ADB Asian Development Bank - Ngân hàng Phát triển Châu Á AFTA ASEAN Free Trade Area - Khu vực thương mại tự do ASEAN ASEAN Association of SouthEast Asian Nations - Hiệp hội các quốc gia
Trang 1- - - - - -
TRẦN THÙY PHƯƠNG
CẢI CÁCH KINH TẾ Ở ẤN ĐỘ
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2005
Trang 3ADB Asian Development Bank - Ngân hàng Phát triển Châu Á AFTA ASEAN Free Trade Area - Khu vực thương mại tự do
ASEAN ASEAN Association of SouthEast Asian Nations - Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á BIMST-EC Bangladesh, India, Myanma, SriLanka, Thailand - Economic
Cooperation - Tổ chức hợp tác kinh tế vùng vịnh Bengal DAEs Dynamic Asian Economies - Các nền kinh tế năng động ở
Châu Á EOUs Export Oriented Units - Các đơn vị hướng về xuất khẩu
EPIPs Export Promotion Industrial Parks - Các khu công nghiệp xúc
tiến xuất khẩu EPZs Export Proccessing Zones - Khu chế xuất
EU European Union - Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Free Trade Agreement - Hiệp định thương mại tự do
FTZs Free Trade Zones - Các khu vực thương mại tự do
GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
IT Information Technology - Công nghệ thông tin
NAFTA North America Free Trade Agreement - Hiệp định thương mại
tự do Bắc Mỹ NASSCOM National Association of Software and Service Companies -
Hiệp hội Quốc gia các công ty dịch vụ phần mềm Ấn Độ NIEs Newly Industrialized Economies - Những nền kinh tế mới
công nghiệp hóa
Trang 4hợp tác khu vực Nam Á SEZs Special Economic Zones - Các đặc khu kinh tế
STP Software Technology Park - Khu công nghệ phần mềm
TNC Transnational Company - Công ty xuyên quốc gia
UNCTAD United Nations Conference on Trade and Development - Hội
nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển
WB World Bank - Ngân hàng Thế giới
WTO World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế giới XHCN Xã hội chủ nghĩa
TMĐT Thương mại điện tử
XTTM Xúc tiến thương mại
Trang 51.1.2 Các tư tưởng và lý thuyết kinh tế liên quan đến cải cách kinh
tế ở Ấn Độ
6
1.1.3 Quá trình lựa chọn lý thuyết phát triển của Ấn Độ 16
1.2 Cơ sở thực tiễn của quá trình cải cách kinh tế ở Ấn Độ 18 1.2.1 Tình hình kinh tế trong nước trước cải cách 18 1.2.2 Tình hình kinh tế quốc tế thúc đẩy Ấn Độ tiến hành cải cách 27
1.3 Sự cần thiết phải tiến hành công cuộc cải cách kinh tế - quá trình chuyển hướng sang quan điểm tự do hóa và mở cửa nền kinh tế ở Ấn Độ
2.1.3 Cải cách chính sách kinh tế đối ngoại 62
Trang 62.2.2 Tổng quát về sự lựa chọn chính sách, chiến lược và triển
91
3.1 Khái quát về quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam 91 3.1.1 Đổi mới chế độ sở hữu và thành phần kinh tế 91
3.1.3 Quá trình phát triển các ngành sản xuất 95 3.1.4 Hoạt động xuất nhập khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế 98
3.2 Những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo từ
công cuộc cải cách kinh tế Ấn Độ
101
3.2.1 Kinh nghiệm về cải cách ngoại thương trong quá trình thực
hiện công nghiệp hóa đất nước
101
3.2.2 Kinh nghiệm phát triển công nghệ phần mềm hướng vào
xuất khẩu
104
3.2.3 Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 106
3.3 Định hướng vận dụng những bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam
108
3.3.1 Định hướng chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
109
Trang 73.3.3 Định hướng cho hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Nước cộng hòa Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, có diện tích gần 3,3 triệu km2, trải rộng trên phần lớn tiểu lục địa Nam Á; có dân số hơn một tỷ người, dự kiến đến năm 2020 sẽ đạt gần 1,2 tỷ Với tốc độ tăng dân số như hiện nay thì sau 50 năm nữa, Ấn Độ sẽ trở thành quốc gia có dân số đông nhất thế giới với khoảng 1,5 tỷ người, vượt qua cả Trung Quốc Ấn Độ có 28 bang và 7 vùng lãnh thổ [48] với nhiều dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giai cấp
Khi giành được độc lập cách đây 50 năm, những người lãnh đạo đã đặt nhiệm vụ là phải xây dựng đất nước thành một quốc gia độc lập và thịnh vượng trên cơ sở tự lực tự cường Trước khi tiến hành công cuộc cải cách năm 1991, Ấn Độ lần lượt tiến hành 7 kế hoạch 5 năm (từ 1951 đến 1990); với những ưu tiên chiến lược về khoa học kỹ thuật, nông nghiệp, công nghiệp,
hạ tầng cơ sở cho quá trình công nghiệp hóa phụ thuộc vào từng kế hoạch khác nhau
Sau một chặng đường dài phát triển nền kinh tế độc lập theo mô hình công nghiệp hóa tự lực tự cường, Ấn Độ đã đạt được nhiều thành tựu nhất định nhưng cũng gặp không ít khó khăn Đặc biệt đến cuối những năm 80 và đầu những năm 90, nền kinh tế đã rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, dẫn đến mức tăng trưởng GDP sụt giảm, nhiều ngành công nghiệp gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, đời sống nhân dân giảm sút Có thể nói rằng, trước năm 1990,
Ấn Độ đã rất cố gắng thực hiện những biện pháp điều chỉnh nhằm vực dậy nền kinh tế nhưng vẫn chưa đạt được những kết quả mong muốn
Vì thế tháng 7 năm 1991, Chính phủ Ấn Độ thực hiện một bước chuyển biến lớn trong đường lối phát triển kinh tế xã hội, tiến hành cải cách toàn diện nền kinh tế; điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô và cơ cấu kinh tế từ tập trung, quan
Trang 9liêu, bao cấp, đóng cửa sang tự do hóa và mở cửa, phát triển năng động, nâng cao khả năng cạnh tranh, từng bước hội nhập khu vực và quốc tế Ấn Độ chính thức công bố cải cách kinh tế năm 1991, đánh dấu sự chuyển hướng theo chiến lược tự do hóa và hướng ngoại Quá trình này diễn ra tuy chậm nhưng đã đạt một số thành công và mô hình Ấn Độ đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của quốc tế
Việc nghiên cứu Ấn Độ - một quốc gia đang trong quá trình cải cách và đang dành được sự chú ý của quốc tế về khả năng kinh tế - có ý nghĩa rất quan trọng Những gì Ấn Độ đã làm được và chưa làm được, những gì Ấn Độ
đã thành công và chưa thành công trong cải cách kinh tế là một kinh nghiệm
bổ ích cho Việt Nam tham khảo trong thời kỳ đổi mới và phát triển kinh tế đất nước Hơn nữa, ngoài mục tiêu tìm hiểu và học hỏi thì nghiên cứu Ấn Độ để phát triển quan hệ hợp tác cũng là một mục đích quan trọng mà Việt Nam hướng tới trong tương lai
2 Tình hình nghiên cứu
Các tạp chí quốc tế đã có nhiều bài viết về kinh tế Ấn Độ, đó là:
Nirviker Singh (10/2002),“Miracles and Reform in India: Policy Reflections”, ASIAN survey, No 5
Rafiq Dossani (2002), “Creating an Environment for Venture Capital in
India”, World Development, Vol 30, No 2
Ở Việt Nam, cũng có một số bài nghiên cứu về kinh tế Ấn Độ đăng trên các báo, các tạp chí Có thể điểm ra một số bài viết như:
Thông tấn xã Việt Nam (2004), “Ấn Độ - Mục tiêu trở thành cường
quốc”, Tài liệu tham khảo số 3
Trần Khánh và Võ Xuân Vinh (2004), “Việt Nam trong chính sách
Hướng Đông của Ấn Độ”, Báo Nhân Dân, số 17974, trang 4
Trang 10Thạch Văn Rong (3/2004) “Những thành tựu mới về tăng trưởng kinh
tế Ấn Độ”, Tạp chí Ngoại thương, số 9, trang 27…
Do giới hạn trong phạm vi một bài báo nên những bài viết đó mới chỉ
đề cập đến một hoặc một vài khía cạnh nào đó của kinh tế Ấn Độ Bên cạnh các bài viết ấy, còn có những công trình nghiên cứu hệ thống về kinh tế Ấn
Độ Tiêu biểu là cuốn “50 năm kinh tế Ấn Độ” của PGS.TS Đỗ Đức Định, xuất bản năm 1999 tại Nhà xuất bản Thế giới Nhìn chung ở Việt Nam, số lượng công trình nghiên cứu sâu về kinh tế Ấn Độ chưa nhiều Hơn nữa, nghiên cứu về cải cách kinh tế ở Ấn Độ để rút kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế thì chưa có công trình nào tiến hành thực hiện một cách đầy đủ Do đó, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu toàn
diện “Cải cách kinh tế ở Ấn Độ và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”
bởi đây là một đề tài mới và không bị trùng lặp với công trình nào khác
