1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của Viện Kiểm sát Nhân dân cấp Huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta

133 741 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tác giả, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng khác của VKSND trong quá trình kiểm sát các h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LƯƠNG THÚY HÀ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

TRONG CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở NƯỚC TA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LƯƠNG THÚY HÀ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

TRONG CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở NƯỚC TA

Chuyên ngành : Luật hình sự

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Quốc Toản

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

6

1.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động thực hành quyền công tố

của Viện kiểm sát nhân dân

6

1.1.1 Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố 6 1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động thực hành quyền công tố 16 1.1.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát các

hoạt động tư pháp

19

1.2 Khái quát lịch sử pháp luật quy định về hoạt động thực hành

quyền công tố ở Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945

đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

SỰ VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ THỰC TIỄN

44

2.1 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hành 44

Trang 4

quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

2.1.1 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) 44 2.1.2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 45 2.1.3 Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 49 2.1.4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 49 2.1.5 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 62

2.1.6 Một số ưu điểm và tồn tại, hạn chế của pháp luật thực hành

quyền công tố ở Việt Nam hiện nay

64

2.2 Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình

sự về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội

65

2.2.1 Vài nét về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

cấp huyện thành phố Hà Nội

65

2.2.2 Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình

sự về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân

cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội

67

2.3 Những tồn tại, hạn chế của hoạt động thực hành quyền công

tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và những nguyên

nhân của nó

76

PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƢ

84

3.1 Những quan điểm cơ bản nâng cao chất lượng thực hành

quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện

84

3.2 Những phương hướng nâng cao chất lượng thực hành quyền

công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện đáp ứng yêu

cầu cải cách tư pháp

89

Trang 5

3.2.1 Đổi mới và nâng cao chất lượng của bộ máy tổ chức cán bộ

và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện

89

3.2.2 Quán triệt và nắm vững các đường lối chính sách và yêu cầu

đổi mới trong thực hành quyền công tố, nâng cao ý thức

chính trị, phẩm chất đạo đức và trình độ, năng lực chuyên

môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên cấp huyện

92

3.2.3 Nâng cao trách nhiệm và năng lực thực hành quyền công tố

của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện

94

3.2.4 Đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, phân định

trách nhiệm trong công tác thực hành quyền công tố

98

3.2.5 Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng

cấp huyện

102

3.2.6 Tăng cường sự phối hợp giữa Viện kiểm sát cấp huyện với

các phòng ban, đơn vị khác trong công tác đấu tranh phòng,

chống vi phạm và tội phạm

103

3.2.7 Hoàn thiện hệ thống pháp luật - cơ sở pháp lý của hoạt động

thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát và tăng cường

công tác giải thích, hướng dẫn luật

105

3.2.8 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định sự

thành công của công cuộc cải cách tư pháp

108

3.2.9 Tăng cường cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho Viện

kiểm sát nhân dân cấp huyện và hoàn thiện chế độ chính sách

đãi ngộ đối với cán bộ, Kiểm sát viên cấp huyện

109

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền

công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện

112

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự TTHS : Tố tụng hình sự

VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ thống các cơ quan cấu thành bộ máy nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) đóng một vai trò rất quan trọng trong việc duy trì trật

tự pháp luật, bảo vệ chế độ Xác định được tầm quan trọng của hệ thống cơ quan này, thời gian qua, cùng với việc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đã chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp trong

đó có VKSND Đây là một chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng được thể

hiện trong nhiều văn kiện: Chỉ thị 53-CT/TW ngày 21/3/2000 Về một số công

việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Nghị

quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công

tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 mà mục tiêu là "xây dựng một nền

tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…" [13], trong đó có yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động và đề cao trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ tư pháp

Cho đến thời điểm hiện nay, qua triển khai thực hiện các nghị quyết trên của Đảng, đã có nhiều hội nghị tổng kết xác định công tác tư pháp đã đạt được những kết quả khả quan, có nhiều chuyển biến tích cực trong công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân: Đã khắc phục một bước trong việc lạm dụng bắt khẩn cấp, bắt oan, sai; tỷ lệ bắt, giam, giữ đưa ra truy tố đạt cao; công tác giải quyết

án trọng điểm và đấu tranh chống tội phạm đã được đẩy nhanh tiến độ và đạt kết quả tốt, đã và đang giải quyết được nhiều vụ án tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng, xử lý nghiêm minh,

Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, công tác tư pháp vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần được nghiên cứu làm rõ và tìm ra cách khắc phục nguyên nhân

Trang 8

nhằm đẩy mạnh tiến trình cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của công cuộc đổi mới Theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Điều 1 Luật tổ chức

Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực

hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt

động tư pháp của VKSND là một dạng thực hành quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Không có cỏ nhân, cơ quan nhà nước nào có thể thay thế VKSND trong việc truy tố kẻ phạm tội ra trước Toà, trong việc thực hiện quyền kiểm sát hoạt động điều tra, kiểm sát hoạt động xét xử…Đây là một chức năng mà VKSND đã đảm đương từ nhiều năm, nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều vướng mắc, chưa đạt được sự thống nhất cao trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Đây là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả việc thực hiện chức năng của VKSND Do đó, nghiên cứu làm sáng

tỏ các vấn đề trên không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác tư pháp nói chung, công tác kiểm sát nói riêng, hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó, đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp

Để góp phần vào việc cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của VKSND, đồng thời làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn thông qua hoạt động của VKSND ở cấp huyện, đề xuất một số giải pháp để

nâng cao chất lượng của hoạt động này, tác giả chọn đề tài "Nâng cao chất

lượng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta" làm luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là các chức năng hiến định của VKSND Để thực hiện các chức năng nhiệm vụ đặt

ra cho VKSND, pháp luật đã quy định cụ thể thẩm quyền của VKSND các

Trang 9

về thẩm quyền của VKSND các cấp không nằm trong một bộ luật cụ thể mà được thể hiện xuyên suốt trong hệ thống pháp luật, nhằm mục đích tạo điều kiện cho VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ ở từng mối quan hệ pháp luật trong từng giai đoạn tố tụng khác nhau Từ trước đến nay, đã có nhiều bài viết của nhiều tác giả với các ý kiến và quan điểm khác nhau về vấn đề này đã được công bố Đáng chú ý là các công trình sau:

- "Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong

giai đoạn điều tra", của Lê Hữu Thể (chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp, 2005

- Luận án tiến sĩ Luật học "Quyền công tố ở Việt Nam", của Lê Thị

Tuyết Hoa, 2002

- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Nâng cao chất lượng thực hành quyền

công tố trong giai đoạn xét xử của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh", của Trần Văn Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004

- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Chất lượng thực hành quyền công tố và

kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội", của Hà Thị

Minh Hạnh, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2007

- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát

nhân dân", của Phan Thị Thuý Lan, Học viện Hành chính quốc gia, 2007

- Đề tài khoa học cấp Nhà nước: "Cải cách hệ thống tư pháp Việt

Nam", của Bộ Tư pháp, 2005

Ngoài ra, còn có các bài viết của nhiều tác giả khác đã được đăng trên các báo và tạp chí chuyên ngành, các báo cáo tổng kết công tác, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, các chuyên đề của VKSNDTC qua các năm, các đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ…

