Những ý kiến, bài viết có tính chất khái quát về truyện ngắn Đỗ Bích Thúy Sau những thành công nhất định từ những sáng tác đầu tay, nhà văn Đỗ Bích Thuý giành được sự quan tâm rất lớn c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KIỀU THỊ ĐỊNH
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THUÝ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TÔN THẢO MIÊN
Trang 2Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Tôn Thảo Miên, người đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài luận văn này Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng tri ân tới các thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã
có những ý kiến nhận xét góp ý quý báu để tôi hoàn thành tốt công trình nghiên cứu của mình
Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Hữu Nghị T78, cơ quan nơi tôi công tác; Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình tôi học tập và làm luận văn
Dù bản thân đã rất cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của Quý thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Kiều Thị Định
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi c ng xin cam đoan rằng mọi
sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Kiều Thị Định
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Dự kiến đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc của luận văn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 ĐỖ BÍCH THÚY TRONG DÒNG CHẢYCỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 9
1.1 Khái quát truyện ngắn Việt Nam đương đại 9
1.1.1 Những chuyển biến về nội dung, khuynh hướng phản ánh 9
1.1.2 Sự đổi mới về nghệ thuật biểu hiện 12
1.2 Hành trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy 18
1.2.1 Vài nét tiểu sử Đỗ Bích Thuý 18
1.2.2 Chặng đường sáng tác của Đỗ Bích Thúy 20
CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 26
2.1 Khái lược về nhân vật và nhân vật trong truyện ngắn 26
2.2 Vai trò và cách phân loại nhân vật trong tác phẩm văn học 28
2.3 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thuý 32
2.3.1 Kiểu nhân vật tự nhận thức 32
2.3.2 Kiểu nhân vật bi kịch 42
2.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thuý 50
2.4.1 Nghệ thuật khắc hoạ tâm lý thông qua hành động của nhân vật 51
2.4.2 Nghệ thuật khắc hoạ tâm lý thông qua hồi ức 52
Trang 52.4.3 Nghệ thuật khắc hoạ tâm lý thông qua ngoại cảnh 54
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN VÀ TẠO TÌNH
HUỐNGTRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 593.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong truyện ngắn Đỗ Bích Thuý 59
3.1.1 Khái lược về cốt truyện 59 3.1.2 Các kiểu cốt truyện và nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong truyện ngắn
Đỗ Bích Thúy 60
3.2 Nghệ thuật tạo tình huống trong truyện ngắn Đỗ Bích Thuý 78
3.2.1 Khái lược tình huống truyện 78 3.2.2 Các kiểu tình huống truyện và nghệ thuật tạo tình huống trong truyện ngắn Đỗ Bích Thuý 81
KẾT LUẬN 96TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ
thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu) Nó nhấn mạnh sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo theo các nguyên tắc tư tưởng; nó khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Tìm hiểu tác phẩm văn học qua góc nhìn thế giới nghệ thuật sẽ tránh được cách đánh giá theo lối đối chiếu giản đơn giữa các yếu tố hình tượng với các yếu tố sự thực đời sống riêng lẻ Hướng nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta khám phá được một cách toàn vẹn vẻ đẹp của tác phẩm văn chương từ nội dung đến hình thức nghệ thuật để phân biệt nó với các loại hình nghệ thuật c ng như các dạng văn bản ngôn từ khác
1.2 Vài năm đầu sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nền văn học của
ta chủ yếu vẫn phát triển theo quán tính của văn học thời chiến Từ những năm 1980 (giai đoạn tiền đổi mới), nhờ năng lực dự cảm tinh nhạy, văn học đã khơi mở những nẻo đường đổi mới đầu tiên Sau năm 1986, văn xuôi với ưu thế đặc biệt của mình
đã sớm đạt được những thành tựu nở rộ, góp phần cổ v tích cực cho công cuộc đổi mới đất nước Trong đó, thể loại gặt hái được nhiều thành công nhất là truyện ngắn
và tiểu thuyết Làm nên bức tranh đa dạng nhiều màu sắc của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này phải kể đến sự nỗ lực không ngừng của thế hệ các nhà văn trưởng thành trong kháng chiến, sớm ý thức được sự cần thiết phải đổi mới văn học Tên tuổi của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu… được nhắc đến với vai trò của lớp người tiên phong Bên cạnh đó là sự đóng góp tích cực của các cây bút trẻ như: Chu Lai, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, Tạ Duy Anh, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Lê Minh Khuê, Thùy Dương, Trầm Hương, Võ Thị Xuân Hà Hay những tác giả còn rất trẻ sau này như: Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư, Di Li, Đỗ Bích Thúy… Ở họ, mỗi người có một đặc điểm, với những nỗ lực riêng của mình đã làm rạng ngời thêm cho gương mặt văn xuôi thời kỳ đổi mới Vì vậy, để có cái nhìn toàn diện hơn về thành
Trang 7tựu của văn học giai đoạn này, việc nghiên cứu, tìm hiểu các nhà văn, đặc biệt là việc
đi sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật của mỗi tác giả là một công việc rất cần thiết
1.3 Đỗ Bích Thúy từng là hiện tượng trên văn đàn với các giải thưởng: Giải
nhất truyện ngắn Sau những mùa trăng - Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2000 Tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh Chuyện của Pao - Giải B Hội VHNT các Dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2006 Ai
đã từng đọc tác phẩm của chị hẳn khó có thể quên được chất văn mộc mạc và giản
dị Tâm trạng từng nhân vật, từng số phận trong tác phẩm của chị là nơi mà cảm xúc của người viết như gắn quyện vào Tác phẩm của Đỗ Bích Thúy thành công bởi sức
ám gợi lâu bền và sự đọng lại trong tâm trí người đọc những trăn trở, suy tư mà nhà văn muốn gửi gắm tới bạn đọc Đến nay, Đỗ Bích Thuý đã là cây bút được khẳng định tên tuổi, truyện ngắn của chị được độc giả và giới nghiên cứu văn học đánh giá cao và đã được một số người chọn làm đề tài nghiên cứu Tuy nhiên, sự đánh giá này thường được thể hiện trong khuôn khổ một bài báo hoặc một số công trình nghiên cứu khoa học, nhưng lại thường đặt trong mối tương quan với các nhà văn khác Vì vậy, việc nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Đỗ Bích Thuý chưa được quan tâm đầy đủ và chưa thật chuyên sâu
Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
Trên cơ sở những ý kiến đã có, qua đề tài này, chúng tôi mong muốn khảo sát truyện ngắn Đỗ Bích Thuý từ phương diện nghệ thuật, từ đó thấy được nét đặc sắc trong thế giới nghệ thuật của nhà văn, góp thêm tiếng nói khẳng định tài năng của
nữ nhà văn quân đội này
2 Lịch sử vấn đề
Văn học Việt Nam sau đổi mới là thời kì nở rộ các truyện ngắn của nhiều cây bút trẻ Họ là lớp nhà văn tài năng và giàu nhiệt huyết Lối viết của họ có sự kế thừa tinh hoa của văn học giai đoạn trước, bên cạnh đó còn chứa đựng những nét cách tân, đột phá ở nhiều phương diện Với nhà văn Đỗ Bích Thuý - đứa con của đại ngàn Tây Bắc, mặc dù chị chưa hẳn là đại diện tiêu biểu nhất, nhưng ở chị có một
Trang 8phong cách riêng khá độc đáo, khó có thể trộn lẫn Chị đã có những tác phẩm để lại dấu ấn trên văn đàn hôm nay, đặc biệt là mảng truyện ngắn viết về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu, bài báo, khai thác về tác phẩm của nhà văn này ở nhiều khía cạnh khác nhau
2.1 Những ý kiến, bài viết có tính chất khái quát về truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Sau những thành công nhất định từ những sáng tác đầu tay, nhà văn Đỗ Bích Thuý giành được sự quan tâm rất lớn của báo chí, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ, họ nhắc đến tác phẩm của chị như một hiện tượng văn học Hàng loạt bài viết trên báo mạng và báo viết đều tập trung nhiều trang viết về chị và những đứa con tinh thần của chị
Giống như Nguyễn Ngọc Tư, ngay từ đầu Đỗ Bích Thuý đã khiến bạn đọc
phải nhớ đến chị qua một văn phong riêng, đậm chất miền núi Trong bài viết Gặp hai nữ thủ khoa truyện ngắn trẻ, tác giả Điệp Anh nhận xét:“Thế mạnh của Đỗ Bích Thuý là đời sống của người dân Tây Bắc, với những không gian vừa quen vừa lạ, những phong tục tập quán đặc thù khiến người đọc luôn cảm thấy tò mò và bị cuốn hút (…) Trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thuý, không gian Tây Bắc hiện lên đậm nét, để lại dư vị khó quên trong lòng độc giả, dù người đọc vẫn chưa thể hết quyến luyến với những áng thơ văn dìu dặt tiếng sáo, tiếng khèn, la đà với rượu nồng của núi rừng Tây Bắc trong các sáng tác của các bậc tiền bối như Tô Hoài, Chế Lan Viên, Tố Hữu…” [2; 3] C ng chính không gian văn hoá ấy c ng đã thu hút sự chú
ý của nhiều nhà phê bình văn học, nhà văn, đặc biệt có cả những cây bút đã và đang
viết về đề tài miền núi Họ luôn đánh giá cao “khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của người miền cao một cách tài tình” [3; 2] và cảm thấy thú vị trước những trang viết “đậm đặc chất dân gian của hương vị núi rừng” [2; 15] của
nữ nhà văn quân đội này Các tác giả đã đánh giá truyện ngắn Đỗ Bích Thuý trên phương diện văn hoá, để khẳng định dấu ấn vùng miền là điều mấu chốt, cốt lõi làm nên phong cách nghệ thuật của chị