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quá trình cải cách kinh tế ở Ấn Độ
Trang 11Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào những chính sách cải
cách kinh tế Ấn Độ cũng như những thành tựu và hạn chế của Ấn Độ trong quá trình cải cách Từ đó, luận văn sẽ đề cập đến những vấn đề mà Việt Nam
có thể tham khảo từ công cuộc cải cách kinh tế ở Ấn Độ
Về phạm vi thời gian, luận văn chủ yếu tập trung vào thời kỳ cải cách
từ 1991 đến nay Tuy nhiên, luận văn cũng đề cập đến giai đoạn trước cải cách bởi nó là cơ sở để đánh giá đầy đủ hơn quá trình phát triển kinh tế của
Ấn Độ
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu như phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích, diễn dịch, tổng hợp, thống kê, so sánh
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Đưa ra những đánh giá hệ thống về công cuộc cải cách kinh tế ở Ấn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được sắp xếp thành 3 chương
Chương 1: Những tiền đề cơ bản của cải cách kinh tế ở Ấn Độ
Chương 2: Tiến trình cải cách kinh tế ở Ấn Độ
Chương 3: Vận dụng những kinh nghiệm của Ấn Độ để góp phần đẩy nhanh công cuộc đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam
CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN
Trang 12CỦA CẢI CÁCH KINH TẾ Ở ẤN ĐỘ
1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN - CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO CẢI CÁCH KINH TẾ ẤN ĐỘ
1.1.1 Sơ lược quá trình hình thành
Quá trình nghiên cứu các quan điểm phát triển hình thành cùng với sự
ra đời và phát triển của rất nhiều nhà nước độc lập ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh từ những năm 1950; khi phần lớn các nước này được giải phóng khỏi chế độ thực dân cũ và bắt đầu sự nghiệp xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của mình Nhận thấy không thể dựa mãi vào những lý thuyết kinh
tế truyền thống của các nước Phương Tây, nhiều nhà kinh tế học của các nước
“thế giới thứ ba” đã đi sâu nghiên cứu để tìm ra các quan điểm phát triển riêng của mình Song bởi đây lại là một vấn đề mang tính chất quốc tế, nên đã
có rất nhiều nhà kinh tế học Phương Tây tham gia quá trình nghiên cứu này
Đó chính là nguyên nhân dẫn tới sự hình thành các quan điểm phát triển ở các nước đang phát triển
Lúc đầu, những quan điểm này chịu ảnh hưởng lớn bởi lý thuyết của những nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith, David Ricardo…và cả các quan điểm kinh tế xã hội của học thuyết Marx Về sau, chúng được mở rộng
và bổ sung thêm những vấn đề thực tế của các nước đang phát triển Từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến những năm 1980, các trường phái chính của kinh tế học phát triển tập trung vào hai loại lý thuyết chủ yếu nối tiếp nhau, đó
là “Chủ nghĩa Cấu trúc” và “Thuyết Tự do mới” Các lý thuyết này một phần vẫn chịu ảnh hưởng từ những lý thuyết kinh điển như “Tự do cạnh tranh” và
“Lợi thế so sánh”; song bên cạnh đó, chúng đã được bổ sung thêm các quan điểm mới cho phù hợp với tình hình thực tế Lý thuyết “Lợi thế so sánh” thì được bổ sung thêm những yếu tố mới về tiềm lực khoa học công nghệ; những yếu tố liên quan đến nội lực và ngoại lực của các nước đang phát triển trong
Trang 13đó tiêu biểu là quan điểm “tự lực cánh sinh” và “độc lập dân tộc”, đề cao vai trò dân tộc ở các nước đang phát triển, hạn chế ảnh hưởng của tư bản nước ngoài Điểm nổi bật của chủ nghĩa “Tự do cạnh tranh” là việc đề cao sức mạnh tuyệt đối từ “bàn tay vô hình” của thị trường đã nhường chỗ cho những
tư duy của trường phái Tự do mới về điều chỉnh cân đối giữa Nhà nước và thị trường Chủ nghĩa Cấu trúc và Thuyết Tự do mới có ảnh hưởng chi phối tới quá trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển
Từ những năm 1980, khi những cuộc khủng hoảng về cơ cấu và khủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra ngày càng nhiều, đã có đánh giá lại về quan điểm
lý thuyết và về chiến lược phát triển ở hầu hết các nước đang phát triển Những quan điểm về chính sách phát triển càng ngày càng thay đổi mạnh mẽ, thể hiện qua các cuộc cải cách và chuyển đổi kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển tại Châu Á, Châu Phi
Đến những năm 1990, các lý thuyết trên đây một lần nữa lại phải điều chỉnh bởi quá trình toàn cầu hóa ngày càng trở nên sâu rộng cùng với sự luân chuyển mạnh của các dòng vốn, của thương mại quốc tế; sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin, của kinh tế tri thức và bởi những diễn biến thất thường của kinh tế thế giới Sự điều chỉnh này đã tác động mạnh đến các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển Từ đó, tư duy kinh tế của các nước đang phát triển được bổ sung thêm những quan điểm mới về liên kết và hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.2 Các tư tưởng và lý thuyết kinh tế liên quan đến cải cách kinh tế ở
Ấn Độ
1.1.2.1 Chủ nghĩa Cấu trúc
Trong số những lý thuyết luận giải về hiện tượng kinh tế ở các nước đang phát triển để đưa ra khuyến nghị về chính sách, chủ nghĩa Cấu trúc nổi
Trang 14bật lên bởi tính độc đáo và ảnh hưởng lâu dài của nó Khái niệm “Chủ nghĩa Cấu trúc” hay “Cấu trúc luận” xuất hiện vào cuối những năm 40 và đầu những năm 50 của thế kỷ 20 để mô tả tư tưởng của một nhóm những nhà khoa học
xã hội trong Ủy ban Kinh tế Liên Hợp Quốc về Mỹ La Tinh (ECLA) do nhà kinh tế học nổi tiếng người Argentina là Raul Prebisch đứng đầu [11]
Các tác giả của Chủ nghĩa Cấu trúc đã tập trung phân tích những vấn đề kinh tế của các nước đang phát triển với mục đích:
Xác định vị trí của các khu vực ngoại vi trong mối liên hệ với những trung tâm tư bản lớn ở Bắc Mỹ và Tây Âu trong nền kinh tế quốc tế Bàn và tìm giải pháp khắc phục tình trạng không đồng nhất giữa các nền kinh tế đang phát triển do sự phát triển không đều giữa các quốc gia trong khu vực và giữa các thành phần kinh tế khác nhau trong mỗi quốc gia
Cuối những năm 40 đến đầu những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu của Chủ nghĩa Cấu trúc đã tập trung bàn về mối quan hệ của các
cơ cấu kinh tế - xã hội và sự phát triển kinh tế được xem như sự thay đổi liên quan đến các cơ cấu đó Các cơ cấu kinh tế được xem xét trong lý thuyết này bao gồm: +)Cơ cấu giữa các ngành: nông nghiệp, khai khoáng, chế tạo, dịch vụ; +)Cơ cấu kinh tế đối ngoại liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư nước ngoài; +)Cơ cấu năng suất được tính theo năng suất trong các ngành kinh tế khác nhau; +)Cơ cấu doanh nghiệp được nghiên cứu thông qua các mô hình và quy mô xí nghiệp; +)Cơ cấu xã hội được nghiên cứu gắn với sở hữu
và kiểm soát tài nguyên, chẳng hạn quyền kiểm soát và sở hữu đất đai
Các nhà Cấu trúc luận chú trọng vào việc nghiên cứu những đặc điểm
cơ cấu kinh tế cốt lõi nhất, những vấn đề kinh tế, xã hội quan trọng và thiết thực nhất của các quốc gia chậm phát triển Do vậy, Cấu trúc luận đã ngày càng thu hút được sự tham gia rộng rãi của các nhà khoa học xã hội, đặc biệt
Trang 15là các nhà kinh tế học Vì lẽ đó mà nhiều học giả đã coi Chủ nghĩa Cấu trúc
là một môn khoa học về kinh tế học phát triển
Cấu trúc luận ra đời sau cuộc đại khủng hoảng những năm 1930, khi con người đã mất niềm tin vào thị trường tự do truyền thống - hệ thống đã đẩy thế giới vào cuộc đại khủng hoảng và suy thoái Những học giả đứng đầu của Cấu trúc luận đã phê phán lý thuyết kinh tế lúc đó chỉ bàn về sự phát triển ở những nước công nghiệp phát triển; còn hầu như không quan tâm tới các nước đang phát triển, không tập trung giải quyết những khó khăn của các nước này,
vì thế không thích hợp cho các nước nghèo Chỉ có Cấu trúc luận là thực sự muốn tìm giải pháp cho những vấn đề nan giải của các quốc gia đang phát triển; do vậy, đã trở thành lý thuyết chính thống của các nước đang phát triển
