêng liêng nhất trong trái tim mỗi con người là nỗi niềm về đất nước Qua những trang văn của Từ Nguyên Tĩnh, những con người Việt Nam nói chung và Hàm Rồng Thanh Hoá nói riêng đi vào mặt trận thật hồn nhiên bản lĩnh Là người lính viết văn, Từ Nguyên Tĩnh đã lách sâu ngòi bút của mình vào tâm hồn đồng đội, những cô
Trang 31thanh niên xung phong để chỉ ra những điểm sáng lung linh trong tâm hồn họ Quân
và dân Hàm Rồng cùng với cây cầu huyền thoại đã trở thành biểu tượng bất tử cho ý chí quật cường, bất khuất trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh và trong lịch sử đất nước
Mỗi một nhà văn trong đời cầm bút bao giờ cũng có duyên nợ với một vùng đất nhất định Đối với Từ Nguyên Tĩnh, làng Bàn Thạch hay là không gian Xứ Thanh không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn của tác giả mà còn là nơi cung cấp cho ông nguồn văn liệu chính và cảm hứng sáng tác Con người ông, tâm hồn ông được tắm đẫm trong không gian, hơi thở xứ Thanh Qua những trang truyện ngắn, Từ Nguyên Tĩnh
đã gửi vào đấy sự hiểu biết, niềm tự hào yêu thương xen lẫn những suy tư, trăn trở đối
của mình đối với mảnh đất quê hương Có thể coi Từ Nguyên Tĩnh là Cây bút Xứ
Thanh như nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã gọi
Trang 32Chương hai THẾ GIỚI NHÂN VẬT ĐA DẠNG, PHONG PHÚ
Nếu lấy cái mốc 1975 để phân chia sự vận động và phát triển của nền văn học Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám mà giai đoạn 1945- 1975 là giai đoạn văn học
sử thi và giai đoạn sau 1975 đến nay là văn học thời kì đổi mới thì Từ Nguyên Tĩnh là nhà văn của cả hai giai đoạn Trưởng thành trong những năm tháng chống Mỹ ác liệt, những trang viết của Từ Nguyên Tĩnh vang lên âm hưởng của một thời đại sử thi Sau khi đất nước thống nhất, chuyển mình mạnh mẽ, để hội nhập và phát triển cây bút Từ Nguyên Tĩnh cũng nhanh chóng gia nhập vào lực lượng những thành viên góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới đời sống văn học Vì vậy thế giới nhân vật trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh thực sự phong phú Sự phong phú ấy vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của sự đa dạng phong phú trong đời sống xã hội Theo khảo sát của chúng tôi, thế giới nhân vật trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh có khá nhiều dạng thức phong phú: nhân vật tư tưởng, nhân vật số phận, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách
2.1 Kiểu nhân vật tư tưởng
Nhân vật tư tưởng là “Kiểu nhân vật tập trung thể hiện một tư tưởng, một ý thức tồn tại trong đời sống tinh thần của xã hội ( ) Nhân vật tư tưởng cũng có thể chứa đựng những phẩm chất tính cách, cá tính và nhân cách Nhưng cá tính và tính cách không phải là hạt nhân tạo nên cấu trúc của nhân vật tư tưởng ( ) loại nhân vật này
