1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị

164 495 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 5,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cuộc cải cách này không chỉ đơn thuần là một cuộc cải cách về chế độ thuế đất mà nó còn là một cuộc cải cách chế độ đất đai, có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy quá trình p

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN KIM

HÀ NỘI, 2005

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT CỦA NHẬT BẢN

TRƯỚC THỜI MINH TRỊ

15

1.1.1 Chế độ ban điền và chế độ công địa công dân 15

1.1.2 Sự suy thoái của chế độ ban điền và sự ra đời của chế độ trang

viên sơ kỳ

19

1.1.3 Chế độ lãnh chủ địa phương và loại hình trang viên ký tiến 21

1.2.1 Chế độ sở hữu đất đai của các daimyo thời kỳ trung thế và

Chiến Quốc

23

1.2.2 Cuộc điều tra đất đai Taikokenchi 26

1.3.1 Cuộc điều tra đất đai của Mạc phủ Tokugawa 29

1.3.2 Công cuộc khai khẩn đất canh tác mới 30

1.3.3 Chế độ kokudaka chigyo và nengu 31

CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NHẬT BẢN

TRƯỚC CẢI CÁCH ĐỊA TÔ

35

2.2 Tình hình Nhật Bản sau khi mở cửa đất nước 37

2.2.2 Phong trào Sonno jo’i và Đại hiệu lệnh Oseifukko 39

2.3 Sự thành lập chính quyền Minh Trị và một số cải cách chính 42

Trang 4

trị-xã hội

2.3.1 Sự thành lập chính quyền Minh Trị 42

2.3.2 Những cải cách kinh tế-xã hội của chính phủ Minh Trị 43

2.3.2.1 Những cải cách triệt bỏ tàn dư của chế độ phong kiến 44

2.3.2.2 Những chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng 47

2.3.2.3 Quá trình du nhập những ngành sản xuất mới 49

2.4 Những khó khăn tài chính của chính phủ 50

3.1.2 Kiến nghị của Kanda Takahira và Mutsu Munemitsu 57

3.1.3 Những đề án cải cách địa tô khác 62

3.2 Quá trình thành lập Sắc lệnh cải cách địa tô 64

3.2.1.1 Những bước chuẩn bị cho việc giao cấp Jinshin chiken 64

3.2.1.3 Những vấn đề nảy sinh sau khi phát hành Jinshin chiken 73

3.3.1 Quá trình thực hiện Chisokaisei ho từ 1873 đến 1875 78

3.3.1.2 Những vấn đề của Chisokaisei ho 85

3.3.1.3 Sự trì trệ trong quá trình cải cách địa tô 89

3.3.2 Quá trình thực thi từ năm 1875 đến năm 1881 90

Trang 5

3.3.2.1 Sự chuyển đổi phương hướng chỉ đạo cải cách địa tô sau

năm 1875

90

3.3.2.2 Quá trình thực thi dưới sự chỉ đạo của chính phủ 95

3.3.2.3 Phong trào đấu tranh của nông dân 97

4.1.1 Điều tra, chỉnh đốn lại đất đai trên toàn quốc 102

4.1.2.2 Sự khác biệt giữa các địa phương 108

4.2.1 Xây dựng nền tài chính hiện đại 113

4.2.2 Thiết lập chế độ sở hữu ruộng đất hiện đại 115

4.2.3 Cải cách địa tô với quá trình tích luỹ tư bản nguyên thuỷ 120

4.3 Những vấn đề tồn đọng của cải cách địa tô 122

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cải cách địa tô (地租改正, chisokaisei, Địa tô cải chính) chính thức bắt đầu

từ ngày 28 tháng 07 năm Meiji (明治, Minh Trị) thứ 6 (1873) với việc Dajokan (太政官, Thái chính quan) ban hành “Luật cải cách địa tô” Chisokaisei ho (地租改

正法, Địa tô cải chính pháp) và kết thúc vào ngày 30 tháng 06 năm Meiji thứ 14 (1881) với sự kiện Cục cải cách địa tô (地租改正事務局, Địa tô cải chính sự vụ cục) chấm dứt hoạt động Tám tháng sau, ngày 21 tháng 02 năm Meiji thứ 15 (1882), Bộ trưởng Bộ Tài chính Matsukata Masayoshi (松形正義, Tùng Phương Chính Nghĩa, 1835-1924) đệ trình lên chính phủ bản báo cáo tổng kết cải cách địa

Cuộc cải cách này được giới nghiên cứu lịch sử Nhật Bản nói chung và lịch

sử chế độ ruộng đất nói riêng đánh giá là một trong bốn cuộc cải cách ruộng đất lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản1 Thông qua một cuộc cải cách với mục tiêu chính

là xây dựng chế độ thuế đất mới có tính cận đại, chính phủ Minh Trị đã xác lập được một nền tài chính mạnh mẽ cho quá trình cận đại hóa của Nhật Bản lúc bấy giờ Tuy nhiên, cuộc cải cách này không chỉ đơn thuần là một cuộc cải cách về chế

độ thuế đất mà nó còn là một cuộc cải cách chế độ đất đai, có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy quá trình phát triển chế độ sở hữu đất đai của tầng lớp địa chủ ở Nhật Bản thời kỳ Minh Trị Mặt khác, chế độ sở hữu đất đai ở Nhật Bản thời kỳ cận đại chính là nền tảng chính trị, tài chính của nhà nước Minh Trị và bản thân chế độ sở hữu đất đai này cũng có vai trò to lớn trong việc tạo dựng cơ sở kinh tế -

xã hội của Nhật Bản thời kỳ đó

Vì vậy, việc nghiên cứu về cải cách địa tô thời kỳ Minh Trị có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về chế độ đất đai của Nhật Bản

thời kỳ cận đại Hơn nữa, với nhận định cải cách địa tô là một trong những chìa

1 4 cải cách ruộng đất lớn trong lịch sử Nhật Bản bao gồm Cải cách ban điền (thế kỷ VII), Cải cách kiểm địa thời kỳ Tokugawa, Cải cách địa tô thời kỳ Minh Trị và Cải cách ruộng đất năm 1946

Trang 7

khóa quan trọng để lý giải về các cải cách kinh tế - xã hội thời kỳ Minh Trị, việc

nghiên cứu này cũng sẽ góp phần lý giải vai trò của kinh tế nông nghiệp trong công cuộc cận đại hóa Nhật Bản, cũng như những nguyên nhân dẫn đến thành công của công cuộc Minh Trị duy tân

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Nghiên cứu của các học giả Nhật Bản

Ở Nhật Bản, những nghiên cứu về công cuộc Minh Trị duy tân nói chung, cải cách địa tô nói riêng đã được các nhà nghiên cứu Nhật Bản tập trung khảo cứu trong một thời gian dài và đã thu được thành quả hết sức to lớn Theo thống kê của

Tamura Sadao trong cuốn “Cải cách địa tô và cuộc tranh luận về chủ nghĩa tư

bản”, cho đến năm 1981, tổng số công trình, bài chuyên khảo về cải cách địa tô lên

tới con số 368 [49, 269-291] Còn nếu chúng ta thống kê cả những công trình nghiên cứu được công bố từ sau năm 1981 đến nay thì con số này có thể lên tới hơn 420 Điều này cho thấy mối quan tâm hết sức sâu sắc của các học giả Nhật Bản đối với cải cách địa tô thời kỳ Minh Trị

Về lịch sử nghiên cứu cải cách địa tô của các học giả Nhật Bản, chúng ta có thể tạm chia làm 2 thời kỳ chính

2.1.1 Thời kỳ trước Chiến tranh thế giới lần thứ II

Công trình nghiên cứu đầu tiên về cải cách địa tô có lẽ là cuốn “Cải cách địa

tô ở nước ta” [19] của Ario Toshishige, một viên chức chính phủ đã từng làm việc

tại Cục cải cách địa tô, được viết vào năm 1914 nhưng mãi đến năm 1977 mới được xuất bản với sự chú giải của Fukushima Masao

Tiếp đó, từ khoảng những năm 20, 30 của thế kỷ XX, trong giới nghiên cứu Nhật Bản đã nổ ra một cuộc tranh luận gay gắt về tính chất của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản Cuộc tranh luận này diễn ra giữa hai trường phái Koza (講座, Giảng tọa) và Rono (労農, Lao nông)2 Mỗi trường phái đều đưa ra những luận điểm riêng của mình về tính chất của chủ nghĩa tư bản Nhật Bản và thông qua đó để đánh giá chính xác tính chất của công cuộc Minh Trị duy tân Một trong những vấn

2 Về nguồn gốc và nội dung cuộc tranh luận này, cũng như sự ra đời của hai trường phái, xem [49]

Trang 8

đề được tranh luận nhiều nhất là cải cách địa tô vì các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng, đây chính là nền tảng của những vấn đề trên

Trường phái Koza cho rằng, Minh Trị duy tân không phải là một cuộc cách

mạng tư sản mà là sự thành lập chế độ chuyên chế Vì vậy, các nhà nghiên cứu

theo trường phái Koza khi nghiên cứu về cải cách địa tô cũng xem xét vấn đề dựa

trên quan điểm này Họ cho rằng, bản chất của cuộc cải cách địa tô là bán phong

kiến Ngược lại, trường phái Rono lại cho rằng, Minh Trị duy tân là một cuộc cách mạng tư sản không triệt để và cải cách địa tô là một cải cách mang tính cận đại

Sự đối lập căn bản giữa hai trường phái chính là ở vấn đề này

Ba đại diện tiêu biểu nhất của trường phái Koza là Noro Eitaro, Yamada Moritaro và Hirano Gitaro, trong đó người đi tiên phong là Noro Eitaro Điểm đáng lưu ý trong nghiên cứu của Noro là tính không thống nhất Ban đầu, với quan điểm “Minh Trị duy tân là một cuộc cách mạng tư sản”, ông đã nhận định rằng, nhờ cải cách địa tô mà mối quan hệ sở hữu phong kiến đã được thay thế bằng quan

hệ sở hữu tư bản và địa tô là một loại thuế lợi tức cận đại Nhưng sau đó, khi mà nhiều kiến giải mới về Minh Trị duy tân được đề xuất và yêu cầu đánh giá lại cải cách địa tô được đặt ra thì ông lại đánh giá tính chất của địa tô Minh Trị là vừa có tính cận đại vừa có tính phong kiến Noro nhận định rằng, tầng lớp địa chủ đã thay thế các lãnh chúa phong kiến trong việc bóc lột toàn bộ giá trị thặng dư của tiểu nông lĩnh canh bằng sự cưỡng chế phi kinh tế của chính phủ: “một phần lớn hoặc chí ít thì cũng là một bộ phận quan trọng giá trị thặng dư trong sản xuất nông nghiệp đã bị bóc lột bởi cường quyền và nếu như vậy, xét về bản chất nó cũng

không khác gì thuế đất phong kiến” [42, 230] Quan điểm này của ông đã trở

thành cơ sở lý luận của trường phái Koza

Những kiến giải về Minh Trị duy tân và cải cách địa tô của Noro đã được Yamada Moritaro kế thừa một phần Yamada cho rằng, chế độ sở hữu ruộng đất ra đời sau cải cách địa tô không phải là hình thức sở hữu tư bản mà là hình thức sở hữu bán phong kiến của tầng lớp địa chủ ký sinh Còn quan điểm của Hirano Gitaro thì gần giống với Noro ở chỗ ông nhận định địa tô được trưng thu dựa trên

sự cưỡng chế phi kinh tế, là sự bóc lột lao động thặng dư và có tính nhị nguyên

Trang 9

phong kiến lẫn tư bản; chế độ sở hữu đất đai của địa chủ ký sinh hình thành sau cải cách địa tô là sở hữu đất đai bán phong kiến

Mặc dù, ngay trong bản thân ba học giả thuộc trường phái Koza có một số điểm không thống nhất nhưng tựu chung lại, họ vẫn có những điểm chung cơ bản sau: Sau cải cách địa tô, chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ ký sinh đã ra đời và

đó là chế độ sở hữu bán phong kiến; địa tô là tô thuế phong kiến, là tiền thuê đất

mà người thuê phải trả cho địa chủ Và theo đánh giá của GS Sasaki Hiroshi, kiến giải của trường phái Koza mang nặng tính chất giáo điều, thiếu tính thực chứng và chứa đựng nhiều mâu thuẫn [42, 236]

Ngược lại, những học giả theo trường phái Rono cho rằng mặc dù ở một số khía cạnh, địa tô vẫn có một số đặc tính của địa tô phong kiến nhưng về bản chất, địa tô thời Minh Trị là tô thuế cận đại Tiêu biểu cho trường phái này là Tsuchiya Takao và Ono Michio Hai ông cho rằng, với những đặc trưng (1) trong việc triệt

bỏ rào cản phong kiến đối với đất đai như bãi bỏ lệnh cấm mua bán đất đai, phân chia ruộng đất , (2) thu thuế bằng tiền tính theo giá đất, (3) thực hiện thống nhất

trên toàn quốc, rõ ràng cải cách địa tô là bước đầu tiên của chế độ tô thuế cận đại (Ono Michio), bao hàm tính chất quá độ (Tsuchiya Takao) Về chế độ sở hữu

ruộng đất mà cải cách địa tô tạo lập nên là chế độ sở hữu tư bản

Về những ảnh hưởng của cải cách địa tô đến quá trình phân hóa giai cấp nông dân, trường phái Rono mà tiêu biểu ở đây là Ono Michio đã nhận định việc chuyển hình thức địa tô từ thuế hiện vật sang hiện kim chính là luận cứ của quá trình phân hóa giai cấp nông dân Chính sự chuyển đổi này đã đẩy nhanh quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa, giúp nền kinh tế tiền tệ thẩm thấu sâu vào đời sống nông thôn và đưa đến kết quả là, đất đai của nông dân đã bị tư bản thương nghiệp, tư bản cho vay với lợi tức cao chiếm đoạt Mặt khác, về tính phong kiến, do phải nộp

tô thuế quá nặng, người nông dân đã dần dần bị tước đoạt hết đất đai, trở thành người làm thuê cho tầng lớp tư bản thương nghiệp, tư bản cho vay nặng lãi và cuối cùng họ bị tách rời khỏi ruộng đất Sự phân hóa của giai cấp nông dân vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ XIX chính là kết quả của quá trình này

