Sự cần thiết của đề tài: Với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới, WTO thực hiện những mục tiêu đã được nêu trong lời nói đầu của hiệp định GATT-1947 là n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ -
NGUYỄN MẠNH CƯỜNG
CẢI CÁCH KINH TẾ Ở TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VÀ NHỮNG GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 5.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN NGỌC THANH
Hà Nội - 2005
Trang 2Mục lục
Trang
Phần Mở đầu 5
Ch-ơng i: Những vấn đề chung về WTO VÀ KINH TẾ TRUNG QUỐC 8
1.1.WTO - MỤC TIấU VÀ NGUYấN TẮC HOẠT ĐỘNG 8
1.1.1.Sự hỡnh thành WTO 8
1.1.2.Mục tiờu và nguyờn tắc hoạt động của WTO 12
1.1.2.1.Mục tiờu của WTO 13
1.1.2.2.Cỏc nguyờn tắc hoạt động của WTO 13
1.2 BỐI CẢNH KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC 17
1.2.1.Tớnh tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Trung Quốc 17
1.2.2 Cơ hội và thỏch thức đối với Trung Quốc khi gia nhập WTO 22
1.2.2.1.Cơ hội 22
1.2.2.2.Thỏch thức 23
1.3 ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH VÀ CAM KẾT TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO CỦA TRUNG QUỐC 27
1.3.1 Điều chỉnh chớnh sỏch trước khi gia nhập WTO của Trung Quốc 27
1.3.2 Cam kết trước khi gia nhập WTO của Trung Quốc 29
CHƯƠNG 2: CẢI CÁCH KINH TẾ Ở TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO 31
2.1.TIẾP TỤC CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH KINH TẾ VÀ THỰC HIỆN CAM KẾT CỦA TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO 31
2.1.1 Ngoại thương 31
2.1.2 Đầu tư nước ngoài 34
2.1.3.Cụng nghiệp 36
2.1.4 Nụng nghiệp 38
2.1.5.Hệ thống ngõn hàng 41
2.2 THỰC TRẠNG KINH TẾ TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO 43
Trang 32.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 43
2.2.2.Công nghiệp 47
2.2.3 Nông nghiệp 55
2.2.4.Dịch vụ 57
2.2.5 Ngoại thương 66
2.2.6 Đầu tư nước ngoài 73
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG 78
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO 84
3.1.BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC 84
3.1.1.Chính sách thuế và áp dụng điều khoản bảo hộ phi thuế quan thông dụng quốc tế 85
3.1.2 Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài 87
3.1.3 Sáp nhập xí nghiệp, đẩy mạnh cải cách hệ thống doanh nghiệp Nhà nước 88
3.1.4 Giải quyết vấn đề dư thừa lao động nông thôn 89
3.1.5 Chính sách tiền tệ 91
3.2 QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM 93
3.2.1 Tính tất yếu và triển vọng gia nhập WTO của Việt Nam 93
3.2.2.Thuận lợi và khó khăn khi Việt Nam gia nhập WTO 95
3.3.2.1.Thuận lợi 95
3.2.2.2 Khó khăn 97
3.3 GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM 99
3.3.1 Tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, ngành 99
3.3.2 Chủ động mở cửa thị trường trong nước để mở cửa thị trường nước ngoài 100
3.3.3 Xây dựng nền kinh tế thị trường phát triển 102
3.3.4.Hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế, thương mại 106
Trang 43.3.5 Tăng cường đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên về các vấn đề hội
nhập kinh tế 108
3.3.6 Thực hiện các chương trình đảm bảo xã hội 109
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài:
Với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới, WTO thực hiện những mục tiêu đã được nêu trong lời nói đầu của hiệp định GATT-1947 là nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành viên, đảm bảo việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới
Đối với Trung Quốc, sau khi gia khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã tiến hành mậu dịch quốc tế theo nguyên tắc qui chế tối huệ quốc ổn định đa phương Với tư cách là một quốc gia đang phát triển, Trung Quốc được hưởng những chế
độ ưu đãi thông thường do WTO qui định, tức là những đãi ngộ đối với những nước đang phát triển; đồng thời thuế quan và mức bảo hộ những ngành nghề còn yếu của Trung Quốc được WTO cho phép cao hơn những nước phát triển
Trung Quốc có trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán vv
có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Sau khi gia nhập WTO Trung Quốc gặp một số khó khăn trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế như: hệ thống tài chính – ngân hàng yếu kém, nền nông nghiệp lạc hậu, chưa phát triển đồng đều, doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả nhưng lại chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế vv Đây là những vấn đề mà Việt Nam cũng sẽ khó tránh khỏi sau khi gia nhập WTO
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh
tế thế giới như gia nhập ASEAN, là thành viên của APEC, ASEM và đang trong quá trình hoàn tất việc đàm phán gia nhập WTO Vì vậy, việc nghiên cứu cải cách chính sách kinh tế của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO là rất cần thiết
và là những gợi ý về chính sách cho Việt Nam
Trang 62.Tình hình nghiên cứu :
Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về việc Trung Quốc gia nhập WTO nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào cải cách chính sách kinh tế của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO để từ đó đưa ra những gợi ý về chính sách cho Việt Nam Nghiên cứu của TS Trần Văn: Ảnh hưởng của việc Trung Quốc gia nhập WTO và quan hệ kinh tế thương mại song phương giữa Trung Quốc và ASEAN Nghiên cứu của ông đã đề cập đến những thuận lợi và khó khăn mà thương mại thế giới nói chung và thương mại song phương giữa Trung Quốc và ASEAN nói riêng, trong đó có Việt Nam gặp phải sau khi Trung Quốc gia nhập WTO Nghiên cứu chưa đi sâu vào việc nghiên cứu các chính sách kinh tế cụ thể của Trung Quốc mà chỉ đưa ra những kết quả về thương mại của Trung Quốc là chính Từ đó đưa ra những so sánh về ảnh hưởng của Trung Quốc đối với thương mại thế giới trước và sau khi nước này ra nhập WTO Nghiên cứu này chưa đưa ra được những cải cách chính sách của Trung Quốc trong các lĩnh vực sau khi gia nhập WTO để phát triển kinh tế của mình
Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác nhưng cũng chưa tập trung sâu vào cải cách chính sách kinh tế của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO để từ đó đưa
ra những gợi ý về chính sách cho Việt Nam
3.Mục đích nghiên cứu :
Nghiên cứu cải cách chính sách kinh tế của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO trong các lĩnh vực ngoại thương, đầu tư nước ngoài, ngân hàng, nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ vv Trên cơ sở đó đưa ra những gợi ý về chính sách cho Việt Nam
4 Đối tƣợng nghiên cứu :
Nghiên cứu cải cách chính sách kinh tế của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO, tập trung vào các vấn đề: Ngoại thương, Đầu tư nước ngoài, Hệ thống ngân hàng, Nông nghiệp, thực hiện cam kết vv
Trang 75.Phạm vi nghiên cứu :
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề trên từ khi Trung Quốc gia nhập WTO đến nay
6.Phương pháp nghiên cứu :
Đề tài sử dụng các phương pháp: DVBC và DVLS, phương pháp thống
kê, tổng hợp, phân tích, so sánh
7.Dự kiến những đóng góp của luận văn :
Những vấn đề chung về WTO và kinh tế Trung Quốc
Làm rõ những nỗ lực tiếp tục cải cách chính sách kinh tế của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO, nghiên cứu vấn đề thực hiện các cam kết của Trung Quốc sau khi ra nhập WTO như thế nào
Rút ra những bài học kinh nghiệm quí báu cho Việt Nam là nước đang trong quá trình gia nhập WTO Trên cơ sở đó, đưa ra những gợi ý về chính sách khi Việt Nam gia nhập WTO
8 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương :
Chương 1: Những vấn đề chung về WTO và kinh tế Trung Quốc
Chương 2: Cải cách kinh tế ở Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
Chương 3: Bài học kinh nghiệm của Trung Quốc và những gợi ý về chính sách cho Việt Nam khi gia nhập WTO
Do đây là một chủ đề mới mẻ, bản thân còn nhiều hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm, nguồn tài liệu và thời gian nghiên cứu nên mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn quan tâm đến
đề tài này Tôi xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Ngọc Thanh - người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ WTO
VÀ KINH TẾ TRUNG QUỐC
1.1.WTO - MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG
1.1.1.Sự hình thành WTO
Năm 1944, khi chiến tranh thế giới thứ hai đang đi vào giai đoạn kết thúc thì tại Bretton Woods, 44 quốc gia tư bản đã tổ chức một hội nghị quốc tế gọi là hội nghị Bretton Woods Tại hội nghị này, các quốc gia đã thành lập hai tổ chức kinh tế là Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD - Tiền thân của Ngân hàng thế giới sau này) Đồng thời đã đi đến một quyết định là thành lập ra một Tổ chức Thương mại quốc tế, gọi tắt là ITO