thường dễ rơi vào công thức, trở thành cái loa phát ngôn cho tư tưởng của tác giả (Từ
điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học- NXB Giáo dục, năm 2000)
Theo quan niệm trên, trong thế giới nhân vật của truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh
có kiểu nhân vật tư tưởng Kiểu nhân vật tư tưởng này cũng một lúc vừa phản ánh
Trang 33những quan niệm xã hội, vừa phát ngôn cho tư tưởng, nhận thức cá nhân của nhà văn
Nhân vật trong truyện Kiếp cầm ca là cách để tác giả vừa bộc lộ quan niệm của xã hội
về giới làm nghệ thuật và cũng là một cách để tác giả tranh luận với quan niệm, tư tưởng cổ hủ trên bằng phương pháp phản đề thông qua hình tượng nghệ thuật Thằng
Đất và Tuyết Tuyết là hai nhân vật chính trong truyện Kiếp cầm ca
Tuyết Tuyết vốn là cái đĩ Beo, người bên sông, cha mẹ mất sớm làm con nuôi
cụ Cố Cợn Là đứa ở, nhưng “trời lại phú cho cái giọng hát hay từ trong bụng mẹ” Lớn lên, “nó cứ trắng phỡn ra, áo sống mũ mão mới có trên là Tuyết Tuyết” Thằng Đất, gã trai ngụ cư, cái tay chạy xe vô gia cư, không hiểu học được ở đâu ngón đàn sáo “Người ta nói, tay ngụ cư này chính là người chăn trâu thuế cho cụ Cố Cợn, vốn
đã có tình ý với đứa ở là con đĩ Beo” Nếu không được trời ban cho giọng hát và khả năng âm nhạc kỳ tài, có lẽ cu Đất và đĩ Beo đã trở thành một cặp vợ chồng hạnh phúc Bởi cả hai cùng nghèo hèn, cùng tứ cố vô thân nương tựa vào nhau Chúng yêu nhau đến nỗi ngay cả khi Đĩ Beo bị mua đi bán lại, thằng Đất, tay câu cá ngụ cư vẫn vác cần câu giang hồ hết làng nọ qua làng kia, ở đâu sáng đèn là đến, nghe được tiếng thoảng trong đêm là tìm Tìm cô Beo ngày nào…”[33;73] Nhưng khốn nỗi, ông trời vốn oái oăm, ban cho hai kẻ khốn khổ kia những khả năng hiếm có: Tuyết Tuyết có
“giọng hát hay từ trong bụng mẹ”, thằng Đất chăn trâu có tài chỉ cần nghe lỏm là học được các ngón đàn Số phận ban cho chúng kiếp “đào nương” và “ca công” “Xướng
ca vô loài”, ai quan tâm đến chúng, càng không có ai để ý đến tình yêu của chúng Chúng đâu được coi là kiếp con người Mà chúng cũng ghê gớm thật Ai đời khi Tuyết Tuyết đã được bán cho quan Tây, thành bà “đầm”, được đưa về trời Tây thế mà chúng vẫn không chịu rời Thằng Đất dù “lội nước sâu cũng mặc phải đánh được đàn cho Tuyết Tuyết hát”, hắn được quan Tây cho đi theo làm phu đánh đàn Song, chúng lại thành một đôi tình nhân bất chính Thoát chết lần ấy chúng vẫn không chịu từ bỏ nhau Thằng Đất còn lặn lội sang trời Tây một lần nữa nhờ tiếng đàn Song lần này thì cả hai được toại nguyện: “Người ta bảo quan trông coi việc đào sông sau này làm đến chức
Bộ trưởng tài phiệt Ngài mới đóng cũi nhốt thằng Đất và con Beo, chỏ tàu thủy đưa
về La Đá Hạ (…) Ngài sai bọn phu làng hồ đưa xuống bè, nhốt hai đứa vào một cũi, dìm xuống lòng hồ”[33,79]