Khi đọc văn Đỗ Bích Thuý, trong bài Cái duyên và sức gợi của hai giọng văn trẻ, nhà văn Chu Lai viết: “Đọc Thuý, người ta có cảm giác như được ăn một
Trang 9món ăn lạ, được sống trong mảnh đất lạ mà ở đó tràn ngập những cái rất riêng đậm đặc chất dân gian của hương vị núi rừng, của con suối chảy ra từ khe đá lạnh, của mây trời đặc sánh “như một bầy trăn trắng đang quấn quyện vào nhau”, của mùi ngải đắng, mần tang, của những nét ăn, nét ở, của những phong tục tập quán còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, thuần phác, của ánh trăng “giữa mùa cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng cửa trước ra cửa sau”, của những trái tim con gái vật vã, cháy bùng theo tiếng khèn gọi tình dưới thung xa, của bếp lửa nhà sàn và tiếng mõ trâu gõ vào khuya khoắt, của những kiếp sống nhọc nhằn và con bìm bịp say thuốc, say rượu ngủ khì bên chân chủ…” [19; 102]
Món ăn lạ mà Chu Lai cảm nhận thấy sau này đã được Trung Trung Đỉnh,
nhà văn chuyên viết về đề tài miền núi khẳng định lại Ông viết: “Tôi có cảm giác
Đỗ Bích Thuý còn quá nhiều điều để viết về miền rẻo cao xa xôi nhưng gần gũi, tuyệt vời đẹp ấy của đất nước ta Tôi cũng là người mê viết truyện ngắn và mê cao nguyên đá kì vĩ Hà Giang, nhưng đọc truyện ngắn của Đỗ Bích Thuý, tôi thực sự ngả mũ…chào thua! Dẫu đây mới chỉ là mở đầu Mở đầu mơ ước của mọi nhà văn (…) Đỗ Bích Thuý có khả năng viết truyện ngắn về hoàn cảnh sinh hoạt truyền thống của người miền cao một cách tài tình Không truyện nào là không kể về cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù tác giả không hề cố đưa vào chi tiết lạ Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có.” [9; 8]
Nhà văn Nguyễn Văn Thọ nhận xét, văn Đỗ Bích Thúy dung dị nhưng đã
chạm vào nỗi đau thân phận nhân vật, “Đỗ Bích Thúy không nhặt chi tiết để sắp xếp nên đời sống mà tìm hiểu đời sống rồi mới lựa chọn chi tiết để tái hiện đời sống ấy” Nhà thơ Hữu Việt thì cho rằng Đỗ Bích Thúy đã minh chứng cho việc vấn đề
không phải là viết cái gì mà là viết như thế nào Bởi có những vấn đề đúng là của báo chí, câu chuyện của báo chí nhưng qua ngòi bút Đỗ Bích Thúy đã chạm đến trái
tim người đọc như ở các truyện Khách quý, Mèo đen…
Trang 10Còn một số bài viết về văn phong của Đỗ Bích Thuý, song những nhận định
đó mới chỉ rút ra khi các tác giả cảm thụ và đánh giá một vài tác phẩm cụ thể của
chị Chỉ đến bài báo Từ truyện ngắn của một người viết trẻ của nhà nghiên cứu phê
bình văn học Lê Thành Nghị thì những đánh giá về văn phong của Đỗ Bích Thuý mới bắt đầu mang tính khái quát Với sự ưu ái đặc biệt với người con của đại ngàn Tây Bắc, nhà nghiên cứu Lê Thành Nghị với cảm nhận tinh tế đã thâu tóm được
thần thái truyện ngắn Đỗ Bích Thuý: “Chúng ta sẽ bước vào một không gian lạ, không gian có núi cao, trời rộng của vùng rừng núi phía Bắc, nơi từ đó nhìn xuống, dòng sông Nho Quế chỉ còn “bé như sợi chỉ dưới chân núi Mã Pí Lèng” Một không gian đầy hoa lá rừng; có tiếng gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên cuội đỏ, có những chàng trai thổi sáo theo sau những cô gái khoác quẩy tấu xuống chợ; những nồi thắng cố nghi ngút khói trong phiên chợ vùng cao đầy màu sắc; những đêm trăng sóng sánh huyền ảo; những cụm mần tang mọc trong thung lũng; tiếng đàn môi réo rắt sau bờ rào đá; lễ hội gầu tào với điệu hát gầu Plềnh mê đắm của các cô gái, chàng trai người Mông trên đỉnh núi…”
Với báo mạng, c ng có nhiều bài viết đề cập đến sáng tác của Đỗ Bích Thúy
như: Tác giả Lê Hương Thủy c ng có bài viết với tựa đề: Đường đến với văn của một người viết trẻ, đăng trên trang http://tapchinhavan.vn, ra ngày 23/11/2009 Chị
tỏ ra tâm đắc với hình tượng xuyên suốt truyện ngắn Đỗ Bích Thuý, đó là hình ảnh
những người phụ nữ rẻo cao Chị viết:“Thân phận những người phụ nữ miền sơn cước đã được Đỗ Bích Thuý khắc hoạ với những tình huống đời thường muôn mặt cũng như trạng thái tâm lí rất đặc trưng của người phụ nữ vùng cao” Ngoài ra còn
có các bài viết: Nếu làm độc giả thất vọng tôi thà chịu cũ của tác giả Hà Anh, được
đăng tải trên trang http://evan.vnexpress.net, ra ngày 05 tháng 12/2005 Bài viết:
Nhà văn Đỗ Bích Thúy: viết vì nhu cầu nội tâm của tác giả Dương Bình Nguyên
được đăng tải trên trang http://evan.vnexpress.net, ra ngày 21/01/2006 Tiếp đến là
bài viết: Nhà văn Đỗ Bích Thúy - sự mềm mại quyết liệt được đăng trên trang http://www.cand.com.vn Ngoài ra còn có bài viết: Đỗ Bích Thúy, tôi đã không nghĩ rằng người phụ nữ có thể hy sinh nhiều đến thế trên phongdiep.net, ra ngày
Trang 1130/01/2009 Tác giả Bình Nguyên Trang với bài viết: Con của núi đăng trên trang: http://www.hoilhpn.org.vn,ngày 16/03/2009 Bài viết: Đỗ Bích Thúy và ngải đắng ở trên núi được đăng trên trang: http://my.opera.com Nhìn chung các bài báo, bài
phê bình này đều có dung lượng ngắn, đa phần là những bài phỏng vấn trực tiếp về vấn đề nhân vật, hoàn cảnh ra đời c ng như thông điệp mà nhà văn gửi gắm thông
qua tác phẩm của mình
2.2 Những công trình tiếp cận truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy
Luận văn thạc sĩ của Dương Thị Kim Thoa: Tiếp cận sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư từ phương diện giá trị văn học - văn hóa (2008) Ở đề tài này, Dương Thị Kim Thoa đã mạnh dạn “Tiếp cận sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư từ phương diện giá trị văn học - văn hóa” Chị đã đặt tác phẩm
của một tác giả trẻ miền Bắc trong mối tương quan so sánh với tác giả trẻ miền Nam, để từ đó khẳng định, không gian Tây Bắc có sức mạnh chi phối tới lối viết
của Đỗ Bích Thuý Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Minh Trường với đề tài Truyện ngắn về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc qua tác phẩm Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Huy Thiệp (2009) Ở đây Nguyễn Minh Trường tập trung tìm hiểu
hình tượng cuộc sống và con người miền núi phía Bắc qua truyện ngắn của ba tác giả Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Huy Thiệp Luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Thanh Hồng với đề tài Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn một
số cây bút nữ thời kì 1986 - 2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy (2009) Trong luận văn này Nguyễn Thanh Hồng đã chỉ ra những cách tân
trong nghệ thuật xây dựng nhân vật và trên phương diện giọng điệu, ngôn ngữ của
ba tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thuý Ngoài ra còn có
Luận văn thạc sĩ của Ngô Thị Yên với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy (20011) Báo cáo khoa học sinh viên với đề tài Những độc đáo nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy của Nguyễn Thị Thu Huệ, K51 Văn học
- ĐHKHXH &NV (2010)…
Qua việc khảo sát những bài viết, công trình nghiên cứu về tác phẩm của nhà văn Đỗ Bích Thuý, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã chú ý tới nhiều khía cạnh
Trang 12khác nhau, tạo nên những nét riêng trong phong cách của chị như không gian nghệ thuật, thế giới nhân vật và ngôn ngữ, giọng điệu… Tuy nhiên, những điều này mới chỉ dừng lại ở mức độ nêu vấn đề, hoặc đề cập chưa được chuyên sâu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập một cách hiểu thống nhất về thế giới nghệ thuật và những yếu tố
cấu trúc của nó
- Chỉ ra được điểm độc đáo, mới mẻ của thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 1 Đối tượng nghiên cứu:
Với đề tài đã chọn, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, gồm thế giới nhân vật, nghệ thuật xây dựng cốt
truyện và tạo tình huống Trong quá trình nghiên cứu những biểu hiện của nó, người viết có sự liên hệ so sánh với các nhà văn và một số tác phẩm văn xuôi hiện đại khác nhằm làm sáng tỏ nét độc đáo trong sáng tạo của Đỗ Bích Thúy
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn khảo sát các tập truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy như sau:
- Sau những mùa trăng (2001)
- Những buổi chiều ngang qua cuộc đời (2003)
- Kí ức đôi guốc đỏ (2004)
- Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (2006)
- Mèo đen (2011)
- Đàn bà đẹp (2013)
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp đối chiếu
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
6 Dự kiến đóng góp của luận văn
Nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi hi vọng sẽ chỉ ra được những nét riêng độc đáo trong thế giới nghệ thuật truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy Từ đó khẳng định những đóng góp và vị trí của Đỗ Bích Thúy đối với sự phát triển của nền văn học Việt Nam đương đại
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của
luận văn được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Đỗ Bích Thúy trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam đương
đại Chương 2: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và tạo tình huống trong truyện
ngắn Đỗ Bích Thúy
Trang 14NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
ĐỖ BÍCH THÚY TRONG DÒNG CHẢY CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Khái quát truyện ngắn Việt Nam đương đại
1.1.1 Những chuyển biến về nội dung, khuynh hướng phản ánh
Khi xem xét quá trình đổi mới văn học phải đặt các tác phẩm trong tương quan giữa hình thức - nội dung, hiện tại - quá khứ, bản thân tác giả - các thế hệ cùng thời
và đương đại Sự chuyển biến theo hướng đổi mới để phát triển là một đòi hỏi tất yếu của bất kì một giai đoạn văn học nào và chính đội ng các nhà văn ở mỗi thế hệ, mỗi thời kì đều nhận diện c ng như ý thức được tầm quan trọng của nhiệm vụ này
Cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 thắng lợi, đất nước thống nhất đã
mở ra một chặng đường vẻ vang cho dân tộc ta, chặng đường của sự độc lập, tự do dân chủ và quá trình xây dựng, tái thiết đất nước sau sự tàn phá nặng nề của chiến tranh Những mất mát đau thương của chiến tranh đã lùi về quá khứ, niềm vui thắng trận c ng đã lắng đọng Sự chuyển đổi cảm hứng từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự đã đem đến cho văn xuôi thời kì đổi mới nói chung và truyện ngắn nói riêng
có nhiều đổi thay Chất sử thi và không khí hào hùng của văn học c ng như truyện ngắn sáng tác trong thời kì này đã dần nhạt đi, không còn sự ngợi ca một chiều đầy nhiệt tình hào sảng như trước mà thay vào đó là giọng điệu thâm trầm, sâu lắng, sự suy tư chiêm nghiệm và đậm chất đời thường
Từ sau năm 1986, văn xuôi nói chung, truyện ngắn Việt Nam nói riêng đã chiếm một ưu thế đặc biệt trong lịch sử văn học nước nhà Sự đổi mới tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù thẩm mĩ trong văn học, sự giao lưu hội nhập văn hoá đã khiến văn xuôi, đặc biệt là truyện ngắn phát triển phong phú về cả đề tài lẫn nội dung Mỗi nhà văn đều có cách lí giải cuộc sống, cách kiến tạo các công trình ngôn ngữ riêng Những thuận lợi đó đã tạo điều kiện tốt cho sự ra đời hàng loạt tác phẩm
Trang 15mới có giá trị và truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này đã gặt hái được rất nhiều thành công
Văn học giai đoạn này phát triển trong không khí dân chủ, đời sống văn học
đã bước sang “một thời kì khác” (Nguyễn Kiên), thời kì mà giao lưu văn hoá được
mở rộng Thông qua giao lưu, hội nhập, văn học nước ta có điều kiện tiếp xúc, lĩnh hội những thành tựu to lớn của văn học thế giới Chính vì vậy mà đội ng nhà văn tăng lên về cả số lượng và chất lượng, cá tính sáng tạo của nhà văn c ng được phát huy hơn Bên cạnh những nhà văn có tên tuổi trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến là những cây bút trẻ nhiệt tình, sáng tạo, tài năng, cá tính và đầy hoài bão
Quan niệm về văn học thời kì này cởi mở hơn, gắn với cá tính sáng tạo của người viết chứ không cứng nhắc theo những khuôn vàng thước ngọc Cách nhìn văn học như một công cụ tinh thần, một v khí tuyên truyền cách mạng đã được giải toả Văn học đã được nhìn nhận trong bản chất đặc thù của nghệ thuật ngôn từ, xuất phát
từ quan niệm mang tính cá thể của người cầm bút Như vậy nhà văn giai đoạn này
đã có một tâm thế mới, một vị thế mới, chủ động và tự do hơn trong sáng tạo Nhà văn đã thiết lập được mối quan hệ bình đẳng thân mật với độc giả và giành quyền quyết định cuối cùng cho họ Nguyễn Thu Huệ đã từng nói: người viết chỉ nên làm một người bạn tâm tình với bạn đọc chứ đừng là người dạy người đọc vì theo chị chưa chắc cứ là nhà văn đã giỏi, đã có văn hoá Ý kiến của Nguyễn Huy Thiệp đã chỉ ra mối quan hệ bình đẳng giữa nhà văn và độc giả: văn chương chỉ là một bộ phận của đời sống mà thôi, mà đã là đời sống thì phải đối xử như đời thường Huyễn hoặc chính mình, coi mình là thiên chức, nâng cái nghiệp nên thành thần bí thì ắt sinh ra chứng coi thường bạn đọc Theo ông, nhà văn thường giữ vai trò là người đối thoại, đưa ra những nhận xét, đề nghị với người đọc để cùng suy nghĩ tìm kiếm có thể cả tranh luận Như vậy người đọc ngày nay không còn thụ động, không tiếp nhận và đánh giá văn học theo những quan niệm và giá trị quen thuộc tưởng như bất biến, họ không chỉ có quyền lựa chọn tác giả, tác phẩm mà hơn thế họ còn
có quyền tự do đồng sáng tạo với nhà văn Vì vậy người đọc đã trở thành nhân tố
quan trọng tạo nên sự “hoàn chỉnh” của tác phẩm văn học
Trang 16Sau vài năm thống nhất đất nước, xã hội có những thay đổi mạnh mẽ, sự phức tạp của đời sống, sự đảo lộn của những giá trị, những chuẩn mực c đã ít nhiều ảnh hưởng đến giới văn nghệ sĩ Các nhà văn đã cảm nhận được những khiếm khuyết, sự băng hoại về môi trường và nhân cách con người Tác phẩm của họ đã phản ánh được những nỗi đau, những mất mát về vật chất, tinh thần và sự xót xa về những số phận, những con người bằng da bằng thịt như: người cha, người mẹ, người vợ, người chồng, người em… và có khi là một người dưng nào đó Để chuyển tải nhanh nhạy những vấn đề bức xúc của đời sống xã hội đang có nhiều khởi sắc này, nhiều nhà văn đã chọn thể loại truyện ngắn với ưu thế nhỏ gọn về hình thức, dễ đến với bạn đọc Chính vì thế truyện ngắn thời kì này phát triển mạnh mẽ
và ngày càng khẳng định vị thế quan trọng của mình trong việc phơi bày một cách chi tiết hiện thực xã hội thông qua những nỗi bất hạnh của nhân vật Đó là sự suy thoái đạo đức, mơ ước lụi tàn, sự thua thiệt, đói nghèo, khổ sở, mòn mỏi, bất công,
xa lánh cội nguồn, chạy trốn khỏi quá khứ, tài năng bị phí uổng… những vấn đề
“nóng bỏng” của đời sống xã hội Bàn về văn xuôi sau 1975, nhà văn Nguyên Ngọc nhận định: “…đến đây bỗng thấy một quy luật rất thú vị về sự phát triển của thể loại văn học Truyện ngắn bỗng nổi bật lên hàng đầu Những năm trước truyện ngắn gần như lịm đi, bị đè bẹp dưới sức nặng của tiểu thuyết dã chiến ngồn ngộn Bây giờ len qua kẽ hở của vô số tiểu thuyết ngổn ngang kia, nó ngoi lên và bừng nở Tôi có cảm giác chúng ta đang đứng trước một vụ được mùa truyện ngắn Truyện ngắn đông, nhiều và thật sự có truyện ngắn hay” [24] Qua một vài con số thống
kê, ta thấy được tốc độ phát triển của truyện ngắn, “chỉ có ba cuộc thi truyện ngắn (của Báo Văn nghệ, Hội Nhà Văn TPHCM và Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức)
sơ bộ đã có tới gần 7000 truyện dự thi Nếu tính cả truyện ngắn đăng trên báo, tạp chí trong năm, con số ấy sẽ lên tới hàng vạn” [16] Điều đó cho thấy thể loại truyện
ngắn có tiềm lực rất lớn Có thể nói chưa bao giờ thể loại tự sự cỡ nhỏ lại phát triển phong phú như thời kì này Người đọc thích tìm đến thể loại truyện ngắn vì nó gần
g i với đời sống hàng ngày, súc tích, ngắn gọn lại thường gắn liền với hoạt động báo chí nên tiếp xúc với nó khá dễ dàng, thuận tiện
Trang 17Nếu chúng ta dõi theo sự vận động của thể loại truyện ngắn từ những năm
1990 đến nay sẽ thấy rằng đội ng các nhà văn trẻ đang dần khẳng định tài năng của mình Họ c ng luôn ý thức về thời đại, nhưng ý thức thời đại của họ khác hẳn những thế hệ trước Họ nhập cuộc tỉnh táo hơn, họ dùng cái tôi như một thứ lăng kính và quan niệm văn chương luôn phải có độ lùi Các tác giả trẻ hiện nay thường
ít hứng thú với các đề tài nông thôn hay đề tài chiến tranh Họ thường quan tâm đến
các đề tài khai thác cái “ẩn ức” của tuổi trẻ, “cái tôi” của mình, hay chuyện tình yêu tay ba nhiều hơn là những đề tài mang giá trị nhân văn, như: Song song - V Đình Giang, Không lạc loài - Thành Trung, Bóng - Nguyễn Văn D ng, Nháp - Nguyễn Đình Tú, Đi tìm hình cuộc sống - Hà Thanh Phúc, Phải lấy người như anh
và Nhật kí tình yêu - Trần Thu Trang, Khi nào thuộc về em - Cấn Vân Khánh…
1.1.2 Sự đổi mới về nghệ thuật biểu hiện
Nhiệt tình đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật là những động lực tinh thần cho văn học của thời kỳ đổi mới phát triển mạnh
mẽ, sôi nổi Sự đổi mới ý thức nghệ thuật nằm ở chiều sâu của đời sống văn học, nó vừa là kết quả vừa là động lực cho những tìm tòi đổi mới trong sáng tác, đồng thời lại tác động mạnh mẽ đến sự tiếp nhận của công chúng văn học Tư duy văn học mới đã dần hình thành, làm thay đổi các quan niệm về chức năng của văn học, về mối quan hệ giữa văn học và đời sống, nhà văn và bạn đọc, về sự tiếp nhận văn học Đồng thời sự đổi mới tư duy nghệ thuật c ng thúc đẩy mạnh mẽ những sự tìm kiếm, thể nghiệm về cách tiếp cận thực tại, về các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật, phát
huy cá tính và phong cách cá nhân của nhà văn
Cách tân nghệ thuật trong văn xuôi sau 1986, trước hết phải kể đến những cách tân trong lĩnh vực truyện ngắn Sự đổi mới tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù thẩm mĩ trong văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp Mỗi nhà văn đều lí giải cuộc sống từ góc nhìn riêng, với những cách xử lí ngôn ngữ riêng Chính vì thế truyện ngắn Việt Nam đương đại đã gặt hái được không ít thành công trên nhiều phương diện
Trang 18Nếu trước đây cốt truyện đóng vai trò chủ yếu trong loại hình tự sự nói chung và trong truyện ngắn nói riêng thì giờ đây cốt truyện không còn giữ vai trò độc tôn, chủ đạo Thậm chí người viết không cần đến cốt truyện, rất nhiều truyện ngắn không có cốt truyện mà vẫn rất hấp dẫn bạn đọc Trong truyện ngắn đương đại, chi tiết, sự kiện lên ngôi C ng có khi không có cả sự kiện mà chỉ là ngôn ngữ
và cách hành văn, là “bóng chữ” chứ không chỉ đơn thuần là chữ Hiện tượng
thường gặp trong văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng ở thời kì đổi mới là lối viết theo dòng suy tưởng, lối viết phân mảnh, rời rạc và lộn xộn một cách có chủ
ý, lối “tiểu tự sự” hướng về những vấn đề riêng tư, những góc khuất của nội tâm, sự
dồn nén hoặc buông thả của tiềm thức hay dục tính… Nhân vật theo lối biểu tượng
xuất hiện nhiều, chúng ta không thể hình dung hoặc có thể “sờ mó” về nó Ngôi thứ
ba đứng ra để kể, tả hầu như rất ít mà thay vào đó là sự hướng vào tiềm thức hoặc dòng ý thức Thay những logic thông thường bằng những nghịch lý, phi lý để thấy cuộc sống ngẫu nhiên, muôn màu muôn vẻ
