Lê Hữu Thể, Viện Nghiên cứu khoa học Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao: "Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi - 2009
Trang 2HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG CẢI CÁCH TƢ PHÁP
1.2 Những yêu cầu đặt ra trong tiến trình cải cách tư pháp liên quan đến
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
28
1.2.1 Những yêu cầu về đổi mới bộ máy tổ chức các cơ quan tư pháp nói
chung và Cơ quan Viện kiểm sát nói riêng liên quan đến Kiểm sát viên
28
1.2.2 Những yêu cầu về tố chất bên trong Kiểm sát viên đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp hiện nay khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
của mình
33
TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
37
2.1 Khái quát về hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân và tình hình
chung về đội ngũ Kiểm sát viên của Viện kiểm sát ở giai đoạn hiện nay
37
2.2 Tình hình Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố, kiểm sát điều 40
Trang 3tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm
2.2.1 Những kết quả đạt được trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của Kiểm sát viên
40
2.2.2 Những tồn tại, thiếu sót trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của Kiểm sát viên
51
2.2.3 Những nguyên nhân gây nên những tồn tại, thiếu sót trong thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
65
HẠN CHO KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ
80
3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tăng quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm
sát viên trong hoạt động tố tụng hình sự
81
3.2 Bồi dưỡng, đào tạo, bổ sung những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ liên
quan đến tăng quyền hạn, trách nhiệm cho Kiểm sát viên
86
3.3 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc thực hiện quyền hạn, trách
nhiệm của đội ngũ Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng
88
3.4 Tăng cường trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện công tác đối với
đội ngũ Kiểm sát viên
89
3.5 Hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng nói chung và của Viện kiểm sát nói riêng
90
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1 Số lượng án hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân các cấp
trên toàn quốc đã thụ lý và giải quyết
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Viện kiểm sát, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố
Tuy nhiên, người thực hiện chức năng của Viện kiểm sát chính là Kiểm sát viên Hay nói cách khác, những thành công cũng như những thất bại của Viện kiểm sát trong thực hiện chức năng của mình đều phụ thuộc vào thái độ, trách nhiệm, năng lực, trình độ, phẩm chất, đạo đức… của Kiểm sát viên Chính vì vậy, Kiểm sát viên giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ quan Viện kiểm sát các cấp
Nếu so sánh với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và các văn bản pháp luật có liên quan, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những quy định về quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát nói chung, Kiểm sát viên nói riêng đã rõ ràng hơn theo hướng từng bước tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng để giải quyết vụ án hình sự
Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Kiểm sát viên
Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên cho thấy, những quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự chưa bảo đảm được yêu cầu để Viện kiểm sát chủ động thực hiện đúng chức năng của mình trong tình hình án hình sự ngày một tăng lên và tính phức tạp ngày càng cao Đã xuất hiện nhiều vướng mắc, bất cập trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự
mà lẽ ra, đã không xảy ra nếu các Kiểm sát viên được trang bị các quyền năng pháp lý một cách đầy đủ, hoàn thiện hơn Thấy được tình hình này, trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ ra sự cần thiết phải:
Trang 6… Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật…[11]
Như vậy, vấn đề tăng thẩm quyền cho những người tiến hành tố tụng nói chung, trong đó có Kiểm sát viên là yêu cầu bức thiết đặt ra đối với những người tiến hành tố tụng nói chung và Kiểm sát viên nói riêng Điều này đặt ra
sự cần thiết nghiên cứu để đưa ra những đề xuất hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền của Kiểm sát viên Đó là lý do tại sao tác giả chọn đề
tài: "Tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng
hình sự - một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam"
làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự để đưa ra đề xuất liên quan đến tính hợp lý trong những quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên nói chung và tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Kiểm sát viên nói riêng Tuy nhiên, có một số đề tài nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này Ví dụ, đề tài khoa học cấp Bộ của TS Lê Hữu Thể, Viện Nghiên cứu khoa học Kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân tối cao: "Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị" Đây là một công trình khoa học được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu các
quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhằm luận giải cơ sở pháp lý và vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
Trang 7pháp trong giai đoạn điều tra; đánh giá khái quát thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong những năm qua nhằm phân tích tìm ra những nguyên nhân của các kết quả và những mặt còn hạn chế Qua đó tác giả đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002 Luận văn thạc sĩ luật học của Phương Lan về: "Tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa trong giải quyết các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở Hà Nội", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
(2004) Đây được coi là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở Hà Nội Nội dung nghiên cứu của luận văn tập trung vào việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận về pháp chế xã hội chủ nghĩa nói chung và pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc giải quyết vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nói riêng; đánh giá thực trạng pháp chế trong hoạt động giải quyết các vụ án hình sự của các Viện kiểm sát cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, qua đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp góp phần tăng cường pháp chế trong việc giải quyết vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả, được biết cũng chưa có bài viết nào đăng trên các tạp chí pháp lý đề cập vấn đề tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên Trong một số cuộc hội thảo khoa học do Viện kiểm sát chủ trì cũng như trong nhiều báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát hàng năm đều ghi nhận, bên cạnh những thành tích đạt được trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đội ngũ Kiểm sát viên Viện kiểm sát còn có nhiều vấn đề Ví dụ, nhận xét của Viện kiểm sát cho rằng, đội ngũ Kiểm sát viên hiện nay còn nhiều yếu kém: ý thức trách nhiệm của một bộ phận Kiểm sát viên chưa cao; năng lực, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, của nhiều Kiểm sát viên còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay; việc quản lý, chỉ đạo,
Trang 8điều hành kiểm tra của Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới chưa được quan tâm đúng mức; công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát các cấp với các cơ quan tiến hành tố tụng trong nhiều lĩnh vực còn chưa kịp thời; công tác phối hợp, chỉ đạo giải quyết án còn yếu Trong đội ngũ Kiểm sát viên còn một bộ phận sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp, nên đã
có người vi phạm kỷ luật hoặc vi phạm pháp luật đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trung bình mỗi năm có khoảng 40 đến 50 trường hợp Kiểm sát viên vi phạm pháp luật khi thực thi nhiệm vụ đến mức phải xử lý Nguyên nhân gây nên tình trạng này có nhiều, nhưng nguyên nhân cơ bản vẫn là quy định của pháp luật tố tụng hình sự chưa được đầy đủ, rõ ràng, trong khi đó, không ít Kiểm sát viên không nắm vững quy định của pháp luật nên đã mắc vào các sai phạm trong thực thi nhiệm vụ của mình Do vậy, có thể coi đây là nghiên cứu đầu tiên về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên và vấn đề tăng thẩm quyền cho họ trong thực thi nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố nhà nước trong tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta đến năm 2020