Trong khuôn khổ Liên hợp quốc, đã có 03 Hội nghị quốc tế được tổ chức (London, tháng 10/1946; Geneva, tháng 08/1947; La Havana, từ tháng 11/1947 đến tháng 03/1948) nhằm soạn thảo ra văn kiện thành lập ITO có tên gọi là
“Hiến chương La Havana” Mục tiêu của ITO được qui định trong Hiến chương
La Havana là tạo việc làm đầy đủ và tăng trưởng thương mại Vì vậy, để đạt được hai mục tiêu nói trên, Hiến chương đã đề ra bốn biện pháp hành động chủ yếu: tái thiết và phát triển kinh tế; tất cả các nước đều được tiếp cận với các nguồn cung cấp nguyên liệu và các yếu tố sản xuất khác trên cơ sở bình đẳng; cắt giảm các trở ngại đối với thương mại quốc tế; hợp tác và tư vấn với ITO Tuy nhiên, quá trình đàm phàn để đi đến Hiến chương ITO đã cho thấy những bất đồng sâu sắc giữa Mỹ, Tây Âu với các nước đang phát triển về mục tiêu và
Trang 9những ưu tiên của ITO Trong khi mục tiêu quan trọng nhất của Mỹ là mở cửa thị trường các nước Tây Âu và Nhật Bản, nhất là hạn chế đến mức tối đa các háng rào thuế quan, tự do hoá thương mại trên cơ sở bình đẳng và tối huệ quốc thì các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Libăng lại cương quyết chống lại các điều khoản tối huệ quốc vì cho rằng các điều khoản này sẽ đặt những nước trên rơi vào thế bình đẳng trên danh nghĩa nhưng lại bất bình dẳng trên thực tế
Chính những mâu thuẫn trên đã khiến cho Hiến chương La Havana không bao giờ có hiệu lực và ITO cũng không bao giờ ra đời Tuy nhiên, song song với các vòng đàm phán cho việc ra đời ITO, thì tại Genever, ngày 30/10/1947, đại diện của 23 nước đã đi đến một thoả thuận cắt giảm thuế quan đối với một nửa số hàng hoá trong thương mại quốc tế, đồng thời đã ký kết Nghị định thư áp dụng tạm thời “Hiệp định chung về thuế quan và thương mại”, gọi tắt là GATT 1947
Chính việc Hiến chương La Havana không được phê chuẩn, nên Hiệp định GATT với 38 điều đã được các nước áp dụng “tạm thời” trong hơn 40 năm như là một Hiệp định đa phương duy nhất điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế Sau gần nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, GATT đã trở thành một thể chế
và pháp lý của nền thương mại quốc tế cũng như đã trở thành thể chế mậu dịch
đa phương quản lý và điều hành hoạt động mậu dịch của các nước sau khi tiến trình thành lập Tổ chức Mậu dịch quốc tế bị đứt quãng Tuy chỉ là một bản hiệp định mang tính tạm thời song nó lại có tác dụng rất lớn trong việc đảm bảo và thúc đẩy sự phát triển của nền mậu dịch quốc tế sau chiến tranh
GATT đã trở thành “nôi đàm phán” của mậu dịch quốc tế, phát động và thúc đẩy tiến trình tự do hoá mậu dịch giữa các nước, là nơi giải quyết các tranh
Trang 10chấp quốc tế, điều hoà những mâu thuẫn và va chạm về mậu dịch quốc tế giữa các nước
GATT đã thông qua những chế độ và cơ chế về mậu dịch của các nước đang phát triển, có một tác dụng nhất định trong việc thúc đẩy sự phát triển về kinh tế và mậu dịch của các nước đang phát triển
Hàng năm các thành viên nhóm họp để vạch ra chính sách cơ bản của GATT, mỗi quốc gia thành viên có một phiếu Chế độ đa phiếu được tôn trọng nhằm tránh việc rời xa các nghĩa vụ cụ thể mà GATT qui định Các tiểu ban hoà giải được xác lập nhằm giải quyết các tranh chấp trong thương mại
Từ năm 1947 đến năm 1994, đã có 8 vòng đàm phán thương mại đa phương được tiến hành trong khuôn khổ GATT 1947 Nội dung của các vòng đàm phán đã được mở rộng từ cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan đến cải cách hệ thống pháp lý, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT
Nhưng do trào lưu toàn cầu hoá kinh tế diễn ra ngày càng nhanh, mạnh và sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên GATT đã bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế Điều này chủ yếu biểu hiện ở những điểm sau:
Về vị trí, GATT chỉ là một bản hiệp định mang tính tạm thời chứ không phải là một tổ chức quốc tế chính thức, không có tư cách chủ thể luật quốc tế Vị trí không chính thức này của GATT đã gây trở ngại cho nó trong việc tiến hành các hoạt động thông thường, hạn chế nó trong việc phát huy chức năng của mình, làm giảm bớt quyền lực của nó với tư cách là một tổ chức quản lý và điều hoà các hoạt động mậu dịch quốc tế
Trang 11Phạm vi quản lý của GATT quá nhỏ hẹp vì chỉ hạn chế ở lĩnh vực mậu dịch và kinh tế, mậu dịch dịch vụ phát triển hết sức nhanh chóng, ngày càng đóng vai trò quan trọng Hơn nữa sự phát triển của nền kinh tế thế giới ngày càng mang đặc trưng của nền kinh tế tri thức, làm thế nào để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại quốc tế đã trở thành một chủ đề quan trọng Rõ ràng là thể chế GATT như vậy rất khó có thể đáp ứng nhu cầu phát triển mậu dịch và kinh tế quốc tế
Quy tắc của GATT rất không chặt chẽ, còn nhiều kẽ hở Điều này chủ yều
thể hiện ở những điểm: thứ nhất, nội dung của rất nhiều qui tắc trong GATT còn
mơ hồ, thiếu những tiêu chuẩn rõ ràng; thứ hai, còn nhiều khoản ngoại lệ; thứ
ba, còn tràn lan nhiều biện pháp “Khu vực xám” như hạn chế xuất khẩu tự
nguyện, sắp xếp có trật tự Chẳng hạn, ở nguyên tắc “không phân biệt đối xử” được thể hiện trong điều khoản “tối huệ quốc”, theo đó không ưu đãi mậu dịch đối với bất kỳ quốc gia nào hơn so với những thành viên khác ký kết GATT Nhưng trong các khu vực mậu dịch tự do (còn gọi là liên minh thuế quan – Customs Unions) thì các thành viên trong khu vực hoặc trong liên minh điều được ưu đãi hơn Hay ở nguyên tắc “cấm trợ cấp cho xuất khẩu” có nghĩa là các nhà sản xuất nội địa không được hưởng những lợi ích hoặc ưu đãi nào khiến họ chiếm ưu thế trên thị trường nước ngoài Ngoại lệ của nguyên tắc này dành cho mặt hàng nông sản Ngoài mặt hàng nông sản ra, nếu có trợ cấp ưu đãi khác thì các nước được quyền áp dụng chính sách thuế quan phân biệt đối xử nhằm làm đối trọng với những trợ cấp này, gọi là thuế quan bù trừ
Những hạn chế trên đây trong các qui tắc của GATT đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính quyền uy và tính hiệu quả của thể chế mậu dịch đa phương, nếu kéo dài sẽ gây biến động trong toàn bộ thể chế của GATT
Trang 12Trong cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT còn tồn tại nhiều hạn chế nghiêm trọng Biểu hiện chủ yếu: quyền lực tổ chức, nhóm chuyên gia rất nhỏ, quá trình giải quyết tranh chấp quá dài, sau khi kiểm tra, giám sát không có hiệu lực Đặc biệt là nguyên tắc “toàn thể nhất trí đồng ý” mà GATT sử dụng để giải quyết tranh chấp, nguyên tắc khắt khe này đã dẫn đến hiện tượng kết quả giải quyết tranh chấp của GATT không thể thực thi có hiệu quả Như vậy, khi nước thành viên, nhất là những nước thành viên có qui mô mậu dịch và thực lực kinh
tế hùng hậu vi phạm các nguyên tắc mậu dịch đa phương đã không bị trừng phạt một cách đích đáng, do vậy thường xuyên đặt toàn bộ thể chế mậu dịch đa phương trước nguy cơ tan rã
Đứng trước những hạn chế nội tại không thể giải quyết của GATT và để đáp ứng nhu cầu phát triển toàn cầu hoá mậu dịch và kinh tế quốc tế ngày càng phức tạp, các bên tham gia vòng đàm phán Urugoay (1986 – 1993, 123 nước) đã
đi đến thống nhất quyết định thành lập một thể chế mậu dịch đa phương mới -
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization – WTO) vào ngày
01/01/1995
WTO có trụ sở tại Geneva và Tổng cán sự đầu tiên là ông R.Ruggiero, người Italia Ngày 31/12/1994, các nước và khu vực tham gia GATT trước đây sau khi đồng loạt tiếp nhận bản Hiệp định đàm phán Urugoay đã trở thành các bên đầu tiên tham gia ký kết điều ước của WTO WTO là tổ chức quốc tế lớn nhất và đầu tiên trong việc thiết lập các thoả thuận và cam kết chung trên qui mô toàn cầu trong lĩnh vực thương mại và phát triển kinh tế nói chung WTO ra đời
đã đánh dấu sự ra đời của một thể chế mậu dịch đa phương mới, từ đó, mậu dịch quốc tế đã bước vào một thời đại mới - thời đại của WTO
1.1.2.Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của WTO
Trang 131.1.2.1.Mục tiêu của WTO
WTO có 3 mục tiêu sau:
Thúc đẩy tăng trưởng hàng hoá và dịch vụ trên thế giới, phục vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường
Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế; đảm bảo cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới
Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng
1.1.2.2.Các nguyên tắc hoạt động của WTO
Về phương diện pháp lý, định ước cuối cùng của vòng đàm phán Urugoay