Trang 10

2.1.2 Thời kỳ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, những điều kiện nghiên cứu ngày càng đầy đủ hơn và số lượng chuyên gia cũng tăng lên Nghiên cứu lịch sử Nhật Bản nói chung và cải cách địa tô nói riêng cũng chịu tác động mạnh mẽ của những điều kiện lịch sử này

Mối quan tâm đối với cải cách địa tô ngày càng cao và là một phần của cuộc tranh luận về cải cách sau chiến tranh Những thay đổi của nông thôn Nhật Bản sau khi tiến hành cải cách ruộng đất năm 1946 đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết là phải có những công trình khảo cứu tổng quát lại toàn bộ lịch sử chế độ đất đai Chính vì vậy, tại các phủ, tỉnh, thành phố, làng đã bắt đầu tiến hành biên tập, phân tích các sử liệu liên quan đến cải cách địa tô thời kỳ Minh Trị

Đặc biệt, từ năm 1950 đến năm 1953, nhiều địa phương của Nhật Bản đã tiến hành biên soạn lịch sử các cuộc cải cách ruộng đất và đây chính là một “cơ duyên” lớn để thúc đẩy nghiên cứu thực chứng về cải cách địa tô Có thể nói, công trình

“Cải cách địa tô tỉnh Kagoshima” được đăng trong cuốn “Lịch sử cải cách ruộng

đất tỉnh Kagoshima” (1953) của Yamada Ryuo là công trình nghiên cứu thực

chứng đầu tiên về cải cách địa tô sau chiến tranh

Một sự kiện cũng có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy nghiên cứu cải cách địa tô là việc chính phủ Nhật Bản khi đó đã công khai và xuất bản những văn kiện liên quan đến Bộ Ngân khố thời Minh Trị Nếu như những công trình nghiên cứu

trước chiến tranh chủ yếu dựa vào các sử liệu như “Báo cáo cải cách địa tô”, “Các

văn bản liên quan đến cải cách địa tô” được in trong tập 7 bộ “Tập tư liệu về kinh

tế tài chính thời kỳ đầu Minh Trị” [23] thì sau chiến tranh, xu hướng sử dụng các

sử liệu của Bộ Ngân khố (văn thư của Okuma Shigenobu, Matsukata Masayoshi,

Inoue Kaoru ), của Dajokan như Dajoruiden (太政類典, Thái chính loại điển),

Kobun ruiju (公文類聚, Công văn loại tụ) ngày càng tăng; hơn nữa, từ năm 1951

đến năm 1953, 3 tập sử liệu “Kỷ yếu cải cách địa tô tại các phủ tỉnh” cũng được

xuất bản

Cũng trong những năm 50, một công trình tư liệu đồ sộ khác cũng đã được

xuất bản Đó là bộ tư liệu về cải cách địa tô gồm 3 tập “Tư liệu cơ sở về cải cách

Trang 11

địa tô đầu thời kỳ Minh Trị” [62] Đây là một bộ tư liệu thống kê toàn bộ các văn

bản liên quan đến cải cách địa tô của các địa phương và chính quyền Trung ương Minh Trị Người có công lớn nhất trong việc hoàn thành bộ tư liệu đồ sộ này là GS Fukushima Masao

Những bộ sử liệu đồ sộ trên đây có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển nghiên cứu cải cách địa tô thời kỳ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II theo khuynh hướng nghiên cứu thực chứng Do đó, nếu chúng ta so với tình hình nghiên cứu trước chiến tranh thì rõ ràng là việc nghiên cứu về cải cách địa tô sau Chiến tranh thế giới lần thứ II có nhiều điểm vượt trội về phương diện thực chứng hơn, đã thu

được những thành quả hết sức lớn lao Một bức tranh toàn cảnh về cải cách địa tô

đã được phác họa

Thời kỳ này có thể được chia làm 3 giai đoạn:

2.1.2.1 Giai đoạn 1: những năm 50, 60 của thế kỷ XX

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, cuộc tranh luận về tính chất của chủ nghĩa

tư bản Nhật Bản vẫn tiếp tục nhưng không gay gắt như thời kỳ trước chiến tranh

Năm 1957, NXB Đại học Tokyo đã xuất bản 2 tập “Nghiên cứu cải cách địa tô”

[21] [22] do GS Uno Kozo chủ biên Ngay sau khi được xuất bản, bộ sách này đã gây một tiếng vang rất lớn Dựa trên những quan điểm kế thừa từ trường phái Rono, những nhà nghiên cứu tham gia biên soạn đã đưa ra một cách lý giải mới về cải cách địa tô, trên cơ sở so sánh đối chiếu với chế độ tô thuế của một số quốc gia khác có những nét tương đồng như Anh, Đức Công trình này đã phát triển trường phái Rono thêm một bước về lý luận và có tính thuyết phục cao, sáng lập nên một học phái mới gọi là học phái Uno

Tuy nhiên, thành quả nghiên cứu lớn nhất của những năm 60 là hai cuốn

chuyên khảo “Nghiên cứu cải cách địa tô” (1962) của Fukushima Masao [64] và cuốn “Cải cách ruộng đất thời kỳ Minh Trị duy tân - xem xét vấn đề giải thể chế độ

sở hữu ruộng đất của các lãnh chúa” 1962) của Niwa Kunio [56] Hai công trình

này đã sử dụng một nguồn sử liệu khổng lồ để phân tích, đánh giá những biến động chính trị trong nội bộ chính phủ Minh Trị và quá trình thành lập, thực thi cải cách địa tô Fukushima đã xem xét toàn bộ quá trình cải cách địa tô từ góc độ lịch

Trang 12

sử chế độ pháp luật, còn Niwa Kunio lại chú trọng đến vấn đề phản ánh sự đối lập, tranh giành quyền lực trong nội bộ quan chức chính phủ Mặc dù, giữa những kiến giải của hai ông còn có một số sự khác biệt nhưng rõ ràng là qua hai công trình này, quá trình khởi động và thành lập sắc lệnh cải cách địa tô đã được trình bày hết sức

rõ ràng

Giới học giả Nhật Bản đánh giá hai công trình này đã tạo nên những tiền đề

lớn lao cho nghiên cứu cải cách địa tô và nhiều người cho rằng, trong lịch sử

nghiên cứu cải cách địa tô có một thời kỳ được gọi là thời kỳ của Fukushima Masao và Niwa Kunio

Cũng trong hai thập niên này, nhiều công trình nghiên cứu đồ sộ khác về cải

cách địa tô cũng đã được công bố như “Minh Trị duy tân và Cải cách địa tô” (1967) của Seki Jun’ya [45], “Nghiên cứu cải cách địa tô - Xung quanh mối quan

hệ với địa chủ” (1967) của Kondo Tetsuo và Arimoto Masao với “Cải cách địa tô

và phong trào đấu tranh của nông dân” (1968) [17] Những công trình này đã

xem xét, đánh giá cải cách địa tô dưới nhiều góc độ khác nhau, trong nhiều mối quan hệ khác nhau như giữa cải cách địa tô với chế độ địa chủ, phong trào đấu tranh của nông dân Qua đó, phần lớn các nhà nghiên cứu đã đồng tình với quan

điểm của trường phái Rono: Minh Trị duy tân là một cuộc cách mạng tư sản được

thực hiện ở nước tư bản phát triển sau, địa tô sau cải cách là địa tô cận đại và chế

độ sở hữu ruộng đất hình thành sau cải cách địa tô là chế độ sở hữu cận đại

Đặc biệt, từ nửa sau thập niên 60, bằng phương pháp thực chứng, các nhà nghiên cứu càng đi sâu nghiên cứu cải cách địa tô, họ càng nhận thấy rõ những mặt hạn chế về lý luận của trường phái Koza Chính vì vậy, một số nhà học giả đã bắt đầu chỉnh lý, sửa chữa những lý luận của trường phái Koza và trong quá trình chỉnh lý đó, nhiều khuynh hướng nghiên cứu mới đã xuất hiện Chúng ta có thể nói đến những công trình của Nagaoka Shinkichi, Oishi Kaichiro, Kato Kosaburo, Niwa Kunio, Arimoto Masao và Nakamura Masanori Các khảo cứu của họ đã chỉ ra nhiều vấn đề của nghiên cứu cải cách địa tô

Thứ nhất là tính cần thiết của việc phải đánh giá cải cách địa tô là một bộ

phận của quá trình thành lập chế độ tô thuế cận đại của chính phủ Minh Trị (Niwa

Trang 13

Kunio, 1965) Thứ hai, sự cần thiết phải xem xét lại ý nghĩa lịch sử của quá trình

tích lũy tư bản nguyên thủy của những nước phát triển sau dưới sức ép của những nước tư bản chủ nghĩa phát triển trước và gắn liền cải cách địa tô không chỉ với sự vận động của giai cấp nông dân, tầng lớp địa chủ trong từng khu vực riêng biệt mà còn với toàn bộ cơ cấu của quá trình tích lũy tư bản nguyên thủy của Nhật Bản

(Nagaoka, 1966) Thứ ba, không chỉ phân tích thực chứng quá trình thực thi cải

cách địa tô nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa lịch sử của nó mà còn phải xem xét toàn diện

ý nghĩa lịch sử của cải cách địa tô bắt đầu từ việc đánh giá vai trò của địa tô tiền tệ

trong biến động kinh tế vào những năm Minh Trị thứ 10 (Seki Jun’ya, 1967) Thứ

tư, thông qua cải cách địa tô - vấn đề lớn nhất còn tồn lại từ cuộc luận tranh chủ

nghĩa tư bản trước chiến tranh, cần lý giải rõ ràng tính chất của quyền lực nhà nước, coi đây là sự tích lũy tư bản nguyên thủy nhất để phát triển chủ nghĩa tư bản

ở Nhật Bản, xem xét cải cách địa tô trong cuộc đấu tranh giai cấp thời kỳ Minh Trị

duy tân (Arimoto, 1968) Thứ năm, Nakamura Masanori cho rằng cần xem xét lại

vị trí của những nghiên cứu đương thời với tư cách là sự tiếp nối của học thuyết chủ nghĩa tư bản Nhật Bản và chủ nghĩa quốc gia Nhật Bản (1969)

Như vậy, giai đoạn từ cuối thập niên 50 đến hết thập niên 60 là thời kỳ nghiên cứu cải cách địa tô phát triển nở rộ nhất Có thể nói, hầu hết những công trình nghiên cứu tiêu biểu nhất về cải cách địa tô đều được viết trong thời kỳ này

2.1 2.2 Giai đoạn 2: những năm 70, 80 của thế kỷ XX

Sau một thập kỷ phát triển mạnh mẽ với những thành tựu to lớn, đến những thập niên 70, 80, tình hình nghiên cứu về cải cách địa tô dần đi vào tình trạng

“đóng băng” về hướng đi, chủ yếu là do những vấn đề chính liên quan đến cải cách địa tô đã được giải quyết trong giai đoạn trước Số lượng công trình nghiên cứu cũng ít dần và mang tính tản mạn

Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là không có khuynh hướng nghiên cứu mới nào được đề ra vì như đã trình bày ở trên, những vấn đề chính của cải cách

địa tô đã được giải quyết trong giai đoạn nghiên cứu trước đó Mặt khác, trong giai đoạn này, các nhà nghiên cứu cho rằng, thông qua nghiên cứu thực chứng về cải cách địa tô ở từng địa phương cụ thể, họ có thể kiểm chứng được thành quả nghiên

Trang 14

cứu của giai đoạn trước đó và tìm ra được hướng đi mới Tuy nhiên, do quá đề cao phương pháp thực chứng nên càng nghiên cứu, các nhà nghiên cứu càng đi quá sâu vào từng vấn đề và không thể rút ra được những kết luận có tính tổng quan chung

Trong giai đoạn này, công trình đáng lưu ý nhất cần được đề cập đến là bộ

sách “Chủ nghĩa tư bản Nhật Bản- Những nhân vật tiêu biểu” [30] của Oshima

Kiyoshi, Kato Toshihiko, Ouchi Tsutomu do NXB Đại học Tokyo ấn hành năm

1973 Trong cuốn thứ nhất trình bày về cải cách địa tô, các tác giả đã hệ thống hoá, tập trung trình bày, đánh giá lại về những nhân vật lịch sử có đóng góp về tư tưởng, đường lối chỉ đạo cải cách địa tô như Kanda Takahira, Mutsu Munemitsu, Matsukata Masayoshi

Năm 1988, GS Sasaki Hiroshi đã công bố công trình nghiên cứu khá đồ sộ

của mình là “Chủ nghĩa tư bản Nhật Bản và Minh Trị duy tân” [42], phân tích,

đánh giá lại vai trò của cải cách địa tô trong toàn cảnh lịch sử thời kỳ Minh Trị và

vị trí của nó trong quá trình xác lập chủ nghĩa tư bản ở Nhật Bản

Đặc biệt, năm 1981 Tamura Sadao đã công bố những nghiên cứu của mình

trong cuốn “Cải cách địa tô và cuộc tranh luận về chủ nghĩa tư bản” [49] Đây là

một công trình hệ thống lại toàn bộ lịch sử nghiên cứu cải cách địa tô Từng quan điểm của các nghiên cứu đã được đánh giá, xem xét thông qua hệ quy chiếu tư tưởng, sự tác động khách quan của bối cảnh lịch sử Qua đó, chúng ta có thể hiểu

rõ hơn từng công trình và đặc biệt là nội dung của cuộc tranh luận thập niên 20, 30 của thế kỷ XX về chủ nghĩa tư bản Nhật Bản và tác động của cuộc tranh luận này đến các nhà nghiên cứu giai đoạn sau Chiến tranh thế giới lần thứ II