Trang 34Nửa sau của câu chuyện, Từ Nguyên Tĩnh lại đặt ra vấn đề khác: “Người ta bảo, xuống đó mà Đất vẫn còn đàn, Tuyết Tuyết vẫn hát Vì vậy đêm đêm người kéo vó te,
kẻ đi đánh cá trộm vẫn nghe được tiếng đàn của Đất và tiếng hát của Tuyết Tuyết lay động cả lòng hồ La Đá Hạ” “Vào những đêm mưa thâm gió bấc …họ thấy trên mặt
hồ La Đá Hạ nổi lên con thuyền mờ ảo như mà đêm con thuyền nhẹ bẫng trôi trên màn sương khói, có tiếng đàn sáo đâu tận lưng trời…Người ta tin Đất và Tuyết Tuyết vẫn còn đấy Đâu đây trong khí động của lòng hồ…”[33, 79- 80] Phải chăng tác giả muốn minh chứng cho sự bất tử của tình yêu và nghệ thuật? Tác giả mượn lời người dân vùng La Đá Hạ để “luận” về kiếp cầm ca: „Từ anh chàng cày thuê cuốc mướn đến
cụ tiên chỉ, chức dịch trong làng, con mụ mắt lé, miệng méo ế chồng những ngứa miệng có dịp bàn đến chuyện hát xướng là y như rằng ra giọng cao đạo làm bộ măt khinh khi: cái lũ vô loài hèn hạ Ai bảo việc gì mà khóc cười, bó gối chau mày, đau đời kia chứ? Chúng nó làm gì cho cuộc đời này nhỉ? Tiếng đàn lồ ca ấy có làm cho ai chết được đâu…” Nhưng lạ lùng thay “vắng tiếng đàn dạo của thằng Đất và lời buong lơi của ả Tuyết Tuyết họ thấy thiêu thiếu một bộ phận nào đó trong con người Bụng
no rồi, lại càng thấy thiếu Một lúc nào đó, dù thảng hoặc hiếm hoi nhận ra rằng: tất cả mọi thứ bậc đều nợ nần thằng Đất và Tuyết Tuyết Ai cũng được nghe mà chưa một lần trả nợ cho cái kiếp cầm ca lạc loài” Hơn thế, tác giả còn giả tưởng: “Nếu trong cùng một lúc, mất hết tiếng đàn và lời ca rẻ rúng ấy nhỉ Thì loài người sẽ thành cái quái gì đây?” Người ta còn truyền miệng cho nhau “Vì trái đất đầy buồn nản Dù có cơm rượu no say vẫn thiếu thốn, mong có thú vui và trọn vẹn…Tạo hóa động lòng trắc
ẩn mà nứt nòi ra những sinh linh bé nhỏ, đem tiếng đàn và giọng hát làm dịu đi nỗi đau của sự nhọc nhằn đời người” Sự phỉ báng bị trả giá Người La Đá Hạ không khỏi ngậm ngùi nuối tiếc…
Như vậy, câu chuyện của thằng Đất và cái đĩ Beo Tuyết Tuyết chỉ là bịa đặt Hai nhân vật giả tưởng để tác giả thử lý giải nguyên nhân của lời nguyền rủa định mệnh: xướng ca vô loài Tình yêu của thằng Đất và Tuyết Tuyết bị cho là “vô loài” bởi nó tự do và mãnh liệt, nó phá vỡ mọi trật tự, khuôn phép của lễ giáo phong kiến Thằng Đất say đắm Tuyết Tuyết không chỉ vì nhan sắc mà trước hết là vì giọng hát mê hoặc Sức cám dỗ của nghệ thuật thật ghê gớm, người ta sợ ma lực của nó và cho rằng
Trang 35ma lực của nó có thể xui khiến người ta quên hết mọi khuôn phép, mọi trật tự lễ giáo, thành ra “vô loài”
Song, từ sự cảnh báo đến thành phủ nhận nghệ thuật là cả một vấn đề Mượn câu chuyện của thằng Đất và Tuyết Tuyết để mong giải tỏa một tư tưởng đã có từ bao đời Tác giả đã chỉ ra sự cực đoan, định kiến bảo thủ, lệch lạc của thái độ, cách nhìn nhận ấu trĩ một thời về nghệ thuật và giới nghệ thuật là câu chuyện của quá khứ, nhưng ngay cả bây giờ liệu có còn quan niệm ấy trong tư tưởng của con người hiện nay không? “Luận” về “kiếp cầm ca”, tác giả ghi nhận công lao to lớn của những con người sống chết vì con người mà lại chính con người bạc đãi: Họ đã “làm dịu đi nỗi đau của sự nhọc nhằn đời người”