Cùng với sự đổi mới về đề tài, cảm hứng, bút pháp thể hiện trong truyện ngắn thời kì này c ng rất linh hoạt Trước đây, bút pháp tả thực là sự soi chiếu hiện thực cuộc sống vào tác phẩm, là lối phản ánh chiếu gương, nhà văn phải là thư kí
trung thành của thời đại Nhưng “tả thực” trong truyện ngắn giai đoạn này lại soi
chiếu hiện thực từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau để đảm bảo tính chân thực, toàn diện Khi văn học được tự do sáng tạo thì bút pháp này có điều kiện phát huy tối đa Ngoài ra, rất nhiều nhà văn trong thời kì đổi mới còn sử dụng bút pháp huyền thoại với nhiều yếu tố kì ảo và bút pháp phúng dụ vào văn chương, đặc biệt là trong truyện ngắn Thành công trong bút pháp này phải kể đến các tác giả như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo… Sự xuất hiện bút pháp phúng dụ, huyền thoại bên cạnh bút pháp tả thực giúp nhà văn nhìn sâu hơn vào thế giới, đồng thời tạo ra sự lạ hoá gây hứng thú, thu hút độc giả Bút pháp trào lộng giễu nhại được sử dụng trong hầu hết các thể loại văn học, đáng chú ý là trong truyện ngắn Trào lộng ở văn học thời kì đổi mới không đơn thuần nhằm mục đích gây cười, giải thiêng mà quan trọng hơn là sự giải toả áp lực từ đời sống hiện đại,
Trang 19thể hiện cách tiếp cận tinh thần dân chủ hoá, đa nguyên, phi quy phạm Bên cạnh
đó, bút pháp tượng trưng c ng được các nhà văn sử dụng nhằm làm cho tác phẩm giàu ý nghĩa hơn, đồng thời tăng thêm sức mê hoặc đối với độc giả Chính sự phong phú trong bút pháp sáng tạo đã làm nên sự đa dạng trong hình thức truyện: truyện kì
ảo như kiểu Bến trần gian của Lưu Sơn Minh, truyện giả cổ như kiểu Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp, truyện dòng ý thức kiểu Tiệm may Sài Gòn của Phạm Thị Hoài, truyện ngắn kịch kiểu Kịch câm của Phan Thị Vàng Anh… Sự đa
dạng, nhiều vẻ này chứng tỏ sức sống mãnh liệt của những mảng màu khác nhau được thêu dệt trong bức tranh đa sắc màu của văn học thời kì đổi mới đang trong quá trình hoàn thiện
Ngôn ngữ trần thuật thời kì này trở nên gần g i với đời sống là nhờ những từ địa phương Sự bùng nổ thông tin trong thời kì hiện đại đã tác động mạnh vào ngôn ngữ đời sống và lưu dấu rõ rệt trong ngôn ngữ trần thuật Ngôn ngữ đời thường được sử dụng trong truyện ngắn khiến ngôn ngữ trần thuật rất gần với ngôn ngữ đời thường Từ ngữ chuyên môn đã trở nên phổ biến: các thuật ngữ y học, các khái niệm kinh tế tiền tệ và một số những từ ngữ mới lạ c ng được đưa vào tác phẩm… Bên cạnh đó, những từ địa phương được đưa vào tác phẩm một cách có chủ ý, thể hiện rõ đặc trưng văn hoá vùng miền Chính vì thế mà tác phẩm không chỉ truyền tải nội dung câu chuyện mà còn cho độc giả thấy được giá trị văn hoá nằm sâu trong lớp ngôn từ Ngôn ngữ trần thuật còn góp phần tái hiện rõ nét phong tục tập quán vùng miền: mảng truyện ngắn Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư được thể hiện trong
Dòng nhớ, Biển người mênh mông, Qua cầu nhớ người, Hiu hiu gió bấc, Cánh đồng bất tận…; mảng truyện ngắn về vùng núi Tây Bắc lại được thể hiện rất rõ qua những truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Mèo đen, Tráng A Khành, Con dê bốn mắt… của Đỗ Bích Thuý; hay nếp sinh hoạt của người Hà Nội trong các khu phố cổ được hiện lên trong Phố cũ - Nguyễn Văn Thọ… Có thể nói, với ngôn ngữ
trần thuật mang đậm dấu ấn văn hoá vùng miền, truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới không chỉ nhiều dáng vẻ mà còn rất gần g i với đời sống con người Tính chất
đa thanh của ngôn ngữ trần thuật thể hiện ở sự xen lẫn của các lời thoại nhân vật
Trang 20vào lời kể và đặc biệt là hình thức lời nửa trực tiếp đã góp phần làm mới nghệ thuật
kể chuyện, qua đó thấy được sự chủ động trong việc sử dụng ngôn ngữ của các cây bút truyện ngắn thời kì này Với cách vận dụng linh hoạt ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ vùng miền và cách tổ chức đồng thời nhiều tiếng nói khác nhau, người trần thuật có vai trò quan trọng trong việc cấu trúc tác phẩm, dẫn dắt mạch truyện Khảo sát phát ngôn trong văn bản truyện kể, bạn đọc có thể phần nào thấy được diện mạo của người trần thuật Đồng thời thông qua ngôn ngữ trần thuật, người đọc còn có thể nhận diện những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn đương đại
Thời gian và không gian trong truyện ngắn Việt Nam đương đại được sử dụng làm nổi bật cảm giác của con người trong một thế giới ảo - thế giới đã được
xử lý, nhằm thể nghiệm chính nó với tư cách là con người tự ý thức về tồn tại và hiện sinh Đặc biệt là nghệ thuật xử lý không gian trong các tác phẩm truyện ngắn đương đại có khi là mở rộng hoặc thu hẹp, có khi dồn nén, chồng xếp… Kiểu không gian thường được sử dụng để con người có cơ hội đối diện với bản thân mình, với cái tôi nhỏ bé giữa rộng lớn không gian, đó là không gian xa lạ Không gian thiên nhiên rộng lớn, hiểm trở để mở ra sự suy nghiệm về thân phận con người như trong
Muối của rừng, Những người thợ xẻ của Nguyễn Huy Thiệp Bên cạnh đó, không
gian xa lạ, mới mẻ trong sáng tác của ông c ng gợi nhiều suy ngẫm như trong
Những bài học nông thôn Không gian trong truyện ngắn đương đại, có khi là không gian bị dồn ép, xâm lấn bởi thế giới đồ vật, tạo thành một thế giới phi lý: trong Man nương - Phạm Thị Hoài, Nhà trọ - Nguyễn Thị Châu Giang Không gian chật hẹp,
bất di bất dịch của một căn phòng sơ sài, quạnh quẽ đẩy sự cô đơn của con người
lên đến cùng cực: Giai nhân - Nguyễn Thị Thu Huệ Con người có khi bị đẩy vào
một mê cung không lối thoát thể hiện sự bế tắc của tâm hồn khi con người ý thức về bản thân mình, về hoàn cảnh sống, về bi kịch cuộc sống mà mình phải dự phần, đó
là không gian trong Mê Lộ của Phạm Thị Hoài Không gian luân chuyển là không
gian kiểu người xê dịch Không gian luân chuyển chính là môi trường thích hợp để
con người thể nghiệm bản thân, tìm kiếm chính mình: truyện ngắn Con gái thuỷ thần của Nguyễn Huy Thiệp với kiểu không gian luân chuyển này, đã đẩy nhân vật
Trang 21vào các cuộc thử thách, lựa chọn và hành động Nhân vật thường xuyên ở trong trạng thái ra đi kiếm tìm một điều gì như kiếm tìm chính bản thân mình Trong
Người đi tìm giấc mơ của Nguyễn Thị Thu Huệ, nhân vật tôi c ng luôn ở trong
trạng thái di chuyển Không gian huyền thoại c ng là một kiểu không gian đặc trưng cho truyện ngắn Việt Nam đương đại trong việc thể nghiệm nhân tính, cá tính… Con người khi được đặt vào một thế giới siêu thực sẽ bộc lộ nhiều góc khuất
mà trong không gian sống thường nhật khó có thể nhận ra: trong Nhân sứ của Hoà
Vang, từ không gian của cõi niết bàn, cuộc sống trần gian được nhìn từ góc độ khách quan, phơi bày những góc khuất u tối trong tâm hồn con người Song c ng từ góc nhìn đó, khẳng định giá trị của cuộc sống con người ở cõi thế mà không nơi đâu, không gì có thể sánh bằng hay đánh đổi được Không gian địa ngục c ng được
sử dụng trong Giọt máu của Nguyễn Huy Thiệp Không gian như một cơ hội để con
người trải nghiệm về cuộc sống sau khi chết, khiến cho con người phải giật mình suy nghĩ về số phận, về những lựa chọn và hành động Vì có nhân ắt có quả, vì sau hành động sẽ là trách nhiệm Không gian giấc mơ là không gian ảo, chủ yếu là để cho nhân vật tự thể hiện mình, bộc lộ những ẩn ức, dự cảm, khát vọng Với không gian giấc mơ, thế giới tiềm thức của con người, là nơi con người bộc lộ mình rõ nhất Không gian trong những giấc mơ thể hiện những khát vọng, ám ảnh, những
mặc cảm của con người Trong Người đi tìm giấc mơ của Nguyễn Thị Thu Huệ,
nhân vật mơ thấy mình gặp lại những người trong gia đình đã chết từ lâu Không gian giấc mơ đã làm nổi rõ những ám ảnh về quá khứ, về tội lỗi và số phận bi đát không thể lý giải của nhân vật Kiểu không gian đồng hiện trong giấc mơ và trong đời thực tạo nên nhiều tầng bậc ý nghĩa cho câu chuyện và đặt nhân vật vào nhiều
hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ mình rõ hơn Trong Ám ảnh của Nguyễn Thị Thu
Huệ có không gian trong giấc mơ, mà ở đó nhân vật Thạnh sống trong không gian ngột ngạt bức bối với sự độc ác và ti tiện của ông bố Từ không gian hẹp, không gian gia đình, tạo ra sự va đập dữ dội giữa các tính cách dồn nhân vật đến chỗ phạm tội ác Không gian hiện thực là không gian mà nhân vật dùng lý trí để phân tích, để
lý giải về vấn đề tha hoá đạo đức của con người Việc xây dựng không gian giấc mơ
Trang 22tạo điều kiện thuận lợi cho nhân vật bộc lộ mình bằng những đấu tranh nội tâm dữ dội trong quá trình tự ý thức Thủ pháp này góp phần thể hiện quá trình đó một cách
sinh động và thuyết phục Với Phiên chợ Giát, Nguyễn Minh Châu đã thành công
hơn với thủ pháp nghệ thuật này Ông đã kết hợp giữa kỹ thuật dòng ý thức với việc xây dựng không gian ảo, không gian biến dạng, xáo trộn giữa mơ và thực, quá khứ
và hiện tại Đó là quá khứ trong giấc mơ, quá khứ trong trí nhớ và hiện tại với sự tự
ý thức của nhân vật Như vậy, mỗi kiểu không gian có một tác dụng khác nhau làm cho nhân vật được soi chiếu từ nhiều góc độ, nổi rõ diễn biến của bi kịch nội tâm nhân vật Mỗi kiểu không gian có một tác dụng khác nhau, tạo những hiệu ứng khác nhau mà tác giả truyện ngắn Việt Nam đương đại đã sử dụng để nhân vật tự thể nghiệm mình trong hành trình kiếm tìm chân lý, kiếm tìm chính bản thân mình
Về kỹ thuật sáng tác, hầu như các truyện ngắn đều sử dụng kỹ thuật hiện đại như nghệ thuật đồng hiện, độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép, sử dụng huyền thoại, nghệ thuật giao cách, đa giọng điệu, đa thanh trong trần thuật hay lối kết thúc
