Trong đó, Bộ Chính trị chỉ rõ phải: Tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc mộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ THỊ HẰNG
MÔ HÌNH TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO KHU VỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ THỊ HẰNG
MÔ HÌNH TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO KHU VỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Minh Tuấn
HÀ NỘI - 2013
Trang 3DÂN THEO KHU VỰC TRONG BỐI CẢNH CẢI CÁCH
8
1.1.3 Những nội dung của cải cách tư pháp 15 1.2 Đổi mới hệ thống Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp
19
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân 19 1.2.2 Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật hiện hành 34 1.2.3 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân 39 1.3 Cơ sở thiết lập viện kiểm sát nhân dân khu vực trong hệ thống
Viện kiểm sát nhân dân
Trang 4cấp huyện và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
2.1.4 Tiếp thu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
59
2.2 Khó khăn, thách thức của việc xây dựng mô hình Viện kiểm
sát nhân dân khu vực
63
2.2.1 Những bất cập trong việc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và sự
giám sát của Hội đồng nhân dân
2.2.4 Chưa đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thành lập Viện kiểm sát
nhân dân khu vực
71
HÌNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN KHU VỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
75
3.1 Phương hướng xây dựng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 75
3.1.2 Đảm bảo sự giám sát của Hội đồng nhân dân 78 3.1.3 Đảm bảo quyền của người dân trong việc tiếp cận Viện kiểm
sát nhân dân khu vực
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách Viện kiểm sát là một trong những nội dung quan trọng của cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng nhằm mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Đảng ta đã có một số nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và pháp luật, trong đó
có nhấn mạnh đến nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát như Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa VII); Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa VIII); Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị
"về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" Đặc biệt, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định mục tiêu xây dựng một nền
tư pháp trong sạch, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong
đó, Bộ Chính trị chỉ rõ phải:
Tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm
và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Tòa thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm… Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Trang 7Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra [16] Trên cơ sở chỉ đạo của Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ngày 28/7/2010 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận số 79-KL/TW về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra Theo đó, Ban Chấp hành Trung ương khẳng định:
Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay Tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân thành 4 cấp, phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân, gồm Viện kiểm sát nhân dân khu vực (số lượng và địa hạt tư pháp tương ứng với số lượng và địa hạt tư pháp của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực); Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao [18]
Sự cần thiết phải thành lập Viện kiểm sát nhân dân 4 cấp đã được làm rõ thông qua Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Trong đó, việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân khu vực là nội dung quan trọng nhất trong phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát vì đây là cấp trực tiếp giải quyết số lượng chủ yếu các vụ việc theo thủ tục tư pháp và đây cũng là vấn đề phức tạp, có tác động rất lớn đến hiệu quả của cải cách tư pháp trong thời gian tới
Thành lập Viện kiểm sát nhân dân khu vực thực sự là một chủ trương lớn của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi phải được quan tâm, tập trung chỉ đạo, lãnh đạo kịp thời Vấn đề cấp thiết đặt ra là tổ chức Viện kiểm sát nhân dân khu vực phải đáp ứng mục tiêu chung của việc đổi mới các cơ quan tư pháp, đó là đảm
Trang 8bảo tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và các chức danh tư pháp trong quá trình tiến hành tố tụng; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời phải đảm bảo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, là nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân
Với lý do nêu trên, học viên đã chọn đề tài "Mô hình tổ chức Viện kiểm sát nhân dân theo khu vực đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và
pháp luật Đây là vấn đề có tính thời sự, cần thiết và cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu
Nhằm góp phần hoàn thiện các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức
và hoạt động của các cơ quan tư pháp, thời gian qua Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã có nhiều chương trình trao đổi và hợp tác với các cơ quan ở các nước Pháp, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản, Trung Quốc, Canada và các tổ chức quốc tế như SIDA, JICA, UNDP về hoạt động tư pháp Trong đó có nhiều Hội nghị, Hội thảo, Tọa đàm trong và ngoài nước đã cho chúng ta một bức tranh nhiều màu sắc về tổ chức và hoạt động hệ thống cơ quan tư pháp của các nước Đây là những kinh nghiệm quý giúp chúng ta có cái nhìn bao quát về hệ thống tư pháp của các nước trên thế giới để từ đó lựa chọn một mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Những định hướng lớn về cải cách tư pháp nói riêng và cải cách bộ máy nhà nước nói chung liên tục được đề cập qua các kỳ Đại hội Đảng VI, VII, VIII và IX là nền tảng tư tưởng vững chắc cho công cuộc đổi mới tổ chức
và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp nước ta Trong những năm gần đây đã có một số công trình khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, Luận văn thạc
Trang 9sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu về hệ thống tư pháp Việt Nam có liên quan
đến Viện kiểm sát nhân dân như Đề tài khoa học cấp Bộ "Nghiên cứu những
cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của Viện Công tố ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp" năm 2006, "Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của tòa án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" năm 2006, "Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân khu vực ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo theo yêu cầu cải cách tư pháp" năm 2009; Luận văn Thạc sĩ luật học:
"Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện cải cách tư pháp", của Phạm Thị
Đào, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011; sách chuyên khảo:
"Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", của GS.TSKH Đào Trí Úc, Nxb Tư pháp, 2006; "Một số vấn đề
về Hiến pháp và bộ máy nhà nước", của GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nxb Giao thông vận tải, 2002; "Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay", của tập thể các tác giả do GS.TS Đào Trí Úc chủ biên, Nxb Khoa học
xã hội, 2002 Bên cạnh đó còn có các bài viết liên quan đến nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân được đăng trên các tạp
chí như: "Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền", của TSKH Lê Cảm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, 2002;
"Yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đối với đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp", của Nguyễn Mạnh Cường, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10, 2002; "Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp", của Phạm Hồng Hải, Tạp chí Kiểm sát, số 14, 2007; "Một vài ý kiến về việc tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân theo mô hình khu vực" của Hồ