Truyện ngắn Hạnh phúc trần gian cũng thuộc loại truyện tư tưởng Hai nhân vật
Doanh và Gioóc-Đanh là hai nhân vật tư tưởng phát ngôn cho quan niệm: hạnh phúc không ở nơi đâu xa xôi, cũng không tự dưng mà có Nó có thể tự tìm đến với mỗi số phận, nhưng nếu không biết gìn giữ, không biết nâng niu trân trọng thì nó sẽ vuột ra khỏi tầm tay mà không thể kiếm tìm lại được
Doanh từng là người có chức quyền, luôn đứng trên danh vọng, anh đã từng ném chút đỉnh bố thí những đồng bạc rơi rụng cho những kiếp người khổ ải Một chữ
ký của anh chứa đựng sức mạnh của đồng tiền và quyền lực Cái hạnh phúc hơn của anh là có “một tổ ấm nho nhỏ và người vợ xinh đẹp, hiền lành” Đối với bao người đó
là niềm mơ ước một đời song với Doanh tất cả vẫn không chế ngự được trái tim đầy tham vọng Tham vọng chính là động lực để người ta thành đạt hơn, giúp con người có
ý chí và sự quyết tâm cao độ, nhưng nếu tham vọng quá nó khiến con người ta trở nên tàn nhẫn lạnh lùng Doanh là con người như vậy, anh đã trở thành “thằng chồng khốn nạn phụ bạc, có chức vụ bé nhỏ đã lừa gạt vợ” để ra đi tìm sự giàu có Doanh “vứt bỏ quá khứ” để đi tìm hạnh phúc ở “chân trời khác lạ” Nơi đó không phải là quê hương
mà ở phía bên kia bờ đại dương xa xôi mờ mịt Con người vốn tham lam, đứng trước
sự cám dỗ khó biết đâu là giới hạn
Nhưng cái viễn cảnh huy hoàng diễm lệ ấy đâu không thấy, Doanh chỉ thấy mình “là cọng rác, là bọt nước” giữa đại dương mênh mông huyền bí Sự may rủi của tạo hoá đã ban cho Doanh sự sống lần hai Cái hạnh phúc đầu tiên oà vỡ sau những ngày trôi dạt trên biển “ôi! Sống rồi Sống lại thật rồi” Khi con người ta đối diện giữa
Trang 36sự sồng và cái chết mới thấy “yêu quý cuộc sống xiết bao” Giọt nước mắt muộn mằn đầy sự hối hận “tại sao lại ngu muội dám liều lĩnh huỷ hoại thân xác, vứt bỏ cuộc sống của mình” Bát cháo cá của lão Gioóc-Đanh, ân nhân cứu mạng Doanh khiến cho anh cảm nhận được hương vị ngọt ngào của cuộc sống, cái hương vị mà bao nhiêu năm nay Doanh chưa được nếm bởi sự no đủ của những món ngon vật lạ Doanh tự lục vấn mình “tại sao lại thích ra đi tìm sự giàu có mà vứt bỏ quá khứ nhỉ? Giàu có làm gì khi
có một tổ ấm nho nhỏ và người vợ” [33; 493] Anh cay đắng nhận ra bao nhiêu năm nay mình chưa được sống thật sự theo đúng nghĩa, cả đời toàn “lăn lộn, bon chen lừa gạt” Doanh “không nghĩ được điều gì hay ho” Cái hạnh phúc bình dị là được sống nơi trần gian, được làm người lương thiện bây giờ anh mới nhận ra Hoá ra lâu nay anh chỉ làm bạn với những kẻ cũng đầy tham vọng, mưu mô và cơ hội; những con người biết chấp nhận và trân trọng cuộc sống như lão Gioóc-Đanh bây giờ anh mới được gặp Chính lão và vợ lão (lại là người vợ mà Doanh đã từng ruồng bỏ ) đã giúp Doanh nhận ra được giá trị của hạnh phúc nơi trần gian Cuộc sống hạnh phúc không phải là luôn gồng mình, là căng lên với tất cả Hãy sống bình dị để đời thanh thản, đó chính là triết lí mà Từ Nguyên Tĩnh muốn gửi đến độc giả