Từ thời kì đổi mới đến nay, trong nền văn học nước ta, thể loại truyện ngắn
được coi là thời kì cực thịnh Nhà nghiên cứu V Tuấn Anh cho rằng: “Những phẩm chất thẩm mĩ tươi mới chỉ có thể được nảy nở, phô sắc và kết đọng trong một môi trường văn hoá - xã hội mới Không ai còn có thể nghi ngờ gì nữa về vai trò của bối cảnh văn hoá- xã hội Việt Nam kể từ thời kì đổi mới đối với sự phát triển dồi dào của văn xuôi trong đó có truyện ngắn…” (Hài hước và phồn thực trong văn xuôi Việt Nam sau 1975, Tạp chí Văn học, số 6/2005) Vị thế của truyện ngắn ngày
càng được khẳng định không chỉ bằng số lượng mà còn bằng sự đổi mới từ nội dung phản ánh đến hình thức thể hiện, gắn với các tên tuổi như: Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm
Trang 23Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái, Y Ban, Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thuý…
1.2 Hành trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy
1.2.1 Vài nét tiểu sử Đỗ Bích Thuý
Nhà văn Đỗ Bích Thúy sinh ngày 13 4 1975 tại Hà Giang, nơi địa đầu của
Tổ quốc và c ng là nơi có khung cảnh rừng núi tuyệt đẹp đã đi vào những trang thơ, trang văn của biết bao nghệ sĩ từ trước đến nay Sinh ra tại vùng cao nguyên đá Hà Giang nên những tác phẩm của chị phản ánh khá đậm nét cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng dân tộc người Mông, Tày, Dao với những thân phận và cảnh đời ngang
trái của những người đàn bà vùng núi, bằng cái nhìn đầy nhân bản và nữ tính
Đỗ Bích Thuý thành công trong nghiệp văn từ lúc còn khá trẻ Khi còn là sinh viên báo chí, chị đã đoạt giải cao nhất của cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ Quân
đội năm 1999, với tác phẩm đầu tay Chuỗi hạt cườm màu xám Đỗ Bích Thuý nổi tiếng sau khi đoạt giải Nhất truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội với chùm truyện ngắn Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi, Ngải đắng ở trên núi, 2005 Với tiểu thuyết Bóng của cây sồi chị c ng đạt giải thưởng cuộc thi Sáng tác văn học cho tuổi trẻ lần 2- NXB Thanh niên, 2005 Bước ngoặt tiếp theo khiến tên tuổi chị được báo giới và bạn đọc yêu văn nghệ biết đến nhiều hơn khi bộ phim Chuyện của Pao được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể từ truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào
đá của chị đã đoạt giải Cánh diều vàng năm 2005 của Hội điện ảnh Việt Nam
Thành công bước đầu thực sự gây được tiếng vang, đã chắp cánh cho người con của
núi rừng tiếp tục chặng đường sáng tác của mình Gần đây, sau tập truyện ngắn Đàn
bà đẹp và tản văn Đến độ hoa vàng được ra mắt bằng hình thức trình diễn văn xuôi
hồi tháng 6 năm 2013, nhà văn Đỗ Bích Thúy tiếp tục gây bất ngờ khi giới thiệu với
bạn đọc cuốn tiểu thuyết lịch sử Cánh chim kiêu hãnh (NXB Quân đội nhân dân,
10-2013) Đây là tiểu thuyết thứ hai trong gia tài 13 cuốn sách của Đỗ Bích Thúy viết về vùng đất địa đầu của Tổ quốc, miền biên ải Hà Giang Gần đây nhất, tháng 3 năm 2014, Nhà xuất bản Phụ nữ đã cho ra mắt cuốn tiểu thuyết Cửa hiệu giặt là đúng vào dịp diễn ra Hội chợ sách ở TP Hồ Chí Minh
Trang 24Hiện nay, với cương vị là Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, chị vẫn viết bền bỉ và khá đều tay, tính đến thời điểm này nhà văn Đỗ Bích Thúy đã có
13 tập truyện ngắn, tiểu thuyết và tản văn được xuất bản Văn phong của chị không quá trau chuốt nhưng vẫn tạo cảm giác nhẹ nhàng, và bối cảnh sương khói đại ngàn lại làm cho câu chuyện thêm phần mong manh Chị không cần lạm dụng quá nhiều
từ ngữ địa phương dân tộc nhưng vẫn cho ta thấy được nét riêng của ngôn ngữ văn hóa vùng miền Nhân vật của Đỗ Bích Thúy không có tính cách dữ dội, truyện c ng không đặt trong tình huống kịch tính cao trào Trái lại, đó là những người phụ nữ sống âm thầm sau cánh cửa gia đình mà ta có thể gặp đâu đó trong cuộc đời Nhưng truyện của Đỗ Bích Thúy không vụn vặt bởi mỗi câu chuyện của cô được kể bằng văn phong dịu dàng, kết cấu chặt chẽ và khắc họa thành công tính cách, số phận của mỗi nhân vật trong những bối cảnh và tình huống tưởng như rất bình thường Giọng văn mềm mại, nữ tính của tác giả đưa người đọc len lỏi vào từng ngóc ngách tâm hồn nhân vật, qua những chuyển biến tâm lý, hành động Tất cả hòa quyện trong những trang viết đặc tả bối cảnh tài tình, khiến người đọc có cảm giác khung cảnh
đó, con người đó đang hiển hiện trước mắt Để rồi khi rời mắt khỏi trang sách cuối cùng, những nhân vật của Đỗ Bích Thúy vẫn sống trong lòng người đọc
Quan niệm viết văn của chị rất đơn giản, viết chính vì nhu cầu nội tâm Đặc biệt, viết văn với chị như một sự trả ơn, nên trong chặng đường viết văn của mình, chị đã định hình một cách viết không ồn ào, hoa mĩ, không tạo ra những cú sốc mạnh với độc giả như một số bạn viết cùng thời Chính vì thế nên tác phẩm của tác giả trẻ này chưa được nhiều người biết đến, đầu sách của chị nằm khiêm tốn trong hiệu sách và c ng chỉ ai thực sự say mê văn chương đích thực mới quan tâm, tìm đến chị và những đứa con tinh thần của chị Và điều đó c ng đủ để Đỗ Bích Thúy lặng lẽ, miệt mài và cần mẫn viết Cho đến nay, những tập truyện đã xuất bản của nhà văn hầu như chỉ viết về đề tài miền núi, đặc biệt là về mảnh đất Hà Giang, quê hương chị Miền núi trong sáng tác của chị rất thơ mộng, chan chứa tình người nhưng c ng lạ lẫm, hoang sơ và khá bí hiểm Khi bước chân vào thế giới nghệ thuật của chị, người đọc như được sống trong không gian núi rừng, với những bản làng
Trang 25bảng lảng dưới làn sương chiều, với cảm giác giật mình, lạnh người bởi tiếng tu hú kêu hay tiếng bìm bịp vỗ cánh… Và ở đây ta được sống trong những v điệu của núi rừng, được say men rượu bên nồi thắng cố, trong những phiên chợ vùng cao, được hóa thân vào những nhân vật, những số phận với những hoàn cảnh đau đớn đến xót xa… Cứ thế, tác phẩm của chị nhẹ nhàng ngấm vào lòng người đọc, rồi
đọng lại trong tâm trí họ những trăn trở, suy tư
Phong cách viết văn của Đỗ Bích Thúy mộc mạc, dung dị, sâu lắng Thứ cảm xúc mà tâm hồn người viết như hòa quyện, đồng hành cùng nhân vật trên từng bước
đi, trong từng hơi thở Đặc biệt hơn, hầu hết các tác phẩm của chị đều viết về đề tài quen thuộc là miền núi, quê hương chị, nhưng không hề có sự trùng lặp, nhàm chán
Ở mỗi tác phẩm là những số phận khác nhau, những suy tư, trăn trở, những lời tâm tình, những tiếng thở dài nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng réo rắt…
1.2.2 Chặng đường sáng tác của Đỗ Bích Thúy
Đỗ Bích Thúy mở đầu chặng đường văn chương từ khi mới 19 tuổi Chị là một cây bút trẻ chuyên viết về đề tài miền núi phía Bắc Con đường đến với văn chương của Đỗ Bích Thúy chưa dài nhưng khá nhiều bước đổi thay Khi ước mơ trở thành một cô giáo không thành, Đỗ Bích Thúy đã chuyển sang học tài chính - kế toán và sau đó chị làm kế toán cho báo Hà Giang Như duyên nợ với văn chương nghệ thuật, sau một thời gian làm kế toán, chị đã chuyển sang lĩnh vực viết lách, làm báo Sinh ra tại Hà Giang lại được làm việc trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình nên chỉ trong một khoảng thời gian ngắn chị đã hiểu sâu sắc về cuộc sống, con người quê hương mình thông qua những lần trèo đèo, lội suối lên những thung
l ng sâu hay bản xa để lấy tư liệu làm báo Lòng đam mê nghề nghiệp đã thúc đẩy chị học tiếp lên đại học tại phân viện báo chí tuyên truyền để phục vụ công tác làm báo Chính thời gian học tập xa nhà, với nỗi nhớ quê hương, gia đình, bè bạn da diết
đã tạo cảm hứng để chị sáng tác những tác phẩm chan chứa cảm xúc về mảnh đất
Hà Giang thân yêu của mình Với tác phẩm đầu tay Chuỗi hạt cườm màu xám, chị
đã gửi đến báo Tiền phong và để lại ấn tượng rất tốt trong lòng bạn đọc Bước ngoặt
thứ nhất giúp tên tuổi chị có chỗ đứng trong làng văn học hiện đại là khi chị dành
Trang 26giải nhất cuộc thi truyện ngắn do báo Văn nghệ Quân đội tổ chức, với chùm tác
phẩm: Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi, Ngải đắng ở trên núi Và giải thưởng cuộc thi Sáng tác văn học cho tuổi trẻ lần 2 - NXB Thanh niên 2005 với tiểu thuyết Bóng của cây sồi Bước ngoặt tiếp theo khiến tên tuổi chị được báo giới và bạn đọc yêu văn nghệ biết đến nhiều hơn khi bộ phim Chuyện của Pao được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể từ truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của chị đã đoạt giải Cánh diều vàng năm 2005 của Hội điện ảnh Việt Nam Thành công bước đầu
thực sự gây được tiếng vang, đã chắp cánh cho người con của núi rừng tiếp tục chặng đường sáng tác của mình
Sau này Đỗ Bích Thúy lấy chồng và trở về Hà Nội, tách rời mảnh đất đầy thương yêu Sự trăn trở suốt hơn 10 năm làm quen với vùng đất lạ kinh kì Hà Nội khiến chị có nhiều thời gian rơi vào im lặng Có lẽ từ khi đảm nhận nhiệm vụ mới, Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, cùng những bận rộn với chức năng của người vợ, người mẹ đã làm dòng chảy văn chương trong chị có lúc lắng xuống,
song chị vẫn viết nhiều truyện ngắn khác Gần đây tác phẩm in nhiều kì trên Văn nghệ, truyện Lặng yên dưới vực sâu là khoảng tiếp nối khai thác cái kho báu bất tận
về một vùng đất quen thuộc Có thể nói Lặng yên dưới vực sâu đã đủ độ chín về văn
chương, những chi tiết sống và ám ảnh, cách dựng truyện hấp dẫn, lôi cuốn trong sự phân chia trường đoạn hiện đại, đầy tính điện ảnh và vẫn thăm thẳm buồn về thân phận con người vùng cao Nghe nói một nhà làm phim đã tức tốc đón nhận và mua