Các công trình nghiên cứu, bài viết trước đây chỉ đề cập đến tình hình cải cách hệ thống tư pháp nói chung hoặc đi sâu vào từng vấn đề nghiệp vụ

Trang 10

chuyên ngành mà chưa tổng hợp nghiên cứu những căn cứ pháp lý, chức năng nhiệm vụ của toàn bộ quá trình tố tụng từ khi có dấu hiệu tội phạm đến khi xét xử xong, để từ đó phát hiện và kiến nghị đổi mới theo tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính

trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Vì vậy, việc nghiên cứu

"Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta" nhằm phát hiện những khó khăn,

vướng mắc, hạn chế, bất cập, đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của VKSND, đặc biệt đối với VKSND cấp huyện là vấn

đề cần thiết và cấp bách trong quá trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Luận văn tập trung nghiên cứu và góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận chức năng của VKSND, thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố ở VKSND cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó,

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của công tác này theo yêu cầu của cải cách tư pháp

3.2 Nhiệm vụ

Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền công tố, thực hành quyền công tố, hoạt động tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Những quy định của pháp luật thực định về thực hành quyền công tố, thực trạng áp dụng những quy định đó trong hoạt động thực hành quyền công tố ở VKSND cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm gần đây Trên cơ sở đó, đánh giá chất lượng của công tác này, những kết quả đã đạt được, những vấn đề thiếu sót, tồn tại và làm rõ nguyên nhân của chúng, đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trang 11

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyền công tố, chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2005 đến 2010

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới toàn diện đất nước nói chung, về cải cách tư pháp nói riêng, chính sách pháp luật Đảng và Nhà nước ta trong tố tụng hình sự, luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, thống kê và so sánh, kết hợp lý luận và khảo sát thực tiễn,…

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận có liên quan đến thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND cấp huyện, thực tiễn của chất lượng thực hành quyền công tố của VKSND cấp huyện trên một địa bàn có vị trí quan trọng về nhiều mặt là Thủ đô Hà Nội, đánh giá các kết quả cũng như các thiếu sót, tồn tại và đề ra các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng của việc thực hiện chức năng này của VKSND cấp huyện

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về thực hành quyền công tố của Viện

kiểm sát nhân dân

Chương 2: Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hành

quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam hiện nay

Trang 12

Chương 3: Những quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao

chất lượng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

Trang 13

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÕ CỦA HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Đây là chức năng hiến định của VKSND trong giai đoạn hiện nay và cũng là một nhiệm vụ mà VKSND vốn đảm nhiệm đã từ nhiều năm, ngay từ khi tổ chức tiền thân của nó là Viện công tố ra đời Mặc dù vậy, cho đến nay, trong khoa học pháp lý nói chung, trong khoa học kiểm sát nói riêng và ngay

cả trong thực tiễn hoạt động của VKSND vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao

về các vấn đề này cả trên phương diện khái niệm, nội dung, đối tượng và phạm vi của thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp cũng như mối quan hệ giữa chúng Điều này không chỉ ảnh hưởng đến nhận thức mà còn tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể trong hệ thống các cơ quan tư pháp nói chung, cơ quan VKSND nói riêng Để góp phần từng bước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác kiểm sát, điều không thể thiếu được là cần phải làm rõ từ trong nhận thức về các vấn đề cơ bản có liên quan đến các hoạt động chức năng này: Khái niệm thế nào là quyền công tố, thực hành quyền công tố, thế nào là kiểm sát các hoạt động tư pháp, đối tượng, nội dung, phạm vi cũng như mối quan

Trang 14

Quyền công tố là một hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng đối với

người phạm tội đã được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người Cùng với thời gian, đến nay, quyền công tố đã trở thành một chế định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong luật tố tụng hình sự ở đa số

các nước văn minh trên thế giới Ở nước ta, về mặt lập pháp, thuật ngữ quyền

công tố được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến

chức năng, nhiệm vụ của VKSND (tại cụm từ "thực hành quyền công tố") Từ

đó đến nay, trong khoa học và trong thực tiễn có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về khái niệm cũng như các vấn đề có liên quan: đối tượng, phạm

vi, nội dung, chủ thể thực hành của quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố nhưng chưa có quan điểm nào được các cơ quan có thẩm quyền chính thức công nhận và cũng chưa có một văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn một cách chính thức về các vấn đề này

Theo Từ điển tiếng Việt thì "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố,

buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án" Như vậy, theo từ

điển tiếng Việt thì "công tố" được hiểu với các nội dung khác nhau bao gồm:

Điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án

Trong giới nghiên cứu khoa học, về khái niệm thế nào là quyền công

tố có thể kể đến một số quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất: Là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động kiểm

sát tuân theo pháp luật của VKSND đều là thực hành quyền công tố Những người theo quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của VKSND Theo họ, công tố không phải

là một chức năng độc lập của VKSND mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của VKSND

Theo tác giả, quan điểm này đã đánh đồng quyền công tố với quyền kiểm sát tuân theo pháp luật của VKSND và như vậy là không chính xác Bởi

vì, thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật là hai chức năng

Trang 15

hoàn toàn độc lập của VKSND Mặc dù trong quá trình thực hiện, hai chức năng này có thể có những nội dung đan xen nhau, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau nhưng không phải trong mọi công tác thực hiện chức năng của VKSND, trong mọi hoạt động thực hiện chức năng của Kiểm sát viên đều bao hàm cả hai chức năng đó, có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật Vì vậy, không thể phủ nhận tính độc lập của hai chức năng này về cả nội dung lẫn phạm vi áp dụng và vì vậy không thể đồng nhất chúng

Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước

đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Toà án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật Ở Việt Nam, quyền này được giao cho VKSND Quan điểm này có thể coi là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát, đã được đưa vào giáo trình giảng dạy của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và các báo cáo tổng kết thực tiễn của ngành kiểm sát Theo quan điểm này thì đầu tiên quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự,

về sau nó được mở rộng sang các lĩnh vực tư pháp khác và cho đến nay thì quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS) mà còn có

cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác

Theo tác giả, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng khác của VKSND trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…)

Quan điểm thứ ba: Là quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ tồn tại

trong lĩnh vực hình sự, là quyền của Nhà nước nhân danh công quyền truy tố

kẻ phạm tội ra trước Toà án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên toà hình sự sơ thẩm (duy trì quyền công tố) Ở Việt Nam, quyền này được Nhà

Trang 16

nước giao cho VKSND Theo quan điểm này thì chỉ có duy nhất một chủ thể

có quyền công tố - đó là VKSND, việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là TTHS và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm

Theo tác giả, quan điểm này trái ngược với quan điểm thứ hai, đã quá thu hẹp không chỉ khái niệm, nội dung mà còn cả phạm vi của quyền công tố Không những vậy, còn không phản ánh được bản chất của quyền công tố và hơn thế nữa còn nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố bởi

vì truy tố và buộc tội chỉ là một trong số các quyền năng, là một số hoạt động

cụ thể trong số những hoạt động của VKSND ở giai đoạn xét xử sơ thẩm trong TTHS khi thực hành quyền công tố Ngoài các quyền năng đó ra, VKSND còn có nhiều quyền năng khác nữa khi thực hành quyền công tố cả ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự và ở các giai đoạn khác

Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các

cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Theo quan điểm này thì chủ thể thực hành quyền công tố không chỉ có VKSND mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác (Cơ quan điều tra, Toà án, Thi hành án) Và như vậy, quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc TTHS, đã nhầm lẫn giữa các chức năng cơ bản (buộc tội, gỡ tội, xét xử…)

Quan điểm thứ năm: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho

VKSND truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Cơ quan công tố

có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó, quyết định truy tố bị can ra trước Toà

án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà Theo quan điểm này thì quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm; quyền công tố

Trang 17

chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là TTHS Ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho duy nhất VKSND, không có cơ quan nào có thể thay thế được

Như vậy có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan

điểm khác nhau Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó nhưng cũng đều bộc lộ những bất cập: Hoặc là đánh đồng quyền công

tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của VKSND trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài TTHS; hoặc là quá thu hẹp phạm

vi của quyền công tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của quyền công tố…

Với nhận thức của mình, tác giả ủng hộ quan điểm thứ năm nêu trên

với khái niệm quyền công tố bởi các lý do sau:

Thứ nhất, tác giả nhận thấy quan điểm này phù hợp với quan điểm

truyền thống nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố:

"Quyền công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự xem xét là tội phạm xâm hại trật tự chung của toàn xã hội"

Thứ hai, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật

của Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau về quyền công tố, cụ thể:

- Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ đều khẳng định "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố…"

- Khi nói về vai trò, nhiệm vụ của VKSND, đồng chí Trường Chinh đã khẳng định: Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát

để sử dụng quyền công tố, bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc VKSND phải trông nom, đảm bảo tốt

Trang 18

- Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp" [10]

- Tại báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật của Quốc hội (số 729 ngày 14/3/2002) về dự án Luật tổ chức VKSND khẳng định: "Hoạt động công

tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện, khởi tố vụ án đến truy tố bị can và tranh tụng tại phiên toà" [47]

- Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi bổ sung - Điều 137) và các văn bản pháp luật của Nhà nước ta (Điều 1, Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2002, Điều

23 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS)) quy định: "Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố" [40]

- Kết luận tại Hội nghị của ngành kiểm sát nhân dân quán triệt những nội dung cơ bản của Luật tổ chức VKSND năm 2002 và những công tác trọng tâm của VKSND nhằm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị được tổ chức tháng 6/2002, đồng chí Hà Mạnh Trí - Viện trưởng VKSNDTC đã khẳng định: Việc thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử

Từ các ý kiến, tư tưởng chỉ đạo nêu trên, có thể thấy thực hành quyền công tố là việc truy cứu người có hành vi phạm tội ra trước Toà án; quyền công tố ở nước ta được giao cho chủ thể duy nhất là VKSND; quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự và có ở tất cả các giai đoạn từ khi khởi tố, điều tra đến truy tố và xét xử hình sự Các công tác khác như giải quyết án dân sự, giam giữ cải tạo, giải quyết án hành chính, kinh tế lao động, thi hành án…của VKSND là hoạt động thuộc lĩnh vực kiểm sát các hoạt động tư pháp khác

Từ những ý kiến phân tích như trên có thể đưa ra khái niệm: Quyền công

tố ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho VKSND thực hiện các quyền

Trang 19

năng theo quy định của pháp luật nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

b) Đối tượng, nội dung, phạm vi của quyền công tố

Như đã phân tích trên, do hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố nên hệ quả cũng có nhiều quan điểm khác nhau về đối tượng, nội dung, phạm vi của quyền công tố:

* Đối tượng của quyền công tố

- Những người có quan điểm đồng nhất quyền công tố với kiểm sát tuân theo pháp luật thì cho rằng đối tượng của quyền công tố là sự tuân thủ pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, của những người thực hành tố tụng và người tham gia tố tụng

- Với quan điểm "quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa các

vụ việc vi phạm pháp luật thống trị ra trước Toà án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ trât tự pháp luật" thì đối tượng của quyền công tố là tất cả các hành vi vi phạm pháp luật Tức là đối tượng của quyền công tố rất rộng và không cụ thể bởi lẽ các hành vi vi phạm pháp luật thì rất đa dạng, phong phú và không chỉ có trong lĩnh vực TTHS mà còn có cả trong lĩnh vực tố tụng tư pháp khác

Theo tác giả, vì chức năng duy nhất của quyền công tố là chức năng buộc tội nhân danh Nhà nước, và vì chỉ có lĩnh vực TTHS là lĩnh vực duy nhất liên quan đến việc truy tố và buộc tội đối với người phạm tội, các lĩnh vực tư pháp khác là các lĩnh vực chỉ liên quan đến các vi phạm, tranh chấp khác cho nên quyền công tố chỉ có duy nhất trong lĩnh vực TTHS, không thể có trong các lĩnh vực tư pháp khác Với quan điểm tán đồng với quan điểm thứ năm như đã nêu trên, tác giả cho rằng đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội

* Nội dung của quyền công tố

Trang 20

Về nội dung của quyền công tố, cũng còn tồn tại những quan điểm rất khác nhau song xuất phát từ quan điểm về bản chất của quyền công tố là sự buộc tội nhân danh Nhà nước, đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội, tác giả thống nhất với quan điểm nội dung của quyền công tố

là sự buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người đã thực hiện tội phạm

* Phạm vi của quyền công tố

Do hiện đang tồn tại những quan điểm khác nhau về quyền công tố nên cũng có các cách lý giải khác nhau về phạm vi của quyền công tố (cả phạm vi về không gian lẫn phạm vi về thời gian)

Về phạm vi không gian: Phần lớn các quan điểm cho rằng quyền công

tố chỉ có duy nhất trong lĩnh vực hình sự Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có quan điểm cho rằng quyền công tố được thực hiện không chỉ trong lĩnh vực hình sự

mà còn trong các lĩnh vực hoạt động tư pháp khác (tố tụng dân sự, kinh tế, lao động…) Theo quan điểm của tác giả, vì bản chất của quyền công tố là buộc tội cho nên quyền công tố không thể có trong các lĩnh vực khác không liên quan đến sự buộc tội như trong tố tụng dân sự, kinh tế, lao động…Và vì vậy, tác giả có quan điểm rằng quyền công tố chỉ có trong duy nhất lĩnh vực có liên quan đến tội phạm và sự buộc tội - đó là lĩnh vực TTHS

Về phạm vi thời gian (tức thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công tố): Vấn đề này cũng tồn tại nhiều quan điểm:

- Quan điểm thứ nhất: Là quan điểm cho rằng phạm vi quyền công tố

bắt đầu từ khi có quyết định truy tố của VKSND và kết thức khi Kiểm sát viên thực hiện xong việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm Theo quan điểm này, quyền công tố chỉ có ở duy nhất một giai đoạn của TTHS đó

là giai đoạn xét xử sơ thẩm mà không có ở các giai đoạn khác kể cả giai đoạn điều tra Theo họ, giai đoạn điều tra chỉ là giai đoạn thu thập các tài liệu chứng cứ để phục vụ cho việc đưa vụ án ra Toà