Còn Gioóc-Đanh lại cũng từng có tất cả những điều mà người đời khao khát,
“được ăn học, nếm trải đủ mùi sinh viên” Cuộc đời vinh hoa như trải thảm trước mắt Gioóc-Đanh, có thể về “bất cứ trường nào ở nước Nam này để làm giáo học, làm thầy
ký xuất hiện cùng quan hàng tỉnh” Tuy nhiên, cũng như Doanh lão khó mà thoả mãn với những gì mình đã có, “sự ngông cuồng đã cướp đi cuộc đời và ước mơ”, Gioóc-Đanh đành “bán xới ra cùng đại dương Sống cô đơn cùng mênh mông của vũ trụ” Cuộc sống ăn sóng nằm gió thấm thía vào Gioóc-Đanh nỗi khổ cực của trần gian “mỗi lần kiếm được con cá là gặp sự chết chóc Thách thức cuộc đời với cái chết” Cái đam
mê khát vọng một thời đã lùi vào quá khứ để nhường chỗ cho chân lý “dẫu nghèo khó cũng phải sống làm con người nơi mặt đất” Gioóc-Đanh không còn ý nghĩ trở về cố hương, nơi đây chính là quê hương của lão
Nhưng điều quan trọng hơn nơi đây chính là thiên đường của Gioóc-Đanh Cả thời trai trẻ lão đã hi sinh cho đại dương, đã thế lại cho hai chàng trai trẻ vào đất liền tìm vợ, một mình nơi đầu sóng ngọn gió làm tín hiệu cho tàu Nhưng cũng chính từ đại dương lão lại “nhặt” hạnh phúc bất ngờ đó là một “nàng tiên” Nàng là nửa phần còn
Trang 37lại mà đời lão thiếu thốn, là “một phép màu để sống” mà tạo hoá “kì quặc” đã ban cho lão, giúp lão thêm một lí do chính đáng nữa để tồn tại ở bờ biển nắng gió này Và điều quan trọng hơn nàng đã “đánh thức trái tim lầm lạc” của Gioóc-Đanh, cho lão biết lão còn có ý nghĩa biết bao với cuộc đời này Trong con mắt nhân gian, Gioóc-Đanh là một “gã trai bại trận” nhưng với nàng lão là “người đàn ông vĩ đại”, thậm chí là
“Thượng đế” Thượng đế của sự hi sinh và lòng nhân ái vì vậy “nếu mà gặp thì dù ở đảo xa xôi hay trên rừng núi cũng sống trọn đời” Nàng đã dành cho lão một “hạnh phúc trọn vẹn” bằng tình yêu lẫn sự hàm ơn và cảm phục
Hai nhân vật tiêu biểu cho quan niệm mới về con người, đó là kiểu con người sám hối, thức tỉnh đầy suy tư, dằn vặt Từ Nguyên Tĩnh không đi sâu vào lí giải cuộc đời hai nhân vật với những biến cố, sự kiện mà ông chú tâm khai thác quan điểm cá nhân của mỗi người trước cuộc đời để đưa ra những triết lí nhân sinh sâu sắc, một quan niệm xã hội trong cách nhìn nhận hạnh phúc Họ trở thành “cái loa phát ngôn” cho chính những tư tưởng của tác giả Hạnh phúc của con người không phải là cái gì phù phiếm, không thuộc sở hữu của mình Nó cũng không phải là đồng tiền, địa vị Hạnh phúc không ở nơi đâu xa lạ mà con người cứ băn khoăn kiếm tìm, nó ở ngay trong chính những cái bình dị bên cạnh chúng ta Tình yêu của lão Gioóc-Đanh không nằm ở những địa vị đầy sự hứa hẹn và “thân thể ngọc ngà” của “con đầm non tơ” mà ở nơi đại dương mênh mông với nàng tiên của mình Hạnh phúc của Doanh cũng không nằm ở bên kia bờ đại dương với tương lai xa hoa huyễn hoặc, ở những đồng tiền ô trọc