Đức Anh, website http://www.vksndtc.gov.vn/theloai/tuphap/66.aspx
Các công trình khoa học nêu trên đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề
lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư
Trang 10pháp nước ta, phúc đáp những yêu cầu bức xúc của cuộc sống Tuy nhiên, vì các lý do khác nhau nên những công trình nghiên cứu trên chưa giải quyết một cách đầy đủ, toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nhân dân nói riêng trong điều kiện cải cách tư pháp Vấn đề tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 4 cấp trong
đó có việc xây dựng Viện kiểm sát nhân dân khu vực mới được đặt ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/07/2010 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Vì vậy, mặc dù đã có khá nhiều bài viết về vấn đề này nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và có hệ thống chính thức được công bố
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài bao gồm:
- Làm rõ bối cảnh, quan điểm và nội dung cải cách tư pháp
- Hiểu rõ thực trạng hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy, cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian qua
- Xác định cơ sở thiết lập Viện kiểm sát nhân dân khu vực trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân và tính ưu việt của mô hình này so với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hiện nay
- Chỉ ra những thuận lợi cũng như khó khăn, thách thức đối với ngành kiểm sát trong việc xây dựng mô hình Viện kiểm sát nhân dân khu vực;
- Đưa ra phương hướng và giải pháp xây dựng mô hình Viện kiểm sát nhân dân khu vực nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cải cách tư pháp ở Việt Nam và yêu cầu cải cách đối với Viện kiểm sát nhân dân
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ và
tổ chức bộ máy, cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian qua
Trang 11- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc thiết lập Viện kiểm sát nhân dân khu vực cũng như tính ưu việt của mô hình này
- Nghiên cứu những thuận lợi và khó khăn, thách thức đối với ngành kiểm sát trong việc xây dựng Viện kiểm sát nhân dân khu vực Trên cơ sở đó đưa ra một số phương hướng, giải pháp để xây dựng mô hình này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài mang tính chất lý luận và thực tiễn cao, có phạm vi nghiên cứu tương đối rộng cả về không gian, thời gian cũng như đối tượng nghiên cứu Mô hình tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 4 cấp theo yêu cầu cải cách tư pháp bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Viện kiểm sát nhân dân khu vực Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một đề tài luận văn thạc sĩ, chúng tôi xác định phạm vi của đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề pháp lý liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân khu vực bởi lẽ đây là cấp trực tiếp giải quyết số lượng chủ yếu các vụ việc theo thủ tục tư pháp và cũng là vấn đề phức tạp, có tác động rất lớn đến hiệu quả của cải cách tư pháp trong thời gian tới Trong đó, luận văn sẽ tìm hiểu những vấn đề chủ yếu của cải cách tư pháp và yêu cầu đặt ra đối với ngành kiểm sát; tổ chức
và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật hiện hành; cơ sở thiết lập Viện kiểm sát nhân dân khu vực; những thuận lợi và khó khăn, thách thức trong việc xây dựng mô hình Viện kiểm sát nhân dân khu vực, trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng có hiệu quả mô hình này
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng về từng bước hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Luận văn cũng được trình bày trên cơ sở nghiên cứu
Trang 12Hiến pháp, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Pháp lệnh Kiểm sát viên qua các thời kỳ và các văn bản pháp luật khác quy định về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp luật học so sánh và khảo sát thực tế
để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu của luận văn
6 Những đóng góp mới
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và luận cứ khoa học về bối cảnh, quan điểm, nội dung cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay Trên cơ sở tổng hợp số liệu qua nhiều nguồn xác thực, luận văn đã đánh giá đúng thực trạng tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong những năm qua và yêu cầu cải cách Viện kiểm sát nhân dân; xác định cơ sở thiết lập và tính ưu việt của mô hình Viện kiểm sát nhân dân khu vực; làm rõ những thuận lợi và khó khăn, thách thức đối với ngành kiểm sát trong việc xây dựng mô hình này Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra một số phương hướng và giải pháp khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn để xây dựng mô hình Viện kiểm sát nhân dân khu vực đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, hi vọng rằng luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, những người làm thực tiễn và công tác nghiên cứu, giảng dạy
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Yêu cầu đổi mới mô hình Viện kiểm sát nhân dân theo khu
vực trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam
Chương 2: Xây dựng mô hình Viện kiểm sát nhân dân khu vực
Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng mô hình Viện kiểm
sát nhân dân khu vực đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Trang 13Chương 1
YÊU CẦU ĐỔI MỚI MÔ HÌNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO KHU VỰC
TRONG BỐI CẢNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP
1.1.1 Bối cảnh cải cách tư pháp
Cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là quá trình đổi mới toàn diện hệ thống tư pháp với trung tâm là hoạt động xét xử nhằm mục tiêu làm cho tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ngày càng thể hiện đầy đủ, đúng đắn bản chất dân chủ, của dân, do dân, vì dân của quyền tư pháp, phù hợp với các nguyên tắc, yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường, đáp ứng ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn yêu cầu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và nhà nước Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế [24, tr 182]
Trong hơn 60 năm qua, hệ thống các cơ quan tư pháp ở nước ta đã hình thành và từng bước kiện toàn, phát triển trên nền tảng của những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ, hiện đại, ngày càng phù hợp và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thực tiễn cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Bước vào thiên niên kỷ mới, công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt đến bước phát triển mới, tạo nên những tiền đề và cũng là thách thức lớn về kinh tế, chính trị, xã hội đòi hỏi phải có những điều chỉnh lớn mang tính cải cách đối với
Trang 14thiết kế tổng thể của hệ thống tư pháp, từ chức năng, nhiệm vụ đến tổ chức, con người và hoạt động của từng cơ quan tư pháp cũng như các mối quan hệ giữa chúng
Trên phương diện quốc tế, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính và suy thoái toàn cầu vẫn còn tiếp tục tác động đến thế giới nói chung và nền kinh tế nước ta nói riêng, vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái khủng hoảng Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh
mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên Chủ trương bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thương mại quốc tế Thực tế này đã đặt ra những thách thức gay gắt đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển trong việc chủ động sử dụng các công cụ pháp lý quốc tế và các nỗ lực tập thể để nêu cao chủ quyền dân tộc, phát huy vai trò và bảo vệ lợi ích của mình Trong giai đoạn tới, các nước ASEAN sẽ hình thành cộng đồng kinh tế chung Quá trình này sẽ dẫn đến việc hình thành các nguyên tắc và chuẩn mực chung, trong đó