Cấu trúc luận ra đời vào lúc những tư tưởng của Keynes về vai trò trung tâm của Nhà nước trong quản lý kinh tế để khắc phục “những cản trở cơ cấu” đối với tăng trưởng kinh tế đã được thừa nhận Do đó, phần nào nó chịu ảnh hưởng của học thuyết Keynes là đề cao vai trò của Chính phủ trong việc
đề xướng và thực hiện các chương trình, các kế hoạch kinh tế nhằm khắc phục những thái quá và thất bại của thị trường tự do
Theo quan điểm của Trường phái Cấu trúc luận, Chính phủ các nước đang phát triển có vai trò trung tâm trong việc khắc phục tình trạng lạc hậu kinh tế, đóng vai trò tích cực với quá trình công nghiệp hóa, đặc biệt là trong việc tăng qui mô tích lũy tư bản để phục vụ phát triển kinh tế Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, vào những năm 1950-1960, Cấu trúc luận nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của Nhà nước với bảo hộ công nghiệp trong nước và xây dựng cơ sở hạ tầng, chống lại sự xâm nhập và cạnh tranh của tư bản nước ngoài
Trong những năm 1950-1960, Chính phủ nhiều nước đang phát triển đã vận dụng lý thuyết này để xây dựng một chiến lược khá phổ biến lúc ấy là
Trang 16chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu Thực hiện chiến lược này,
Chính phủ của những nước đang phát triển trong đó có Ấn Độ, đã lập nên các hàng rào thuế quan và phi thuế quan mang tính bảo hộ mậu dịch để đối phó với sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu; kích thích sản xuất những hàng hóa trong nước, từ những hàng hóa tiêu dùng đơn giản như giày dép, quần áo…đến những loại hàng tiêu dùng lâu bền, phức tạp như phụ tùng, máy móc,
xe hơi…và cả những loại sản phẩm trung gian như thép và hóa chất Chiến lược này được Chính phủ hỗ trợ bằng việc khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào công nghiệp chế tạo, còn Chính phủ thì đầu tư cho xây dựng
cơ sở hạ tầng và hệ thống sản xuất năng lượng
Tuy đã có đóng góp đáng kể về quan điểm lý thuyết và sự tăng trưởng thực tiễn của nền kinh tế, song Cấu trúc luận đã bộc lộ những hạn chế Quan điểm “công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu” để thay đổi cơ cấu và đưa nền kinh tế thoát khỏi những ảnh hưởng của hệ thống quốc tế đã trở nên khó thực hiện Lý do là quan hệ giữa những mặt hàng nhập khẩu đơn giản được thay thế bởi sản xuất trong nước với những hàng hóa đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ cao đã trở nên ngày càng phức tạp, nhập khẩu cao hơn xuất khẩu, dẫn đến mất cân bằng trong cán cân thanh toán Do đó, tăng trưởng kinh tế không cao, không xóa bỏ được tình trạng đói nghèo của nhân dân các nước đang phát triển nói chung và nhân dân Ấn Độ nói riêng Tình trạng này buộc Chính phủ các nước đang phát triển trong đó có Ấn Độ phải chuyển sang chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu, với cơ sở lý luận là lý thuyết về Sự phụ thuộc và thuyết Tự do mới sau này
1.1.2.2 Lý thuyết về Sự phụ thuộc và trường phái Nhu cầu cơ bản
Các quan điểm phê phán lý thuyết Cấu trúc luận được phản ánh qua ba trường phái chính là lý thuyết về Sự phụ thuộc (Theory of dependency), quan điểm Nhu cầu cơ bản (Basic needs) và chủ nghĩa Tự do mới Hai xu hướng
Trang 17đầu phát sinh từ trong nhóm Cấu trúc luận, khuynh hướng thứ ba ra đời trong năm 1960 với nội dung cơ bản là đòi hỏi xét lại vai trò của Nhà nước, đề cao hơn vai trò của thị trường Khuynh hướng thứ ba ngày càng phát triển mạnh
mẽ và dần có vai trò thay thế Cấu trúc luận; nội dung này sẽ được trình bày cụ
thể trong phần “Chủ nghĩa Tự do mới”
Trong ba trường phái trên, lý thuyết về Sự phụ thuộc phản ánh sự thay
đổi mạnh mẽ nhất trong chính tư duy của Cấu trúc luận về kinh tế đối ngoại
Nó quay lại phê phán sự thất bại của việc thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu, coi đó là yếu tố tạo ra một nền kinh tế dân tộc độc lập mà không có
“giai cấp tư bản dân tộc” lãnh đạo sự phát triển Do đó, dẫn đến tình trạng là các công ty xuyên quốc gia nắm giữ hầu hết các lĩnh vực năng động trong nền kinh tế, còn các nhà công nghiệp địa phương thì bị phụ thuộc vào tư bản nước
ngoài Các học giả của lý thuyết về Sự phụ thuộc chủ trương mở rộng quan hệ
với bên ngoài để phát triển bên trong Tư tưởng này của họ được áp dụng
rộng rãi ở các nước đang phát triển, nhất là các nước đang phát triển ở Châu
Á
Trong trường phái Nhu cầu cơ bản, các nhà lý luận đã tập trung đi
sâu nghiên cứu việc làm ở các nước đang phát triển và đề nghị thực hiện chiến lược “nhu cầu cơ bản”, nhấn mạnh vào việc đảm bảo mức sống tối thiểu cho những người nghèo nhất trong xã hội Theo họ, những nhu cầu cơ
bản của con người gồm có lương thực, quần áo, nhà ở và các dịch vụ cần thiết như nguồn nước sạch, điều kiện vệ sinh, y tế, giáo dục, giao thông vận tải…Các nhà nghiên cứu của trường phái Nhu cầu cơ bản cho rằng, tăng trưởng kinh tế và thay đổi cơ cấu là quan trọng song chưa đủ, muốn phát triển còn phải chú ý đến chính sách phân phối thu nhập cũng như mức sống của người nghèo
Trang 18Lý thuyết về Sự phụ thuộc được coi là nhánh cấp tiến của trường phái Cấu trúc luận Nó chứa đựng một số quan điểm về quan hệ kinh tế quốc tế gần với lý thuyết Tự do mới sau này Khác với Cấu trúc luận, các nhà lý thuyết về Sự phụ thuộc không còn coi sự phụ thuộc về kinh tế và chính trị vào Phương Tây là nguyên nhân cơ bản của tình trạng yếu kém ở các nước thuộc
“thế giới thứ ba”; họ cũng từ bỏ ý định xây dựng một lý thuyết riêng về sự
chậm phát triển Tư tưởng cơ bản của lý thuyết về Sự phụ thuộc là mối quan
hệ tương tác giữa các nước đang phát triển và nền kinh tế thế giới, coi đó là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến các nước thuộc “thế giới thứ ba” Các
học giả của lý thuyết về Sự phụ thuộc đã bác bỏ sự đối lập truyền thống giữa phụ thuộc và phát triển Họ chấp nhận sự phụ thuộc và coi đó như một phương pháp luận để phân tích tình hình của các nền kinh tế chậm phát triển
và đang phát triển Đồng thời, họ cũng ủng hộ việc quan hệ kinh tế với bên ngoài để tiếp nhận vốn, công nghệ tiên tiến và mở rộng thị trường, phục vụ sự phát triển kinh tế trong nước
Thực tế cho thấy, nhiều nước đang phát triển lúc bấy giờ, trong đó có
Ấn Độ, đã ủng hộ lý thuyết về Sự phụ thuộc và coi trọng mối quan hệ giữa các nền kinh tế trên thế giới Cũng như các quốc gia đang phát triển khác, Ấn
Độ có nhiều hạn chế, nên không có đủ khả năng thực hiện các kế hoạch phát triển mang tính “tự lực cánh sinh”, theo nghĩa hẹp là tự mình làm lấy mọi thứ như lúc đầu họ mong muốn khi tiến hành chiến lược Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu Đó cũng là lý do mà Ấn Độ đã cổ vũ cho trường phái lý luận mới sau này là chủ nghĩa Tự do mới, khi trường phái này đưa ra sự cần thiết phải mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế thông qua phát triển mạnh mẽ mậu dịch quốc tế và hạn chế sự can thiệp của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.3 Chủ nghĩa Tự do mới
Trang 19Khác với Cấu trúc luận nhấn mạnh tới các vấn đề mang tính đặc thù của các nước đang phát triển, chủ nghĩa Tự do mới cổ vũ cho những quy luật phổ biến của phát triển kinh tế Chủ nghĩa Tự do mới là một trào lưu tư tưởng tạo nên làn sóng kinh tế đối với các nước đang phát triển, một bước ngoặt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế ở các nước Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh Chính thất bại của mô hình phát triển hướng nội (công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu) dựa trên cơ sở các tư tưởng của Cấu trúc luận
và phân nhánh của nó, đã làm nảy sinh một đường lối kinh tế mới Các học giả của chủ nghĩa Tự do mới bác bỏ quan điểm của Cấu trúc luận cho rằng phải phát triển một lý thuyết kinh tế riêng cho các nước thuộc “thế giới thứ ba” Theo các học giả Tự do mới, những nguyên lý phổ biến của sự phát triển kinh tế là giống nhau, đều có thể được áp dụng rộng rãi ở những nước phát triển và đang phát triển