Trang 21

Tác giả thấy rằng, quan điểm như vậy là đã quá thu hẹp phạm vi của quyền công tố và thậm chí đã nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố Bởi vì, truy tố bị can ra Toà và thực hiện sự buộc tội tại phiên toà sơ thẩm chỉ là một trong các biện pháp thực hành quyền công tố (quyền năng) của VKSND Ngoài các quyền năng trên, khi thực hành quyền công tố, VKSND còn có nhiều quyền năng khác trong suốt quá trình TTHS kể cả trong giai đoạn điều tra như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, yêu cầu điều tra, điều tra,

áp dụng hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, quyết định truy tố…đến giai đoạn xét xử Cho nên, nếu quan điểm như vậy thì sẽ không lý giải được việc thực hiện các quyền năng khác của VKSND như khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can…có thuộc quyền công tố hay không trong khi đó, pháp luật lại quy định

rõ đó là các nội dung thực hành quyền công tố (Điều 112 BLTTHS) Và nếu quan niệm như vậy, cũng sẽ không lý giải được những hoạt động của VKSND các cấp sau phiên toà sơ thẩm: VKSND kháng nghị bản án hình sự, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của VKSND tại các phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm…là hoạt động gì Trong khi đó, các hoạt động này cũng chính là để tiếp tục sự buộc tội nhân danh Nhà nước, để truy cứu trách nhiệm hình sự đến cùng đối với người phạm tội - chính là nội dung của thực hành quyền công tố

- Quan điểm thứ hai: Là quan điểm cho rằng phạm vi của quyền công tố

bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật

So với quan điểm thứ nhất, quan điểm này tuy có mở rộng hơn phạm

vi của quyền công tố, theo đó thì quyền công tố có cả trong giai đoạn điều tra nhưng lại giới hạn thời điểm kết thúc của quyền công tố là chỉ đến khi bản án

sơ thẩm có hiệu lực pháp luật Cũng như quan điểm thứ hai, quan điểm này vẫn bộc lộ những hạn chế, chưa đầy đủ và thiếu tính thuyết phục bởi không phù hợp với thực tiễn, không lý giải được vai trò của VKS khi thực hiện chức

Trang 22

năng thực hành quyền công tố trong các phiên toà khác sau phiên toà sơ thẩm (trong phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm)

- Quan điểm thứ ba: Phạm vi của quyền công tố là từ khi khởi tố vụ

án đến khi người phạm tội chấp hành xong bản án Theo quan điểm này thì quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn của TTHS từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự, tức là quyền công tố có cả sau khi mà bản án đã có hiệu lực pháp luật

Quan điểm này đã mở rộng hơn nữa phạm vi của quyền công tố nhưng cũng lại chưa đầy đủ và cũng chưa có sức thuyết phục Bởi vì, bản chất của quyền công tố là sự buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội Cho nên, cứ ở đâu và bất cứ khi nào có tội phạm xảy ra, thì ở đó và thời điểm

ấy, cũng đồng thời xuất hiện đòi hỏi đối với các cơ quan chức năng trong việc buộc phải tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội để thực hành quyền công

tố Cho nên, quyền công tố thực ra không chỉ có từ khi vụ án được khởi tố mà

nó xuất hiện từ trước đó, ngay từ khi tội phạm được thực hiện Và vì, quyền công tố là quyền nhân danh công quyền buộc tội đối với những người có hành

vi phạm tội Cho nên, một khi đã có được bản án có hiệu lực pháp luật thì việc buộc tội đã chấm dứt, không thể còn quyền công tố kéo dài hơn nữa Vì vậy, trong giai đoạn thi hành án, không thể nói vẫn còn có sự hiện diện của quyền công tố

- Quan điểm thứ tư: Là quan điểm cho rằng quyền công tố có từ khi

tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật…Theo quan điểm này, quyền công tố bắt đầu xuất hiện từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp vụ án được tạm đình chỉ, đình chỉ)

Các quan điểm trên đây, tuy có khác nhau nhưng cùng có điểm chung

là cùng khẳng định quyền công tố là quyền truy tố và buộc tội của VKS nhân

Trang 23

danh Nhà nước Xuất phát từ quan điểm, quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện các chức năng do pháp luật tố tụng hình sự quy định, trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với người phạm tội, góp phần ra được bản án có căn cứ, đúng pháp luật, tác giả đồng tình với quan điểm thứ tư nêu trên về phạm vi của quyền công tố là từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc khi có quyết định đình chỉ trong trường hợp vụ án được đình chỉ)

1.1.1.2 Thực hành quyền công tố

a) Khái niệm thực hành quyền công tố

Việc xác định rõ quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố

có ý nghĩa không chỉ giúp phân định rõ ràng, đúng đắn chức năng nhiệm vụ, xác định vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung, trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng, mà còn giúp cho nhận thức thống nhất và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cải cách tư pháp

Như phân tích trên, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội; quyền công

tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS; phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra, tiếp diễn suốt từ khởi tố, điều tra đến truy tố bị can ra Toà, tranh tụng tại phiên toà và kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc quyết định của Toà án - trong trường hợp vụ án bị đình chỉ) Để thực hiện được quyền công tố đó, Nhà nước ban hành pháp luật quy định các quyền năng pháp lý khác nhau để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong từng giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự (hay nói cách khác đó là các phương pháp khác nhau để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong những giai đoạn tố tụng khác nhau) - đó là thực hành quyền công tố Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến pháp, pháp luật và thực tiễn thì từ

Trang 24

trước đến nay quyền này được giao cho duy nhất VKS Vậy, chủ thể thực hành quyền công tố ở Việt Nam là VKSND

Như vậy, có thể đi đến khái niệm sau: Thực hành quyền công tố là

việc Nhà nước tổ chức và giao cho cơ quan đại diện của mình (VKS) các quyền năng pháp lý để thực hiện trong tất cả giai đoạn của TTHS từ điều tra, truy tố đến xét xử nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội và áp dụng đối với họ các chế tài hình sự cần thiết

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động thực hành quyền công tố

Theo các quy định của BLTTHS và Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố trong tất cả các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật" Cụ thể:

Trong giai đoạn điều tra:

- Khởi tố vụ án, khởi tố bị can: Đây là các biện pháp phát động quyền công tố, mở đầu cho cả quá trình TTHS, là điểm mốc làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với người có hành vi phạm tội Bởi từ đây, cơ quan có thẩm quyền chính thức bắt đầu các hoạt động điều tra nhằm làm rõ tội phạm và người phạm tội, làm rõ các tình tiết của vụ án…Theo quy định của pháp luật, VKS là cơ quan duy nhất trong TTHS có quyền quyết định việc có hay không khởi tố vụ án hình sự, bị can để điều tra: Có quyền phê chuẩn các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, các quyết định thay đổi và bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can của Cơ quan điều tra… Các quyết định khởi tố vụ án, bị can của các chủ thể khác được pháp luật giao cho thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều phải chịu sự giám sát và phụ thuộc vào quyết định của VKS: Sau khi có quyết định khởi tố

vụ án, khởi tố bị can, các quyết định khởi tố của các cơ quan đó phải được gửi đến VKS cùng các tài liệu có liên quan để VKS xem xét quyết định phê chuẩn

