Nhật Bản luôn là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam trong những năm gần đây với tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm khoảng 1/5 tổng kim ngạch ngoại thương của V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn: TS Trần Quang Minh
HÀ NỘI - 2008
Trang 2LI Một số vấn đề lý luận chung về thương mại quốc tế 6
7.7.7 Các lý thuyêt vê thương mại quác tê 6
L2 Các công cụ chủ yêu của chính sách thương mại quác tê
1.2 Những đặc diêm chủ yêu vê điêu kiện tự nhiên và kỉnh tê - 17
xã hội của Việt Nam và Nhật Bản • • •
1.2.1 Điêu kiện tự nhiên và kinh tê - xã hội của Việt Nam 17 1.2.2 Điêu kiện tự nhiên và kinh tê - xã hội của Nhật Bản 20
1.2.3 Nhận xét chung về lợi thế so sánh phát triển quan hệ 27 thương mại Việt Nam - Nhật Bản
1.3 Các nhân tố chủ yếu thúc đẩy quan hệ thương mại Việt 30
Nam - Nhật Bản
L3.L Xu thê toàn câu hoa và hội nhập kinh tê quác tê 30
7.5.2 Chính sách đối ngoại mở cửa và hội nhập kinh tể quốc tế 32
của Việt Nam
ỉ
1.3.3 Sự điêu chỉnh chính sách kinh tê đôi ngoại hướng về châu 34
Á của Nhật Bản •
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI 43
VIỆT NAM - NHẬT BẢN TỪ NĂM 1990 ĐÈN NĂM 2007
Trang 32.LL Sự tăng trưởng của thương mại hai chiều 43
2.1.3 Sự phát triển của một số mặt hàng xuất nhập khẩu chủ lực 59
2.2 Một số hạn chế bất cập của quan hệ thương mại Việt Nam 79
- Nhật Bản
2.2.1 Sự phát triển của quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật 79
Bản chưa thực sự tương xứng với tiêm năng của môi nước
2.2.2 Cơ cấu hàng hoa xuất nhập khẩu còn nghèo nàn, chậm 84
được cải thiện
2.2.3 Chất lượng hàng hóa xuất khẩu chưa cao 85 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐẨY 92
MẠNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngược dòng lịch sử chúng ta có thể thấy rằng Việt Nam và Nhật Bản vốn có quan hệ thương mại từ hàng trăm năm nay Ngay từ thế kỷ thứ XVI đã
có những thương gia Nhật Bản đến kinh doanh ở Việt Nam Trải qua nhiều biến cố lịch sử, quan hệ giữa hai nước cũng có nhiều thăng trầm nhưng vẫn được duy trì và ngày càng phát triển Và kể từ khi quan hệ ngoại giao chính thức giữa Việt Nam và Nhật Bản được thiết lập vào tháng 9 năm 1973 thì quan hệ thương mại giữa hai nước có điều kiện phát triển mạnh Năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa thị trường trong nước, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo động lực cho quan hệ thương mại song phương phát triển mạnh hơn nữa Đặc biệt, từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay, quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ Nhật Bản luôn là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam trong những năm gần đây với tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm khoảng 1/5 tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam Tuy nhiên, quan hệ ngoại thương giữa hai nước vẫn còn khá nhiều hạn chế bất cập đòi hỏi sự cố gắng chung của cả hai nước
để khắc phục nhằm đáp ứng những đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế khu vực đã và đang diễn ra mạnh mẽ Vậy thì quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản thời gian qua đã phát triển như thế nào? Sự phát triển đó diễn ra nhờ những nhân tố gì? Liệu có thể phát triển mối quan hệ thương mại giữa hai nước trong tương lai hơn nữa hay không? Việt Nam cần phải làm gì để tăng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản? Để tìm lời giải đáp cho những câu hỏi này, việc nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản là hết sức cần thiết và có ý nghĩa về lý luận
Trang 5và thực tiễn Chính vì vậy, tác giả đã chọn chủ đề “Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản (Thời kỳ 1990 – 2007)” làm đề tài luận văn thạc sĩ
- Nguyễn Thế Vinh, Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản,
Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà nội 2006 Nội dung luận văn tập trung vào các giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng thuỷ sản từ Việt nam sang Nhật Bản
- Phạm Thị Phương Nga, Xuất khẩu đồ gỗ nội thất Việt Nam sang Nhật Bản, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà nội 2006 Nội dung luận văn tập trung
vào thực trạng xuất khẩu đồ gỗ nội thất Việt Nam sang Nhật Bản và các giải
pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ nội thất sang thị trường này
- Nguyễn Thị Nhiễu (chủ nhiệm), Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
xuất khẩu nông, thuỷ sản và hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường Nhật Bản,
Viện Nghiên cứu Thương mại, Hà nội 2004 Nội dung đề tài tập trung vào tình hình xuất khẩu nông, thuỷ sản và hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vào thị trường Nhật Bản và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường xuất khẩu những mặt hàng này vào thị trường Nhật Bản
- Nguyễn Thanh Đức, Nhật Bản - Thị trường mở cho xuất khẩu hàng
may mặc của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản & Đông Bắc Á, số 5,
tháng 10/2004 Bài viết tìm hiểu về tình hình xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam sang Nhật Bản và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này sang Nhật Bản
Trang 6- Đoàn Tất Thắng, Xuất khẩu hoa tươi sang Nhật Bản - Một thị trường
có nhiều triển vọng, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 2, tháng 4/2006 Bài
viết khái quát nhu cầu nhập khẩu hoa của Nhật Bản và những quy định về việc nhập khẩu hoa vào Nhật Bản
- Trần Thu Cúc, Thực trạng thị trường nhập khẩu tôm của Nhật Bản và
giải pháp đối với Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản & Đông Bắc Á, số
3, tháng 6/2003 Nội dung đề cập tới thị trường nhập khẩu tôm của Nhật Bản, các giải pháp nhằm tăng cường khả năng xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
- Dương Hồng Nhung - Trần Thu Cúc, Xuất khẩu rau quả của Việt Nam
vào thị trường Nhật Bản, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản & Đông Bắc Á, số 1,
tháng 2/2005 Nội dung bài viết đề cập tới thị trường nhập khẩu rau quả của Nhật Bản và thực trạng xuất khẩu rau quả của Việt Nam vào Nhật Bản, cũng
như một số giải pháp nhằm tăng xuất khẩu mặt hàng này sang Nhật Bản
b Khái quát quan hệ hệ kinh tế, thương mại
- Trần Anh Phương, 25 năm quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản:
Tiến trình phát triển và vấn đề đặt ra, 25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản
1973 - 1998, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà nội 1999 Nội dung bài viết khái quát quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1973 -1998 và tổng kết những hạn chế còn tồn tại trong trao đổi mậu dịch song phương như: quy mô buôn bán còn nhỏ hẹp, cơ cấu hàng hoá trao đổi còn nhiều bất cập…
- Trần Quang Minh, Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản: Thành tựu, vấn đề và giải pháp, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản & Đông Bắc Á, số 5,
tháng 10/2005 Nội dung bài viết đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản, nêu ra một số giải pháp thúc đẩy mối quan hệ thương
mại giữa hai nước
Trang 7- Nguyễn Duy Dũng, Thực trạng và triển vọng quan hệ kinh tế Việt
Nam – Nhật Bản, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 1, tháng 6/1995 Phùng
Thị Vân Kiều: Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản những năm gần đây, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 3, tháng 6/1999 Vũ Văn Hà, Quan hệ kinh
tế Việt Nam - Nhật Bản những năm gần đây, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số
1, tháng 2/2000 Nội dung các bài viết tập trung về quan hệ kinh tế Việt Nam thông qua thương mại, đầu tư, ODA và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh quan hệ kinh tế giữa hai nước
Do vậy, tác giả luận văn muốn tổng hợp và cập nhật các tài liệu có liên quan để nghiên cứu đầy đủ hơn về quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản (thời kỳ 1990 – 2007), tập trung vào một số mặt hàng xuất và nhập khẩu chủ yếu Từ đó, góp phần tạo nên cơ sở tham khảo cho việc hoạch định chính sách thương mại của Việt Nam đối với Nhật Bản thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là phân tích thực trạng, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế của mối quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản (thời kỳ 1990 – 2007) Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ thương mại giữa hai nước
Nhiệm vụ nghiên cứu chính của luận văn là tổng hợp, thống kê số liệu,
so sánh và phân tích nhằm làm rõ thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản trong thời kỳ nói trên