mà ở ngay “trần gian” với cuộc sống đời thường Nhân vật Doanh tiêu biểu cho quan niệm về con người của văn học sau 75, đó là kiểu con người sám hối thức tỉnh đầy suy
tư dằn vặt Chính điều đó con người mới nhận ra chân lí của cuộc sống và định hướng cho sự phát triển nhân cách
Cũng đề cập đến phẩm chất con người, xã hội quan niệm trong mỗi chúng ta ai cũng có hai mặt đối lập đó là cái xấu và cái tốt hay đều có quỷ sứ và thiên thần, “rắn rít và rồng phượng” tồn tại, “chỉ hơn kém nhau là sự nhốt giữ kẻ đạo tặc ấy hay thả rông ra mà thôi” Quan niệm ấy được Từ Nguyên Tĩnh hình tượng hóa thành hai nhân vật Quỷ sứ và Thiên thần trong truyện ngắn cùng tên
Quỷ sứ theo truyền thuyết được hiểu là quỷ dưới âm phủ, chuyên hành hạ linh hồn những người có tội Còn Thiên Thần lại là thần ở trên trời cao luôn ban phước
Trang 38lành cho loài người Tuy nhiên khi đi giải thích hình tượng, nhà văn đã có những quan điểm riêng Quỷ sứ và Thiên thần ở đây không phải là những nhân vật cụ thể với những đặc điểm tính cách, với những hành động thể hiện sứ mệnh của mình mà đó là những nhân vật mang tính biểu trưng Qủy sứ là đại diện cho những cái xấu xa, tàn ác,
đê tiện, còn Thiên Thần tượng trưng cho những gì đẹp đẽ, cao cả, thánh thiện
Quỷ sứ đôi khi được ẩn “dưới một khuôn mặt đẹp” cũng như cái xấu đôi khi đươc che đậy bởi vẻ bề ngoài hào nhoáng, mỹ miều Nếu như con người ta không đủ tỉnh táo sẽ “không sao tránh được sự cám dỗ của nó”, khiến con người ta “mê mẩn tâm hồn” để làm những việc trái luân thường đạo lí Còn Thiên thần có một đạo đức “lấy ai
so được”, thiên thần tốt đến nỗi “đi đến đâu là tỏa ra vầng hào quang ban phát cho người”, có sức mạnh “cải hóa làm cho con người thấy lối sống cần mà sống” thế nhưng khổ nỗi hắn lại yêu Quỷ sứ Thiên thần ở trên trời cao, quỷ sứ ở địa ngục và con người ở trần gian, vì vậy, con người là sự giao thoa, gặp gỡ của hai nhân vật đối lập trên Cuộc hôn nhân của chúng chính là sự tồn tại song song hai phẩm chất trong mỗi con người
Quỷ sứ (cái xấu) và Thiên thần (cái đẹp) lúc ở bên nhau, chúng “giống nhau quá thể tới mức nhầm lẫn, ăn mặc của cộng đồng sao giống nhau thế”, có nghĩa là về hình thức chúng tương đồng, trùng lặp đến mức làm người đời khó phân biệt Người tỉnh táo sẽ nhận ra đâu là quỷ sứ để né tránh, rời xa còn người ngu muội sẽ để cho nó dẫn đường chỉ lối Chệch đi một chút sẽ là xấu hoặc sẽ là tốt khó phân định ranh giới Và khi “con người không ý thức được mình, chỉ còn thú vui thể xác”, sống tận cùng với nỗi “ham mê” rộng ra là làm những điều tàn ác xấu xa khác thì chính là lúc cái xấu (quỷ sứ) trong mỗi con người đang lấn lướt cái tốt, cái tốt nhoà đi tan biến ra và con người chỉ còn mang trong mình bản chất của quỷ