có các nguyên tắc, quy định pháp luật thể hiện lợi ích của cả cộng đồng
Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu và rộng vào đời sống kinh tế, chính trị quốc tế Điều này không chỉ thể hiện ở sự tham gia trực tiếp của Việt Nam vào các tổ chức quốc tế và các diễn đàn quốc tế và khu vực có tính truyền thống như Liên hợp quốc và các tổ chức thành viên của Liên hợp quốc,
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á mà còn thể hiện sự mở rộng đối với các tổ chức và diễn đàn này thông qua các diễn đàn APEC+, ASEAN+ Quá trình này làm cho hệ thống pháp luật và các thiết chế lập pháp, hành pháp, tư pháp của Việt Nam có những sửa đổi và điều chỉnh tích cực như từng bước chuyển hóa các nguyên tắc pháp lý thương mại quốc tế cơ bản như không phân biệt đối xử, công khai, minh bạch trong hoạt động ban hành pháp luật, áp dụng pháp luật, trong quy trình ra các quyết định hành chính, tư pháp Tuy nhiên, những tiền đề đó chưa đủ để vượt qua được
Trang 15những thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật và tư pháp nước ta trong những năm tiếp theo Như một số nhà nghiên cứu phân tích, những thách thức
đó là sự bất tương thích về mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động và thủ tục tố tụng tư pháp của Việt Nam so với các quy tắc và chuẩn mực chung của quốc tế; sự bất cập, lạc hậu trong nhận thức, hiểu biết và đặc biệt là kỹ năng áp dụng pháp luật của đội ngũ cán bộ tư pháp trong khi xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến quá trình hội nhập Trong khi đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức thương mại quốc tế hiện đại và kỹ năng nghiệp vụ liên quan tới hội nhập vẫn đang trong tình trạng bị động, chắp vá, hình thức, kém hiệu quả [28]
Để có thể thúc đẩy quá trình hội nhập nhanh và bền vững, việc xây dựng một nhà nước hiệu quả, có cơ cấu tổ chức phù hợp và một hệ thống pháp luật hoàn thiện, phù hợp với thông lệ chung là yêu cầu rất lớn đang đặt ra đối với đất nước ta
Sau 25 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2001-2010, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo ra sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển kinh tế đất nước Sự ổn định về chính trị - xã hội, dân trí được nâng cao, dân chủ hóa nhiều mặt đời sống xã hội, bảo đảm nhân quyền, công bằng, tiến bộ xã hội đang đòi hỏi phải phát huy vai trò của pháp luật và tư pháp Mặt khác, nhiều vấn đề văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục đặt ra nhiều thách thức lớn trong đó có vấn đề phát triển bền vững Quốc phòng và an ninh, nhất là chủ quyền và an ninh vùng biển đảo vẫn đang là thách thức lớn trong bối cảnh quốc tế hiện tại Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh "diễn biến hòa bình", lợi dụng triệt để vấn đề tự do dân chủ, tự do tôn giáo, các vấn đề về nhân quyền để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động bạo loạn, ly khai Những tội phạm có vấn đề an ninh phi truyền thống như buôn bán ma túy, cướp biển, tội phạm có tổ chức, khủng bố, nhập
cư và di cư trái phép đang ảnh hưởng đến tình hình trật tự - xã hội của đất nước Trong bối cảnh đó, việc xây dựng, củng cố hệ thống pháp luật và tư pháp có khả năng đối mặt với khó khăn, thách thức này càng cần phải được chú trọng
Trang 16Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) được tổ chức thành công có ý nghĩa trọng đại khi đất nước đang bước sang một giai đoạn phát triển mới sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới Đại hội Đảng đã thông qua Cương lĩnh phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ (sửa đổi) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 Đây là những văn kiện quan trọng định hướng cho sự phát triển đất nước trong những năm tới, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước như một khâu quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi chiến lược, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, tạo bước chuyển mạnh về cải cách hành chính
Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 12/07/2011 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về việc triển khai thực hiện chủ trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 đã đưa ra nhiều đề xuất sửa đổi quan trọng, đặc biệt là các chương về chế độ kinh tế, về tổ chức bộ máy nhà nước
Thông qua việc sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Chiến lược cải cách tư pháp và 10 năm thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính cho thấy cải cách lập pháp, hành chính và tư pháp tuy đạt được những thành tựu bước đầu đáng khích lệ, song
hệ thống pháp luật nói chung, thể chế kinh tế thị trường và thể chế về tổ chức
bộ máy nhà nước nói riêng còn rất nhiều bất cập; nhiều định hướng cải cách
tư pháp không được nhận thức và triển khai thống nhất giữa các cơ quan, cải cách hành chính chưa thực sự triệt để Đây cũng chính là khâu phải đột phá để đáp ứng các mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm tới, để pháp luật và Nhà nước pháp quyền phải thật sự vừa là môi trường thuận lợi, vừa là chủ thể thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Có thể nói, công cuộc đổi mới toàn diện đã tạo ra những tiền đề, đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn cho tiến trình cải cách tư pháp nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam
Trang 171.1.2 Các quan điểm cải cách tư pháp
Thứ nhất, cải cách tư pháp phải xuất phát từ nhu cầu và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Trong từng giai đoạn phát triển của
mình, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan tư pháp không chỉ phục vụ, tạo thuận lợi cho sự vận hành của nền kinh tế mà đồng thời phải là người lính gác bảo vệ tinh thông, nhạy bén trước những biến
cố, tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường có thể xâm hại đến trật tự công cộng [24, tr 187] Sự phát triển, hoàn thiện của hệ thống tư pháp không tách rời sự phát triển của kinh tế - xã hội và tác động ngược trở lại đối với kinh tế -
xã hội, tạo nên hệ thống công cụ pháp lý an toàn cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, các trình tự, thủ tục và phương thức, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, chức danh tư pháp phải được cải cách theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo ngăn ngừa có hiệu quả
và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức, giải quyết nhanh chóng, hợp lý, hiệu quả các tranh chấp kinh tế, dân sự trong nền kinh tế thị trường đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và quốc
tế, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội, bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, xã hội và Nhà nước
Thứ hai, cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải đảm bảo giữ vững và phát huy bản chất dân chủ,
vì con người và bảo vệ quyền con người của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp Nguyên tắc "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân" thể hiện bản
chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Mục tiêu của Nhà nước pháp quyền là bảo đảm và phát triển quyền con người, quyền công dân
Trang 18Phương thức bảo đảm quyền con người của Nhà nước pháp quyền là công nhận quyền con người, xác lập quyền công dân bằng hoạt động lập pháp, tổ chức thực thi quyền con người, quyền công dân bằng hoạt động hành pháp và bảo vệ các quyền đó bằng hoạt động tư pháp Nguyên tắc xây dựng các cơ quan tư pháp của dân, do dân, vì dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi huy động sự tham gia ngày càng rộng rãi và tích cực của nhân dân vào công tác tư pháp, bắt đầu từ quá trình xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động tư pháp đến quá trình tổ chức thực thi pháp luật trong hoạt động tư pháp Nhiều Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị) và đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhấn mạnh chủ trương nghiên cứu và đẩy mạnh xã hội hóa một số hoạt động tư pháp, bổ trợ