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản (thời kỳ 1990 – 2007)
Trong phạm vi nghiên cứu quan hệ xuất nhập khẩu, luận văn chọn một
số mặt hàng chủ yếu để phân tích Cụ thể là 6 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của
Trang 8Việt Nam sang Nhật Bản và 6 mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Nhật Bản Các mặt hàng chủ yếu này thay đổi theo từng năm
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hệ phương pháp kết hợp logic và lịch sử, khái quát hoá và cụ thể hoá, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh trên cơ sở phân tích và tổng hợp số liệu Ngoài ra còn dựa trên các lý thuyết về thương mại quốc tế và chính sách thương mại
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá các vấn đề về lý luận và thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
- Phân tích quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1990 đến năm 2007, chỉ ra được những thành tựu, những tồn tại và nguyên nhân của chúng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại song phương hơn nữa trong tương lai
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản
Chương 2 Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1990 đến năm 2007
Chương 3 Một số giải pháp chính sách đẩy mạnh quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản
Trang 9CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – NHẬT BẢN
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về thương mại quốc tế
1.1.1 Các lý thuyết về thương mại quốc tế
1.1.1.1 Chủ nghĩa trọng thương
Các nhà kinh tế của chủ nghĩa trọng thương đã coi tiền là tiêu chuẩn căn bản của của cải Theo họ, một quốc gia giàu là phải có nhiều tiền, mỗi nước muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ Những người theo chủ nghĩa trọng thương cho rằng của cải của một nước chỉ có thể tăng lên nhờ phát triển thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương, tức là phát triển buôn bán với nước ngoài Bởi họ quan niệm lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổi không ngang giá và lừa gạt giữa các quốc gia nên trong ngoại thương phải thực hiện xuất siêu, vì chỉ xuất siêu mới đạt được mục đích của các hoạt động kinh tế, mới làm tăng khối lượng tiền tệ của một nước Do đó, họ đã đề nghị chính phủ can thiệp mạnh vào lĩnh vực này nhằm thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu thông qua việc
áp dụng các chính sách và công cụ kinh tế vĩ mô
Các lý luận của chủ nghĩa trọng thương còn đơn giản, chưa giải thích được sự ra đời của thương mại quốc tế song nó đã sớm đánh giá tầm quan trọng của thương mại quốc tế cũng như vai trò của nhà nước trong việc điều tiết hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan, lãi suất đầu tư vốn, v.v…
1.1.1.2 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối
Theo lý thuyết về lợi thế tuyệt đối do Adam Smith phát hiện: “Mỗi quốc gia chỉ nên sản xuất các mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối, tức là sử dụng những lợi thế tuyệt đối đó họ có thể sản xuất ra sản phẩm với chi phí thấp hơn các nước khác” Theo đó, quốc gia nào có đất đai phì nhiêu thì nên tập trung
Trang 10sản xuất trong ngành trồng trọt, nhập khẩu các mặt hàng công nghiệp tại các nước khác Mỗi nước nên sản xuất chuyên môn hóa, dựa vào lợi thế tuyệt đối sẵn có của quốc gia thì sẽ có lợi nhất Khi các nguồn lực của từng nước được
sử dụng hiệu quả nhất thì tổng sản phẩm của hai quốc gia sẽ tăng lên Số sản phẩm tăng thêm này có được là do sự chuyên muôn hóa sản xuất và sẽ được phân bổ giữa hai nước theo tỷ lệ ngoại thương
Ta cùng xét ví dụ về nước Pháp và nước Nhật cùng sản xuất ra gạo và vải
Bảng 1.1 Lợi thế tuyệt đối
Pháp có lợi thế tuyệt đối về sản xuất gạo, vì năng suất lao động sản xuất gạo của Pháp gấp 6 lần nước Nhật nên chi phí để sản xuất 1 kg gạo chỉ bằng 1/6 Nước Pháp sẽ chuyên môn hóa sản xuất gạo Nước Nhật có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải, vì năng suất lao động sản xuất vải của nước Nhật gấp 5/4 lần nước Pháp nên chi phí sản xuất 1 m vải chỉ bằng 4/5 Nước Nhật sẽ chuyên môn hóa về sản xuất vải
Pháp và Nhật cùng tiến hành trao đổi sản phẩm cho nhau, cả hai sẽ đạt được lợi ích thương mại như sau:
+ Nước Pháp bỏ ra 1 giờ công sản xuất được 6 kg gạo Nếu trao đổi trong nước thì đem 6 kg gạo đổi lấy 4 m vải Khi Pháp chuyên môn hóa sản xuất gạo trao đổi với Nhật thì phải 6 kg gạo phải đổi được số mét vải lớn hơn
so với 4 m vải Giả sử tỷ lệ trao đổi giữa hai nước là 1 kg gạo lấy 1 m vải thì 6
kg gạo của Pháp sẽ đổi được 6 m vải của Nhật So với trao đổi trong nước, Pháp sẽ có lợi 2 m vải, hay tiết kiệm được 1/2 giờ công lao động
Trang 11+ Đối với nước Nhật, nếu muốn có 6 kg gạo như nước Pháp thì nước Nhật phải bỏ ra 6 giờ công lao động Với thời gian đó, Nhật chỉ chuyên môn hóa sản xuất vải thì được 30 m vải (6 giờ công x 5 m vải = 30 m vải) Nhật dùng 6 m vải để đổi lấy 6 kg gạo thì sẽ còn dư 24 m vải, hay tiết kiệm được gần 5 giờ công lao động
Vậy là cả hai quốc gia, Pháp và Nhật đều có lợi khi trao đổi thương mại với nhau khi chuyên môn hóa sản xuất Lý thuyết của Adam Smith đã giải thích được nguyên nhân của trao đổi thương mại giữa các quốc gia mà mỗi quốc gia đều có một lợi thế tuyệt đối nào đó Tuy nhiên, lý thuyết trên không giải thích được hiện tượng: trao đổi thương mại vẫn diễn ra giữa một nước có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn với một nước kém lợi thế
1.1.1.3 Lý thuyết về lợi thế so sánh (lợi thế tương đối)
Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo, đã khắc phục được hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Theo lý thuyết về lợi thế
so sánh nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các nước khác trong việc sản xuất tất cả sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tạo ra lợi ích khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế Khi tham gia vào thương mại quốc tế, nước đó sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà việc sản xuất chúng ít bất lợi nhất, tức là chúng có lợi thế tương đối và nhập khẩu các sản phẩm mà việc sản xuất chúng bất lợi nhất, tức là sản phẩm không có lợi thế tương đối Lý thuyết của ông dựa trên 5 giả thiết:
+ Thế giới chỉ có 2 nước và 2 loại sản phẩm
+ Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất có thể di chuyển trong mỗi quốc gia, nhưng không di chuyển giữa các nước
+ Thương mại hoàn toàn tự do giữa hai nước
+ Chi phí sản xuất là cố định, không có chi phí vận chuyển
+ Công nghệ sản xuất tại hai quốc gia là cố định
Trang 12Ta cùng xét ví dụ minh họa lợi thế so sánh của Hàn Quốc và Việt Nam
Bảng 1.2 Lợi thế so sánh
Hàn Quốc có lợi thế tuyệt đối về sản xuất 2 sản phẩm so với Việt Nam Nhưng năng suất lao động sản xuất gạo của Hàn Quốc gấp 6 lần so vớiViệt Nam còn năng suất lao động sản xuất vải chỉ gấp 2 lần Vì vậy, giữa hai loại sản phẩm gạo và vải, Việt Nam có lợi thế so sánh trong sản xuất vải Hàn Quốc có lợi thế so sánh trong sản xuất gạo Hai quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng có lợi thế tương đối rồi tiến hành trao đổi thương mại với nhau
Nếu tỷ lệ trao đổi quốc tế bằng tỷ lệ trao đổi nội địa của mỗi nước thì một trong hai nước sẽ từ chối trao đổi thương mại Bởi vậy, tỷ lệ trao đổi quốc tế phải nằm trong khoảng sau:
1/2 < Tỷ lệ trao đổi quốc tế (gạo/vải) < 6/4 1/2 : Tỷ lệ trao đổi nội địa của Việt Nam
6/4 : Tỷ lệ trao đổi nội địa của Hàn Quốc
Hàn Quốc sẽ chuyên môn hóa sản xuất gạo, rồi dùng gạo để đổi lấy vải của Việt Nam Giả sử tỷ lệ trao đổi là 6 kg gạo đổi lấy 6 m vải, thì Hàn Quốc
sẽ được lợi 2 m vải, tức là tiết kiệm được 1/2 giờ công
Nếu muốn có 6 kg gạo như Hàn Quốc thì Việt Nam phải bỏ ra 6 giờ công lao động Việt Nam sẽ chuyên môn hóa sản xuất vải, rồi dùng vải để đổi lấy gạo từ Hàn Quốc, tức là 6 giờ công x 2 m vải = 12 m vải Việt Nam lấy 6
m vải để đổi lấy 6 kg gạo, dư ra 6 m vải, tiết kiệm được 3 giờ công lao động
Trang 13Nếu tỷ lệ trao đổi càng gần với tỷ lệ trao đổi của Hàn Quốc thì Việt Nam càng
có lợi và ngược lại
Như vậy, nếu tiến hành trao đổi theo tỷ lệ ở khoảng giữa thì cả Việt Nam
và Hàn Quốc đều có lợi Khoảng dao động của tỷ lệ trao đổi quốc tế là:
4 m vải < 6 kg gạo < 12 m vải Khi tỷ lệ trao đổi là 6 kg gạo đổi lấy 6 m vải thì Việt Nam được lợi 6 m vải còn Hàn Quốc được lợi 2 m vải Song khi tỷ lệ trao đổi là 6 kg gạo lấy 8
m vải thì Hàn Quốc được lợi 4 m vải và Việt Nam được lợi 4 m vải Việc thay đổi tỷ lệ trao đổi quốc tế sẽ ảnh hưởng tới nguồn lợi thương mại của mỗi nước tham gia
Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricado, một lý thuyết cơ bản của thương mại quốc tế, khắc phục được hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối Tuy nhiên, ông xem xét giá trị hoặc giá cả của một sản phẩm chỉ dựa trên số lượng lao động tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm đó nên ông chưa giải thích được nguồn gốc phát sinh lợi thế của một nước đối với một sản phẩm, không giải thích triệt để nguyên nhân sâu xa của quá trình thương mại quốc tế Các nhà kinh tế học sau Adam Smith và Ricado như Paul Samuelson…
đã phát triển và hoàn thiện lý thuyết về thương mại quốc tế với cá giả định ngày càng sát với đời sống hiện thực hơn Những phát triền này không được
đề cập đến ở đây (do khuôn khổ của luận văn không cho phép) Song, có thể khẳng định rằng những phát triển đó đều dựa trên cơ sở lý luận về lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối trong thương mại quốc tế của Adam Smith và Ricado
Tóm lại, lý thuyết thương mại quốc tế đã chỉ rõ: “Bất kỳ hai quốc gia nào
tận dụng những lợi thế của mỗi nước đều đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia
và cho xã hội nói chung Và sự phát triển thương mại “hoàn toàn tự do” (theo
cơ chế thị trường, không có sự can thiệp của nhà nước) sẽ đem lại lợi ích tối
Trang 14đa cho xã hội” Tuy nhiên, mỗi quốc gia tùy theo mục tiêu kinh tế, chính trị ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định đều có những chính sách khuyến khích hoặc hạn chế trao đổi mậu dịch đối với một số mặt hàng nào đó Các công cụ chính sách để thực hiện các mục tiêu này là “trợ cấp xuất hoặc nhập khẩu”;
“hạn ngạch – quota”; “thuế quan – tariff”; “hạn chế xuất khẩu tự nguyện – VER”;… Tất cả những biện pháp chính sách này đều bóp méo thương mại tự
do Chính vì vậy mà trong suốt nhiều thập kỷ qua, giữa các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế đã liên tục diễn ra các cuộc đàm phán nhằm dỡ bỏ những rào cản này Sự ra đời của GATT/WTO và hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa các nước và các khu vực là những nỗ lực để giải quyết vấn đề này
Vì vậy, để có thể hiểu rõ hơn bản chất của các cuộc đàm phán cũng như các hiệp định thương mại giữa các nước, cần thiết phải làm rõ một số khái niệm liên quan đến các vấn đề nêu trên Phần tiếp theo sẽ đề cập đến các khái niệm này
1.1.2 Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế
1.1.2.1 Thuế quan
Thuế quan được hiểu là loại thuế chính phủ đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh Trong đó, thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng nhập khẩu, nên người mua trong nước phải trả cho những hàng hóa nhập khẩu một khoản lớn hơn mức mà người xuất khẩu ngoại quốc thu được Thuế xuất khẩu là thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu
Thuế quan, bao gồm thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu đều tác động đến giá cả của hàng hóa Các nước đang phát triển thường sử dụng thuế xuất khẩu như một công cụ để tăng lợi ích quốc gia Nhưng tại nhiều nước phát triển, họ
Trang 15không sử dụng thuế xuất khẩu để tăng nguồn thu ngân sách nên khi nhắc tới thuế quan là đồng nghĩa nói đến thuế nhập khẩu
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO) thuế quan (thuế nhập khẩu) là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước Vì thuế quan được thể hiện rõ ràng qua các con số, nên người ta có thể biết được mức độ bảo hộ dành cho một mặt hàng, một ngành hàng cụ thể nào đó Thuế quan vừa là biện pháp bảo hộ ít bóp méo thương mại nhất vừa là biện pháp mang tính minh bạch hơn cả, phù hợp với nguyên tắc của WTO Thông qua việc đàm phán và lịch trình giảm thuế quan của từng quốc gia, các đối tác thương mại có thể dự đoán được tốc độ, lịch trình cắt giảm thuế quan của quốc gia đó, mức độ bảo hộ và mức độ mở cửa thị trường Do vậy, chính sách ngoại thương của một nước trở nên dễ dự đoán hơn
Đối với quốc gia đánh thuế, thuế quan sẽ tăng thu nhập thuế cho quốc gia sở tại Nhưng mặt khác, thuế quan lại làm giảm hiệu quả khai thác nguồn lực của nền kinh tế thế giới nên làm giảm phúc lợi chung Bởi thuế quan tác động đến hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia, làm thay đổi cán cân thương mại nên thuế quan cũng có ảnh hưởng tiêu cực Nếu thuế quan của một hàng hóa cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa đó, do đó làm giảm lượng hàng hóa được tiêu thụ Mức thuế quan cao cũng sẽ kích thích nạn buôn lậu
Khi chính phủ đánh thuế xuất khẩu, giá hàng hóa ở thị trường nội địa sẽ thấp hơn trên thị trường quốc tế Điều đó có thể ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu tại nước ngoài vì người tiêu dùng tìm kiếm các sản phẩm thay thế, khiến sản lượng trong nước của hàng hóa xuất khẩu giảm Thuế quan xuất khẩu cao cũng không khuyến khích các nhà sản xuất trong nước ứng dụng những phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ để tăng
Trang 16năng suất, nâng cao chất lượng và giảm chi phí Trong trường hợp khả năng thay thế hàng hóa thấp, thuế quan xuất khẩu sẽ không ảnh hưởng nhiều tới khối lượng hàng hóa xuất khẩu mà vẫn mang lại thu nhập cho quốc gia xuất khẩu
Thuế nhập khẩu, ngoài mục đích để tăng thu nhập cho chính phủ còn được sử dụng để thực hiện các mục đích khác nhau Thuế quan nhằm chống lại thủ đoạn bán phá giá thị trường bằng cách tăng giá nhập khẩu hàng hóa bị bán phá giá lên đúng mức giá thực của chúng Thuế quan giúp bảo hộ thị trường nội địa, đặc biệt là các ngành công nghiệp non trẻ chưa đủ sức cạnh tranh Thuế quan còn giúp cải thiện cán cân thương mại của mỗi nước, giảm tổng mức nhập khẩu bằng cách làm cho chúng đắt hơn so với sản phẩm có thể thay thế ở trong nước… Vì thuế quan nhập khẩu sẽ làm tăng giá hàng hóa nên một mặt sẽ khuyến khích các doanh nghiệp nội địa, tăng khả năng sản xuất cho sản phẩm được bảo hộ, mặt khác làm suy giảm khả năng cạnh tranh của
họ Đồng thời, khả năng sản xuất những sản phẩm khác lại bị suy giảm và những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm này bị thiệt thòi Thuế quan đối với một sản phẩm cao sẽ làm hạn chế tiêu dùng sản phẩm đó, và làm tăng hoặc giảm nhu cầu tiêu dùng sản phẩm khác Cũng do chính sách bảo hộ mà giá cả nội địa tăng lên khiến người tiêu dùng bị thiệt thòi Thuế quan nhập khẩu được sử dụng để trả đũa các nước khác vì có biện pháp hạn chế áp đặt với hàng hóa xuất khẩu của nước mình cũng tác động xấu tới quan hệ thương mại giữa các nước, ảnh hưởng tới quyền lợi của người tiêu dùng của nước sở tại Trước đây, thuế quan là biện pháp hạn chế thương mại quan trọng nhất trong chính sách thương mại của mỗi quốc gia và được sử dụng như một công
cụ chủ yếu để bảo hộ thị trường nội địa Nhưng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, mức thuế quan đánh vào hàng hóa có xu hướng giảm xuống cùng với quá
Trang 17trình tự do hóa gia tăng Tuy vậy, nhiều quốc gia hiện nay vẫn sử dụng thuế quan như một công cụ trong chính sách thương mại
1.1.2.2 Hạn ngạch
Hạn ngạch là một trong những hình thức của hàng phi thuế quan Hạn ngạch là qui định số lượng hoặc giá trị xuất nhập khẩu đối với từng hàng hóa, từng thị trường Đây là một công cụ kinh tế nhằm bảo hộ sản xuất nội địa, cải thiện cán cân thanh toán
Hạn ngạch xuất khẩu là hạn chế số lượng xuất khẩu theo từng mặt hàng, theo từng quốc gia, thị trường và theo thời gian
Hạn ngạch nhập khẩu là hạn chế số lượng nhập khẩu nên cũng ảnh hưởng tới giá cả hàng hóa và lợi ích xã hội Khi hạn ngạch nhập khẩu được áp dụng sẽ gây ảnh hưởng tới mức cung nên giá cân bằng của hàng hóa sẽ cao hơn trong điều kiện thương mại tự do Điều này khuyến khích các nhà sản xuất nội địa sản xuất ra một lượng sản phẩm cao hơn, gây lãng phí của cải xã hội Bởi vậy, hạn ngạch nhập khẩu tương đối giống với thuế nhập khẩu Để bảo vệ lợi ích quốc gia, hạn ngạch nhập khẩu cũng nhằm mục đích thay thế hàng nhập khẩu, bảo vệ sản xuất nội địa Tuy nhiên, hạn ngạch có một số
điểm khác biệt so với thuế quan Thứ nhất, hạn ngạch cho biết trước số lượng
hàng nhập khẩu, còn thuế quan lượng hàng nhập khẩu lại phụ thuộc vào mức
độ linh hoạt của cung cầu nên khó có thể dự đoán được Do vậy, những tác động của hạn ngạch đến lợi ích xã hội, thương mại cũng rõ ràng hơn Hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp nội địa duy nhất trở thành một nhà độc
quyền, ảnh hưởng tới quyền lợi của người tiêu dùng Thứ hai, hạn ngạch có