đứt bản quyền Tập tạp văn Trên căn gác áp mái, phần nào thể hiện sự đau đớn, suy
tư của một con người có trước một nhà văn trong Đỗ Bích Thúy Và chứa thêm trong đó ẩn ức không chỉ người xa quê mà lối viết, đường viết của một nhà văn phải tách bỏ môi trường văn hóa có tính cội rễ Những câu chuyện luôn có chuyện, đau đáu về vùng núi c , và đầy trăn trở với một vùng văn hóa hóa mới, Đỗ Bích Thúy không còn là một cô Thúy thuở xưa nữa Những tạp bút đầy trách nhiệm, lắm trăn trở ưu phiền, căn nhà áp mái đang muốn lột xác, quẫy đạp, nhằm tạo nên một khuôn mặt Đỗ Bích Thúy già dặn hơn về bút pháp, sâu sắc hơn về tư tưởng mà vẫn thủy chung với tình yêu cố hương và con người Những trang viết như thế bộc lộ một
Trang 27tâm thức đau nhức, day dứt của nhà văn và nó thầm hứa hẹn rằng, nhà văn đang manh nha những điều khác nữa ngoài những trang viết thành công mà ở tất cả văn xuôi ngắn của Đỗ Bích Thúy đều đã ý thức: trang viết không chỉ mang theo hơi thở đời sống mà còn mang theo một vùng văn hóa
Bên cạnh những thành công ở mảng đề tài miền núi, những sáng tác gần đây
của Đỗ Bích Thúy c ng cho thấy một sự “chuyển vùng thẩm mỹ” từ cảm hứng vùng cao sang cảm hứng đô thị Năm 2013, cùng với tập tản văn Đến độ hoa vàng, Đỗ
Bích Thúy vừa ra mắt tập truyện ngắn Đàn bà đẹp Mười hai truyện trong Đàn bà
đẹp đều xoay quanh những chuyện tình không thể thành công, trong đó, các nhân
vật đàn bà đều đẹp, đôi lúc vẹn toàn cả tài - sắc, khiến ta liên tưởng ngay đến cái
tiên đề bất trắc xưa “hồng nhan bạc mệnh” Theo nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan, ở
tập truyện này “dấu ấn tác giả hoàn toàn rõ nét trong một phong cách “bưu ảnh” trọn vẹn hiếm thấy: các truyện hầu hết đều gọn, tỉa tót rất khéo và gợi vài ba nét đặc trưng phong tục - truyền thống - khung cảnh, từ đó toát ra không phải “ý nghĩa” mà là cảm thức về thân phận, hồn người” Trong truyện ngắn Chiếc hộp khảm trai, in trong tập Đàn bà đẹp, Đỗ Bích Thúy viết về một bà chị bên chồng ở
Hà Nội Truyện ngắn này là bước thay đổi rất khác ngay cả so với vở kịch hôm nào
cô viết về gái thị thành Những chi tiết viết về nhân vật bà Đàm Ngọc Hà chứng tỏ
sự quan sát rất tỉ mỉ, từ ngôn ngữ tới sắc thái đã lột tả chính xác một người đàn bà
rất Hà Nội “…Bà thường mặc áo dài khi đi đám cưới Áo dài nhung, quần lụa Không quên lục từ trong tủ gỗ cũ, lấy ra đeo trên cổ chuỗi hạt cườm màu ngọc lục bảo, và một đôi hoa tai đồng màu Xong bà choàng lên vai chiếc khăn len được móc rất tinh xảo Bấy giờ bà mới xỏ chân vào đôi hài nhung thêu hoạ tiết hoa thị đã được chải cẩn thận Ra phố bà sẽ gọi xích lô…” Đây là sự thay đổi ở Đỗ Bích
Thúy, sau 10 năm có dư thâm nhập vào cái vùng văn hóa không hề dễ dàng, bởi vì
Hà Nội và văn hóa của nó vốn không phải nơi cô sinh ra lớn lên Sau hơn 10 năm làm dâu Hà Nội mới nhập cuộc vào dân Thăng Long, để văn chương cô bắt đầu thật
sự khoác lên một bộ cánh mới Truyện ngắn này thành công không chỉ ở cái nhìn
mà nó vẫn giữ được cốt lõi hồn văn Thúy, vẫn nhận ra một cốt cách chầm chậm u
Trang 28buồn, như những âm thanh vọng lên sau bờ rào đá ngày nào, nay là hơi thở của Hà Nội ngàn xưa, yêu người và thương người để viết Nghĩa là sự lột xác của nhà văn đòi hỏi thực sự đau đớn và cần một thái độ làm việc nghiêm túc để những mười năm làm dâu nhà chồng, Hà Nội mới tạo được một vệt chấm trên các trang văn mới
Đỗ Bích Thúy quả là nhà văn ghi dấu ấn với độc giả bằng thể loại truyện ngắn Tuy số lượng tác phẩm không phải là nhiều nhưng Đỗ Bích Thúy đã cho người đọc thấy nội lực của chị ở thể loại này Chỉ ra những thành công trên con đường văn chương của Đỗ Bích Thúy với thể loại truyện ngắn, nhà phê bình Văn Giá đánh giá cao nữ tác giả trong việc tạo tình huống bất ngờ, những tình huống bất
thường, trái khoáy Cụ thể như ở truyện ngắn Con dê bốn mắt, tưởng như tích Sơn Tinh - Thủy Tinh sẽ được tái hiện nhưng không, cả hai chàng trai chinh phục cô gái
tên Kía đều thất bại Văn Giá nhận xét, Đỗ Bích Thúy đã tìm kiếm, lựa chọn tình huống và dẫn dụ độc giả, giấu đến cùng để rồi gây bất ngờ ở phần kết truyện Truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy đã thể hiện cái nhìn sắc sảo và tinh tế về cuộc sống
Có được điều đó, theo Văn Giá là do Đỗ Bích Thúy có tài quan sát, lựa chọn chi tiết đắt giá Văn của Thúy buồn một cách nhẹ nhàng, nhân hậu
Ngoài sở trường viết truyện ngắn, cây bút trẻ này còn thử sức mình trong cả lĩnh vực sáng tác kịch, tản văn và tiểu thuyết… Ở phương diện nào chị c ng đem
đến sự chú ý của độc giả, đặc biệt giới văn nghệ sĩ Với tiểu thuyết đầu tay Bóng của cây sồi, Đỗ Bích Thuý đã thể hiện sự thống nhất trong phong cách, giọng điệu
nền nã, đậm đà chất trữ tình và thấm sâu chất văn hoá đặc trưng của vùng miền
Cảm nhận tiểu thuyết này, nhà văn Nguyễn Hữu Quý từng viết: “Tính xã hội, tính nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được gửi gắm vào từng trang viết Nó đã được nói qua nhân vật, qua giọng kể không mới lạ nhưng đằm lắng và nhiều cảm xúc của Đỗ Bích Thuý Hiện tại, quá khứ, chuyện mới, chuyện cũ đan xen, cài quấn nhau như dòng chảy cuộc sống muôn đời nay tiếp nối, tiếp nối không dứt Lối dẫn chuyện tự nhiên và không gò bó, cách miêu tả thiên nhiên và đời sống của miền đất cực Bắc đất nước khá sinh động và ưu điểm nổi trội của cuốn tiểu thuyết này (…) Với Bóng của cây sồi, Đỗ Bích Thuý thêm một lần nữa chứng tỏ sự
Trang 29hiểu biết, gắn bó của mình đối với cuộc sống của những người Tày, người Dao ở vùng cực Bắc Hà Giang, nơi thượng nguồn con sông Lô huyền bí” (Báo Văn nghệ Quân đội số 623) Sau đó, Đỗ Bích Thuý lại cho ra mắt cuốn tiểu thuyết Cánh chim kiêu hãnh (NXB QĐND, tháng 10/2013) Đây là tiểu thuyết thứ hai trong gia tài 13
cuốn sách của Đỗ Bích Thúy viết về vùng đất địa đầu của Tổ quốc: miền biên ải Hà Giang Tiếp tục mạch nguồn về đề tài dân tộc và miền núi mà nhà văn Đỗ Bích Thúy đã dày công tạo dựng nên những con người miền núi với vẻ đẹp thuần khiết
và tâm hồn nhân hậu Những con người dù cực khổ với đủ thứ thuế ngựa thồ, thuế khói lửa, thuế rửa bát, thuế muối… nhưng vẫn đoàn kết, tin tưởng ở cách mạng, ở tình yêu Gần đây nhất, tháng 3 năm 2014, Nhà xuất bản Phụ nữ đã cho ra mắt cuốn
tiểu thuyết Cửa hiệu giặt là đúng vào dịp diễn ra Hội chợ sách ở TP Hồ Chí Minh
Ở Cửa hiệu giặt là người đọc bắt gặp một góc phố bình dị với những cư dân thuộc
tầng lớp những người lao động thị dân không hẳn là khốn khó nhưng chắc chắn họ nghèo Chỉ có điều, cái nghèo ấy không giống cái nghèo nhà quê, cái nghèo gắn liền với cái hèn, mà là cái nghèo đầy cốt cách, cái nghèo không cắm mặt xuống đất mà
vẫn ngẩng cao đầu, cái nghèo tự tại ung dung vì biết chữ “đủ” Gắn bó 17 năm với
Hà Thành, nhà văn mới đặt bút viết về mảnh đất này Đây là sự “bẻ ghi” đột ngột
từ đề tài miền núi sang đề tài đô thị Sự chuyển “vùng đất” của Đỗ Bích Thúy trong tiểu thuyết mới nhất này, được Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đánh giá là “đã chạm được vào tâm hồn Hà Nội” đồng thời rất giàu giá trị hiện sinh khi mỗi câu chữ đều
“ngồn ngộn hơi thở của đời sống”
TIỂU KẾT
Nhìn chung văn học Việt Nam từ sau 1975 có nhiều chuyển biến về nội dung
và khuynh hướng phản ánh Sự đổi mới về tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù thẩm mĩ, sự giao lưu hội nhập đã khiến văn xuôi, đặc biệt là truyện ngắn phát triển phong phú về mọi mặt Sự cởi mở trong quan niệm, cách nhìn khiến nhà văn giai đoạn này chủ động và tự do hơn trong sáng tạo Sự cách tân trong lĩnh vực văn xuôi
đã khiến những sáng tác giai đoạn này đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung
Trang 30Trong dòng chảy đó của nền văn học, Đỗ Bích Thuý đã có những đóng góp không nhỏ vào văn học Việt Nam đương đại nói chung và lĩnh vực truyện ngắn nói riêng Chị không chỉ miệt mài sáng tạo mà còn nghiêm khắc với bản thân trong lao động nghệ thuật Càng viết chị càng khẳng định được mình, càng tạo cho độc giả, những người yêu mến chị niềm tin vào sức sáng tạo và tinh thần lao động nghiêm túc Tác phẩm của nhà văn trẻ này đã để lại trong tâm trí người đọc nhiều cảm xúc Với một
uy tín văn chương như Đỗ Bích Thúy, người đọc được quyền trông đợi vào một thứ văn học dấn thân hơn nữa trong tư thế của một nghệ sĩ - trí thức thực thụ Mặc lòng, với những gì đang thấy, mượn cách nói của GS Hoàng Ngọc Hiến để nói rằng Đỗ
Bích Thúy thực sự đã có được những áng văn “sang giá” và “sáng giá”
Trang 31CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY
2.1 Khái lược về nhân vật và nhân vật trong truyện ngắn
Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ
vị trí trung tâm Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là
số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện Vì
vậy, Tô Hoài đã có lí khi cho rằng "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác"
Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay
sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm
Nhân vật văn học có thể là con người có tên (như Tấm Cám, Thúy Vân, Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng, Chị Dậu, Chí Phèo, anh Pha, AQ, Acpagông, Gia Cát Lượng, Tôn Ngộ Không ), có thể là những người không có tên (như thằng bán
tơ, viên quan, mụ quản gia, những kẻ đưa tin, lính hầu, chạy hiệu ) hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình - ta trong ca dao ) Hoặc có thể là con vật (cóc, ếch,