Tư tưởng chính mà thuyết Tự do mới đưa ra là sai lệch giá cả sẽ dẫn đến tính phi hiệu quả; sự can thiệp quá sâu và trực tiếp của Nhà nước vào nền kinh tế, nhất là những biện pháp can thiệp bằng chính sách Thay thế nhập khẩu là yếu tố gây ra sự sai lệch về giá cả ấy Vì thế, trong nền kinh tế thị trường, không cần thiết phải có một sự can thiệp như vậy Thay vào đó, cần thực hiện tự do hóa mậu dịch thông qua việc giảm bớt các chính sách và biện pháp bảo hộ thuế quan và phi thuế quan Làm như vậy sẽ nâng cao được hiệu quả của nền kinh tế
Nguyên nhân khiến Tự do mới phê phán sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào nền kinh tế là vì những nhà hoạch định chính sách bị hạn chế do thiếu thông tin, không sát với thực tế, không có công cụ làm đòn bẩy cho việc thực thi kế hoạch Không những thế, có thể các quan chức còn lợi dụng hạn ngạch, giấy phép để tư lợi cá nhân, tham ô, nhận hối lộ…Hơn nữa, Nhà nước can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp gây ra chi tiêu
Trang 20quá mức, vay nợ và in tiền nhiều, gây lạm phát trầm trọng Các công ty, xí nghiệp của Nhà nước hầu hết được bao cấp nên hoạt động không hiệu quả, năng suất và chất lượng rất thấp
Theo thuyết Tự do mới, bảo hộ mậu dịch sẽ dẫn đến sự phi hiệu quả, vì bảo hộ mậu dịch giúp các công ty được bảo vệ, tránh sự cạnh tranh quốc tế
Do đó, họ không cần cắt giảm chi phí và tăng sản lượng như ở những quốc gia khác có thị trường mở; dẫn đến tăng đầu tư, gây lãng phí không cần thiết Điều tai hại là những sản phẩm do các công ty được bảo hộ làm ra dù chất lượng kém vẫn có thị trường tiêu thụ và họ không lo sự lãng phí sẽ đe dọa hoạt động kinh doanh của công ty Đây chính là nguyên nhân sâu xa của tình trạng chất lượng hàng hóa thấp, chi phí sản xuất cao - đặc trưng của nhiều nền kinh tế thay thế nhập khẩu ở các nước đang phát triển
Bên cạnh đó, chiến lược Thay thế nhập khẩu không những là phi hiệu quả mà còn gây bất lợi cho nông nghiệp và cán cân thanh toán; lý do là chính sách bảo hộ hàng công nghiệp cao hơn nông phẩm đã gây tổn hại cho sản xuất nông nghiệp và nông dân Hơn nữa, chính sách Thay thế nhập khẩu đã không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nguồn thu ngoại tệ; trong khi những đòi hỏi
về nguyên liệu công nghệ cao để phát triển công nghiệp trong nước gia tăng, dẫn đến khối lượng và giá trị nhập khẩu tích tụ ngày càng lớn, gây khan hiếm ngoại tệ trầm trọng, cán cân thanh toán thiếu hụt, dự trữ quốc gia suy giảm, phải tăng vay nợ của Phương Tây
Từ những luận điểm trên, chủ nghĩa Tự do mới với tư cách là một lý thuyết phát triển chính thống, đã có ảnh hưởng ngày càng lớn; trở thành cơ sở
lý luận cho chính sách kinh tế ở các nước đang phát triển trong những năm 70-80 của thế kỷ XX Các học giả Tự do mới đã đề cao quan hệ trao đổi trên thị trường thế giới và cho rằng, thị trường thế giới hoạt động tốt sẽ giúp các
Trang 21quốc gia phân phối tốt nguồn lực của mình, khắc phục tình trạng trì trệ, cứng nhắc của cấu trúc bên trong các nền kinh tế đang phát triển
Quan điểm thường được các học giả Tự do mới đưa lên hàng đầu là
“sai lệch về giá sẽ dẫn đến không hiệu quả” Theo họ, giá cả thị trường là yếu
tố quyết định sự phân phối nguồn lực, khi giá cả chệch khỏi mức thị trường tự
do, hay nói cách khác là bị sai lệch thì nền kinh tế sẽ không đạt hiệu quả Đối với các nước đang phát triển, giá thị trường tự do thích hợp là giá xác định trên thị trường thế giới Giá cả có thể bị sai lệch do độc quyền tư nhân, nhưng trong phần lớn các trường hợp, sự sai lệch là do Chính phủ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra, khi theo đuổi những mục tiêu kinh tế hoặc xã hội nào đó Dù là do
tư nhân hay do Nhà nước, những sai lệch này đều cần phải điều chỉnh lại để phù hợp với giá cả thị trường Muốn vậy, rất cần các lực lượng thị trường hoạt động trong quan hệ kinh tế quốc tế và cả trong quan hệ kinh tế của nội bộ quốc gia
Giá cả được đề cập trong cách tiếp cận của chủ nghĩa Tự do mới bao gồm giá cả của các hoạt động thương mại trong một quốc gia (nội thương), giá cả trong hoạt động ngoại thương, giá cả liên quan đến tỷ lệ lãi suất và tiền lương, giá cả cơ sở hạ tầng và đầu vào cho sản xuất Theo lý thuyết Tự do mới, giá cả là yếu tố cốt lõi trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Trên cơ sở đó, thuyết Tự do mới cho rằng cả nhà sản xuất và người tiêu dùng đều hoan nghênh sự kích thích bằng giá Chẳng hạn giá cả sản xuất dành cho nông dân tăng lên thì sản lượng nông nghiệp cũng sẽ theo đó tăng lên Hay tiền lương thấp sẽ khuyến khích các xí nghiệp sử dụng những kỹ thuật sản xuất dùng nhiều lao động, nhờ đó việc làm tăng lên, thất nghiệp sẽ được giảm bớt
Bên cạnh chính sách giá cả thì mậu dịch tự do cũng là một lĩnh vực được lý thuyết Tự do mới đề cao Lý thuyết này khẳng định, các nước có thể
Trang 22hưởng lợi nhờ thực hiện chuyên môn hóa và xuất khẩu những mặt hàng mà họ
có lợi thế so sánh; đổi lại, nên nhập khẩu những mặt hàng mà họ không có lợi thế so sánh Để đạt được sự chuyên môn hóa đó, cần phải có mậu dịch tự do hoặc giảm thiểu những hạn chế đối với mậu dịch Nếu thực hiện được lý thuyết về lợi thế so sánh đi đôi với mậu dịch tự do, các nước sẽ có lợi nhờ vào xuất khẩu và nhập khẩu không hạn chế Mỗi quốc gia sẽ có điều kiện tập trung mọi nguồn lực để cho ra đời những mặt hàng mà họ có lợi thế so sánh, hạn chế những mặt hàng mà họ không đủ điều kiện sản xuất hoặc có thể nhập
rẻ hơn nhiều từ các quốc gia khác Từ đó, có thể nhận thấy những khiếm khuyết của việc thực hiện chính sách Thay thế nhập khẩu, do chúng cản trở mậu dịch tự do một cách có chủ định nhằm bảo hộ, kích thích sản xuất hàng hóa nội địa, trong khi những loại hàng này được sản xuất rẻ và tốt hơn ở nước ngoài
Những quan điểm trên đây của thuyết Tự do mới đã được thực hiện ở nhiều quốc gia đang phát triển trong đó có Ấn Độ, thông qua những chính sách do Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) soạn thảo Những chính sách này được gọi chung là “điều chỉnh cơ cấu” với ba hướng
cơ bản là: 1)Tự do hóa thị trường; 2)Tự do hóa mậu dịch, chuyển dịch nền kinh tế theo hướng mở; 3)Hạn chế vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thông qua tư nhân hóa và cắt giảm chi tiêu Chính phủ
Ba định hướng đó được thực hiện kết hợp với nhau để tạo ra một nền
kinh tế thị trường mở Trên cơ sở đó, một loạt các biện pháp cụ thể đã được
Trang 23Để giảm vai trò của Nhà nước, người ta thực hiện tư nhân hóa, cắt giảm chi tiêu của Chính phủ, hạn chế sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ vào hoạt động của các công ty và vào hoạt động xuất nhập khẩu Chính phủ chỉ tập trung vào việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công ích; phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội để tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường kinh doanh; kích thích các hoạt động kinh tế đối ngoại như xúc tiến thương mại, khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài
Thuyết Tự do mới là một xu hướng phát triển của lý thuyết cổ điển về kinh tế thị trường tự do, đề cao vai trò của các lực lượng thị trường, khắc phục những bất cân đối trong thời gian dài do quá thiên lệch vai trò của Nhà nước
Nó khuyến khích áp dụng các chính sách kích thích sự phát triển của thị trường tự do và mở cửa Trong giai đoạn hiện nay, thuyết Tự do mới đang cổ
vũ cho chính sách phát triển tự do trong các lĩnh vực như thương mại, tài chính, đầu tư, lao động mà tiêu biểu là tự do hóa thương mại
1.1.3 Quá trình lựa chọn lý thuyết phát triển của Ấn Độ
Các dòng lý thuyết kế tiếp nhau về Cấu trúc luận, Tự do mới là những