Trang 25

hay không phê chuẩn Trong trường hợp không được sự phê chuẩn của VKS thì các quyết định đó bị triệt tiêu về hiệu lực

Ngoài ra, VKS còn có thẩm quyền đặc biệt hơn cả trong số các chủ thể có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can: Có quyền độc lập quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, không phải chịu sự chi phối của bất cứ cơ quan nào, các quyết định này của VKS có hiệu lực ngay sau khi ban hành

- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra:

Trong TTHS, Cơ quan điều tra được giao trách nhiệm điều tra tội phạm, có quyền áp dụng tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật để điều tra làm rõ vụ án, làm rõ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết có liên quan như: động cơ, mục đích của tội phạm, nhân thân của người phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra… Đây là những hoạt động mà không có cơ quan nào có thể thay thế cho Cơ quan điều tra được bởi họ có biên chế là đội ngũ các Điều tra viên được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ về điều tra và khám phá tội phạm Nhưng bởi việc đưa một con người vào vòng tố tụng và xử lý họ về hình sự là vấn đề không hề đơn giản, động chạm đến rất nhiều quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ, cần phải đảm bảo tính thận trọng và chính xác Cho nên, cần phải có sự chế ước giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong TTHS nhằm đảm bảo tất cả mọi hành vi phạm tội đã được phát hiện phải được khởi tố, xử lý kịp thời và nghiêm minh nhưng cũng cần phải có căn cứ

và đúng pháp luật Vì vậy, pháp luật quy định giao cho một cơ quan nhà nước trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đảm bảo cho các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chứng minh hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội phải được thu thập đầy đủ, toàn diện, khách quan và hợp pháp - Cơ quan đó là VKS VKS là cơ quan duy nhất có quyền can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tra, đề ra yêu cầu điều tra để Cơ quan điều tra tiến hành điều tra Cơ quan điều tra mà cụ thể là các Điều tra viên có trách nhiệm phải thực hiện tất cả các

Trang 26

yêu cầu của VKS Trường hợp không nhất trí, Cơ quan điều tra có quyền được kiến nghị đến VKS cấp trên nhưng trong thời gian chờ đợi kết quả vẫn phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu đó Ngoài ra, VKS còn có quyền tự mình trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nếu xét thấy cần thiết như: ghi lời khai của bị hại, nhân chứng, thực nghiệm điều tra…

- Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của BLTTHS, nếu hành vi có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố hình sự

- Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác

- Quyết định việc truy tố bị can, tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án,

bị can

Trong giai đoạn xét xử:

Các quyền năng của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử bao gồm:

- Duy trì quyền công tố tại phiên toà sơ thẩm bằng các hoạt động như: công bố bản cáo trạng hoặc quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết

vụ án tại phiên toà; luận tội đề nghị kết tội bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội; tham gia thẩm vấn bị cáo và những người tham gia tố tụng khác như người bị hại, người liên quan, nhân chứng,…; tranh luận với luật sư và những người tham gia tố tụng để làm rõ thêm các tình tiết có liên quan đến vụ án và các chứng

cứ thu thập được trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Thực chất, đây chính là các hoạt động bảo vệ quyết định truy tố nhằm buộc tội bị cáo, làm cơ sở để cho bản luận tội vừa có căn cứ pháp luật, vừa phù hợp với các tình tiết thu thập được qua quá trình điều tra và diễn biến của việc điều tra công khai tại phiên toà, vừa có tính thuyết phục, giáo dục, phòng ngừa tội phạm, đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội

Trang 27

- Phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm; kháng nghị các bản án, quyết định của Toà án

Tóm lại, tất cả các vấn đề mà VKS có quyền quyết định trong các giai đoạn khác nhau của TTHS như trên cho thấy thực hành quyền công tố có một vai trò và ý nghĩa rất quan trọng

1.1.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp

Cơ quan tư pháp ở Việt Nam là các cơ quan nhà nước được giao trách nhiệm thực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, bao gồm: Cơ quan điều tra, VKS, Toà án, Cơ quan thi hành án, có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm giải quyết và hỗ trợ việc giải quyết các vụ án hình sự, các tranh chấp giữa các chủ thể của các quan hệ pháp luật khác nhau và thi hành các bản án, các quyết định của Toà án

Theo quy định của pháp luật thì chức năng, nhiệm vụ của VKSND là

"Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp…" Qua tinh thần của các văn bản pháp luật, có thể thấy rõ đây là hai chức năng hoàn toàn độc lập của VKS Các vấn đề có liên quan đến chức năng thứ nhất (thực hành quyền công tố) đã được làm rõ qua phần phân tích trên Và để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, cần phải làm rõ các vấn đề có liên quan đến chức năng thứ hai: Thế nào là

hoạt động tư pháp và thế nào là kiểm sát các hoạt động tư pháp

1.1.3.1 Kiểm sát các hoạt động tư pháp

a) Hoạt động tư pháp

Như đã nêu ở trên, các cơ quan tư pháp ở nước ta bao gồm Cơ quan điều tra, VKS, Toà án và Cơ quan thi hành án Hiểu theo nghĩa rộng của khái niệm về tư pháp ở nước ta, thì các hoạt động tư pháp là các hoạt động liên

Trang 28

quan đến quá trình giải quyết các vụ án và các tranh chấp bao gồm các hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành các quyết định của Toà án trong cả lĩnh vực hình sự, dân sự và hành chính, kinh tế… Vậy, hoạt động tư pháp là hoạt động trước hết phải được tiến hành bởi các cơ quan tư pháp Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa tất cả mọi hoạt động do

cơ quan tư pháp tiến hành đều là hoạt động tư pháp mà chỉ là hoạt động tư pháp nếu hoạt động đó gắn liền với việc giải quyết một vụ án, một tranh chấp cụ thể

Ví dụ như hoạt động điều tra thu thập chứng cứ của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hoạt động tư pháp bởi vì nó nhằm giải quyết vụ án, giải quyết tranh chấp cụ thể Trong quá trình tiến hành các hoạt động này, giữa các cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp (người tiến hành tố tụng) và giữa các cơ quan tư pháp (cơ quan tố tụng) phát sinh các mối quan hệ và các mối quan hệ đó được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng Ngoài các hoạt động

đó, trong các cơ quan tư pháp còn có các hoạt động khác (ví dụ như: hoạt động phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật của Toà án…) đó không phải

là hoạt động tư pháp vì nó không nhằm giải quyết vụ án hoặc giải quyết tranh chấp nào Mối quan hệ giữa các cơ quan và các cán bộ, nhân viên của các cơ quan tư pháp phát sinh trong quá trình này được điều chỉnh bằng pháp luật hành chính Như vậy, hoạt động tư pháp phải hội tụ đủ hai yếu tố: Hoạt động đó phải

do các cơ quan nhà nước thực hiện trong quá trình tố tụng, được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng; mục đích của hoạt động là nhằm đảm bảo việc giải quyết một vụ án hình sự, vụ tranh chấp cụ thể một cách có căn cứ, đúng pháp luật