tư pháp như tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, thi hành án, giám định tư pháp, công chứng, kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tổ chức nghề nghiệp Thực chất đó là quá trình thu hút sức mạnh, trí tuệ, nguồn lực của nhân dân để làm thành sức mạnh của nhà nước, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở xã hội rộng rãi cho hoạt động tư pháp có hiệu lực, hiệu quả
Thứ ba, cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải được tiến hành đồng bộ với cải cách lập pháp, hành pháp theo hướng đảm bảo tính độc lập tương đối và sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực trên cơ sở quyền lực nhà nước thống nhất thuộc về nhân dân, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước
Trên cơ sở của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 2001-2010 do Đại hội Đảng IX thông qua, Nhà nước đã chọn khâu trọng tâm, đột phá trong cải cách
bộ máy nhà nước - đó là xây dựng và triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính 2001-2010 với mục tiêu xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, từng bước hiện đại hóa Kết quả bước đầu dù
Trang 19còn rất khiêm tốn của cải cách hành chính đã góp phần tạo ra những tiền đề
và yêu cầu mới đối với cải cách đồng bộ tổ chức và hoạt động lập pháp, tư pháp Trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới, Bộ Chính trị
đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (gọi tắt là Chiến lược pháp luật) và Nghị quyết về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 làm cơ sở chính trị quan trọng cho các cải cách đồng bộ của cả bộ máy nhà nước
Thứ tư, cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền phải đảm bảo tính tối cao của luật trong tổ chức và hoạt động của các
cơ quan tư pháp, đảm bảo cải cách đồng bộ cả hệ thống tư pháp với Tòa án
và hoạt động xét xử là trung tâm Đây là yêu cầu rất cơ bản của Nhà nước
pháp quyền đối với hoạt động tư pháp Tòa án - cơ quan duy nhất có quyền xét xử, quyền sử dụng và nhân danh quyền lực nhà nước để phán xét tính hợp hiến, hợp pháp của những vi phạm pháp luật, những tranh chấp pháp lý Nguyên tắc Hiến định "Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật" [35, Điều 72] khẳng định tính tối cao, quyết định của hoạt động xét xử và vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp Vì vậy, cải cách tư pháp phải đồng bộ ở tất cả các công đoạn của quy trình tố tụng và với tất cả các cơ quan, tổ chức trong hệ thống tư pháp nhằm giải quyết triệt để những bất cập hiện nay đang làm cho quy trình tố tụng bị cắt khúc, các cơ quan tư pháp biệt lập với quyền ra những quyết định tiền xét
xử (bắt tạm giữ, tạm giam ) có nhiều nguy cơ gây oan sai, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích cơ bản của công dân, làm cho Tòa án không thực sự giữ được vị trí là trung tâm của hệ thống tư pháp, là cơ quan duy nhất có quyền ra các quyết định, phán quyết động chạm đến quyền cơ bản của công dân trong quá trình tố tụng tư pháp
Thứ năm, cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp phải dựa trên việc khai thác, phát huy các giá trị văn hóa pháp luật truyền thống của Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa pháp luật thế giới trong lĩnh
Trang 20vực tư pháp nói riêng, trong tổ chức lao động quyền lực nói chung theo các nguyên tắc pháp quyền Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, một nền kinh tế phát
triển, một nền chính trị dân chủ phải đi kèm với một nền văn hóa pháp luật ở trình độ cao Phát huy các giá trị văn hóa trong hoạt động xây dựng, thực hiện pháp luật trở thành đòi hỏi có tính cấp bách, góp phần đảm bảo thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xây dựng Nhà nước pháp quyền, thì việc nhận diện và phát huy các giá trị văn hóa pháp luật trong việc xây dựng, thực hiện pháp luật trở nên vô cùng cấp thiết Mục tiêu của công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp chỉ có thể đạt được khi được tiến hành trong môi trường văn hóa dân chủ, trọng dân, trọng pháp thông qua văn hóa ứng xử của những con người, tổ chức cụ thể [24, tr 192]
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện để góp phần khẳng định những giá trị văn hóa pháp luật truyền thống, khai thác và áp dụng những kinh nghiệm, bài học quý của dân tộc và các giá trị văn hóa pháp luật của nhân loại - công bằng và nhân đạo, dân chủ và pháp chế [3] phải trở thành một quan điểm xuyên suốt quá trình cải cách tư pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong điều kiện hội nhập quốc tế
1.1.3 Những nội dung của cải cách tư pháp
Dựa trên các nguyên tắc và yêu cầu cải cách tư pháp, những nội dung cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải được thiết kế và thực hiện trên cả ba yếu tố hợp thành của hệ thống
tư pháp, đó là các thể chế, các thiết chế và các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, cụ thể như sau:
Trang 21Thứ nhất, hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự
và tố tụng tư pháp Trong đó, hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự theo
hướng đề cao tính nhân đạo trong xử lý tội phạm như sử dụng biện pháp xử lý hành chính hay các biện pháp khác đối với một số hành vi kinh doanh trái phép, vô ý gây thiệt hại đến tài sản ; giảm áp dụng hình phạt tù và tăng áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ đối với các tội phạm về môi trường, các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính; áp dụng hạn chế hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Hoàn thiện chính sách, pháp luật dân sự theo hướng phải xác định rõ, cụ thể quyền và nghĩa vụ về tài sản của Nhà nước, cá nhân, tổ chức; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chế định sở hữu, quyền tự do kinh doanh, hợp đồng; xây dựng và hoàn thiện chế định bồi thường và bồi hoàn, nhất là việc bồi thường của nhà nước cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do lỗi của nhân viên trong các cơ quan nhà nước Hoàn thiện tố tụng tư pháp, trong đó hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự theo hướng mở rộng quyền hạn cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán để họ chủ động thực thi nhiệm
vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi
và quyết định tố tụng của mình; hoàn thiện các quy định về pháp luật tố tụng dân sự theo hướng đề cao trách nhiệm và quyền tự định đoạt, chứng minh của các đương sự trong việc giải quyết các tranh chấp và yêu cầu của họ trước Tòa án; các quy định về tố tụng hành chính cần mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính tạo thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân với cơ quan nhà nước trước Tòa án
Thứ hai, cải cách tổ chức và hoạt động của Tòa án, trong đó mở rộng
thẩm quyền xét xử chung của Tòa án; phân định lại thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp theo hướng đảm bảo Tòa án mỗi cấp chủ yếu thực hiện một thẩm quyền xét xử - sơ thẩm hoặc phúc thẩm, hạn chế đi đến chấm dứt tình trạng một Tòa án thực hiện cả thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám
Trang 22đốc thẩm; tổ chức hệ thống Tòa án theo nguyên tắc hai cấp xét xử, không phụ thuộc vào địa giới hành chính; nâng cao tính độc lập nghiêm minh của hoạt động xét xử
Thứ ba, cải cách tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, theo hướng
Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay; Tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân thành 4 cấp, phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân, gồm Viện kiểm sát nhân dân khu vực (số lượng và địa hạt tư pháp tương ứng với số lượng và địa hạt tư pháp của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực); Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao Đồng thời, tăng cường năng lực và trách nhiệm độc lập của Kiểm sát viên trong việc thực hành quyền công tố theo tinh thần cải cách tư pháp