Có những khi để dung hòa hai mặt ấy trong một con người, người ta phải để cho chúng biến hoá khôn lường Có khi Quỷ sứ “phải nhập vào cô gái xấu xí(tồi tệ thay cái xấu xí) còn Thiên thần hiện nguyên hình đẹp đẽ” và ngược lại có khi “nàng hiện nguyên hình là một cô gái đẹp và chàng phải khoác bộ mặt xấu xí” để được bên nhau Song tính cách con người luôn có sự vận động, chuyển hoá “dẫu thiên thần nhưng cũng bị quỷ sứ quyến rũ nên tan biến mình ra có khác gì qủy sứ đâu” “Nguy hại thay khi qủy sứ quá ham muốn làm người .có ai biết được hậu quả của Quỷ sứ gây
Trang 39ra Còn Thiên thần còn nhớ gì vai trò của mình nữa, biến thành quỷ sứ mất rồi Họ làm loạn cả loài người ” Như vậy dù có tuyệt đối là thiên thần, trong sáng và thánh thiện nhưng con người ta ở phút giây nào đó cũng trở thành ác quỷ với những điều xấu
xa, vị kỉ Và có thế mới đúng là bản chất của con người, đa chiều và phức tạp, toàn diện và sâu sắc
Nhưng bản chất con người là hướng thiện vì vậy nhiều lúc Quỷ sứ và Thiên thần “nhập vào đánh nhau trong một con người” cũng như cuộc đấu tranh của cái xấu
và cái tốt, cái thiện và cái ác để con người đi tới hoàn thiện bản thân Đó là cuộc đấu tranh đầy dằn vặt, đau đớn mang tính lựa chọn, đôi khi sự lựa chọn thật sự nghiệt ngã Thiên thần vốn đẹp và mong manh yếu ớt còn “Quỷ sứ thì khỏe nên cái xấu và cái ác đầy ra đấy” [37; 466] Song đấy chỉ là sự thất bại tạm thời, dù trên trái đất này có nhiều người xấu nhưng nếu “ đi tìm còn gặp ối người tốt lành” Cái ác không thể ngự trị được; cái đẹp, cái tốt vẫn là chủ nhân của trái đất Người có tư chất có bản lĩnh sẽ nhận ra đâu là Quỷ sứ, đâu là Thiên thần mà kìm chế hay nuôi dưỡng
Qua hai nhân vật tư tưởng Quỷ sứ và Thiên thần, Từ Nguyên Tĩnh đã bày tỏ quan điểm về phẩm chất con người Con người không phải ai cũng hoàn toàn tốt hay hoàn toàn xấu Trong chúng ta luôn luôn diễn ra sự thống nhất và đấu tranh giữa những mặt tốt và mặt xấu để con người trở nên hoàn thiện hơn Đó là cách nhìn đời, nhìn người đầy biện chứng Nhà văn cũng giúp chúng ta nhìn lại bản thân mình để thử xem ta thuộc cung bậc nào trong cõi đời này từ đó định hướng cho sự phát triển nhân cách
Ngoài những nhân vật trên còn một số nhân vật chưa có tầm vóc của nhân vật tư tưởng nhưng qua đó nhà văn muốn gửi gắm những triết lí nhân sinh sâu sắc như Tịnh
trong Đò dọc, sư cụ trong Cái chết của sư cụ chùa Tụng Thiên, Thuyết tiến sĩ thần học trong Mẹ, Nếu như nhân vật Doanh nhận ra hạnh phúc của con người là được sống