cá, chim), quái vật (ma, quỷ) trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, con hổ
trong Nhớ rừng - Thế Lữ Khái niệm con người này c ng cần được hiểu một cách
rộng rãi trên hai phương diện: số lượng và chất lượng Về số lượng, hầu hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung miêu tả số phận của con người Về chất lượng, thì dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỷ, đồ vật nhưng lại gán cho nó những phẩm chất của con người
Trang 32Trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng một cách ẩn dụ nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn, người ta
thường nói đến nhân dân như là một nhân vật trung tâm trong Chiến tranh và hòa bình của Lep Tônxtôi, chiếc quan tài là nhân vật trong tác phẩm Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan Tô Hoài nhận xét về Chiếc quan tài: "Trong truyện ngắn Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan, nhân vật không phải là người mà là một chiếc quan tài Nhưng chiếc quan tài ấy chẳng phải là vô tri mà là một sự thê thảm, một bản án tố cáo chế độ thảm khốc thời Pháp thuộc Như vậy, chiếc quan tài cũng
là một thứ nhân vật" Tuy vậy, nhìn chung, nhân vật vẫn là hình tượng của con
người trong tác phẩm văn học
Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có những dấu hiệu để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ
Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó
Có nhiều quan niệm về nhân vật:
Theo Từ điển tiếng Việt thì “nhân vật là đối tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm nghệ thuật” [25; 711]
Giáo trình Lý luận văn học do giáo sư Hà Minh Đức chủ biên thì cho rằng:
“Nhân vật trong văn học là một hiện tượng mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, tính cách….” [10; 159]
Từ điển thuật ngữ văn học c ng có quan điểm tương tự như ý kiến trên, đồng
thời khẳng định: “Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người Vì thế nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề tác phẩm” [11; 236]
Như vậy, nhân vật là sản phẩm tinh thần của nhà văn, nó đóng vai trò trung tâm, không thể thiếu đối với bất cứ một tác phẩm văn học nào bởi đó là linh hồn,
Trang 33sức sống của tác phẩm, là nơi nhà văn gửi gắm tư tưởng, chủ đề của mình Vì thế
nhà văn V Thị Thường đã cho rằng: “Truyện ngắn sống bằng nhân vật, những chi tiết có ý nghĩa góp phần tạo nên nhân vật…”, quả rất đúng
Truyện ngắn là một hình thức tự sự cỡ nhỏ, hướng tới sự thể hiện bản chất hiện thực và tâm hồn con người qua những lát cắt, những khoảnh khắc của quan hệ nhân sinh Nhân vật trong truyện ngắn ít nhưng sức dồn nén lại lớn, nó biểu hiện giá trị tư tưởng c ng như nghệ thuật của tác phẩm và cá tính sáng tạo của nhà văn Thông qua việc tìm hiểu thế giới nhân vật trong tác phẩm, ta có thể thấy được quan điểm nghệ thuật về con người của nhà văn
Mỗi nhà văn đều có quan niệm nghệ thuật, một cái nhìn về con người nên thế giới nhân vật của họ c ng có những đặc điểm khác biệt Và Đỗ Bích Thuý đã xây dựng cho mình một thế giới nhân vật riêng, nhân vật của chị hầu hết là con người bước ra từ cuộc sống vùng cao quanh năm mây phủ và gió núi ngút ngàn Bởi vậy dưới ngòi bút của chị, người đọc đã tìm thấy bóng dáng của cuộc sống hàng ngày, của cuộc đời thực qua những buồn, vui, đau khổ, nhẫn nhục, cam chịu; nỗi trăn trở, day dứt và khát khao tình yêu- hạnh phúc hay khát vọng đổi đời của các nhân vật Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thuý không quá trau chuốt nhưng đã tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả, thể hiện cái nhìn tinh tế, sự thấu hiểu
khá tường tận của nhà văn về con người
2.2 Vai trò và cách phân loại nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhân vật văn học có vai trò khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống
và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn
mà nhân vật muốn thể hiện Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó Gắn liền với Kiều là thân phận của người phụ nữ có tài sắc trong xã hội c Gắn liền với Kim Trọng là vấn đề tình yêu và ước mơ vươn tới hạnh phúc Gắn liền với Từ Hải là vấn
Trang 34đề đấu tranh để thực hiện khát vọng tự do, công lí Trong Chí Phèo của Nam Cao,
nhân vật Chí Phèo thể hiện quá trình lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến Ðằng sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích
là vấn đề đấu tranh giữa thiện và ác, tốt và xấu, giàu và nghèo, những ước mơ tốt
đẹp của con người
Do nhân vật có vai trò khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống Chính vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những
nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc đời (anh hùng Núp trong Ðất nước đứng lên, Chị Sứ trong Hòn Ðất ) nhưng c ng cần luôn luôn nhớ rằng nhân vật văn học là
một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc
nêu lên những vấn đề của hiện thực cuộc sống Betông Brecht cho rằng: "Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả"
Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng Những nhân vật được xây dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ c ng là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại Tuy nhiên, xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất lượng miêu tả có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau Ðể nắm bắt được thế giới nhân vật đa dạng, phong phú, có thể tiến hành phân loại chúng ở nhiều góc độ khác nhau
Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật, có thể phân thành nhân vật chính diện (nhân vật tích cực), nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực) Nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ Khi nhân vật chính diện được xây dựng với những phẩm chất hoàn hảo, có tính chất tiêu biểu cho tinh hoa của một giai cấp, một dân tộc, một
Trang 35thời đại, mang những mầm mống lí tưởng trong cuộc sống có thể được coi là nhân vật lí tưởng Ở đây, c ng cần phân biệt nhân vật lí tưởng với nhân vật lí tưởng hóa Loại nhân vật sau là loại nhân vật được tô hồng, hoàn toàn theo chủ quan của nhà văn Ở đây, nhà văn đã vi phạm tính chân thực của sự thể hiện Nhân vật phản diện
là nhân vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác, cái lạc hậu, phản động, cần
bị lên án
Trong quá trình phát triển của văn học, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng các loại nhân vật trên c ng khác nhau Nếu như trong thần thoại chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện thì trong truyện cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật thường được xây dựng thành hai tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt Ở đây, hễ là nhân vật chính diện thường tập trung những đức tính tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược lại
Trong văn học hiện đại, nhiều khi khó phân biệt đâu là nhân vật chính diện, đâu là nhân vật phản diện Việc miêu tả này phù hợp với quan niệm cho rằng hiện thực nói chung và con người nói riêng không phải chỉ mang một phẩm chất thẩm mĩ
mà bao hàm nhiều phẩm chất thẩm mĩ khác nhau, cái nhìn của chủ thể đối với sự vật nhiều chiều, phức hợp chứ không đơn điệu Những nhân vật như Chí Phèo, Thị
Nở, Tám Bính, Năm Sài Gòn là những nhân vật có bản chất tốt nhưng đó không
phải là phẩm chất duy nhất của nhân vật Bakhtin cho rằng: “cần phải thống nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc” Chính vì vậy, ở đây,
sự phân biệt chính diện, phản diện chỉ có ý nghĩa tương đối Khi đặt nhân vật vào loại nào để nghiên cứu, cần phải xét khuynh hướng chủ đạo của nó đồng thời phải chú ý đến các khuynh hướng, phẩm chất thẩm mĩ khác nữa Trong giai đoạn trước, những nhân vật như Kiều, Hoạn Thư, Thúc Sinh c ng được Nguyễn Du miêu tả ở nhiều góc độ, với nhiều phẩm chất khác nhau chứ không phải chỉ có một phẩm chất chính diện hoặc phản diện
Trang 36Xét về vai trò và vị trí của nhân vật trong tác phẩm, có thể chia thành các loại nhân vật: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ Nhân vật chính là nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển khai tác phẩm Ở đây, nhà văn thường tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách của nhân vật Qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề
và những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng và giá trị thẩm mĩ Nhân vật chính có thể có nhiều hoặc ít tùy theo dung lượng hiện thực và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm Với những tác phẩm lớn có nhiều nhân vật chính thì nhân vật chính quan trọng nhất xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm Trong không ít trường hợp, nhà văn dùng
tên nhân vật trung tâm để đặt tên cho tác phẩm Ví dụ: Ðông Kisôt của Cervantes, Anna Karênina của L Tônxtôi, A.Q chính truyện của Lỗ Tấn, Truyện Kiều của
Nguyễn Du Trừ một hoặc một số nhân vật chính, những nhân vật còn lại đều là
những nhân vật phụ ở các cấp độ khác nhau Ðó là những nhân vật giữ vị trí thứ
yếu so với nhân vật chính trong quá trình diễn biến của cốt truyện, của việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm Nhân vật phụ phải góp phần hỗ trợ, bổ sung cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật chính Có nhiều nhân vật phụ vẫn được các nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác tạo nên một bức tranh đời sống sinh động và hoàn chỉnh
Xét từ góc độ thể loại, có thể phân thành các nhân vật: nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự và nhân vật kịch