Thứ tư, cải cách tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra, trong đó
xác định Cơ quan điều tra là một bộ phận của hệ thống hành pháp, tham gia thực hiện quyền tư pháp thông qua vai trò hỗ trợ, phục vụ cho chức năng công
tố của Viện kiểm sát; trước mắt cơ quan điều tra vẫn được giữ nguyên như hiện nay [18] Cùng với việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan điều tra, cần nghiên cứu để sớm xây dựng chế định pháp lý về các chức danh Điều tra viên, Thủ trưởng Cơ quan điều tra theo hướng nâng cao quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên đối với kết quả điều tra Theo
đó, quy định cụ thể tiêu chuẩn về đạo đức, phẩm chất chính trị, trình độ pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của các chức danh này Đồng thời, xác định rõ chế độ đãi ngộ, cách thức tuyển chọn, bổ nhiệm, bãi nhiệm các chức danh, từ đó xác định mô hình, chương trình đào tạo phù hợp
Thứ năm, cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan Thi hành án
Việc xây dựng mô hình thi hành án phải đảm bảo tính kế thừa và phát huy những ưu điểm cơ bản của mô hình hiện tại, đồng thời khắc phục triệt để
Trang 23những nhược điểm đang cản trở, làm giảm hiệu lực và hiệu quả của toàn bộ công tác thi hành án Những đổi mới cơ bản, toàn diện có tính cải cách trong lĩnh vực thi hành án không chỉ dừng ở mô hình quản lý Nhà nước về thi hành
án mà còn là hình thức tổ chức, quyền và nghĩa vụ tương ứng của từng cơ quan, từng chức danh được giao nhiệm vụ trực tiếp thi hành án
Thứ sáu, cải cách tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp Trong đó, cần
nhận thức lại một cách đầy đủ và đúng đắn về vị trí của các hoạt động bổ trợ
tư pháp Đây chính là một thiết chế xã hội - nghề nghiệp đặc biệt mà thông qua đó, nhân dân có khả năng tự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do tính chất đặc biệt của bổ trợ tư pháp, tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp cần được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, đó là các đạo luật Đồng thời, nâng cao tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, độc lập chịu trách nhiệm của đội ngũ chức danh bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng viên, giám định viên) - yêu cầu có tính quyết định đối với chất lượng hoạt động của các tổ chức bổ trợ tư pháp Ngoài ra, đổi mới nội dung và phương thức quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp theo hướng kết hợp chặt chẽ quản lý nhà nước với tự quản của các hiệp hội nghề nghiệp
Thứ bảy, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh
Theo các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với hệ thống
tư pháp, cần xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh, tính chuyên nghiệp cao, có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng và đạo đức nghề nghiệp chuẩn mực theo hướng tiêu chuẩn hóa cụ thể đối với từng loại cán bộ về chính trị, đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm
xã hội Trên cơ sở các tiêu chuẩn mang tính nguyên tắc đó, xây dựng chương trình đào tạo chung về những kiến thức cơ bản, sau đó đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ cụ thể của từng lĩnh vực Chương trình đào tạo phải theo hướng đào tạo nghề, tăng cường bồi dưỡng ngắn ngày bắt buộc theo định kỳ cho cán
bộ tư pháp trong quá trình làm việc Xác định chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối
Trang 24với đội ngũ cán bộ tư pháp, tôn vinh cán bộ tư pháp giỏi, lập nhiều thành tích trong hoạt động tư pháp
1.2 ĐỔI MỚI HỆ THỐNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội thông qua ngày 31/12/1959 lần đầu tiên trong lịch sử Hiến pháp nước ta quy định chế định về Viện kiểm sát nhân dân Kể từ ngày đó, cơ quan Viện kiểm sát nhân dân chính thức được thành lập trong bộ máy nhà nước
Tuy nhiên, nói đến Viện kiểm sát nhân dân, không thể không đề cập đến cơ quan công tố trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ vào những năm đầu thiết lập chính quyền mới (1945 - 1959) mà những kinh nghiệm của cơ quan này đã được Viện kiểm sát nhân dân kế thừa cả về phương diện tổ chức cũng như hoạt động Chính vì vậy, khi khảo cứu về quá trình phát triển của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta, sẽ là thiếu sót nếu chúng ta bỏ qua việc nghiên cứu lịch sử cơ quan công tố từ năm 1945 đến năm 1959
* Từ năm 1945 đến năm 1959
Ngày 13/09/1945, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước ta đã ra Sắc lệnh thiết lập các Tòa án quân sự Cách mạng, trong đó quy định việc đứng buộc tội tại các Tòa án này là các Ủy viên quân sự Sau đó, theo các Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946, Sắc lệnh số 51 ngày 17/04/1946, Sắc lệnh số 131 ngày 20/07/1946, hệ thống các viên chức
và cơ quan công tố nằm trong hệ thống Tòa án các cấp Ở Tòa sơ cấp (cấp quận, huyện) thẩm phán làm cả việc xét xử và công tố Ở Tòa án đệ nhị cấp (tỉnh và thành phố) thẩm phán được chia làm hai loại: thẩm phán xử án và thẩm phán buộc tội Ở Tòa án thượng thẩm (Tòa án tổ chức ở ba khu vực Bắc - Trung và Nam) có Công tố viện do Chưởng lý đứng đầu và các cán bộ làm công tác
Trang 25công tố chuyên trách với các chức danh như Biện lý, Phó biện lý Họ được quyền làm các nhiệm vụ tư pháp cảnh sát, thực hiện sự buộc tội của Nhà nước, thực hiện giám sát công tác điều tra của tư pháp cảnh sát và "có quyền yêu cầu Tòa án thi hành mọi phương sách cần thiết để làm sáng tỏ sự thật" [6]
Đến năm 1950, Nhà nước ta thực hiện cải cách bộ máy tư pháp với việc ban hành Sắc lệnh số 85 ngày 22/05/1950; Thông tư số 21-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 07/06/1950; Thông tư liên bộ số 18 ngày 08/06/1950 của Bộ Kinh tế và Bộ Tư pháp Theo quy định tại các văn bản này thì việc thực thi hoạt động công tố có 2 điểm đổi mới quan trọng:
Một là, về mặt tổ chức, Ủy ban hành chính kháng chiến các cấp điều
khiển công tố viên trong địa hạt của mình; Ủy ban hành chính kháng chiến có thể ra mệnh lệnh cho công tố viên về đường lối công tố cũng như những mệnh lệnh về các vụ việc cụ thể
Hai là, Nhà nước ta mở rộng thẩm quyền cho công tố viên bằng cách
quy định công tố viên được quyền kháng cáo những vụ án dân sự Về điểm này, tờ trình Sắc lệnh số 85 ngày 25/05/1950 khẳng định đây là một sự thay đổi căn bản so với quan niệm xưa cho rằng những việc hộ (dân sự) chỉ là việc của tư nhân, xã hội không can thiệp, nay công tố viên thực hiện quyền công tố
có quyền thực hành can thiệp đó
Năm 1958, cơ quan công tố lại được cải cách và đổi mới trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa I kỳ họp thứ
8 ngày 29/04/1958 và các Nghị định số 256 ngày 01/07/1959, Nghị định số
321 ngày 27/08/1959 Theo các văn bản này, bộ máy Viện công tố được hình thành thành một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập, được tổ chức từ trung ương đến địa phương Cơ quan cao nhất là Viện công tố trung ương trực thuộc Thủ tướng Chính phủ; cấp thứ hai là Viện Công tố phúc thẩm được tổ chức tại các khu vực Hà Nội, Hải Phòng, Việt Bắc, Tây Bắc Cấp tiếp theo là Viện công tố tỉnh đến các huyện, thị Hệ thống Viện công tố được mở rộng
Trang 26thẩm quyền, vừa thực hành quyền công tố vừa giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc điều tra, xét xử, chấp hành án, giam giữ cải tạo và tham gia các
vụ án dân sự quan trọng đến lợi ích của Nhà nước và xã hội [9]
Như vậy trong giai đoạn 15 năm (1945 - 1959) Viện công tố đã có ba giai đoạn phát triển: 1945 - 1946; 1946 - 1950 và 1950 - 1958 Mô hình tổ chức cũng như thẩm quyền của Viện công tố vào thời điểm năm 1958 là một bước quá độ rất cần thiết để xây dựng hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta sau này
* Từ năm 1959 đến năm 1980
