Nghiên cứu vấn đề Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về cảm quan đời sống, về những thể nghiệm, sáng tạo mang tính cách tân nghệ thuật
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thế giới nghệ thuật là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
quan trọng trong nghiên cứu văn học Khi đọc văn bản ngôn từ hay xem phim
trên màn ảnh, xem biểu diễn trên sân khấu, chúng ta bước vào thế giới nghệ thuật của tác giả, một thế giới sống động, đầy ắp xung đột, buồn vui, hạnh
phúc, đau đớn…
Một thế giới nghệ thuật nhất định với tư cách là hệ thống không chỉ
đặc trưng cho tác phẩm đó, mà còn đặc trưng cho cả nhà văn nói chung Likhachev cho biết: Văn học diễn tấu lại bản đàn của hiện thực, nhưng diễn tấu lại theo các khuynh hướng “tạo phong cách” tiêu biểu đối với sáng tác của nhà văn nào đó hay “phong cách thời đại” nào đó Các khuynh hướng phong cách ấy làm cho tác phẩm đa dạng hơn, phong phú hơn về phương diện nào đấy so với thế giới hiện thực, mặc dù nó là tỷ lệ rút gọn một cách ước lệ
Nghiên cứu cấu trúc của thế giới nghệ thuật vừa cho ta hiểu hình tượng nghệ
thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả về thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cái thế giới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật
1.2 Phạm Duy Nghĩa sinh năm 1973, là một cây bút trẻ đồng thời cũng là một cái tên còn mới mẻ trong giới cầm bút nước ta Tính tới thời điểm
này, anh mới trình làng ba tập truyện ngắn: Đường về xa lắm, Cơn mưa hoa mận trắng và Tiếng gọi lưng chừng dốc Tuy nhiên, các truyện ngắn của anh
thường khơi sâu vào những vấn đề mà nhiều cây bút khác ít quan tâm - đó là cuộc sống của những người giáo viên cắm bản bốn mùa chìm trên vùng cao Tây Bắc hẻo lánh Có thể thấy, Phạm Duy Nghĩa đã sớm tìm cho mình một
lối đi, và đã gặt hái được thành công lớn với truyện ngắn Cơn mưa hoa mận
Trang 2trắng - tác phẩm đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ - Hội nhà
văn Việt Nam năm 2004 Là người con của núi rừng Tây Bắc, Phạm Duy Nghĩa đã chắt chiu vốn sống từ những trải nghiệm của mình để khẳng định một cái tên riêng gắn liền với đề tài miền núi Có ý kiến cho rằng: “Phạm Duy Nghĩa đã và đang góp phần làm nên sự sang trọng của văn chương miền núi”, [38, Tr.15] Trung thành với đề tài miền núi, Phạm Duy Nghĩa đã lựa chọn một thể loại phù hợp với “gu” của mình đó là truyện ngắn Anh từng tâm sự:
“Mình vẫn chỉ độc canh bằng truyện ngắn Nhà văn Ma Văn Kháng có nói rằng: viết truyện ngắn là đi bắn vài con chim, làm tiểu thuyết là đi săn hổ dữ Lưng vốn mỏng, không dám nghĩ đến chuyện quy mô, bề thế, nên có lẽ suốt đời mình vẫn chỉ bắn chim thôi” [28, Tr 5] Như một duyên nợ hẹn trước, tên tuổi Phạm Duy Nghĩa đã gắn liền cùng thể loại truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn đề tài miền núi
Trong hành trình lao động nghệ thuật, Phạm Duy Nghĩa đã có những
tìm tòi, thể nghiệm riêng và đã xây dựng nên một thế giới nghệ thuật độc
đáo Thế giới ấy là sự tổng hoà mối quan hệ của các yếu tố như: nhân vật, thời gian, không gian, ngôn ngữ, giọng điệu… và chúng tạo thành một chỉnh thể thống nhất Phạm Duy Nghĩa luôn có ý thức đem đến cho bạn đọc một thế giới tư tưởng, thế giới thẩm mỹ, thế giới tinh thần có giá trị cao về mặt nghệ
thuật Nghiên cứu vấn đề Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về cảm quan đời sống, về những thể
nghiệm, sáng tạo mang tính cách tân nghệ thuật, kỹ thuật biểu hiện trong các truyện ngắn của nhà văn Đây cũng là con đường để bạn đọc đến gần hơn với văn học đương đại, tiếp xúc với một nền văn học đầy biến động thể hiện ở sự góp mặt của hàng loạt cây bút trẻ
Trang 32 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phạm Duy Nghĩa là một gương mặt không còn xa lạ với bạn đọc Việt Nam,
dù anh mới xuất hiện trên văn đàn Tập truyện ngắn đầu tay của anh Tiếng gọi lưng chừng dốc trình làng năm 2002 và tập truyện gần đây nhất là Đường về
xa lắm xuất bản năm 2007 Bởi vậy, những công trình nghiên cứu về nhà văn
này chưa thật phong phú Nó mới chỉ dừng lại ở những lời giới thiệu tác phẩm, những bài điểm sách trên các trang web, những cuộc phỏng vấn trao đổi Qua những cuộc trả lời phỏng vấn, Phạm Duy Nghĩa đã trực tiếp phát biểu đôi chút về những vấn đề liên quan tới tác phẩm, chẳng hạn như: quan niệm về nghệ thuật, quan niệm về nghề viết… Có thể điểm qua một vài cuộc trao đổi tiêu biểu sau: Trò chuyện giữa Phạm Duy Nghĩa và Phong Điệp đăng
tải trên trang web phongdiep.net: Cuộc sống gợi những nỗi niềm nhân văn, trò chuyện giữa Phạm Duy Nghĩa và bạn đọc trong chương trình Talk với người nổi tiếng đăng tải trên trang web youtube com
Những bài viết liên quan tới tác phẩm của Phạm Duy Nghĩa không nhiều, chủ yếu là những bài được đăng tải trên các website văn học Trước hết, phải kể đến những lời giới thiệu, lời bình ngắn về tác phẩm của Phạm
Duy Nghĩa của các tác giả, các nhà nghiên cứu phê bình như: Dạ Ngân (Đi tìm Cơn mưa hoa mận trắng), Hoàng Thu Phố (Phạm Duy Nghĩa với Cơn mưa hoa mận trắng), Sương Nguyệt Minh (Phạm Duy Nghĩa - trong trẻo và nồng nàn một cõi nhân sinh)
Trong bài viết Đi tìm Cơn mưa hoa mận trắng, tác giả Dạ Ngân đã
chỉ ra những đặc điểm về nhân vật và không gian trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa: “Cái mạnh của Phạm Duy Nghĩa khi nhập đồng với thế giới nội tâm nhân vật là biểu hiện được tâm trạng, để đồng cảm chia sẻ vui buồn phẫn uất… Nghĩa là anh rất hiểu tâm lý nhân vật, có thể tìm thấy ở các đoạn độc thoại, các tình huống phản ứng tức thì Không gian nghệ thuật của Phạm Duy
Trang 4Nghĩa thật rộng lớn, đa dạng Trước hết, nó là một miền núi hoang sơ, cổ kính, văn minh công nghiệp hầu như chưa tràn đến nhưng vẫn âm thầm cảm nhận được hơi thở thời đại Nhân vật của anh hoạt động và bộc lộ tính cách trong các cảnh huống khác nhau ở không gian này nên khi đọc không cảm thấy lặp lại và nhàm chán”
Nhà văn Sương Nguyệt Minh ở bài viết Phạm Duy Nghĩa - trong trẻo
và nồng nàn một cõi nhân sinh đã chỉ ra những điểm độc đáo, riêng biệt của truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa trong tập truyện Cơn mưa hoa mận trắng:
“Tôi không tuyệt đối hoá cái hay của Nghĩa, nhưng tôi không thể bắt chước được, không thể hư cấu, thêm chi tiết hoặc như cái gọi là nâng cao tác phẩm hay hơn nữa; không thể cấu trúc lại theo ý muốn của mình để nó hay hơn
Tóm lại là tôi bất lực Với tập truyện này, thậm chí chỉ với truyện ngắn Cơn mưa hoa mận trắng, Phạm Duy Nghĩa đã trở thành một nhà văn đích thực”
Có thể thấy, những bài viết của Dạ Ngân, Hoàng Thu Phố là những bài nghiên cứu đầu tiên có tính chất học thuật về truyện ngắn của Phạm Duy Nghĩa Song, nhìn chung, các tác giả này đều tập trung vào phân tích, đánh giá những cách tân, đổi mới trên phương diện hình thức nghệ thuật ở từng yếu
tố riêng lẻ, chưa có bài viết nào tập trung đi sâu vào các bình diện thuộc thế giới nghệ thuật truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa với tư cách là một chỉnh thể
Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn triển khai đề tài Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa như là sự đóng góp thêm một hướng tiếp cận
tác phẩm của nhà văn này dưới sự soi sáng của lý thuyết Lý luận văn học hiện đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài đã chọn, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu thế giới nghệ thuật
trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa Trong quá trình nghiên cứu những biểu
Trang 5hiện của nó, người viết có sự liên hệ so sánh với một số tác phẩm văn xuôi hiện đại khác nhằm làm sáng tỏ nét độc đáo trong sáng tạo của nhà văn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thế giới nghệ thuật là một phạm vi rộng thể hiện qua nhiều phương
diện như: nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, không gian, thời gian, quan niệm nghệ thuật… Các yếu tố này thể hiện đan xen vào nhau trong tác phẩm và phụ thuộc vào tư duy của nhà văn, góp phần làm nên tính sinh động của cái được miêu tả Tuy nhiên, trong khuôn khổ của khoá luận và qua thực tiễn khảo sát
tác phẩm, người viết chỉ khai thác một số biểu hiện rõ nhất của thế giới nghệ thuật, đó là: thế giới nhân vật, không gian và thời gian, ngôn ngữ và giọng
điệu
Nhóm tác phẩm mà chúng tôi chọn làm đối tượng nghiên cứu gồm 3 tập truyện ngắn của Phạm Duy Nghĩa:
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
Phương pháp này giúp chúng ta xem xét, nghiên cứu và tách đối tượng
ra thành nhiều yếu tố (mỗi yếu tố có chức năng, nhiệm vụ khác nhau) Phân chia như thế, phương pháp này giúp người nghiên cứu nhận ra được sự tác động chi phối là trực tiếp hay gián tiếp giữa các yếu tố trong cùng một hệ thống
4.2 Phương pháp so sánh hệ thống
Phương pháp này giúp chúng ta nhận thức đúng hơn về bản chất vấn
đề Qua so sánh để thấy được sự giống nhau, khác nhau của các yếu tố trong cùng một hệ thống Từ đó, phát hiện cái riêng, cái độc đáo của mỗi hệ thống
Trang 64.3 Phương pháp xác định lịch sử phát sinh