ký ngày 15/04/1999 tại Marrakesh là một văn kiện pháp lý có phạm vi điều chỉnh rộng lớn nhất và có tính chất kỹ thuật pháp lý phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao và luật pháp quốc tế Về dung lượng, các Hiệp định được ký tại Marrakesh và các phụ lục kèm theo bao gồm 50.000 trang, trong đó riêng 500 trang quy định về các nguyên tắc và nghĩa vụ pháp lý chung của các nước thành viên như sau: Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới; 20 Hiệp định đa phương về thương mại hàng hoá; 04 Hiệp định đa phương về thương mại dịch
vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, kiểm điểm chính sách thươnng mại; 04 Hiệp định nhiều bên về Hàng không dân dụng, mua sắm của Chính phủ, sản phẩm sữa và sản phẩm thịt bò; 23 tuyên bố và quyết định liên quan đến một số vấn đề chưa đạt được thoả thuận trong vòng đàm phán Urugoay;
Trang 14Tổ chức thương mại quốc tế được xây dựng trên nền tảng 4 nguyên tắc pháp lý cơ bản là: tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia, mở cửa thị trường và cạnh tranh công bằng
Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)
Tối huệ quốc, viết tắt theo tiếng Anh là MFN ( Most Favoured Nation), là
nguyên tắc pháp lý quan trọng của WTO Tầm quan trọng đặc biệt của MFN được thể hiện ngay tại điều I của Hiệp định GATT Nguyên tắc MFN được hiểu
là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác Thông thường, nguyên tắc MFN được quy định trong các Hiệp định thương mại song phương Khi nguyên tắc MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả các nước thành viên WTO thì cũng đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử vì tất cả các nước sẽ dành cho nhau sự “đối xử ưu đãi nhất”
Mặc dù được coi là “hòn đá tảng” trong hệ thống thương mại đa phương, Hiệp định GATT 1947 và WTO vẫn quy định một số ngoại lệ và miễn trừ quan trọng đối với nguyên tắc MFN Ví dụ như điều XXIV của GATT quy định các nước thành viên trong các Hiệp định thương mại khu vực có thể dành cho nhau
sự đối xử ưu đãi hơn mang tính chất phân biệt đối xử với các nước thứ ba, trái với nguyên tắc MFN GATT 1947 cũng có hai miễn trừ về đối xử đặc biệt và ưu đãi hơn với các nước đang phát triển Miễn trừ thứ nhất là quyết định ngày 25/06/1971 của Đại hội đồng GATT về việc thiết lập “Hệ thống ưu đãi phổ cập”
(GSP – Global System of Trade Prefrences among Developing Countries) chỉ áp
dụng cho hàng hoá xuất xứ từ các nước đang phát triển và chậm phát triển Trong khuôn khổ GSP, các nước phát triển có thế thiết lập một số mức thuế ưu đãi hoặc miễn thuế quan cho một số nhóm mặt hàng có xuất xứ từ các nước đang phát triển và chậm phát triển và không có nghĩa vụ phải áp dụng những mức thuế quan ưu đãi đó cho các nước phát triển khác theo nguyên tắc MFN
Trang 15Miễn trừ thứ hai là quyết định ngày 26/11/1971 của Đại hội đồng GATT về
“Đàm phán thương mại giữa các nước đang phát triển”, cho phép các nước này
có quyền đàm phán, ký kết những Hiệp định thương mại dành cho nhau những
ưu đãi hơn về thuế quan và không có nghĩa vụ phải áp dụng cho hàng hoá đến từ các nước phát triển Trên cơ sở quyết định này, Hiệp định về “Hệ thống ưu đãi thương mại toàn cầu giữa các nước đang phát triển” đã được ký kết năm 1989
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment – NT), quy định tại
Điều III Hiệp định GATT, Điều 17 GATS và Điều 3 TRIPS Nguyên tắc NT được hiểu là hàng hoá nhập khẩu, dịch vụ về quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong nước Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ, các quyền sở hữu trí tuệ, chưa áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân Phạm vi áp dụng của nguyên tắc NT đối với hàng hoá, dịch vụ và sở hữu trí tuệ, việc áp dụng NT là một nghĩa vụ chung, có nghĩa là hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ
Nguyên tắc mở cửa thị trường
Nguyên tắc mở cửa thị trường thực chất là mở cửa thị trường cho hàng hoá, dịch vụ và đầu tư nước ngoài Trong một hệ thống thương mại đa phương, khi tất cả các bên tham gia đều chấp nhận mở cửa thị trường của mình thì điều
đó đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa
Về mặt chính trị, “tiếp cận thị trường” thể hiện nguyên tắc tự do hoá thương mại của WTO Về mặt pháp lý, “tiếp cận thị trường” thể hiện nghĩa vụ
có tính chất ràng buộc thực hiện các cam kết về mở cửa thị trường mà nước này chấp nhận khi đàm phán gia nhập WTO
Nguyên tắc cạnh tranh công bằng
Trang 16Cạnh tranh công bằng (Fair Competition) thể hiện nguyên tắc “tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau” và được công nhận trong án lệ của Urugoay kiện 15 nước phát triển (1962) về việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một lượng hàng nhập khẩu Do tính chất nghiêm trọng của vụ kiện, Đại hội đồng GATT đã phải thành lập một Nhóm Công tác (Working Group) để xem xét vụ này Nhóm Công tác đã cho kết luận rằng, việc
áp đặt các mức thuế khác nhau này đã làm đảo lộn những “điều kiện cạnh tranh công bằng” mà Urugoay có quyền “mong đợi” từ phía những nước phát triển và
đã gây thiệt hại về lợi ích thương mại của Urugoay Từ nay các nước phát triển
có thể bị kiện khi ngay cả về mặt pháp lý họ không vi phạm các điều khoản nào trong Hiệp định GATT nếu các nước này có những hành vi trái với “nguyên tắc cạnh tranh công bằng”
Tóm lại, theo quy định trong Hiệp định thành lập, WTO đã khắc phục được những hạn chế của GATT trước đây:
Thứ nhất, WTO là một tổ chức pháp nhân có tư cách chủ thể luật quốc tế
Tổ chức này có điều lệ rõ ràng chứ không phải chỉ mang tính chất cộng đồng như GATT, các thành viên của nó có khả năng pháp định tất yếu khi WTO thực hiện chức năng của mình
Thứ hai, WTO có phạm vi hoạt động rộng hơn GATT Sự ra đời của
WTO giúp tạo ra cơ chế pháp lý điều chỉnh thương mại thế giới trong các lĩnh vực mới là dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ, đồng thời đưa vào khuôn khổ thương mại đa phương hai lĩnh vực là dệt may và hàng nông sản
Thứ ba, WTO có chức năng giải quyết tranh chấp hiệu lực hơn GATT,
bởi vì thoả ước khó có thể thực thi nếu không đạt được sự nhất trí WTO đã khắc phục được những hạn chế nội tại của GATT đồng thời cũng mang lại cho các nước đang phát triển những quyền lực lớn hơn, có thể xoá bỏ được hiện tượng
Trang 17các nước phát triển lợi dụng cơ chế giải quyết tranh chấp lỏng lẻo của GATT để chèn ép các nước đang phát triển ở một mức độ tương đối
Nói chung, so với GATT, WTO lớn mạnh hơn cả về lượng và chất Phạm
vi hoạt động của WTO bao trùm lên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội
Cơ chế ra quyết định cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp đã được bổ sung cho phù hợp với tình hình mới Cho dù có sự khác biệt như thế, WTO vẫn theo đường lối của GATT để nhằm hạn chế những thiệt hại trong thương mại, cũng tương tự như IMF hạn chế những thiệt hại trong giao dịch về tài chính, làm giảm sút tính cạnh tranh
Sự ra đời của WTO vào ngày 10/01/1995 là bước dạo đầu cho triển vọng nhất thể hoá về ngoại thương ở tầm toàn thế giới trong tương lai Có lẽ sẽ còn xa
để tiến tới khả năng hợp nhất về đơn vị thanh toán, nhưng với những bước phát triển như kiểu WTO, thế giới sẽ tiến dần đến tầm vóc quy mô về hợp tác – liên kết – và thống nhất về kinh tế cho nhân loại trong thiên niên kỷ mới
1.2 BỐI CẢNH KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC
1.2.1.Tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Trung Quốc
Ngày 01/01/1995 tại Urugoay, Tổ chức thương mại thế giới - WTO ra đời
đã đánh dấu một sự chuyển biến lớn lao trong nền kinh tế thế giới WTO ra đời
đã thay thế tổ chức tiền nhiệm GATT, tiến hành thúc đẩy tự do hoá thương mại quốc tế giữa các nước thành viên Đến nay, WTO đã có 148 thành viên và còn nhiều quốc gia khác đang trong quá trình đàm phán gia nhập Việc ngày càng có nhiều quốc gia muốn gia nhập WTO đã cho thấy tầm quan trọng của tổ chức này Thêm vào đó, hội nhập kinh tế quốc tế đang là một xu hướng hiện nay và không có một quốc gia nào muốn ở ngoài cuộc Do đó, dù muốn hay không thì mỗi một quốc gia đều phải hoà nhập vào quá trình này Việc tham gia quá trình hội nhập càng chủ động thì càng có hiệu quả và tránh được nhiều rủi ro
Trang 18Theo cách nhìn của Trung Quốc, WTO là một tổ chức quốc tế chính thức, phản ánh và thể hiện nhu cầu lợi ích của các nước đang phát triển với những tôn chỉ tiến bộ Hiệp định WTO và 20 Hiệp định đi kèm đều đề cập đến vấn đề đãi ngộ đặc biệt và chênh lệch cho các nước đang phát triển và kém phát triển, bảo