liên quan chặt chẽ tới việc phân phối giấy phép hạn ngạch nên dễ làm nẩy sinh các tiêu cực xã hội như hối lộ các quan chức để có được giấy phép nhập khẩu Do vậy, chính phủ nên bán đấu giá những giấy phép đó để khắc phục những tồn tại trên và tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia
Trang 181.1.2.3 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary Export Restraint – VER) được hiểu là một loại hạn ngạch được thực hiện một cách “tự nguyện” bởi nước xuất khẩu đối với hàng xuất khẩu của mình sang các nước khác nhằm tránh các biện pháp trả đũa do nước nhập khẩu đưa ra
Khi VER được thực hiện thì những ảnh hưởng của nó đối với nước nhập khẩu cũng tương tự như ảnh hưởng của hạn ngạch nhập khẩu xảy ra với quốc gia sở tại vì chúng đều hạn chế về số lượng hoặc giá trị hàng nhập khẩu Tuy
nhiên, vẫn có một số điểm khác biệt cơ bản Thứ nhất, VER không mang lại
thu nhập từ thuế nhập khẩu cho nước nhập khẩu mà mang lại thu nhập cho nước xuất khẩu từ giá xuất khẩu gia tăng VER mang lại lợi cho nước xuất
khẩu hơn so với thuế quan hoặc hạn ngạch Thứ hai, những sự ảnh hưởng về
sự tăng giá xuất khẩu do thực hiện VER đối với nước xuất khẩu chỉ mang tính chất tạm thời Vì khi một quốc gia thực hiện VER với đối tác nhập khẩu của mình thì các nước xuất khẩu khác cũng có lợi do giá xuất khẩu tăng Kết quả
là họ cũng có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang đối tác này Các doanh nghiệp xuất khẩu thực hiện VER cũng có xu hướng di chuyển các cơ sở sản xuất sang các nước nhập khẩu hoặc các nước khác để tránh những hạn chế về VER Giá
cả hàng hóa có xu hướng giảm dần đến mức cân bằng như khi không có VER Thực hiện hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng có tác động kinh tế như một hạn ngạch xuất khẩu tương đương Tuy nhiên, về bản chất hạn chế xuất khẩu tự nguyện và hạn ngạch xuất khẩu có sự khác nhau Trong khi hạn ngạch xuất khẩu mang tính chủ động thì hạn chế xuất khẩu tự nguyện mang tính miễn cưỡng
1.1.2.4 Những quy định về điều kiện kỹ thuật
Một quốc gia có thể hạn chế số lượng hoặc giá trị hàng hóa nhập khẩu bằng cách đưa ra những quy định về điều kiện kỹ thuật Đây là những quy
Trang 19định về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa nhằm bảo vệ sức khỏe, sự an toàn của con người, các loài động thực vật và môi trường, về bao bì của hàng hóa nhập khẩu, các yêu cầu về nhãn mác hàng hóa… Trong thực tế, các tiêu chuẩn và quy định về kỹ thuật là một trong những khó khăn lớn nhất đối với các nước đang và kém phát triển khi tiếp cận thị trường nước ngoài Bởi trình
độ, kỹ năng về công nghệ sản xuất, chế biến, bảo quản của họ còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của nước nhập khẩu Điều này có thể gây ra các tác động hạn chế thương mại giữa các quốc gia, cản trở sự phát triển thương mại quốc tế
1.1.2.5 Trợ cấp xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp tiền trực tiếp hay cho vay với lãi suất thấp đối với doanh nghiệp xuất khẩu trong nước hoặc cho các bạn hàng nước ngoài vay ưu đãi để họ có thể mua hàng hóa do nước mình xuất khẩu nhằm khuyến khích xuất khẩu quốc gia Việc trợ cấp có thể được thực hiện dưới các hình thức như cung cấp vốn với lãi suất thấp, miễn thuế thu nhập xuất khẩu, trợ giá xuất khẩu…
Để khuyến khích xuất khẩu một sản phẩm nào, chính phủ chỉ cần thực hiện trợ cấp xuất khẩu đối với sản phẩm đó Điều này rất có lợi cho nhà xuất khẩu vì họ tăng được thu nhập do hạ thấp chi phí hoặc tăng giá xuất khẩu Kết quả là sản xuất các mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu tăng lên nhưng tiêu dùng các mặt hàng này lại giảm Khả năng sản xuất các mặt hàng khác cũng bị suy giảm do việc di chuyển các nguồn lực sản xuất sang sản xuất các mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu Do vậy, ảnh hưởng của trợ cấp xuất khẩu đến giá sản phẩm và lợi ích xã hội cũng tương tự như ảnh hưởng của thuế quan đối với hàng nhập khẩu Tuy nhiên, lịch sử đã cho thấy bất kỳ một quốc gia nào có chính sách khuyến khích xuất khẩu thích hợp, tận dụng các
Trang 20lợi thế của đất nước vào sản xuất và xuất khẩu hiệu quả nhất đều đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế
1.2 Những đặc điểm chủ yếu về điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội của Việt Nam và Nhật Bản
1.2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Việt Nam
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Việt Nam là một quốc gia nằm ở vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam
Á, phía Bắc giáp với Trung Quốc, phía Tây giáp với Lào, Campuchia, phía Đông và Nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương Với diện tích 331.698
km2, dải đất liền hình chữ S, lãnh thổ Việt Nam phần lớn là đồi núi thấp của bốn vùng núi chính (Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam), hai đồng bằng lớn (Bắc Bộ và Nam Bộ) Việt Nam có đường biên giới đất liền dài 4.510 km, đường bờ biển dài 3.260 km, và có ba mặt Đông, Nam, Tây Nam trông ra biển Đây là điều kiện địa lý thuận lợi giúp Việt Nam trở thành đầu mối giao thông quan trọng từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương
Mặc dù thuộc vùng nhiệt đới nhưng Việt Nam lại có hai vùng khí hậu gắn với hai vùng địa hình khác nhau Với một nền nhiệt độ cao, lượng mưa nhiều đã tạo ra một hệ thực vật phong phú với trên 800 loài cây gỗ (đinh, lim, sến, táu…), quần thể động vật đa dạng lên tới 200 loài thú, 100 loài lưỡng cư, trên 150 loài bò sát, 1.000 loài lưỡng biển và 200 loài nước ngọt
Việt Nam là một trong những quốc gia có biển và nguồn nước mặn phong phú nên nguồn lợi thủy sản dồi dào, gồm thủy sản nước mặn, nước lợ
và nước ngọt Việt Nam có tới 6.845 loại động vật biển, với nhiều loại đặc sản
và quý hiếm như: tôm, mực, cá voi, cá heo Biển Việt Nam còn có tiềm năng khai thác muối phục vụ sinh hoạt, công nghiệp và xuất khẩu Với khoảng 1,2 triệu ha mặt nước, trên 600 ngàn ha sông suối, trên 300 ngàn ha hồ chứa…
Trang 21phân bố đều ở các vùng, Việt Nam còn có tiềm năng phát triển và khai thác thủy sản nước lợ, nước ngọt
Ngoài những tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, Việt Nam còn có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng như: than (trữ lượng khoảng trên 6 tỉ tấn), dầu khí (trữ lượng dầu mỏ khoảng 3 – 4 tỷ thùng và khí đốt khoảng 50 –
70 mét khối), kim loại màu (nhôm, đồng, vàng, thiếc…), kim loại đen (sắt, măng gan, titan)… Hiện nay, Việt Nam chỉ mới khai thác và chế biến khoáng sản ở mức độ thấp, các khoáng sản xuất khẩu chỉ ở dạng sơ chế, dầu chỉ là dầu thô Đây là điều kiện thuận lợi trước mắt giúp phát huy hiệu quả kinh tế cao mà cần ít vốn đầu tư Bên cạnh đó, Việt Nam còn có các mỏ nhỏ rải rác trên cả nước, rất thuận tiện cho việc khai thác và phát triển kinh tế giữa các vùng
Hàng nghìn con sông lớn, nhỏ trải dài theo lãnh thổ, cứ khoảng 20 km lại
có một cửa sông nên hệ thống giao thông đường thủy của Việt Nam khá thuận lợi Ngoài ra, cùng với nhiều hải cảng lớn: Hải Phòng, Nghi Sơn, Đà Nẵng, Cam Ranh, Vũng Tàu… Việt Nam dễ dàng phát triển kinh tế, giao thương trong nước và ngoài nước
1.2.1.2 Dân cư và nguồn nhân lực
Tính đến năm 2007, dân số của Việt Nam là trên 85 triệu người, đứng thứ 2 tại Đông Nam Á và đứng thứ 13 trên thế giới Dân số Việt Nam được đánh giá là có quy mô lớn và phát triển nhanh với tốc độ tăng dân số ở mức 1 triệu người/năm
Nguồn nhân lực của Việt Nam đông đảo, có trình độ văn hóa tương đối đồng đều Lao động Việt Nam được đánh giá là thông minh, cần cù, sáng tạo
và ham học hỏi Giá nhân công Việt Nam thấp hơn so với một số nước trong khu vực Hơn nữa, nguồn nhân lực Việt Nam ngày càng được hoàn thiện hơn
Trang 22về trình độ chuyên môn, tinh thần chấp hành kỷ luật và văn hóa ứng xử trong công việc
1.2.1.3 Thị trường tiềm năng
Để giữ vững vị trí cường quốc kinh tế hiện nay, Nhật Bản luôn cần một thị trường tiềm năng có thể đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của mình về nguyên vật liệu, lương thực phẩm phục vụ cho cuộc sống và cho sự phát triển Việt Nam là quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên trên mặt đất cũng như dưới nước, đất đai màu mỡ rất phù hợp để phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp để xuất khẩu nông sản và thủy sản Những mỏ kim loại quý, dầu và khí đốt… cũng được phát hiện và khai thác ngày càng tăng Việt Nam lại án ngữ các con đường giao thông trong khu vực Tây Thái Bình Dương nên rất thuận lợi mở rộng kinh tế đối ngoại, thương mại mậu dịch…