Theo cách gọi của M.B Khrapchenco thì đây là phương pháp nghiên cứu phát sinh lịch sử Phương pháp này chủ trương nghiên cứu văn học cũng như các trường phái, nhà văn, tác phẩm, phương pháp sáng tác từ nguồn gốc trong đời sống xã hội Nó cũng chủ trương giải thích sự phát triển của văn học, sự đấu tranh giữa các trào lưu, sự thay thế hiện tượng văn học này với hiện tượng văn học khác, sự tương tác, mâu thuẫn hoặc sự kế thừa có đổi mới của từng hiện tượng, từng giai đoạn văn học
Từ quan hệ giữa văn học và đời sống, việc lý giải các hiện tượng văn học trên cơ sở lịch sử xã hội là quan điểm đúng đắn mang lại nhiều sự lý giải thuyết phục, khắc phục được hạn chế của những khuynh hướng nghiên cứu nội quan, quá thiên lệch vào việc giải thích văn bản văn học và tính tự trị của
nó
4.4 Phương pháp khảo sát đối tượng theo quan điểm loại hình Phương pháp này giúp cho việc định hướng nghiên cứu vấn đề một cách đúng đắn, nhất là những vấn đề mới Bởi yếu tố cơ sở loại hình có thể biến đổi nhưng vẫn đạt được sự ổn định tương đối cùng với các đặc tính dân tộc
5 Nhiệm vụ, mục tiêu của khoá luận
5.1 Nhiệm vụ của khoá luận
- Xác lập một cách hiểu thống nhất về thế giới nghệ thuật và những
yếu tố cấu trúc của nó
- Chỉ ra được điểm độc đáo, mới mẻ của thế giới nghệ thuật trong
truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa
5.2 Mục tiêu của khoá luận
Khoá luận hướng tới mục tiêu tìm ra những điểm độc đáo, mới mẻ của
thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa Trên cơ sở đó, khoá
Trang 7luận nêu lên những đánh giá về tài năng và những đóng góp cũng như vị trí của Phạm Duy Nghĩa trong nền văn học đương đại
6 Đóng góp của khoá luận
- Khái quát lý thuyết về thế giới nghệ thuật, vận dụng để tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa
- Chỉ ra và phân tích những khía cạnh mới của thế giới nghệ thuật
trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa trong tương quan với một số nhà văn đương thời Qua đó, khẳng định vị trí của Phạm Duy Nghĩa trong đời sống văn chương đương đại
7 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung được chúng tôi triển khai thành hai chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thế giới nghệ thuật
Chương 2: Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa
Trang 8NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
1.1 Quan niệm về thế giới nghệ thuật
1.1.1 Thế giới vật chất
“Thế giới” là một khái niệm thuộc phạm trù triết học Theo Từ điển triết học, “thế giới” có thể được hiểu theo các nét nghĩa sau:
Theo nghĩa rộng: Thế giới là toàn bộ hiện thực khách quan (tất cả
những gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức con người) Thế giới là nguồn gốc của nhận thức
Theo nghĩa hẹp: Thế giới dùng để chỉ đối tượng của vũ trụ, nghĩa là
bộ phận của thế giới vật chất do thiên văn học nghiên cứu Người ta chia bộ phận thế giới vật chất đó thành hai lĩnh vực, nhưng không có ranh giới tuyệt đối: Thế giới vĩ mô và thế giới vi mô
Như vậy, có thể nói, thế giới là một phạm vi rất rộng, một vũ trụ rộng lớn tồn tại xung quanh con người và độc lập bên ngoài ý thức con người
1.1.2 Thế giới nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “thế giới nghệ thuật là khái niệm
chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác
phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh
rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý
con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không
gian riêng, thời gian riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang
Trang 9bậc giá trị riêng… chỉ xuất hiện một cách có ước lệ trong sáng tác nghệ thuật” [13, Tr.302] Chẳng hạn, trong thế giới truyện cổ tích, con người và loài vật, cây cối, thần Phật đều có thể nói chung một thứ tiếng người, đôi hài có thể đi một bước bảy dặm, nồi cơm vô tận ăn mãi không hết… Trong văn học lãng mạn, quan hệ nhân vật thường xây dựng trên cơ sở cảm hoá; trong văn học cách mạng, nhân vật thường chia thành hai tuyến địch - ta, người chiến sĩ
cách mạng và quần chúng Như thế, mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới Sự hiện diện của thế giới nghệ thuật
không cho phép đánh giá và lý giải tác phẩm văn học theo lối đối chiếu giản đơn giữa các yếu tố hình tượng với các sự thực đời sống riêng lẻ, xem có
“giống” hay không, “thật” hay không, mà phải đánh giá trong chỉnh thể tác phẩm, xem xét tính chân thật của tư tưởng chỉnh thể của tác phẩm so với
chỉnh thể hiện thực Các yếu tố của hình tượng chỉ có ý nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó
Theo giáo trình Lý luận văn học (Trần Đình Sử chủ biên), “thế giới nghệ thuật là một thế giới kép: thế giới được miêu tả và thế giới miêu tả Thế
giới được miêu tả gồm nhân vật, sự kiện, cảnh vật… Thế giới miêu tả là thế giới của người kể chuyện, người trữ tình Hai thế giới này gắn kết không tách rời như hai mặt của một tờ giấy Không có thế giới miêu tả thì không có thế giới được miêu tả và ngược lại Tuy nhiên chúng không thể liên thông Người
kể chuyện không thể trực tiếp tham gia vào sự kiện trong thế giới được miêu
tả như một nhân vật” [44, Tr 82] Thế giới được miêu tả trong tác phẩm có các bình diện của nó Đó là con người riêng (nhân vật), không gian, thời gian riêng, đồ vật, âm thanh, màu sắc có ý nghĩa tượng trưng riêng không đồng
nhất với thực tại Các bình diện trên đều là yếu tố của thế giới nghệ thuật,
mỗi yếu tố có một vị trí nhất định và không thể thiếu đối với hệ thống Thế giới nghệ thuật của tác phẩm ngôn từ là hệ thống hoàn chỉnh và bao gồm
Trang 10những giới hạn nhất định Bởi vì hệ thống đó sống theo các quy luật, nguyên tắc vốn có của nó, có không gian, thời gian, tâm lý, đạo đức xã hội và hoàn cảnh vật chất riêng, tất cả đều là phạm trù có ý nghĩa khi phân tích tác phẩm Không nên đánh giá tác phẩm chỉ trong một bình diện, cũng như không nên xem xét các bình diện trên một cách tách rời, bỏ qua mối quan hệ và liên hệ qua lại của chúng Chỉ có nghiên cứu đồng bộ các bình diện mới đem lại bức tranh đầy đặn về thế giới mà nhà văn sáng tạo ra
Cũng với cách hiểu trên, tác giả cuốn Tác phẩm văn chương, một sinh thể nghệ thuật, PGS.TS Phùng Minh Hiến không dùng thuật ngữ thế giới nghệ thuật mà thay vào đó là cụm từ “cái được miêu tả” “Cái được miêu
tả được sáng tạo nên bằng tổ chức nghệ thuật của tác phẩm Đó là hệ thống những hình tượng của tác phẩm trong sự tự mở ra của nó, từ đầu đến cuối, bộc lộ một cách tập trung tính siêu logic của tư duy nghệ thuật: Sự xem xét các mặt đối lập của hiện thực trong sự thống nhất và đấu tranh của chúng, cái tĩnh tại trong cái năng động, bản chất trong cái hiện tượng, cái tất yếu trong ngẫu nhiên” [14, Tr.37] Nó được coi là thứ “tư duy nội dung” bởi vì sinh ra những nghĩa mới và phức tạp Nhiệm vụ của người tiếp nhận văn học là phải
tìm ra “mã khoá” để bước vào thế giới nghệ thuật đó
Như vậy, thế giới nghệ thuật là một phạm trù rất rộng Thuật ngữ này
chỉ dùng trong văn học, trong sáng tác nghệ thuật Có nhiều định nghĩa, quan
niệm khác nhau về thế giới nghệ thuật Qua các định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra cách hiểu: Thế giới nghệ thuật là thế giới riêng mà nhà văn sáng tạo
trong tác phẩm của mình Thế giới ấy là hình bóng của thế giới vật chất
nhưng không hoàn toàn là thế giới vật chất Bước vào thế giới nghệ thuật,
người đọc đã tự nguyện cùng nhà văn bắt đầu hành trình khám phá bản chất của cuộc sống và bản thể của con người Đó là một cuộc chơi thú vị, hấp dẫn
nhưng cũng không ít những đắng cay cần sự trải nghiệm Thế giới nghệ thuật
Trang 11bao gồm tất cả các yếu tố trong tác phẩm văn học Có bao nhiêu yếu tố cấu
thành nên tác phẩm văn học sẽ có bấy nhiêu yếu tố thuộc thế giới nghệ thuật
Trong phạm vi một khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu những yếu
tố cấu trúc cơ bản của thế giới nghệ thuật được biểu hiện cụ thể qua các
truyện ngắn của Phạm Duy Nghĩa
1.2 Các yếu tố cấu trúc cơ bản của Thế giới nghệ thuật
1.2.1 Nhân vật
1.2.1.1 Khái niệm nhân vật
Trong tiếng Hi Lạp cổ, nhân vật (đọc là persona) lúc đầu mang ý
nghĩa chỉ cái mặt nạ của diễn viên trên sân khấu Theo thời gian, chúng ta đã
sử dụng thuật ngữ này với tần số nhiều nhất, thường xuyên nhất để chỉ đối
tượng mà văn học miêu tả và thể hiện
Nhìn một cách rộng nhất, nhân vật là khái niệm không chỉ được dùng
trong văn chương mà còn ở nhiều lĩnh vực khác Theo bộ Từ điển tiếng Việt
của viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên thì nhân vật là khái niệm
mang hai nghĩa: Thứ nhất, “đó là đối tượng (thường là con người) được miêu
tả, thể hiện trong tác phẩm văn học” Thứ hai, đó là “người có vai trò nhất
định trong xã hội” Tức là, thuật ngữ nhân vật được dùng phổ biến ở nhiều
mặt cả ở đời sống nghệ thuật, đời sống xã hội - chính trị lẫn đời sống sinh
hoạt hàng ngày… Nhưng, trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận này, chúng
tôi chỉ đề cập đến khái niệm nhân vật theo nghĩa thứ nhất mà bộ Từ điển
tiếng Việt định nghĩa, đó là nhân vật trong tác phẩm văn chương