2.1.2.3 Những khuynh hướng nghiên cứu mới từ thập niên 90 đến nay

Từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình nghiên cứu về cải cách địa tô vẫn tiếp tục quá trình “đóng băng” như trước đó Số học giả nghiên cứu

về cải cách địa tô ngày càng ít đi Trong thời kỳ này, hướng nghiên cứu chủ yếu vẫn là đánh giá lại vị trí của cải cách địa tô trong trong mối tương quan với các thiết chế chính trị - xã hội đương thời, cũng như những biến đổi của chế độ ruộng đất, chế độ địa chủ giai đoạn sau khi cải cách địa tô kết thúc năm 1881 Đồng thời, qua những trường hợp nghiên cứu cụ thể như huyện, xã, các học giả cũng muốn

Trang 15

kiểm chứng, bổ sung cho những công trình nghiên cứu trước đó nhằm làm rõ tính chất của cải cách địa tô ở từng vùng, giữa vùng miền Đông và miền Tây Nhật Bản, hoặc ngay trong bản thân một khu vực, một đơn vị hành chính

Tiêu biểu cho khuynh hướng nghiên cứu này là những công trình nghiên cứu

về cải cách địa tô của GS Okuda Haruki như “Cải cách địa tô và chế độ địa

phương” [25], “Chế độ sở hữu ruộng đất của Nhật Bản thời kỳ cận đại” [28] Hai

cuốn sách chuyên khảo này mặc dù không thực sự đưa ra được một hướng đi mới trong nghiên cứu cải cách địa tô nhưng thông qua trường hợp các tỉnh vùng Kanto, tỉnh Wakayama, GS Okuda đã xem xét kỹ lưỡng, đánh giá sự tác động qua lại giữa cải cách địa tô với chế độ địa phương, với quá trình thành lập chế độ sở hữu ruộng đất cận đại của Nhật Bản, với những điều chỉnh về địa tô được thực hiện vào cuối thời kỳ Minh Trị đầu thời kỳ Taisho (大正, Đại Chính, 1912-1926) Hay GS Sasaki Hiroshi (ĐH Ibaraki) thì vẫn tiếp tục nghiên cứu về cải cách địa tô trong mối quan hệ với chính sách tiền tệ và cải cách địa tô ở tỉnh Ibaraki

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng tập trung nhiều hơn về cải cách địa tô ở đất thủy lợi, đất thành thị, đất mộ, vốn không được chú ý nhiều trước đây Đối với hướng nghiên cứu này, chúng ta có thể tham khảo các công trình nghiên cứu của Hokujo Hiroshi Trong các nghiên cứu của mình, Hokujo tập trung chủ yếu nghiên

cứu cải cách địa tô ở vùng rừng núi, đất phục vụ thuỷ lợi, đất mộ và chế độ chiken

[69] Ngoài ra, trong năm 2004, TS Takishima Isao thuộc trường ĐH Chuo cũng công bố một nghiên cứu mới về cải cách địa tô ở các đô thị, trong đó chủ yếu là cải cách địa tô ở phủ Tokyo

Như vậy, đến trước thập niên 90, những nghiên cứu về cải cách địa tô chủ yếu tập trung trong bốn chủ đề lớn sau đây:

(1) Chế độ thuế khóa và đất đai hình thành sau cải cách địa tô

(2) Mối quan hệ giữa cải cách địa tô với sự hình thành sở hữu đất đai của địa chủ

(3) Phong trào đấu tranh của dân chúng nổ ra trong quá trình cải cách

(4) Mối quan hệ giữa cải cách địa tô với phong trào tự do dân quyền

Trang 16

Trong 4 mảng đề tài này, ta có thể nhận thấy quan hệ giữa (1) với (2), (3) và (4) là quan hệ ảnh hưởng, còn quan hệ giữa (1) với (3), (2) và (4) là quan hệ đối kháng Các mối quan hệ này đã được nhận thức khá đầy đủ qua những nghiên cứu

từ sau Chiến tranh thế giới thứ II Tuy nhiên, mối quan hệ giữa (1) với (4), (2) và

(3) là mối quan hệ như thế nào thì vẫn chưa hoàn toàn được làm sáng tỏ và đây chính là nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu cải cách địa tô hiện nay

Hơn nữa, gần đây trong giới nghiên cứu cải cách địa tô cũng xuất hiện những yêu cầu cần phải nhìn nhận lại lịch sử nghiên cứu, cần tập trung nghiên cứu sâu

hơn một số vấn đề khác như: những thay đổi về phương châm cải cách địa tô của

chính phủ Minh Trị trong quá trình tiến hành cải cách có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc cải cách này; sự thành lập sắc lệnh cải cách địa tô được hình thành dưới những tiền đề lịch sử nào,

2.2 Nghiên cứu của các học giả nước ngoài

Công cuộc Minh Trị duy tân được nhiều nhà nghiên cứu Mỹ quan tâm Chúng ta có thể nhắc đến một số công trình nghiên cứu nổi tiếng của W.G.Beasley

như “The Meiji Restoration” (1972) [12], Gilbert Rozman và Marius B.Jansen với

“Japan in Transition from Tokugawa to Meiji” (1988) [14] Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải đề cập đến bộ lịch sử Nhật Bản “The Cambridge History of Japan” [13], trong đó tập 5 là tập về thời kỳ Minh Trị Là một trong những nước có ngành

Nhật Bản học hàng đầu thế giới, các học giả Mỹ cũng đã dành nhiều công sức nghiên cứu về cải cách địa tô Tuy nhiên, chúng tôi chưa có điều kiện tiếp cận và thể hiện đầy đủ các quan điểm, kết quả nghiên cứu trong các công trình của giới nghiên cứu Mỹ và Tây Âu; cũng như chưa có điều kiện khảo sát sâu những công trình nghiên cứu của các học giả Trung Quốc, Hàn Quốc và Liên Xô trước đây

2.3 Nghiên cứu của các học giả trong nước

Nghiên cứu về Nhật Bản đã bắt đầu từ khá sớm ở Việt Nam và phát triển nở

rộ trong thời gian hơn 10 năm trở lại đây Liên quan đến chế độ ruộng đất của Nhật

Bản, cho đến nay mới chỉ có công trình “Lịch sử trang viên Nhật Bản - thế kỷ

VIII-XVI” của tác giả Phan Hải Linh [6] Ngoài ra, đây đó trong các công trình

khác cũng có đề cập ít nhiều đến chế độ ruộng đất của Nhật Bản trong các thời kỳ

Trang 17

lịch sử như “Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa - Nguyên nhân

và hệ quả” của TS Nguyễn Văn Kim [3] Tuy nhiên, cho đến nay, về cuộc cải cách

địa tô thời kỳ Minh Trị thì vẫn chưa có công trình nghiên cứu sâu nào Về vấn đề này, chúng tôi mới chỉ thấy có bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kim Lai đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản số 5 năm 2001 [5]

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi cũng tham khảo một số công trình

nghiên cứu về nông thôn Việt Nam như cuốn “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam

nửa đầu thế kỷ XIX” của Vũ Huy Phúc [8], “Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn” của Nguyễn Thế Anh (1971) [1], “Phác qua tình hình ruộng đất

và đời sống nông dân trước Cách mạng tháng Tám” của Nguyễn Kiến Giang

(1959) [2] và gần đây, năm 1997 có một công trình của Trương Hữu Quýnh - Đỗ

Bang viết về “Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều

Nguyễn” [8] Qua những công trình này, chúng tôi có thể nắm bắt được tình hình

ruộng đất của Việt Nam trong thời điểm cuối thế kỷ XIX để từ đó so sánh đối chiếu với cải cách địa tô ở Nhật Bản

3 Phương pháp nghiên cứu và mục đích của luận văn

Từ lịch sử nghiên cứu trên đây, chúng tôi nhận thấy rằng nghiên cứu cải cách

địa tô không phải hoàn toàn là một lĩnh vực độc lập mà nó có mối quan hệ với nhiều vấn đề quan trọng khác trong nghiên cứu lịch sử cận đại Nhật Bản như chế

độ địa chủ, chủ nghĩa tư bản Nhật Bản, chế độ Thiên hoàng và Minh Trị duy tân

Do đó, trong luận văn này, ngoài việc sử dụng chủ yếu nguồn tài liệu tham khảo tiếng Nhật, chúng tôi cũng cố gắng lựa chọn và dịch ra tiếng Việt một số sử liệu

quan trọng trong tập 7 bộ “Tập tư liệu về kinh tế tài chính thời kỳ đầu Minh Trị”,

“Tư liệu cơ sở về cải cách địa tô đầu thời kỳ Minh Trị” và một số sử liệu khác

Dựa trên những sử liệu này, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu lịch sử: phân tích, so sánh lịch đại, đồng đại, đi sâu xem xét sự tác động tương hỗ giữa cải cách địa tô với các cuộc cải cách kinh tế - xã hội khác của chính phủ Minh Trị, giữa cải cách địa tô với chế độ sở hữu ruộng đất, sự tác động của những biến động lịch sử đến quá trình khởi động và thực thi cải cách địa tô, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày

có hệ thống nhằm làm rõ:

Trang 18

- Quá trình hình thành chế độ sở hữu đất đai cận đại, trong đó tập trung phân tích vị trí, vai trò của cải cách địa tô với tư cách không chỉ là một cuộc cải cách chế độ tô thuế đơn thuần mà còn là một cuộc cải cách chế độ đất đai

- Phác họa một bức tranh toàn cảnh về quá trình cải cách địa tô từ góc độ phân tích những chủ trương, điều chỉnh phương châm cải cách của chính phủ Minh Trị

- Đưa ra những đánh giá về quá trình hình thành chế độ sở hữu đất đai của tầng lớp địa chủ ở Nhật Bản thời kỳ Minh Trị

4 Bố cục của luận văn

Về bố cục, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 4 chương:

Chương 1 KHÁI QUÁT CHẾ ĐỘ ĐẤT ĐAI CỦA NHẬT BẢN TRƯỚC THỜI

KỲ MINH TRỊ

Chương 2 BỐI CẢNH KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA NHẬT BẢN TRƯỚC CẢI CÁCH ĐỊA TÔ

Chương 3 QUÁ TRÌNH THỰC THI CẢI CÁCH ĐỊA TÔ THỜI KỲ MINH TRỊ

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA CỦA CẢI CÁCH ĐỊA TÔ

Luận văn cũng bao gồm phần phụ lục, trong đó, tác giả luận văn cố gắng xây dựng một niên biểu lịch sử quá trình thực hiện cải cách địa tô và những tư liệu lịch

sử bằng tiếng Nhật để các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này có thể tham khảo

Để thống nhất các thuật ngữ sử dụng trong luận văn, chúng tôi xin được trình bày dưới dạng phiên âm tiếng Nhật, có chú thích chữ Hán, âm Hán Việt khi xuất hiện lần đầu Về niên hiệu, các nhân vật lịch sử, chúng tôi sẽ cố gắng để nguyên tên gọi, có chú thích chữ Hán, âm Hán Việt, năm sinh, năm mất Tuy nhiên, trong luận văn, chúng tôi xin phép được giữ nguyên các từ “chính quyền Minh Trị”,

“chính phủ Minh Trị” để tiện trình bày và dễ nắm bắt Các sử liệu quan trọng sẽ được dịch sang tiếng Việt và sử liệu gốc tiếng Nhật sẽ được trình bày ngay trong phần chú thích

Trang 19

Nghiên cứu về cải cách địa tô là một đề tài khó Do năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều nên chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

để tiếp tục bổ sung và hoàn chỉnh đề tài này

Trong quá trình làm luận văn, tác giả có may mắn được sang thực tập, nghiên cứu tại Trường ĐH Senshu (Nhật Bản) Tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến GS Arai Katsuhiro, PGS Nagae Masakazu và những bạn đồng học trong seminar của

GS Arai, đặc biệt là Yokozawa Kiyoko, Hideyoshi Yagashiro đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, giải nghĩa sử liệu Tôi cũng xin chân thành cảm

ơn GS Okuda Haruki trường ĐH Kanazawa vì những chỉ dẫn khoa học sáng suốt, giúp tôi có cái nhìn khái quát về lịch sử nghiên cứu cải cách địa tô và thực trạng nghiên cứu cải cách địa tô ở Nhật Bản hiện nay

Tôi xin bày tỏ sự tri ân với Thầy hướng dẫn TS Nguyễn Văn Kim, Giảng viên Khoa Lịch sử đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Nhân đây, tôi cũng xin được cảm ơn Ths Phan Hải Linh cũng như các Thầy, Cô giáo, bạn đồng nghiệp trong Khoa Đông Phương về những lời khuyên, sự động viên quý báu đã dành cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn

Cuối cùng, tôi dành sự biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người luôn động viên và là điểm tựa tinh thần cho tôi trong suốt thời gian viết và hoàn thành bản luận văn này

Trang 20

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT CỦA NHẬT BẢN TRƯỚC THỜI MINH

TRỊ

1.1 CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT THỜI CỔ ĐẠI

Sau khi nhà nước Yamatai (邪馬台, Tà Mã Đài) ra đời, chế độ tư hữu đất đai hình thành manh nha từ cuối thời kỳ nguyên thuỷ đã phát triển mạnh mẽ hơn Tầng lớp quý tộc, hào tộc nắm giữ quyền lực trong tay với tư cách là những dòng họ lớn Đồng thời, với việc chiếm hữu đất đai, cư dân sinh sống trên mảnh đất đó, họ còn nắm giữ cả quyền lực kinh tế cũng như chính trị to lớn