3 Mục đích, nội dung nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu đề tài này là làm rõ được những bất cập trong những quy định hiện nay về Kiểm sát viên, trên cơ sở đó đưa ra những
đề xuất về tăng thẩm quyền tố tụng cho Kiểm sát viên khi họ thực thi nhiệm
vụ của tố tụng hình sự đặt ra, liên quan đến Viện kiểm sát để họ có đầy đủ điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo
Nội dung nghiên cứu đề cập đến khái niệm, đối tượng, phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự, đi sâu phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; thực trạng tình hình thực hiện quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự; đề xuất giải pháp hoàn thiện về vấn đề này
Trang 94 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài đi sâu nghiên cứu về quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm của Kiểm sát viên thuộc cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình tiến hành
tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử Qua đó phân tích, đánh giá, liên hệ với thực tiễn, đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm luận chứng cho việc cần tăng cường và hoàn thiện các quyền năng và trách nhiệm pháp lý của Kiểm sát viên tại các giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản nêu trên nhằm hoàn thiện quyền năng pháp lý cho Kiểm sát viên khi tiến hành tố tụng hình sự
Luận văn không đề cập tới vấn đề:
- Hệ thống Viện kiểm sát quân sự;
- Các chức danh Viện trưởng, Phó Viện trưởng cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong và ngoài quá trình tiến hành tố tụng
- Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp, về mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động tố tụng hình sự, về yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền,
về cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
về yêu cầu đặt ra của quá trình cải cách tư pháp…
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, phương pháp lịch
Trang 10sử, phương pháp khảo sát thực tiễn, tham khảo ý kiến của các cán bộ tiến hành tố tụng ở các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là các Kiểm sát viên trong ngành Kiểm sát nhân dân đã có bề dày thực tiễn trong tiến hành tố tụng hình sự
6 Những đóng góp của luận văn
Có thể coi những nội dung sau đây được đề cập trong luận văn là những đóng góp cho khoa học luật tố tụng hình sự hiện nay:
- Phân tích một cách có căn cứ khoa học về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm sát viên được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan cũng như thực tế áp dụng pháp luật hiện nay; những bất cập trong các quy định này, gây nên những trở ngại cho Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự;
- Những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian tới theo tinh thần cải cách tư pháp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm
sát viên trong tố tụng hình sự và những yêu cầu đặt ra trong cải cách tư pháp
Chương 2: Tình hình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự
Chương 3: Những kiến nghị, giải pháp tăng cường quyền hạn cho
Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự
Trang 11Chương 1
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG CẢI CÁCH TƢ PHÁP
1.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1.1 Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự
Trong khoa học pháp lý nói chung, vị trí, vai trò của một chủ thể quan
hệ pháp luật (cơ quan, tổ chức, cá nhân…) được hiểu là tổng hợp các quy định của pháp luật làm cơ sở cho sự tồn tại, tổ chức, hoạt động cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể đó; làm căn cứ để phân biệt, tạo nên sự độc lập của chủ thể đó so với các chủ thể khác
Về nguyên tắc cũng như theo lôgích của vấn đề thì vị trí, vai trò của Kiểm sát viên phải thống nhất, không thể tách rời vị trí, vai trò của hệ thống
cơ quan Viện kiểm sát nhân dân nói chung Trong lĩnh vực tố tụng hình sự cũng vậy, quá trình hoạt động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân không thể triển khai tác nghiệp tập thể mà phải thông qua những cá nhân đại diện thường xuyên Những mà cá nhân này chính là những Kiểm sát viên được phân công thực hiện nhiệm vụ trong từng giai đoạn, từng công việc cụ thể thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát
Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
đã được sửa đổi, bổ sung và theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2002 thì Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất theo ngành dọc, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có vị trí độc lập
về tổ chức và hoạt động trong của bộ máy nhà nước để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp nói chung
Trang 12Trong tố tụng hình sự ở nước ta, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và của Kiểm sát viên nói riêng được ghi nhận, thể hiện trong các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành Trước hết, theo quy định của Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Viện kiểm sát là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và Kiểm sát viên là một trong những người tiến hành tố tụng Đồng thời theo quy định tại Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự thì:
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình
sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [30]
Như vậy, để Viện kiểm sát thực hiện được chức năng nhiệm vụ nêu trên, Kiểm sát viên chính là người đại diện cho Viện kiểm sát để thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự cụ thể mà Kiểm sát viên được phân công Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát về những hành vi và quyết định của mình Để hiểu rõ hơn vị trí, vai trò của Kiểm sát viên cần thiết phải thống nhất quan điểm về quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác định phạm vi quyền công tố và thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan
Trang 13trọng Giải quyết được rõ ràng, rành mạch vấn đề trên giúp cho việc nhận thức đầy đủ, chính xác vị trí, vai trò của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong
tố tụng hình sự Các tài liệu pháp lý ở nước ta hiện nay chỉ đề cập đến vấn đề
quyền công tố và cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Khái niệm thực hành quyền công tố cũng như nội dung, phạm vi, mối quan hệ giữa thực
hành quyền công tố với thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp còn ít được đề cập Một số chuyên đề gần đây ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao và một số Viện kiểm sát nhân dân địa phương khi
đề cập đến hoạt động thực hành quyền công tố cũng mới chỉ đưa ra được một
số biện pháp pháp lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hình
sự như: kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát thi hành án
Những vấn đề liên quan đến quyền công tố, thực hành quyền công tố, chúng tôi đồng ý với những quan điểm đưa ra của TS Lê Hữu Thể và TS Trần Văn Độ Theo tác giả Lê Hữu Thể:
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) Để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can
ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [32]
Và theo TS Trần Văn Độ khi đưa ra quan điểm về thực hành quyền
công tố của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân thì cho rằng: "Thực hành
quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó" [12]
Trang 14Theo Điều 137 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi thì kiểm sát các hoạt
động tư pháp là một chức năng của Viện kiểm sát Chức năng này là một
dạng giám sát nhà nước về tư pháp Đây là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước Khác với hoạt động giám sát khác của Nhà nước, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp và đương nhiên, giám sát các hoạt động tư pháp hình sự là một phần công việc thực hiện chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, mục đích của kiểm sát là nhằm bảo đảm cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất ở các quá trình điều tra, truy tố, xét xử Trong các giai đoạn tố tụng đã nêu, Viện kiểm sát áp dụng những biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan tư pháp hoặc cán bộ tư pháp nào Đối tượng của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp ở các giai đoạn tố tụng từ điều tra đến xét xử
là hành vi xử sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, của cơ quan Tòa án cùng cấp với Hội đồng xét xử tương ứng với nó, của những cá nhân tiến hành tố tụng như Điều tra viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân, Thư ký Tòa án, của những cá nhân