cơ sở lý luận trực tiếp cho sự hình thành quan điểm, chính sách ở các nước đang phát triển nói chung và Ấn Độ nói riêng Chiến lược đó là sự lựa chọn giữa bảo hộ hay tự do thương mại, giữa hướng nội hay hướng ngoại, giữa thay thế nhập khẩu hay hướng vào xuất khẩu Nó có vai trò vô cùng quan trọng bởi nó chi phối toàn bộ hoạt động của một quốc gia thông qua sự điều chỉnh các nguyên tắc, công cụ, biện pháp trong hệ thống chính sách Trong những năm 50-60, Cấu trúc luận nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của Nhà nước trong bảo hộ công nghiệp nội địa và quan điểm đó đã phần lớn ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách thương mại chiến lược “thay thế nhập khẩu” ở các nước đang phát triển Ấn Độ đã chọn hướng đi này để phát triển kinh tế đất nước ở giai đoạn sau khi giành độc lập vào năm 1947
Trang 24Song đến cuối những năm 60 đầu những năm 70, các mô hình thành công trong tăng trưởng nhờ vào hoạt động xuất khẩu như Singapore, Hồng Kông, Hàn Quốc…đã là cơ sở cho sự phát triển dòng lý thuyết Tự do mới là
tự do hóa thương mại Theo thuyết Tự do mới, bảo hộ mậu dịch dẫn đến phi hiệu quả, sự can thiệp của Nhà nước thông qua chính sách thay thế nhập khẩu
đã làm biến dạng thị trường và giá cả Chỉ có tự do hóa thương mại với việc giảm bớt các chính sách và biện pháp bảo hộ thuế quan cũng như phi thuế quan mới có thể mang lại hiệu quả cho nền kinh tế Như vậy, ưu thế của thuyết Tự do mới là dựa trên những khía cạnh như:
Tận dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất;
Chuyên môn hóa lao động theo điều kiện địa lý;
Mở rộng thị trường;
Kiểm soát và hạn chế độc quyền;
Nâng cao năng lực sản xuất;
Tạo quan hệ thiện chí và hợp tác giữa các quốc gia
Có thể nói, đây là những cơ sở và căn cứ để chuyển hướng cho chiến lược kinh tế của các nước đang phát triển từ hướng nội sang hướng ngoại, từ thay thế nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu Hơn nữa, trong điều kiện toàn cầu hóa, sự chuyển hướng đó trở thành một xu thế tất yếu Chiến lược ở các quốc gia đang phát triển nhấn mạnh nhiều vào việc cơ cấu lại khả năng cung ứng sản phẩm của nền kinh tế sao cho có sức cạnh tranh trên trường quốc tế Theo đó, họ chú trọng vào việc phải thay đổi chiến lược Thay thế nhập khẩu bằng cách quay trở lại thị trường Song nhất thiết cần có sự hỗ trợ của Nhà nước để phát triển công nghệ; bởi nếu thiếu sự đổi mới trong công nghệ, thì sẽ
có nhiều rủi ro trong việc duy trì các cuộc cạnh tranh quốc tế Chính Ấn Độ
đã đi theo hướng này trong phát triển công nghệ phần mềm và đã thành công Những năm gần đây, người ta càng nhận thức được rằng, cần phải làm rõ
Trang 25phương pháp luận và thực tiễn của sự phân tách giữa hai chiến lược là công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu và công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu Nếu như trước đây, quan niệm chỉ áp dụng riêng công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hoặc công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu thì nay đã cho rằng có thể
áp dụng được cả hai, hay ít nhất cũng không tuyệt đối hóa chúng với nhau Thực tiễn cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997-1998 đã khiến các học giả lớn thuộc trường phái Tự do hóa phải nhìn nhận lại những hạn chế của tự do hóa quá mức Giờ đây, họ chỉ ra rằng, phải coi trọng nội lực để khắc phục sự mất cân bằng do hướng ngoại thái quá, song về căn bản vẫn duy trì quan điểm nhấn mạnh vai trò trung tâm của cơ chế thị trường
Phái Cấu trúc luận đã tranh thủ các thất bại nói trên trong quá trình thực hiện chiến lược hướng vào xuất khẩu để phê phán thuyết Tự do mới Tuy nhiên, họ không thể duy trì hoàn toàn những tư duy cũ về thay thế nhập khẩu trước đây, những tư duy đã bị các nước đang phát triển quay lưng lại để hướng tới con đường cải cách và tự do hóa ngày nay Từ đó, một hệ Tư tưởng Cấu trúc luận mới đã hình thành, đề cao vai trò của Nhà nước cũng như những hoạt động phát huy nội lực để thực hiện các chiến lược phát triển Những nhà Cấu trúc luận mới đã không còn tuyệt đối hóa tự lực tự cường, song cũng tránh thiên lệch thái quá vào yếu tố bên ngoài như phái Tự do mới Xuất phát từ cách nhìn ấy, nhiều quan điểm đã không đối lập hoàn toàn giữa hai chiến lược Thay thế nhập khẩu và Hướng vào xuất khẩu, và hướng vào xuất khẩu vẫn là chủ đạo Chính cải cách kinh tế Ấn Độ đã chịu ảnh hưởng của quan điểm này Một mặt, Ấn Độ vẫn nỗ lực cải cách hướng ngoại, khắc phục những khiếm khuyết của nền kinh tế sau một thời gian dài đóng cửa; mặt khác, vẫn chủ trương phát huy sức mạnh nội lực Vì thế, cuộc cải cách ở
Ấn Độ mang một đặc trưng riêng, bởi nó vừa tìm kiếm các yếu tố bên ngoài
và lại chú ý đến cả các yếu tố bên trong
Trang 261.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH KINH TẾ Ở ẤN ĐỘ
1.2.1 Tình hình kinh tế trong nước trước cải cách
1.2.1.1 Mô hình kinh tế tự lực tự cường
Từ xa xưa, Ấn Độ đã từng được coi là một trong những trung tâm thương mại lớn nhất phương Đông Đến giữa thế kỷ thứ IV, dưới sự cai trị của vương triều Magadha, Ấn Độ đã đạt được bước phát triển cực thịnh Song đến thế kỷ thứ IX, nền văn minh Ấn Độ dần bị suy tàn vì các cuộc nội chiến xảy ra liên miên giữa hơn 600 tiểu vương quốc trên khắp tiểu lục địa Ấn Độ Nhân cơ hội đó, từ cuối thế kỷ thứ XV, các nước đế quốc Phương Tây như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan…bắt đầu để ý đến Ấn Độ Năm 1958, thực dân Anh đã thành công trong cuộc thôn tính tiểu lục địa Ấn Độ Do đó, từ một trung tâm kinh tế thương mại lớn vào bậc nhất khu vực, Ấn Độ trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu và nhân công rẻ mạt, đồng thời là một thị trường khổng lổ tiêu thụ hàng hóa ế thừa của thực dân Anh [4]
Mahatma Gandi - linh hồn của cuộc đấu tranh giành độc lập cho Ấn Độ năm 1947 - chủ trương duy trì sự cân bằng xã hội truyền thống, chú trọng phát triển nông thôn để giải quyết việc làm Ông phản đối công nghiệp hóa quy mô lớn bởi máy móc hiện đại làm gia tăng thất nghiệp, từ đó sẽ sinh ra bất công xã hội
Trái ngược với M.Gandi, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ là Jawahalah Nehru lại bảo vệ một luận điểm khác Xã hội lý tưởng của ông là một nền dân chủ nghị viện kiểu Anh kết hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung theo kiểu Xô Viết Theo ông, Ấn Độ là một đất nước có diện tích lớn, dân số đông,
có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, thị trường nội địa rộng lớn đủ đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp hiện đại…Do đó, Ấn Độ cần xây dựng một nền kinh tế hoàn chỉnh với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến nhưng phải dựa trên cơ sở tự lực cánh sinh
Trang 27Quan điểm tự lực tự cường của J.Nehru đã giành được sự ủng hộ đông đảo của quần chúng nhân dân và đã trở thành tư tưởng chỉ đạo cho đường lối phát triển kinh tế Ấn Độ những năm sau này Mô hình kinh tế của J.Nehru cho rằng, Ấn Độ muốn tăng trưởng kinh tế cao thì phải đặt những hàng rào thuế quan để giới hạn nhập khẩu, xây dựng và phát triển công nghiệp nội địa,
tự lực cánh sinh để xây dựng nền khoa học kỹ thuật cho riêng mình; nếu không sẽ trở thành nạn nhân của mậu dịch thế giới Mô hình này hứa hẹn một lối thoát cho đất nước Ấn Độ vừa ra khỏi ách thống trị của ngoại bang và đang nỗ lực chiến thắng nghèo đói Với một quốc gia mới giành độc lập như
Ấn Độ, lý thuyết phát triển trên quả là hấp dẫn; Ấn Độ sẽ phát triển theo phương châm tự lực cánh sinh, không lệ thuộc vào các thế lực bên ngoài
A Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Sau khi giành độc lập năm 1947, Ấn Độ phải đối mặt với một thách thức lớn là giải quyết tình trạng thiếu đói kéo dài từ thời thực dân Tình hình nông nghiệp lúc đó của Ấn Độ kém phát triển bởi một loạt các nguyên nhân như đất canh tác quá ít, chế độ sở hữu ruộng đất bất bình đẳng, thời tiết khắc nghiệt, hệ thống thủy lợi yếu kém, hệ số sử dụng đất thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu… Do vậy, Chính phủ đã cấp bách tiến hành cải cách ruộng đất và thực hiện quảng canh - đưa vào sử dụng diện tích đất hoang Năm 1966-1967,