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên các tiềm năng đó chỉ mới khai thác bước đầu, nên có thể cung ứng phần nào cho Nhật Bản Mặt khác, Việt Nam cũng cần nhập khẩu từ Nhật Bản nhiều thiết bị máy móc hiện đại, nguyên vật liệu cần thiết để phát triển kinh tế trong nước Theo Tổng cục Thống kê dự tính: Năm 2024, dân số Việt Nam sẽ vượt qua con số 100 triệu người, đạt 100,5 triệu người Mật độ dân số lúc đó đạt 335 người/km2, tăng hơn nhiều so với 258 người/km2
hiện tại Dân số đông, trẻ thì nhu cầu tiêu dùng cao, là một điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hóa
và phát triển kinh tế của Nhật Bản Bởi vậy, có tới 338 công ty Nhật Bản trên tổng số 652 công ty xếp Việt Nam đứng vào hàng thứ 4 trong các đối tác quan trọng nhất mà họ sẽ đầu tư trong 10 năm đầu thế kỷ XXI Điều này thể hiện sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam – một đất nước đóng vai trò quan trọng
về kinh tế và chính trị ở khu vực Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản
Trang 231.2.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Nhật Bản
Với hơn 90% dân số thuộc dân tộc Yamato (người Nhật) nên hầu hết mọi người đều có thể giao tiếp với nhau bằng tiếng Nhật chuẩn được dạy trong trường học Sự đồng bộ giáo dục trong chương trình và chất lượng giảng dạy cũng được thực hiện trên khắp mọi miền đất nước Bởi thế, Nhật Bản có một nguồn lao động có trình độ giáo dục tương đối cao và được đào tạo tốt về kỹ năng lao động, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế, xã hội, tránh được các mâu thuẫn về sắc tộc Tất cả những sự đồng nhất kể trên tạo nên ý thức đoàn kết trong công việc, tinh thần tập thể, có tính kỷ luật cao và ham học hỏi của người Nhật
Do quần đảo Nhật Bản nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương nên 3/4 lãnh thổ Nhật Bản là đồi núi, chỉ có những đồng bằng nhỏ nằm ở giữa những dãy núi Vì vậy, diện tích đất canh tác của Nhật Bản chỉ chiếm 1/6 diện tích, không thuận tiện cho việc thâm canh tăng năng suất Mặt khác, Nhật Bản
là một quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên và cũng thường xuyên xảy ra những thiên tai như: động đất, núi lửa, mưa bão lớn… Điều này thúc đẩy người dân Nhật Bản ra sức tìm kiếm, phát triển kỹ thuật, công nghệ mới, đạt tới đỉnh cao trong một số lĩnh vực: sản xuất sắt và thép, hóa chất cho nông
Trang 24nghiệp, vật liệu mới, chế biến năng lượng hạt nhân, chất bán dẫn, … Những tiến bộ vượt bậc trong ngành công nghiệp (điển hình là trong chế tạo ô tô) đã giúp Nhật Bản nhiều năm thặng dư thương mại với các quốc gia khác chủ yếu
do xuất khẩu ô tô Các thành tựu của công nghệ sinh học cũng giúp nâng cao năng suất nông nghiệp, phát triển và nâng cao chất lượng lĩnh vực y tế và bảo
vệ sức khỏe người dân Đây cũng chính là lợi thế quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước vốn không được thiên nhiên ưu đãi này
Tuy nhiên, Nhật Bản lại có biển bao bọc xung quanh và là nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào Nhật Bản hiện là một trong những quốc gia tiêu thụ lượng hải sản nhiều nhất thế giới Nhật Bản cũng là một trong những nước có sản lượng đánh bắt cá cao trên thế giới, chiếm khoảng 15% tổng sản lượng toàn thế giới Biển cũng là đường giao thông thuận tiện giúp vận chuyển hàng hóa nhanh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành ngư nghiệp nói riêng
và phát triển kinh tế nói chung
1.2.2.2 Siêu cường kinh tế
GDP bình quân đầu người của Nhật Bản luôn trong danh sách hàng đầu trên thế giới Năm 1999, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản đạt 35.567 USD, cao hơn gần 4,5% so với Mỹ Năm 2003, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản đạt 33.640 USD, tăng 0,8% so với năm 2004 Đến năm 2005, Nhật Bản là quốc gia có tốc độ tăng GDP bình quân đầu người cao nhất trong nhóm G7, tăng gần 3% Năm 2003, GDP của Nhật Bản là 3.582,5 tỷ USD thì năm 2005 tăng lên đạt 4.675 tỷ USD
Năm 1996, xuất khẩu của Nhật chiếm 8% thị trường thế giới và nhập khẩu chiếm 6,6%, đứng thứ 3 sau Mỹ và Đức Năm 1997, xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ chiếm 27,8% và nhập khẩu chiếm 22,3% Bởi vậy, thặng dư thương mại của Nhật với Mỹ là 5.020 tỷ yên, khoảng 41,5 tỷ USD, chiếm 50% tổng thặng dư thương mại của Nhật đối với các bạn hàng Nhật Bản là
Trang 25nước xuất siêu hàng đầu thế giới Năm 2004, Nhật Bản xuất siêu với kim ngạch 12 ngàn tỷ yên (khoảng 112,3 tỷ USD)
Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản đạt 61,1 ngàn tỷ yên (khoảng 582,6 tỷ USD), tăng 12,2% so với năm 2003 Đến năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản đạt 598,2 tỷ USD, tăng 5,9% so với năm 2004 Vốn đầu tư trực tiếp năm 2005 Nhật thu hút được vào trong nước đạt 30,1 tỷ USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước Đồng thời vốn đầu tư trực tiếp của Nhật ra nước ngoài đạt 45,5 tỷ USD, tăng 46,8%, cao nhất kể từ năm 1990 Năm 2003, Nhật Bản có 88 doanh nghiệp trong số 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới
1.2.2.3 Khoa học công nghệ, kỹ thuật chế tạo phát triển
Từ một nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lạc hậu về khoa học
kỹ thuật, Nhật Bản đã tiến thẳng vào kỷ nguyên công nghệ cao vào năm 1980 Tính trung bình mỗi năm (1951 đến 1983), Nhật Bản đã tiến hành 1.312 số lần nhập công nghệ nước ngoài với tổng chi phí lên tới 3.821 triệu USD Các công nghệ nhập ngoại đã được người Nhật cải tiến vượt bậc bằng cách kết hợp giữa bắt chước và sáng tạo công nghệ Từ năm 1950, Nhật Bản đã nhập khẩu công nghệ bóng bán dẫn, máy công cụ điều khiển bằng số và kỹ thuật
“kiểm tra chất lượng” từ Mỹ Nhưng sau đó, ngành điện tử sử dụng bóng bán dẫn của Nhật đã có sức cạnh tranh hàng đầu trên thế giới Vào cuối những năm 1960 trở đi, máy công cụ điều khiển bằng số giá thấp đã thâm nhập và cạnh tranh trên thị trường Mỹ Và đến những năm 1970, người Mỹ đã phải quay lại tiếp thu một số tư tưởng của kỹ thuật “kiểm tra chất lượng” của chính người Nhật
Năm 1955, tại Nhật chỉ có 1.455 phòng thí nghiệm nhưng 15 năm sau năm 1970, số phòng thí nghiệm trên cả nước đã tăng lên gấp khoảng 9 lần Số lượng các nhà khoa học và chuyên gia nghiên cứu trong cùng thời kỳ cũng
Trang 26tăng lên gấp hơn 3 lần, từ 133.000 người lên đến 419.000 người Năm 1984,
có 320.000 cán bộ làm việc tại 17.000 viện nghiên cứu tại Nhật, chỉ sau Liên
Xô và Mỹ Với số tiền chiếm khoảng 9 – 10% ngân sách, Nhật Bản đã đầu tư phục vụ nghiên cứu khoa học liên tục trong 10 năm (1978 – 1988) và đã đạt được những thành tựu to lớn Năm 1987, số lượng bằng sáng chế của Nhật cao nhất thế giới, gấp 6 lần so với nước Pháp Năm 1991, số nhà nghiên cứu đang làm việc ở Nhật Bản là 583.000 người, xếp thứ 2 sau Mỹ Số bằng sáng chế đăng ký năm 1990, Nhật Bản đứng thứ 3 sau Mỹ và Liên Xô
Nước Nhật là nước có kỹ thuật chế tạo đứng hàng đầu thế giới Nhật Bản
đã có ưu thế tương đối trong lĩnh vực công nghệ cao như: vi điện tử, chất bán dẫn, vi tính, người máy công nghiệp… Còn trong một số ngành truyền thống như đóng tàu vận chuyển khí thiên nhiên hoá lỏng, Nhật Bản gần như chiếm lĩnh toàn bộ thị trường thế giới Quốc gia này sở hữu hơn 50% số robot cho công nghiệp sản xuất trên toàn thế giới
Tỷ trọng kinh phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D) chiếm trong GDP cũng thể hiện tầm quan trọng của khoa học trong phát triển kinh tế Năm 1990, chi cho R&D của Nhật Bản chiếm tới 3% GDP, lên tới 12.100 tỷ yên, cao hơn
cả Đức, Anh, Mỹ, Pháp Từ đó, tỉ trọng kinh phí cho R&D chiếm trong GDP của Nhật luôn cao nhất trên thế giới Năm 1996, tỷ trọng này ở Nhật là 2,96%, cao nhất trong số các quốc gia phát triển Trong khi đó, tỷ trọng này ở Mỹ chỉ
là 2,55%, Đức là 2,28%, Pháp là 2,34%, Anh là 2,05% Năm tài chính 1998, tỉ trọng này là 3% GDP, tương đương là 14,8 tỉ yên Năm 1999, tổng ngân sách cho R&D của Nhật tăng lên thành 16.000 tỷ yên, đứng thứ hai sau Mỹ 29.000
tỷ yên và vượt xa Đức thứ ba với 6.000 tỷ yên Năm 2000, tổng ngân sách cho R&D của Nhật là 16.289,3 tỷ yên, chiếm 3,18% GDP, tương đương 135,7 tỷ USD, tăng 1,7% so với năm 1999
Trang 27Tính đến tháng 4/1999, số lượng các cán bộ làm việc trong lĩnh vực R&D của Nhật là 639.000 người Trong đó, 67,2% làm việc tại các tập đoàn, công ty; 21,6% làm việc trong các trường đại học và 6,7% làm việc ở các viện nghiên cứu Xét trên 10.000 dân, tại Nhật Bản có 58 nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học công nghệ, vượt xa so với Mỹ là 38 người
Sự phát triển của công nghệ Nhật còn được thể hiện qua cán cân buôn bán công nghệ, thể hiện khả năng công nghệ và nghiên cứu phát triển của đất nước Năm 1998, năm thứ 6 liên tiếp, Nhật Bản có mức thặng dư thương mại