và tổ chức khác khi tham gia tố tụng hình sự Cụ thể hơn, đối tượng kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự của Viện kiểm sát chủ yếu tập trung vào hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thẩm
quyền thực hiện một số hoạt động tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự
Theo các quy chế hiện hành do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành về công tác kiểm sát điều tra, xét xử đang được áp dụng cho toàn ngành kiểm sát, cũng như theo kết quả các công trình nghiên cứu về khoa học công tác kiểm sát thì phạm vi của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự bắt đầu từ khi vụ án hình sự được khởi tố (một số trường hợp có thể được tiến hành trước khi khởi tố như việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ v.v…) và kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án
Trang 15Như vậy, để quyền công tố và thực hành quyền công tố có hiệu quả cũng như kiểm sát hoạt động tư pháp một cách hữu hiệu, ngăn chặn và khắc phục kịp thời những sai sót trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất Những kết quả đã đạt được trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, giải quyết vụ án hình sự nói riêng (như thực hiện quyền kiểm sát việc khởi tố vụ án, phê chuẩn việc khởi tố bị can, đảm bảo tính căn cứ và hợp pháp của các quyết định khởi tố, truy tố; từ chối không phê chuẩn các quyết định khởi
tố bị can, hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án và quyết định không khởi tố vụ án không có căn cứ, từ chối phê chuẩn việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra; đưa ra các kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm v.v… đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong hoạt động tố tụng hình sự, xóa được mặc cảm của xã hội cho rằng, việc làm của Viện kiểm sát là hợp thức hóa các hoạt động điều tra, xét xử v.v…), cũng như những sai lầm mắc phải của Viện kiểm sát (như một số Kiểm sát viên chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án liên quan đến khởi tố vụ án và phê chuẩn quyết định khởi tố bị can nên không phát hiện được hồ sơ còn thiếu những chứng cứ quan trọng hoặc có vi phạm thủ tục tố tụng; năng lực chuyên môn của không ít Kiểm sát viên còn yếu, rất lúng túng khi
áp dụng pháp luật vào từng vụ án cụ thể; chất lượng các văn bản pháp lý chưa cao, như việc buộc tội bị can trong Bản cáo trạng còn chưa chặt chẽ, thiếu tính thuyết phục, có trường hợp viện dẫn điều khoản áp dụng chưa chính xác v.v…) đều bắt nguồn từ những việc làm của Kiểm sát viên Từ điều này cho thấy, Kiểm sát viên giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong tố tụng hình sự
1.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự
Theo quy định của Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ và quyền hạn: kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập
Trang 16hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra; đề ra yêu cầu điều tra; triệu tập và hỏi cung
bị can, triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam; tham gia phiên tòa; đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra chứng cứ
và thực hiện việc luận tội; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên tòa; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án, của những người tham gia tố tụng
và kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án; kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của tòa án; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát Khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
và trước Viện trưởng Viện kiểm sát về những hành vi và quyết định của mình
Nghiên cứu toàn bộ Bộ luật tố tụng hình sự cho thấy, đây là điều luật duy nhất quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Kiểm sát viên Tuy nhiên, trong Bộ luật tố tụng hình sự (các điều 112, 113) cũng như trong Luật
tổ chức Viện kiểm sát (các điều 17, 18, 19), mặc dù không nêu rõ về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Kiểm sát viên, nhưng những quy định về Viện kiểm sát cũng có nghĩa nêu về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Kiểm sát viên vì đại diện cho Viện kiểm sát chính là Kiểm sát viên Ví dụ, Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra: khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật này; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của Bộ luật này; nếu hành vi của Điều tra viên có
Trang 17dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này Trong trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do; hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can; quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Hoặc Điều 113 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra: khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp
về thẩm quyền điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra; kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
Như vậy, các Điều 112, 113 Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn chung của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân với tư cách
là một cơ quan tiến hành tố tụng Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát phải thông qua các Kiểm sát viên với tư cách là người tiến hành tố tụng trong các giai đoạn tố tụng hình sự Đến lượt mình, các Kiểm sát viên lại được trang bị các quyền hạn và giao nhiệm vụ cụ thể theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự Như vậy, mối quan hệ giữa vấn
đề nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan Viện kiểm sát và vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng đồng thời có sự liên quan chi phối chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình vận hành tố tụng
Trang 18Theo như cách hiểu thông thường về các khái niệm "nhiệm vụ",
"quyền hạn" thì nhiệm vụ là một hay nhiều công việc mà người thực hiện nó phải tiến hành do có sự giao phó của tổ chức hoặc cá nhân khác và tùy theo mức độ hoàn thành nó để lấy căn cứ xác định hoàn thành hay không hoàn thành nhiệm vụ Còn "quyền hạn" là khả năng và phạm vi của một chủ thể được thực hiện hay không thực hiện một hay nhiều hành vi hoặc công việc cụ thể nào đó trong khi thực hiện nhiệm vụ Như vậy, giữa hai phạm trù nêu trên
có sự khác biệt rõ ràng Tuy nhiên, trong hệ thống văn bản pháp luật nói chung và trong Bộ luật tố tụng hình sự nói riêng, sự phân biệt giữa nhiệm vụ
và quyền hạn của các chủ thể nói chung và của Kiểm sát viên nói riêng chỉ có
ý nghĩa tương đối Trong Bộ luật tố tụng hình sự, quyền hạn đi đôi với nhiệm
vụ và gắn liền với trách nhiệm chỉ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, Kiểm sát viên mới được sử dụng quyền hạn do luật định và ngược lại chỉ được sử dụng quyền hạn mà luật cho phép đối với những nhiệm vụ được giao hoặc nhiệm vụ được luật quy định Chính vì vậy, khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự không quy định tách bạch vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên mà quy định chung các hoạt động tác nghiệp thuộc về các lĩnh vực trên Trong quá trình này Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự như đã nêu ở trên Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể của Kiểm sát viên tập trung vào:
Thứ nhất, kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và
việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra
Kiểm sát việc khởi tố bao gồm kiểm sát việc khởi tố hoặc không khởi
tố vụ án hình sự và kiểm sát khởi tố bị can Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình
sự là hoạt động kiểm tra, xem xét tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố Khi được phân công kiểm sát việc khởi tố, Kiểm sát viên phải kiểm tra quyết định khởi tố vụ án hình sự và toàn bộ những chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để cơ quan điều tra hoặc các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Việc khởi tố vụ án hình
Trang 19sự chỉ được coi là có căn cứ khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm phải dựa trên những cơ sở được quy định tại Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự
Việc khởi tố vụ án ngoài tính có căn cứ như đã nêu còn phải đảm bảo tính hợp pháp, cụ thể là, quyết định khởi tố vụ án phải do cơ quan điều tra và thủ trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban hành hoặc do Viện kiểm sát hay hội đồng xét xử ban hành trong những trường hợp cụ thể theo quy định của Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự Đối với những vụ án về các tội được quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105,