Vì vậy, hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan tư pháp

trong quá trình tố tụng nhằm giải quyết các vụ án hình sự và các vụ tranh chấp một cách có căn cứ, đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

b) Kiểm sát các hoạt động tư pháp

Trang 29

Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng hiến định của VKSND Theo quy định của pháp luật, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp bằng các công tác khác nhau gắn liền với các lĩnh vực khác nhau bao gồm kiểm sát các hoạt động của các cơ quan tiến hành

tố tụng hình sự và tố tụng tư pháp khác trong lĩnh vực giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động… Đó là các công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của

Cơ quan điều tra - kiểm sát điều tra, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự - kiểm sát xét xử Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành các bản án và các quyết định của Toà án nhân dân - kiểm sát thi hành án Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam của Cơ quan điều tra - kiểm sát giam giữ và cải tạo Kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, HNGD, hành chính, kinh tế, lao động…Các lĩnh vực công tác đó hợp thành kiểm sát các hoạt động tư pháp

Mục đích của kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự là nhằm đảm bảo các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đúng pháp luật, đúng người, đúng tội, không để xảy ra việc oan, sai hay bỏ lọt tội phạm Trong các lĩnh vực tố tụng khác, mục đích của kiểm sát các hoạt động tư pháp

là nhằm đảm bảo việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình và các việc khác theo đúng quy định của pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Mục đích chung của hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS là nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự và các tranh chấp khác

Đối tượng của kiểm sát các hoạt động tư pháp là việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan tư pháp và các đối tượng tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án và các tranh chấp khác

Phạm vi của kiểm sát các hoạt động tư pháp:

Trang 30

- Phạm vi không gian của kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động của các cơ quan tư pháp Đó là việc chấp hành pháp luật trong suốt quá trình giải quyết các vụ án hình sự và giải quyết các tranh chấp khác

- Phạm vi về thời gian của kiểm sát các hoạt động tư pháp là từ khi cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án và đương sự khởi kiện cho đến khi thi hành xong bản án và các quyết định khác của Toà án

1.1.3.2 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

Trong các giai đoạn thực hiện chức năng kiểm sát, VKS thực hiện đồng thời hai hoạt động: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp Hai hoạt động này, nếu xem xét chúng dưới góc độ độc lập, riêng lẻ thì chúng có mục đích khác nhau Mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố nhằm truy tố, buộc tội người có hành vi phạm tội ra trước Toà án theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm không để lọt kẻ phạm tội và làm oan người vô tội Mục đích kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, chúng làm tiền đề, điều kiện của nhau Nếu thực hiện tốt việc truy tố, buộc tội, xét xử nghiêm minh thì đòi hỏi cơ quan, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải chấp hành đúng các quy định về tố tụng Ngược lại, chấp hành tốt các quy định về tố tụng đó

là điều kiện, cơ sở cho việc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vì vậy, tác giả cho rằng xét cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là những khái niệm có nội hàm khác nhau, nhưng các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp có mối quan hệ mật thiết với nhau Nó luôn có tác động qua lại, hỗ trợ và làm tiền đề cho nhau Nếu làm tốt chức năng kiểm sát các

Trang 31

hoạt động tư pháp sẽ tạo cơ sở thuận lợi cho chức năng thực hành quyền công

tố và ngược lại

Để thực hiện các chức năng nhiệm vụ đặt ra đối với cơ quan VKS, pháp luật đã quy định cụ thể các quyền hạn của VKSND trong từng hoạt động nghiệp vụ cụ thể nhằm ngăn ngừa đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả, đảm bảo việc khởi tố, bắt, giam giữ, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng pháp luật Kịp thời phát hiện mọi vi phạm trong hoạt động tư pháp, thực hiện việc kiến nghị, kháng nghị đối với vụ,việc vi phạm pháp luật

1.2 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ở VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM

2003

Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà- Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Bản Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện chính trị, pháp lý, lịch sử quan trọng, đánh dấu một chương mới trong lịch sử dân tộc; đồng thời là cơ sở để sau này hàng loạt các thiết chế của một Nhà nước mới được hình thành

Ngay sau khi giành độc lập, Chủ tịch nước đã ký Sắc lệnh số 13C-SL ngày 13/9/1945 Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về Toà án quân sự- cơ quan xét xử duy nhất tại Việt Nam; đồng thời quy định chức năng công

tố (buộc tội) như sau: "Đứng buộc tội là một Uỷ viên quân sự hay một Uỷ viên của Ban trinh sát" Như vậy, chỉ 11 ngày sau khi ra đời, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thiết lập cơ quan tư pháp, trong đó phôi thai xuất hiện cơ quan thực hành quyền công tố (cơ quan buộc tội)

Ngày 9/1/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã được Quốc hội thông qua Đây là một văn bản pháp lý quan trọng quy định cơ cấu tổ

Trang 32

chức Nhà nước nói chung và hệ thống các cơ quan tư pháp nói riêng Theo điều 63 của Hiến pháp, cơ quan tư pháp gồm có: Toà án tối cao, các Toà án phúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp Tiếp theo, một loạt các văn bản pháp luật quan trọng được ban hành, quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có bộ phận thực hành quyền công tố như: Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 quy định tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 quy định thẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án và nhân viên Công tố viện; Sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1946 quy định thể thức thi hành án; Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 quy định về tổ chức Tư pháp công an; Thông tư số 772/TTg ngày 15/5/1956 quy định việc kiện toàn các cơ quan tư pháp…

Theo nội dung các văn bản pháp luật nói trên, Toà án, Tư pháp công

an và Tổ chức công tố đuợc quy định như sau:

- Tổ chức Toà án có 3 cấp: Toà án sơ cấp (Toà án ở các quận); Toà án

đệ nhị cấp (Toà án ở các tỉnh); Toà thượng thẩm (ở 3 kỳ Bắc, Trung, Nam)

- Tổ chức công tố nằm trong Toà án: Mỗi Toà thượng thẩm có một Chưởng lý, một hay nhiều Phó trưởng lý, nhiều tham lý Khi xét xử, Chưởng

lý hoặc Phó Chưởng lý hoặc Tham lý ngồi ghế Công tố viên

- Chánh án có quyền điều khiển và kiểm soát tất cả nhân viên khác trong Toà án, trừ các Thẩm phán buộc tội

- Thẩm phán được chia làm hai loại: Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc tội Thẩm phán buộc tội gồm có các Chưởng lý, Phó trưởng lý, Tham lý (ở Toà thượng thẩm), Biện lý (ở Toà đệ nhị cấp); đối với Toà sơ cấp, Thẩm phán xét xử đồng thời thực hiện cả chức năng buộc tội

- Về phương diện Tư pháp công an: Tất cả Tư pháp công an, Ủy viên Tư pháp công an đều đặt dưới quyền kiểm soát của Chưởng lý Toà thượng thẩm

Trang 33

Công tố có trách nhiệm phụ trách Tư pháp công an và các cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra Việc bổ nhiệm, thăng thưởng và xử phạt hành chính những

Uỷ viên Tư pháp công an phải trên cơ sở ý kiến đồng ý của Biện lý và Chưởng

- Ở Toà sơ cấp, Thẩm phán sơ cấp dưới quyền chỉ huy của ông Biện lý Toà án tỉnh Ở Toà đệ nhị cấp, ông Biện lý có hai nhiệm vụ chính là Tư pháp cảnh sát và công tố Ở Toà thượng thẩm, Chưởng lý điều hành, phân công công việc…; Phó trưởng lý, Tham lý có nhiệm vụ thực hành quyền công tố trước Toà thượng thẩm Biện lý có quyền đình cứu một vụ việc, đưa xét xử, đưa ra phòng dự thẩm để thẩm cứu và điều tra Biện lý phải có mặt tại phiên toà hình và hộ; Chưởng lý và các Công tố viên có quyền phát ngôn ở những phiên tòa Hộ và Hình ở Toà thượng thẩm…