486 tỉ yên Năm 2000, xuất khẩu kỹ thuật của Nhật Bản đạt 1.057,9 tỷ yên, tăng 10,1% so với năm 1999 Ngoài ra, Nhật Bản còn hợp tác song phương về nghiên cứu khoa học và công nghệ với khoảng 30 nước, hợp tác đa phương với các tổ chức quốc tế khác nhau như Tổ chức năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA)…
Công nghệ vũ trụ ở Nhật cũng đánh dấu thành công ban đầu vào năm
1970 với việc phóng vệ tinh vào vũ trụ, sau Nga, Mỹ và Pháp Tính đến cuối năm 1999, Nhật Bản đã phóng 81 vệ tinh vào vũ trụ Hiện tại, Nhật Bản đang
có kế hoạch xây dựng một trạm mặt trăng vào năm 2030
Ngành năng lượng với công nghệ hiện đại của Nhật Bản đang phát triển
và được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống Nguồn năng lượng lớn nhất có thể tái tạo, không cần bảo trì nhiều là những tấm năng lượng mặt trời Theo một nghiên cứu năm 2001, khả năng tạo ra điện năng từ mặt trời của Nhật Bản là 450.000 kW, gấp đôi ở châu Âu và gấp ba ở Mỹ Năm 2002, Nhật Bản
đã sản xuất khoảng 50% tổng sản lượng pin mặt trời của thế giới, chiếm vị trí
số 1 Ngoài ra, người Nhật còn tạo ra năng lượng từ những tua – bin chuyển động bằng sóng để bảo đảm an toàn cho đại dương; năng lượng từ tuyết để làm lạnh các kho hàng và điều hoà không khí, năng lượng địa nhiệt nằm sâu dưới những hòn đảo núi lửa
Trang 281.2.2.4 Vốn đầu tư dồi dào
Năm 1967, tỉ lệ vốn đầu tư của các công ty Nhật Bản trong tổng số đầu
tư nước ngoài của các nước ASEAN chỉ chiếm 2%, thấp hơn nhiều so với lượng đầu tư của các công ty Mỹ, chiếm 82% Tuy nhiên, sau gần chục năm, vào năm 1975, vốn FDI của các công ty Nhật ở khu vực này tăng lên 41%, cao hơn hẳn tỉ lệ 18% của các công ty Mỹ
Lượng FDI của Nhật được đầu tư chủ yếu vào các ngành thương mại và tài chính ở Bắc Mỹ và châu Âu Năm 1986, 45,5% lượng FDI, tương đương 10,2 tỷ USD đã được Nhật đầu tư vào Mỹ Cùng năm, Nhật Bản đã đầu tư 3,3
tỷ USD vào châu Âu Tổng lượng FDI của Nhật đã tăng từ 22,3 tỷ USD năm
1986 lên 47 tỷ USD năm 1988 Năm 1994, tổng FDI của Nhật Bản trên thế giới là 41,05 tỷ USD, trong đó FDI vào ASEAN của Nhật tăng tương ứng từ
599 triệu USD lên 3,9 tỷ USD
Trước năm 1985, vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản tương đối ổn định Năm 1989, lượng FDI của Nhật Bản đạt mức cao nhất là 68 tỷ USD, tương đương với 9.400 tỷ yên Năm 1993, lượng đầu tư này đạt 259,8
tỷ USD, cao hơn nhiều so với 16,9 tỷ USD đầu tư trực tiếp vào Nhật Bản 1.2.2.5 Các sản phẩm với hàm lượng kỹ thuật cao
Kể từ khi thời đại công nghiệp hoá mới bắt đầu, việc bảo đảm cung cấp một nguồn năng lượng ổn định luôn luôn là một thách thức đối với Nhật Bản Ngày nay, thách thức này càng lớn hơn vì Nhật Bản cần thực hiện cam kết sẽ giảm lượng khí thải “nhà kính” xuống 6% vào năm 2010, thấp hơn mức năm
1990 Các nhà khoa học của Nhật Bản đã nghiên cứu thành công và đưa những kỹ thuật mới vào áp dụng trong cuộc sống, để sử dụng tiết kiệm năng lượng hơn Đó là những sản phẩm như: vật liệu làm tường nhà và cửa sổ có hai lớp kính giúp ngăn hơi nóng và khí lạnh tràn vào trong nhà; bóng điện huỳnh quang – tuổi thọ gấp 6 lần và chỉ tiêu hao 1/4 năng lượng điện so với
Trang 29bóng điện thông thường với độ sáng tương tự; động cơ chạy bằng bộ đổi dòng điện một chiều ra điện xoay chiều trong quạt gió và những máy móc công nghiệp khác – chỉ tiêu tốn 50% điện năng…
Nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ngành chế tạo ô tô của Nhật Bản đã chiếm ưu thế lớn trên thị trường quốc tế Cùng với công nghệ sử dụng
có hiệu quả năng lượng, Nhật Bản đã cho ra đời “ô tô lai ghép” kết hợp giữa máy chạy xăng và động cơ điện Phương tiện cá nhân này có thể chạy một quãng đường dài 35 km mà chỉ tiêu tốn 1 lít xăng, tiết kiệm khoảng 2,5 lần so với loại xe thông thường Nhật Bản đã chế tạo các phương tiện giao thông công cộng không gây độc hại, thân thiện với môi trường và tiết kiệm năng lượng Đó là tàu điện sử dụng động cơ tuyến tính Maglev được nâng bằng nam châm với điện dẫn thường Loại phương tiện này không có bánh xe, tiếng ồn nhỏ, chi phí vận hành thấp vì nó hoàn toàn tự động, không cần người điều khiển Hãng Toyota cũng đã chế tạo ra xe buýt lai tạo, chạy bằng cả pin nhiên liệu và ắc quy điện Loại xe này rất ít tiếng ồn và không hề có khói thải, chỉ thải ra nước, thường ở dạng hơi
Nhật Bản hiện đang là nước dẫn đầu thế giới về tạo năng lượng xanh cho tương lai Tháng 10 năm 2003, công ty TNHH JROL của Nhật Bản đã thiết kế thành công tụ điện Nanogate, chứa năng lượng điện tương tự như ắc – quy ion lithi – loại có mật độ năng lượng cao nhất trong tất cả các loại pin Năm 2003, công ty Toshiba đã công bố về thiết bị nguyên mẫu DMFC có kích thước bằng bàn tay – là một loại pin nhiên liệu sạch được sử dụng cho nhiều thiết bị xách tay và xe hơi sau này Năm 1954, phòng thí nghiệm Bell ở Mỹ là nơi đầu tiên nghiên cứu chế tạo loại pin mặt trời sử dụng chất bán dẫn silic Nhưng sau gần nửa thập kỷ, Nhật Bản lại là nước sản xuất pin mặt trời lớn nhất thế giới, chiếm 48,9% tổng sản lượng pin mặt trời toàn thế giới, tương đương khoảng 255.000 kW
Trang 301.2.3 Nhận xét chung về lợi thế so sánh phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
Việt Nam và Nhật Bản có vị trí địa lý gần gũi, cùng ở trong khu vực Đông Á Hai nước đều nằm trong vùng “khí hậu gió mùa” và có nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước Việt Nam và Nhật Bản vốn có nhiều nét tương đồng về văn hóa, thể hiện trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo Mối quan hệ thương mại song phương cũng được hình thành từ rất sớm Lịch sử ghi lại, vào thế kỷ thứ XVI, trong số 331 giấy phép buôn bán với Đông Nam
Á (1604 – 1634) thời Tokugawa của Nhật Bản thì có tới 121 giấy phép là đến Việt Nam Các thương nhân Nhật Bản bán những đồ kim loại, gươm… cho Việt Nam và đến phố cổ Hội An mua các mặt hàng như tơ lụa, hổ phách, thạch anh… Cùng thời gian này, đồ gốm sứ Việt Nam cũng có mặt tại Nhật Bản
Trải qua nhiều diễn biến lịch sử, mối quan hệ song phương trên một số mặt giữa hai nước vẫn được duy trì Và kể từ khi hai quốc gia ký kết Hiệp định thiết lập chính thức quan hệ ngoại giao vào ngày 21/9/1973, lịch sử bang giao giữa hai nước đã bước sang một trang mới Sau những bước khởi đầu chậm chạp đầy khó khăn, kể từ năm 1992 đến nay, quan hệ Việt – Nhật nói chung và quan hệ thương mại song phương nói riêng đã phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, để quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển tốt đẹp hơn nữa cần sự tăng cường hợp tác của mỗi quốc gia cũng như tăng hiệu quả tận dụng những lợi thế so sánh riêng sẵn có
Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngoài việc phát huy nội lực Việt Nam phải dựa vào sự hợp tác với nước ngoài, đặc biệt là những quốc gia có trình độ phát triển cao như Nhật Bản Việt Nam cần nguồn vốn đầu tư dồi dào ở Nhật để phát triển khoa học kỹ thuật, cải thiện cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế Năm 2001, vốn đầu tư trực tiếp (FDI) của Nhật Bản
Trang 31chỉ đạt 160 triệu USD, và 9 tháng đầu năm 2002 là 90 triệu USD Song nếu so với tổng mức FDI của Nhật Bản vào châu Á là 655,5 tỷ yên (tương đương 5.704 triệu USD), chiếm 12,2% tổng FDI của Nhật ra nước ngoài thì mức FDI của Nhật vào Việt Nam còn nhỏ bé trong tổng mức chung cũng như với các nước khác trong khu vực Bởi vậy, mở rộng quan hệ, thu hút FDI không chỉ là nhu cầu của Việt Nam mà phía Nhật cũng có khả năng đáp ứng Năm 2007, Nhật Bản đã có 928 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng FDI đạt 9.037,8 triệu USD Tuy Nhật chỉ đứng thứ 4 trong số các nước và vùng lãnh thổ có dự án FDI làm ăn tại nước ta, nhưng lại là nước có vị trí hàng đầu trong thực hiện dự án và giải ngân vốn đầu tư Trong cuộc thăm dò năm 2007 của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), Việt Nam đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Ấn Độ trong danh sách điểm đến ưa chuộng tại châu
Á của các nhà đầu tư Nhật Bản
Ngoài lợi thế về nguồn vốn đầu tư, Nhật Bản còn có các công nghệ tiên tiến hiện đại có thể đáp ứng cho nhu cầu của Việt Nam Hiện tại, công nghệ của Việt Nam ở mức thấp so với khu vực như Thái Lan, Xingapo, Nếu so với mức trung bình của thế giới thì hệ thống thiết bị kỹ thuật ở đa số các doanh nghiệp lạc hậu hơn từ 2 – 3 thế hệ Tỷ lệ công nghệ thấp của Việt Nam còn quá cao trong khi tỷ lệ công nghệ cao, hiện đại lại thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khối ASEAN Do vậy, muốn đạt được mục tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 thì Việt Nam cần tăng cường hợp tác hơn nữa với các quốc gia, nhất là những quốc gia phát triển có vốn và công nghệ hiện đại như Nhật Bản Nếu Việt Nam nhập khẩu được các dây chuyền công nghệ cao và tiếp thu kinh nghiệp quản lý của Nhật Bản thì có thể nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm đó