vệ lợi ích của các nước này với 145 quy định, trong đó 107 quy định đã được chấp nhận khi kết thúc vòng đàm phán Urugoay, 22 quy định chỉ được áp dụng cho các thành viên là các nước kém phát triển nhất Tôn chỉ của WTO được xác định là nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm, nâng cao mạnh mẽ và chắc chắn thu nhập thực tế và nhu cầu hiệu quả, mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ, lấy phát triển bền vững làm mục tiêu, tăng cường sử dụng đầy đủ các nguồn lực của thế giới, bảo vệ, giữ gìn môi trường và dùng mọi phương thức cần thiết để phù hợp với những trình độ phát triển kinh tế khác nhau, tăng cường áp dụng hàng loạt biện pháp tương ứng Đồng thời phải nỗ lực tích cực để đảm bảo cho các nước đang phát triển, nhất là các nước chậm phát triển nhất giành được phần tương ứng với nền kinh tế của mình trong tăng trưởng thương mại quốc tế Tôn chỉ của WTO thực sự là tiến bộ, có sức hấp dẫn tất cả các quốc gia
Có thể nhận thấy tính tất yếu khách quan của xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và gia nhập WTO ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, trên toàn thế giới và trong mỗi quốc gia đều đã có sẵn một mức
nào đó các điều kiện vật chất - kỹ thuật như tiềm lực kinh tế kỹ thuật, sức mạnh quân sự chính trị, nền tảng văn hoá xã hội và khi các tiềm lực này phát triển mạnh mẽ, đạt đến một điểm mà tại đó bản thân các tiềm lực này đòi hỏi một môi trường rộng lớn hơn để phát triển Khi đó, các nguồn lực sẽ di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác và ngược lại Bất cứ một nền kinh tế nào không thể
Trang 19không tham gia vào quá trình này Đây chính là những điều kiện cơ bản để các quốc gia tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ hai, nhìn nhận một cách khách quan, toàn bộ quá trình Toàn cầu hoá
là một tất yếu vì lợi ích thu được từ quá trình trên đối với mỗi quốc gia là xu hướng chủ đạo Nếu quốc gia nào không theo xu hướng đó thì chắc chắn sẽ phải chịu tổn thất phát triển to lớn hơn nhiều, là tự chặn con đường tiến lên của mình trong thời đại ngày nay Vấn đề đặt ra ở đây không còn là cân nhắc xem nên tham gia vào quá trình hội nhập hay không mà là hội nhập như thế nào, theo lộ trình nào để lợi ích thu được từ đó là lớn nhất và hậu quả rủi ro là nhỏ nhất
Bên cạnh những tất yếu khách quan mà mỗi quốc gia phải hội nhập kinh
tế quốc tế, thì còn một lý do khác nữa cũng thúc đẩy các nước muốn gia nhập WTO, đó chính là những lợi ích to lớn mà tổ chức này đem lại cho các nước thành viên Có thể nêu ra một số lợi ích chủ yếu mà các thành viên sẽ nhận được khi tham gia WTO như sau:
Thứ nhất, khi gia nhập WTO các quốc gia thành viên sẽ không bị phân
biệt đối xử trong thương mại quốc tế Theo nguyên tắc của WTO, một nước thành viên của tổ chức này sẽ mặc nhiên được hưởng ưu đãi Tối huệ quốc và những đãi ngộ quốc gia khác, nhờ đó sẽ tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu, đồng thời góp phần xoá bỏ những lý do để các cường quốc thương mại áp dụng những biện pháp phân biệt đối xử trong việc ấn định các biện pháp chống bán phá giá và biện pháp tự vệ Tuy nhiên, trên thực tế khi đã vào WTO,
để không bị phân biệt đối xử các nước phải thường xuyên tiếp cận nguyên tắc này trong quá trình đàm phán, tính đến sự đa dạng của các quan hệ kinh tế - thương mại của mình với từng nước và phải tuân theo nguyên tắc có đi có lại
Trang 20Đối với Trung Quốc, sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc có thể tiến hành mậu dịch quốc tế theo nguyên tắc quy chế tối huệ quốc ổn định đa phương Với
tư cách là một quốc gia đang phát triển, Trung Quốc sẽ được hưởng những chế
độ ưu đãi thông thường do WTO quy định, tức là những đãi ngộ đối với các nước đang phát triển; đồng thời thuế quan và mức bảo hộ những ngành nghề còn yếu của Trung Quốc sẽ được WTO cho phép cao hơn các nước phát triển
Thứ hai, gia nhập WTO, hệ thống luật pháp trong nước sẽ được củng cố
đồng thời các tranh chấp thương mại được giải quyết theo một khung pháp luật quốc tế WTO là một tổ chức với những quy định và “luật chơi” chặt chẽ kiểm soát thương mại toàn cầu Các Hiệp định của WTO không ngừng nâng cao tính trong sáng minh bạch của chính sách thương mại và tập quán thương mại quốc
tế Do đó, nếu trở thành thành viên, nhất là các nước đang phát triển và nước có nền kinh tế chuyển đổi, sẽ có điều kiện xây dựng và tăng cường các chính sách
và thể chế điều hành, quản lý nền kinh tế của mình phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế nhằm tăng cường sự ổn định trong môi trường kinh doanh, nâng cao hiệu quả và năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế Nhưng việc các nước phải sửa đổi hệ thống pháp luật trong nước để phù hợp với quy định của WTO cũng đồng thời ảnh hưởng đến một số lĩnh vực, gây những khó khăn nhất thời Điều đáng lưu ý là phải làm sao tận dụng tối đa những lợi thế của việc tham gia tổ chức này và giảm thiểu những khó khăn
Đối với Trung Quốc, họ có thể lợi dụng cơ chế giải quyết tranh chấp mậu dịch của WTO để củng cố hệ thống luật pháp trong nước cũng như giải quyết các mâu thuẫn thương mại một cách công bằng và hợp lý hơn, từ đó có thể tránh được một số vấn đề gặp phải khi tranh chấp mậu dịch đơn phương xảy ra để đảm bảo quyền lợi chính đáng của Trung Quốc
Trang 21Thứ ba, quốc gia gia nhập WTO sẽ được nâng cao vị thế quốc tế và tạo
thế đứng vững chắc hơn trong quan hệ quốc tế Các nhà kinh tế đã ví WTO như một con tàu đang chạy, nếu như một nước không nhanh chóng nhảy lên tàu thì khoảng cách giữa họ và con tàu ngày càng xa, hay nói cách khác, họ sẽ bị tụt hậu lại sau Thực tế cho thấy WTO là một diễn đàn thương lượng nhằm tạo thuận lợi cho thương mại phát triển; ngoài những cam kết đã được thoả thuận, các thành viên sẽ tiếp tục sẽ tiếp tục thảo luận và thương lượng các Hiệp định mới về thương mại và đầu tư Do đó, là thành viên sẽ có điều kiện tham gia vào quá trình quản lý nền kinh tế thông qua việc tham dự các vòng đàm phán để thu thập thông tin, chiều hướng thương mại quốc tế, bảo vệ quan điểm của nước mình về những vấn đề mới
Đối với Trung Quốc, gia nhập WTO sẽ tăng cường rất nhiều quyền phải phát ngôn và quyền chủ động của Trung Quốc trên thế giới, nhất là trong những công việc kinh tế quốc tế, đồng thời cũng tạo ảnh hưởng tích cực đối với việc hoàn thành sự nghiệp thống nhất dân tộc Trung Hoa
Trong xu thế toàn cầu hoá, Tổ chức thương mại thế giới đã ra đời và hoạt động với 4 nguyên tắc: Tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia, mở cửa thị trường và cạnh tranh công bằng WTO đã tạo lập một cơ chế thương mại mới cho các nước thành viên của nó Cơ chế mới này đã đáp ứng được yêu cấu của quá trình hội nhập và mang lại lợi ích to lớn cho các nước thành viên Ý thức được điều đó, Trung Quốc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế bằng việc gia nhập WTO Khi gia nhập WTO Trung Quốc đã có được những lợi ích vô cùng quan trọng như tạo môi trường kinh tế cho nước này mở cửa xây dựng kinh tế, tạo cơ hội thúc đẩy việc thiết lập thể chế kinh tế thị trường XHCN
Tóm lại, việc gia nhập WTO của Trung Quốc là tất yếu – con đường phải
đi của các nước đang phát triển
Trang 221.2.2 Cơ hội và thách thức đối với Trung Quốc khi gia nhập WTO
Mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm của Trung Quốc, đặc biệt là đối với các sản phẩm hàng dệt may Cộng với thu nhập kinh tế của các ngành khác, hàng năm Trung Quốc có thể thu được thêm 116 tỷ USD, tương đương 1% tăng trưởng GDP
Người tiêu dùng Trung Quốc sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn những sản phẩm
và dịch vụ với giá rẻ, chất lượng tốt
Gia nhập WTO, Trung Quốc sẽ có điều kiện tạo thêm cơ hội về việc làm và tăng lợi ích cho người lao động khi thu hút được nhiều nguồn đầu tư nước ngoài
Gia nhập WTO, Trung Quốc thuận lợi trong việc mở rộng hợp tác giao lưu với quy mô lớn trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá và con người, từ đó sẽ làm người dân Trung Quốc có tầm nhìn rộng hơn, có ý thức công dân cao hơn
Dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá về kinh tế, dù cho muốn hay không thì mỗi quốc gia vẫn phải tham gia vào quá trình này Việc chủ động tham gia vào quá trình này sẽ giúp cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển
ổn định Đặc biệt là các nước đang thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế của mình
Trang 231.2.2.2.Thách thức
Bên cạnh những lợi ích có được khi gia nhập WTO, Trung Quốc cũng phải đối diện với một số thách thức và vấn đề khi nước này gia nhập WTO
Một là, sau khi gia nhập WTO, thuế quan giảm tác động đến thị trường