Vào thế kỷ thứ 5, cùng với sự ra đời của nhà nước sơ khai đầu tiên ở vùng Yamato (大和, Đại Hoà), sự thống nhất về chính trị đã được thiết lập trên toàn Nhật Bản Quyền lực của tầng lớp sĩ tộc, hào tộc bị hấp thu vào quyền lực của triều đình và bản thân họ trở thành một bộ phận trong bộ máy cai trị khi đó Mặt khác, những đất đai nằm dưới quyền cai quản trực tiếp của hào tộc đã phát triển với quy mô toàn quốc, chế độ thị tính (氏姓制, thị tính chế), chế độ quốc-huyện

với tư cách là thể chế chính trị, hành chính và chế độ miyake (屯倉, đồn thương)-

tadokoro (田荘, điền trang) là chế độ sở hữu đất đai cũng được xác lập Miyake là

đất đai sở hữu của Thiên Hoàng, Hoàng thất; tadokoro là đất tư hữu của quý tộc,

hào tộc

Các miyake và tadokoro được những cư dân sinh sống trên những mảnh đất

đó canh tác và họ được gọi chung là benotami (民部, dân bộ) Betotami bao gồm

tomobe (品部, phẩm bộ) thuộc triều đình, koshiro (小代, tử đại), nashiro (名代,

danh đại), tabe (田部, điền bộ), kakibe (曲部, khúc bộ) thuộc quý tộc và những hình thức sử dụng betotami không hoàn toàn giống với việc sử dụng lao động nô tỳ,

lao động công ích và lao động theo mùa

1.1.1 Chế độ ban điền và chế độ công địa công dân

Năm Taika (大化, Đại Hoá) nguyên niên (645), Hoàng tử Nakano Ooe (中大

兄, Trung Đại Huynh, 626-671) và Nakatomi no Kamako (中臣鎌足, Trung Thần

Trang 21

Hiềm Túc, 614-669) đã đánh đổ dòng họ Soga (蘇我, Tô Ngã), thành lập chính quyền cải cách và năm 646 đã ban chiếu cải cách Nội dung chiếu cải cách theo Nihonshoki (日本書紀, Nhật Bản thư kỷ) bao gồm một số điểm sau:

(1) Xoá bỏ đất tư hữu, dân tư hữu của Hoàng thất và các hào tộc

(2) Thiết lập tổ chức hành chính địa phương theo thế chế trung ương tập quyền lấy Thiên Hoàng làm trung tâm

(3) Đăng dụng chế độ ban điền (班田収受, handen shuju, ban điền thu thụ)

và chế độ hộ tịch (戸籍, koseki, hộ tịch), sổ thuế (計帳, keicho, kế chướng3) làm phương thức chi phối trực tiếp công địa, công dân

Chế độ sở hữu đất đai theo chế độ ritsuryo (律令, luật lệnh) là học tập theo

mô hình nhà Đuờng, được thành lập vào năm Taiho (大宝, Đại Bảo) thứ 2 (702)

với Taiho ritsuryo (大宝律令, Đại Bảo luật lệnh) Chế độ đất đai này lấy chế độ

kochikomin (公地公民, công địa công dân) làm nguyên tắc, lấy chế độ ban điền

làm trung tâm, nghĩa là tất cả đất đai trong toàn quốc đều thuộc quyền sở hữu của Thiên Hoàng và triều đình áp dụng chế độ ban điền để phân chia đất đai cho mọi người

Học tập chế độ ban điền của nhà Đường, nhà nước Yamato đã thi hành chế

độ Khẩu phần điền (口分田, kubunden) Nam giới lương dân từ 6 tuổi trở lên được cấp 2 tan (đoạn) đất, nữ giới được cấp diện tích bằng 2/3 nam giới, tiện dân (奴婢,

nuhi, nô tỳ) cũng được cấp đất nhưng chỉ bằng 1/3 lương dân4 Khẩu phần điền này cứ 6 năm chia lại một lần Trường hợp người được phân ruộng chết thì người thừa kế được quyền canh tác đến thời hạn phân chia lại Người được chia ruộng có nghĩa vụ nộp tô, dung, điệu và lao dịch cho nhà nước Ruộng được phân không được mua bán, biếu tặng

Cũng theo chế độ này, đất đai tuỳ theo việc có phải nộp thuế hay không mà được chia làm 2 loại: đất không phải nộp tô (不輸租田, bất thâu tô điền), đất phải nộp tô (輸租田, thâu tô điền) Ngoài ra, dựa vào tình trạng ruộng đất, loại điền chủ,

Trang 22

mục đích sử dụng đất, đất được chia thành nhiều loại khác nhau Trên cơ sở đó, nhà nước thi hành các chính sách khác nhau về quyền sử dụng đất và nghĩa vụ nộp thuế

Đất đai có thể được phân chia thành 4 loại chính là núi rừng hoang dã, đất và ruộng hoang, ruộng (chủ yếu là ruộng lúa nước), nhà ở và vườn tược Ngoài núi rừng hoang dã, đất và ruộng hoang, ruộng đất được chia làm một số loại sau:

Ruộng thuộc quyền sở hữu của Nhà nước gọi là kanden (官田, quan điền)

Đối với loại ruộng này, triều đình trực tiếp quản lý việc canh tác và thu hoạch

Kanden bao gồm miyake, ekiden (駅田, trạm điền)5, kueiden (公営田, công doanh

điền)6

Ngoài những ruộng thuộc quyền sở hữu, canh tác trên của nhà nước, những ruộng đất còn lại được triều đình ban cấp cho những giai cấp có đặc quyền đặc lợi như quý tộc, quan lại, người có công theo các loại sau:

Vị điền (位田, iden, tức ruộng phẩm vị): ban cấp cho quan lại có phẩm vị từ

ngũ vị trở lên Vị điền của Thân vương, Hoàng thất còn gọi là Phẩm điền Người được cấp vị điền được sử dụng mảnh đất đó cho đến hết đời và phải nộp tô cho Nhà nước

Công điền (功田, koden, tức ruộng thưởng công): ban cấp cho những người

có công lao đối với đất nước và không có quy định về diện tích như chức điền, vị điền Công điền được ban cấp theo 4 hạng: hạ, trung, thượng, đại, trong đó đại công điền là được sở hữu vĩnh viễn Công điền có thể được thừa kế, thu tô nhưng

về nguyên tắc là không được mua bán Tuy nhiên, đây là loại ruộng mà người sử dụng có quyền tư hữu mạnh nhất

Chức điền (職田, shokuden, tức ruộng ban theo chức tước): đây là loại ruộng

cấp cho quan lại trong thời gian tại chức Người được ban ruộng phải nộp tô cho

nhà nước trừ chức quan Dainagon (Đại nạp ngôn)7

5 Ruộng cung cấp lương thực cho những người làm tại các trạm dịch của Nhà nước

6 Ruộng cung cấp lương thực cho quan lại, người phục vụ trong cung và nông dân trong thời gian lao dịch cho nhà nước

7 Một chức quan thuộc Dajokan có nhiệm vụ xem xét các vấn đề quốc chính, truyền đạt tuyên chỉ của

Triều đình

Trang 23

Tứ điền (賜田, shiden, tức ruộng ban tặng): đây là loại ruộng được nhà nước

ban tặng cho những người có công đặc biệt trong chiến trận Tuy nhiên, cũng có trường hợp không thể phân biệt với công điền Người được ban cấp phải nộp tô cho triều đình

Tự xã điền (寺社田, jishaden, tức ruộng ban cấp cho chùa, thần xã của

Shinto): đây là tên gọi chung chỉ những mảnh ruộng được nhà nước ban cấp cho

chùa (寺田, jiden, tự điền), thần xã (神田, shinden, thần điền) Đây là những ruộng miễn tô và là ruộng ban cấp vĩnh viễn, được nhà nước bảo hộ Trong jishaden thì

đất ban cấp cho thần xã không được phép mua bán còn đất ban cấp cho chùa chiền thì được phép

Những ruộng đất trên mặc dù được dự tính chỉ chiếm khoảng 15% tổng diện tích ruộng lúa nước đương thời nhưng nó cũng đã trở thành nguyên nhân thúc đẩy

ý thức sở hữu đất đai của quý tộc và quan lại Ban đầu, việc chia ruộng khẩu phần

có tác dụng khuyến khích bách tính, nông dân lao động nhưng dần dần do sức sản xuất nông nghiệp khi đó còn thấp nên người nông dân đã không thể duy trì cuộc sống của bản thân bằng sản lượng thu hoạch từ ruộng khẩu phần, họ phải đi làm thuê, canh tác những mảnh đất thuộc quyền quản lý của Quốc ty hoặc đất được ban cấp của các quan lại, hoàng thất

Về chế độ tô thuế, ta nhận thấy trung tâm của nó là việc trưng thu so (租, tô, thuế đất thu bằng thóc tính theo diện tích đất canh tác), yo (庸, dung, thuế lao dịch cho nhà nước), cho (調, điệu, thuế sản phẩm), zoyo (雑徭, tạp diêu, thuế lao dịch

địa phương) dựa trên chế độ ban điền với nền tảng là chế độ hộ tịch và sổ thuế

Ngoài ra, còn có hei’eki (兵役, binh dịch) và các loại tạp thuế khác.8

Bảng 1.1: MỨC TÔ THUẾ ĐƯỢC QUY ĐỊNH THEO CHẾ ĐỘ LUẬT LỆNH

9 Đương thời trung bình 1 tan ruộng loại tốt (thượng điền) thu hoạch được 72 soku lúa nên mức tô này

chiếm khoảng 3% thu hoạch

Trang 24

Dung

Dịch

- Tuế dịch là 10 ngày Hoặc nộp

dung thay thế là vải gai dài 2 jo 6

shaku (gần 8 mét)

1/2 chính đinh Không phải nộp

Điệu - Vải lụa dài 8 shaku 5 sun

(khoảng 2,55 mét), rộng 2 shaku

2 sun (khoảng 0,66 mét)

- Chỉ 8 ryo (khoảng nửa cân)

- Vải gai dài 2 jo 6 shaku (gần 8

mét), rộng 2 shaku 4 sun (khoảng

0,72 mét)

1/2 chính đinh 1/4 chính đinh

Nguồn: Lập theo Phan Hải Linh, Lịch sử chế độ trang viên Nhật Bản-

thế kỷ VIII - XVI, NXB Thế giới, năm 2003, tr.23-27

1.1.2 Sự suy thoái của chế độ ban điền và sự ra đời của chế độ trang viên

sơ kỳ

Cùng với sự ra đời của nhà nước Luật lệnh, Nhật Bản đã có những bước tiến rất mạnh mẽ về chính trị, xã hội và kinh tế Tuy nhiên, do áp dụng một cách máy móc mô hình của nhà Đường nên dần dần chế độ này đã bộc lộ những hạn chế Mâu thuẫn trong xã hội cũng ngày càng gay gắt Gánh nặng tô thuế của người nông dân ngày càng cao, họ phải sống một cuộc sống nghèo nàn và chính đây là một nguyên nhân đưa đến việc người nông dân bỏ hoang ruộng khẩu phần của mình Mặt khác, vào thời kỳ này ở Nhật Bản có sự gia tăng dân số đưa đến nhu cầu cần có sự phát triển đất đai tương ứng

Vì vậy, năm Yoro (養老, Dưỡng Lão) thứ 6 (722), triều đình đã ban chiếu kêu

gọi khai khẩn một triệu cho 10 (町, đinh) đất canh tác mới Mặt khác, giới quý tộc,

chùa xã đã sử dụng những nông dân bỏ ruộng, nô tỳ để tiến hành khai khẩn đất hoang và các hào tộc, nông dân có thế lực ở địa phương cũng học tập cách thức này

Năm Yoro thứ 7 (723), lệnh Sanze isshin no ho (三世一身法, Tam thế nhất

thân pháp) được ban bố, theo đó triều đình thi hành chính sách nhằm ổn định, mở

10 1 cho = 10 tan, tương đương với 99,17 a 1 triệu cho tương đương khoảng 1 triệu ha

Trang 25

rộng đất canh tác và khuyến nông một cách tích cực bằng việc khuyến khích khai khẩn đất đai Theo lệnh này, bất cứ ai đào được ao đầm mới, khai phá được ruộng lúa nước thì diện tích đất đai mới được khai hoang dù nhỏ dù lớn đều được triều đình công nhận là đất tư hữu 3 đời, còn những ruộng đất mới khai hoang nhưng sử dụng những ao đầm cũ thì được công nhận là đất tư hữu cho đến hết đời người khai khẩn

Đến năm Tenpyo (天平, Thiên Bình) thứ 15 (743), lệnh Konden eisei shizai

ho (墾田永世私財法, Khẩn điền vĩnh thế tư tài pháp) được ban bố, theo đó đất đai

khai hoang được triều đình công nhận là đất tư hữu vĩnh viễn, không bị trưng công nhưng diện tích đất khai hoang được phép tư hữu lại bị hạn chế tương ứng với địa

vị của người khai khẩn Ngay sau khi pháp lệnh này được ban bố, những nông dân

có thế lực, quý tộc, thần xã đã sử dụng sự giàu có và quyền lực của mình để tiến hành khai khẩn đất đai với quy mô lớn, những ruộng khẩn hoang này được gọi là

“trang” Hơn nữa, họ còn khai hoang cả đất rừng núi, thu mua đất khai hoang của

nông dân, tạo lập nên những trang viên sơ kỳ hay còn gọi là Jikon chikei shoen (自

墾地系荘園, Tự khẩn địa hệ trang viên)

Có thể nói lệnh Konden eisei shizai ho là một cuộc cải cách lớn, phá bỏ

những nguyên tắc về sở hữu chung đất đai mà chế độ Luật lệnh đã quy định Khoảng thời gian phân chia lại khẩu phần điền trước đây đã được kéo dài từ 6 năm thành 12 năm (834) và đến năm Engi (延喜, Diên Hỉ) thứ 2 (902), chế độ ban điền

đã bị xoá bỏ trên thực tế

Vào thế kỷ thứ IX, xuất hiện một hiện tượng là có nhiều nông dân do đời sống ngày càng khó khăn nên đã không tiếp tục canh tác ruộng khẩu phần của mình mà di trú vào các trang viên, canh tác trên đất đai thuê từ các trang viên này Ngoài ra, một bộ phận nông dân giàu có cũng trở thành quý tộc hoặc tăng lữ Chính vì lý do đó mà nhiều nông dân đã bỏ ruộng đi làm thuê nên số lượng các

kacho (課丁, khóa đinh)11 vốn là đối tượng của điệu, dung đã giảm sút và kết quả

11 Theo chế độ Luật lệnh, những người phải nộp khoá dịch được gọi là Khoá đinh hay khoá khẩu Những người này bao gồm đàn ông chính đinh, thứ đinh, tiểu đinh, hàng năm phải nộp thuế cho triều đình Còn những người như Hoàng thất, quan lại, tăng lữ, gia nhân, nô tỳ thì không phải nộp thuế và được gọi là bất khoá khẩu.