so với các sản phẩm cùng loại khác của nước ngoài Kết hợp cùng với việc sử dụng hiệu quả các lợi thế so sánh của Việt Nam như lực lượng lao động dồi
Trang 32dào, giá nhân công thấp hơn số với một nước trong khu vực, nguồn thủy hải sản phong phú, tài nguyên khoáng sản đa dạng… thì sẽ có thêm nhiều sản phẩm của Việt Nam có mặt tại thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những quốc gia nhập khẩu nông phẩm thuần lớn nhất thế giới Phần của sản xuất nông nghiệp trong tổng sản phẩm nội địa giảm mạnh, từ 9,0% năm 1960 xuống còn 1,8% năm 1990 Đồng thời, nhập khẩu nông phẩm của Nhật Bản tiếp tục tăng tới 30 lần xét về giá trị trong khoảng thời gian trên, đạt 26 tỷ USD, chiếm 11,1% trong tổng giá trị nhập khẩu vào năm 1990 Cũng tương tự như nông nghiệp, sản lượng của ngành ngư nghiệp Nhật Bản ngày càng giảm sút Hàng năm, để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, Nhật Bản phải nhập khẩu khoảng 14 tỷ USD các sản phẩm thủy hải sản, chiếm khoảng 30% giá trị nhập khẩu lương thực của nước này Tuy nhiên, khối lượng nhập khẩu thủy sản vào Nhật Bản từ năm
2000 đến nay không ổn định Nguyên nhân một phần là do giá thủy sản trên thế giới đắt đỏ, một phần là do chất lượng thủy sản của các nước xuất khẩu không đáp ứng được những yêu cầu của phía Nhật Bản dẫn đến việc Nhật Bản kiểm soát chặt chẽ và hạn chế khối lượng nhập khẩu Đây chính là cơ hội cho Việt Nam, một nước có nguồn lợi thủy sản dồi dào, nông sản phong phú tiếp cận với thị trường đầy tiềm năng như Nhật Bản
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, Nhật Bản không chỉ cần nguồn lương thực phẩm phục vụ cho đời sống hàng ngày mà còn cần nguồn nhiên liệu như than, dầu mỏ… phục vụ cho sản xuất và kinh doanh Trong vòng 10 năm, kể từ năm 1960 đến 1970, số mỏ than tại Nhật Bản đã giảm từ
600 xuống còn 102 Sản lượng than sản xuất mỗi năm cũng giảm tương ứng
từ 55 triệu tấn xuống còn 40 triệu tấn Đến năm 1985, tại Nhật Bản chỉ còn 11
mỏ than lớn với sản lượng hàng năm 16 triệu tấn Số công nhân mỏ cũng chỉ còn 1/10, mức cao nhất là 230.000 người Trong lúc đó, sau một thời kỳ tăng
Trang 33trưởng nhanh, ngành hóa dầu của Nhật Bản cũng rơi vào suy thoái và công suất của nó đã giảm hơn 30% từ năm 1983 Để đáp ứng nhu cầu nhiên liệu trong nước, Nhật Bản đã phải nhập khẩu than, dầu từ các quốc gia khác cũng như từ Việt Nam Năm 1990, Việt Nam xuất sang Nhật 1.037 tấn dầu thô, trị giá 192,4 triệu USD, và than trị giá 12,3 triệu USD Trong vòng 10 năm, từ
1990 đến 2000, hai mặt hàng này vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản Trao đổi thương mại như trên không những góp phần thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch song phương mà còn tạo điều kiện cho phát triển kinh tế tại mỗi quốc gia trên cơ sở tận dụng những lợi thế so sánh riêng của mình Bởi vậy, quan hệ thương mại Việt – Nhật là quan hệ thể hiện sự hợp tác, bổ sung lẫn nhau giữa hai quốc gia và bản thân điều kiện, tiềm năng của mỗi nền kinh tế đều có thể đáp ứng được các nhu cầu tương hỗ Quan hệ thương mại song phương tốt đẹp sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế tại mỗi nước và đem lại lợi ích cho cả hai nước
1.3 Các nhân tố chủ yếu thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
1.3.1 Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Ngày nay, toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một đặc trưng của sự phát triển trên thế giới Tất cả các quốc gia, dù ở trình
độ phát triển nào cũng không thể ở ngoài xu thế khách quan này, bởi mỗi nước muốn phát triển kinh tế, muốn bảo toàn các lợi ích của mình đều phải tham gia vào xu thế chung của thời đại Thực tiễn lịch sử cũng cho thấy, không một quốc gia nào có thể phát triển với một nền kinh tế khép kín Hội nhập kinh tế quốc tế càng cao thì các nền kinh tế càng phụ thuộc nhau, sự liên kết trong thương mại, sản xuất… càng diễn ra sâu rộng Điều này dẫn đến sự hình thành của hàng loạt các thể chế kinh tế, định chế kinh tế, liên kết kinh tế
Trang 34khu vực, liên kết quốc tế… có ảnh hưởng và sức mạnh chi phối toàn cầu, điển hình như: GATT (WTO), IMF, WB, EU, …
Vì lợi ích lâu dài của mỗi nước, các quốc gia phát triển đã tích cực sớm tham gia và cổ vũ cho làn sóng hội nhập kinh tế quốc tế này từ nửa đầu những năm 90 Về sau, các quốc gia kém phát triển hơn đã nhận thức được xu thế này cũng đã tích cực hội nhập theo các cấp độ khác nhau (đơn phương, song phương, đa phương) nhằm tận dụng cơ hội để phát triển Sự tham gia mạnh
mẽ của các nước đã khiến khối lượng và tốc độ tăng trưởng của thương mại thế giới tăng cao Chỉ trong vòng 50 năm cuối của thế kỷ XX, tổng khối lượng thương mại thế giới đã tăng lên 17 lần Trong 1 thập kỷ, từ 1987 đến 1997, tỷ trọng của thương mại trong GDP thế giới đã tăng thêm 9%, đạt 29,6% Kim ngạch xuất khẩu chiếm 1/2 tổng sản phẩm thế giới Tỷ trọng thương mại trong mỗi nước cũng được bổ sung do xu hướng tăng cường chu chuyển thương mại nội bộ trong các công ty xuyên quốc gia Quy mô hoạt động, kinh doanh của các công ty xuyên quốc gia ngày càng tăng lên Nếu ở thập kỷ 70, toàn thế giới có khoảng 7.000 công ty xuyên quốc gia thì đến thập kỷ 80, con số này là 12.000 và thập kỷ 90 là 35.000 Đến nay, con số này đã tăng gần gấp đôi, lên 65.000 công ty Sự lớn mạnh của chủ thể chính trong hoạt động thương mại quốc tế này cũng đi cùng luồng vốn đầu tư dồi dào Năm 1967, tổng lượng FDI trên toàn thế giới là 112 tỷ USD thì năm 1999 đã tăng vượt trên 4.000 tỷ USD, tức tăng gần 40 lần
Xu thế hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng được đẩy mạnh đã tác động đến sự phát triển hơn nữa của quan hệ kinh tế nói chung cũng như quan
hệ thương mại nói riêng giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản
Trang 351.3.2 Chính sách đối ngoại mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Sự hội nhập ngày càng sâu của Việt Nam vào khu vực và quốc tế (gia nhập ASEAN, AFTA, WTO…) khiến quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng phát triển Nếu năm 1986 Việt Nam có quan hệ xuất nhập khẩu với 43 quốc gia, năm 1995 là 100 quốc gia, năm 2000 là 192 quốc gia thì hiện nay Việt Nam đã có quan hệ thương mại với khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Ngoài ra, Việt Nam đã ký kết
86 hiệp định thương mại song phương, 46 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia và vùng lãnh thổ Tổng mức lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu bình quân từ năm 1986 đến năm 2005 là 20,7 tỷ USD/1 năm (gấp 7 lần so với năm 1985) Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng mỗi năm trung bình trên 20%, có năm tăng 30% Năm 1990, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 2,4 tỷ USD thì năm
2003 con số này là 20,176 tỷ USD, tăng 39% so với kim ngạch xuất khẩu năm
2000 Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu đạt 25 tỷ USD, gấp 8 lần so với năm
1990 Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt 32,4 tỷ USD, tăng gần 40 lần so với năm 1986 Tính hết quý 1 năm 2007, tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá của
cả nước đạt gần 10,5 tỷ USD, tăng 117,9% so với cùng kỳ năm 2006
Tốc độ tăng bình quân của kim ngạch nhập khẩu trong 20 năm đổi mới (1986 – 2005) là 16,1% Năm 1986, kim ngạch nhập khẩu là 2,155 tỷ USD thì năm 2005 là 37 tỷ USD, tăng gấp 16 lần Quý 1 năm 2007, tổng giá trị nhập khẩu hàng hoá của cả nước đạt khoảng 11,8 tỷ USD, tăng 133,6% so với cùng
kỳ năm 2006
Số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cũng tăng lên nhiều lần Nếu năm
1987 chúng ta có 12 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, năm 1991 có 495 doanh nghiệp thì hiện nay chúng ta đã có hơn 16.000 doanh nghiệp tham gia
Trang 36xuất khẩu Đó là chưa kể đến các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài liên tục tăng theo thời gian Nếu năm 1995, tỷ trọng trên là 27% thì đến năm 2000 tăng lên đạt 47% và năm
2005 đạt 57,2% Tính hết tháng 3 năm 2007, xuất khẩu hàng hoá của khu vực
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khoảng 5,9 tỷ USD, chiếm 56% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước, tăng 113,5% so với cùng kỳ năm 2006