một chiến lược nông nghiệp có tên là Cuộc Cách mạng xanh được triển khai,
nội dung chính là phát triển các giống lúa cao sản, áp dụng phương pháp
trồng trọt hiệu quả…Đến 1970, Ấn Độ tiếp tục thực hiện Cuộc Cách mạng
trắng, tập trung chủ yếu vào chăn nuôi trâu, bò, dê lấy sữa Ngoài ra, Chính
phủ còn tiến hành một loạt các biện pháp phát triển nông nghiệp như công nghiệp hóa thủy lợi, cải tiến nông cụ truyền thống, phát triển máy móc nông
Trang 28nghiệp hiện đại, áp dụng công nghệ sinh học vào sản xuất, ưu tiên điện khí hóa nông thôn, khuyến khích các ngành nghề thủ công truyền thống…
Nền kinh tế Ấn Độ đã đạt được những thay đổi mang tính lịch sử, từ một “trung tâm đói kém” của thế giới trở thành một quốc gia không những tự túc lương thực mà còn dành một phần để xuất khẩu Chính sách ưu tiên cho nông nghiệp của Ấn Độ vừa có ý nghĩa sách lược vừa có ý nghĩa chiến lược bởi nó không chỉ giải quyết nạn đói trước mắt mà còn tạo cơ sở vững chắc cho quá trình công nghiệp hóa
Tuy nhiên, nông nghiệp Ấn Độ vẫn còn khó khăn Sau độc lập, bởi chính sách của Ấn Độ là phát triển một nền kinh tế tự lực tự cường nên nông dân Ấn Độ bị cô lập khỏi thị trường quốc tế, không có cơ hội để giao thương với nước ngoài Hơn thế nữa, xuất phát từ quan điểm tự lực tự cường, Ấn Độ muốn tạo lập cho mình một nền tảng công nghiệp vững chắc Do đó, trong khi công nghiệp được bảo hộ bởi chính sách thay thế nhập khẩu thì nông nghiệp lại không được hưởng những ưu đãi như thế
B Công nghiệp
Mục tiêu cơ bản trong chiến lược Công nghiệp hóa tự lực tự cường của
Ấn Độ là phát triển một nền công nghiệp đa dạng và vững mạnh Trong đó, vai trò chủ lực phải giành cho các ngành công nghiệp trụ cột như sắt thép, luyện kim…và các ngành công nghiệp mũi nhọn thể hiện trình độ phát triển mới và năng động của khoa học kỹ thuật như điện tử, tự động hóa…Khi mới giành độc lập, Ấn Độ có một cơ cấu công nghiệp yếu kém, không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu quốc gia Đến năm 1956, Chính phủ Ấn Độ công bố Nghị quyết về chính sách công nghiệp hóa - quyết định đầu tư cho công nghiệp nặng và công nghiệp cơ bản Trong đó, ngành sắt thép được ưu tiên số một bởi nó được coi là biểu tượng của nền kinh tế Ấn Độ trong tương lai; tiếp
đó là ngành luyện kim, dầu lửa, than, phân bón và cơ khí.Ấn Độ đã đạt được
Trang 29những thành tựu đáng khích lệ trong công nghiệp và khoa học kỹ thuật Từ một thị trường tiêu thụ hàng hóa thừa của thực dân Anh, đến đầu thập kỷ 80,
Ấn Độ đã có một cơ sở công nghiệp lớn và khá đa dạng với đầy đủ những ngành cơ bản của nền kinh tế quốc dân; hướng tới những ưu tiên mới cho công nghiệp điện tử và năng lượng nguyên tử
C Kinh tế đối ngoại
Ngoại thương: Có thể nói, đây là lĩnh vực quan trọng nhất của kinh
tế đối ngoại Ấn Độ Trong 15 năm đầu sau khi giành độc lập, ngoại thương tăng chậm do chính sách Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu; tiếp theo đó là
10 năm bước đầu điều chỉnh chính sách theo hướng tăng cường kinh tế đối ngoại thì ngoại thương tăng dần Đến những năm 80, khi mà tự do hóa được quan tâm nhiều và trở thành chính sách trung tâm thì ngoại thương bắt đầu phát triển mạnh Chi tiết về sự phát triển các chính sách ngoại thương được áp
dụng cuối những năm 80 sẽ được trình bày cụ thể trong phần “Bước chuyển
trong những năm 1980”
Đầu tư nước ngoài: Quá trình quan hệ với tư bản nước ngoài ở Ấn
Độ được chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn trước 1965: Đây là thời kỳ mới giành độc lập nên Chính phủ
phải tập trung vốn để giải quyết nạn đói, chỗ ở, củng cố quốc phòng…không còn vốn để đầu tư cho công nghiệp Vì thế, lúc này Chính phủ vẫn tiếp tục sử dụng tư bản tư nhân nước ngoài để phát triển công nghiệp Song khi đó, hoạt động đầu tư nước ngoài không hiệu quả Lí do bởi các nhà đầu tư lo ngại vì không thấy được sự đảm bảo từ các chính sách của Chính phủ, hơn nữa là thái
độ bất hợp tác của tư bản trong nước
Giai đoạn 1965-1980: Trong giai đoạn này, một loạt những biện pháp
hạn chế trước đây đã được giảm bớt hoặc huỷ bỏ +)Thứ nhất, cho phép các công ty tư nhân tự do huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, +)Thứ hai,
Trang 30cho phép các công ty được tự đa dạng hóa sản xuất đến 25% tổng sản lượng +)Thứ ba, Chính phủ có chính sách tích cực hơn với việc nhập khẩu kỹ thuật
và kiến thức về quy trình sản xuất, thiết kế sản phẩm; khuyến khích chuyển giao kỹ thuật đã nhập khẩu để tránh nhập trùng lặp Đến năm 1973, Chính phủ cho phép các công ty liên doanh (trong đó tư bản nước ngoài có cổ phần
từ 40% trở xuống) được quyền tham gia vào các lĩnh vực hoạt động công nghiệp
Giai đoạn sau 1980: Đây là thời kỳ bước đầu thực hiện tự do hóa kinh
tế Các xí nghiệp được phép mở rộng công suất và tăng cường nhập khẩu kỹ thuật để khuyến khích xuất khẩu, tăng năng suất, hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng Hơn nữa, cho phép các công ty nước ngoài tự do đầu tư vào các công ty có 100% sản phẩm xuất khẩu, nới lỏng các điều kiện nhập khẩu
kỹ thuật, cho phép các công ty nước ngoài có cổ phần cao trong các xí nghiệp
thuộc khu vực Nhà nước, giảm bớt hạn chế trong hệ thống cấp giấy phép…
Những chính sách mạnh mẽ như vậy đã thu hút tư bản nước ngoài Trong nửa đầu thập kỷ 80, số lượng đầu tư của tư bản nước ngoài vào Ấn Độ tăng lên, trong khi số lượng đầu tư của tư bản nước ngoài vào các nước đang phát triển lại có xu hướng yếu đi Điều đó chứng tỏ sự hấp dẫn của thị trường
Ấn Độ đối với tư bản nước ngoài và cho thấy, Ấn Độ thực sự có tiềm năng phát triển Như vậy, trước khi tiến hành cải cách, nền kinh tế tuy đã có rất nhiều nỗ lực song vẫn chưa hiệu quả Các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, kinh tế đối ngoại vẫn chưa phát triển mạnh Vấn đề đó đòi hỏi Ấn Độ phải năng động hơn với thị trường, với thế giới bên ngoài; phải thay đổi tư duy cứng nhắc của mình, có sự chuyển hướng thích hợp để tạo được sức bật cho nền kinh tế
1.2.1.2 Cơ chế điều tiết kinh tế trước cải cách
Trang 31Đối với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến như
Ấn Độ, cần phải có những công cụ hữu hiệu để có thể tập hợp những lực lượng sản xuất phân tán trên cả nước vào một mối; phục vụ mục tiêu chung là xây dựng một đất nước giàu mạnh và thịnh vượng Để làm việc này, Chính phủ quyết định thiết lập hệ thống kế hoạch hóa và xây dựng khu vực kinh tế Nhà nước, coi đây là công cụ quan trọng nhất để quản lý nền kinh tế Kinh tế Nhà nước được độc quyền nắm giữ các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp cơ bản Chính phủ Ấn Độ sử dụng một hệ thống kế hoạch hóa linh hoạt Theo đó, áp dụng nguyên tắc bắt buộc, pháp lệnh đối với khu vực kinh
tế Nhà nước; còn với khu vực kinh tế tư nhân, thì kế hoạch chỉ là mang tính hướng dẫn, điều tiết thông qua biện pháp cấp giấy phép, hệ thống thuế, tín dụng…
Khu vực kinh tế Nhà nước được hình thành từ một số các xí nghiệp
tịch thu lại của thực dân Anh như xí nghiệp đường sắt, bưu điện, bến cảng, xí nghiệp sản xuất dược phẩm, xí nghiệp sản xuất vũ khí…Bên cạnh đó là một
số các xí nghiệp do Nhà nước đầu tư xây mới Đầu những năm 70, khu vực này được mở rộng bằng việc quốc hữu hóa một số ngành quan trọng như ngành than, ngân hàng, bảo hiểm và tiếp quản một số cơ sở yếu kém trong khu vực tư nhân gồm các xí nghiệp cơ khí, dệt bông, dệt đay Cuối những năm 80 đầu 90, khu vực kinh tế Nhà nước chiếm trên 20% tổng sản phẩm quốc dân, nắm 2/3 tổng giá trị tài sản của Ấn Độ, kiểm soát hầu hết những ngành quan trọng và cơ bản nhất Như vậy, có thể khẳng định được vai trò nòng cốt của khu vực kinh tế Nhà nước trong các chương trình phát triển quốc gia, là công cụ hướng kinh tế tư nhân vào phục vụ mục tiêu và kế hoạch của Nhà nước