trong nước của Trung Quốc, mức bảo hộ đối với ngành nghề cũng giảm đi, những ngành vốn thiếu sức cạnh tranh quốc tế trong thời gian ngắn sẽ rơi vào tình trạng kinh doanh khó khăn Tuy nhiên, đối với Trung Quốc, một nước đã thực hiện quy chế mậu dịch mấy chục năm còn phải dần dần giảm bớt biện pháp hàng rào phi thuế quan thực hiện trước đây như giấy phép, hạn ngạch, hạn chế ngoại hối, tiêu chuẩn kiểm nghiệm kỹ thuật và quy chế MFN đối với việc thâm nhập thị trường của các nước Gia nhập WTO sẽ mang lại những thách thức cho một số ngành nghề lâu nay dựa vào bảo hộ của Nhà nước, giá thành sản phẩm cao, sức cạnh tranh trên thị trường kém Như nông nghiệp Trung Quốc một thời gian dài dựa vào bù lỗ của Nhà nước, thuế nhập khẩu cao tới 21% Trung Quốc cam kết sau khi gia nhập WTO một thời gian ngắn sẽ giảm thuế còn 17%, có sản phẩm quan trọng còn giảm tới 14,5% Sau khi mở cửa thị trường, nông sản phẩm nước ngoài với giá rẻ thâm nhập vào thị trường Trung Quốc không chỉ tác động mạnh tới thị trường nông phẩm trong nước mà còn làm cho vấn đề dư thừa lao động nông thôn vốn đã nghiêm trọng lại nghiêm trọng hơn
Ngành chế tạo xe hơi Trung quốc hiện nay với mức thuế nhập khẩu cao tới 80-100%, sau khi gia nhập WTO Trung Quốc cam kết trong vòng 6 năm sẽ giảm thuế xuống còn 25% Ngành xe hơi Trung Quốc trong thời kỳ có hạn nếu không thể nâng cao chất lượng, giảm giá thành thì sẽ bị rơi vào vị trí vô cùng bất lợi khi cạnh tranh với các công ty xuyên quốc gia của nước ngoài Tương tự như vậy với các ngành nghề khác như ngân hàng, điện, nước, y dược, cũng sẽ gặp phải những sức ép rất lớn
Trang 24Hai là, gia nhập WTO phải cam kết nghĩa vụ mở cửa thị trường dịch vụ,
lĩnh vực dịch vụ của Trung Quốc sẽ gặp phải những thách thức lớn WTO chia ngành dịch vụ thành hai loại lớn và hơn 100 chủng loại dịch vụ, trong đó có nhiều loại Trung Quốc chưa tính vào phạm vi ngành dịch vụ, và số ngành dịch
vụ mở cửa đối ngoại, cho phép người nước ngoài độc lập kinh doanh cũng là số
ít Ở Trong Quốc có nhiều ngành dịch vụ do Nhà nước độc quyền kinh doanh, sau khi gia nhập cần có một thời kỳ quá độ mấy năm, ngược lại các nước phát triển như Anh, Mỹ, Pháp, Đức, là những nước lớn xuất khẩu dịch vụ quốc tế
sẽ tranh đoạt thị trường dịch vụ Trung Quốc vốn chưa được khai thác Thách thức mà ngành dịch vụ Trung Quốc tiếp nhận sẽ lớn hơn các ngành khác như sức cạnh trang của ngân hàng thương mại Trung Quốc sẽ làm gia tăng rủi ro tiền
tệ sau khi gia nhập Do gia nhập WTO sẽ phải mở rộng phạm vi nghiệp vụ kinh doanh đồng Nhân dân tệ của ngân hàng nước ngoài, trong điều kiện hiện nay ngân hàng thương mại Trung Quốc phải gánh chịu lượng thua lỗ lớn của các doanh nghiệp Nhà nước; thêm vào đó năng lực, trình độ nhân viên thấp, chất lượng dịch vụ kém, khi mở cửa cho ngân hàng nước ngoài tham gia cạnh tranh, kinh doanh sẽ càng thêm khó khăn
Ba là, thách thức trực tiếp đối với Chính phủ Trung Quốc
Thách thức đối với chế độ thẩm duyệt của Chính phủ: Chế độ thẩm duyệt
hành chính hoạt động kém hiệu quả là một trở ngại to lớn đối với Trung Quốc khi tham gia tiến trình toàn cầu hoá và nó chiếm một phần lớn trong những xung đột giữa luật lệ của Trung Quốc với các quy tắc của WTO Nội dung đầu tiên không phù hợp với các quy tắc của WTO trong luật ngoại thương của Trung Quốc là chế độ thẩm duyệt đối với các doanh nghiệp ngoại thương, với tiêu chuẩn căn cứ là những điều kiện không phù hợp với quy tắc của WTO như việc cân đối trong thu chi ngoại hối, khối lượng xuất khẩu ròng
Trang 25Thách thức đối với thể chế, quyết sách của Chính phủ: Đây là một vấn đề
hết sức quan trọng vì sai lầm về quyết sách là sai lầm lớn nhất Chỉ một quyết sách sai về “đại nhảy vọt” đã làm cho Trung Quốc tổn thất hàng trăn tỷ Nhân dân tệ Duy trì thể chế đề ra quyết sách như vậy là không thể phù hợp với cơ chế thị trường XHCN, càng không phù hợp với tiến trình nhất thể hoá kinh tế
Thách thức về nguy cơ an ninh và chủ quyền quốc gia: Trong giai đoạ
n đầu khi thích nghi với nhất thể hoá với nền kinh tế thế giới sẽ lộ rõ sự yếu kém trong khả năng thích nghi và tính linh hoạt của Chính phủ Trung Quốc
và nếu có sai sót sẽ gây ra nguy cơ với chủ quyền quốc gia Do đó, Chính phủ Trung Quốc phải tìm ra biện pháp vừa có thể thoả mãn được những cam kết quốc tế khi gia nhập WTO, vừa kiên trì phương châm tự chủ kinh doanh, tự phát triển, đảm bảo giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia và an ninh kinh tế
Thách thức các nhân tố không thích ứng trước tình hình mới trong thể chế quản lý hành chính, cơ chế vận hành và phương thức quản lý: Sau khi gia nhập
WTO, có những yêu cầu cao hơn đối với các cơ sở công cộng của Chính phủ Chính phủ vừa phải đảm bảo sự toàn vẹn lợi ích của chủ thể kinh tế nước mình, vừa phải phù hợp với các quy tắc và thông lệ quốc tế Chính phủ phải thay đổi quan niệm từ quản lý các doanh nghiệp sang phục vụ các doanh nghiệp, xoá bỏ thói quen cũ là quản lý Thương mại bằng các biện pháp hành chính, từng bước thích ứng tạo thói quen làm việc theo pháp luật và theo thông lệ quốc tế
Bốn là, thách thức về mặt pháp chế: Một đặc điểm của WTO là định ra một
trật tự mang tính chất pháp chế đối với các thành viên, đòi hỏi các thành viên phải đảm bảo pháp luật; quy tắc, trình tự hành chính của Trung Quốc phải phù hợp với các quy định của WTO mà Trung Quốc đã ký Tuy Trung Quốc gia nhập WTO với
tư cách là một nước đang phát triển, cam kết mậu dịch về mặt mở cửa thị trường có thể được hưởng 25 năm hoà nhập muộn, nhưng về mặt minh bạch hoá phát triển, chấp pháp, tư pháp, cũng phải phù hợp với WTO Vì thế thách thức về mặt pháp
Trang 26chế của Trung Quốc khi gia nhập WTO gay gắt và rộng lớn hơn so với mặt thương mại Trong đó chủ yếu thể hiện ở bốn phương diện là tính nhất trí, độ minh bạch hoá, tính công bằng và tính trách nhiệm của pháp luật
Năm là, thách thức đối với ngành khoa học - kỹ thuật cao: Ngành khoa
học kỹ thuật cao của Trung Quốc như máy tính, thiết bị phát thanh truyền hình, thiết bị thông tin, máy móc tự động hoá, so với các sản phẩm cùng loại của nước ngoài còn có khoảng cách rất lớn, giá cả lại cao hơn Sau khi mở cửa thị trường, các sản phẩm khoa học kỹ thuật cao của nước ngoài với ưu thế chất lượng cao, giá rẻ và phục vụ tốt sẽ bắt đầu cạnh tranh quyết liệt với sản phẩm của Trung Quốc
Sáu là, do số người thất nghiệp đông, phải duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao:
Sau 20 năm tăng trưởng kinh tế, khoảng cách chênh lệch thu nhập lớn và vấn đề
ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề đặt ra đối với Trung Quốc Theo số liệu cho biết số người đang ở độ tuổi lao động của Trung Quốc chiếm 26% tổng số người đang ở độ tuổi lao động trên thế giới, điều này nói lên rằng Trung Quốc sẽ phải đứng trước áp lực bởi phải tạo việc làm cho người dân Vì vậy, do tình trạng người thất nghiệp đông nên sức ép về tạo việc làm là một thách thức lớn trong giai đoạn hiện nay của Trung Quốc
Bảy là, Trung Quốc phải duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sau 20
năm liên tục là thách thức lớn vì cùng với việc gia nhập WTO, vấn đề tăng trưởng kinh tế cao ở Trung Quốc ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn Hiện nay các sản phẩm sản xuất ra do sử dụng nhiều lao động của Trung Quốc chiếm từ 10-30% tỷ trọng xuất khẩu của thế giới Tuy nhiên, các sản phẩm sản xuất ra do
sử dụng kỹ thuật cao của Trung Quốc lại xuất khẩu không đạt tới 4% tỷ trọng xuất khẩu của thế giới Chính vì vậy Trung Quốc phải tiến hành điều chỉnh với quy mô lớn, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu sản phẩm ngoại thương Trung Quốc cần điều chỉnh cơ cấu ngành nghề sang loại hình không sử dụng nhiều năng
Trang 27lượng, không bị ô nhiễm nhiều, cần điều chỉnh cơ cấu sản phẩm sang loại hình
có giá trị phụ cao và tập trung kỹ thuật cao, cần tiếp tục đẩy mạnh việc xuất khẩu các sản phẩm tập trung sức lao động, đồng thời cũng tăng cường các sản phẩm tập trung kỹ thuật chất xám
1.3 ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH VÀ CAM KẾT TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO CỦA TRUNG QUỐC
1.3.1 Điều chỉnh chính sách trước khi gia nhập WTO của Trung Quốc
Chính phủ Trung Quốc đã tích cực điều chỉnh chính sách có hiệu quả trên các lĩnh vực mậu dịch hàng hoá, bản quyền tri thức và đầu tư, loại bỏ hơn
2200 văn bản pháp quy, pháp luật liên quan đến ngành mậu dịch đối ngoại đồng thời Chính phủ Trung ương và địa phương đã khẩn trương tiến hành cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN và thúc đẩy phát triển kinh tế
Trong lĩnh vực mậu dịch dịch vụ: Các bộ, ngành hữu quan của Trung