Xây dựng cơ quan Viện kiểm sát là thực hiện một yêu cầu khách quan trong giai đoạn miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa theo mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đúng như tờ trình Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 đã nêu rõ: nhu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi sự nhất trí về mục đích và hành động trong nhân dân, giữa nhân dân và Nhà nước, cũng như giữa các ngành hoạt động nhà nước với nhau Nếu không đạt được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp luật thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn Vì lẽ trên phải tổ chức ra Viện kiểm sát để kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Trong Đề cương Báo cáo về Hiến pháp sửa đổi trình Trung ương Đảng năm 1959 [13], Ban soạn thảo Hiến pháp giải thích rằng, Viện kiểm sát nhân dân được thành lập theo Hiến pháp năm 1959 khác về chất so với hệ thống cơ quan công tố trước đây, cụ thể là:
- Viện kiểm sát nhân dân được thành lập thành một hệ thống riêng biệt, không thuộc về Bộ Tư pháp hay Chính phủ mà trực thuộc Quốc hội
Trang 27- Viện Công tố chỉ làm việc công tố ở trước Tòa, mà Viện kiểm sát thì còn làm việc kiểm sát chung, tức là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các
cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân
- Viện kiểm sát nhân dân chỉ chịu sự lãnh đạo của ngành dọc chứ không chịu sự lãnh đạo ngang của cơ quan chính quyền đồng cấp
- Viện trưởng Viện kiểm sát và kiểm sát viên địa phương đều do cấp trên bổ nhiệm, chứ không do Hội đồng nhân dân bầu
Theo giải trình của Ban soạn thảo thì đây là nội dung mà Hiến pháp của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ đều quy định
Những tinh thần trên đã được ghi nhận vào trong Hiến pháp năm
1959 Cụ thể, Hiến pháp năm 1959 quy định:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên
cơ quan nhà nước và công dân Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi
do luật định [31, Điều 105]
Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 05 năm
Tổ chức của các Viện kiểm sát nhân dân do luật định (Điều 106) Viện kiểm sát nhân dân các cấp chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên
và sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 107) Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Điều 108)
Cụ thể hóa các quy định về Viện kiểm sát trong Hiến pháp năm 1959, ngày 15/07/1960, Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát đầu tiên
Trang 28trong lịch sử Theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm có: (1) Viện kiểm sát nhân dân tối cao, (2) các Viện kiểm sát nhân dân địa phương (tức là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và Viện kiểm sát các khu tự trị), (3) các Viện kiểm sát quân sự [32, Điều 4]
Theo Hiến pháp năm 1959 cũng như Luật Tổ chức Viện kiểm sát năm
1960, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước (cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương), nhân viên nhà nước và công dân trở thành chức năng chủ yếu của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân Như vậy, chức năng của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được mở rộng rất nhiều so với chức năng của Viện Công tố trước đây Viện kiểm sát không chỉ thực hiện việc truy tố người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự trước Tòa án mà còn có quyền chủ động tiến hành các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước và công dân Mục đích của việc kiểm sát không chỉ là truy tố người có hành vi phạm tội mà còn hướng tới mục đích cao và rộng hơn rất nhiều đó là "làm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững, bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân " [32, Điều 2]
Để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân các cấp được giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động sau:
1 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và niện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước địa phương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước và của công dân
2 Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự
Trang 293 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của
cơ quan Công an và của cơ quan điều tra khác;
4 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của các Tòa án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án;
5 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam;
6 Khởi tố, hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân
sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân [32, Điều 3]
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 còn quy định rõ:
"Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp làm nhiệm vụ của mình một cách độc lập, các cơ quan nhà nước khác không được can thiệp" [32, Điều 6]
Về cơ cấu nhân sự, Viện kiểm sát nhân dân có Viện trưởng, một hoặc nhiều Phó Viện trưởng và các kiểm sát viên Ngoài thành phần trên đây, Viện kiểm sát nhân dân tối cao còn có một số kiểm sát viên dự khuyết Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu tự trị đều lập ra
Ủy ban kiểm sát gồm Viện trưởng, Phó Viện trưởng và một số kiểm sát viên,
để giải quyết những vấn đề quan trọng trong công tác kiểm sát, dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng [32, Điều 7]
Trên cơ sở các quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, ngày 16/04/1962, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Theo quy định của Pháp lệnh này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các kiểm sát viên và kiểm sát viên dự khuyết Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thành lập Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm
có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và một số kiểm sát viên [45, Điều 1] Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao có từ 07 đến 09 ủy viên Ủy viên
Trang 30ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận và giải quyết những vấn đề quan trọng trong công tác kiểm sát như đường lối, phương châm công tác kiểm sát; chương trình công tác của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; những dự án kháng nghị quan trọng đối với những Nghị quyết, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị và Biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và của các cơ quan nhà nước địa phương mà xét thấy không đúng pháp luật; những vấn đề thuộc về điều tra thẩm cứu, truy tố và kháng nghị bản án và quyết định của Tòa án nhân dân trong những vụ án quan trọng; những dự án luật, dự án pháp lệnh và những đề nghị giải thích pháp luật mà Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ trình Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội [45, Điều 4] Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm việc theo nguyên tắc tập thể và dân chủ dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng Trong Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng có quyền quyết định cuối cùng Khi Viện trưởng quyết định khác với ý kiến của đa số trong Ủy ban kiểm sát thì Viện trưởng sẽ báo cáo lên Ủy ban thường vụ Quốc hội xét Điều 5 Pháp lệnh này quy định: Bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có: (1) Vụ kiểm sát chung; (2) Vụ điều tra thẩm cứu; (3) Vụ kiểm sát điều tra; (4) Vụ kiểm sát xét xử hình sự; (5) Vụ kiểm sát xét
xử dân sự; (6) Vụ tổng hợp và kiểm tra; (7) Vụ tổ chức và cán bộ; (8) Văn phòng Ngoài các Vụ trên đây, có Phòng kiểm sát giam giữ trực thuộc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể thành lập một số Phòng khác trực thuộc Viện trưởng khi xét thấy cần thiết Trong lần sửa đổi Pháp lệnh này năm 1970, để tạo điều kiện cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
có thể linh hoạt hơn trong cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan, đáp ứng yêu cầu công việc, Điều 5 kể trên đã được sửa đổi thành "bộ máy làm việc và biên chế của Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao định và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn" [46]
Bằng việc ban hành Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1962, ngạch kiểm sát viên chính thức được