Khu vực kinh tế tư nhân có vai trò to lớn trong hoạt động sản xuất
nông nghiệp; có vị trí lớn trong những ngành như vận tải, thương mại, xuất
Trang 32nhập khẩu, ngân hàng Kinh tế tư nhân được chia làm hai loại: 1)Loại “có tổ chức” gồm các công ty, xí nghiệp công nghiệp lớn và vừa; 2)Loại “không có
tổ chức” gồm các xưởng nhỏ hoạt động chế biến lương thực, thực phẩm, vải,
cơ khí, tiểu thủ công nghiệp…[10] Từ những năm 50, các xí nghiệp tư nhân qui mô lớn và vừa đã bắt đầu hoạt động với vốn tự tích luỹ; sau đó, phát triển dần bằng quá trình tập trung và tích tụ tư bản, cộng với sự hỗ trợ của khu vực kinh tế Nhà nước Các xí nghiệp này chủ yếu được thừa hưởng những kỹ thuật và cách quản lý của phương Tây nên năng suất hoạt động khá cao
Ngoài ra, ở Ấn Độ còn có các xí nghiệp liên doanh và hợp tác xã Khu
vực liên doanh hình thành trên cơ sở Nhà nước bỏ vốn vào các xí nghiệp tư
nhân, hoặc tư nhân bỏ vốn vào các công ty Nhà nước, hoặc hai bên hùn vốn xây dựng xí nghiệp mới Vào thời kỳ 1979-1780, khu vực liên doanh chiếm 1,6% tổng số xí nghiệp và 5,3% tổng sản phẩm kinh tế quốc dân [10]
Khu vực hợp tác xã của Ấn Độ bao gồm các hợp tác xã tiểu thủ công
nghiệp, cung tiêu, tín dụng Nguyên tắc hoạt động là các cá nhân và hộ gia đình cùng góp vốn, sau đó chia sản phẩm và lợi nhuận theo tỷ lệ đóng góp
Ưu điểm nổi bật của hình thức này là huy động được một khoản vốn khá lớn
từ những khoản tích luỹ nhỏ để đưa vào hoạt động có hiệu quả
Có thể nói, cơ chế kinh tế trong giai đoạn trước cải cách ở Ấn Độ là cơ chế kế hoạch hóa song song với điều tiết thị trường dựa trên cơ sở hai khu vực kinh tế cơ bản là Nhà nước và tư nhân, trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo Cơ chế ấy tạo điều kiện để Ấn Độ có thể tập trung được những khả năng sản xuất đa dạng, phân tán vào một hệ thống chung hướng tới mục tiêu hiện đại hóa
1.2.1.3 Bước chuyển trong những năm 1980
Qua phần trình bày về phát triển công nghiệp, nông nghiệp và kinh tế đối ngoại ở trên, có thể có cái nhìn khái quát nền kinh tế Ấn Độ khi Chính
Trang 33phủ thực hiện kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu và theo đuổi chiến lược thay thế nhập khẩu
Trước những năm 1980, Ấn Độ đã có một cơ cấu ngành khá đa dạng, nhưng chi phí sản xuất cao và mang nặng tính tự túc tự cấp Do đó, chất lượng sản phẩm kém, công nghệ lạc hậu ngay cả ở những ngành mà Ấn Độ có lợi thế cạnh tranh như dệt, may, đồ da, sản xuất bông thô Nguyên nhân về năng suất cùng với nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên liệu thô mà thị trường trong nước không thể đáp ứng được tăng lên; đòi hỏi phải
tự do hóa nhập khẩu máy móc và nguyên liệu cuối những năm 1970 Hơn nữa, nhờ những thành tựu trong xuất khẩu đã làm dự trữ ngoại hối đủ lớn, khiến các quan chức không quá lo lắng về khủng hoảng cán cân thanh toán
Do đó, một biện pháp tự do hóa bắt đầu được triển khai Có thể nói rằng, từ giữa thập niên 80 (khoảng năm 1985), Ấn Độ đã sớm có nỗ lực chuyển đổi làm tiền đề cho cải cách kinh tế Bước chuyển trong những năm 1980 của Ấn
Độ có thể được chia thành 5 loại:
Thứ nhất: Danh mục hàng hóa và đầu vào trung gian cho sản xuất
được phép nhập khẩu dần được mở rộng và tăng lên về số lượng Hầu hết hàng hóa và đầu vào cho sản xuất được đưa vào danh mục cấp phép nhập khẩu đều là những mặt hàng trong nước không sản xuất được Do đó, biện pháp tự do hóa này có ý nghĩa quan trọng với việc nâng cao hoạt động sản xuất trong nước
Bảng 1.1: Số lƣợng mặt hàng trong danh mục đƣợc phép nhập khẩu
Năm Máy móc và thiết bị sản xuất (Đv: mặt hàng)
Trang 34Thứ hai: Tỷ trọng hàng nhập khẩu độc quyền giảm đi, tỷ trọng hàng
nhập khẩu bởi doanh nghiệp tăng lên Trong thời kỳ 1980-1987, tỷ trọng hàng nhập khẩu độc quyền của Nhà nước giảm từ 67% xuống còn 27%
Thứ ba: Sau năm 1985, một số biện pháp khuyến khích xuất khẩu được
triển khai
Thứ tư: Từ năm 1985, nới lỏng điều tiết ở một số ngành công nghiệp
để tăng cường cho hoạt động tự do hóa nhập khẩu, bao gồm:
Xoá bỏ cơ chế cấp phép trong 25 ngành
Cho phép doanh nghiệp được linh hoạt chuyển đổi sản xuất giữa các lĩnh vực tương tự
Từ 1986, bất cứ doanh nghiệp nào hoạt động tới hơn 80% công suất trong một thời điểm bất cứ trong vòng 5 năm trước 1986 sẽ được phép nâng công suất hoạt động lên 133% so với công suất tại thời điểm vượt 80% đó
Những doanh nghiệp có tài sản trên 1 tỷ Rupi mới bị coi là thuộc diện xem xét của Luật Chống độc quyền, thay vì quy định trên 200 triệu Rupi trước đây Theo đó, có 90 trong số 180 doanh nghiệp lớn đã được đưa ra khỏi danh sách doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo Luật Chống độc quyền để có thể mở rộng sản xuất
Kiểm soát về giá và phân phối đối với sản phẩm xi măng được bãi bỏ hoàn toàn, tạo điều kiện xoá thị trường xi măng lậu, nhanh chóng làm giảm giá xi măng
Thuế tiêu thụ được chuyển thành thuế giá trị gia tăng, cho phép các doanh nghiệp trong lĩnh vực chế tạo được khấu trừ thuế đánh vào đầu vào mua trong nước
Thứ năm: Xây dựng chế độ tỷ giá hối đoái thực tế hơn bằng cách phá
giá đồng rupi vào cuối thập niên 80 với mục đích kích thích xuất khẩu
Trang 35Nhờ có những bước chuyển theo hướng tự do hóa nói trên, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội cũng như tăng trưởng sản lượng công nghiệp của Ấn
Độ trong những năm 1980 cao hơn hẳn thời gian trước Tỷ lệ tăng của GDP thực tế bình quân hàng năm trong thời kỳ 1980-1991 là 5,7%/năm so với mức tăng khiêm tốn là 3,5%/năm thời kỳ trước 1980 Tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân hàng năm thời kỳ 1988-1991 là 9,2%/năm [48] Mức tăng trưởng nhanh của sản lượng công nghiệp bắt nguồn từ năng suất được cải thiện bởi tự do hóa trong công nghiệp và thương mại đem lại
1.2.2 Tình hình kinh tế quốc tế thúc đẩy Ấn Độ tiến hành cải cách
1.2.2.1 Sự thành công của các nước công nghiệp mới ở Đông Á
Vào cuối những năm 60 và đầu những năm 70, các mô hình kinh tế năng động ở Đông Á DAEs (Dynamic Asian Economies) gồm Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Thailand và Malaysia đã đưa ra những gợi ý về cách thức và giải pháp phát triển đối với những nước vốn xuất phát từ nông nghiệp và quan hệ xã hội tuân theo những giá trị văn hóa Phương Đông Đó là thành công của các chiến lược phát triển như phát huy sức mạnh nội lực, phát huy sức mạnh thị trường và mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài Như vậy, các nước tăng trưởng nhanh ở Châu Á có lẽ cũng là những ví dụ điển hình cho sự thành công về kinh tế liên quan đến con đường hướng ra thế giới Có thể nói rằng, ở các quốc gia này, tăng trưởng xuất khẩu
đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ngược lại Tất nhiên, đi đôi với hoạt động ngoại thương còn phải kể đển các nhân tố khác như tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, tỷ giá hối đoái cạnh tranh, tăng cường chất lượng giáo dục và đào tạo, khả năng áp dụng công nghệ mới, sự chuyển dịch linh hoạt từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp…song không thể phủ nhận vai trò mở cửa của nền kinh tế Tự do hóa thương mại đã trở thành
Trang 36nguyên nhân cơ bản của quá trình tăng trưởng kinh tế cao kéo dài nhiều thập
kỷ qua ở các quốc gia này
1.2.2.2 Công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc
Cải cách kinh tế Trung Quốc theo hướng thị trường diễn ra từ năm
1978, đã đạt được những thành tựu cải cách nổi bật, thu hút được sự quan tâm chú ý của cộng đồng quốc tế Quốc gia này do nguyên nhân về an ninh và hệ