Quốc đã phê chuẩn các văn bản pháp quy và điều lệ về nhà đầu tư tiến hành đầu tư tại Trung Quốc trong lĩnh vực viễn thông,ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, văn phòng luật sư, vận tải biển quốc tế, phát hành chế phẩm đĩa nhạc, chứng khoán,
Trong lĩnh vực đầu tư: Trung Quốc thông qua việc huỷ bỏ các văn bản pháp
quy để cải thiện môi trường pháp luật thu hút đầu tư nước ngoài Cơ quan lập pháp Trung Quốc đã thông qua tiến hành sửa đổi luật cơ bản và thực thi cụ thể về hai bộ luật đầu tư trực tiếp nước ngoài như: “Luật doanh nghiệp hợp tư Trung Quốc - nước ngoài”, “Luật doanh nghiệp hợp tác Trung Quốc - nước ngoài” Nội dung sửa đổi bao gồm điều khoản cân bằng ngoại hối, điều khoản “hàm lượng có yếu tố đầu tư”, đưa yêu cầu, chức năng đối với ngành xuất khẩu và phương án dự trù kế hoạch sản
Trang 28xuất của doanh nghiệp, soạn thảo và ban hành mới “qui định phương hướng chỉ đạo đầu tư nước ngoài”, “mục lục chỉ đạo tài sản đầu tư nước ngoài”, “mục lục” đầu tư khuyến khích mới từ 186 điều trước đây tăng lên 262 điều, mục hạn chế từ 112 điều giảm xuống còn 75 điều Những lĩnh vực thuộc mạng thành phố quản lý như ngành viễn thông và khí đốt, nhiệt điện, cấp thoát nước trước đây cấm nhà đầu tư nước ngoài, nay lần đầu tiên đưa vào lĩnh vực mở cửa đối ngoại nhưng có hạn chế tỷ lệ cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài
Trong lĩnh vực bản quyền tri thức: Để thực hiện những cam kết khi gia
nhập tức là thực hiện toàn diện “quy định bản quyền tri thức liên quan đến mậu dịch” của WTO, Trung Quốc đã tiến hành sửa đổi pháp luật về “Luật đặc quyền”, “Luật nhãn hiệu hàng hoá”, “Luật quyền tác giả”, Điều lệ bảo vệ phần mềm máy vi tính”, định ra “Điều lệ thiết kế bảng mạch” và đã hoàn thành việc tiến hành sửa đổi đối với “Thực thi cụ thể luật nhãn hiệu hàng hoá”, “Thực thi
cụ thể luật bản quyền tác giả”, biện pháp thực hiện luật quản lý dược phẩm Về mặt lập pháp, vấn đề bảo vệ quyền tri thức của Trung Quốc đã cơ bản phù hợp với yêu cầu của Hiệp định TRIPS
Chuyển biến chức năng của Chính phủ là yêu cầu tất yếu của xây dựng thể chế
kinh tế thị trường XHCN, cũng là thách thức lớn nhất mà Chính phủ phải đối mặt trước khi gia nhập WTO, đối với Bộ/ngành trong nước còn phải làm nhiều mặt công tác Năm 2000, Quốc vụ viện Trung Quốc đã quyết định bãi bỏ 789 mục phê chuẩn hành chính, liên quan đến 56 Bộ/ngành và đơn vị của Chính phủ Bởi những bãi bỏ này có lợi cho việc hoàn thiện mục tiêu xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN và xây dựng một Chính phủ “trong sạch, cần mẫn, giỏi và hiệu quả”, chuyển biến hơn nữa chức năng của Chính phủ, có lợi cho việc phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của các chủ thể kinh tế thị trường, giảm thiểu sự can thiệp hành chính, hình thành nên môi trường cạnh tranh thị trường “công khai, công bằng, công minh”, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường XHCN
Trang 291.3.2 Cam kết trước khi gia nhập WTO của Trung Quốc
Trung Quốc cam kết thực hiện các chính sách minh bạch trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc chung của WTO, cụ thể gồm các nội dung chính:
Trung Quốc không phân biệt đối xử với bất kỳ thành viên nào của WTO - tức là các công ty nước ngoài có thể vào Trung Quốc kinh doanh và được hưởng quy chế như các công ty Trung Quốc
Chấp nhận bãi bỏ chế độ hai giá đối với hàng hoá sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước và cho xuất khẩu Việc kiểm soát giá cả sẽ không được áp dụng với mục đích bảo hộ sản xuất trong nước, bảo hộ cho các nhà kinh doanh trong nước
Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới một số luật trong nước cho phù hợp với các quy định của WTO
Không hỗ trợ xuất khẩu nông sản, chỉ khống chế trợ giá ở mức tối đa 8,5% giá trị hàng nông sản và bãi bỏ chế độ quản lý bằng hạn ngạch
Thực hiện các thoả thuận về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngay sau khi gia nhập WTO
Trong nông nghiệp: Giảm hàng rào thuế quan đối với hàng nông sản trung bình từ
mức 30% xuống còn 12% Một số sản phẩm “nhạy cảm” như lúa mỳ, ngô, gạo, bông và dầu đậu được đăng ký hạn ngạch thuế: dưới 10% đối với nhập khẩu một khối lượng nhỏ, trên 10% đối với nhập khẩu khối lượng lớn
Đối với ôtô: Từ ngày 01/01/2002 Trung Quốc cắt giảm gần 1/3 thuế nhập khẩu đối
với các loại ôtô nhập khẩu Thuế đánh vào các loại ôtô trên 3000 phân khối được giảm từ 80% xuống 50,7%, các loại xe dưới 3000 phân khối giảm từ 70% xuống 43,8% Từ năm
2002, các công ty liên doanh xe hơi Trung Quốc - nước ngoài được phép lập riêng các mạng lưới tiêu thụ Đến tháng 07/2006, mức thuế đánh vào các loại xe hơi nhập khẩu sẽ còn 25% và thuế đánh vào phụ tùng xe hơi sẽ giảm từ 23,4% xuống còn 10% Hạn ngạch nhập khẩu xe hơi cũng sẽ được bỏ hẳn vào năm 2005
Trang 30Trong lĩnh vực năng lượng: Trung Quốc đồng ý mở cửa các ngành dầu thô và dầu
chế biến cho các thương gia tư nhân qua việc tự do hoá dần và giảm sự độc quyền mua bán dầu qua việc cho tư nhân nhập khẩu 4 triệu tấn các sản phẩm dầu và 10% dầu thô Ngoài ra, Trung Quốc mở cửa lĩnh vực phân phối bán lẻ xăng dầu và cho phép các công ty nước ngoài có ít nhất 30% cổ phần ở mỗi trạm xăng
Về hoạt động của các ngân hàng nước ngoài: Các ngân hàng nước ngoài được
phép kinh doanh đồng NDT với các công ty Trung Quốc sau 2 năm và với cá nhân Trung Quốc sau 5 năm kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO
Về phân phối: Sau khi gia nhập được một năm, các nhà cung cấp dịch vụ nước
ngoài có thể lập nên những liên doanh buôn bán, sau 2 năm họ có quyền giữ phần vốn lớn hơn đối tác phía Trung Quốc Mọi giới hạn về địa lý và khối lượng đều được dỡ bỏ Trong lĩnh vực bán lẻ, từ năm 2002 các nhà cung cấp nước ngoài được lập tối đa 2 liên doanh ở 5 đặc khu kinh tế (Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Dầu, Hạ Môn và Hải Nam) và 4 thành phố (Thiên Tân, Quảng Châu, Đại Liên và Thanh Đảo)
Về bảo hiểm: Ngay sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, các công ty nước ngoài có
thể bán bảo hiểm thương mại và nhân thọ cho khách hàng Trung Quốc và nước ngoài ở Trung Quốc, năm 2003 bán bảo hiểm y tế và năm 2004, bán hợp đồng bảo hiểm tập thể, trợ cấp cho tất cả các khách hàng Ban đầu, các đối tác nước ngoài có thể chiếm 51% vốn đầu
tư cho bảo hiểm thương mại, 2 năm sau tỷ lệ này sẽ là 100% Đối với bảo hiểm nhân thọ, nhà đầu tư nước ngoài có thể chiếm tới 50% số vốn ngay sau khi Trung Quốc gia nhập WTO Các đối tác nước ngoài được tự do lựa chọn đối tác Trung Quốc và được hưởng những đảm bảo hợp pháp để kiểm soát vốn tốt hơn
Về viễn thông: Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, phần vốn của các nhà đầu tư
nước ngoài vào lĩnh vực này được tăng đến 25%, một năm sau tỷ lệ này là 35% và 3 năm sau là 49% Các hợp đồng thuê mua của ngành này cũng được tự do hoá
Trang 31CHƯƠNG 2 CẢI CÁCH KINH TẾ Ở TRUNG QUỐC SAU KHI
GIA NHẬP WTO 2.1.TIẾP TỤC CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH KINH TẾ VÀ THỰC HIỆN CAM KẾT CỦA TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO
Sau gần 15 năm đàm phán gia nhập WTO ngày 11/12/2001 Trung Quốc
đã trở thành thành viên thứ 143 của tổ chức này Đây là một trong ba sự kiện trọng đại của Trung Quốc trong năm 2001 và sự kiện này được coi như “cải cách mở cửa lần thứ hai”
Việc Trung Quốc gia nhập WTO giúp cho nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục xu hướng tự do hoá cũng như phát triển các quan hệ thương mại và đầu tư với thế giới bên ngoài, thúc đẩy hội nhập mạnh mẽ hơn
2.1.1 Ngoại thương
Trung Quốc có những cải cách hết sức mạnh mẽ trong chính sách ngoại thương nhằm đáp ứng những yêu cầu mở cửa nền kinh tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng
Sau khi gia nhập WTO, việc cắt giảm thuế quan của Trung Quốc đã được thực hiện một cách nhất quán và liên tục, vừa làm cho hệ thống thuế quan phù hợp với chuẩn mực chung của kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế, vừa nhằm mục tiêu giảm thuế suất bình quân đáp ứng yêu cầu của WTO Với một lộ trình cắt giảm thuế quan liên tục, thuế suất bình quân đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc đã giảm xuống còn 9,8%, bằng 1/3 so với thời điểm Trung Quốc bắt đầu đàm phán gia nhập WTO
Trang 32Ngoài ra, Trung Quốc cũng giảm các hàng rào phi thuế quan, là các hàng
rào phức tạp hơn so với các hàng rào thuế quan Về nhập khẩu, Chính phủ đã
ban hành quy định về việc thiết lập hệ thống “Các quy định tạm thời về việc thiết lập hệ thống đăng ký tự động đối với các hàng hoá đặc biệt” với hàm ý đăng ký không tạo ra hàng rào phi thuế quan và được coi như một giải pháp thay