Cuốn Lý luận văn học do tác giả Phương Lựu chủ biên định nghĩa về
nhân vật văn học như sau: “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người
được miêu tả thể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học” [23, Tr
277] Đó là những nhân vật không tên như thằng bán tơ trong Truyện Kiều…
Đó là những con vật trong truyện cổ tích, thần thoại, đồng thoại, bao gồm cả
Trang 12quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa như con người… Khái niệm nhân vật đôi khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm nhưng chủ yếu bằng hình tượng con người Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu để nhận ra
Trong cuốn giáo trình Lý luận văn học do giáo sư Hà Minh Đức chủ
biên, các tác giả cuốn này cho rằng: “Nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách… Và cần chú ý thêm một điều: thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn
có thể là sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người… Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể mà chỉ là một hình tượng con người về con người hoặc có liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [8, Tr.126]
Như vậy, các nhà nghiên cứu lý luận văn học, bằng cách này hay cách khác, khi định nghĩa về nhân vật văn học vẫn cơ bản gặp nhau ở những nội
hàm không thể thiếu được của khái niệm này: Thứ nhất, đó phải là đối tượng
mà văn học miêu tả, thể hiện bằng những phương tiện văn học Thứ hai, đó là
những con người, hoặc những con vật, đồ vật, sự vật, hiện tượng mang linh
hồn con người là hình ảnh ẩn dụ của con người Thứ ba, đó là đối tượng
mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn
Trang 131.2.1.2 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học
Là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành nên mỗi tác phẩm văn học, nhân vật có một vai trò, vị trí hết sức quan trọng
Trước tiên, nhân vật văn học là đơn vị cơ bản, là phương tiện tất yếu
và quan trọng nhất giúp nhà văn phản ánh một cách chân thực đời sống Bằng
sự suy ngẫm, chiêm nghiệm, bằng những tìm tòi khám phá, nhà văn xây dựng nên nhân vật và hệ thống nhân vật trong tác phẩm để từ đó khái quát các tính cách xã hội và mảng đời sống gắn liền với nó
Tính cách là sự thể hiện các phẩm chất xã hội, lịch sử của con người qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh lý của họ Ở mỗi thời đại, do yêu cầu lịch sử, con người lại xuất hiện những tính cách tiêu biểu, điển hình khác nhau Mỗi tính cách nhân vật thường gắn liền với những khía cạnh, vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm văn học Sự thấu hiểu thực sự chức năng phản ánh khái quát nhân vật không chỉ dừng lại ở việc phát hiện ra các đặc điểm, các nét tính cách của nhân vật mà còn phải thấy được những vấn đề xã hội đằng sau những tính cách đó
Bên cạnh việc phản ánh, khái quát hiện thực cuộc sống với những mảng đời sống xã hội gắn liền với nó, nhân vật còn có chức năng thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người, về cuộc đời Văn học phản ánh thế giới bằng hình tượng Song, điều đó không có nghĩa là nhà văn sao chép nguyên xi hiện thực cuộc sống vào trong tác phẩm Nhà văn phải là người sáng tạo trên cơ sở trải nghiệm, suy ngẫm theo sự cảm thụ của bản thân mình
1.2.1.3 Các cách phân loại nhân vật văn học
Nhân vật văn học là một hiện tượng đa dạng về mặt kiểu loại Có rất nhiều cách phân chia nhân vật văn học:
Trang 14Xét về cấu trúc tác phẩm: Dựa vào vị trí của nhân vật đối với nội
dung cụ thể và với cốt truyện trong tác phẩm, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ vị trí then chốt của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện Đó là con người liên quan đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của mình Trong các nhân vật chính của tác phẩm lại có thể nhận thấy nổi lên những nhân vật trung tâm xuyên suốt tác phẩm từ đầu đến cuối về mặt ý nghĩa Đó là nơi quy
tụ các mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm Ngoài nhân vật trung tâm và nhân vật chính, còn lại là các nhân vật phụ Nhân vật phụ mang các tình tiết, sự kiện, tư tưởng có tính chất phụ trợ,
bổ sung Nó góp phần làm đầy đủ phương diện cấu trúc của nhân vật văn học
Xét về ý thức hệ: Dựa vào đặc điểm của tính cách, mối quan hệ với tư
tưởng tác giả và lý tưởng của thời đại, có thể chia ra thành nhân vật chính diện, nhân vật phản diện Sự phân biệt nhân vật chính diện và nhân vật phản diện gắn liền với những mâu thuẫn đối kháng trong đời sống xã hội, hình thành trên cơ sở đối lập về quan điểm tư tưởng và lý tưởng sống Nhân vật chính diện và phản diện là những phạm trù lịch sử Nhân vật chính diện mang
lý tưởng, quan điểm tư tưởng, đạo đức tốt đẹp của tác giả và của thời đại Ngược lại, nhân vật phản diện lại mang những phẩm chất xấu xa, trái với đạo
lý và lý tưởng, đáng lên án và phủ định Như vậy, hai loại nhân vật này luôn ở
vị trí đối kháng với nhau
Dựa vào cấu trúc hình tượng: Theo tiêu chí này, người ta chia nhân
vật thành nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng Nhân vật chức năng xuất hiện trong văn học cổ đại và trung đại
Đó là loại nhân vật thường không được khắc hoạ đời sống nội tâm, các phẩm chất đặc điểm nhân vật cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối Hơn nữa, sự
Trang 15tồn tại và hoạt động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng nhất định, đóng một số vai trò nhất định Nhân vật loại hình là nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời Đó là nhân vật nhằm khái quát cái chung về loại của các tính cách và nhờ vậy mà được gọi là điển hình Hạt nhân của loại nhân vật này là bao giờ cũng có một số phẩm chất loại biệt về mặt xã hội được nêu nổi bật hơn hẳn các tính chất khác Nhân vật tính cách là một kiểu nhân vật phức tạp Ở trên
đã nói, tính cách như là đối tượng chủ yếu của nhận thức văn học Đó là tính cách trong nghĩa rộng Nhưng không phải mọi nhân vật văn học đều phản ánh cấu trúc của tính cách Do đó, trong nghĩa hẹp, nhân vật tính cách là một loại nhân vật được mô tả như một nhân cách, một cá nhân có cá tính nổi bật Trong nhân vật tính cách, cái quan trọng không phải chỉ là cái đặc điểm, thuộc tính xã hội nào đó mà người ta có thể liệt kê ra được Tính cách còn thể hiện ở tương quan của các thuộc tính đó với nhau, tương quan giữa các thuộc tính đó với môi trường, tình huống Nhân vật tính cách thường có những mâu thuẫn nội tại, những nghịch lý, những chuyển hoá Vì vậy, tính cách có một quá trình tự phát triển, và nhân vật không đồng nhất giản đơn vào chính nó Trong văn học có những nhân vật mà hạt nhân cấu trúc của nó không phải là
cá tính, cũng không phải là các phẩm chất loại hình, mà là một tư tưởng, một
ý thức Đó là kiểu nhân vật tư tưởng Chẳng hạn, các nhân vật “quỷ sứ” như Malfret, Cain, Lusifer; Jean Valiean, Javais của Huygo; Andray của L Tolstoi; Laconnicov của Dostoevski Trong sáng tác, loại nhân vật này dễ rơi vào công thức, minh họa, trở thành cái loa tư tưởng của tác giả và loại nhân vật “dẹt” thiếu sức sống
Trên đây là những loại nhân vật thường gặp Sự phân biệt này chỉ mang tính chất tương đối Nó chỉ nhằm nhấn mạnh nét trội, nét đặc trưng cơ bản của một loại nhân vật nào đó
Trang 161.2.2 Không gian và thời gian nghệ thuật
Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều có một không gian và thời gian riêng Không gian và thời gian ấy là sự quy ước, mã hoá của nhà văn về không gian, thời gian thực tại Không gian và thời gian nghệ thuật là hai yếu tố cơ bản cấu
thành nên thế giới nghệ thuật
1.2.2.1 Không gian nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “không gian nghệ thuật là hình thức
bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu
tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn
ra trong trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính
bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, mang tính chủ quan Ngoài không gian vật thể, có không gian tâm tưởng” [13, Tr.160] Do vậy, không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy định vào không gian địa lý Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ của bức tranh thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự Ngôn ngữ của không gian nghệ thuật rất đa dạng và phong phú Các cặp phạm trù cao - thấp, xa - gần, rộng - hẹp, cong - thẳng, bên này - bên kia, vững chắc - bập bênh, ngay - lệch… đều được dùng để biểu hiện các phạm vi giá trị phẩm chất của đời sống xã hội Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình các hình tượng nghệ thuật Không gian nghệ thuật thể hiện tập trung vào cái nhìn, điểm nhìn, điểm quan sát, sự đối lập và liên hệ của các yếu tố không gian các miền phương vị, các chiều
Trang 17tạo thành ngôn ngữ nghệ thuật để biểu hiện thế giới quan của tác phẩm Không gian nghệ thuật trong văn chương có những đặc trưng cơ bản: Nó xuất hiện lần lượt tuần tự theo sự trình bày của tác giả, không gian mang tính quan niệm và không bị một hạn chế nào
1.2.2.2 Thời gian nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thời gian nghệ thuật trong tác phẩm