Xét từ góc độ chất lượng miêu tả, có thể phân thành các loại: nhân vật tính
cách, nhân vật điển hình
Nhân vật tính cách là nhân vật được khắc họa với một chiều sâu bên trong
Nó như điểm quy tụ mà từ đó có thể giải thích được mọi biểu hiện muôn màu, muôn
vẻ sinh động bên ngoài của nhân vật Nhân vật điển hình là tính cách đã đạt đến độ thực sự sâu sắc, là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cá thể Nói một cách nghiêm ngặt, thuật ngữ này chỉ được áp dụng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán trở về sau
Trang 37Ngoài những loại nhân vật được trình bày, có thể nêu lên một số khái niệm khác về nhân vật qua các trào lưu văn học khác nhau, chẳng hạn, khái niệm nhân vật bé nhỏ trong văn học hiện thực phê phán, khái niệm nhân vật - con vật người trong chủ nghĩa tự nhiên, nhân vật - phi nhân vật trong các trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa ở phương Tây
2.3 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thuý
Truyện ngắn sống được về cơ bản là nhờ sự xuất hiện của các nhân vật - nơi biểu hiện giá trị tư tưởng c ng như nghệ thuật của tác phẩm và cá tính sáng tạo của nhà văn Qua tìm hiểu truyện ngắn Đỗ Bích Thuý, chúng tôi nhận thấy trong hệ thống nhân vật của chị khá phong phú, đa dạng nhưng trong khuôn khổ hạn hẹp của
luận văn, chúng tôi chỉ xin nêu ra hai kiểu nhân vật tiêu biểu sau đây:
2.3.1 Kiểu nhân vật tự nhận thức
Tự nhận thức (hay còn gọi là Nhận thức về bản thân) là khả năng nhận
biết một cách chính xác về cảm xúc của mình ngay khi nó xảy ra và hiểu mình có
khuynh hướng làm gì trong tình huống đó Tự nhận thức bao gồm việc kiểm soát được những phản ứng thông thường của bản thân đối với những sự việc, thách thức và đối tượng cụ thể Hiểu biết thấu đáo về khuynh hướng của bản thân đóng vai trò rất quan trọng; nó giúp chúng ta nhanh chóng nắm bắt được cảm xúc của mình Khả năng tự nhận thức tốt đòi hỏi bạn sẵn sàng chịu đựng sự khó chịu khi phải chú ý đến những cảm xúc đôi khi tiêu cực
Trong sáng tác của Đỗ Bích Thuý, chị c ng khá quan tâm đến khả năng tự nhận thức của nhân vật Nhân vật của chị vốn là những con người bình thường nhưng khi gặp hoàn cảnh éo le, khó xử, họ đã biết kìm nén cảm xúc và tìm cho mình cách ứng xử có văn hoá, thể hiện khả năng tự nhận thức cao Từ hành động ứng xử đó đã toát lên phẩm chất cao đẹp, đáng được nể phục
Tiếng đàn môi sau bờ rào đá là câu chuyện vô cùng xúc động về tình mẫu tử
Hình ảnh người mẹ già âm thầm nén chịu đau thương cả một đời để dồn tình thương cho những đứa con chồng Người phụ nữ này lúc trẻ là cô Mao nổi tiếng xinh đẹp nhất vùng, nhưng số phận của cô thật bất hạnh Bà lấy chồng nhưng chưa một lần
Trang 38được làm mẹ Bà hiểu điều đó và đã rất nhiều lần giục chồng đi lấy vợ nhưng ông Chúng, chồng bà không làm theo Bà cứ tưởng hai vợ chồng cứ ở với nhau như thế đến cuối đời Ai ngờ một lần về nhà ông đã dẫn theo một người đàn bà dưới xuôi, trẻ
hơn mình, trong cùng đoàn dân công làm đường Bà chết lặng người không nói, “lặng
lẽ chuyển đồ đạc của mình sang phòng của mẹ chồng trước kia” để nhường phòng
cho người phụ nữ mới Bà đã phải chịu bao tủi hờn, cay đắng, xót xa, đã bao đêm bà thao thức không ngủ nhưng bà đã dồn nén nỗi đau, sự tủi hờn, ghen tuông để chăm chút cho hai đứa con riêng của chồng bằng tình thương của một người mẹ thực thụ Tình yêu thương của bà mẹ già được thể hiện rất cảm động qua chi tiết hết thằng Trài đến con May thay nhau nhai đôi vú teo tóp không một giọt sữa của bà đến bật máu Không những thế, khi thấy May nhất quyết không nhận mẹ Hoa, người đẻ ra mình, vì
bà Hoa vô trách nhiệm đã bỏ rơi chị em cô, thì mẹ Mao đã khuyên:
“- Không được thế con gái à Mẹ Hoa chứ có phải người gặp ngoài đường đâu Lâu quá nó mới về nhà, nhưng con gái vẫn không quên đâu, phải thế không?
- Con còn nhớ hơn cả mẹ, mẹ già ạ Nhớ cả con bò bị người ta dắt đi…
- Ấy chuyện cũ đừng nhắc nữa Cái gì cần nhớ hãy nhớ, cái gì nên quên phải biết quên Hôm qua trời mưa nước suối đục, nhưng không đục mãi được Con người cũng thế…”
Rõ ràng tình yêu thương, sự vị tha và lòng bao dung, nhân hậu đã khoả lấp những ghen tuông ích kỷ đời thường để nhân vật được toả sáng trên trang viết Cách ứng xử giàu tình người của người phụ nữ miền núi xuất phát từ một nhận thức đúng
Bà đã cho chúng ta một bài học quý giá về tình người và khiến ý nghĩa của truyện trở nên sâu sắc hơn
Đỗ Bích Thuý đã dành những trang viết của mình để tôn vinh, ngợi ca tình nghĩa vợ chồng của những người nông dân thuần hậu vùng cao thông qua vợ chồng
bà Kía trong Gió không ngừng thổi Bà Kía bị Vàng Chỉn Tờ - chú họ của chồng
hãm hiếp, sinh ra Thào Mí Chá, đứa con trai không mong muốn Người đàn bà bất hạnh này đã phải tìm cách bỏ nó bao nhiêu lần, nhưng thằng bé có sức sống mãnh liệt cứ đeo bám mãi trong bụng cho đến khi bà sinh ra nó Nhận thức được việc này
Trang 39sẽ ảnh hưởng đến danh dự của chồng, bà sợ chồng không thể chịu được sự nhục nhã nên đã phải âm thầm chịu đựng biết bao nỗi tủi nhục, đau đớn, xót xa Vậy là thằng Chá bao nhiêu tuổi là bấy nhiêu năm bà phải câm lặng ôm nỗi tủi nhục một mình,
bà luôn day dứt và tự coi mình là kẻ tội đồ Mãi cho đến tận lúc chết, ánh mắt bà vẫn khắc khoải khôn nguôi, chứa đựng ở đó bao dằn vặt, xót xa Giá trị đạo đức trong con người bà Kía đáng được khâm phục Chúng ta biết rằng vì bà bị cưỡng bức nên mới có đứa con này chứ không phải bà ăn ở hai lòng với chồng Như vậy
bà có thể nói ra sự thật với chồng cho lòng được thảnh thơi, nhưng vì thương chồng,
lo sợ chồng không chịu nổi nên bà đã câm lặng, nén chịu nỗi đau đớn, tủi nhục đó một mình Bà thà để nỗi day dứt, giày vò, gặm nhấm cơ thể mình, chứ không để chồng phải chịu nhục Đỗ Bích Thuý không dừng lại ở đây, chị đã dành cho người đọc sự bất ngờ thú vị Mặc dù bà không nói nhưng ông Thào Mí Sùng, chồng bà biết hết chuyện Đọc phần đầu truyện, bạn đọc đều nghĩ bi kịch sẽ ập đến với người phụ nữ vùng cao thật thà, chất phác, luôn sống trong cảnh đói nghèo, tăm tối, lạc hậu này Nhưng không phải, ông hết mực thương yêu bà, ông hiểu nỗi oan trái của
vợ hơn ai hết, ông đã cố nén nỗi đau, chịu đựng âm thầm vì ông không muốn vợ mình bị tổn thương Ông biết thằng con nối dõi họ Thào không phải con đẻ của
mình, nhưng ông vẫn “yêu thương, nâng niu nó” đến mức “mỗi khi thằng bé nghịch dại, người mắng nó, cầm roi vụt vào mông nó” chỉ có thể là mẹ nó Ông chịu đựng
đắng cay, cất giấu đau khổ tận sâu đáy lòng, bởi tình yêu ông dành cho bà là hết thảy Trong thâm tâm ông nhận thức rõ cả bà vợ yêu và đứa con không mang dòng máu của ông đều vô tội Ông c ng đã vượt qua thói ghen tuông, ích kỷ đời thường
để hành động cao thượng, đùm bọc, yêu thương và sống trọn nghĩa tình cả đời với người vợ bất hạnh Cho đến khi người vợ sắp qua đời, ông vẫn nén nỗi đau để nghĩ
cho thằng Chá: “Giờ mẹ sắp đi rồi, bố định hỏi xem mẹ có muốn cho nó đi nhận bố
đẻ không” Hành động cao thượng, đáng khâm phục đó của ông Sùng xuất phát từ
sự nhận thức đúng đắn
Viết về những nhân vật này, Đỗ Bích Thuý muốn khẳng định một điều, mặc
dù họ là những người miền núi, sống trong cái nghèo và lạc hậu, nhưng trong họ ẩn
Trang 40chứa một sự tự nhận thức khá cao, chính vì họ nhận thức đúng thì sẽ có hành động hướng thiện và qua hành động đó ánh lên những giá trị nhân văn cao đẹp, tạo nên sức hấp dẫn và sự trường tồn cho tác phẩm
Bên cạnh con người có số phận bất hạnh, Đỗ Bích Thuý còn đặc biệt chú ý khai thác tâm tư, tình cảm của lớp thanh niên, trí thức trẻ nơi vùng cao Họ là những
người ít nhiều được học “cái chữ”, được tiếp xúc với những kiến thức mới mẻ, hiện
đại Ánh sáng của những tư tưởng văn minh, hiện đại, phần nào làm thay đổi cách
nghĩ, cách làm của họ, từ đó đưa họ “đi xa” hơn,” nhìn rộng” hơn cha ông mình
Có thể nói, họ là những con người mới trong thế giới miền núi xa xôi, hẻo lánh
Trước tiên phải kể đến những nhân vật bằng tình yêu nơi chôn nhau cắt rốn, bằng lòng nhân ái và khát khao tạo dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc và văn minh Họ đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất của thiên nhiên, của lề thói
để bám trụ để thực hiện ước mơ của mình trên vùng cao Những nhóm nhân vật kiểu này trong sáng tác của Đỗ Bích Thuý thường là những nam nữ thanh niên đang căng đầy nhiệt huyết và hoài bão Họ sinh ra ở núi, hoặc có thể là những thanh niên miền xuôi tình nguyện gắn bó với mảnh đất địa đầu tổ quốc, nơi mà bốn bề bao bọc bởi rừng núi thâm trầm
Mang trọng trách của người đem cái chữ, đem ánh sáng của văn minh đến tận những thôn bản xa xôi, nhân vật những giáo viên trẻ miền xuôi lên dạy học ở miền núi đã được Đỗ Bích Thuý khắc hoạ rất chân thực và cảm động lòng yêu nghề,
yêu người và đầy nghị lực Nhân vật Sương của Cái ngưỡng cửa cao, nhân vật Liêu trong Mần tang mọc trong thung lũng, cô giáo trong Vết chân ngựa trên đường
mòn… là những con người như thế Con đường đến những bản làng, dưới chân
những ngọn núi cao hàng ngàn mét so với mực nước biển, của những thầy cô này
không giống nhau Không phải ai c ng giống như cô giáo trong Vết chân ngựa trên đường mòn, khi ra trường cô làm theo sự phân công của tổ chức Có người lên miền núi dạy học như một cách để mong quên đi “Những điều không muốn nghĩ đến”
như Sương trong Cái ngưỡng cửa cao Hay như Liêu nhận công tác ở Tà Gia,
nhưng thực chất là về quê ngoại theo ước nguyện của cha… Có thể họ đến với miền