cho hệ thống cấp phép nhập khẩu Về xuất khẩu, Trung Quốc đã không ngừng
giảm phạm vi cấp phép xuất khẩu Chẳng hạn, trong lĩnh vực dệt may, năm 2004 còn 29 sản phẩm, chiếm 4,2% tổng hàng hoá xuất khẩu là đối tượng cấp phép và quota xuất khẩu
Một rào cản phi thuế quan nữa là cơ chế đấu thầu để kiểm soát nhập khẩu của Trung Quốc Thông qua cơ chế đấu thầu, Chính phủ có thể kiểm soát nhập khẩu một số hàng hoá đặc biệt mà chỉ có một số ngành cung ứng quốc tế mới có thể đáp ứng Việc từ chối phê duyệt hồ sơ trúng thầu là một cách ép các doanh nghiệp mua sản phẩm thay thế trong nước Biện pháp này có thể bị coi là không minh bạch nên Trung Quốc đã dỡ bỏ Trung Quốc cũng thực hiện minh bạch hoá các tiêu chuẩn về chất lượng và sự an toàn
Chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc có rất nhiều nội dung bao gồm cả chính sách mặt hàng, chính sách thị trường và thu hút đầu tư nước ngoài Hoạt động ngoại thương của Trung Quốc đang dựa trên những nguyên tắc của kinh tế thị trường và yêu cầu của WTO Đó là:
Khuyến khích xuất khẩu qua thuế thể hiện trên hai phương diện Một là,
ưu đãi thuế quan nhập khẩu đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu hoặc đối với các sản phẩm trung gian cho những ngành ưu tiên phát triển Ý nghĩa của các biện pháp này không chỉ là thúc đẩy xuất khẩu thuần tuý về số lượng mà thực sự đã làm thay đổi mô hình thương mại của Trung Quốc theo hướng tham gia ngày càng sâu vào liên kết kinh tế quốc tế thể hiện ở việc gia tăng các sản phẩm chế biến xuất khẩu có sử dụng đầu vào từ nước ngoài và gia
Trang 33tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài Hai là, hạ thấp thuế giá trị gia tăng đối với hàng xuất khẩu mà không bị coi là bóp mép thương mại hay cạnh tranh không công bằng Điều này giúp cho các công ty của Trung Quốc tăng khả năng cạnh tranh với các công ty của những nước ít sử dụng thuế gián tiếp
Trung Quốc đã sử dụng chính sách tỷ giá như một công cụ hữu hiệu để thúc đẩy xuất khẩu trong khi vẫn đạt được mục tiêu thị trường hoá hoạt dộng ngoại hối Cùng với việc thực hiện cơ chế một tỷ giá, Trung Quốc đã thành lập
hệ thống ngoại hối liên ngân hàng thay thế cho các trung tâm giao dịch ngoại hối trước kia
Trung Quốc đã ban hành “Điều lệ chống bán phá giá và chống trợ cấp hàng nhập khẩu từ nước ngoài” Điều lệ này gồm 42 điều xem xét việc đánh thuế đối với các mặt hàng ế thừa và được hưởng trợ cấp của chính phủ nước ngoài nhập khẩu và bán phá giá ở Trung Quốc, hướng dẫn các công ty trong nước thưa kiện về những vụ tranh chấp, các biện pháp “trả đũa” với hành vi phá giá và áp dụng các mức thuế mang tính kỳ thị đối với hàng hoá của Trung Quốc Ngoài ra, Trung Quốc cũng đào tạo một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, thông hiểu pháp luật quốc tế hoạt động chuyên trách trong lĩnh vực chống phá giá
Chống độc quyền là vấn đề rất quan trọng nhằm thực hiện thương mại công bằng trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh Trung Quốc đã ban hành “Luật chống độc quyền” gồm 8 chương và 58 điều Luật này sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp Trung Quốc nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, mặt khác sẽ hạn chế quyền lực thị trường của các công ty xuyên quốc gia
Một số thành viên của WTO, trong đó có Thuỵ Sỹ, yêu cầu Trung Quốc cần có những biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả hơn để ngăn chặn làm giả: như xuất khẩu những mặt hàng nhái phi pháp của Trung Quốc đã làm ảnh hưởng đến một số ngành kinh doanh ở Thuỵ Sỹ Chính nạn làm hàng giả này thể hiện sự non nớt của thị trường và thiếu sự nghiên cứu phát triển Tất
Trang 34nhiờn, Trung Quốc phải tụn trọng những cam kết của mỡnh nhưng vấn đề này quỏ lớn khụng thể thực hiện trong một sớm một chiều Ngoài ra, những hạn chế
về tiếp cận thị trường bờn ngoài của hàng hoỏ Trung Quốc cú thể cản trở khả năng tuõn thủ cỏc cam kết của nước này Vớ dụ, trong thoả thuận khi gia nhập WTO, Trung Quốc đó chấp nhận một điều khoản tự vệ đối với cỏc hàng hoỏ cụ thể trong giai đoạn chuyển đổi, cho phộp cỏc thành viờn WTO khỏc được hạn chế hàng hoỏ nhập khẩu từ Trung Quốc với những điều kiện dễ dàng hơn nhiều
so với những gỡ được nờu trong vũng đàm phỏn Urugoay là văn kiện thành lập WTO Cỏc nước thành viờn WTO được ỏp dụng điều khoản này cho tới năm
2013 Trong một cam kết cao hơn so với yờu cầu của WTO, Trung Quốc đó chấp nhận một điều khoản tự vệ đặc biệt cho phộp cỏc nước thành viờn khỏc ỏp dụng với vải nhập khẩu từ Trung Quốc cho đến hết năm 2008
Khi Trung Quốc bắt đầu thực hiện những cam kết của mỡnh với WTO, nước này phải đối mặt với tỡnh trạng thất nghiệp trong nước tăng cao trong khu vực nụng thụn và cỏc ngành đũi hỏi nhiều vốn đầu tư khỏc vốn là đối tượng ảnh hưởng của tỡnh trạng hàng hoỏ nhập khẩu tăng mạnh và sự cạnh tranh quốc tế Nếu Trung Quốc khụng tăng được đỏng kể lượng xuất khẩu hàng dệt may và cỏc hàng hoỏ khỏc đũi hỏi nhiều nhõn lực của mỡnh, những mặt hàng mà Trung Quốc cú lợi thế thỡ Trung quốc khú cú thể thực hiện đầy đủ cỏc cam kết của mỡnh với WTO Vỡ vậy, nếu cỏc thành viờn WTO khỏc tận dụng những điều khoản mang tớnh bảo hộ mà Trung Quốc cam kết khi gia nhập WTO thỡ họ sẽ làm tăng khả năng Trung Quốc sẽ khụng thực hiện đầy đủ cỏc cam kết mở cửa thị trường của mỡnh
2 1.2 Đầu tư nước ngoài
Gia nhập WTO, đồng thời với việc đ-ợc h-ởng các quyền lợi của n-ớc
đang phát triển Trung Quốc còn phải gánh vác những nghĩa vụ t-ơng ứng cũng nh- tuân thủ quy tắc của WTO Để thực hiện cam kết của mình với n-ớc ngoài,
Trang 35Trung Quốc đã có những b-ớc điều chỉnh và phát triển mới trong chính sách thu hút FDI, đó là :
Gia nhập WTO đánh dấu thông lệ Trung Quốc đã tiếp cận gần hơn với thông lệ quốc tế, đòi hỏi chính sách thu hút FDI của Trung Quốc trên ph-ơng diện pháp luật phải phù hợp với WTO Hiệp định của WTO có liên quan đến thu hút đầu tư nước ngo¯i chð yếu có 4 hợp đồng lớn: ‚ hợp đồng những biện ph²p
đầu t- có liên quan đến thương m³i‛, ‚ hợp đồng chung về thương m³i v¯ dịch vụ‛, ‚hợp đồng mậu dịch có liên quan đến b°n quyền tri thức‛, ‚ hợp đồng về c²c biện ph²p trợ cấp v¯ không trợ cấp‛ Trung Quốc đã sửa đổi và ban hành 3 văn bản luật và quy định điều chỉnh và/hoặc ảnh h-ởng đến đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài: Luật liên doanh n-ớc ngoài - Trung Quốc, Luật doanh nghiệp hợp tác n-ớc ngoài - Trung Quốc, Luật doanh nghiệp có vốn đầu t- n-ớc ngoài và các quy định h-ớng dẫn thi hành Bên cạnh đó, Trung Quốc phải điều chỉnh, hoàn thiện một số điều luật thu hút vốn đầu t- n-ớc ngoài cũng nh- một số văn bản pháp quy khác sao không có sự đối lập với các Hiệp định của WTO và những cam kết của Trung Quốc khi gia nhập WTO
Do WTO thực hiện chế độ đãi ngộ quốc gia đối với FDI nên Trung Quốc loại bỏ một số chính sách hạn chế nhà đầu t- n-ớc ngoài đi ng-ợc lại nguyên tắc
‚ không kỳ thị‛ trong giao lưu quốc tế Chàng h³n như, chế độ cho phép nh¯ đầu t- n-ớc ngoài đ-ợc h-ởng những đãi ngộ về khu vực đầu t-, loại hình hợp đồng
đầu t-, kỳ hạn kinh doanh
Gia nhập WTO, do phải tuân theo các quy tắc của WTO nên Trung Quốc
đã mở rộng lĩnh vực đầu t- Trung Quốc cho phép th-ơng nhân n-ớc ngoài đầu t- vào các ngành khác nh- : viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch Việc đa dạng hóa lĩnh vực đầu t- có lợi cho việc mở rộng hơn nữa quy mô thu hút vốn
đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài vào Trung Quốc Các doanh nghiệp n-ớc ngoài đầu t- vào công nghệ phục vụ nông nghiệp, công nghệ cao, vận tải, năng l-ợng, vật liệu mới, các ngành cơ bản và bảo vệ môi tr-ờng đ-ợc h-ởng mức thuế thu nhập
Trang 36doanh nghiệp -u đãi là 15% Các doanh nghiệp n-ớc ngoài đ-ợc h-ởng chính sách -u đãi đầu t- khi đầu t- vào khu vực miền Trung, miền Tây Trung Quốc và tham gia vào cải cách doanh nghiệp Nhà n-ớc
Trung Quốc từng b-ớc áp dụng một số ph-ơng thức đầu t- mới theo thông
lệ quốc tế cũng nh- đ-a ra những đối sách t-ơng ứng trong thời gian sớm nhất để bắt kịp với xu h-ớng l-u động vốn quốc tế Đó là ph-ơng thức sáp nhập xuyên lục địa ,đầu t- chứng khoán
Bộ Ngoại th-ơng và hợp tác kinh tế và Uỷ ban chứng khoán Trung Quốc cùng ban h¯nh ‚Hướng dẫn thể hiện một số quan điểm về c²c vấn đề liên quan
đến c²c công ty có vốn đầu tư nước ngo¯i được niêm yết‛ Nội dung chính cða tài liệu này là tạo cho nhiều doanh nghiệp có vốn đầu t- n-ớc ngoài ở Trung Quốc đ-ợc tăng cổ phần và tạo thị thị tr-ờng trao đổi linh hoạt cho hoạt động