106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131, 171 Bộ luật hình sự, chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Ngoài ra, quyết định khởi tố vụ án hình sự được coi là đảm bảo tính hợp pháp khi tuân thủ về mặt hình thức theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự Đồng thời qua kiểm tra xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, Kiểm sát viên xác định không xuất hiện một trong bảy căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự
Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của Kiểm sát viên còn bao hàm cả việc kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi
tố vụ án hình sự của những người có thẩm quyền khởi tố chỉ được coi là hợp pháp, có căn cứ khi có một trong bảy căn cứ quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự
Khi được phân công, trong và sau khi kiểm tra quyết định khởi tố cũng như những chứng cứ, tài liệu làm căn cứ cho việc khởi tố, Kiểm sát viên
có quyền yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ để làm rõ căn cứ của việc khởi tố vụ án hình sự, báo cáo và đề xuất Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án nếu các quyết định đó không có căn cứ, trái pháp
Trang 20luật Kiểm sát viên có quyền báo cáo, đề xuất Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu quyết định đó không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác Sau khi đã yêu cầu mà cơ quan điều tra không thực hiện thì báo cáo để Viện trưởng, Phó Viện trưởng trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự và gửi các quyết định đó cho cơ quan điều tra để tiến hành điều tra
Đối với quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố đó để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát để hoặc là chấp thuận và chuyển cho cơ quan điều tra tiến hành điều tra, hoặc là không chấp thuận và kháng nghị lên Tòa án cấp trên
Đối với hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can theo quy định của Điều 126
Bộ luật tố tụng hình sự Khởi tố bị can là một sự kiện tố tụng rất quan trọng
và có ý nghĩa bước ngoặt trong việc giải quyết vụ án hình sự Khởi tố bị can trực tiếp ảnh hưởng ở các mức độ nhất định tới quyền tự do, sinh mạng chính trị, uy tín và danh dự của một con người cụ thể Khởi tố bị can thường đi liền hoặc ngay trước khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, cấm đi khỏi nơi
cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình
sự đối với người bị khởi tố Khởi tố bị can đúng, chính xác là tiền đề cho việc giải quyết vụ án, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Ngược lại khởi tố bị can không đúng, không chính xác sẽ dẫn đến tình trạng oan hoặc bỏ lọt tội phạm, đồng thời kéo theo một loạt các hậu quả xấu khác Với ý nghĩa quan trọng như vậy nên lần đầu tiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát phê chuẩn mới có hiệu lực và giá trị pháp lý (Bộ luật tố tụng hình sự năm
1988 không có quy định này) Điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định như trên cho thấy, việc khởi tố bị can đúng đắn, chính xác hay khởi tố oan người vô tội không còn là trách nhiệm riêng của cơ quan điều tra Trọng
Trang 21trách này, theo tinh thần của luật đã được giao cho cơ quan Viện kiểm sát Kiểm sát viên được phân công là người có nhiệm vụ giúp Viện kiểm sát hoàn thành trọng trách này Khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố bị can, Kiểm sát viên phải kiểm tra xem xét toàn bộ hệ thống chứng
cứ đã có mà cơ quan điều tra đã thu thập được Kiểm sát viên phải sử dụng đồng thời nhiều kiến thức pháp luật hình sự trong quá trình này như, phải kiểm tra xem các tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập có đáp ứng các thuộc tính như tính khách quan, tính liên quan, tính hợp pháp Để được coi là chứng cứ theo quy định tại Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự hay không? phải phân tích, tổng hợp và đánh giá chứng cứ để xác định chứng cứ đã đáp ứng yêu cầu cần và đủ trong việc chứng minh một con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hay chưa Đồng thời với quá trình này, Kiểm sát viên phải xác định được vấn đề năng lực trách nhiệm hình sự, độ tuổi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng như hoàn chỉnh các bước định tội danh Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, kiểm tra cũng như báo cáo của Kiểm sát viên, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát mới có thể quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra, hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra nếu quyết định đó không có căn cứ, trái pháp luật, hoặc yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung tài liệu làm rõ căn cứ của việc khởi tố, hoặc yêu cầu cơ quan điều tra thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can
Đối với việc kiểm sát các hoạt động điều tra và kiểm sát việc lập hồ sơ
vụ án của cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải đảm bảo các hoạt động điều tra của cơ quan điều tra được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Các hoạt động điều tra đó bao gồm khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lấy lời khai người làm chứng, triệu tập và lấy lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án, hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, trưng cầu giám định v.v… không phải đối
Trang 22với bất kỳ vụ án nào cũng phải tiến hành đầy đủ các hoạt động điều tra này
mà tùy từng yêu cầu khách quan của mỗi vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành các nhóm hoạt động điều tra khác nhau Ngoài việc bảo đảm các hoạt động điều tra phải tuân thủ đúng quy định của các điều từ Điều 131 đến Điều 159
Bộ luật tố tụng hình sự, Kiểm sát viên phải đảm bảo kết quả các hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu của Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự về "những vấn
đề phải chứng minh trong vụ án hình sự"
Ngoài ra trong việc kiểm sát các hoạt động điều tra, Kiểm sát viên còn
có nhiệm vụ kiểm tra xem xét đảm bảo việc tuân thủ các quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự ở các thủ tục khác như: kiểm sát việc thực hiện để đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, kiểm sát việc nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra; việc ủy thác điều tra (theo Điều
62, 117, 118 Bộ luật tố tụng hình sự); kiểm sát việc chấp hành thời hạn điều tra, phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại quy định tại Điều 119, 121
Bộ luật tố tụng hình sự; kiểm sát để xác định tư cách tiến hành tố tụng của Điều tra viên nhằm đảm bảo điều tra viên tiến hành tố tụng trong vụ án không thuộc các trường hợp phải bị thay đổi quy định tại các Điều 42 và khoản 1 Điều 44 Bộ luật tố tụng hình sự
Về kiểm sát việc lập hồ sơ của cơ quan điều tra, Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 chỉ quy định việc lập hồ sơ vụ án hình sự là một nhiệm vụ của Điều tra viên (điểm a khoản 1 Điều 35) chứ không quy định cụ thể việc lập hồ
sơ như thế nào Việc lập hồ sơ vụ án hình sự của Điều tra viên được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ công an (Hướng dẫn số 3821/C27.P2 ngày 4/11/1998 của Cục hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát) Đồng thời, tùy từng yêu cầu của mỗi vụ
án, loại án hình sự mà số lượng tài liệu, chứng cứ cần thu thập nhiều hay ít trong hồ sơ vụ án Tuy nhiên thông thường, một hồ sơ vụ án hình sự do Điều tra viên lập để phục vụ công tác truy tố, xét xử có những tài liệu chủ yếu như: các tài liệu làm căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can; các quyết định (quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định phân công điều tra viên, quyết
Trang 23định trưng cầu giám định, các quyết định khác…); các loại lệnh (lệnh bắt, khám xét, lệnh kê biên tài sản, lệnh tạm giam, tạm giữ…); các loại biên bản (biên bản ghi lời khai người làm chứng, người bị hại, biên bản hỏi cung bị can, biên bản khám nghiệm hiện trường, tử thi…); các tài liệu về nhân thân người phạm tội (lý lịch, bản trích lục về tiền án, tiền sự, nhận xét của cơ quan đoàn thể, chính quyền địa phương); các tài liệu về thu thập, bảo quản vật chứng; các tài liệu điều tra khác v.v… Bên cạnh đó yêu cầu về việc thiết lập
hồ sơ vụ án ở các thời điểm trong quá trình điều tra cũng có sự khác nhau Vấn đề này đã được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 05/2005 ngày 7 tháng 9 năm 2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng
về quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Như vậy, Kiểm sát viên phải kiểm tra, giám sát đảm bảo tính chặt chẽ, đầy đủ, đúng pháp luật đối với mỗi hồ sơ án hình sự do cơ quan điều tra thiết lập, để phục vụ công tác giải quyết vụ án ở các trình tự tố tụng tiếp theo Công tác này có ý nghĩa rất quan trọng vì hồ sơ vụ án là kết quả của quá trình điều tra Nếu không có
hồ sơ vụ án thì không thể giải quyết vụ án; hồ sơ vụ án thiết lập không đầy
đủ, thiếu chặt chẽ, vi phạm về nội dung và hình thức thì việc truy tố, xét xử sẽ gặp rất nhiều khó khăn, dễ dẫn đến tình trạng oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm
Thứ hai, đề ra yêu cầu điều tra
Như đã trình bày ở trên, trong quá trình điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên là người thay mặt cho Viện kiểm sát để thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra Vì vậy không thể
có tình trạng việc điều tra như thế nào là do cơ quan điều tra tự quyết định Ngược lại, để đảm bảo việc điều tra được tiến hành khách quan, đầy đủ đúng pháp luật, kết quả điều tra đáp ứng được những yêu cầu theo quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự (những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự), Kiểm sát viên phải thường xuyên bám sát tiến độ, chất lượng điều tra, kết quả của từng hoạt động điều tra Từ đó kịp thời đưa ra những yêu cầu
Trang 24điều tra cụ thể, thích hợp để cơ quan điều tra và Điều tra viên thực hiện Thực
tế cho thấy, nếu Kiểm sát viên làm tốt công tác này thì việc giải quyết vụ án ở các trình tự tố tụng tiếp theo sẽ gặp nhiều thuận lợi Hạn chế được tình trạng
để việc giải quyết vụ án phải kéo dài, cũng như hạn chế được việc sau khi kết thúc điều tra, đề nghị truy tố, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ cho cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung hoặc điều tra lại
Thứ ba, triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai người
làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Triệu tập và lấy lời khai những người tham gia tố tụng nêu trên là những hoạt động điều tra thuộc về nhiệm vụ của cơ quan điều tra và Điều tra viên nhằm thu thập chứng cứ Đây là những biện pháp điều tra công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (các điều 133, 134, 135, 136, 137)
Trong quá trình điều tra một vụ án hình sự, cơ quan điều tra và Điều tra viên sẽ tiến hành thực hiện các biện pháp điều tra nêu trên kết hợp với các biện pháp điều tra công khai khác như: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét thu giữ vật chứng, giám định, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra… để thu thập chứng cứ, phục vụ công tác truy tố, xét
xử Tuy nhiên, việc lựa chọn áp dụng và tiến hành biện pháp điều tra nào là
do đòi hỏi khách quan của việc giải quyết từng vụ án, từng loại án hình sự, kết hợp với việc tổ chức chiến thuật điều tra cụ thể đối với từng loại án hình sự
Như vậy, việc triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là những công việc thuộc quyền chủ động mang tính bắt buộc và thuộc nhiệm vụ của cơ quan điều tra và Điều tra viên Tuy nhiên, tại điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng đã quy định những biện pháp điều tra trên đây với tư cách thuộc về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên Bên cạnh đó các điều 131, 132, 133,
Trang 25134, 135, 136, 137 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng đề cập tới vấn đề này, song luật không quy định cụ thể trong trường hợp nào thì Kiểm sát viên tiến hành thực hiện các biện pháp điều tra nêu trên
Vấn đề này ở giai đoạn trước đây, các Kiểm sát viên của các đơn vị Viện kiểm sát trên toàn quốc chỉ dựa vào quy định tại quy chế công tác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và kinh nghiệm cũng như thực tiễn giải quyết án hình sự ở từng địa phương để tiến hành Tuy nhiên, các quy định tại quy chế công tác của ngành kiểm sát cũng chưa thật rõ ràng, cụ thể
Vì vậy, nhận thức và thực hiện vấn đề này ở nhiều nơi còn chưa thống nhất Trên thực tế đã xảy ra tình trạng, việc triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hỏi cung bị can v.v… do Kiểm sát viên tiến hành còn có tình trạng trùng lặp với hoạt động của Điều tra viên, hoặc diễn ra chủ quan, tùy tiện Khắc phục tình trạng này, Thông tư liên tịch số 05 ngày 7/9/2005 giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng
về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã chỉ rõ:
- Trong quá trình điều tra, khi có yêu cầu của Cơ quan điều tra hoặc qua công tác kiểm sát phát hiện thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước sau không thống nhất, lúc nhận tội, lúc không nhận tội; bị can có khiếu nại về việc điều tra, có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực của lời khai bị can, trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng thì Kiểm sát viên có thể trực tiếp gặp, hỏi cung bị can…;
- Sau khi nhận hồ sơ vụ án, nếu có nghi ngờ về tài liệu, chứng cứ; các chứng cứ quan trọng của vụ án có mâu thuẫn; trường hợp vụ án đặc biệt nghiêm trọng có nhiều tình tiết phức tạp khó thống nhất về tính chất vụ án hoặc để củng cố tài liệu chứng cứ phục vụ cho việc truy tố, thì Kiểm sát viên
có thể trực tiếp hỏi cung bị can;
Trang 26- Trong quá trình điều tra, để đảm bảo việc xét phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra được chính xác, Kiểm sát viên có thể triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- Khi kết thúc điều tra, hồ sơ đã chuyển sang Viện kiểm sát mà xét thấy cần bổ sung tài liệu, chứng cứ, Kiểm sát viên có thể triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Như vậy, triệu tập và lấy lời khai những người tham gia tố tụng không thể tiến hành tùy tiện mà chỉ khi có những căn cứ nhất định Quy định như vậy là cần thiết nhằm tránh được sự tùy tiện trong tiến hành kiểm sát hoạt động điều tra của Kiểm sát viên
Thứ tư, kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam
Bắt, tạm giữ, tạm giam là những biện pháp ngăn chặn trong hoạt động điều tra do Cơ quan điều tra hoặc các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn này phải đặt dưới sự giám sát của Viện kiểm sát Việc bắt người, tạm giữ, tạm giam là những hoạt động trực tiếp ảnh hưởng tới quyền tự do, danh dự, uy tín, quyền công dân nên không thể tùy tiện, cẩu thả, tràn lan Khi được phân công, Kiểm sát viên phải kiểm tra giám sát chặt chẽ việc bắt người trong các trường hợp: bắt để tạm giam, bắt khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, để đảm bảo việc bắt người trong các trường hợp trên là có căn cứ, chính xác, cần thiết Đặc biệt đối với những trường hợp bắt người phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát trước hoặc sau khi tiến hành (bắt để tạm giam, bắt khẩn cấp) thì Kiểm sát viên cũng như Viện kiểm sát, tuy gián tiếp ở vai trò kiểm sát, nhưng trên thực tế đã trực tiếp chịu trách nhiệm về tính có căn cứ và hợp pháp của việc bắt người
Trang 27Đối với các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra, giám sát đảm bảo các biện pháp này được áp dụng chính xác, có căn cứ và cần thiết Việc tạm giữ, tạm giam phải được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 86, 88 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải áp dụng các kỹ năng kiểm sát để tập trung vào bốn vấn đề: kiểm sát các căn cứ để áp dụng các biện pháp bắt người, tạm giữ, tạm giam; kiểm sát đối tượng sẽ hoặc đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam; kiểm sát về thẩm quyền ban hành hoặc áp dụng việc bắt, tạm giữ, tạm giam; kiểm sát về thủ tục bắt, tạm giữ, tạm giam
Trong quá trình được phân công kiểm sát việc bắt người, tạm giữ, tạm giam của Cơ quan điều tra, khi phát hiện thấy các biện pháp ngăn chặn trên do
cơ quan điều tra thực hiện không có căn cứ, trái pháp luật, Kiểm sát viên phải kịp thời báo cáo đề xuất lên Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát để quyết định hủy bỏ việc tạm giữ, trả tự do hoặc từ chối phê chuẩn việc bắt khẩn cấp, từ chối phê chuẩn việc bắt tạm giam hoặc từ chối phê chuẩn gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam và yêu cầu Cơ quan điều tra trả tự do cho những người bị áp dụng biện pháp đó
Ngoài ra, nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam còn bao hàm cả việc: khi phát hiện thấy những trường hợp lẽ ra Cơ quan điều tra phải áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, nhưng Cơ quan điều tra đã không thực hiện, thì Kiểm sát viên phải kịp thời yêu cầu hoặc báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng yêu cầu Cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp ngăn chặn đã nêu Kiểm sát viên cũng có thể đề xuất việc Viện kiểm sát trực tiếp ra lệnh bắt bị can để tạm giam khi vụ án đã kết thúc điều tra