ở trần gian thì Tịnh cũng nhìn thấy ý nghĩa cuộc đời trong ước mơ giản dị khiêm nhường và biết chấp nhận nó Đến nhân vật sư cụ tư tưởng triết lí thể hiện ngay trong câu nói của người em trai của ông “trời ơi có tôn giáo nào dễ dãi không để anh tôi khỏi chết oan chết uổng vì làm điều thiện” Câu nói chứa sức nặng của triết lí: chết oan vì làm điều thiện là bi kịch như có người đã nhận xét Còn ông tiến sĩ thần học lại là thông điệp mà nhà văn muốn gửi tới người đọc: sự thành công của con người phải có
Trang 40giá trị thực tiễn chứ không phải là những lí thuyết sáo rỗng, lừa bịp mang tính phiếm luận Như vậy, qua mỗi nhân vật nhà văn đều kí gửi vào đấy những tâm sự, suy tư, chiêm nghiệm, triết luận của mình đồng thời đi mổ xẻ, phân tích nó để tìm ra bản chất bộn bề, sinh động của cuộc sống
2.2 Kiểu nhân vật số phận
Có thể coi “nhân vật số phận” như một dạng thức khác của “nhận vật tư tưởng” Nhân vật số phận thường gánh trên vai gáng nặng số phận mà trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh phần lớn có số phận khổ Loại “người khổ” này có thể do “hồng nhan bạc phận” như chị Kén, có thể do sinh ra đã khổ như Lung mù, có thể do bị áp bức như Đỏ Cao Nhân vật số phận không được quan tâm nhiều đến tính cách mà chủ yếu được miêu tả trong hoàn cảnh, thân phận Kén trong truyện ngắn Kiếp người là biểu tượng cho thân phận “hồng nhan bạc phận” Qua kiểu nhân vật này, Từ Nguyên Tĩnh thể hiện một cái nhìn xót thương, bao dung, đối với những “kiếp người” trầm luân, đau khổ
Như đã phân tích, Kiếp người là câu chuyện viết về cuộc đời cô Kén hồng nhan
song bị số phận bạc đãi, vùi dập đến ê chề Đọc truyện, độc giả không khỏi miên man cho số kiếp một con người bị hệ lụy bởi những tư tưởng lạc hậu, cổ hủ Chị Kén nhân vật xuất hiện đầu câu chuyện với vẻ đep rực rỡ Cả làng Bàn Thạch ai cũng “trầm trồ khen chị đẹp”, ai cũng “muốn cưới hỏi cho con mình” Cuộc hôn nhân của chị với anh Lượng hứa hẹn một cuộc đời đầy hạnh phúc nhưng bất hạnh lại nhanh chóng ập xuống Chị Kén trở thành bà góa khi mới qua tuổi hai mươi
Những chuỗi ngày sống cuộc sống khốn tiếp đó vùi dập và dày vò người phụ nữ tội nghệp Từ một cô gái xinh đẹp, con nhà tử tế, chị Kén bị đối xử như một thứ đồ vật, bị khinh khi, bị chà đạp hạ nhục Chị ra đi trong lạnh lẽo và khốn cùng
Chị Kén là nhân vật điển hình cho kiểu nhân vật số phận bất hạnh trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh Chị Kén mang cái kiếp sinh ra đã khổ, cái khổ bủa vây tất cả không một chút ánh sáng, một tia hi vọng Viết về cuộc đời chị Kén ta thấy nỗi đau của nhà văn dường như trào ra đầu bút Đó là nỗi đau của một trái tim nhân hậu thấy được những bi ai của loài người Câu chuyện cũng mang bóng dáng cuộc đời người chị gái bạc phận của Từ Nguyên Tĩnh, nó như một nén hương mà nhà văn muốn thắp lên cho ngườiđàn bà xấu số