văn học chính là “hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả, trần thuật trong văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian nghệ thuật Sự phối hợp của hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi,
có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát thành vô tận” [13, Tr 322]
Thời gian thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới không tách rời với chuỗi biến cố cốt truyện Nó phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trong từng thời kỳ lịch sử, từng giai đoạn phát triển, thể hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới, đồng thời thể hiện ý đồ của tác giả trong việc miêu tả đối tượng trong tính vận động Vấn đề thời gian nghệ thuật trong tác phẩm nghệ thuật có tính hai mặt cơ bản, đó là: quan niệm thời gian của nhà văn và tổ chức thời gian của tác phẩm
Nhà lý luận Nga Đ.X Likhachôp cho rằng: “thời gian vừa là khách thể vừa là chủ thể và đồng thời là công cụ phản ánh văn học Văn học ngày càng thấm nhuần ý thức và cảm giác về sự vận động của thế giới trong hình
Trang 18thức hết sức đa dạng của thời gian” [19, Tr 37] Trong tác phẩm văn chương, thời gian chỉ trở thành nghệ thuật khi nó trực tiếp tác động vào nhân vật, vào môi trường mà ở đó diễn ra số phận của nhân vật và những biến động của tâm
tư, tình cảm của con người Thời gian nghệ thuật là hình thức của hình tượng nghệ thuật thể hiện tài năng và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ… Nó được nhận biết nhờ các mối quan hệ giữa các biến cố, có thể là quan hệ nhân quả, quan hệ tâm lý hoặc liên tưởng Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là cách biểu thị thời gian mà là quan niệm, cách hiểu thời gian của tác giả
Tóm lại, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật là hai khái
niệm luôn đi song hành với nhau, tạo ra tính cấu trúc và tính quá trình của tác
phẩm, là yếu tố mở ra thế giới nghệ thuật của nhà văn
1.2.3 Ngôn ngữ và giọng điệu
1.2.3.1 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt trong đời sống của con người Theo quan niệm của ngôn ngữ học: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu trong đời sống con người “Ngôn ngữ là ý thức thực tại thực tiễn, ngôn ngữ cũng tồn tại cho cả người khác nữa, như vậy cũng tồn tại lần đầu tiên cho bản thân tôi nữa, và cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ sinh ra do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khác” [24, Tr 8] Đi vào đời sống con người như là một công cụ giao tiếp quan trọng, ngôn ngữ trong các ngành nghệ thuật có
những khác biệt cơ bản Theo Từ điển thuật ngữ mỹ học phổ thông: “Ngôn
ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt bao gồm những dấu hiệu, kí hiệu được sử dụng với mục đích trao đổi hoặc truyền đạt thông tin Trong nghệ thuật, mỗi chuyên ngành đều có ngôn ngữ riêng để diễn đạt loại hình nghệ thuật của mình” [29, Tr 215]
Trong văn học, ngôn ngữ mang những giá trị đặc biệt, vừa truyền tải dung lượng thông tin nhất định, vừa mang tính thẩm mĩ cao Ngôn ngữ ở vị trí
Trang 19trung tâm của văn học thể hiện phông văn hoá, cá tính sáng tạo của nhà văn
và xu hướng ngôn ngữ chung của thời đại Phân biệt ngôn ngữ văn học và
ngôn ngữ có tính chất nghệ thuật cao của tác phẩm văn học, Từ điển thuật ngữ văn học viết: “Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ có tính chất nghệ thuật cao
của tác phẩm văn học Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này có ý nghĩa rộng lớn, nhằm bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùng một cách chuẩn mực trong các biên bản ngôn ngữ, trên báo chí, trên đài phát thanh, trong văn học
và trong khoa học” [13, Tr 215]
Ngôn ngữ văn học không vì thế mà từ bỏ cội nguồn tự nhiên của nó
Từ cội nguồn này, nhà văn đã lựa chọn, chắt lọc để tạo nên vốn ngôn ngữ
riêng của mình Giải thích về cội nguồn của ngôn ngữ văn học, Từ điển thuật ngữ văn học nhận xét: “Ngôn ngữ văn học chính là dạng ngôn ngữ đời sống
được chọn lựa đưa vào trong tác phẩm văn học Cội nguồn của nó bắt đầu từ kho tàng ngôn ngữ của nhân dân Ngôn ngữ của nhân dân càng phong phú thì ngôn ngữ văn học càng tiếp thu và sáng tạo nhiều hơn” [13, Tr 215] Trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ là yếu tố quan trọng đặc biệt, gắn liền với các phẩm chất như: Tính hình tượng, tính chính xác, tính hàm súc… Ngôn ngữ văn học là hình thái ý nghĩa mang tính thẩm mĩ Nằm trong tổ chức nội tại của văn học, ngôn ngữ văn học được phân hoá qua các thể loại của văn học Mỗi thể loại có đặc trưng ngôn ngữ riêng biệt, độc đáo: Trữ tình là ngôn ngữ cách điệu, gợi cảm và giàu nhịp điệu; ngôn ngữ kịch gắn với đối thoại, gần gũi với ngôn ngữ đời thường; ngôn ngữ tự sự lại gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ trần thuật Bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi thông tin mà ngôn ngữ ra đời, bắt nguồn
từ nhu cầu thưởng thức cái hay, cái đẹp mà văn học ra đời Ngôn ngữ văn học
đã đem lại bản chất nghệ thuật của tác phẩm văn học, tạo nên nét khu biệt giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ nói chung
Trang 20M Gorki đã nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Nếu tác phẩm văn học là tổng hoà của nhiều yếu tố thì ngôn ngữ chính là yếu tố căn cốt, yếu tố đầu tiên kiến tạo nên tác phẩm văn học Vai trò ngôn ngữ đối với văn học được thể hiện ở một số điểm sau:
Ngôn ngữ là chất liệu của văn học Khác với các loại hình nghệ thuật như: hội họa, kiến trúc, điêu khắc, hình tượng nghệ thuật trong văn học được xây dựng bằng ngôn từ Vì thế, nó không trực tiếp tác động vào các giác quan của công chúng, mà tác động sâu xa đến trí tưởng tượng, cảm xúc của người đọc, lay động tâm hồn người đọc Đó chính là tính phi vật thể của hình tượng nghệ thuật ngôn từ
Từ đây ngôn ngữ văn học có tính chất bắc cầu: Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc khai thác và khám phá văn học Ngôn ngữ giúp cho văn học mở rộng phạm vi, đối tượng phản ánh theo không gian, thời gian, giúp người đọc sống với nhiều cuộc đời, nhiều cảm xúc, sống với chiều trôi chảy của thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai Như thế, chính ngôn ngữ văn học đã giúp người đọc mở rộng tầm hiểu biết của mình
Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện cá tính của nhà văn Nó cũng là sự biểu hiện phong cách, tâm lý, quan điểm, lập trường, ý thức sáng tạo, tâm huyết của nhà văn gửi gắm trong đó Trong đây, có ngôn ngữ mực thước, nghiêm trang của người uyên thâm, tao nhã; có thứ ngôn ngữ chua xót, đau đớn, hoài nghi của người luôn trăn trở về thế thái nhân tình; có thứ ngôn ngữ bông đùa, hài hước của người tư duy trào lộng… Nhưng dù nói thế nào đi nữa một khi đã gắn với người nghệ sĩ thì ngôn ngữ cũng là thứ đã được ý thức sáng tạo một cách sâu sắc Bởi vì: “Người hạ bút làm thơ mà không am hiểu ngôn ngữ khác gì chàng mất trí lao xuống dòng sông cuồn cuộn mà không biết bơi”
Trang 21Ngôn ngữ có vai trò quan trọng, dẫn dắt người đọc tìm hiểu tác phẩm Theo góc nhìn thi pháp học hiện đại thì ý nghĩa tác phẩm là một thuộc tính hàm ẩn, nó phải được khám phá qua nhiều lần cảm thụ Cách tiếp cận theo lối
ấn tượng chủ nghĩa không còn thuyết phục nữa Do vậy, khi đọc tác phẩm phải nắm được ngữ cảnh, trong đó, ngữ cảnh đầu tiên là các quy tắc ngôn ngữ Tiếp cận văn học từ góc độ ngôn ngữ giúp cho người đọc tránh được lối đọc thụ động, tránh được lối suy diễn tài tử được đâu trúng đó Điều kiện để đến với tác phẩm bằng con đường chân chính là phải nắm được ngôn ngữ tác phẩm Có như vậy mới là đối xử công bằng với tác phẩm văn học Ngôn ngữ văn học là cầu nối tác phẩm với người đọc, giữa nhà văn và độc giả Đọc có nghĩa là đồng sáng tạo cùng nhà văn
1.2.3.2 Giọng điệu
Giọng điệu như một phạm trù thẩm mỹ, có vai trò rất lớn trong việc xác lập phong cách nhà văn Giọng điệu làm thành bản sắc riêng của một trào lưu, một trường phái hay một thời đại văn học Thái độ, tình cảm, lập trường,
tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hình tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…
Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả và có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn chưa thể viết ra được tác phẩm Bởi giọng điệu hình thành từ cá tính, phong cách riêng của mỗi nhà văn Giống như mỗi loài chim có một giọng hót riêng, nhà văn luôn phải tìm tòi, sáng tạo để tìm ra giọng điệu của riêng mình Giọng điệu quy định anh là chính anh chứ không phải là ai khác
Không nên lẫn lộn giọng điệu với ngữ điệu là phương tiện biểu hiện lời nói, thể hiện qua cách lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh, nhịp điệu…
Trang 22Giọng điệu là một phạm trù thẩm mỹ của tác phẩm văn học Nó đòi hỏi người trần thuật, kể chuyện hay nhà thơ trữ tình phải có khẩu khí, có giọng điệu Giọng điệu trong tác phẩm gắn với cái giọng “trời phú” của mỗi tác giả, nhưng mang nội dung khái quát nghệ thuật, phù hợp với đối tượng thể hiện Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị thường đa dạng, có nhiều màu sắc trên
cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo chứ không đơn điệu
Tóm lại, thế giới nghệ thuật là một phạm trù rộng và được tạo nên từ
nhiều yếu tố Các yếu tố này có vị trí, vai trò nhất định trong hệ thống và có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo thành tính chỉnh thể của hệ thống đó
Thế giới nghệ thuật của tác phẩm ngôn từ là một hệ thống hoàn chỉnh vận
động theo các quy luật và nguyên tắc vốn có của nó Không nên đánh giá toàn
bộ tác phẩm chỉ qua một bình diện hoặc xem xét các bình diện trong sự tách
rời mà phải đặt chúng trong chỉnh thể Như vậy, thế giới nghệ thuật trong tác
phẩm văn học mới hiện ra sống động và toàn vẹn trong sự chiếm lĩnh của bạn đọc
Trang 23
Chương 2
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
PHẠM DUY NGHĨA
2.1 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa
2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người của Phạm Duy Nghĩa Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm trung tâm của thi
pháp học, nó phản ánh một cách sâu sắc và toàn diện bản chất nhân học của
văn học Ở một phương diện nào đó, thuật ngữ quan niệm nghệ thuật về con người có giá trị tương đương với khái niệm "tính tư tưởng" trong tác phẩm văn học Nếu tư tưởng là linh hồn của tác phẩm (Korolenko) thì quan niệm nghệ thuật về con người là cốt lõi tư tưởng, chiều sâu nhân bản của tác phẩm
đó, đồng thời là thước đo sự tiến bộ của nhà văn Quan niệm nghệ thuật về con người là cái giới hạn tối đa trong cách hiểu, cách cảm, cách nhìn và cách
lý giải về con người của nhà văn được hoá thân thành các nguyên tắc, các phương tiện, biện pháp, hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên
giá trị thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật đó Quan niệm nghệ thuật về con người gắn liền với vốn sống, vốn văn hoá, tài năng, cá tính sáng tạo của nhà văn và ý thức hệ của cộng đồng xã hội Nói ngắn gọn thì quan niệm nghệ thuật về con người chính là cách cắt nghĩa của văn học về con người thông
qua các phương tiện nghệ thuật đặc thù Mỗi nhà văn đều có quan niệm nghệ thuật riêng và luôn chịu sự chi phối của các quan niệm đó Có tác phẩm văn học tức là đã tồn tại một quan niệm nghệ thuật nhất định về con người và cuộc đời
Văn học Việt Nam sau năm 1975, đặc biệt sau đổi mới 1986 đã có
những biến chuyển mạnh mẽ trong quan niệm nghệ thuật về con người
Trang 24Không chấp nhận quan niệm văn học mô phỏng một cách công thức, giản đơn
về cuộc sống và con người, các nhà văn biết lánh xa lối văn chương chỉ ca ngợi một chiều và dần dần lấy số phận của con người làm "miếng đất khám phá những quy luật vĩnh hằng của giá trị nhân bản", coi đó là điểm xuất phát,
là chuẩn mực để nhà văn soi ngắm và định giá thế giới Có thể nói, Nguyễn Minh Châu chính là nguời mở đường tinh anh và tài hoa với các sáng tác thể hiện sự tìm tòi và thể nghiệm theo hướng đó Lớp nhà văn kế tiếp như: Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương đã đón lấy làn gió dân chủ trong văn học, mạnh dạn đi sâu vào những khía cạnh riêng tư, khuất lấp của con người và xã hội Trong quan niệm nghệ thuật của đa số những nghệ sỹ lớn, việc lấy số phận cá nhân làm gương soi lịch sử và lấy nội tâm con người để nói về cuộc sống chung hầu như là việc bình thường bởi suy cho cùng, văn học và hiện thực là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người (Nguyễn Minh Châu)
Phạm Duy Nghĩa là một gương mặt trẻ trong văn học đương đại Ở cái tuổi xấp xỉ bốn mươi và trên dưới mười năm cầm bút, cả tuổi đời và tuổi nghề của anh đều chưa thật dầy dặn Anh cũng tự nhận mình “lưng vốn mỏng, kinh nghiệm sống còn nông” nên chỉ viết túc tắc, một năm vài ba truyện gọi là Song, với tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc, không coi văn chương là sân chơi chỉ "ghé qua", mỗi truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa đều có sức nặng
ám ảnh tâm hồn bạn đọc Ngay những truyện ngắn đầu tay như Tiếng gọi lưng chừng dốc, Lá Vàng Chải, Lời của suối người đọc đã nhận ra ở anh một quan niệm nghệ thuật về con người đầy nhân bản Trung thành với đề
tài miền núi, Phạm Duy Nghĩa như có duyên nợ với mảnh đất và con người Tây Bắc Trở về với núi rừng đại ngàn, Phạm Duy Nghĩa không chủ tâm xoáy sâu vào thiên nhiên kỳ ảo, hoang sơ, tinh khiết Anh quan tâm tới vấn đề mà ít cây bút chạm tới: cuộc sống và số phận của những người giáo viên cắm bản
Trang 25Họ là những cô giáo, thầy giáo từ đồng bằng, thị xã, thành phố vì cuộc sống mưu sinh đã lên với miền núi, đem ánh sáng văn hoá về bản làng Phạm Duy Nghĩa đã phát hiện ra ở họ tấm lòng bao dung, nhân hậu, gắn bó cùng đồng bào miền núi như tình cảm tự nhiên giữa người và người, chưa bị cái ồn ào của nền văn minh công nghiệp chen lấn Theo tâm sự của Phạm Duy Nghĩa, quãng thời gian anh làm giáo viên trường Cao đẳng sư phạm Lào Cai đã cho anh hiểu nhiều hơn về miền núi Trong những lần đưa giáo sinh lên thực tập ở vùng cao, Phạm Duy Nghĩa đã tận mắt chứng kiến cuộc sống lam lũ của người lao động miền núi, nỗi buồn và sự cô đơn của người giáo viên cắm bản,
có những cô giáo một mình một quả đồi dạy hai lớp học Cuộc sống gợi những nỗi niềm nhân văn quá, không thể không cầm bút! Dòng nhựa tích tụ bao lâu trong trái tim và khối óc một con người nhạy cảm với nỗi đau của đồng loại đã chọn mảnh đất Tây Bắc là nơi ươm những hạt mầm văn chương đầu tiên
Đọc Phạm Duy Nghĩa, chúng ta sẽ không bắt gặp một miền núi đơn giản, thật thà đến ngớ ngẩn như một số người đã và đang viết, mà là một thế giới miền núi lung linh, huyền ảo và gợi cảm Đặc biệt, con người trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa hiện lên với một gương mặt rất riêng Tựa lưng vào núi rừng mà sống, đó là những con người còn giữ được vẻ hồn nhiên, mộc mạc, khoáng đạt như rừng xanh núi thẳm Những con người ấy xa lạ lắm với thế giới lấp lánh đèn hoa nơi thị thành Trong con mắt Phạm Duy Nghĩa,
họ thật đáng yêu nhưng cũng thật đáng thương Ta không thể quên người trồng hoa có giấc mơ màu rêu đỏ mải miết chạy theo một tình yêu không phải
của mình trong truyện ngắn Hoa cẩm tú cầu ứng mệnh Còn có những cô bé tên Dơ, tên Mỷ trong Thương nhớ Lèng Hồ khiến nhà văn phải thốt lên:
"Các cô bé Mèo cả tin đến đau lòng" Những trang văn của Phạm Duy Nghĩa như một nhịp cầu nối đưa chân bạn đọc tới gần hơn với miền núi, để thấy
Trang 26rằng vùng sâu vùng xa dù nhận được rất nhiều sự quan tâm của Đảng vẫn còn
đó khoảng cách chưa thể xoá bỏ cả về địa lý và tâm lý giữa miền núi - đồng bằng Con người trong quan niệm của Phạm Duy Nghĩa trước hết là con người theo nghĩa giản dị nhất, con người cần được bình đẳng với con người
Trong tác phẩm của mình, Phạm Duy Nghĩa luôn đặt ra và kiếm tìm câu trả lời: liệu con người có vượt qua chính mình, con người thánh thiện có chiến thắng con người bản năng? Bởi vậy, nhà văn luôn đặt con người trong làn ranh giới mỏng manh giữa cao cả và thấp hèn, phần con và phần người
Ta nhận thấy nhân vật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa, đặc biệt nhân vật
nữ - những cô giáo cắm bản cô đơn đến khắc khoải, họ mang trong mình một khao khát yêu đương mãnh liệt Nó làm thành dòng suối tươi mát, sôi réo tận ngọn nguồn, sẵn sàng băng mình qua sông ra biển cả để lặn ngụp cho thoả chất nhựa sống đang căng chảy trong lồng ngực Giữa bốn bề thiên nhiên heo hút, tuổi xuân của những người giáo viên cắm bản như bị bỏ quên Chỉ cần một cơn mưa rào sẽ thấm nhuần mảnh đất đang dần khô cằn đó Đề cao khát vọng nhân bản song Phạm Duy Nghĩa quyết tìm ra hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người để sự thánh thiện, cao khiết mãi ngự trị Đó là những nhân vật
Kiên, Thuận trong Cơn mưa hoa mận trắng; là Xuyến, Vân trong Tiếng gọi lưng chừng dốc Phạm Duy Nghĩa đã gieo một niềm tin vững chắc trong nghĩ
suy của mỗi người đọc vào phẩm chất của con người Vì vậy, con người có đủ dũng cảm và sức mạnh để chiến đấu với cái xấu và cái ác đang từng ngày len lỏi khắp các hang cùng ngõ hẻm
Gắn bó với vùng cao để đưa con người vào những trang viết thật tự nhiên, dung dị, Phạm Duy Nghĩa đã đứng về phía những người dân miền núi, nói lên cái tình của họ cùng những ước mơ cháy lòng Đọc Phạm Duy Nghĩa, chúng ta chợt thấy giật mình bởi bấy lâu như lãng quên những hi sinh âm thầm đang khuất lấp quanh đây Và mong sao cái hố sâu ngăn cách giữa miền
Trang 27núi và đồng bằng sẽ dần xoá bỏ nhờ sự cố gắng tận tâm của mỗi con người Ngòi bút Phạm Duy Nghĩa đã đi sâu, tìm tòi để phát hiện ra vẻ đẹp cũng như
mặt trái của cuộc sống Với quan niệm nghệ thuật về con người như thế,
Phạm Duy Nghĩa tiếp tục góp phần khẳng định quan điểm "văn học là nhân học" (M Gorki) - bởi con người vừa là điểm xuất phát, đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học Đồng thời nó cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử Từ đó, hình thành nên một thế giới nhân vật sinh động, phong phú - thế giới nhân vật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa
2.1.2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa
Trước năm 1975, văn học nhìn con người với tư cách người công dân, con người dân tộc, con người giai cấp Bởi vậy, lý luận văn học luôn xem xét nhân vật ở các kiểu cố định như: nhân vật tính cách, nhân vật chức năng, nhân vật tư tưởng, nhân vật phản diện, nhân vật chính diện; và xem xét nhân vật ở các phương diện khái quát nhất: tầng lớp, giai cấp, nghề nghiệp
Sau năm 1975, từ những nhận thức và quan niệm mới về con người dẫn đến những đổi thay về kiểu nhân vật văn học Văn học có sự dịch chuyển từ
tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư nên khả năng tiếp cận, phản ánh hiện thực và con người cũng được tăng cường một cách nhạy cảm, sắc bén Số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn Họ nhìn nhận con người như một
cá thể bình thường trong đời sống Họ khai thác con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc riêng tư Các nhà văn có sự học tập, tiếp thu tích cực chủ nghĩa hiện thực của Đoxtoiepxki: "Trong chủ nghĩa hiện thực đầy đủ, phải tìm thấy con người trong con người Người ta gọi tôi là nhà tâm lý: không đúng, tôi chỉ là nhà hiện thực chủ nghĩa trong ý nghĩa cao nhất tức là tôi mô tả tất cả các chiều sâu của tâm hồn con người" Con người trong văn học là con người
Trang 28trần thế với tất cả các đặc tính tự nhiên và xã hội của nó Trong con người ấy
có cả ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức
Sự đổi thay trên đã dẫn đến sự xuất hiện nhiều kiểu nhân vật trong văn học đương đại: nhân vật cô đơn, nhân vật bi kịch, nhân vật lạc thời, nhân vật
kỳ ảo, nhân vật tha hoá Các nhà văn đã phá vỡ cái nhìn một phía, tĩnh tại, đơn điệu để tạo ra cái nhìn phức tạp, sinh động và sâu sắc hơn Vì thế, việc đánh giá về cách thức xây dựng nhân vật, vai trò, chức năng của nhân vật trong thời kỳ văn học này cũng có sự dịch chuyển theo xu hướng văn học và
tư duy nghệ thuật của nhà văn
Nhân vật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa vừa giữ được nét truyền thống vừa có sự cách tân rõ rệt Vẫn là kiểu nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng nhưng trong các sáng tác của Phạm Duy Nghĩa nó hấp dẫn bạn đọc bởi những tư duy mới và những thông điệp mà nhà văn gửi gắm Bên cạnh đó, kiểu nhân vật bi kịch và nhân vật tha hoá cũng thể hiện sự sáng tạo của nhà văn Những nhân vật của anh thường có một tính cách rất mạnh mẽ, ấn tượng, đặc biệt là khát vọng kiếm tìm cái đẹp Song, cuộc đời của họ phần đa là bi kịch - bi kịch đói nghèo và bi kịch cô đơn Ngòi bút của Phạm Duy Nghĩa còn soi chiếu vào những mảng tối không chỉ ở miền núi mà còn ở thị thành với những người lãnh đạo vô trách nhiệm và giới trí thức chưa thực sự xứng tầm với vai trò của họ Thế giới nhân vật của Phạm Duy Nghĩa vô cùng phong phú
và đa dạng, đó là: cô gái làm tiền khát khao yêu đương; cô bé sinh viên năm thứ nhất đi hoang, tìm kiếm chỗ dựa về tinh thần; vợ chồng người công nhân làm đường sống trơ trơ đối diện với khắc nghiệt rừng rú; chàng thi sĩ tôn thờ
và săn đuổi cái đẹp; có những cô giáo, thầy giáo cắm bản vùng cao hoang sơ lòng còn nhiều trăn trở và tốt đến khó tin; người đàn ông nghèo dốt nát, tăm tối ở Ô Cán Hồ; nhạc sĩ tài hoa hoang dã Vi Văn Quăm; ông trưởng phòng và anh chàng tập sự nguyên tắc đến khô cứng Các nhân vật này đều được đặt
Trang 29trong những hoàn cảnh đặc biệt để lộ diện, lộ hồn Hoàn cảnh đó chủ yếu là hoàn cảnh thử thách phẩm chất thánh thiện trong tâm hồn con người Qua khảo sát ba tập truyện ngắn của Phạm Duy Nghĩa, chúng tôi đã khái quát lên
ba kiểu nhân vật tiêu biểu mà nhà văn thường xây dựng trong các tác phẩm của mình, đó là: kiểu nhân vật tư tưởng, kiểu nhân vật tính cách - bi kịch và kiểu nhân vật tha hoá
2.1.2.1 Kiểu nhân vật tư tưởng
Nhân vật tư tưởng là loại nhân vật tập trung thể hiện một tư tưởng, một
ý thức tồn tại trong đời sống tinh thần của xã hội Chẳng hạn, nhân vật Độ
trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao nhằm thể hiện nhận thức của người
trí thức yêu nước về cuộc kháng chiến chống Pháp khi cách mạng còn ở thời
kỳ gay go và gian khổ Thông thường, loại nhân vật này hay xuất hiện khi xã hội có những dấu hiệu biến động và nhà văn thông qua nhân vật để gửi gắm
tư tưởng của mình Đọc truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa, chúng ta cảm nhận đằng sau số phận và cuộc đời nhân vật bao giờ cũng là cách nhìn, cách đánh giá của nhà văn - tư tưởng của con người trong hành trình gian khổ đi kiếm tìm cái đẹp Dường như Phạm Duy Nghĩa muốn đào sâu vào bản thể của con người, đặt con người giữa làn ranh giới mỏng manh giữa phần bản năng và phần thánh thiện để cái cao khiết trong con người tỏa sáng Anh muốn khẳng định niềm tin vào cái đẹp và phẩm giá con người Chính lòng bao dung, nhân hậu, trái tim biết yêu thương, sống vì người khác đã đem đến cho các nhân vật của Phạm Duy Nghĩa một sức sống bền bỉ, một sự lay động mạnh mẽ tới tâm hồn bạn đọc Trong xã hội hiện đại bộn bề này, thiết nghĩ văn học rất cần những nhân vật đại diện cho luồng tư tưởng tiến bộ và nhân bản như vậy
Truyện ngắn Cơn mưa hoa mận trắng được viết vào tháng 8 năm
2004 Truyện đã khắc hoạ trong lòng người đọc cái tôi mạnh mẽ mà yếu đuối, dấn thân và cam chịu như cô giáo Thuận và giáo sinh thực tập tên Kiên Họ
Trang 30sống trong một môi trường biệt lập nơi tận cùng sơn dã, nơi đi bộ mấy ngày đường mới đến chợ và họ phải vượt qua, phải nín nhịn cái cảm giác "thèm người" chân thật đến giản dị Đọc xong truyện, người ta tự hỏi khoảng tối đen giữa hai chiếc giường trong căn phòng tạm bợ có phải là nơi để cái sạch trong, thanh khiết ở lại trong lòng người, để câu chuyện trở nên thánh thiện
hơn, vượt qua sự tầm thường vốn ngự ở đâu đó trong cõi người? Cơn mưa hoa mận trắng viết về cuộc sống những người giáo viên cắm chốt trên những
bản làng vùng cao với hai nhân vật chính là Thuận và Kiên Thuận - một cô giáo vùng xuôi lên Kin Chu Phìn dạy học đã ba năm, xa gia đình, xa chồng con Người phụ nữ để tuổi xuân trôi đi trong những cơn mưa ran ran trên rừng vầu, rừng nứa, trong những thiếu thốn, vất vả nơi thung cao mịt mùng Hơn bao giờ hết, "ba năm sống cô độc ở Kin Chu Phìn, Thuận đã thấm thía nỗi sợ, nỗi buồn của người giáo viên cắm bản" Kiên - một giáo sinh tình nguyện lên dạy xoá mù chữ cho trẻ em người Dao là chàng trai trẻ tuổi đầy những say
mê, nhiệt huyết và lòng thuỷ chung tuyệt đối trong tình yêu Cái nghèo đã đẩy hai người ở cùng một gian nhà tranh ọp ẹp, không gian riêng tư là hai chiếc giường kê cách nhau một sải tay Chính trong tình huống thử thách, cười ra nước mắt ấy là nơi diễn ra cuộc đấu tranh, dằng xé quyết liệt, dữ dội của cả Kiên và Thuận "Từ ngày có Kiên làm bạn, nỗi cô đơn của Thuận vơi đi một nửa Nhưng về đêm, những khoảng thiếu hụt chưa được khoả lấp càng nứt sâu thêm Nó như cái lỗ thủng đói khát mở ra thăm thẳm, đen ngòm Chị thèm chồng, thèm con Đã gần một năm, chị không được cọ mặt vào bờ râu nhặm nhội của anh, không được chằm bặm, hít hà mùi nắng khét trong tóc con, đứa con gái lên sáu có đôi mắt nhóng nhánh như hai hột đỗ đen nhúng nước" Ngòi bút sắc sảo, tinh tế của Phạm Duy Nghĩa đã chạm tới miền nhạy cảm, khao khát nhất của người đàn bà Chị là hình ảnh đáng phục và cũng đáng thương cho thân phận những con người đang âm thầm hi sinh và cũng âm
Trang 31thầm chịu đựng nỗi cô đơn ghê rợn Trong tâm hồn chàng trai trẻ tên Kiên, lý tưởng sống đẹp luôn là ngọn lửa để anh nâng niu, giữ gìn nhân cách Cuộc đấu tranh nội tâm của Thuận và Kiên giữa một bên là bản năng sinh lý và một bên là sự thánh thiện cần được giữ gìn khiến ta liên tưởng tới cuộc đối thoại
với chính mình của người hoạ sĩ trong truyện ngắn Bức tranh (Nguyễn Minh
Châu) để tìm ra chân lý đích thực của nghệ thuật Đã có lúc "chị không cưỡng lại mình được nữa, chị sẽ đổ ập xuống chiếc giường bên kia như một cây chuối rừng bật rễ, sẽ bứt xé điên cuồng, sẽ vỡ oà sóng sánh" Nhưng "bỗng chị sững lại khi liếc nhanh xuống khoảng tối ở hai chiếc giường, cái khoảng tối lúc này nom sâu hoắm, đen ngòm như một lỗ huyệt Có một cái gì vô hình
đã ngăn chị lại Nó giống như sự kinh sợ của một người sắp sửa chôn sống chính mình" Thuận đã chiến thắng những ham muốn trần tục dù cho chiến thắng ấy không hề dễ dàng Bởi "chị cảm thấy tóc trên đầu đang đổ trắng dần dần Màu trắng của sự giằng giữ, bảo toàn đến tận cùng, khốc liệt" Phía bên kia chiếc giường, Kiên cũng vật mình cựa quậy Chính gương mặt trinh trắng, sáng trong và thánh thiện của Hà đã níu bước chân anh lại Kiên đã giữ được lập trường sống của mình như anh từng tuyên bố trước lời khiêu khích của Tiến: "Đối với người yêu, em tuyệt đối trung thành" Chi tiết cuối cùng, Thuận mơ thấy chị và Hà đi dưới cơn mưa hoa mận trắng, trên người không mặc quần áo là biểu tượng cho sự vẹn toàn, trinh trắng, nguyên thuỷ, ban đầu
"Cả hai cứ trần truồng đi trong mưa hoa, không thấy ngượng ngùng, người
nhẹ bỗng, lâng lâng trong ý nghĩ siêu thoát và chay tịnh" Cơn mưa hoa mận trắng cho ta cảm nhận được cuộc đấu tranh lúc âm thầm lúc sôi nổi, quyết liệt