Thứ năm, tham gia phiên tòa, đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm
sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên tòa
Trang 28Theo quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tại phần xét xử sơ thẩm thì Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa Nếu Kiểm sát viên vắng mặt, bị thay đổi mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa Như vậy, theo tinh thần của luật thì sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là một yếu tố bắt buộc Lý giải cho sự bắt buộc này được bắt nguồn từ việc thực hiện hai chức năng: thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp mà Hiến pháp, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định Nếu Kiểm sát viên không
có mặt để tiến hành tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm thì Viện kiểm sát không thể duy trì quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa xét xử này được
Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Kiểm sát viên thay mặt Viện kiểm sát trình bày toàn bộ bản cáo trạng Bản cáo trạng theo quy định tại Điều 167 Bộ luật tố tụng hình sự phải nêu rõ thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, thủ đoạn, mục đích động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác, những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị can… và cuối cùng là tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự mà bị can bị truy tố Cùng với việc đọc cáo trạng, Kiểm sát viên có thể đọc các quyết định khác của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết
vụ án hoặc có thể trình bày ý kiến bổ sung làm rõ thêm nội dung cáo trạng nếu có
Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, sau khi Hội đồng xét xử hỏi bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định…, thì Kiểm sát viên tham gia tiến hành xét hỏi Hoạt động xét hỏi của Kiểm sát viên không giống như của các thành viên Hội đồng xét xử vì mục đích xét hỏi của Hội đồng xét xử là để xem xét một cách khách quan, toàn diện vụ án và các vấn đề liên quan khác
Trang 29xung quanh việc giải quyết vụ án, kiểm tra lại các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đó phục vụ cho việc phán quyết bị cáo có tội hay không có tội, việc áp dụng hình phạt và các trách nhiệm pháp
lý khác… nếu bị cáo có tội Còn hoạt động xét hỏi của Kiểm sát viên có mục đích là làm sáng tỏ những nội dung chưa được rõ của vụ án, làm sáng tỏ những mâu thuẫn của chứng cứ, xác định sự thật khách quan của vụ án làm cơ
sở để bác bỏ những lời chối tội, làm cơ sở để đề nghị Hội đồng xét xử kết tội
và áp dụng hình phạt hoặc ngược lại là đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để điều tra bổ sung hoặc rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố Như vậy, mục đích hoạt động xét hỏi của Kiểm sát viên về cơ bản là phục vụ cho công tác thực hành quyền công tố tại phiên tòa và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của quá trình xét xử
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên phải trình bày phần luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn Luận tội của Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa, phần luận tội phải phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, hậu quả gây ra, vai trò trách nhiệm và nhân thân của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Luận tội phải có quan điểm đề nghị áp dụng pháp luật và vận dụng chính sách xử lý cho phù hợp Khi nêu hành vi phạm tội phải viện dẫn các chứng cứ để chứng minh bảo đảm
Trang 30Tại phần tranh luận, khi người bào chữa, bị cáo hoặc những người tham gia tố tụng khác trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra
đề nghị của mình thì Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến đó Mục đích của việc tranh luận là làm sáng tỏ nội dung tình tiết vụ án cũng như những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án, làm cho việc buộc tội được khách quan, tránh được sự áp đặt một chiều, tránh được sự chủ quan duy ý chí từ phía các Cơ quan điều tra, truy tố làm cơ sở quan trọng
để Hội đồng xét xử đi đến các phán quyết cụ thể theo quy định của pháp luật
Có thể nhận thấy, mặc dù luật quy định phần tranh luận là việc tranh luận giữa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác, song trọng tâm nhất vẫn là tranh luận giữa Kiểm sát viên và phía bị cáo Đồng thời, phần tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là sự thể hiện tập trung nhất cơ chế tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội cùng người bào chữa cho họ Đây cũng là phần thể hiện rõ nhất, cao nhất để đánh giá tính dân chủ trong tố tụng hình sự và là điểm nhấn trong thực hiện cải cách tư pháp ở lĩnh vực tư pháp hình sự
Thứ sáu, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của
Tòa án, của những người tham gia tố tụng và kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án
Hoạt động này của Kiểm sát viên bao gồm: kiểm sát việc chuẩn bị xét
xử của Tòa án, kiểm sát việc chấp hành thủ tục tố tụng tại phiên tòa, kiểm sát việc tuyên án, kiểm sát biên bản phiên tòa, kiểm tra bản án, quyết định của Tòa án
Ngay trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án về thời hạn chuẩn bị xét xử, về việc ra các quyết định như: Quyết định áp dụng thay đổi hoặc hủy
bỏ biện pháp ngăn chặn; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, và việc giao các quyết định này theo Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự Nếu phát hiện có vi phạm pháp luật thì yêu cầu Tòa án
Trang 31khắc phục hoặc báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Tại phiên tòa xét xử, Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia
tố tụng từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên tòa nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, bảo đảm cho việc xét xử được công minh, đúng pháp luật Kiểm sát viên phải đề nghị hoãn phiên tòa trong các trường hợp như: bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng, người bào chữa bắt buộc vắng mặt, người tham gia tố tụng khác vắng mặt mà sự vắng mặt này gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; thành phần Hội đồng xét xử không đúng với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo yêu cầu hoãn phiên tòa nếu việc giao nhận cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử không đúng quy định tại Điều 49 và Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự Nếu phát hiện có vi phạm khác về thủ tục tố tụng thì yêu cầu Hội đồng xét xử khắc phục kịp thời
Tại phần tuyên án của chủ tọa phiên tòa, Kiểm sát viên phải cập nhật đầy
đủ nội dung của bản án để làm căn cứ kiểm tra biên bản phiên tòa, bản án sơ thẩm và chuẩn bị nội dung kháng nghị nếu cần thiết Ngay sau khi tuyên án Kiểm sát viên phải kiểm tra việc Hội đồng xét xử trả tự do cho bị cáo hoặc bắt tạm giam bị cáo theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng hình sự Sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải kiểm tra biên bản phiên tòa để yêu cầu Hội đồng xét xử ghi những sửa chữa bổ sung vào biên bản phiên tòa Kiểm sát viên phải kiểm tra bản án hoặc quyết định của Tòa án nhằm phát hiện những sai sót và vi phạm của Tòa án trong việc ra bản án hoặc quyết định, phải kiểm tra việc giao bản án các quyết định và việc gửi hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị theo đúng quy định của các Điều 229 và 237 Bộ luật tố tụng hình sự
Khi phát hiện bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án có vi phạm pháp luật, Kiểm sát viên phải báo cáo ngay Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình để kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Trang 32Ngoài sáu hoạt động cơ bản đã nêu ở trên với tư cách là những nhiệm
vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên khi được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên còn thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát
Trong tất cả các hoạt động nghiệp vụ đã nêu, Kiểm sát viên được sử dụng tất cả những biện pháp mà luật cho phép để trực tiếp hoặc gián tiếp loại
bỏ các vi phạm pháp luật, đảm bảo việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội không làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt người phạm tội; tìm
ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội để yêu cầu các cơ quan tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa; góp phần tuyên truyền, giáo dục pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm
Khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã nêu ở trên, Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát về những hành vi và quyết định của mình
1.2 NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƢ PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM SÁT VIÊN
1.2.1 Những yêu cầu về đổi mới bộ máy tổ chức các cơ quan tƣ pháp nói chung và Cơ quan Viện kiểm sát nói riêng liên quan đến Kiểm sát viên
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu rõ các nhiệm vụ cải cách tư pháp, trong
đó có một nhiệm vụ quan trọng là: xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp
Theo TSKH.PGS Lê Cảm:
Nếu hiểu trên bình diện rộng thì hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền là tổng thể không chỉ các cơ quan tài phán độc lập
Trang 33có thẩm quyền nhân danh công lý thuộc nhánh quyền lực thứ ba chuyên thực hiện hoạt động xét xử…mà cả các cơ quan bảo vệ pháp luật như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát…
… Nếu hiểu trên bình diện rộng, thì cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là việc đổi mới toàn
bộ hệ thống Tòa án, hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật… [5] Như vậy, cải cách tư pháp nêu trong Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị là cải cách tư pháp theo nghĩa rộng đã nêu ở trên
Đối với bộ máy Tòa án, Nghị quyết chỉ rõ:
Tổ chức Hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Tòa án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện, Tòa
án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án, Tòa Thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Việc thành lập Tòa chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp tòa án, từng khu vực Đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn với đội ngũ thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành…Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét
xử coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp… [11]
Như vậy, theo tinh thần của Nghị quyết thì, cải cách tư pháp được đặt
ra đối với ngành Tòa án chủ yếu theo hai hướng Thứ nhất là tổ chức sắp xếp
lại cơ cấu tổ chức, cơ cấu bộ máy cũng như biên chế, hoạt động và theo đó là
Trang 34chức năng và nhiệm vụ của ngành Tòa án Thứ hai là triển khai và nâng cao
chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử Nghị quyết cho đây là hướng cải cách mang tính đột phá Sở dĩ việc triển khai và nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử (mà chủ yếu là xét xử sơ thẩm hình sự) được chú trọng
và đề cao như vậy trong quá trình cải cách tư pháp là vì, phiên tòa sơ thẩm theo hướng tranh tụng không chỉ làm thay đổi hoạt động của những người tham gia phiên tòa, tạo tiền đề khách quan nhất, cần thiết cho một bản án công minh mà còn tác động lan tỏa tích cực đến các chủ thể tố tụng khác, đến các giai đoạn
tố tụng khác Như vậy, quyền con người, quyền công dân mà cụ thể là quyền lợi của bị cáo được đảm bảo Theo đó, uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng, của nền tư pháp nước nhà được cải thiện và nâng cao ở một tầm cỡ mới
Bản án, quyết định phán xử của Tòa án về nguyên tắc phải là chân lý Chính vì lẽ đó mà chúng ta mới cần đến Tòa án Nếu không có nhu cầu và khát vọng về chân lý, sự thật khách quan trong các tranh chấp pháp lý như ai đúng, ai sai, có tội hay không có tội thì đã không có sự ra đời của một cơ quan
có chức năng đặc thù là cơ quan Tòa án trong bộ máy nhà nước Nói đến Tòa
án là nói đến chức năng xét xử Tranh tụng là một yêu cầu khách quan, cần thiết để Tòa án thực hiện chức năng xét xử của mình một cách tốt nhất
Có thể thấy, kể từ khi có các Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002,
và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 vấn đề cải cách tư pháp nói chung
và cải cách trong hoạt động xét xử hình sự nói riêng đã được các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Viện kiểm sát, Tòa án quan tâm triển khai ở các mức
độ khác nhau Tuy nhiên, giữa thực tế và mục tiêu vẫn còn là khoảng cách khá xa Tại phiên họp sáng ngày 27 tháng 3 năm 2007 của Quốc hội khóa XI thảo luận về các báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, đại biểu Nguyễn Minh
Thuyết đã đặt câu hỏi "xét xử ở Tòa án nước ta đã thực sự là tranh tụng
chưa? có bao nhiêu phần trăm các vụ án đã diễn ra theo đúng tinh thần tranh tụng hay vẫn là nửa tranh tụng, nửa "bỏ túi" Theo TS Ngô Huy Cương thì,
Trang 35trong những năm vừa qua, ở Việt Nam nhân dân đã và đang rất băn khoăn về
hệ thống tư pháp Bởi một trong những nguyên nhân là có nhiều oan sai và nhiều tiêu cực khác trong hoạt động xét xử về hình sự Nếu xem Tòa án như biểu tượng của công lý, đảm bảo sự ổn định của đời sống con người, thì việc thiếu lòng tin vào Tòa án đồng nghĩa với xã hội thiếu công lý [7]
Còn theo PGS.TS Nguyễn Thái Phúc thì:
Tuy cải cách tư pháp đã triển khai được nhiều năm, nhưng dường như chưa tạo được những thay đổi cần thiết trong hoạt động
tố tụng hình sự Hội đồng xét xử thay vì phải là trọng tài vô tư khách quan tại phiên tòa thì lại là người "dồn ép" bị cáo theo hướng kết tội như một Kiểm sát viên thứ hai Tòa án xét hỏi bị cáo không khác gì đang buộc tội bị cáo [27]
Đối với hệ thống Cơ quan điều tra, Nghị quyết 49-NQ/TW chỉ rõ: xác định rõ nhiệm vụ của Cơ quan điều tra trong mối quan hệ với các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra theo hướng Cơ quan điều tra chuyên trách điều tra tất cả các vụ án hình sự, các cơ quan khác chỉ tiến hành một số hoạt động điều tra sơ bộ và tiến hành một số biện pháp điều tra theo yêu cầu của Cơ quan điều tra chuyên trách Trước mắt, tiếp tục thực hiện mô hình tổ chức Cơ quan điều tra theo pháp luật hiện hành; nghiên cứu và chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới tổ chức lại các Cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra tố tụng hình sự Như vậy, theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW thì đối với hệ thống cơ quan điều
tra, hướng cải cách cơ bản trọng tâm trong tương lai là: "thu gọn đầu mối" còn
việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra công khai (theo tố tụng hình sự) là một yêu cầu đương nhiên để hoàn thành nhiệm vụ của
Cơ quan điều tra Vì hiển nhiên không có hoạt động trinh sát với những kỹ năng, nghiệp vụ riêng thì Cơ quan điều tra khó mà hoàn thành được nhiệm vụ, đặc biệt
là đối với điều tra một số loại án hình sự, về một số loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm Hiện nay, hệ thống các cơ quan điều tra của chúng ta đang được tổ chức
Trang 36trên cơ sở các quy định của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 Có thể thấy, hiện nay các Cơ quan điều tra không hề nằm trong một hệ thống chung, duy nhất và thống nhất từ trên xuống dưới mà trái lại có nhiều hệ thống
và nằm rải rác cùng một lúc trong nhiều cơ quan Nhà nước khác nhau (Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) Theo TSKH.PGS Lê Cảm
thì: "Thực trạng manh mún và xé lẻ như vậy của mô hình hệ thống các cơ quan
điều tra hiện nay ở nước ta rõ ràng là khó có thể chấp nhận được vì rõ ràng là
nó chưa đáp ứng đúng yêu cầu của Nghị quyết số 49-NQ/TW" [5] Vấn đề tổ
chức sắp xếp lại hệ thống Cơ quan điều tra ở nước ta sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu "thu gọn đầu mối" theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW, vừa đảm bảo được tính hiệu quả trong việc phát hiện, làm rõ, đưa ra xử lý trước pháp luật đối với mọi loại tội phạm- là một vấn đề không đơn giản Nó đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu làm rõ và kiểm định trên thực tế Nó đòi hỏi vừa phải đảm bảo tính kế thừa các mặt ưu việt và tích cực của mô hình hệ thống Cơ quan điều tra như hiện nay, lại vừa lĩnh hội, bổ sung được tính ưu việt, hiện đại của các mô hình hệ thống Cơ quan điều tra của các nước khác trên thế giới
Đối với hệ thống cơ quan Viện kiểm sát, Nghị quyết 49 NQ/TW chỉ rõ:
"…Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án
Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra" [11] Trong báo cáo chính trị Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng nhấn mạnh phải "thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra" Theo chủ trương cải cách tư pháp đã được nêu trong các nghị quyết của Đảng thì hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong thời kỳ tới sẽ được tổ chức lại Có rất nhiều vấn đề quan trọng cần phải được nghiên cứu, giải quyết cả về mặt lý luận và thực tiễn Vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải định rõ mô hình tổ chức của Viện kiểm sát; quan hệ giữa Viện kiểm sát với cơ quan tư pháp khác và giữa Viện kiểm sát với các bộ phận khác của hệ thống chính trị Quá trình tổ chức lại hệ thống Cơ quan Viện kiểm sát theo định hướng cải cách tư pháp cần phải làm rõ những vấn đề cụ thể sau:
Trang 37Thứ nhất, phải làm rõ vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy
nhà nước Viện kiểm sát/Viện công tố sẽ trực thuộc hệ thống cơ quan nhà nước nào? thuộc Quốc hội hay thuộc Chính phủ? hay nghiên cứu và áp dụng
mô hình trung gian, pha trộn của một số nước trên thế giới;
Thứ hai: về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, phải xác định rõ
việc: giữ nguyên chức năng như hiện nay của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp hay Viện kiểm sát chỉ thực hiện chức năng công tố để tập trung thực hiện tốt hơn chức năng này
Thứ ba: về vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự, cần giữ nguyên như luật thực định hiện nay hay tiến hành thay đổi và thực hiện theo hướng Viện kiểm sát có quyền chỉ đạo, lãnh đạo hoạt động điều tra nhằm hạn chế đến mức tối đa khả năng xảy ra oan sai trong việc điều tra, truy tố và nâng cao chất lượng công tố
Tất cả những vấn đề nêu trên đều liên quan đến đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung, trong đó có Viện kiểm sát, và đương nhiên liên quan đến Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình
1.2.2 Những yêu cầu về tố chất bên trong Kiểm sát viên đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp hiện nay khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình
Để thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn mà Nhà nước giao phó (thông qua các quy định của pháp luật và các quy định của ngành kiểm sát) Đòi hỏi mỗi cá nhân Kiểm sát viên phải hội tụ nhiều phẩm chất, nhiều tiêu chí khác nhau Những yêu cầu thuộc về tố chất bên trong này của Kiểm sát viên không phải là cố định, bất di bất dịch mà nó phải được bổ sung cho thích hợp, phù hợp với từng giai đoạn, đặc biệt là trong giai đoạn thực hiện cải cách tư pháp
và hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền như hiện nay
Trang 38Như đã trình bày ở trên, tuy có nhiều yêu cầu được đặt ra đối với đội ngũ Kiểm sát viên để họ thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự Song về cơ bản và xuyên suốt, có hai yêu cầu phải
đề cập tới đó là vấn đề đạo đức và vấn đề năng lực, trình độ
Thứ nhất, về đạo đức
Vấn đề đạo đức không phải là một vấn đề mới mẻ song cần phải tiếp tục khẳng định vị trí thượng tôn của nó đối với mỗi cá nhân trong xã hội, để một xã hội phát triển theo hướng tích cực Trong xã hội chúng ta, để hoàn thiện chuẩn mực về đạo đức đòi hỏi mỗi thành viên vừa phải đáp ứng được yêu cầu của vấn
đề đạo đức làm người nói chung và đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp
nói riêng Hồ Chủ tịch đã dạy: "Người có tài mà không có đức là người bỏ đi"
Quả đúng là như vậy khi xem xét vấn đề đạo đức đối với đội ngũ Kiểm sát viên/Công tố viên Đội ngũ này được Đảng và Nhà nước giao cho nhiệm vụ cầm cân nảy mực, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đảm bảo không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm Với vai trò
và địa vị pháp lý của mình khi tiến hành tố tụng hình sự mà đạo đức phẩm chất
sa sút, hay tai hại hơn là thoái hóa biến chất xảy ra đối với Kiểm sát viên, thì thật
là nguy hiểm Trong khi thực thi pháp luật, đôi khi ranh giới giữa chấp pháp và
vi phạm pháp luật, giữa xử lý tội phạm và trở thành kẻ phạm tội là rất mong manh Trong ngành Kiểm sát nhân dân đã từng xảy ra những bài học đau xót về
sự sa sút phẩm chất đạo đức từ những đảng viên, Kiểm sát viên có bề dày công tác và cống hiến, có kinh nghiệm và được giao nắm giữ những cương vị khác nhau, đã trở thành những kẻ tiếp tay cho tội phạm, tiếp tay cho cái xấu, cái ác để rồi trở thành kẻ tội đồ, phải chịu trách nhiệm hình sự Điển hình là những trường hợp của: Dương Văn Thân (nguyên Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La), Vũ Bá Phong (nguyên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận 1- Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Thập Nhất (nguyên Trưởng phòng Kiểm sát giam giữ, cải tạo - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội), Phạm Sĩ Chiến (nguyên Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) v.v
Trang 39Đội ngũ Kiểm sát viên của hệ thống Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân hiện nay cần phải là những người dũng cảm, trung thực bảo vệ pháp luật, bảo
vệ lẽ phải Trong mọi sự lựa chọn vấn đề chấp pháp phải được đề cao đầu tiên Bên cạnh đó họ phải là những người có nghị lực, có bản lĩnh, vượt qua được và đứng vững trước những cám dỗ thuộc về mặt trái của nền kinh tế thị trường Ngoài ra trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn, lòng nhân ái, thái độ khách quan, nhìn nhận đánh giá con người và sự việc theo hướng biện chứng, tích cực, ý thức tổ chức kỷ luật và ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn đoàn kết nội bộ và xây dựng ngành…cũng là những yếu tố cần phải có thuộc về phạm trù đạo đức, phẩm chất của đội ngũ Kiểm sát viên Đội ngũ
này cần tiếp tục phấn đấu và thực hiện theo lời Hồ Chủ tịch đã dạy: "Cán bộ
kiểm sát phải: Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn"
Thứ hai, về năng lực, trình độ, thái độ, trách nhiệm
Hồ Chủ tịch đã dạy: "Người có đức mà không có tài thì làm việc gì
cũng khó" Vấn đề năng lực, trình độ của đội ngũ Kiểm sát viên là vấn đề cơ bản
quyết định kết quả, hiệu quả công tác của Kiểm sát viên nói riêng và của toàn ngành Kiểm sát nói chung Để có đủ năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ công tác đối với mỗi Kiểm sát viên trong giai đoạn hiện nay Đòi hỏi phải thực hiện hai vấn đề thuộc về các yếu tố khách quan và chủ quan như sau:
Về khách quan, đòi hỏi đội ngũ Kiểm sát viên phải được đào tạo, học
tập kiến thức pháp luật một cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ Hiện nay, Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 đã đưa ra một trong những điều kiện bắt buộc (mang tính tối thiểu) - Để bổ nhiệm vào chức danh Kiểm sát viên thì người được bổ nhiệm phải có trình độ cử nhân luật Ngoài ra, theo tinh thần chung đã được triển khai trong ngành Kiểm sát thì, khi tuyển dụng công chức
để chọn người vào ngành, chỉ chọn những người tốt nghiệp cử nhân luật hệ chính quy Bên cạnh đó, ngành kiểm sát cũng cần phải quan tâm rõ ràng và cụ thể hơn nữa nhằm, nâng cao trình độ của đội ngũ Kiểm sát viên như: khuyến
Trang 40khích việc theo học sau đại học, tăng cường hợp tác quốc tế về vấn đề đào tạo
bổ sung kiến thức cho Kiểm sát viên, tăng cường mở các khóa huấn luyện, tập huấn để bồi dưỡng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên Phát triển và nâng cao kiến thức cho Kiểm sát viên về ngoại ngữ, tin học để đáp ứng yêu cầu của nhiệm
vụ trong tình hình mới
Về chủ quan đòi hỏi mỗi Kiểm sát viên phải không ngừng tự học hỏi,
tích lũy kinh nghiệm về kiến thức pháp luật, kiến thức chuyên ngành và kiến thức cuộc sống nói chung Thực tế cho thấy, vấn đề kinh nghiệm công tác, kinh nghiệm thực tiễn có vai trò rất quan trọng trong giải quyết án hình sự Khi nhìn lại lịch sử quá trình hình thành và phát triển của ngành kiểm sát, đã
có rất nhiều điển hình cá nhân, khi vào ngành đã không được hoặc chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng nghiệp vụ và kiến thức pháp luật Song trong quá trình công tác họ đã tự học hỏi phấn đấu vươn lên, tự bổ sung và hoàn thiện kiến thức phục vụ công tác, đã đảm trách và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao phó Đặt vấn đề như vậy không phải là quá đề cao vấn đề thực tiễn
và xem nhẹ vấn đề đào tạo, trang bị lý luận - mà ở đây muốn khẳng định rõ hơn tầm quan trọng của yếu tố tự thân hoàn thiện và phát triển của Kiểm sát viên về năng lực và trình độ…nhằm phục vụ các yêu cầu của ngành kiểm sát trong quá trình cải cách tư pháp
Như vậy, những yêu cầu đặt ra trong tiến trình cải cách tư pháp để đảm bảo Kiểm sát viên thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cũng như làm cơ sở cho giải pháp tăng cường quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng là những yêu cầu mang tính đồng
bộ Nó bao gồm việc cải tổ, đổi mới toàn bộ tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Cơ quan Tòa án và của chính cơ quan Viện kiểm sát Bên cạnh đó còn có yêu cầu đặt
ra đối với chính đội ngũ Kiểm sát viên Đó là vấn đề phải nâng cao năng lực, trình độ đi đôi với việc đảm bảo giữ vững và đề cao đạo đức, phẩm chất, tư cách của đội ngũ này nói chung và mỗi cá nhân Kiểm sát viên nói riêng