Trang 26

là nền tài chính của triều đình suy yếu rõ rệt Vì vậy, triều đình đã thiết lập các loại sắc chỉ điền, công doanh điền, quan điền và tiến hành kinh doanh đất đai Sau đó,

cùng với việc ban bố lệnh Engi shoen seiri rei (延喜荘園整理令, Diên Hỉ trang

viên chỉnh lý lệnh), triều đình đã thực thi một số điều khoản nhằm hạn chế mức độ gia tăng của các trang viên và tái thiết lại chế độ ban điền nhưng không thu được hiệu quả Ngược lại, chế độ trang viên vẫn phát triển và được thiết lập trên phạm

vi toàn quốc

1.1.3 Chế độ lãnh chủ địa phương và loại hình trang viên kí tiến

Các trang viên sơ kỳ hay trang viên jikon chikei shoen đã ra đời nhờ quyền

lực của tầng lớp quý tộc, chùa chiền, thần xã trong bối cảnh sự hình thành nhà nước Luật lệnh Tuy nhiên, sau thế kỷ thứ IX do sự thay đổi lớn về địa vị chính trị của quý tộc, nhà chùa, thần xã và quyền lực của nhà nước Luật lệnh suy yếu nên những trang viên này cũng nhanh chóng suy yếu Mặt khác, tại phần lớn những

trang viên sơ kỳ và các công điền do Quốc ty quản lý gọi là kokugaryo (国衙領,

quốc nha lãnh), triều đình cũng như các hào tộc địa phương đã thi hành chính sách

ukesaku (請作, thỉnh tác), nghĩa là cho phép các tato (田堵, điền đổ, như tá điền)

nhậm canh nộp tô trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường là một năm

và tên của họ được đặt cho mảnh ruộng nhậm canh

Khoảng thế kỷ thứ XI, trang viên lãnh chủ cho phép các tato khá giả được chiếm dụng một diện tích canh tác nhất định trong trang viên Những tato này được gọi là myoshu (名主, danh chủ) và ruộng đất của họ được gọi là myoden (名

田, danh điền) Một số myoshu trở thành chủ sở hữu của những mảnh ruộng khá lớn được gọi là shiryo (私領, tư lãnh), nhờ khai hoang, khai phát lại những thửa ruộng cũ đang bị bỏ hoang Các myoshu này lại giao ruộng cho gia nhân (genin, hạ nhân) hay những nông dân nghèo sakunin (作人, tác nhân) canh tác thu tô Dần dần, một bộ phận myoshu đã phát triển thành zaichi ryoshu (在地領主, tại địa lãnh

chủ) thông qua quá trình kết hợp tư lãnh hoá đất đai theo hai con đường từ trên xuống và từ dưới lên

Những zaichi ryoshu này mong muốn xây dựng một trật tự mới thay thế cho

chế độ quan lại, công dân vốn là nền tảng cơ bản của chế độ Luật lệnh trước đây

Trang 27

bằng việc cai trị đất đai, dân chúng dựa trên quyền lực thực tế Tuy nhiên, vì giữa

họ và các nông dân khá giả trong lãnh địa từng có quan hệ ngang bằng nhau, cùng

là công dân trong chế độ Luật lệnh trước đây, nên việc phát sinh xung đột và cạnh tranh gay gắt là điều không thể tránh khỏi Hơn nữa, áp lực trưng thu shiryo thành

koryo từ phía Quốc ty cũng rất mạnh mẽ khiến cho các zaichi ryoshu cảm thấy bất

ổn về cả chính trị lẫn địa vị xã hội12 Để bảo vệ đất đai của mình cũng như có thể

dễ dàng xin triều đình cấp kanshofu (官省符, Quan tỉnh phù)13, họ đã cống tiến đất đai của mình cho các quý tộc có thế lực ở triều đình trung ương và các chùa lớn,

tôn những người này là ryoke (領家, lãnh gia) còn tự mình phong là shokan (荘官,

trang quan), quản lý đất đai và hàng năm cống nạp một khoản tô thuế nhất định

cho ryoke, xác lập quyền cai trị đất đai trên thực tế dưới sự bảo trợ của các ryoke Chính động thái này của zaichi ryoshu đã dẫn đến sự hình thành một loại hình trang viên mới, khác với Jikonchi kei shoen, được gọi là Kishinchi kei shoen (寄進

地系荘園, Ký tiến địa hệ trang viên) hay trang viên uỷ thác Kiểu hình trang viên này đã nhanh chóng phát triển và lan rộng trong toàn quốc từ thế kỷ thứ XI đến thế

kỷ thứ XII

Để bảo vệ quyền lợi của mình trước những xâm hại khác, ryoke lại uỷ thác

các trang viên dưới quyền bảo hộ của mình cho quý tộc ở đẳng cấp cao hơn như

Hoàng thất, quan Nhiếp chính và tôn họ là honke (本家, bản gia), tạo nên một mối quan hệ chồng chéo honke-ryoke-shokan Các honke, ryoke được gọi là shoen

ryoshu (荘園領主, trang viên lãnh chủ) Mối quan hệ giữa nông dân và lãnh chủ

tiến triển trong quá trình hình thành chế độ trang viên như vậy không đơn thuần chỉ là sự phát triển từ mối quan hệ giữa công dân với nhà nước Luật lệnh mà nó còn là mối quan hệ nhiều tầng phức tạp: mối quan hệ giữa trang viên lãnh chủ với

zaichi ryoshu (tức shokan) và nông dân; mối quan hệ giữa trang viên lãnh chủ với shokan, myoshu và sakunin Sự chồng chéo chức sắc, quyền thu lợi tức trên cùng

12 Ví dụ như năm Enku (延久, Diên Cửu) nguyên niên (1069), Thiên Hoàng Gosanjo (御三条, Ngự Tam

Điều) đã ban hành lệnh Enku shoen seiri (Diên Cửu trang viên điều lý) Theo lệnh này, triều đình thiết lập

cơ quan đăng ký trang viên gọi là kiroku shoen kenkeisho (Ký lục trang viên khoán khế sở) và tiến hành

tịch biên những trang viên được thành lập sau năm Kantoku (寛徳, Khoan Đức) thứ 2 (1045) và những trang viên được lập trước đó nhưng không có giấy chứng nhận cho dù đó là trang viên của chùa lớn hay quan Nhiếp chính

13 Là một loại giấy chứng nhận quyền sở hữu đất

Trang 28

một mảnh đất này chính là một đặc trưng tiêu biểu của chế độ trang viên kiểu ủy thác và nó được coi là kết quả của quá trình ủy thác trang viên nhiều lần cho những người có quyền Việc dòng họ Nhiếp chính và Hoàng thất là chủ sở hữu về danh nghĩa đối với những trang viên kiểu hình uỷ thác đã trở thành nền tảng kinh

tế có sức mạnh nâng đỡ cho chế độ chính trị Nhiếp chính

Từ sau thế kỷ thứ XII, chế độ trang viên bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ, chi phối các quan hệ kinh tế xã hội và nó có một vị trí hết sức quan trọng là chế độ đất đai cơ bản của Nhật Bản từ cuối thế kỷ thứ XII với sự ra đời của Mạc phủ Kamakura (鎌倉, Liêm Thương) cho đến tận thế kỷ XIV

1.2 CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT THỜI TRUNG THẾ

1.2.1 Chế độ sở hữu đất đai của các daimyo thời kỳ trung thế và Chiến

Quốc

Vào thời kỳ trung thế, chính quyền của giai cấp vũ sĩ đã được thành lập với Mạc phủ Kamakura (鎌倉, Liêm Thương) (1192-1333) và Mạc phủ Muromachi (室町, Thất Đinh) (1338-1573)

Đây là thời kỳ loạn lạc với sự phát triển của giai cấp vũ sĩ, sự hình thành của tầng lớp thị dân, sự suy sụp của giai cấp quý tộc, nhà chùa và về bình diện chế độ đất đai cũng có những cải cách lớn lao Quyền lực, quyền uy của triều đình vốn là

kết quả của sự thoả hiệp chính trị giữa Triều đình và Mạc phủ sau loạn Jokyu (承

久, Thừa Khứ) năm 1221 và loạn Nam Bắc triều đã suy yếu, mất dần sức mạnh để

có thể ngăn cản quá trình vũ sĩ hóa, sự phát triển của tầng lớp zaichi ryoshu Vì vậy, sự “xâm chiếm” các trang viên của jito (地頭, địa đầu) và shugo daimyo (守

護大名, thủ hộ đại danh) đã đánh dấu thời điểm bắt đầu quá trình sụp đổ của chế

độ trang viên, vốn là nền tảng kinh tế của quý tộc, tăng lữ Mặt khác, do sự phát triển của các kỹ thuật nông nghiệp, năng suất sản xuất được cải thiện, địa vị của

nông dân được nâng cao và kết quả là so (惣, tổng) đã được hình thành với tư cách

là các tổ chức tự trị của dân chúng14

14 Đây là một tổ chức tự trị theo địa vực của nông dân, có vai trò quản lý nguồn nước, đất canh tác chung của làng, tự vệ và cai quản nội bộ

Trang 29

Phần lớn các vũ sĩ thời kỳ Kamakura là con cháu của zaichi ryoshu và là các quan lại địa phương quản lý kokugaryo Trong quá trình vũ sĩ hóa, họ trở thành

geshi (下司, hạ ty), jito của các trang viên, cai quản nhiều khu vực khác nhau, thu nengu (年貢, niên cống) của nông dân để nộp cho Quốc ty, trang viên lãnh chủ và

trưng thu kajishi (加地子, gia địa tử)15 từ nông dân để làm nguồn thu nhập cho chính bản thân mình

Sau khi nhà Taira (平, Bình) diệt vong năm Bunji (文治, Văn Trị) nguyên niên (1185), Mạc phủ Kamakura đã đề nghị và được triều đình cho phép thiết đặt

các chức danh shugo (守護, thủ hộ), jito ở các kuni (国, quốc) Việc thiết đặt chức danh jito đã có ảnh hưởng to lớn đến chế độ trang viên Minamoto Yoritomo (源頼

朝, Nguyên Lại Triều, 1147-1199) thông qua việc bổ nhiệm các gia thần gokenin (御家人, ngự gia nhân) của mình làm jito tại các trang viên và đất đai của Quốc

nha, đã xác lập chính thức quyền lợi của vũ sĩ tại trang viên Điều này đã làm thay đổi căn bản mối quan hệ sở hữu đất đai nhiều tầng ứng với chức sắc trong trang viên trước đây, biến nó thành một vấn đề hết sức phức tạp với mối quan hệ chi

phối hai tầng giữa một bên là jito của Mạc phủ và một bên là azukari dokoro (預所,

dự sở), geshi là người quản lý đất đai của các zaichi ryoshu trên cùng một mảnh

đất

Sự chi phối hai tầng này đã đưa đến nhiều cuộc tranh giành, xung đột Vì vậy,

từ giữa thời kỳ Kamakura, Mạc phủ đã ban hành các chính sách jito uke (地頭請,

Vào thời kỳ Nam Bắc triều, quá trình lãnh chủ hoá của jito đã được thúc đẩy

thêm một bước Năm Bunwa (文和, Văn Hòa) nguyên niên (1352), Mạc phủ

15 Là thuế phụ thu mà nông dân phải nộp cho tầng lớp trung gian ngoài nengu hàng năm phải nộp cho

trang viên lãnh chủ

16 Nội dung chính của chính sách này là lãnh chủ giao ước với jito, giao khoán toàn bộ việc quản lý đất đai

và dân chúng cho jito, ngược lại mỗi năm jito phải nộp cho lãnh chủ một khoản tô nhất định

17 Nội dung chính sách này là Mạc phủ chia đất của trang viên làm 2 phần, giao cho lãnh chủ và jito quản

lý độc lập Tùy theo mỗi trang viên mà tỉ lệ hai phần này khác nhau

Trang 30

Muromachi bắt đầu thực thi chính sách Hanzei (半済法, Bán tế pháp) với nội dung

là buộc các lãnh chủ phải nộp một nửa nengu cho shugo hoặc gokenin để làm quân phí hay hyoromai (兵糧米, binh lương mễ) Chính sách này cũng có vai trò to lớn trong việc xác lập toàn bộ lãnh địa thuộc quyền quản lý của shugo và shugo uke (守護請, thủ hộ thỉnh), qua đó góp phần làm tan rã chế độ trang viên

Những biến loạn của thời kỳ Chiến Quốc ngay sau loạn Onin (応仁, Ứng Nhân) (1467-1477) đã đưa đến sự sụp đổ, diệt vong của Mạc phủ Muromachi và

các shugo daimyo đầy thế lực Một số zaichi ryoshu có nhiều quyền lực dưới quyền shugodai (守護代, thủ hộ đại)18, kokujin (国人, quốc nhân)19 đã đánh đổ và

tự mình thay thế các shugo, chi phối các ryogoku (領国, lãnh quốc) và trở thành

sengoku daimyo (戦国大名, Chiến quốc đại danh) Tuy nhiên, phần lớn sengoku daimyo xuất thân là shugodai và kokujin