đầu t-, thay đổi cơ cấu sở hữu áp đặt và giới hạn tổng đầu t-, niêm yết cổ phiếu trên thị tr-ờng chứng khoán ở trong và ngoài n-ớc Ngoài ra, thông t- còn đề cập
đến việc chuyển một doanh nghiệp có vốn đầu t- n-ớc ngoài thành lập công ty
cổ phần phù hợp với việc niêm yết (một ‚doanh nghiệp có vốn đầu t- n-ớc ngo¯i tr²ch nhiệm hữu h³n bởi cổ phiếu‛),
2.1.3.Cụng nghiệp
Với phương chõm lấy phỏt triển làm chủ đề, lấy thị trường làm phương hướng, lấy cải cỏch mở cửa và tiến bộ khoa học kỹ thuật làm động lực, lấy tin tức hoỏ làm trọng điểm thỳc đẩy cụng nghiệp hoỏ, chớnh sỏch phỏt triển ngành cụng nghiệp của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO được điều chỉnh theo cỏc hướng sau:
Thứ nhất, việc Trung Quốc gia nhập WTO khụng đồng nghĩa với việc xoỏ
bỏ hoàn toàn bảo hộ đối với ngành cụng nghiệp của nước này Sau khi gia nhập WTO, thuế nhập khẩu của Trung Quốc đối với sản phẩm cụng nghiệp vẫn được duy trỡ ở một mức độ hợp lý nhất định trờn cơ sở khả năng cạnh tranh và trỡnh
Trang 37độ phát triển công nghiệp trong nước Các biện pháp xoá bỏ hàng rào phi thuế quan được tiến hành từ từ và sử dụng triệt để các quy định về bảo hộ phi thuế quan trong khuôn khổ WTO để bảo hộ ngành công nghiệp trong nước Bởi vì yêu cầu của WTO về mở cửa các ngành nghề chỉ giới hạn trong ngành nông nghiệp, chế tạo và những ngành có liên quan đến mậu dịch hàng hoá
Thứ hai, điều chỉnh và nâng cấp cơ cấu ngành nghề công nghiệp trên cơ
sở duy trì và phát huy triệt để những ngành sử dụng nhiều lao động vốn đang có lợi thế so sánh bằng cách đổi mới kỹ thuật và công nghệ, đào thải những ngành
đã lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường; tập trung phát triển những ngành công nghệ cao và trọng điểm (thông tin, kỹ thuật số, đường sắt cao tốc, máy bay kiểu mới, công nghệ sinh học, lọc dầu, phần mềm máy tính, ôtô dùng nhiên liệu sạch ) Đồng thời, tranh thủ nguồn vốn và kỹ thuật cũng như công nghệ của nước ngoài
để phát triển những ngành cần nhiều vốn và công nghệ nhưng trung Quốc hiện chưa có lợi thế cạnh tranh
Thứ ba, cải cách doanh nghiệp công nghiệp nhà nước trên cơ sở xây dựng
chế độ doanh nghiệp hiện đại, chuyển đổi cơ chế kinh doanh của doanh nghiệp ; thực hiện chế độ đãi ngộ quốc dân đối với những doanh nghiệp có chế
độ sở hữu khác nhau, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp
Thứ tư, phát triển cơ cấu công nghiệp theo khu vực trên cơ sở nguyên tắc
phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, từng khu vực Đối với khu vực miền Tây,
một số ngành có ưu thế về thiên nhiên như thuỷ điện, khí đốt tự nhiên, kim loại màu được phát triển đồng thời với những ngành chế biến các loại cây công nghiệp như sợi thuốc lá, bông, đay Ngoài ra, một số ngành công nghệ cao như hàng không, thông tin điện tử, công nghệ sinh học được phát triển dựa trên ưu thế về khoa học và tri thức của các thành phố lớn như Trùng Khánh, Tây An,
Thành Đô, Lan Châu, Quý Dương Đối với khu vực miền Trung, các ngành chế
Trang 38tạo tinh xảo và sử dụng nhiều lao động (dệt, thủ công mỹ nghệ ) được chú trọng đầu tư phát triển đồng thời với các ngành công nghiệp nặng (gang thép,
kim loại màu, xe hơi, khai thác dầu mỏ ) Đối với khu vực miền Đông, tập trung
đầu tư các ngành nhiều vốn, khoa học kỹ thuật, công nghệ và hỗ trợ, hợp tác toàn diện với các khu vực còn lại của nền kinh tế dực trên ưu thế về kỹ thuật và tri thức vốn có cũng như khả năng thu hút thuận lợi những lợi thế này từ bên ngoài khu vực
2.1.4 Nông nghiệp
Việc Trung Quốc gia nhập WTO thúc đẩy việc tái cơ cấu nông nghiệp và điều chỉnh chính sách nông nghiệp vốn đã được bắt đầu thực hiện trong cuối giai đoạn của kế hoạch 5 năm lần thứ IX với những định hướng cơ bản sau:
Thứ nhất, đa dạng hoá nông sản và cải thiện chất lượng sản phẩm theo
hướng toàn diện Đa dạng hoá, cải thiện chất lượng và hiệu quả được coi là định hướng cơ bản của quá trình điều chỉnh sản xuất nông nghiệp bao gồm trồng trọt
và chăn nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp và trồng cây ăn quả Việc thực hiện định hướng này khiến cho nguồn lực về con người, tài chính và nguyên liệu của nông dân không bị lãng phí, chất lượng sản phẩm sẽ cao hơn và Thu nhập của người nông dân cũng sẽ cao hơn
Thứ hai, phát triển việc chế biến nông sản Chỉ bằng cách phát triển chế
biến nông sản và hướng người dân tiêu dùng các thực phẩm an toàn hơn, dinh dưỡng hơn và chất lượng tốt hơn để tiếp tục phát triển thị trường nông sản Chế biến nông sản không đồng nghĩa với việc sử dụng công nghệ thấp Ngược lại, để sức cạnh tranh cao, ngành này áp dụng những công nghệ tiên tiến và nguyên liệu cho sản xuất là những nguyên liệu đặc thù khác với những sản phẩm được tiêu dùng trực tiếp như lúa mì đặc biệt, nho đặc biệt
Thứ ba, khai thác lợi thế so sánh của địa phương trong nông nghiệp Cụ
thể, những vùng biển và ngoại ô những thành phố lớn và vừa áp dụng công nghệ
Trang 39sử dụng nhiều lao động và vốn Những vùng này giảm một cách hợp lý sản xuất lương thực và phát triển nghề làm vườn, nghề cá, chăn nuôi để có thể sản xuất được những hàng hoá có giá trị gia tăng cao hơn Hơn thế nữa, chuyên môn hoá
sẽ tạo ra khoảng không gian thị trường rộng rãi cho các vùng sản xuất lương thực theo cách thức vì lợi ích chung và bổ sung cho nhau
Thứ tư, song song với việc tiếp tục phát triển các xí nghiệp hương trấn,
quá trình đô thị hoá tiếp tục được quan tâm Các xí nghiệp hương trấn tiếp tục được phát triển theo hướng tái cấu trúc lại và đổi mới cơ chế quản lý Quá trình
đô thị hoá của Trung Quốc mang những đặc trưng riêng trong đó có sự kết hợp giữa phát triển các thành phố lớn và vừa đối với các đô thị nhỏ Lý do là các đô thị nhỏ là biện pháp thực tế hơn cả đối với Trung Quốc trong việc chuyển dịch lao động nông thôn Thành phố càng lớn, đời sống càng cao, đòi hỏi an ninh xã hội cũng cao hơn Trong khi đó, lao động nông thôn hiện tại khó có thể đạt được những tiêu chuẩn đó Các thành phố vừa và lớn thường là nơi cung cấp cơ hội việc làm tạm thời và tích luỹ vốn cho lao động nông thôn nhưng lao động nông thôn thực sự khó có thể định cư tại các thành phố lớn Sau một thời gian tích luỹ vốn những lao động này sẽ không quay trở lại nông thôn mà chọn các đô thị nhỏ làm nơi định cư Vì thế Trung Quốc đã xây dựng những đô thị nhỏ song song với những đô thị lớn
Thứ năm, thúc đẩy xây dựng môi trường sinh thái và thực hiện phát triển
bền vững Ở những khu vực môi trường sinh thái dễ bị ảnh hưởng, chính quyền trợ giúp tài chính cho nông dân để chuyển từ trồng thí điểm cây lương thực sang trồng rừng, xây dựng môi trường sinh thái như xanh hoá và bảo tồn tài nguyên nước, tài nguyên đất
Để thực hiện những định hướng trên nhằm tái cấu trúc nông nghiệp và nông thôn cũng như nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của các sản phẩm nông nghiệp, Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh chính sách nông nghiệp theo những hướng cơ bản sau:
Trang 40Thúc đẩy hệ thống thông tin thị trường cho sản phẩm nông nghiệp nhằm cung cấp cho người nông dân thông tin thị trường về sản phẩm nông nghiệp một cách chính xác, toàn diện và đúng thời điểm
Thúc đẩy hình thành hệ thống tiêu chuẩn, an ninh và chất lượng cũng như tăng cường các biện pháp thanh tra và kiểm tra các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là thực phẩm, hướng dẫn cho nông dân cách sản xuất nông sản an toàn và chất lượng cao
Điều chỉnh chính sách bảo hộ và hỗ trợ cho nông nghiệp để phù hợp với quy định của WTO
Đổi mới trong hệ thống quản lý nông nghiệp theo kiểu “công ty và gia đình nông dân” là hình thức chủ yếu để tăng cường cơ hội tiếp cận thị trường của nông dân và các tổ chức nông dân
Cải cách và hoàn thiện hệ thống lưu thông lương thực và các loại sản phẩm nông nghiệp chủ yếu nhằm giảm chi phí lưu thông và tăng cường sức cạnh tranh
Tái cấu trúc hệ thống tài chính nông thôn và hình thành hệ thống bảo hiểm nông nghiệp phù hợp với hoàn cảnh của Trung Quốc
Tái cấu trúc nghiên cứu khoa học công nghệ nông nghiệp và hệ thống khuyến nông Quan tâm đến hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ để thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp
Cải cách hệ thống hộ khẩu ở các đô thị nhỏ và khuyến khích người dân nông thôn đủ điều kiện cần thiết định cư ở các đô thị nhỏ
Ngoài những điều chỉnh chính sách dài hạn kể trên, trong ngắn hạn, để đối phó lại với những tác động tiêu cực của việc gia nhập WTO đối với nông nghiệp, Trung Quốc thực hiện các chính sách sau:
Vận dụng một cách linh hoạt việc thực hiện 5 loại thuế quan mà WTO cho phép như thuế theo số lượng, thuế theo giá, thuế phức hợp, thuế theo mùa