chống lại sự tha hoá, và chống cả sự "thèm người" chính đáng của con người nơi sơn dã Cái trắng trong tinh khiết và cái bản thể trần tục; cái rối bời nhập nhằng và cái rõ ràng minh bạch; cái thú vui trần thế và cái tín điều thiêng liêng; cái đạo đức ngàn năm và cái dục vọng nhất thời được đặt trong môi
Trang 32trường Sư phạm ở nơi heo hút, biệt lập để biểu hiện, bộc lộ tính cách Thông điệp "trừ diệt mọi ham muốn trong tính đa dạng của trần thế, là trừ diệt cái gốc của mọi đau khổ", và nhà văn muốn hướng người đọc đến sự "tươi lành
và tinh khiết như một cơn mưa ở cõi vĩnh hằng"
Nhân vật tư tưởng trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa luôn trĩu nặng
ưu tư và phải đương đầu với sự giằng xé quyết liệt trong nội tâm Cái gì sẽ chiến thắng và cái gì là căn cốt mà con người cần phải giữ gìn, đó là hành trình kiếm tìm không mệt mỏi của nhà văn cùng với nhân vật Vẫn trong dòng
mạch ấy, truyện ngắn Cô gái xuống ga Vĩnh Yên là câu chuyện xúc động mà
giản dị Tính hấp dẫn, lôi cuốn của truyện ngắn này ở chỗ: thông qua hàng loạt các tình tiết, sự kiện, nhân vật “tôi” bộc lộ tâm trạng day dứt với một cô gái yêu văn chương đi cùng chuyến tàu và sau đó là cuộc tìm kiếm câu trả lời
cô ta là ai? Hoá ra, đó là cô gái làm tiền ở nấc thang cuối cùng của xã hội, không còn gì để mất, "quá chai nhàm với thân phận mua bán", nhưng vẫn còn một góc nhỏ tâm hồn trong vắt khát khao cảm giác yêu và được yêu Ba ngày đêm nhân vật “tôi” - anh chàng nhà văn và Diễm sống cùng nhau trong một căn phòng, ngủ cùng trên một chiếc giường mà tuyệt nhiên không vướng bận chuyện xác thịt trần tục Nhân vật “tôi” không tin người con gái tự nguyện đến với mình chỉ đơn thuần là niềm đam mê văn chương và tình yêu thuần khiết với tác giả của nó Anh đã từng dùng phép thử xác thịt với mong muốn
"gỡ bung tấm mặt nạ và lột trần bản nguyên của cô gái" Trong suy nghĩ giằng
xé của anh, có lúc anh tưởng như "nằm bên tôi phải chăng là một nụ hoa đồng tiền thuần khiết, trinh bạch", có lúc ngỡ đây chỉ là một cô gái giang hồ đầy cá tính Diễm vẫn vẹn nguyên trong ba đêm nằm cùng giường với người đàn ông
lạ Vào một buổi sáng sau vài đêm chật vật giữa làn ranh giới mỏng manh để đạt được độ trắng tinh như hoa mận trên núi, nhà văn đang say sưa ngồi viết bỗng nhớ ra sự có mặt của cô gái bên cạnh mình bèn quay sang hỏi: "Em đọc
Trang 33gì đấy?" "Thì vẫn là truyện của anh"."Truyện gì?" "Ngôi nhà nhỏ bên hồ - truyện cuối cùng trong tập truyện của anh đấy" "Vậy ư? Theo em truyện ấy nói lên điều gì vậy?" "Truyện này nói về cái hay, cái đẹp của văn học mà không phải ai cũng nhận ra được anh ạ!" Ngỡ ngàng, ngạc nhiên, anh nhìn cô gái ít được học hành, mang thân phận rất đỗi tầm thường "Tưởng hỏi xem cô
ta có đọc hay không và thử trình độ dân trí của cô ta như thế nào, ai ngờ Không ít người học văn, dạy văn mà không nói được một câu như vậy" Đó chính là hòn nam châm bí ẩn cuốn hút nhân vật tôi đi tìm câu trả lời: cô là ai? Kết thúc tác phẩm là hai cái bóng lẻ loi, cô độc của chàng trai và cô gái dưới mưa Chàng trai đã tìm câu trả lời mà bấy lâu mình day dứt: Diễm là cô gái làm tiền ở quán Đêm Rừng miền thượng du Song, trong thẳm sâu cô gái có một góc tâm hồn trong trẻo yêu mê văn chương, mong muốn "một cuộc tình ngắn ngủi mà sạch sẽ, sáng trong" Qua đó là thông điệp của tác giả về sự bất lực, cô đơn của kiếp người Cả những tình yêu thương lẫn "mọi ý tưởng to tát
mà mình viết ra đều không đem lại được gì, dù một phần rất nhỏ thôi, cái điều
mà người con gái này mơ ước"
Nhân vật trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa có khi là nơi anh gửi gắm những quan niệm văn chương của mình Vẫn đặt ra các câu hỏi: điều gì làm nên sức ám ảnh của văn chương với con người, văn chương đã thực sự đáp ứng được mong mỏi của con người trong thời hiện đại hay chưa, Phạm Duy Nghĩa đã bày tỏ một cách chân thực và dung dị những điều mình băn khoăn qua một số nhân vật tư tưởng trong tác phẩm của anh Đó là nhân vật "tôi" -
anh chàng nhà văn trong truyện ngắn Vệt sáng trên ban công Ở rất nhiều tác
phẩm, ta thấy Phạm Duy Nghĩa thường xây dựng tình huống gặp gỡ bất ngờ
mà thú vị giữa các nhân vật Vệt sáng trên ban công cũng là một cuộc gặp
gỡ như vậy Hà - cô bé nhà giàu thiếu thốn tình cảm trong một lần say rượu đã gặp anh chàng nhà văn suốt ngày đam mê với những trang viết Cô bé thần
Trang 34tượng chàng trai và tìm đến chàng như một sự cứu rỗi tâm hồn lúc cô đơn nhất Cô bé trông như con ngựa hoang, chưa đến mức hư hỏng có đủ mọi thứ, chỉ thiếu người tâm sự trò chuyện, để giãi bày trong cuộc hành trình mơ hồ tìm kiếm cái thực tại xa vời Nỗi cô đơn của cô bé là đại diện cho một lớp trẻ
bơ vơ, không biết đi đâu về đâu, hay nói một cách khác họ không có một nhân sinh quan rõ rệt Nhưng cũng có thể hiểu đó là sự mâu thuẫn chưa thể giải quyết ngay được giữa khát vọng dù là chính đáng hay viển vông và thực tại xã hội của lớp trẻ Tưởng chừng như to tát, lớn lao, thực ra đó là chỉ là khát khao nhỏ bé, giản dị của con người, nó loé sáng và kéo dài như cái vệt sáng trên ban công Điều làm nên sự day dứt trong lòng bạn đọc là thói bàng quan, ích
kỉ, độc ác của con người nhiều khi chôn sống niềm hi vọng của người khác Nhân vật “tôi” đã đi ngoài rìa, đi dọc đường biên cuộc sống, đã "quay lưng với nỗi khổ đau của con người" thì nói gì đến chuyện sáng tạo văn chương
Vệt sáng trên ban công không chỉ là một câu chuyện tình yêu, ở một ý nghĩa
nào đó như là một tuyên ngôn nghệ thuật Nhân vật “tôi” - nhân vật tư tưởng phải sau một hành trình kiếm tìm mới nhận ra vẻ đẹp đích thực của văn chương và phải xuất phát từ lòng nhân đạo, yêu thương con người: "Những trang bản thảo rũ xuống trên tay tôi, nhợt nhạt Tôi đã nhận ra sự giả dối Khi viết truyện tôi cố tưởng tượng ra mình đang đau xót, tôi phải hình dung mình
là kẻ từ tâm, vì ở ngoài đời tôi thường dửng dưng với con người và chưa gột sạch trong mình tính ác Những cậu bé lang thang, người đàn bà lam lũ không thoát thai từ máu thịt tôi mà nứt ra từ những ý niệm khô khốc, mơ hồ" Qua nhân vật “tôi”, Phạm Duy Nghĩa muốn nêu cao thứ văn chương vì con người, nhà văn trước hết phải là một con người bình thường với trái tim biết yêu thương Điều này, Nam Cao đã từng khẳng định trong hàng loạt các tác phẩm của mình: "Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là
Trang 35ánh trăng lừa dối Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những
kiếp lầm than" (Trăng sáng)
Cùng với Vệt sáng trên ban công, Giọt nước mắt dưới trăng cũng là
một tuyên ngôn nghệ thuật của Phạm Duy Nghĩa Tiếp tục gửi gắm thông điệp qua nhân vật tư tưởng - nhân vật “tôi”, nhà văn muốn người đọc phải trăn trở, nghĩ suy về vai trò của văn chương thời hiện đại “Tôi” là một nhà thơ khao khát được ngắm nhìn, tắm trong thứ ánh sáng bàng bạc, mơ hồ của vầng trăng nghệ thuật Song, đối diện với anh chỉ là hiện thực thô kệch, một người vợ bị hôi nách làm sao có thể là "làn trăng mơ ước của tôi" Ba năm qua, anh mải bì bõm với thi ca mà lãng quên mình có một gia đình Chưa một lần anh "vùi mặt vào vùng ngực hôi hổi bồng bềnh, như vùi mặt vào mùa thu vàng hấp hối " Chỉ khi cảm nhận giọt nước mắt "trong veo và lạnh" của một người đàn bà ăn xin gia đình chết hết vì lũ lụt nhân vật “tôi” mới bừng tỉnh
“Tôi” trong Giọt nước mắt dưới trăng là sự cô đơn của người nghệ sĩ, là cuộc
tìm kiếm, vật lộn thoát khỏi cái giả, cái thông thường quen thuộc để tiến tới cái thật, cái lóng lánh, mới lạ Thông điệp mà anh rút ra được cũng là lời báo mộng của văn hào Paustovski đến trong giấc mơ: "Truyện ngắn mà hiếm chi tiết chỉ như cái que khô khốc dùng để xâu cá hồi sấy Hãy để cuộc sống tràn đầy trang sách Đừng đặt cuốn sách lên trên cuộc đời" Quan niệm nghệ thuật
ấy đã được Phạm Duy Nghĩa khắc sâu và trở thành kim chỉ nam cho các sáng tác của mình
Nhân vật tư tưởng là kiểu nhân vật quen thuộc trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa thể hiện sâu sắc ý đồ nghệ thuật của tác giả Những tư tưởng nhân bản về cái đẹp, về sứ mệnh của văn chương đã khiến cho tác phẩm của anh thêm sức nặng Vượt thoát được những minh họa giản đơn của loại nhân vật này, Phạm Duy Nghĩa truyền thống trong việc lựa chọn nhân vật tư tưởng song vẫn hấp dẫn bạn đọc bởi "Nghĩa đã hoá thân làm nhiều con người khác
Trang 36nhau, anh đặt mình sống ở các tình huống nghệ thuật, hoàn cảnh hiện thực khác nhau để bộc lộ cái tôi của mình" [28, Tr 7]
2.1.2.2 Kiểu nhân vật tính cách - bi kịch
Nhân vật tính cách - bi kịch là một kiểu nhân vật phức tạp Dấu ấn quan trọng để nhận diện được loại nhân vật này là ở mặt cá tính, ở số phận riêng tư chứ không phải qua lời phát ngôn trực tiếp hoặc luận bàn về các vấn đề mà các tác giả quan tâm Ở loại nhân vật này, tư tưởng của tác giả cùng những vấn đề đặt ra trong xã hội được thể hiện đằng sau cá tính, sau số phận của cá nhân Đặt tên kiểu nhân vật là tính cách - bi kịch chúng tôi muốn nhấn mạnh chính những đặc điểm và các nét tính cách riêng độc đáo là nguyên nhân dẫn đến bi kịch của cuộc đời họ Đây là kiểu nhân vật quen thuộc trong truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa
Có thể nhận thấy, các nhân vật của Phạm Duy Nghĩa, đặc biệt là những nhân vật nữ đều có một nét tính cách đặc trưng: đó là sự khao khát yêu và được yêu đến mãnh liệt Những cô gái dân tộc quyết liệt, mạnh mẽ tìm đến người mình yêu, những cô gái vùng xuôi lên vùng cao dạy học chưa bao giờ nguôi ngoai ngọn lửa tình, lại có chàng thi sĩ tôn thờ người con gái mình yêu
đã trở thành huyền thoại của mảnh đất Sapa Người đọc không thể quên nhạt
nhòa sau Cơn mưa hoa mận trắng là hình ảnh chị Thuận tràn trề sinh lực,
ngay trong kí ức hoa niên hiện về chị đã chủ động đến với tình yêu và lặn ngụp trong niềm hạnh phúc trần thế nhất Sự heo hút, rợn ngợp của núi rừng không dập xóa được dòng nhựa đang căng chảy trong lồng ngực chị Cái táo bạo của chị được thể hiện qua các chi tiết chị cố tình đánh thức ở Kiên - chàng trai trẻ tuổi ở cùng nhà với mình những miền nhạy cảm: Thuận nhờ Kiên đứng canh cho mình tắm suối, nhờ đưa hộ chiếc khăn tắm, "đôi khi cả tiếng trút cởi sột soạt giữa đêm khuya" Chị tự nhủ: "Tại sao con người cứ phải giấu giếm, che đậy nỗi khát thèm mà tạo hoá trớ trêu buộc ai cũng có"
Trang 37Đó là câu hỏi chính đáng của một người phụ nữ từng bị tước đoạt mất hạnh phúc trần thế trong chuyến lên thăm dở khóc dở cười của chồng mình Cú đá của con ngựa khiến đêm đó ở Kin Chu Phìn, anh loay hoay bên chị như một đứa trẻ to xác "èo uột, tơi bã, chờm chợt bề ngoài, trôi lều phều như sợi bấc"
Đã bao ngày, chị là cái cây chết khô chết khát chờ đợi một cơn mưa tươi nhuần
Nhân vật Thuận có sự gặp gỡ với nhân vật Vân trong truyện ngắn
Tiếng gọi lưng chừng dốc Với sứ mệnh của người giáo viên cắm bản, Vân
khoác ba lô vượt núi trong nỗi khát khao có một tình yêu, một gia đình với những đứa trẻ Cô gái trông bề ngoài có vẻ nhu mì song lại ẩn dấu ở bề sâu một tính cách dữ dội Trong cái đêm nhân vật “tôi” - anh chàng nhà báo ở lại với Vân, cô chờ đợi và hi vọng một điều gì đó từ người đàn ông lạ Cảm giác
"thèm người" trỗi dậy: "Cơ thể em oằn xuống, run rẩy, dường như muốn bứt khỏi tôi Nhưng một tay em lại xiết chặt vào vai tôi Môi em trượt qua má tôi nóng hổi, ướt nhoèn" Vân và Thuận gặp nhau trong niềm khát khao niềm hạnh phúc đời thường Tính cách phức tạp của nhân vật được thể hiện ở chỗ, một bên là niềm khát khao tưởng không gì có thể ngăn cản nổi, còn một bên
là sự giằng xé lương tâm quyết bảo toàn sự thánh thiện đến cùng Chính sự giằng xé đó đã làm nên bi kịch cuộc đời họ Kết thúc truyện, cả Thuận và Vân đều là người chiến thắng, nhưng có một sự thật không thể nào thay đổi được,
đó là sự cô đơn khủng khiếp vẫn ngày đêm vây bọc lấy họ Người đọc tự đặt
ra câu hỏi: đến bao giờ chị Thuận mới được trở về bên chồng con để không phải vùi mình trong suy nghĩ siêu thoát của đạo phật, và đến bao giờ Vân mới tìm lại được lòng tin trong tình yêu khi chị từng bị người yêu cự tuyệt vì lên miền núi dạy học? Thân phận những người giáo viên cắm bản sao nhỏ nhoi, đơn độc thế! Sự hi sinh âm thầm liệu có đem lại chút gì vui tươi hơn cho cuộc đời buồn tẻ của những người "được làm đàn bà quá ít" Trang văn của Phạm
Trang 38Duy Nghĩa như xoáy sâu vào tâm thức bạn đọc để lại một nỗi niềm thương cảm xót xa Ta hiểu rằng, thời nào cũng vậy, văn học là nơi "nâng đỡ những con người cùng đường tuyệt lộ" (Nguyễn Minh Châu), là ngọn nguồn chắt chiu từng mơ ước nhân bản nhất của con người
Trong các truyện ngắn của mình, Phạm Duy Nghĩa để lại những ấn tượng khó quên khi viết về những cô gái vùng cao Ở họ có sự hồn nhiên, hoang dã của đại ngàn, của gió mây miền núi như em Dua, em Dơ trong
Thương nhớ Lèng Hồ Em Dơ thầm yêu trộm nhớ thầy giáo Thịnh chỉ biết
nhìn trộm thầy khi thầy quay đi, đôi mắt cô bé như "mắt con nhện xanh ẩn mình trong kẽ nứt tối om trên vách đất" Còn Dua, chỉ một lời trêu đùa của thầy giáo, cô lí nhí cất lên lời hẹn hò như một tín điều thiêng liêng, bám lấy
nó cho dù người gật đầu đã quên nó từ lâu Thật thà, cả tin, ngây thơ là tính cách của người con gái vùng cao Song, mạnh mẽ, dữ dội, quyết liệt như thác
lũ cũng là nét tính cách nổi bật của những bông hoa núi rừng này Nhân vật
Lý Sểnh Mẩy trong truyện ngắn Lá Vàng Chải là người con gái như thế Cô
là con gái út của ông truởng khu Lá Vàng Chải Là người duy nhất của khu này học hết bậc trung học phổ thông ở trường huyện Ánh sáng văn hoá từ sách vở thấm quyện với khí chất miền núi hoang dã, ngang tàn đã tạo cho cô một tính cách khác thường: "Sểnh Mẩy thông minh, mơ mộng và mạo hiểm" Khát vọng tự do là ngọn lửa luôn rực cháy trong trái tim cô: "Sểnh Mẩy là con thú hoang ưa đi độc, không đi đàn Không khát thì thôi, khát thì tìm nước
ở tận đầu nguồn, uống cạn trăng vàng mới thoả" Ngay trong tình yêu, tính cách cô cũng dữ dội như thế Say mê chàng trai công nhân làm đường, cô thẳng thắn bày tỏ tình cảm của mình theo một cách riêng không giống bất kì
ai Lấy trộm áo chàng trai trong khi chàng đang tắm suối để có cơ hội nói chuyện với chàng, Lý Sểnh Mẩy đưa ra lời thổ lộ tự nhiên không hề ngượng ngùng:
Trang 39"Mày hát hay lắm - đứa con gái nói, thong thả, rành rọt - Tao thích nghe mày hát Tao thích mày"
"Mày không hát, tao không trả quần áo cho mày."
Có lẽ, đây là lời tỏ tình độc nhất vô nhị với chất giọng "gọn, đanh, nghe như một mệnh lệnh" Cho dù tình cảm ấy không được đáp lại, cô gái vẫn như một ngọn lửa băng qua rừng rậm theo bước chân người mình yêu Cô cứu anh ra khỏi thác lũ vì nhận ra anh cũng là người yêu cuộc sống như mình, "những người yêu ca hát là những người ham sống" Tính cách táo bạo, quyết liệt đã dẫn đến bi kịch cuộc đời cô gái Trong một lần vào rừng sâu đốn gỗ làm nhà cùng các anh, Sểnh Mẩy đã bị cây đè nát hai chân Giấc mơ được về thành phố học, được yêu và lấy người mình thích, được tự do như chim trời của cô gái vĩnh viễn khép lại Số phận đã không mỉm cười với cô Người con gái tự
do của núi rừng Tây Bắc phải chịu bi kịch đau đớn khủng khiếp song chúng ta tin ngọn lửa yêu cuộc sống trong tâm hồn cô không bao giờ lụi tàn
Phạm Duy Nghĩa neo lại trong tâm hồn bạn đọc một niềm tin vào cái
đẹp đang âm thầm toả bóng giữa cuộc đời Hoa cẩm tú cầu ứng mệnh là một
câu chuyện như thế Tác phẩm lôi cuốn ta ngay từ cái hoang đường, kỳ ảo ban đầu: tấm ảnh chụp hình một chàng trai trên Sapa có khả năng nói chuyện với hoa, lại thấy hoa hiện lên thành người Hai nhân vật nam trong truyện đều là những nhân vật có tính cách lạ, đó là hai linh hồn trong trẻo tôn thờ cái đẹp của tình yêu Tú - người trồng hoa có giấc mơ màu rêu đỏ ôm ấp trong trái tim mình hình ảnh May - cô gái múa điệu vờn mây làm say đắm bao khách du lịch Trong giấc mơ hàng đêm, Tú nhìn thấy "trời mây đỏ, thảm cỏ đỏ, tất cả bồng bềnh" trôi giữa dáng hình mềm mại của May Cô gái xinh đẹp là bông hoa cho mọi người ngắm chứ không chịu của riêng ai đã đùa cợt trước tình cảm của anh chàng trồng hoa Nổi bật ở Tú là tính cách si tình, đã tôn thờ một hình bóng thì suốt đời chỉ chạy theo người con gái đó, cho dù biết mình bị cự
Trang 40tuyệt, coi là trò đùa May đi Thác Bạc với khách Hà Nội, đi thăm Phanxipăng với Mai-cồ, Tú đều theo chân bám riết kiếm tìm May Sau mỗi cuộc tình bỏ
dở của May, Tú lại đến bên cô thì thầm như hi vọng, đợi chờ một điều gì đó Tình yêu trong anh vẫn vẹn nguyên, không một lời trách cứ, không oán giận
cô gái Vẻ đẹp của sự chân tình và lòng thuỷ chung của chàng trai vùng cao tưởng như câu chuyện cổ giữa thời hiện đại Đằng sau những toan tính thực dụng của bao chàng trai, cô gái, Tú như biểu tượng của bông hoa tuyết trong lành mãi neo đậu trên đất Sapa Với tính cách đặc biệt đó, bi kịch đến với Tú như một điều tất yếu Chạy theo hình ảnh không phải của mình, Tú chỉ nhận lại nụ cười lửng lơ của May Giấc mơ màu rêu đỏ của anh mãi mãi không bao giờ có được tình yêu anh mơ ước Lòng tốt và sự thuỷ chung ấy khiến người
ta cảm phục song người hi sinh lại không được đáp đền Câu chuyện thứ hai
về một người đàn ông có tính cách đặc biệt tên là Thụ, làm nghề thợ may Ông sống độc thân trong ngôi nhà xinh đẹp ba tầng không bóng dáng người phụ nữ Người đàn ông này khát thèm sự sạch sẽ: nhà sạch, người sạch, tư duy sạch, tâm hồn sạch Căn bệnh C.O.T (bệnh rối loạn ám ảnh không cưỡng được) đã khiến ông trở thành con người kì quặc Lúc nào ông cũng sợ vi trùng vây quanh mình, thậm chí thà đêm đêm ôm ấp một hình nhân trong sạch còn hơn sống với bất kỳ một người đàn bà đã bị vấy bẩn nào Suốt đời, ông chỉ tôn thờ một Sapa trong sạch, trinh trắng chứ quyết không sống khác Câu chuyện người tình của manơcanh có cái gì đó rùng rợn, ma quái song đọng lại
là lòng cảm phục, niềm tin vào sự thánh thiện không bị sụp đổ Ông Thụ chấp nhận bi kịch cô đơn để đổi lấy sự trong sạch, tinh khiết của tâm hồn Đó cũng
là đặc điểm chung của những nhân vật tính cách - bi kịch trong văn Phạm
Duy Nghĩa Đọc Hoa cẩm tú cầu ứng mệnh, ai cũng háo hức một lần đặt
chân lên Sapa để tận mắt gặp gỡ chàng trai có khả năng nói chuyện cùng hoa,