tư tưởng đã cố gắng duy trì tự lực cánh sinh hầu như suốt khoảng thời gian sau chiến tranh, nhưng sau đó cũng đã có những nhận thức về vai trò của chiến lược hướng ngoại đối với tăng trưởng kinh tế đất nước Đây chính là một ví dụ điển hình cho sự tăng trưởng theo định hướng xuất khẩu thông qua việc Nhà nước thiết lập các đặc khu kinh tế và các “thành phố mở” nhằm thu hút đầu tư và tạo điều kiện thúc đẩy xuất khẩu
Ngay khi Trung Quốc tiến hành chính sách mở cửa năm 1978 sau khoảng 3 thập niên đóng cửa, xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng trưởng nhanh chóng, đạt khoảng 11%/năm Đồng thời, cải cách đã thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế; trong giai đoạn từ 1980 đến 2003, GDP bình quân đạt khoảng 9,5%/năm, số dân có mức sống dưới 1USD/ngày đã giảm từ 789 triệu người xuống còn 203 triệu người
Điểm nổi bật trong cải cách kinh tế Trung Quốc là sẵn sàng sử dụng những giải pháp không mang tính truyền thống Sau một thời gian dài theo đuổi chiến lược phát triển công nghiệp nặng mà bỏ qua nông nghiệp và các ngành sử dụng nhiều lao động, giờ đây Trung Quốc đã tập trung vào hai khu vực này, bởi nó cho phép Trung Quốc phát huy lợi thế của mình là lực lượng lao động dồi dào Hướng cải cách của Trung Quốc bắt đầu từ nông nghiệp, thông qua chế độ khoán cho nông dân, tạo điều kiện để họ sản xuất phục vụ thị trường Tiếp đó, cải cách ở nông thôn đã tạo điều kiện để ngành công
nghiệp Trung Quốc phát triển thông qua việc cho ra đời các xí nghiệp hương
Trang 37trấn - một hình thức doanh nghiệp hoàn toàn mang bản sắc Trung Quốc [38]
Các xí nghiệp này không được hưởng nhiều bảo hộ của Nhà nước, phải đối đầu với cạnh tranh và khó khăn về ngân sách, song lại được tự do hoạt động ngoài phạm vi kế hoạch của Nhà nước Tỷ trọng của các xí nghiệp hương trấn trong sản lượng công nghiệp tăng từ 9% trong năm 1978 lên 58% năm 1997 Trung Quốc đã nhanh chóng thực hiện xóa đói giảm nghèo chủ yếu do hai nguyên nhân trên
Hơn nữa, Trung Quốc đã thực hiện một chính sách mở cửa toàn diện
hơn với nền kinh tế thế giới, bắt đầu bằng việc thành lập các đặc khu kinh tế
SEZs (Special Economic Zones) Có hai yếu tố làm cho SEZs ở Trung Quốc
trở thành một chính sách thành công:
Thứ nhất, SEZs được hưởng một môi trường đầu tư thuận lợi Đó là:
cho phép 100% sở hữu nước ngoài, được tự do tuyển dụng và sa thải nhân công, được hưởng thuế suất thấp, được cung cấp cơ sở hạ tầng
Thứ hai, SEZs không còn là một khu vực bị cô lập Từ SEZs, Trung
Quốc tiến hành mở cửa toàn diện hơn Thời gian đầu chỉ có 4 đặc khu kinh tế được thành lập, sau đó 14 thành phố ven biển khác đã thực hiện chính sách này và nó được nhân rộng sang các thành phố đồng bằng khác Như vậy, Trung Quốc đã tiến hành một cuộc cải cách toàn diện đối với nông nghiệp, công nghiệp, thương mại kể từ năm 1978 và bước đầu đã thu được những thành công nhất định
Bảng 1.2: Tăng trưởng GDP thực tế và tăng trưởng xuất khẩu trung bình
của các nền kinh tế năng động ở Châu Á và Trung Quốc
Trang 381995 Tăng trưởng GDP trung bình thực tế ở Trung Quốc còn cao hơn, đạt mức 10,2%/năm và 12,8%/năm ứng với hai giai đoạn trên
Có thể thấy, các nước đạt mức độ tăng trưởng nhanh ở Châu Á cũng chính là các dẫn chứng cho thấy sự liên quan giữa thành công về kinh tế với mức độ xuất khẩu Các nước DAEs và Trung Quốc luôn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và đồng thời cũng có tốc độ tăng trưởng cao về xuất khẩu, luôn đạt hơn 10%/năm (bảng 1.2) Như vậy, thực tiễn đã chứng tỏ vai trò đóng góp quan trọng của thương mại quốc tế vào sự tăng trưởng của các quốc gia đang phát triển Sự đóng góp đó thông qua rất nhiều kênh tác động, đó là: 1) Thương mại quốc tế có thể tạo điều kiện tận dụng triệt để những nguồn lực chưa được sử dụng hết trong nước; chẳng hạn, có thể tìm được lối thoát cho sự dư thừa các mặt hàng nông sản và nguyên liệu thô sẵn có thông qua hoạt động ngoại thương Đây là thực tế phổ biến ở các quốc gia đang phát triển
2) Mở rộng thị trường thương mại có thể chuyên môn hóa lao động và tăng hiệu quả kinh tế theo quy mô
Trang 393) Thương mại quốc tế còn là phương tiện chuyển giao các ý tưởng, công nghệ, phương pháp quản lý mới và các kỹ năng khác
4) Thương mại kích thích và tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng vốn quốc tế từ các nước phát triển vào các nước đang phát triển
5) Nhập khẩu các sản phẩm chế tạo mới đã khuyến khích nhu cầu nội địa cho đến khi sản xuất nội địa có khả năng đáp ứng được
6) Thương mại quốc tế là vũ khí hoàn hảo chống lại độc quyền vì nó kích thích năng lực cạnh tranh của các nhà sản xuất nội địa với nước ngoài
1.2.2.3 Xu hướng hợp tác và cạnh tranh trên thế giới đang từng bước thay thế xu hướng đối đầu và xung đột
Trước xu thế chung của toàn thế giới là hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, các quốc gia buộc phải định hướng lại tư duy về các vấn đề phát triển Khác hẳn với trước đây, trong hoàn cảnh phát triển mới, mở cửa và hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu tự thân bên trong đối với nền kinh tế của hầu hết các quốc gia đang phát triển Giờ đây, toàn cầu hóa và khu vực hóa là một xu thế tất yếu, trong đó tự do hóa kinh tế trở thành một nội dung bao trùm trong động thái phát triển của mọi nền kinh tế Do vậy, Ấn Độ cần phải có những điều chỉnh kinh tế của mình theo hướng tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hóa đang buộc Ấn Độ phải mở cửa thị trường hơn nữa, đồng thời buộc nền kinh tế phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt từ bên ngoài Mặt khác, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Ấn
Độ tận dụng được thị trường bên ngoài góp phần vào tăng trưởng kinh tế, bởi nền kinh tế Ấn Độ hiện nay đang có những lợi thế nhất định khi tham gia hội nhập quốc tế Do xu thế toàn cầu hóa, Ấn Độ có khả năng mở rộng xuất khẩu những hàng hóa đang có lợi thế của mình ra nước ngoài và thu hút mạnh mẽ được nguồn vốn FDI trên thế giới nhờ dung lượng thị trường trong nước rất lớn
Trang 40Toàn bộ tình hình trên đây, bao gồm cả hoàn cảnh thực tiễn trong nước
và tình hình quốc tế đã tác động đến Ấn Độ theo cả hai phương diện Một mặt, nó đòi hỏi phải có sự đổi mới trong tư duy phát triển kinh tế, đặt trọng tâm phát triển kinh tế theo một phương thức mới; mặt khác, nó tạo ra các điều kiện và cơ hội để sự thay đổi được diễn ra thuận lợi hơn
1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC CẢI CÁCH KINH
TẾ - QUÁ TRÌNH CHUYỂN HƯỚNG SANG QUAN ĐIỂM TỰ DO HÓA VÀ
MỞ CỬA NỀN KINH TẾ Ở ẤN ĐỘ
Như vậy, qua hai phần đã trình bày trên đưa ra một cái nhìn khái quát
về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn làm động lực cho Ấn Độ thực hiện quá trình cải cách Nhưng chúng ta vẫn chưa thấy được sự cấp thiết, sự thôi thúc đòi hỏi Ấn Độ phải tiến hành cải cách để thay đổi và phát triển nền kinh tế đất nước Phần này sẽ trình bày một cách cụ thể sự cần thiết ấy
Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn thứ 7 và đông dân thứ 2 thế giới Với lực lượng lao động dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong phú, điều kiện địa
lý thuận lợi, khí hậu đa dạng, có đại dương bao bọc, có đồng bằng rộng lớn vào loại nhất thế giới…là những điều kiện thuận lợi để Ấn Độ phát triển kinh
tế đất nước
Ngay từ khi giành độc lập vào năm 1947, những người sáng lập ra
nước cộng hòa Ấn Độ đã đặt nhiệm vụ là phải xây dựng đất nước thành một quốc gia độc lập và hùng mạnh trên cơ sở tự lực tự cường Tư tưởng này đã chi phối đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Ấn Độ Theo quan điểm
xuyên suốt đó, các kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm bắt đầu từ kế hoạch 5
năm lần thứ nhất (1951-1956) đều hướng vào những mục tiêu cơ bản là:
+)Tăng trưởng vững chắc và hiện đại hóa nền kinh tế; +)Tự lực cánh sinh; +)Đảm bảo công bằng xã hội; +)Xóa bỏ nghèo đói