Như vậy, mặc dù nằm trong Toà án nhưng các Thẩm phán buộc tội là một bộ phận riêng và hoạt động độc lập với Thẩm phán xét xử Tuỳ theo từng cấp, Công tố viện phụ trách trực tiếp và có quyền ra chỉ thị, kiểm soát công việc của các Uỷ viên Tư pháp công an; Công tố viện đảm nhiệm việc thực hành quyền công tố trước Toà án và đốc thúc việc thi hành án…

Năm 1950, qua cuộc tập huấn chính trị, trên cơ sở học tập mô hình tổ chức các cơ quan tư pháp của Pháp, đã mở đường cho cải cách tư pháp lần thứ nhất (1950-1958) Trong thời gian này, một loạt văn bản pháp luật mới được ban hành, trong đó có các văn bản quy định về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp Nội dung chính thể hiện tư tưởng cải cách tư pháp là:

- Đổi tên Toà án sơ cấp thành Toà án nhân dân huyện, Toà án đệ nhị cấp thành Toà án nhân dân tỉnh, Hội đồng phúc án thành Toà phúc thẩm, Phụ thẩm nhân dân thành Hội thẩm nhân dân;

- Việc xử án có Hội thẩm nhân dân tham gia và chiếm đa số;

Trang 34

- Công tố viện có quyền kháng cáo cả việc hộ và việc hình;

- Quyền công tố nhà nước được giao cho các Công tố ủy viên Toà án nhân dân tỉnh trở lên (Viện trưởng), Phó công tố ủy viên và các Thẩm phán công tố thực hiện

- Khi có vụ việc xảy ra, Thẩm phán huyện phải lập tức báo Công tố ủy viên tỉnh biết

- Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp có quyền điều hành công việc của Công tố viện;

- Hệ thống Toà án từ thời điểm này chỉ có Toà án nhân dân trực thuộc

Bộ Tư pháp và Toà án binh trực thuộc Bộ Quốc phòng…

Trong phiên họp ngày 29/4/1958, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm trong nước và học tập kinh nghiệm của Trung Quốc, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra Nghị quyết thành lập hệ thống Viện công tố và hệ thống Toà án tách khỏi Bộ Tư pháp; đặt Viện Công tố Trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm và quyền hạn như một Bộ Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng trong lịch sử phát triển của nền tư pháp Việt Nam, là

cơ sở cho việc tiến hành cải cách tư pháp một cách sâu rộng cho những năm tiếp theo Ngày 1/7/1959 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 256-TTg, quy định nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố Hệ thống Viện công tố được thành lập bao gồm Viện công tố Trung ương, Viện công tố địa phương các cấp và Viện công tố quân sự các cấp Ngày 6/8/1959 Viện trưởng Viện công tố Trung ương đã ban hành Thông tư số 601-TCCB, giải thích và hướng dẫn thi hành Nghị định số 256-TTg của Thủ tướng Chính phủ Ngày 27/8/1959 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 321-TTg, thành lập các Viện công tố phúc thẩm và Viện công tố các cấp

Giai đoạn này, nhiệm vụ chung của Viện công tố là giám sát việc tuân thủ pháp luật Nhà nước, truy tố theo luật hình những kẻ phạm pháp để bảo vệ

Trang 35

chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh… Nhiệm vụ cụ thể của Viện công tố là: Điều tra và truy tố trước Toà án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra; giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc xét xử của các Toà án; giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc thi hành các bản án về hình sự, dân sự và trong hoạt động của cơ quan giam giữ cải tạo; khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của công dân Tổ chức của Viện công tố gồm: Viện công tố Trung ương; Viện công

tố địa phương các cấp (cấp tỉnh và cấp huyện); Viện công tố quân sự các cấp

Từ năm 1960, trên cơ sở Hiến pháp 1959, VKSND ra đời Theo đó, Luật tổ chức VKSND năm 1960 có hiệu lực đã quy định chức năng, nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy của VKSND Lần đầu tiên trong lịch sử Bộ máy nhà nước

ta, VKS được quy định thành một cơ quan phù hợp với Hiến pháp Luật tổ chức VKSND năm 1960 gồm 6 chương, 25 điều, đã cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của VKSND Theo đó, ngoài chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, VKSND còn có các nhiệm vụ và quyền hạn sau: Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp về hình sự…

Tháng 2/1967, tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Kiểm sát, đồng chí Trường Chinh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã nói: Không có cơ quan nhà nước nào thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố Bắt, giam, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính VKS phải trông nom, bảo đảm làm tốt Cho đến nay, kết luận này vẫn là định hướng quan trọng cho hoạt động kiểm sát

Hiến pháp năm 1980 ra đời, nước ta được đổi tên thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lần đầu tiên Hiến pháp quy định thực hành quyền công tố là chức năng của VKSND Đây là một sự kiện pháp lý quan

Trang 36

trọng để VKSND thực hiện tốt chức năng của mình Điều 138 Hiến pháp quy định:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình [19]

Theo quy định của Hiến pháp năm 1980 thì VKSND vừa kiểm sát việc tuân theo pháp luật, vừa thực hành quyền công tố Đây là bước phát triển mới

so với Hiến pháp năm 1959 (Hiến pháp năm 1959 không quy định nội dung thực hành quyền công tố)

Năm 1981, Luật tổ chức VKSND ra đời, quy định nhiều điểm mới, tạo điều kiện thuận lợi để phục vụ cho các khâu công tác kiểm sát, đặt nền tảng cho VKSND trong việc thực hiện chức năng và tạo cơ sở cho việc xây dựng

và hoàn thiện hệ thống VKS trong phạm vi cả nước

Tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khoá VIII (ngày 28/6/1988), BLTTHS đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành BLTTHS quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân

Trang 37

Về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS, Bộ luật quy định: VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố, bảo đảm việc điều tra được khách quan, toàn diện và đầy đủ; áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật này quy định để mọi hành vi phạm tội đều được điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt người phạm tội…

Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức VKSND năm 1992 quy định: VKSNDTC kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang

Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ…, thực hành quyền công tố, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất… VKSND được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành, do Viện trưởng lãnh đạo

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung uơng khoá IX chỉ rõ:

"…cần sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp" Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ghi: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng…" [10]

Để thể chế những nội dung quan trọng của các nghị quyết nêu trên về cải cách tư pháp, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã điều chỉnh một bước về chức năng, nhiệm vụ của VKS Theo đó, VKS thôi không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội; đồng thời nhấn mạnh việc tăng cường chức năng thực hành quyền công

tố và ghi nhận chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp

Về mặt lý luận, Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã có bước phát triển tiến bộ, khẳng định rõ hai chức năng của VKS là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Để tạo điều kiện cho VKSND chủ động thực

Trang 38

hành quyền công tố ngay từ đầu, Luật mới đã quy định trách nhiệm của VKSND trong việc tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm và thực hiện việc thống

kê tội phạm Công tác thực hành quyền công tố trong các giai đoạn điều tra, xét xử đã được phân định rạch ròi và đầy đủ, chi tiết hơn

Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, BLTTHS năm 2003

đã thể hiện sâu sắc những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự Đối với VKS, Bộ luật quy định cụ thể như sau: VKS thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Toà án…; nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không

để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội

Như vậy, từ năm 1945, pháp luật về thực hành quyền công tố luôn phát triển không ngừng, dần hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội

1.3 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ở MỘT SỐ NƯỚC

Mỗi quốc gia có phương thức tổ chức các cơ quan tư pháp khác nhau, phù hợp với những đặc điểm về lịch sử, truyền thống văn hoá pháp lý riêng có của mình trên cơ sở đảm bảo tính hiệu quả của phương thức tổ chức ấy Cốt lõi của quyền công tố ở bất kỳ quốc gia nào cũng giống nhau, mặc dù việc tổ chức bộ máy để thực hiện quyền đó thì rất khác nhau Vì vậy trên thế giới hiện có rất nhiều mô hình Viện công tố Bên cạnh sự giống nhau về việc cùng thực hiện quyền công tố nhà nước thì chúng có sự khác nhau về nhiều mặt như phạm vi thực hiện quyền công tố, về một số chức năng, nhiệm vụ được giao thêm… Dưới đây là mô hình tổ chức và hoạt động đặc thù thực hành quyền công tố của một số quốc gia trên thế giới

Trang 39

1.3.1 Một số quốc gia theo hệ thống án lệ

* Vương quốc Anh

Cơ quan công tố Hoàng gia Anh là cơ quan độc lập, thuộc nhánh quyền lực hành pháp, thực hiện chức năng chính là truy tố tội phạm Hệ thống Cơ quan công tố Hoàng gia Anh bao gồm Cơ quan công tố trung ương, Cơ quan công

tố cấp khu vực và các chi nhánh; đứng đầu Cơ quan công tố là Tổng Công tố

Cơ cấu của ngành công tố Hoàng gia Anh là sự kết hợp giữa cơ cấu và tiêu chuẩn quốc gia với yêu cầu của địa phương Cơ quan công tố được phân chia thành 42 khu vực, mỗi khu vực do một Công tố viên trưởng của Hoàng gia đứng đầu

Trong giai đoạn điều tra, hầu hết các vụ việc hình sự đều do Cảnh sát đảm trách; Cơ quan công tố Hoàng gia không có quyền kiểm tra công tác quản lý nội bộ của cảnh sát cũng như không được can thiệp vào cách thức thực hiện chức năng của họ Tuy nhiên hai cơ quan này đều có sự phụ thuộc lẫn nhau Khi có đủ chứng cứ buộc tội, Cảnh sát có thể lựa chọn một trong những khả năng sau đây để xử lý: Không tiếp tục buộc tội; ra quyết định cảnh cáo; quản lý chặt chẽ kẻ bị tình nghi; buộc tội kẻ vi phạm Trường hợp Cảnh sát quyết định buộc tội thì phải chuyển toàn bộ hồ sơ cho Công tố viên để quyết định có truy tố hay không Nhiệm vụ của Công tố viên là: Tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự do Cơ quan cảnh sát và các cơ quan có thẩm quyền khác khởi tố; khởi tố và tiến hành tố tụng hình sự theo quy định; chỉ dẫn cho Cảnh sát những vấn đề liên quan đến tội phạm hình sự

Phần lớn các thủ tục tố tụng là do Công tố viên tiến hành Tuy nhiên tiến trình tố tụng hình sự cũng có thể do cá nhân và các cơ quan truy tố khác tiến hành (Cơ quan chống các tội lừa đảo nghiêm trọng; Cơ quan hải quan, Thuế vụ…); những trường hợp này Công tố viên Hoàng gia có quyền can thiệp khi cần thiết

Trang 40

Khi tiến hành tố tụng tại phiên toà, Công tố viên Hoàng gia phải thực hiện quyền tự quyết của mình đối với các vấn đề sau: Có khởi tố bị can hay không; có thể tiếp tục tiến hành tố tụng không; việc buộc tội đã đúng pháp luật chưa; đưa ra yêu cầu về cách thức xét xử Công tố viên phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với việc thẩm tra chứng cứ cũng như việc tiến hành tố tụng tại phiên toà, tiến hành truy tố theo nhiệm vụ của Công tố viên Tuy nhiên họ lại không có ảnh hưởng trực tiếp đối với sự tuyên phạt của Toà án và không

có nghĩa vụ pháp lý là đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo, mà đó là công việc của Toà

họ có toàn quyền truy tố tất cả các tội phạm theo quy định của pháp luật bang

Đa số các Văn phòng công tố của Mỹ không có các Điều tra viên hình sự Vì vậy các Công tố viên phải lệ thuộc vào Cảnh sát và các cơ quan thực thi pháp luật khác trong quá trình điều tra Tuy nhiên ở một số thành phố lớn, các Văn phòng công tố cũng có những Thanh tra cảnh sát riêng của mình để tiến hành điều tra ở cấp liên bang, việc truy tố tội phạm do Chưởng lý liên bang truy tố Việc điều tra do Cơ quan điều tra chịu trách nhiệm, trên cơ sở Điều tra viên phải thường xuyên trao đổi với Văn phòng công tố liên bang Kết thúc điều tra, Công tố viên liên bang sẽ quyết định có truy tố vụ việc ra toà hay không

Mỗi quận tư pháp liên bang có một Chưởng lý và một hoặc một vài trợ lý Họ có trách nhiệm truy tố các bị cáo tại các Toà án liên bang quận và các Toà án liên bang khi vụ án được đưa ra xét xử tại một Toà án liên bang Các Chưởng lý liên bang được Tổng thống bổ nhiệm và Thượng nghị viện

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Cảm (2001), "Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
2. Đào Hữu Dân (2005), "Những đặc trưng cơ bản của mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự", Công an nhân dân, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc trưng cơ bản của mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Tác giả: Đào Hữu Dân
Năm: 2005
3. Nguyễn Tấn Dũng (2003), "Bài phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2002 và triển khai công tác năm 2003 của ngành Kiểm sát nhân dân, ngày 07/01/2003", Kiểm sát, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2002 và triển khai công tác năm 2003 của ngành Kiểm sát nhân dân, ngày 07/01/2003
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Năm: 2003
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3 của Bộ Chính trị (khoá IX) về một số công việc cấp bách các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3 của Bộ Chính trị (khoá IX) về một số công việc cấp bách các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2000
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg ngày 19/3 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg ngày 19/3 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Báo cáo kết quả 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
15. Trần Văn Độ (1999), "Một số vấn đề về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền công tố
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 1999
16. Đỗ Văn Đương (1999), "Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố
Tác giả: Đỗ Văn Đương
Năm: 1999
17. Phạm Hồng Hải (1999), "Bàn về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền công tố
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1999
18. Phạm Hồng Hải (2002), "Quan niệm về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp", Kiểm sát, (8), tr. 7-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 2002
19. Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992) (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992)
Tác giả: Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
20. Lê Thị Tuyết Hoa (2001), "Bàn về quyền công tố", Nhà nước và pháp luật, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền công tố
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w