Cơ cấu hàng xuất khẩu cũng có sự thay đổi rõ rệt Tỷ trọng hàng thô hay mới sơ chế đã giảm và tỷ trọng hàng chế biến hoặc đã chế biến tăng dần qua từng năm Năm 1995, tỷ trọng hàng thô là 67,2% trong tổng trị giá xuất khẩu hàng hoá Nhưng đến năm 2005, tỷ trọng hàng thô giảm xuống còn 49,6% và
tỷ trọng hàng chế biến tăng lên 50,4% so với 32,8% năm 1995 Thị trường hàng xuất khẩu cũng có sự chuyển biến rõ nét Giai đoạn 1986 – 1990, xuất khẩu sang châu Âu đứng đầu với tỷ trọng 51,7% thì giai đoạn 2001 – 2005 chỉ còn 20,7% Tỷ trọng thị trường của châu Á và châu Mỹ tăng khá nhanh Giai đoạn 2001 – 2005, tỷ trọng châu Á là 50,9%, tăng cao hơn nhiều so với 30,4% của giai đoạn 1986 – 1990 Tỷ trọng của châu Mỹ cũng tăng từ 1% lên 18,9% trong hai giai đoạn tương ứng
Hòa nhập với xu thế khách quan chung của thế giới, Việt Nam đã coi hội nhập kinh tế quốc tế là một bộ phận không thể tách rời của quá trình đổi mới Thông qua các văn kiện của các kỳ đại hội, Đảng ta đã khẳng định chủ trương
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và từng bước nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc
tế, phát huy nội lực đồng thời tranh thủ các nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững
Không chỉ dừng lại ở nhận thức, chủ trương, Việt Nam chúng ta đã liên tục thực hiện các bước hội nhập kinh tế quốc tế Tháng 10 năm 1994, Việt
Trang 37Nam chính thức gửi đơn xin gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và ngày 28 tháng 7 năm 1995 Việt Nam đã chính thức là thành viên của hiệp hội này, thực hiện CEPT, AFTA Tháng 12 năm 1994, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) và ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức là thành viên đầy đủ thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu Tháng 6 năm 1996, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và ngày 14 tháng 11 năm
1998 Việt Nam được chính thức công nhân là thành viên của APEC Tháng 6 năm 1996, Việt Nam cũng đã tham gia Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM) với
tư cách là thành viên sáng lập Những thành quả trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam đã tạo ra những tiền đề quan trọng cho sự phát
triển hơn nữa của quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
1.3.3 Sự điều chỉnh chính sách kinh tế đối ngoại hướng về châu Á của Nhật Bản
Các quốc gia Đông Nam Á và Nhật Bản có vị trí địa lý gần gũi với nhau, đều nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương Đông Nam Á là khu vực rộng lớn giàu tài nguyên thiên nhiên, có vị trí giao thông thuận lợi nên trong lịch sử đã trở thành nơi tranh giành ảnh hưởng của các thế lực chính trị Khu vực này cũng nằm trên con đường chiến lược vận tải biển của Nhật nên từ lâu
đã chịu sự tác động của Nhật Bản
Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Nhật Bản đã từng chiếm đóng Đông Nam Á bằng sức mạnh quân sự, tiến hành bóc lột thuộc địa ở khu vực này Chiến tranh kết thúc, Nhật Bản là nước bại trận đã phải rời bỏ “sân sau” của mình và rút quân về nước Nhưng đây là một khu vực gắn liền với lợi ích an ninh và kinh tế của Nhật Bản nên người Nhật luôn muốn duy trì sự ổn định tại đây Bởi vậy, sau chiến tranh, Nhật Bản đã trở lại khu vực Đông Nam Á bằng con đường “ngoại giao kinh tế” và kiên trì thực hiện chính sách này trong một
Trang 38thời gian dài Mối quan hệ giữa Nhật Bản và ASEAN đã được tiếp tục nhưng gặp rất nhiều trở ngại Chỉ đến khi, Thủ tướng Nhật Fukuda công bố chính sách đối ngoại với Đông Nam Á của Nhật Bản tại Manila năm 1977 thì quan
hệ Nhật Bản – ASEAN mới trở nên tốt đẹp hơn Chính sách đối ngoại trên
được biết đến như là học thuyết Fukuda, gồm ba nội dung chính: “Thứ nhất,
Nhật Bản, một quốc gia yêu cầu hòa bình, không chấp nhận vai trò siêu cường quân sự và dựa trên cơ sở đó, quyết tâm đóng góp cho hòa bình và thịnh
vượng của Đông Nam Á, và của cả cộng đồng thế giới; Thứ hai, Nhật Bản với
tư cách là một người bạn thực sự của các nước Đông Nam Á sẽ làm hết sức mình để củng cố mối quan hệ tin cậy lẫn nhau và dựa trên sự hiểu biết từ trái tim đến trái tim với các nước này, mở rộng sự hợp tác trong các lĩnh vực kinh
tế, chính trị và cả trong các lĩnh vực văn hóa và xã hội; Thứ ba, Nhật Bản sẽ
là một đối tác bình đẳng với ASEAN và các nước thành viên của họ và hợp tác tích cực với các nước này phù hợp với khả năng của mình nhằm củng cố
sự đoàn kết các mối quan hệ đặc biệt của nước này, cùng với các quốc gia khác bên ngoài khu vực, xây dựng một quan hệ hiểu biết lẫn nhau với các quốc gia Đông Dương và như vậy sẽ đóng góp vào việc thiết lập hòa bình và thịnh vượng trong toàn khu vực Đông Nam Á”
Trong lịch sử, đây là lần đầu tiên chính sách đối ngoại với Đông Nam Á của Nhật được tuyên bố công khai như vậy Do đó, đường hướng chính sách của Nhật đối với khu vực cũng trở nên rõ ràng hơn và vai trò của Nhật cũng
nổi bật hơn Nội dung học thuyết Fukuda gồm hai ý chính Thứ nhất, Nhật
Bản muốn đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á hơn nữa
Thứ hai, Nhật Bản muốn trở thành cầu nối giữa ASEAN và Đông Dương, tạo
môi trường ổn định ở đây Chính sách đối ngoại trên thể hiện sự quan tâm và thiện chí giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần của Nhật Bản đối với các nước ASEAN nên được coi là một học thuyết trọn vẹn và mới mẻ của Nhật Bản
Trang 39thời gian đó Về sau, khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, mối quan tâm đối với khu vực Đông Nam Á ngày càng lớn hơn thì học thuyết Fukuda cũng được bổ sung và phát triển qua các học thuyết quan trọng của các Thủ tướng khác như Kaifu (1990), Hashimoto (1997), Obuchi (1998) và Koizumi (2001) Bởi vậy, mối quan hệ hợp tác Nhật Bản – ASEAN ngày càng được củng cố và phát triển mạnh mẽ trên mọi mặt thông qua FDI, ODA và trao đổi thương mại Thực tế trên cũng chứng tỏ chính sách kinh tế đối ngoại hướng về châu Á của Nhật Bản trước đây là đúng đắn và hợp lý
Trong lĩnh vực đầu tư, từ năm 1951 đến 1984, FDI của Nhật ở các nước ASEAN đạt 12,6 tỷ USD, chiếm 17,7% tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản Lượng FDI của Nhật vào ASEAN thời gian này không ổn định, có
xu hướng giảm dần Nhưng từ nửa sau những năm 1980, FDI của Nhật vào ASEAN bắt đầu tăng và góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các nước này Năm 1986, lượng FDI của Nhật vào khu vực Đông Nam Á chỉ
là 15 tỷ USD thì đến năm 1989 đã tăng lên 25 tỷ USD Trong giai đoạn
1985 – 1992, lượng FDI của Nhật ở ASEAN đã tăng 313%
Bước sang thập kỷ 90, lượng FDI của Nhật vào các nước ASEAN tiếp tục gia tăng mạnh mẽ Trong vòng 3 năm, từ 1990 đến 1993, lượng FDI của Nhật Bản vào khu vực này đã tăng từ 7,8% lên 11,33% Năm 1994, tổng số đầu tư trên đã lên tới 5,13 tỷ USD Con số này tương đương với 12,5% tổng đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản và 54% đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại châu Á
Trang 40Bảng 1.3 FDI của Nhật Bản vào các nước thành viên ASEAN
1990 – 1995
(Đơn vị: triệu USD)
Nước/Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995
Inđônêxia 1.105 1.193 1.676 813 1.759 1.596 Philippin 258 203 160 207 668 718 Malaixia 725 880 704 800 742 573 Thái Lan 1.154 807 657 578 719 1.224 Xingapo 840 613 670 644 1.054 1.152 Tổng 4.082 3.696 3.867 3.042 4.942 5.263
% thay đổi +7,8 +8,8 +11,333 +7,9 +10,4 +11,2 Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 5, 2001, Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản, tr.71 – 72
Năm 1997, lượng FDI của Nhật vào các nước ASEAN tăng 87,1% so với năm 1996 Điều này cho thấy sức hấp dẫn của khu vực ASEAN đối với các công ty của Nhật Trong giai đoạn này, Nhật Bản chủ yếu đầu tư vào khu vực chế tạo Nguyên nhân là do nền kinh tế Nhật Bản đang trong bước chuyển dịch cơ cấu, cần chuyển các cơ sở công nghệ đòi hỏi nhiều nguyên liệu ra nước ngoài Mặt khác, các nước ASEAN đang có tốc độ tăng trưởng nhanh dựa vào xuất khẩu Năm 1997, đầu tư của Nhật vào ngành chế tạo ở Malaixia chiếm 72,5%, ở Thái Lan chiếm 72,3%, ở Philippin chiếm 57,8% Tại Việt Nam cũng có 87 công ty chế tạo Nhật Bản hoạt động trong tổng số 2.000 doanh nghiệp đầu tư trong ngành công nghiệp chế tạo tại 10 nước châu Á Sau đó do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính nên vốn đầu tư của Nhật Bản vào khu vực ASEAN đã giảm Nhưng nếu tính từ năm 1995 đến 1999, Nhật Bản vẫn là nhà đầu tư lớn nhất trong khu vực ASEAN, với lượng FDI lên tới 17,88 tỷ USD Bên cạnh đó, chính phủ Nhật Bản vẫn giúp đỡ các nước Đông