Sengoku daimyo được tổ chức theo chế độ yorioya yoriko sei (寄親寄子制,

ký thân ký tử chế), tức chế độ phục tùng kiểu thứ bậc trong một gia tộc Vũ sĩ cấp

thấp được gọi là yoriko, vũ sĩ cấp cao được gọi là yorioya Dưới cơ cấu quyền lực như vậy, dựa trên cơ sở kế thừa, phát triển quyền hạn của chức danh shugo và các loại thuế có từ thời Muromachi như tansen (反銭, phản tiền)20, munabetsusen (棟

別銭, đống biệt tiền) 21

, các sengoku daimyo đã xác lập một chế độ thuế khoá mới

Cơ cấu khóa thuế này được cụ thể hóa và tăng cường bởi chính sách điều tra đất

đai kenchi (検地, kiểm địa) Kenchi có vai trò rất lớn trong việc thi hành chế độ

chigyo (知行制度, tri hành chế độ), tức chế độ gắn kết mối quan hệ quân chủ-bồi

thần dựa trên việc phân phong đất đai, gọi là chigyochi (知行地, tri hành địa), cho gia thần Sau khi điều tra, mỗi mảnh đât sẽ có nengu được tính bằng tô thóc quy thành tiền gọi là kandaka (貫高, quý cao) và dựa trên cở sở đó để cấp chigyochi

18 Là chức quan đại diện cho những shugo nắm quyền cai quản 2 địa phương trở lên Những shugo này cử

gia thần có khả năng nhất làm nguời đại diện của mình đến cai quản một địa phương trong số những địa phương do mình quản lý

19 Là các zaichi ryoshu, gia thần của các shugo daimyo

20 Tansen là một loại thuế tạm thu đối với diện tích đất đai trồng trọt và được thu bằng tiền Ban đầu nó chỉ

được thu mỗi khi có sự việc khẩn cấp ỡ mỗi địa phương hoặc toàn quốc Tuy nhiên, do Mạc phủ Muromachi gặp nhièu khó khăn về tài chính nên nó đã trở thành một nguồn thu quan trọng

21 Munabetsusen cũng là một loại thuế tạm thu, được thu bằng tiền đối với diện tích đất sinh hoạt

Trang 31

Kenchi là tiến hành đo đạc ruộng đất trên thực tế, sản lượng thu hoạch, xác

định người có nghĩa vụ nộp tô (người canh tác); là cơ sở để thực thi chế độ chigyo trong ryogoku của sengoku daimyo Với chính sách kenchi này, sengoku daimyo đã

chi phối trực tiếp nông dân trong lãnh địa của mình và góp phần làm tan rã chế độ trang viên ở nhiều vùng

1.2.2 Cuộc điều tra đất đai Taikokenchi

Từ nửa cuối thế kỷ thứ XVI, cùng với sự mở rộng quyền chi phối các lãnh địa, Oda Nobunaga (織田信長, Chức Điền Tín Trường, 1534-1582) đã tiến hành

trưng thu sashidashi (差出, chỉ xuất), là báo cáo về diện tích đất đai, sản lượng thu

hoạch , của các lãnh chúa

Năm Tensho (Thiên Chính) thứ 10 (1582), Oda Nobunaga bị ám sát Sau khi đánh thắng Akechi Mitsuhide (明智光秀, Minh Trí Quang Tú, 1528-1582) trong trận chiến ở Yamazaki tháng 6 cùng năm, Toyotomi Hideyoshi (豊臣秀吉, Phong Thần Tú Cát, 1537-1598) đã lên nắm quyền và đến năm Tensho thứ 18 (1590) thì hoàn thành việc thống nhất chính trị toàn Nhật Bản

Tuy nhiên, ngay sau khi lên nắm quyền năm 1582, Toyotomi Hideyoshi đã

trưng thu sashidashi của vùng Yamashiro (山城, Sơn Thành), đánh dấu thời điểm bắt đầu cuộc điều tra đất đai rộng lớn trên phạm vi toàn quốc gọi là Taikokenchi

(太閤検地, Thái Cáp kiểm địa) Do diễn ra trong bối cảnh loạn lạc như trên nên

Taikokenchi đã kéo dài hơn 16 năm cho đến khi Hideyoshi qua đời vào năm

Keicho (慶長, Khánh Trường) thứ 3 (1598)

Ngay từ thời cổ đại, trung thế, ở Nhật Bản đã diễn ra nhiều cuộc điều tra đất

đai Trong thời kỳ Chiến quốc, các Sengoku daimyo cũng đã tiến hành đo đạc, điều

tra đất đai của nông dân theo đơn vị làng, ghi lại kết quả trong sổ điều tra đất đai

kenchicho (検地帳, kiểm địa chướng) nhằm mục đích thu nengu, củng cố nguồn

tài chính cho việc cai quản ryogoku Ngoài ra, cũng có những cuộc điều tra đất đai chỉ tiến hành trên giấy tờ như cuộc điều tra đất đai của Oda Nobunaga sashidashi

kenchi (差出検地, chỉ xuất kiểm địa) và cách thức tiến hành kenchi tùy theo mỗi

lãnh chúa cũng có sự khác biệt

Trang 32

Chính vì vậy, Toyotomi Hideyoshi đã điều chỉnh cách thức tiến hành kenchi, đưa ra kenchi jomoku (検地条目, kiểm địa điều mục) để điều tra đất đai theo quy chuẩn thống nhất trên toàn quốc Đơn vị đo diện tích đất đai được quy định là cho (町, đính), tan (段, đoạn), se (畝, mẫu), bu (歩, bộ)22 Cuộc điều tra đất đai này không chỉ kiểm tra đất mới khai hoang, đất trốn thuế mà nó còn xác định diện tích,

vị trí đất canh tác của từng hộ theo từng làng, phân loại ruộng, sản lượng thu hoạch

của 1 tan là kokumori (石盛, thạch thịnh), đồng thời định lại mức nengu của từng diện tích đất đai bằng đơn vị koku (石, thạch)23 gọi là kokudaka (石高, thạch cao) Hơn nữa, để xác định đối tượng nộp nengu, Hideyoshi cũng cho lập kenchicho, ghi

rõ diện tích đất và tên người canh tác với nguyên tắc itchi issakunin (一地一作人,

nhất địa nhất tác nhân) tức là mỗi hộ chỉ canh tác và nộp tô trên một mảnh ruộng

Về nguyên tắc, mỗi hộ có nghĩa vụ nộp nengu theo kokudaka của bản thân mình nhưng trên thực tế, nengu không được thu theo từng cá nhân mà được thu theo

kokudaka của làng Chế độ thu thuế này gọi là mura’uke sei (村請制, thôn thỉnh

chế)

Để thống nhất thiên hạ bằng vũ lực, có thể nói chính sách Taikokenchi là một

giải pháp cần thiết của Hideyoshi nhằm nuôi dưỡng các gia thần mạnh, duy trì nguồn lương thực nuôi quân khổng lồ, đàn áp sự nổi dậy phản kháng của nông dân

Taikokenchi cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chế độ trang viên với việc loại bỏ

cấp quản lý trung gian, bắt đầu từ việc xác lập nguyên tắc itchi issakunin Năm Tensho thứ 16 (1588), Hideyoshi ban bố lệnh katanagari rei (刀狩令, đao thú

lệnh), tịch thu và cấm nông dân tàng trữ vũ khí nhằm ngăn chặn những cuộc nổi

dậy của nông dân có thế lực Tiếp đó, năm Tensho thứ 19 (1591), lệnh mibuntosei

rei (身分統制令, thân phận thống chế lệnh) được ban hành, chế độ thân phận được

thiết lập, phân cách rõ ràng nông dân, binh sĩ và dân tự do

Hai lệnh này cùng với Taikokenchi không những trói buộc người nông dân

vào đất đai, cưỡng chế họ phải chuyên tâm vào việc canh tác và nộp tô mà về cơ bản còn tách rời đẳng cấp võ sĩ ra khỏi ruộng đất và mặc nhiên không còn quyền quản lý trực tiếp đối với đất đai, dân chúng Họ trở thành những chiến binh, viên

22 6 尺 3 寸 (191 cm) được tính là 1 bu, 30 bu là 1 se, 10 se bằng 1 tan, 10 tan bằng 1 cho

23 1 koku bằng khoảng 5 đấu, 120kg

Trang 33

chức hành chính chuyên nghiệp và nhận bổng lộc từ lãnh chúa hay các võ sĩ lớp trên

Tóm lại, chính sách Taikokenchi trên đây cùng một loạt các chính sách khác

do Toyotomi Hideyoshi thực hiện từ nửa cuối thế kỷ thứ XVI đã đặt dấu chấm hết cho chế độ trang viên- đặc trưng cơ bản của chế độ đất đai thời kỳ trung thế

1.3 CHẾ ĐỘ ĐẤT ĐAI THỜI CẬN THẾ

Sau khi chiến thắng ở trận Sekigahara (関ヶ原, Quan Nguyên) năm Keicho (Khánh Trường) thứ 5 (1600), Tokugawa Ieyasu (徳川家康, Đức Xuyên Gia Khang, 1542-1616) đã tạo dựng nên chính quyền Mạc phủ Tokugawa cai trị Nhật Bản suốt hơn 260 năm Tuy nhiên, nếu xem xét từ chế độ đất đai thì trong thời gian đầu, về cơ bản Mạc phủ Tokugawa vẫn kế thừa chế độ quản lý nông dân về

đất đai dựa trên chính sách Taikokenchi, xác lập cơ cấu nhà nước cai trị nhân dân

và quản lý ruộng đất theo thể chế Bakuhan (幕藩, Mạc phiên)

Cơ cấu kinh tế mà trung tâm là chế độ đất đai của thể chế Mạc phủ bắt đầu hình thành từ đời tướng quân thứ hai là Tokugawa Hidetada (徳川秀忠, Đức Xuyên Tú Trung, 1579-1632, tại vị từ 1605-1623) và tương đối hoàn chỉnh vào đời tướng quân thứ ba Tokugawa Iemitsu ( 徳 川 家 光 , Đức Xuyên Gia Quang, 1604-1651, tại vị từ 1623-1651) Về phân bố đất đai, chúng ta có thể nhận thấy

diện tích đất đai nằm dưới quyền cai quản trực tiếp của Mạc phủ gọi là tenryo (天

領, thiên lãnh) là 4 triệu koku và nếu bao gồm cả phần 3 triệu koku của các

hatamoto (旗本, kỳ bản) là gia thần đương thời thì con số đó lên tới 7 triệu koku,

chiếm khoảng 1/4 diện tích đất đai trên toàn quốc (khoảng 30 triệu koku), nhiều hơn đất đai mà Hideyoshi quản lý 2 triệu koku

Biểu đồ 1.1: CƠ CẤU DIỆN TÍCH ĐẤT ĐAI THỜI KỲ TOKUGAWA (Đơn vị: triệu koku)

Trang 34

§Êt së h÷u cña daimyo

§Êt cña chïa, thÇn x·

§Êt cÊp phong cho hatamoto

§Êt së h÷u cña Shogun

§Êt së h÷u cña Hoµng thÊt, C

«ng gia

1.3.1 Cuộc điều tra đất đai của Mạc phủ Tokugawa

Sau khi thống nhất đất nước, vào năm Keicho (慶長, Khánh Trường) thứ 9

(1604), Tokugawa Ieyasu đã bắt đầu tiến hành điều tra đất đai ở những tenryo như

Musashi (武蔵, Vũ Tàng), Sagami (相模, Tương Mô), Mikawa (三河, Tam Hà), Omi ( 近 江 , Cận Giang) Sau đó, suốt thời Kan’ei ( 寛 永 , Khoan Vĩnh) (1624-1643) với tình hình nội chính ổn định, Mạc phủ Tokugawa có nhiều nỗ lực trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp Mặt khác cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật nông nghiệp như sử dụng phân bón, phổ biến tri thức nông nghiệp, cải tiến nông

cụ, nền tảng kinh tế của chế độ Mạc phủ được củng cố Tuy nhiên, nạn đói Kan’ei kéo dài suốt hai năm 1640-1641 đã giáng một đòn mạnh vào tầng lớp tiểu nông vừa mới ổn định

Để đối ứng với tình trạng này, vào năm Keian (慶安, Khánh An) thứ 2 (1649),

lệnh Keian kenchi jorei (Khánh An kiểm địa điều lệ) gồm 27 điều đã được ban bố

nhằm mục đích bảo hộ kinh tế tiểu nông ở một mức độ nhất định và xác lập

phương châm thu thuế hiện vật Vì vậy, sau khi Keian kenchi jorei được thực thi,

nền kinh tế tiểu nông đã có những bước tiến triển Ngược lại, chính quyền Edo có

thể tăng thêm nguồn thu từ nengu mà không gây ảnh hưởng đến khả năng duy trì

tái sản xuất nông nghiệp của tầng lớp tiểu nông

Trong khoảng thời gian mười năm đầu thời Kanbun (寛文, Khoan Văn, từ 1661-1673), Mạc phủ Tokugawa đã tiến hành tổng điều tra đất đai vùng Kanto (関

東, Quan Đông) và từ năm Enpo (延保, Diên Bảo) thứ 5 đến thứ 7 (1677-1679) là

vùng Kinai Tổng kokudaka quyết định trong hai cuộc điều tra này đã trở thành căn

cứ cho việc thu nengu sau thời kỳ Genroku (元禄, Nguyên Lục) sau đó Số thuế

Trang 35

thu theo từng làng quy định trong cuộc điều tra này được duy trì cho đến tận đầu thời kỳ Minh Trị

Cũng trong cuộc kiểm địa này, Mạc phủ Tokugawa đã bãi bỏ các chức quan

đảm nhậm nhiệm vụ điều tra đất đai trước đây và sử dụng các daimyo thân cận

không có quan hệ lợi ích trực tiếp đến đất đai của Mạc phủ ở ngay tại địa phương Phương thức này đã được Mạc phủ sử dụng lại trong các cuộc điều tra về sau

1.3.2 Công cuộc khai khẩn đất canh tác mới

Khoảng thời gian từ thời Keian đến thời Kanbun được coi là thời kỳ hưng

thịnh của sự nghiệp khai khẩn những mảnh đất mới shinden (新田, tân điền) với

kết quả là diện tích đất trồng trọt tăng lên gấp 3 lần so với trước Trên thực tế, từ thế kỷ XVI, bằng kỹ thuật của người dân sinh sống ở những vùng đất thấp, một võ tướng thời Chiến Quốc là Takeda Shingen (武田信玄, Vũ Điền Tín Huyền, 1521-1573) và sau đó là Kato Kiyomasa (加藤清正, Gia Đằng Thanh Chính, 1562-1611) đã tiến hành khai phá những vùng đất ven sông

Việc khai khẩn shinden ban đầu chủ yếu là bằng phương pháp dẫn nước từ

sông suối vào những vùng đất hoang khô hạn hay tháo nước ra khỏi những vùng đất trũng, đất đầm hồ, đất ven biển, cải tạo chúng thành những vùng đất có thể canh tác Ở những nơi thiếu nước tưới thì xây dựng các hồ chứa nước theo kiểu

hon denpata chushin gata (本田畑中心型, bản điền rẫy trung tâm hình), nghĩa là

kiểu hình ruộng nằm ở trung tâm, xung quanh là hệ thống kênh dẫn nước

Tuy nhiên, việc khai phá shinden như trên chỉ diễn ra chủ yếu vào đầu thế kỷ

thứ XVII Đến cuối thế kỷ XVII, việc khai phá chủ yếu diễn ra dưới hình thức cải tạo hay khai phá lại những vùng đất bị bỏ hoang hoặc khô hạn Đến đời tướng quân thứ năm là Tokugawa Tsunayoshi (徳川綱吉, Đức Xuyên Cương Cát, 1646-1709, tại vị từ 1680-1709), tình hình tài chính của Mạc phủ gặp nhiều khó

khăn do nguồn thu từ nengu suy giảm Đến đời tướng quân thứ tám là Tokugawa

Yoshimune (徳川吉宗, Đức Xuyên Cát Tôn, 1684-1751, tại vị từ 1716-1745), nền tài chính của Mạc phủ đã trở nên khánh kiệt

Trang 36

Để giải quyết những khó khăn đó, năm Kyoho (享保, Hưởng Bảo) thứ 7 (1722), Mạc phủ Tokugawa đã đưa ra những chính sách mạnh mẽ để tăng nguồn

thu từ nengu và khai phá đất đai Theo đó, shinden được chia làm 5 loại là (1)

shinden do thổ hào khai phá, (2) shinden do làng khai phá, (3) shinden do thị dân

khai phát, (4) shinden do quan lại khai phát, (5) shinden do Mạc phủ khai phá

Theo những quy định kenchi đối với shinden được ban hành năm Kyoho (享

保, Hưởng Bảo) thứ 11 (1726) thì shinden không cần phải tiến hành kenchi theo

đúng quy định nhưng ngược lại, Mạc phủ lại mong muốn thu được một nguồn thuế lớn từ những mảnh đất này Tuy nhiên, trong thời kỳ cải cách Kansei (寛政, Khoan Chính) (1787-1793) dưới thời tướng quân thứ mười một là Tokugawa Ienari (徳川

家斉, Đức Xuyên Gia Tề, 1773-1841, tại vị từ 1787-1837) và cải cách Tenpo (天

保, Thiên Bảo) từ 1841 đến 1843 dưới thời tướng quân đời thứ mười hai là Tokugawa Ieyoshi (徳川家慶, Đức Xuyên Gia Khánh, 1793-1853, tại vị từ 1837-1853), những mảnh đất mới khai phá đã bị điều tra hết sức ngặt nghèo, ngoài

ra còn tiến hành điều tra cả những vùng đất tranh chấp giữa các làng

1.3.3 Chế độ kokudaka chigyo và nengu

Cuộc điều tra đất đai Taikokenchi đã điều chỉnh mối quan hệ sở hữu đất đai nhiều tầng phức tạp trước đó dựa trên cơ sở xác định rõ kokudaka theo sản lượng thu hoạch trung bình trên từng tan Đồng thời nó cũng xác lập chế độ itchi

issakunin với nội dung cơ bản là đăng lục honbyakussho (本百性, bản bách tính) 24

Đây chính là tầng lớp canh tác trên thực tế và được ghi vào kenchicho, là người nộp nengu hàng năm Dựa trên cơ sở đó Mạc phủ giao cho các daimyo nhiệm vụ thu thuế và thực hiện nghĩa vụ gun’eki (軍役, quân dịch) tương ứng với số

kokudaka nhằm có thể động viên được một quân đội đông đảo khi có chiến tranh

Cách thức thống trị nông dân này đã được Mạc phủ Tokugawa kế thừa và

hoàn thiện với thể chế Bakuhan Theo đó, các han phụ thuộc Mạc phủ theo bộ luật

Buke shohatto (武家諸法度, Vũ gia chư pháp độ) được ban hành năm 1615 dưới

thời Tướng quân Tokugawa Hidetada và Mạc phủ phân phong chigyochi cho

24 Vào thời Edo, honbyakusho là nông dân có ruộng riêng, tự mình canh tác Có nghĩa vụ nộp nengu, cũng

như thực hiện một số loại phu dịch khác cho triều đình Kyoto và Mạc phủ Edo

Trang 37

daimyo Các daimyo lại cắt một phần đất của mình phong cấp cho gia thần của

mình, gọi là chiho chigyochi (地方知行地, địa phương tri hành địa) Nhưng từ giữa thế kỷ XVII, nhiều daimyo nắm giữ toàn bộ đất đai và đối với các gia thần thì chỉ trả lương từ nengu theo chế độ bổng lộc, loại bỏ sự chi phối trực tiếp đất đai và dân cư của gia thần, quyền lực tập trung tất cả trong tay daimyo

Mặt khác, cùng với việc chi phối toàn bộ tenryo, Mạc phủ cũng phân phong đất đai cho các hatamoto và xác lập thể chế cai trị mạnh mẽ, nắm giữ hơn 1/4 đất đai trong toàn quốc Như vậy, Mạc phủ là daimyo lớn nhất trong các daimyo, có khả năng thống trị trên toàn quốc Quyền lực của Mạc phủ và daimyo không chỉ là

quyền trưng thu tô thuế mà còn có thể thi hành công quyền như hành chính, lập pháp, tư pháp

Nengu là nguồn thu chính của Mạc phủ và các han, được thu chủ yếu từ đất

canh tác và Mạc phủ tiến hành kenchi chủ yếu là nhằm mục đích xác định nguồn thu này Trong nengu có hai loại là honto mononari (本途物成, bản đồ vật thành) hay còn gọi là honnengu (本年貢, bản niên cống) và ko mononari (小物成, tiểu vật thành) hay konengu (小年貢, tiểu niên cống) Honto mononari là nengu của những mảnh đất phải nộp thuế cao và cũng được chia làm 2 loại là nengu đối với ruộng và nengu đối với ruộng nương Nengu của ruộng chiếm khoảng 40 đến 50%

của tổng sản lượng của làng, nghĩa là theo tỉ lệ 4 phần công 6 phần dân hoặc 5

công 5 dân Còn nengu của nương thì được tính bằng gạo nhưng trên thực tế là nộp bằng tiền Ngoài ra còn có một số loại thuế phụ thu khác như kanmai (欠米,

khuyết mễ)25, irimai (入米, nhập mễ)26, kuchimai (口米, khẩu mễ)27 Ko

mononari tên gọi chung của một số loại tạp thuế như ukiyaku (浮役, phù dịch)28,

menkyozei (免許税, miễn hứa thuế)29

Không chỉ có nghĩa vụ nộp nengu, người nông dân còn có nghĩa vụ thực hiện khoá dịch cho nhà nước, bao gồm thuế phụ thu takagakarimono (高掛物, cao quải

25 Là một loại thuế phụ thu nhằm bổ sung cho số gạo bị hỏng và số lương thực tiêu tốn trong quá trình vận chuyển gạo thuế

26 Là một loại thuế phụ thu đánh vào lượng gạo thu nhập

27 Là một loại thuế phụ thu nhằm bổ sung cho số gạo bị hỏng hoặc mất mát khi nộp thuế

28 Là một loại tạp thuế nộp theo năm hoặc vào thời gian bất kỳ

29 Là loại thuế nộp khi muốn được miễn việc thực hiện nghĩa vụ phu dịch cho nhà nước

Trang 38

vật)30, kuniyaku (国役, quốc dịch)31 theo từng thời điểm và sukegoyaku (助郷役,

trợ hương dịch) cung cấp người và ngựa cho các trạm dịch Những thuế phụ thu và

khoá dịch này nếu so với nengu hàng năm thì không lớn lắm nhưng đối với nông

dân thì việc nộp tiền và cung ứng người và ngựa là một gánh nặng rất lớn

Cơ chế cai trị nông dân dựa trên Taikokenchi đã có vai trò lớn trong việc quy

định quyền hạn đối với ruộng đất, xây dựng chế độ ruộng đất và là chính sách ngăn chặn nông dân ly rời ruộng đất để nhằm mục đích chính là duy trì nguồn thu

từ nengu Đặc biệt, lệnh cấm mua bán đất đai denpata eitai baibai kinshi rei (田畑

永代売買禁止令, Điền vườn vĩnh đại mãi mại cấm chỉ lệnh) năm 1643 và lệnh

hạn chế phân chia đất đai bunchiseigen rei (分地制限令, phân địa chế hạn lệnh)

năm 1673 đã cho thấy chính sách cơ bản của Mạc phủ đối với nông nghiệp Đó là cai trị nông dân hà khắc bằng việc hạn chế những quyền lợi của họ đối với đất đai

Hơn nữa, với hai văn bản dominshioki oboe (土民仕置覚 thổ dân sĩ trị giác) ban hành năm Kan’ei thứ 20 (1643) và Keian ofuregaki (慶安御触書, Khánh An ngự

xúc thư) năm Keian thứ 2 (1649), Mạc phủ đã can thiệp sâu vào đời sống nông dân, trói chặt người nông dân vào ruộng đất, không ban cho họ bất cứ quyền hạn nào

liên quan đến xử lý đất đai Trong hai văn bản trên, Keian ofuregaki là một văn

bản điển hình thể hiện sự can thiệp trực tiếp của Mạc phủ vào đời sống nông dân, ngăn chặn cả những việc như khuyến khích sản xuất, tiết kiệm, thương nghiệp

Ngoài ra, Mạc phủ còn thiết lập chế độ gonin gumi (五人組, ngũ nhân tổ)32 để đạt được mục đích trên thông qua hình thức nông dân giám sát lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau, liên đới trách nhiệm nộp thuế

1.4 TIỂU KẾT

Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa về chế độ ruộng đất nhưng theo chúng tôi, định nghĩa sau đây là dễ hiểu hơn cả

30 Là tên gọi chung của thuế phụ thu được thu tương ứng với số kokudaka của từng làng

31 Là một hình thức phu dịch hoặc đóng góp tiền cho nhà nước để cải tạo sông ngòi

32 Là một hình thức tổ chức đa chức năng do Mạc phụ tạo dựng Mỗi một gonin gumi gồm 5 hộ ở lần kề

nhau, cùng liên đới chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ phu dịch cho làng, triều đình, nộp thuế , cùng

chịu trách nhiệm khi có người trong nhóm vi phạm luật pháp Ngoài ra, các thành viên của gonin gumi còn

có trách nhiệm giúp đỡ nhau khi có thiên tai, trộm cắp và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ hôn nhân, thừa kế, cùng nhau đề xuất ý kiến

Trang 39

“Chế độ ruộng đất là tổng thể những mối quan hệ xã hội xung quanh đất đai,

trong đó chủ yếu là quan hệ sở hữu, sử dụng đối với đất đai Quan hệ sở hữu này quy định quan hệ chi phối, cưỡng đoạt kinh tế” [34, 14]

Từ định nghĩa trên đây, chúng ta có thể nhận thấy rằng, chế độ ruộng đất của Nhật Bản trước thời kỳ Minh Trị hết sức phức tạp và tiêu biểu là chế độ trang viên Trong chế độ trang viên có sự tồn tại đồng hành nhiều quan hệ sở hữu đất đai đa tầng đa lớp, đan xen, quy định lẫn nhau, tương ứng với nó là cơ chế quản lý nhiều cấp Đặc biệt, những quan hệ sở hữu này lại được chế ước bởi chế độ thân phận, chế độ tôn chủ-bồi thần Sở dĩ chế độ trang viên tồn tại được lâu dài như vậy là trong suốt một thời gian dài từ cuối thế kỷ thứ IX đến cuối thế kỷ XVI, bộ máy chính quyền trung ương ở Nhật Bản lúc yếu lúc mạnh, không đủ khả năng chi phối ruộng đất và nông dân liên tục Đây là điều kiện thuận lợi cho các thế lực địa phương phát triển, vươn lên cùng triều đình chia sẻ quyền sở hữu ruộng đất

Đến cuối thế kỷ XVI, khi xu thế thống nhất đất nước, thiết lập chính quyền trung ương tập quyền ngày càng mạnh mẽ thì chế độ trang viên không còn phù hợp nữa Do đó, vào thời gian này, Hideyoshi Toyotomi và sau đó là Mạc phủ

Tokugawa đã thi hành chính sách Taikokenchi nhằm đơn giản hoá cơ cấu quản lý

và giản lược mối quan hệ sở hữu nhiều tầng của chế độ trang viên Mặc dù chính sách này đã góp phần chấm dứt sự tồn tại của chế độ trang viên nhưng theo chúng tôi, nó vẫn chưa thể giải quyết được tính cát cứ địa phương- một đặc trưng khác của chế độ ruộng đất của Nhật Bản- vốn tồn tại dai dẳng từ trước đó

C Mác đã từng nhận định về chế độ ruộng đất của Nhật Bản, trong đó theo

tôi là có hàm ý nhắc đến tính cát cứ địa phương: “ Nhật Bản (với quyền sở hữu

đất đai của nó tổ chức thuần tuý theo kiểu phong kiến và nền kinh tế tiểu nông của nó), về nhiều phương diện đã cho chúng ta một hình ảnh của châu Âu thời Trung

Cổ” [6, 5] Tuy nhiên, để hiểu và lý giải nhận định trên đây của C Mác là chính xác đến mức độ nào là một công việc khó khăn, đòi hỏi phải có sự khảo cứu, “mổ xẻ” chế độ ruộng đất Nhật Bản nhiều chiều, trong tổng thế các mối quan hệ sở hữu, trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu với chế độ ruộng đất của các nước phương Tây, Trung Quốc và Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác

Trang 40

CHƯƠNG 2

BỐI CẢNH KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA NHẬT BẢN TRƯỚC CẢI CÁCH

ĐỊA TÔ

2.1 QUÁ TRÌNH MỞ CỬA CỦA NHẬT BẢN

Sau khi tiến hành cuộc cách mạng tư sản vào nửa cuối thế kỷ XVII, nước Anh đã bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp mà trung tâm là ngành công nghiệp dệt từ nửa sau thế kỷ XVIII Nhờ máy hơi nước, sức sản xuất công nghiệp đã tăng cao Những chuyển biến về kinh tế, chính trị đó đã ảnh hưởng khắp châu Âu và tác động đến tận nước Mỹ Trong bối cảnh sức sản xuất được nâng cao và sức mạnh quân sự, các cường quốc châu Âu mà tiêu biểu là Anh đã tiến sang châu Á nhằm mục đích tìm kiếm thị trường và nguồn nguyên liệu, biến các nước châu Á thành thị trường thế giới của chủ nghĩa tư bản Trong quá trình này, nhiều nước đã trở thành thuộc địa hoặc nước phụ thuộc về chính trị và kinh tế Áp lực này cũng đã đến tận Nhật Bản Tàu của Anh, Nga và Mỹ đã đến Nhật Bản yêu cầu thông thương

Những thông tin về cuộc Chiến tranh thuốc phiện lần thứ I (1840-1842) đã được các tàu của Hà Lan và thuyền buôn Trung Hoa truyền tới Nhật Bản Tin tức

đó đã tạo nên một sự chấn động lớn đến Mạc phủ Edo Năm 1842, sau khi tàu Hà Lan thông báo rằng sau Chiến tranh thuốc phiện, Anh sẽ cử tàu chiến đến Nhật

Bản yêu cầu thông thương, chính quyền Edo đã bãi bỏ lệnh Ikokusen uchiharai rei

(異国船打払令, Dị quốc thuyền đả phát lệnh, tức Lệnh đuổi đánh tàu thuyền ngoại quốc) được ban hành từ năm Bunsei (文政, Văn Chính) thứ 8 (1825) và ban

hành lệnh Shinsui kyu’yo rei (薪水給与令, Tân thủy cấp dự lệnh, tức Lệnh cung

cấp than củi, nước) quy định việc cung cấp thực phẩm, nước ngọt, than cho tàu nước ngoài đến Nhật Bản Nhằm mục đích ngăn chặn nguy cơ xảy ra chiến tranh với nước ngoài và để tăng cường phòng vệ vịnh Edo (江戸, Giang Hộ), Mạc phủ

Tokugawa cũng ra lệnh cho hai han Oshi (忍, Nhẫn) và Kawagoe (川越, Xuyên Việt) ở trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu; ban hành Jochi rei (上知令, Thượng tri

lệnh, tức Lệnh kiểm soát tối cao) nhằm tăng cường kiểm soát hai vùng Osaka và Edo Hơn nữa, chính quyền Edo đã cho xây dựng cầu cảng cho tàu chiến của mình

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh, (1971) Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, NXB Lửa thiêng, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn
Nhà XB: NXB Lửa thiêng
2. Nguyễn Kiến Giang, (1959) Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước Cách mạng tháng Tám, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước Cách mạng tháng Tám
Tác giả: Nguyễn Kiến Giang
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1959
3. Nguyễn Văn Kim, (2000) Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa- Nguyên nhân và hệ quả, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa- Nguyên nhân và hệ quả
Nhà XB: NXB Thế giới
4. Nguyễn Văn Kim, (2003) Nhật Bản với Châu Á- Những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế-xã hội, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản với Châu Á- Những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế-xã hội
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
5. Nguyễn Kim Lai, (2001) Cải cách địa tô thời kỳ Minh Trị và một số ảnh hưởng của nó, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản & Đông Bắc Á số 5/2001, Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách địa tô thời kỳ Minh Trị và một số ảnh hưởng của nó
6. Phan Hải Linh, (2003) Lịch sử chế độ trang viên Nhật Bản - thế kỷ VIII-XVI, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ trang viên Nhật Bản - thế kỷ VIII-XVI
Nhà XB: NXB Thế giới
7. Vũ Huy Phúc, (1979) Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX
Nhà XB: NXB KHXH
8. Trương Hữu Quýnh-Đỗ Bang (Chủ biên), (1997) Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
9. Vĩnh Sính, (1990) Nhật Bản cận đại, Văn hóa tùng thư, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản cận đại
10. Viện sử học, (1992) Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại- tập 1, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại- tập 1
Nhà XB: NXB KHXH
11. Võ Minh Vũ, (2003) Quá trình hình thành sắc lệnh cải cách địa tô, Kỷ yếu Hội thảo Đông Phương học lần II, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.II.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành sắc lệnh cải cách địa tô
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
12. Beasley, W.G. (1972) The Meiji Restoration, Stanford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Meiji Restoration
13. B.Jansen, Marius (1993) The Cambridge History of Japan- Vol V, Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Cambridge History of Japan- Vol V
14. B.Jansen, Marius - Rozman, Gilbert (1988) Japan in Transition from Tokugawa to Meiji, Princeton University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japan in Transition from Tokugawa to Meiji
15. The Center of East Asian Cultural studies, (1972) Meiji Japan through Contemporary Sources, Vol I, II, III, Tokyo.III.Tiếng Nhật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Meiji Japan through Contemporary Sources
Tác giả: The Center of East Asian Cultural studies
Nhà XB: Tokyo
Năm: 1972
19. 安藤良雄編 あ ん どう よし おへ ん、(1990)「近代日本経済史要覧 き ん だ い に ほ ん け い ざ い し よ う ら ん」 、東 京 大 学 出 版 会 とうきょうだいがくしゅっぱんかい、 東 京 とうきょう . Sách, tạp chí
Tiêu đề: 近代日本経済史要覧
Tác giả: 安藤良雄
Nhà XB: 東京大学出版会
Năm: 1990
20. 石井寛治 い し い か ん じ、(1997)「日本経済史 に っ ぽん けい ざい し」 、東 京 大 学 出 版 会 とうきょうだいがくしゅっぱんかい、 東 京 とうきょう . 21. 宇野弘蔵 う の こ う ぞ う、(1957)「地租改正 ち そ か い せ いの 研 究 けんきゅう じょう 上 」 、東 京 大 学 出 版 会 とうきょうだいがくしゅっぱんかい、 東 京 とうきょう . Sách, tạp chí
Tiêu đề: 日本経済史
Tác giả: 石井寛治
Nhà XB: 東京大学出版会
Năm: 1997
26. 奥田春樹 お く だ は る き、(1995)「神田孝平 か ん だ た か ひ らの土地所有 と ち し ょ ゆ う・租税論 そ ぜ い ろ ん 」『明治維新 め い じ い し んの人物 じんぶつ と思想 し そ う 』、吉川弘文館よしかわこうぶんかん、 東 京 とうきょう . Sách, tạp chí
Tiêu đề: 明治維新の人物と思想
Tác giả: 奥田春樹
Nhà XB: 吉川弘文館
Năm: 1995
27. 奥田春樹 お く だ は る き、 (1995) 「 神田孝平 か ん だ た か ひ らの 地租改正提議 ち そ か い せ い て い ぎ」『 京浜歴科研年報第 けいひんれきかけんねんぽうだい9 号 ごう 』、京浜歴史科学研究会けいひんれきしかがくけんきゅうかい. Sách, tạp chí
Tiêu đề: 神田孝平の地租改正提議
Tác giả: 奥田春樹
Nhà XB: 京浜歴史科学研究会
Năm: 1995
28. 奥田春樹 お く だ は る き、(2001)「日本 に ほ ん の近代的土地所有 き ん だ い て き と ち し ょ ゆ う」 、弘文堂 こうぶんどう 、 東 京 とうきょう . 29. おおしまきよし 大 島 清 ・加藤俊彦 か と う と し ひ こ・大 内 力 おおうちつとむ 、 (1966) 「日本資本主義 に ほ ん し ほ ん し ゅ ぎの成立 せいりつ 」 、東 京 大 学 出 版 会 とうきょうだいがくしゅっぱんかい、 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 日本の近代的土地所有
Tác giả: 奥田春樹
Nhà XB: 弘文堂
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: CÁN CÂN  THU  CHI  CỦA  CHÍNH  PHỦ  MINH  TRỊ TỪ  NĂM  1868  ĐẾN NĂM 1871. - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Bảng 2.1 CÁN CÂN THU CHI CỦA CHÍNH PHỦ MINH TRỊ TỪ NĂM 1868 ĐẾN NĂM 1871 (Trang 57)
Bảng  3.1.  BẢNG  TÍNH  MẪU  TRÊN  1  TAN  RUỘNG  LÚA  NƯỚC. - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
ng 3.1. BẢNG TÍNH MẪU TRÊN 1 TAN RUỘNG LÚA NƯỚC (Trang 90)
Bảng 3.2:  THỜI GIAN BẮT ĐẦU THỰC HIỆN CẢI CÁCH ĐỊA TÔ Ở  CÁC TỈNH - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Bảng 3.2 THỜI GIAN BẮT ĐẦU THỰC HIỆN CẢI CÁCH ĐỊA TÔ Ở CÁC TỈNH (Trang 101)
Bảng  4.2:  BẢNG SO SÁNH MỨC THU DỰ KIẾN CỦA CHÍNH PHỦ VÀ  MỨC THU THỰC TẾ NĂM 1875 - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
ng 4.2: BẢNG SO SÁNH MỨC THU DỰ KIẾN CỦA CHÍNH PHỦ VÀ MỨC THU THỰC TẾ NĂM 1875 (Trang 110)
Bảng 4.5:  KẾT QUẢ THỰC THI CẢI CÁCH ĐỊA TÔ CÁC PHỦ TỈNH - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Bảng 4.5 KẾT QUẢ THỰC THI CẢI CÁCH ĐỊA TÔ CÁC PHỦ TỈNH (Trang 116)
Hình 6.1.1. Jinshin chiken của tỉnh Nagasaki, phát hành tháng 10    năm Meiji thứ 5 - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Hình 6.1.1. Jinshin chiken của tỉnh Nagasaki, phát hành tháng 10 năm Meiji thứ 5 (Trang 145)
Hình 6.1.3. Jinshin chiken của tỉnh Yamaguchi, phát hành tháng 11 năm  Meiji thứ 6 - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Hình 6.1.3. Jinshin chiken của tỉnh Yamaguchi, phát hành tháng 11 năm Meiji thứ 6 (Trang 146)
Hình 6.1.2. Gunson chiken của tỉnh Gifu, phát hành tháng 8    năm Meiji thứ 6 - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Hình 6.1.2. Gunson chiken của tỉnh Gifu, phát hành tháng 8 năm Meiji thứ 6 (Trang 146)
Hình 6.1.4. Jinshin chiken tỉnh Hyogo, phát hành năm Meiji thứ 6 - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Hình 6.1.4. Jinshin chiken tỉnh Hyogo, phát hành năm Meiji thứ 6 (Trang 147)
Hình 6.1.5. Mẫu jinshin chiken dành cho đất thuộc sở hữu của Nhà nước ở  phủ Tokyo. - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Hình 6.1.5. Mẫu jinshin chiken dành cho đất thuộc sở hữu của Nhà nước ở phủ Tokyo (Trang 147)
Hình 6.2.1. Kaisei chiken của tỉnh Aichi, phát hành tháng 8 năm Meiji thứ 11 - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Hình 6.2.1. Kaisei chiken của tỉnh Aichi, phát hành tháng 8 năm Meiji thứ 11 (Trang 148)
Hình 6.2.2. Kaisei chiken tỉnh Gifu, phát hành tháng 2 năm Meiji thứ 11 - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Hình 6.2.2. Kaisei chiken tỉnh Gifu, phát hành tháng 2 năm Meiji thứ 11 (Trang 149)
Hình 6.3.1. Chiken đất cư trú của người nước ngoài - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Hình 6.3.1. Chiken đất cư trú của người nước ngoài (Trang 149)
Hình 6.3.2. Chiken đất cư trú của người nước ngoài ở Kobe - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Hình 6.3.2. Chiken đất cư trú của người nước ngoài ở Kobe (Trang 150)
Hình 6.3.3. Chiken đất cư trú của người nước ngoài ở Kobe - Cải cách địa tô ở Nhật Bản thời Minh Trị
Hình 6.3.3. Chiken đất cư trú của người nước ngoài ở Kobe (Trang 150)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w