Trang 31thành lập Trong lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh kể trên năm 1970, ngạch kiểm sát viên được phân làm 3 loại là kiểm sát viên cao cấp, kiểm sát viên trung cấp và kiểm sát viên sơ cấp [46]
Thực hiện Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và các văn bản có liên quan, ngành kiểm sát đã nhanh chóng xây dựng tổ chức bộ máy từ Trung ương đến huyện trên phạm vi toàn miền Bắc ngay từ năm 1960 Những năm đầu thành lập, Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm cách mạng và các tội phạm nghiêm trọng khác, phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện và xử lý các vụ tội phạm gián điệp, tội phản cách mạng Trong những năm chống chiến tranh phá hoại, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân đã chú trọng đẩy mạnh hoạt động kiểm sát góp phần thực hiện chính sách hậu phương quân đội, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và vật
tư quốc phòng Đối với công tác kiểm sát chung, đây là lĩnh vực công tác còn mới mẻ, chưa có kinh nghiệm thời Viện công tố, nên Viện kiểm sát các cấp đã
có nhiều nỗ lực từ chỗ chỉ tiến hành kiểm sát các đơn vị cơ sở tiến đến việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước ngang cấp Cũng trong thời gian cuối năm 1960 và đầu năm 1970, ngành kiểm sát đã có chủ trương đúng khi tập trung tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các
cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước vì khẳng định rằng, vi phạm của những đối tượng này có tác hại lớn hơn nhiều so với các công dân bình thường vi phạm pháp luật
Viện kiểm sát cũng đã có chủ trương xây dựng Điểm pháp chế, tức là
tăng cường xây dựng và củng cố trật tự pháp luật ở cơ sở - những điểm tiên tiến tuân theo pháp luật Những kinh nghiệm về công tác kiểm sát 15 năm (1960 - 1975) đã giúp Viện kiểm sát chủ động triển khai được lực lượng cán
bộ kiểm sát, hình thành và kiện toàn sớm hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân từ năm 1976 trên phạm vi toàn quốc sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng
Trang 32* Từ năm 1980 đến năm 1992
Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân tiếp tục được khẳng định bởi Hiến pháp năm 1980 - bản Hiến pháp đầu tiên của đất nước Việt Nam thống nhất Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, nhiệm
vụ tổng quát của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân (cùng với Tòa án nhân dân) được quy định tại Điều 27 của Hiến pháp năm 1980 Theo đó, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân trong phạm vi chức năng của mình có nhiệm
vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự tôn trọng tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân
Điều 138 Hiến pháp năm 1980 quy định:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình [33]
Điều 139 Hiến pháp năm 1980 quy định "Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội" [33] Điều 140 Hiến pháp năm 1980 quy định:
Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện trưởng, các Phó Viện
Trang 33trưởng và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm và bãi miễn [33] Điều 141 Hiến pháp năm 1980 quy định: "Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước" [33]
Để cụ thể hóa các quy định trong Hiến pháp năm 1980, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm xây dựng và trưởng thành của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, ngày 04/07/1981, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân mới thay cho Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 15/07/1960, Pháp lệnh ngày 16/04/1962 và Pháp lệnh ngày 15/01/1970 quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Luật này được triển khai thực hiện trong suốt hơn 10 năm (từ năm 1981 đến năm 1991) cho tới khi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 được ban hành Trong thời gian ấy, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 được sửa đổi,
bổ sung một số điều vào năm 1988 sau khi có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa quy định trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 với Bộ luật tố tụng hình sự vừa mới được thông qua (ngày 28/06/1988)
Giai đoạn thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981 (từ
1981 đến 1991) có những điểm rất đáng chú ý Hiến pháp 1980 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 có nhiều điểm mới bổ sung trong các quy định chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm Điều 138 Hiến pháp 1980 và Điều 1 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 không những ghi rõ các đối tượng bị kiểm sát mà còn bổ sung quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố ngay trong điều luật nói về chức năng Về công tác kiểm sát chung, bên cạnh việc bổ sung các thẩm quyền mới như quyền yêu cầu các cơ quan thông báo cho Viện kiểm sát biết về các việc làm vi phạm pháp luật và kết quả xử lý, quyền yêu cầu thanh tra cùng cấp thanh tra việc vi
Trang 34phạm pháp luật và thông báo cho Viện kiểm sát biết kết quả, quyền kiến nghị
và kháng nghị ngang cấp đối với các cơ quan quản lý, Luật còn bổ sung giới hạn Viện kiểm sát nhân dân chỉ tiến hành kiểm sát khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật
- điều mà luật năm 1960 chưa quy định Trong lĩnh vực kiểm sát hình sự và kiểm sát xét xử dân sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 cũng bổ sung nhiều thẩm quyền mới cho cơ quan Viện kiểm sát như kiểm sát việc khởi tố
vụ án, hoặc Viện kiểm sát khởi tố vụ án để chuyển đến cơ quan điều tra
Thực hiện Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, trong giai đoạn từ năm 1981 - 1986, nét đáng chú ý của hoạt động kiểm sát là tăng cường hơn nữa việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hình sự và tố tụng dân sự Viện kiểm sát đã đề ra chủ trương đẩy mạnh hoạt động kiểm sát nhằm đảm bảo các quyền dân chủ của công dân trong hoạt động tư pháp, nhất là trong vấn đề bắt, giam, tha Giai đoạn từ 1987 - 1991, thực hiện các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI và lần thứ VII, ngành kiểm sát đưa ra chủ trương đẩy mạnh và tập trung vào hai lĩnh vực công tác kiểm sát là kiểm sát chung và kiểm sát điều tra các vụ án kinh tế nhằm phục vụ các chương trình kinh tế và xã hội trọng điểm của Nhà nước, góp phần vào thắng lợi của công cuộc đổi mới kinh tế và xã hội của đất nước, phát huy tính năng động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, ngăn chặn những hành vi lợi dụng danh nghĩa năng động, đổi mới để vi phạm pháp luật Thời
kỳ này nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các đạo Luật và Pháp lệnh như Luật
Tổ chức Hội đồng nhân dân, Pháp lệnh thanh tra, Pháp lệnh về xử phạt hành chính, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thi hành án dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh về tổ chức điều tra hình sự có nhiều quy định cụ thể về Viện kiểm sát, tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho
tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát đạt kết quả
* Từ năm 1992 đến nay
Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ đổi mới ở đất nước ta tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò và nhiệm vụ quan trọng của hệ thống
Trang 35Viện kiểm sát nhân dân Điều 126 Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân (cùng với Tòa án nhân dân) trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân
Điều 137 Hiến pháp năm 1992 quy định Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các
cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định Điều 138 Hiến pháp năm 1992 quy định Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Việc thành lập Ủy ban kiểm sát; những vấn đề Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền quyết định; những vấn đề quan trọng
mà Ủy ban kiểm sát phải thảo luận và quyết định theo đa số do luật định Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự các quân khu và khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Điều 139 Hiến pháp năm 1992 quy định: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước
Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước Điều 140 Hiến pháp năm 1992 quy định Viện trưởng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách
Trang 36nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân
Để cụ thể hóa các quy định trong Hiến pháp năm 1992, ngày 02/4/1992, Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 thay thế cho Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trước đó
Trong giai đoạn thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1992, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đã có một số bước đổi mới trên cơ sở những điều bổ sung trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, cụ thể như sau:
Thứ nhất, mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân địa phương và
Hội đồng nhân dân địa phương có sự đổi mới Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm báo cáo tình hình thi hành pháp luật, tình hình công tác kiểm sát ở địa phương, trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân địa phương
Thứ hai, Ủy ban kiểm sát chỉ là cơ quan tư vấn trước đây, nay được
quyền quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng của Viện kiểm sát, nhằm phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động kiểm sát
Thứ ba, đối với công tác kiểm sát chung, Luật Tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân năm 1992 nhấn mạnh công tác kiểm sát văn bản pháp quy và xác định rõ: Viện kiểm sát chỉ tiến hành trực tiếp kiểm sát khi cơ quan quản lý có
vi phạm pháp luật Trong các quy định về kiểm sát hình sự và kiểm sát xét xử dân sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 còn bổ sung các quy định về thẩm quyền cho Viện kiểm sát nhân dân như: Viện kiểm sát nhân dân giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra, phạm vi kiểm sát dân sự bao gồm từ việc kiểm sát lập hồ sơ, yêu cầu Tòa án điều tra hoặc Viện kiểm sát tự mình tiến hành điều tra
Thực hiện Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, ngành kiểm sát đã có kế hoạch công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong một
Trang 37số lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai và đã tăng cường công tác kiểm sát văn bản pháp quy góp phần củng cố pháp chế trước những đòi hỏi của tình hình đổi mới Trong công tác kiểm sát hình sự, ngành kiểm sát đã cùng với các ngành bảo vệ pháp luật tập trung đẩy mạnh hoạt động đấu tranh chống tội phạm, tham nhũng, buôn lậu và những vụ án trọng điểm, án nghiêm trọng, được dư luận đồng tình ủng hộ Trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, ngành kiểm sát đã tập trung kiểm sát việc giải quyết tranh chấp về nhà
ở, về tài sản, lao động, hôn nhân và gia đình, tăng cường công tác kiểm sát việc lập hồ sơ các vụ án dân sự sơ thẩm, số vụ có kiểm sát viên tham gia phiên tòa dân sự ngày càng tăng, phát hiện được nhiều vi phạm để kháng nghị nhằm bảo vệ tài sản và quyền lợi hợp pháp của các cơ quan nhà nước, tập thể
và công dân Tất cả những hoạt động đó góp phần củng cố vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước
Tuy vậy, trước những đòi hỏi mới của tình hình pháp chế, cũng như những yêu cầu cấp bách của công việc cải cách nền tư pháp ở nước ta, Viện kiểm sát nhân dân phải thực hiện những bước đổi mới cả về mặt tổ chức và hoạt động mới có khả năng thực thi được đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm của mình, cũng như đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động kiểm sát
Trong lần sửa đổi Hiến pháp năm 2001, vấn đề chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát được tranh luận khá sôi nổi, nhất là vấn đề chức năng kiểm sát chung của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân Kết cục, theo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 (Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001), chức năng kiểm sát chung (kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân) đã bị bãi bỏ Viện kiểm sát nhân dân được yêu cầu tập trung vào làm tốt hai công tác chính là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (các hoạt động như khởi tố, điều tra, tạm giam, tạm giữ, xét xử, thi hành án) Cụ thể, theo Nghị quyết số 51/2001/QH10, Điều 137 Hiến pháp 1992 được sửa đổi như sau:
Trang 38Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định [37]
Trên cơ sở quy định mới này, ngày 02/04/2002, Quốc hội đã ban hành Luật số 34/2002/QH10 về Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (gọi tắt là Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002) Điều 1 đạo luật này quy định rõ: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở địa phương mình Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật Điều 3 của đạo luật này còn quy định, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng những công tác sau đây:
1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra
và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
2 Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;
3 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;
4 Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
Trang 395 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản
án, quyết định của Tòa án nhân dân;
6 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù [38, Điều 3] Như vậy, so với các đạo luật về tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trước đây, chức năng kiểm sát chung, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, một số cơ quan nhà nước khác, các tổ chức và cá nhân đã chính thức không còn được ghi nhận trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
Mặc dù Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã có nhiều điểm mới quan trọng, song theo ý kiến của không ít chuyên gia thì vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân vẫn cần tiếp tục được bàn luận và nghiên cứu sâu thêm cho phù hợp với bối cảnh kinh tế, chính trị
và xã hội mới Chắc chắn, việc cải cách, đổi mới chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân các cấp sẽ còn là chủ đề được tiếp tục bàn luận nhiều trong thời gian tới đây
1.2.2 Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật hiện hành Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát có vị trí, vai trò quan trọng trong việc bảo đảm pháp chế thông qua các công tác thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được tổ chức theo đơn vị hành chính gồm có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước ở địa phương
Trang 40* Về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát
Qua tổng kết, nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố và cơ quan kiểm sát trong lịch sử nước ta và nghiên cứu kinh nghiệm
tổ chức, hoạt động công tố, kiểm sát của các nước trên thế giới cho thấy:
Ở nước ta, cơ quan Viện kiểm sát thuộc hệ thống các cơ quan tư pháp,
là một thiết chế đặc thù trong tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Từ năm 1945 đến nay, việc xác định vị trí của cơ quan công tố, cơ quan kiểm sát trong bộ máy nhà nước ta luôn luôn thể hiện xu hướng khẳng định sự độc lập của hệ thống cơ quan này Từ khi thành lập, Viện kiểm sát nhân dân luôn là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thực tiễn khẳng định tổ chức Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập, thống nhất từ trung ương đến địa phương
Ở một số nước có nền kinh tế chuyển đổi như Trung Quốc, Liên bang Nga, Viện kiểm sát là hệ thống cơ quan độc lập Ở Trung Quốc, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra
và chịu trách nhiệm trước cơ quan này Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Tại Liên bang Nga, Tổng kiểm sát trưởng do Hội đồng liên bang (giống Thượng nghị viện) bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Viện kiểm sát Liên bang Nga được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất