Hoàng Hoa Hồng; sự cộng tác, hỗ trợ của cán bộ Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Ninh Thuận, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ninh Hải, UBND các xã quanh đầm
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
- Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được sử dụng để bảo
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong khuôn khổ Luận văn tốt nghiệp được Hiệu trưởng Trường Đại học Nha Trang giao Tôi thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận” bắt đầu tiến hành từ ngày 15/3/2010 đến ngày 15/3/2011
Trong suốt thời gian và quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp, được sự hướng dẫn tận tình của TS Hoàng Hoa Hồng; sự cộng tác, hỗ trợ của cán bộ Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Ninh Thuận, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ninh Hải, UBND các xã quanh đầm Nại và một số ngư dân đang hoạt động trong lĩnh vực khai thác thủy sản đã giúp Tôi hoàn thành nội dung này
Do thời gian ngắn, kinh phí đầu tư có hạn, lần đầu tiên bản thân tự thực hiện nên chắc chắn nội dung đề tài còn những thiếu sót nhất định Rất mong sự quan tâm chia sẽ, tham gia, đóng góp ý kiến của các Thầy giáo trong khoa khai thác, đồng chí và đồng nghiệp trong ngành thủy sản để Luận văn tốt nghiệp hoàn chỉnh hơn
Nhân đây, Tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả những người đã dành thời hướng dẫn, cộng tác và tạo điều kiện giúp đỡ cho Tôi trong suốt thời gian thực hiện các công việc trên
Ninh Thuận, ngày 15 tháng 6 năm 2011
Tác giả
Lê Tiến Dũng
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU VỰC ĐẦM NẠI
1.1 1 Điều kiện tự nhiên đầm Nại
1.1.1.1 Vị trí địa lý
1.1.1.2 Địa hình-địa mạo
1.1.1.3 Đặc điểm khí hậu
1.1.1.4 Chế độ gió
1.1.1.5 Chế độ mưa và lượng mưa
1.1.1.6 Đặc điểm thủy văn và thủy triều
1.1.1.7 Lũ lụt và bão
1.1.1.8 Dòng chảy
1.1.1.9 Khả năng trao đổi nước giữa đầm Nại và vịnh Phan Rang
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Dân số, lao động, việc làm
1.1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất
1.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
1.1.2.4 Giáo dục
1.1.2.5 Y tế
1.1.3 Tài nguyên biển
1.1.3.1 Tài nguyên biển Ninh Thuận
1.1.3.2 Tài nguyên biển khu vực đầm Nại
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CƯU Ở NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Nghiên cứu về hiệu quả khai thác thủy sản
1.2.2 Về giải pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở nước ngoài
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
1.3.1 Thực trạng khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
1.3.2 Chính sách quản lý nghề cá Việt Nam và các hạn chế cơ bản
1.3.3 Một số hoạt động nghiên cứu liên quan đến khai thác và bảo vệ nguồn
lợi thủy sản tại đầm Nại
1.4 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN
1.4.1 Nhận xét chung
1.4.2 Phân tích, đánh giá những kết quả nghiên cứu về hiệu quả khai thác và
bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Chương II - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Thực trạng nghề khai thác thủy sản tại Đầm Nại
Trang 42.1.2 Thực trạng quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Đầm Nại
2.1.3 Đề xuất giải pháp
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chung
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
2.2.3 Thu thập thông tin sơ cấp
2.2.4 Phân tích, xử lý số liệu thống kê
2.3 PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 THỰC TRẠNG NGHỀ KHAI THÁC THỦY SẢN TẠI ĐẦM NẠI
3.1.1 Đặc điểm ngư trường Đầm Nại
3.1.1 Phạm vi giới hạn, diện tích
3.1.2 Đặc điểm địa hình đáy biển
3.1.3 Đặc điểm khí tượng thủy văn
3.1.2 Nguồn lợi hải sản tại Đầm Nại
3.1.2.1 Thành phần loài cá và giáp xác
3.1.2.2 Kích cỡ và trọng lượng các đối tượng khai thác
3.1.2.3 Phân bố nguồn lợi cá và giáp xác tại đầm Nại
3.1.2.4 Một số loài cá và giáp xác kinh tế
3.1.2.5 Phân bố các loài kinh tế
3.1.2.6 Mùa vụ xuất hiện các loài kinh tế
3.1.3 Thực trạng về năng lực nghề cá tại Đầm Nại
3.1.3.1 Cơ cấu lực lượng khai thác theo nghề và địa phương
3.1.3.2 Tình hình biến động lực lượng khai thác theo nghề từ năm
2006÷2010
3.1.3.3 Thực trạng sử dụng phương tiện khai thác theo nghề và địa phương
3.1.3.4 Đặc điểm phương tiện khai thác và trang bị an toàn theo nghề năm 2010
3.1.4 Thực trạng về ngư cụ khai thác thủy sản tại Đầm Nại
3.1.4.1 Ngư cụ nghề Lưới Rê
3.1.4.2 Ngư cụ nghề Lưới Đáy
3.1.4.3 Ngư cụ nghề Câu
3.1.4.4 Ngư cụ nghề Cào sò
3.1.4.5 Ngư cụ nghề Bẫy Cua, Ghẹ
3.1.4.6 Ngư cụ nghề Te, Xiếc điện
3.1.5 Thực trạng về lao động nghề khai thác thủy sản tại Đầm Nại
3.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TẠI ĐẦM NẠI
Trang 53.2.1.4 Nghề Bẫy cua, ghẹ
3.3.1.5 Nghề cào bắt ngao, sò
3.3.1.6 Hoạt động te, xiếc điện
3.2.2 Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động khai thác thủy sản tại Đầm Nại
3.2.2.1 Thuận lợi
3.2.2.2 Khó khăn
3.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BVNLTS TẠI ĐẦM NẠI
3.3.1 Thực trạng về bộ máy quản lý
3.3.2 Thực trạng cơ sở vật chất cho công tác BVNLTS
3.3.3 Công tác tuyên truyền hướng dẫn công tác BVNLTS
3.3.4 Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động nghề cá
3.3.5 Phân tích đánh giá thực trạng công tác BVNLTS tại Đầm Nại
3.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC VÀ BẢO
VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN TẠI ĐẦM NẠI
3.4.1 Giải pháp kỹ thuật
3.4.1.1 Căn cứ đề xuất
3.4.1.2 Nội dung giải pháp
3.4.1.3 Tính khả thi của giải pháp
3.4.2 Giải pháp tuyên truyền, vận động ngư dân chấp hành các quy định về
khai thác và BVNL thủy sản
3.4.2.1 Căn cứ đề xuất
3.4.2.2 Nội dung giải pháp
3.4.2.3 Tính khả thi của giải pháp
3.4.3 Giải pháp Quy hoạch sắp xếp lại nghề khai thác thủy sản
3.4.3.1 Căn cứ đề xuất
3.4.3.2 Nội dung giải pháp
3.4.3.3 Tính khả thi của giải pháp
3.4.4 Giải pháp ban hành thể chế, chính sách
3.4.4.1 Căn cứ đề xuất
3.4.4.2 Nội dung giải pháp
3.4.4.3 Tính khả thi của giải pháp
3.4.5 Giải pháp tăng cường thực thi pháp luật
3.4.5.1 Căn cứ đề xuất
3.4.5.2 Nội dung giải pháp
3.4.5.3 Tính khả thi của giải pháp
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất của các xã ven đầm Nại 8
Bảng 3.3: Thành phần loài và sản lượng một số loài kinh tế tại đầm Nại 36 Bảng 3.4: Phân bố số hộ khai thác tại đầm Nại theo nghề và địa phương năm 2010 39 Bảng 3.5: Biến động số hộ khai thác tại đầm Nại theo nghề từ năm 2006÷2010 40 Bảng 3.6: Thống kê phương tiện khai thác tại đầm Nại theo nghề và xã, năm 2010 41 Bảng 3.7: Tình hình trang bị phương tiện khai thác theo nghề năm 2010 41 Bảng 3.8: Các thông số cơ bản của lưới Rê 3 lớp theo nhóm công suất 43 Bảng 3.9: Các thông số cơ bản của lưới Rê 01 lớp theo nhóm công suất 44 Bảng 3.10: Các thông số cơ bản của lưới Đáy theo nhóm công suất 44 Bảng 3.11: Các thông số cơ bản của nghề Câu theo nhóm công suất 45 Bảng 3.12: Thống kê trình độ lao động theo độ tuổi lao động 48
Bảng 3.14: Sản lượng khai thác nghề lưới Rê/hộ điều tra năm 2010 51 Bảng 3.15: Biến động sản lượng, năng suất khai thác của nghề lưới Rê qua các
năm từ 2008÷2010
52
Bảng 3.16: Sản lượng và thành phần sản phẩm khai thác nghề lưới Rê 53 Bảng 3.17: Doanh thu, lợi nhuận của hộ nghề lưới rê từ năm 2008÷2010 54
Bảng 3.19: Sản lượng khai thác nghề lưới Đáy/hộ điều tra năm 2010 56 Bảng 3.20: Sản lượng và năng suất khai thác nghề lưới Đáy qua các năm từ
2008÷2010
57 Bảng 3.21: Sản lượng và thành phần sản phẩm khai thác nghề Lưới Đáy 58 Bảng 3.22: Doanh thu, lợi nhuận của hộ nghề lưới Đáy từ năm 2008-2010 58
Bảng 3.24: Sản lượng khai thác nghề câu/hộ điều tra năm 2010
Bảng 3.25: Biến động sản lượng khai thác nghề Câu năm 2008÷2010
61
61
Trang 7Bảng 3.26: Sản lượng và thành phần sản phẩm khai thác nghề Câu 62 Bảng 3.27: Doanh thu, lợi nhuận của hộ nghề Câu từ năm 2008÷2010 63
Bảng 3.29: Sản lượng khai thác nghề Bẫy cua, ghẹ/hộ điều tra năm 2010 65 Bảng 3.30: Biến động sản lượng khai thác nghề Bẫy cua, ghẹ năm 2008÷2010 65 Bảng 3.31: Thành phần sản phẩm khai thác nghề Bẫy cua, ghẹ 66 Bảng 3.32: Doanh thu, lợi nhuận của hộ nghề Bẫy cua, ghẹ từ năm 2008÷2010 67 Bảng 3.33: Biến động sản lượng khai thác ngao, sò năm 2008÷2010 68 Bảng 3.34: Thành phần sản phẩm khai thác nghề Cào ngao, sò 68 Bảng 3.35: Doanh thu, lợi nhuận của hộ Cào ngao, sò từ năm 2008÷2010 69 Bảng 3.36: Biến động sản lượng khai thác bằng Te, xiếc điện năm 2008÷2010 71 Bảng 3.37: Sản lượng và thành phần sản phẩm khai thác nghề Te, xiếc điện 71 Bảng 3.38: Doanh thu, lợi nhuận của hộ làm nghề te, xiếc điện từ năm
2008÷2010
72
Bảng 3.39: Tổ chức bộ máy Thanh tra chuyên ngành BVNLTS tỉnh Ninh Thuận 74 Bảng 3.40: Phương tiện hỗ trợ phục vụ cho công tác tuần tra, kiểm soát 75 Bảng 3.41: Kết quả xử lý vi phạm về hoạt động khai thác sử dụng kích điện
qua các năm tại đầm Nại
75
Bảng 3.42: Bảng tổng hợp ý kiến của các hộ ngư dân về giải pháp nâng cao
hiệu quả khai thác và bảo vệ NLTS thủy sản bền vững tại đầm Nại
77
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.4: Bản đồ phân bố nguồn lợi cá và giáp xác đầm Nại 35
Hình 3.8: Bản vẽ cấu tạo loại Sỏng chiều dài 4 mét 42 Hình 3.9: Bản vẽ cấu tạo loại Sỏng chiều dài 6 mét 42
Hình 3.13: Cấu tạo ngư cụ bẫy cua, ghẹ tại đầm Nại 46
Hình 3.16: Khu vực hoạt động nghề lưới Rê tại đầm Nại 51 Hình 3.17 Biểu diễn biến động về số vàng lưới và sản lượng nghề lưới Rê qua các năm 52 Hình 3.18 Đồ thị biễu diễn doanh thu, chi phí và lợi nhuận nghề lưới Rê qua các năm 54 Hình 3.19: Khu vực hoạt động nghề lưới Đáy tại đầm Nại 56 Hình 3.20: Đồ thị biểu diễn biến động về số hộ và sản lượng đánh bắt bằng nghề
Hình 3.21: Đồ thị biễu diễn cơ cấu thành phần loài đánh bắt nghề lưới Đáy 58 Hình 3.22: Đồ thị biểu diễn biến động về doanh thu, chi phí và lợi nhuận của
Hình 3.24: Khu vực khai thác nghề Câu tại đầm Nại
Hình 3.25 Biễn diễn biến động về số hộ và sản lượng khai thác bằng nghề Câu
qua các năm
60
61 Hình 3.26: Cơ cấu thành phần loài đánh bắt bằng nghề Câu 62 Hình 3.27: Đồ thị biểu diễn biến động về doanh thu, chi phí và lợi nhuận nghề
Hình 3.29: Đồ thị biểu diễn biến động số hộ và sản lượng nghề Bẫy cua, ghẹ
Hình 3.30: Cơ cấu sản phẩm đánh bắt bằng nghề Bẫy cua, ghẹ 66 Hình 3.31: Đồ thị biểu diễn biến động về doanh thu, chi phí, lợi nhuận
Hình 3.32: Đồ thị biểu diễn sản lượng khai thác bằng nghề Cào ngao, sò qua các năm 68 Hình 3.33: Cơ cấu thành phần loài đánh bắt bằng nghề Cào ngao, sò 69 Hình 3.34: Đồ thị biểu diễn biến động về lợi nhuận nghề cào Ngao, sò 69 Hình 3.35 Biểu diễn biến động về số hộ và sản lượng khai thác nghề te, xiếc điện 71 Hình 3.36 Biễu diễn cơ cấu thành phần loài đánh bắt bằng nghề te, xiếc điện 72 Hình 3.37: Biểu diễn biến động sản lượng nghề te, xiếc điện qua các năm 72
Trang 9DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Trang Phụ lục 1: Thành phần loài cá và giáp xác tại đầm Nại 91 Phụ lục 2: Kích cỡ khai thác một số loài cá và giáp xác tại đầm Nại 95 Phụ lục 3: Phiếu điều tra phỏng vấn hộ gia đình hoạt động khai thác thủy
Trang 10BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
-
NTTS Nuôi trồng thủy sản
NLTS Nguồn lợi thủy sản
BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
KT&BVNLTS Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản KTTS Khai thác thủy sản
QLDVCĐ Quản lý dựa vào cộng đồng
QLNCDVCĐ Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng
Trang 11MỞ ĐẦU
Bờ biển nước ta có chiều dài 3.260 km, với hàng loạt hệ thống sông ngòi đổ ra biển, đã xuất hiện các cửa sông, bãi triều, rừng ngập mặn đặc biệt là chuỗi các đầm phá từ Thừa Thiên - Huế đến Ninh Thuận, bao gồm các đầm nổi tiếng như: đầm Nại (Ninh Thuận), Thủy Triều (Khánh Hòa), Ô Loan (Phú Yên), Cù Mông (Phú Yên), Thị Nại (Bình Định), Nước Ngọt (Đề Gi - Bình Định), Trà Ổ (Bình Định), Nước Mặn (Quảng Ngãi), An Khê (Quảng Ngãi), Trường Giang (Quảng Ngãi), Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế) và Tam Giang-Cầu Hai (Thừa Thiên - Huế) với tổng diện tích khoảng
448 km2; lớn nhất trong số đó là hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, chạy dài 67 km, rộng (1÷10) km và có diện tích khoảng 216 km2 Các đầm phá phân bố khá đều trên khoảng chiều dài chừng 700 km đường bờ biển và chiếm khoảng 21% chiều dài đường
bờ biển nước ta
Đầm Nại nằm trong khu vực dân cư tập trung được bao quanh 05 xã: Tri Hải, Phương Hải, Tân Hải, Hộ Hải và thị trấn Khánh Hải của huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, có dạng hình đa giác, ít eo ngách, phía đông là một eo biển nối trực tiếp với biển bằng lạch Ninh Chữ dài 02 km, rộng 100-400 m, diện tích mặt nước tự nhiên khoảng 500ha; là một trong các đầm phá có cửa tương đối hẹp, trao đổi nước trực tiếp với vịnh Phan Rang, cửa đầm không bị dịch chuyển theo mùa và nằm trong vùng khí hậu khô hạn nhất nước ta Nguồn lợi thủy sản trong đầm khá đa dạng, với nhiều loại thủy sản
có giá trị kinh tế cao như: tôm, cá và các loài nhuyễn thể Hàng năm, đầm Nại cung cấp cho cộng đồng dân cư ở khu vực này một khối lượng lớn về nguồn lợi thủy sản Nghề khai thác, nuôi trồng thủy sản ở đầm Nại phát triển đã đóng góp tích cực cho việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện Ninh Hải nói riêng và tỉnh Ninh Thuận nói chung, tạo điều kiện cho người dân có công ăn việc làm, góp phần xóa đói, giảm nghèo, duy trì ổn định đời sống của nhân dân trong vùng
Vào khoảng thời gian trước năm 1980, nguồn lợi thủy sản tự nhiên trong đầm khá phong phú về chủng loại, trữ lượng lớn, hoạt động đánh bắt chủ yếu bằng các nghề lưới rê, cào ngao, đăng đáy với số lượng còn hạn chế, nguồn lợi ít bị ảnh hưởng; hoạt động nuôi trồng thủy sản và hoạt động sản xuất khác chưa phát triển mạnh nên môi trường sinh thái ít bị ô nhiễm, nguồn lợi thủy sản chưa bị áp lực lớn, thu nhập ngư dân dựa vào đầm khá ổn định
Trang 12Sau năm 1980, nhất là vào những năm gần đây, do sự gia tăng dân số, nhu cầu phát triển và mở rộng diện tích của nhiều ngành kinh tế (khai thác thủy sản, NTTS ven đầm, làm muối, trong rong Câu ) và các hoạt dân sinh quanh vùng như: nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản… phát triển nhanh nhưng lại không được đặt trong một quy hoạch tổng thể đã gây ra hậu quả sinh thái nghiêm trọng làm ô nhiễm môi trường nước, ảnh hưởng tài nguyên thiên nhiên Đứng trước thực trạng đó, từ năm
1983 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các cơ quan: Trường Đại học thủy sản Nha Trang (nay là Trường Đại học Nha Trang), Viện Kinh tế-Quy hoạch thủy sản, Viện sinh học nhiệt đới, Viện quy hoạch thủy lợi, Viện nghiên cứu thủy sản III, Sở Khoa học và Công nghệ Ninh Thuận, Sở Thủy sản Ninh Thuận (nay là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận), các đơn vị trực thuộc Sở Thủy sản Ninh Thuận (cũ) và một số cơ quan nghiên cứu khác đã thực hiện và đề xuất các giải pháp thiết thực giúp các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương các cấp tổ chức quản lý chặt chẽ, khắc phục nhiều hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý đối với những vấn đề nêu trên
Đối với hoạt động khai thác ngày càng đẩy mạnh bằng những ngư cụ mang tính chất hủy diệt nguồn lợi như: sử dụng xung điện, sử dụng ngư cụ có kích thước mắt lưới nhỏ, đánh bắt đối tượng không đúng mùa vụ theo quy định, hủy hoại môi trường sống của nhiều loài, làm suy giảm tính đa dạng sinh học…; công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản gặp nhiều khó khăn do nhận thức của ngư dân thấp, diện tích đầm lớn, lực lượng thanh tra chuyên ngành mỏng, chính quyền địa phương chưa thật sự quan tâm
và sự phối hợp giữa các ngành chức năng chưa đồng bộ; việc phân công trách nhiệm quản lý giữa cơ quan quản lý chuyên ngành cấp tỉnh và chính quyền địa phương (huyện, xã) chưa rõ ràng, cụ thể Hiện nay, tình hình khai thác thủy sản bằng các công cụ vi phạm quy định về BVNL thủy sản, nghề đánh bắt có kích thước mắt lưới nhỏ hơn quy định, khai thác đối tượng không theo đúng mùa vụ, tranh chấp giữa các nghề đánh bắt vẫn đang tiếp tục diễn ra và ngày càng có xu hướng mạnh hơn do bị áp lực từ nhu cầu cuộc sống của người dân Đây sẽ là mối đe dọa rất lớn dẫn đến tình trạng khai thác quá mức, làm suy giảm NLTS, đa dạng sinh học, kể cả vấn đề an ninh trật tự trên đầm nhưng chưa có giải pháp hữu hiệu; bên cạnh đó công tác BVNL thủy sản tuy đã có những chuyển biến tích cực trong thời gian qua nhưng vẫn còn nhiều bất
Trang 13cập, lúng túng; việc đề ra các biện pháp quản lý còn chung chung, mang tính chủ quan, chưa có cơ sở khoa học, hiệu quả đem lại chưa cao
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng, bất cập trên, đó là: Hầu hết những công trình nghiên cứu khoa học trước đây phục vụ cho việc hoạch định chính sách, tổ chức quản lý chỉ mới chú trọng đến việc phát triển nuôi trồng thủy sản, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; các chính sách, quy định về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của Trung ương và tỉnh còn chung chung, chưa cụ thể và khó áp dụng thực hiện đối với khu vực đầm Nại; việc tổ chức, phân công quản lý của các ngành, cấp ở địa phương chưa rõ ràng, còn nhiều bất cập, lúng túng…
Chính vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là phải đánh giá hiện trạng khai thác và
có những giải pháp cụ thể nhằm quản lý chặt chẽ việc khai thác, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản tại khu vực này
Để giải quyết thực trạng nêu trên, ngày 12/3/2010 Hiệu trưởng Trường Đại học Nha Trang đã có Quyết định số 263/2010/QĐ-ĐHNT giao cho Tôi thực hiện đề tài
“Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận” bắt đầu từ ngày 15/3/2010 đến ngày 15/3/2011 nhằm mục tiêu đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về khai thác
và BVNLTS ở địa phương; giúp cơ quan quản lý về thủy sản ở địa phương có cơ sở lập quy hoạch, kế hoạch, định hướng phát triển, tổ chức quản lý khai thác và BVNLTS
có hiệu quả trong thời gian tới
Ngoài phần mở đầu, nội dung chính của Luận văn được thể hiện trong 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Cuối cùng là Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 14CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU VỰC ĐẦM NẠI
1.1 1 Điều kiện tự nhiên đầm Nại:
1.1.1.1 Vị trí địa lý:
Đầm Nại thuộc địa bàn huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận nằm ở vị trí từ vĩ độ
11036’-11038’ Bắc; kinh độ 109000-109003 Đông; được bao bọc bởi địa giới hành chính các xã: Hộ Hải, Tân Hải, Phương Hải, Tri Hải và thị trấn Khánh Hải thuộc huyện Ninh Hải Phía Bắc là diện tích mặt nước và các hoạt động phát triển kinh tế của xã Tân Hải; phía Đông Bắc là của xã Phương Hải, phía Đông là của xã Tri Hải; phía Đông Nam là lạch Ninh Chữ nối với biển có cảng Ninh Chữ đang hoạt động ngày đêm; phía Nam là thị trấn Khánh Hải và phía Tây là của xã Hộ Hải Tổng diện tích tự nhiên của Đầm Nại khoảng 500 ha
Hình 1.1 Đầm Nại-huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận
Trang 151.1.1.2 Địa hình-địa mạo:
Đầm Nại có địa hình bằng phẳng, hình đa giác đơn giản, ít eo ngách Phía Đông nối với biển qua lạch Ninh Chữ dài 2 km, rộng 100-400 m Địa hình đầm Nại bằng phẳng, vùng triều rộng có độ dốc không lớn Có thể phân thành 3 vùng như sau:
- Vùng dưới hạ triều (dưới -1.0m): 420ha
- Vùng hạ triều (-1.0 đến 0m): 300ha
- Vùng trung và cao triều (trên 0m): 500ha
Đầm Nại khác với các đầm phá khác là chỉ có 01 cửa biển duy nhất và khá dài Trong khi các đầm phá khác có eo biển ngắn và dốc Hình dạng của đầm Nại giúp cho khả năng trao đổi nước và vận chuyển nước đến được mọi ngóc ngách, hạn chế hiện tượng tù đọng nước trong đầm Tuy nhiên eo biển của vùng đầm Nại dài, hẹp dẫn đến khả năng trao đổi nước cũng bị hạn chế hơn các đầm phá khác, vận tốc dòng chảy giữa đầm và vùng phía Tây của đầm giảm đi đáng kể cả khi gió lớn [10]
1.1.1.3 Đặc điểm khí hậu:
- Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 27,6oC Nhiệt độ cao nhất vào tháng 9, thấp nhất vào tháng 12 hàng năm với mức cao nhất và thấp nhất tuyệt đối là 38oC
và 14,2oC Nhiệt độ nước ngoài đầm dao động từ 22-30oC, trung bình 27-28oC
- Bức xạ và nắng: Đầm Nại - Ninh Thuận nằm ở vĩ độ thấp, quanh năm có thời gian chiếu sáng dài, mùa khô kéo dài 8-9 tháng, tổng số giờ nắng trung bình hàng năm
là 2.800-2.900 giờ Lượng bức xạ ở khu vực này tương đối lớn, trung bình hàng năm khoảng 160 Kcal/cm2, tháng ít nhất là 91 Kcal/cm2
(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Nam Trung Bộ)
1.1.1.4 Chế độ gió:
Mỗi năm có 02 mùa gió chính là gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc, thể hiện rõ tính chất gió mùa và ảnh hưởng của dải ven bờ Gió mùa Tây Nam thể hiện rõ
từ tháng 6-8, gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, các tháng
gió chuyển tiếp là tháng 4-5 và tháng 9-10 (Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Nam Trung Bộ)
Chế độ gió ảnh hưởng tới hướng và vận tốc dòng chảy của nước trong đầm Đây
là nguyên nhân gây tù đọng nước ở một số tiểu vùng và bồi tụ trầm tích trong đầm
Trang 161.1.1.5 Chế độ mưa và lượng mưa:
Nằm trong vùng khô hạn vào loại bậc nhất cả nước, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9-11 Lượng mưa cao nhất thường tập trung vào tháng 11, thấp nhất vào tháng 1 Lượng mưa trung bình hàng năm là 1085,5 mm giai đoạn 1999-2000 và giảm xuống
730,83 mm giai đoạn 2001-2003 (Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Nam Trung Bộ)
1.1.1.6 Đặc điểm thủy văn và thủy triều:
- Về đặc điểm thủy văn: Hệ thống sông suối tự nhiên vùng đầm Nại gồm có: suối Màn Màn (Lê Đình Chinh), Ngòi Quạ, Gò Thao, Mương Mê, Đồng Nha Tuy nhiên do khô hạn nên nước ngọt chỉ có ở những tháng có mưa, các tháng khác thường khô cạn Kênh Bắc thuộc hệ thống thủy lợi Nha Trinh-Lâm Cấm bao bọc gần hết diện tích quanh đầm: kênh T5, Mương Tháo, Lê Đình Chinh, mương Đồng Lớn phục vụ
cho nông nghiệp và nuôi thủy sản [26]
- Về thủy triều: Theo chế độ nhật triều không đều, hàng tháng có 18-20 ngày nhật triều, thời gian triều dâng lớn hơn thời gian triều rút Độ lớn thủy triều kỳ nước cường có thể đạt 1,2-2 m; độ lớn thủy triều kỳ nước kém có thể đạt 0,5 m Ngoài ra, do thời gian triều rút nhanh nên vận tốc dòng chảy lớn, hạn chế được hiện tượng lắng đọng trầm tích [10]
trong bão giảm hẳn [26]
1.1.1.8 Dòng chảy:
Hoàn lưu nước tại đầm Nại phụ thuộc vào trường gió thổi trên mặt đầm Mùa gió Đông Bắc mạnh hình thành nhiều xoáy cục bộ, nhất là phía Tây đầm, kích thước xoáy thuận khi triều lên có thể đạt 2/3 đầm Nại Vận tốc tại cửa đầm có thể đạt 50-65 cm/s khi triều rút và đạt 30-35 cm/s khi triều dâng Ở tâm đầm vận tốc chỉ vào khoảng 20-25 cm/s khi triều dâng và 10-15 cm/s khi triều rút [10]
Trang 171.1.1.9 Khả năng trao đổi nước giữa đầm Nại và vịnh Phan Rang:
Vận tốc dòng chảy trên lạch Ninh Chữ khi triều dâng và triều rút là khá lớn Trung bình mỗi ngày có đến 4-6 giờ nước chảy với vận tốc trên 50 cm/s, có nơi vận tốc dòng chảy có thể lên tới 110 cm/s (trong mùa lũ) [10]
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội:
Đầm Nại và vùng xung quanh đầm có tiềm năng khá lớn về đất đai, lao động, tài nguyên biển để phát triển các ngành nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản, sản xuất muối và nông nghiệp Tuy nhiên do đời sống nhân dân còn nghèo, thiếu vốn đầu
tư, trình độ văn hoá và những hiểu biết về kỹ thuật còn hạn chế nên những tiềm năng này vẫn chưa được khai thác đúng mức Bên cạnh đó, điều kiện thời tiết quá khắc nghiệt, thiên tai, hạn hán thường xuyên xảy ra là những khó khăn cản trở sự phát triển kinh tế- xã hội của vùng
1.1.2.1 Dân số, lao động, việc làm:
Tổng diện tích đất tự nhiên của 05 xã quanh Đầm Nại là 15.198,2 ha (chiếm 26,6% diện tích tự nhiên toàn huyện Ninh Hải) Tính đến tháng 10/2010 tổng số hộ vùng này là khoảng 10.995 hộ với dân số là 52.580 người, chiếm 43,81% tổng dân số toàn huyện Ninh Hải, tỷ lệ nữ chiếm 56,73% Mật độ dân số vào khoảng 356 người/km2, khá cao so với mật độ dân số toàn huyện 215 người/km2
- Về cơ cấu nghề nghiệp: Ninh Hải là một huyện đa ngành nghề: Nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), làm muối, thủy sản, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, du lịch… Tại khu vực quanh đầm Nại, do điều kiện tự nhiên khá phù hợp, đồng thời có diện tích đồng bằng lớn nên đa số dân cư quanh đầm nhiều đời qua chủ yếu sống bằng nghề làm nông, một bộ phận dân cư khác ven đầm sinh sống bằng các nghề gắn liền với khai thác tài nguyên thủy sản ven đầm: Khai thác thủy sản (đánh lưới rê, câu, bẫy cua ghẹ, lưới đáy, cào ngao, sò), nuôi trồng thủy sản (nuôi tôm, trồng rong, nuôi cá, ghẹ, ốc hương…)
KTTS 13.1%
Khác 20.4%
DV 7.2%
LN 0,3%
DN 2.2%
N N 35,3%
NTT S 21,6%
Hình 1.2 Cơ cấu nghề nghiệp chính tại đầm Nại
Trang 18Toàn vùng có 3.882 hộ làm nông nghiệp, 2.375 hộ nuôi tôm, 1.437 hộ nuôi thủy sản khác, 241 hộ làm muối, 790 hộ làm dịch vụ buôn bán, 2.239 hộ làm nghề khác Nghề khai thác thủy sản tại đầm Nại phân bố rải rác xung quanh đầm Người dân địa phương tại đây đã quen với việc ra đầm khai thác nguồn lợi thủy sản và xem đây là công việc thường nhật Sản lượng khai thác thấp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mức thu nhập và cuộc sống của cư dân quanh đầm
(Nguồn: UBND các xã, thị trấn quanh đầm Nại, năm 2010)
1.1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất:
Diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Ninh Hải là 57.118 ha, trong đó diện tích đất tự nhiên của các xã quanh đầm Nại là 15.198,2 ha; chiếm 26,6% diện tích tự nhiên toàn huyện (bảng 1)
Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất của các xã ven đầm Nại
tích
% DT NTTS
Diện tích
% DTNN
Diện tích
%
DT đầm
- Về điện: Toàn bộ 12/12 xã, thị trấn của Huyện đã có điện lưới Quốc Gia, 70%
số hộ dân có điện lưới sử dụng Như vậy, toàn bộ các xã quanh đầm Nại đều đã có điện lưới phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt
- Về giao thông: Các loại đường đi qua các xã đầm Nại có đường sắt Thống
Nhất qua xã Tân Hải; đường quốc lộ 1A qua xã Hộ Hải, Tân Hải; tỉnh lộ 704 có chiều dài 4,14km chạy trên địa bàn thị trấn Khánh Hải, chiều rộng 6-8m; Huyện lộ tuyến 2
từ Tỉnh lộ 702 (thôn Tri Thủy xã Tri Hải) đi qua thôn Bỉnh Nghĩa đến Xóm Bằng xã Phương Hải, chiều dài tuyến 12,47km, rộng 4-8m, đi qua 2 xã Tri Hải và Phương Hải;
Trang 19Huyện lộ tuyến 11 từ Quốc lộ 1A (xã Tân Hải) chạy theo hướng Đông đến thôn Phương Cựu xã Phương Hải, tổng chiều dài 3,25 km, đường rộng 2-4m Các tuyến đường Quốc lộ 1A, Tỉnh lộ 704, Huyện lộ tuyến 2 và tuyến 11 tạo thành các tuyến đường bao bọc quanh đầm Nại với tổng chiều dài khoảng 25 km Nhìn chung, mạng lưới giao thông dày đặc bao quanh khu vực đầm Nại và các xã, một số đường trong thôn xóm cũng đã được bê tông hoá, tương đối thuận lợi cho việc đi lại, tuy nhiên vẫn còn nhiều đường đất, giao thông nội đồng chủ yếu là đường đất, nhỏ
- Về thủy lợi: Hệ thống kênh Bắc nhận nước từ Nha Trinh-Lâm Cấm cung cấp
nước sản xuất cho 04 xã, thị trấn xung quanh đầm Nại (trừ xã Tri Hải)
- Về cấp, thoát nước: Nước sinh hoạt khu vực thị trấn Khánh Hải do nhà máy
nước Tháp Chàm cung cấp với công suất 12.000 m3/ngày đêm, các xã khác dùng nước sinh hoạt từ giếng đào và hệ thống cấp nước tự chảy Những năm qua hệ thống thoát nước mưa và nước sinh hoạt khu vực thị trấn và các khu dân cư lớn theo hướng tự chảy tràn bề mặt đổ trực tiếp ra ruộng, đầm Nại và ra biển
(Nguồn: Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội huyện Ninh Hải, giai đoạn 2010)
2006-1.1.2.4 Giáo dục:
Hiện các xã quanh đầm Nại có 15 trường Tiểu học, 5 trường Trung học Cơ sở,
01 trường Trung học phổ thông và 01 trường Cao đẳng Sư phạm tại thị trấn Khánh Hải Trình độ học vấn của người dân nói chung còn ở mức thấp, chủ yếu từ lớp 5-7/12
(Nguồn: UBND huyện Ninh Hải, 2010)
1.1.2.5 Y tế:
Có 01 Phòng khám đa khoa và 05 Trạm y tế xã, số giường bệnh bình quân/1.000 dân là 1,14 giường, phần lớn các Trạm y tế xã thiếu trang thiết bị khám
bệnh và thuốc men (Nguồn: UBND huyện Ninh Hải, 2010)
1.1.3 Tài nguyên biển
1.1.3.1 Tài nguyên biển Ninh Thuận
Bờ biển Ninh Thuận có chiều dài 105km, có 03 cửa biển là Đông Hải, Cà Ná và Khánh Hải Ninh Thuận là 01 trong 4 ngư trường lớn nhất về các loại hải sản của cả nước Ngoài ra Ninh Thuận có tiềm năng phát triển du lịch, công nghiệp khai thác hải sản và khoáng sản biển
Trang 20Ninh Thuận có hơn 500 loài cá, tôm; trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế như: cá Hồng, cá Mú, mực ống… Tổng trữ lượng cá khoảng 120.000 nghìn tấn Công nghiệp muối ở Ninh Thuận cũng phát triển khá mạnh, khoảng 3.000-4.000ha dành cho làm muối tập trung ở đầm Vua, Quán Thẻ và Khánh Hải, sản lượng khoảng 400-500 nghìn tấn Ngoài ra Ninh Thuận còn có các bãi tắm nổi tiếng như: Ninh Chữ, cà Ná
(Nguồn: Quy hoạch phát triển ngành thủy sản giai đoạn 2006-2010)
1.1.3.2 Tài nguyên biển khu vực đầm Nại:
Theo kết quả nghiên cứu [16) của Nguyễn Trọng Nho (1993) cho thấy: Thành phần thực vật nổi phong phú với gần 150 loài, trong đó loại tảo silic chiếm ưu thế
Thành phần loài động vật nổi mang tính chất biển, cấu trúc đơn giản, trong đó
các loài thuộc giáp xác chân chèo (Copepoda) chiếm ưu thế (Acartia, Oithona, các
dạng ấu trùng phù du)
Sinh vật đáy (benthos): Thường gặp các giống Najas, Ruppia, Thalassia Động
vật đáy trong ao rất ít, chỉ gặp một số cá thể giun nhiều tơ, ốc quắn, cá bống, một số giáp xác thấp và ấu trùng muỗi…
Tài nguyên sinh vật vùng biển Ninh Thuận nói chung và vùng đầm Nại nói riêng khá phong phú và đa dạng, thuận lợi cho việc khai thác và nuôi trồng các loài thủy sản có đặc tính tương tự như các loài trong tự nhiên
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CƯU Ở NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Nghiên cứu về hiệu quả khai thác thủy sản
FAO đã tiến hành cuộc khảo sát thông tin liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản nghề lưới vây của 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Phi
từ năm 1995-1997 Kết quả cho thấy ở một số nước như: Pê Ru, Triều Tiên, Malaixia có lãi ròng dương, ngược lại ở một số nước khác như: Trung Quốc, Ấn Độ có lãi ròng âm Lý do của hiệu quả kinh tế thấp là do sự khai thác quá mức về nguồn lợi làm cho sản lượng ngày càng giảm, ngược lại chi phí đầu tư, chi phí bảo dưỡng cao
Các công trình nghiên cứu tập trung vào việc tìm ra mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và các yếu tố kỹ thuật [31]
Ở Hawaii, nh Marcia Hamilton v Steve Huffiman [28] đã có nghiên cứu sâu về doanh thu và chi phí hoạt động khai thác của nghề cá nổi quy mô nhỏ của 4 nhóm ngư dân khác nhau (nhóm đánh cá toàn thời gian, bán thời gian, làm tiêu khiển và nhóm
Trang 21đánh cá chỉ vì mục đích bù đắp chi phí chuyến biển) Kết quả chỉ ra rằng nhóm đánh
cá toàn thời gian có doanh thu và chi phí cố định cao nhất; ngược lại nhóm đánh cá chỉ
vì mục đích bù đắp chi phí chuyến biển có doanh thu và chi phí cố định thấp nhất Chi phí biến đổi của các nhóm là khá giống nhau, chi dao động nhẹ do yếu tố di chuyển ngư trường khai thác Sự khác nhau về chi phí biến đổi là chi phí nhiên liệu, nước đá, mồi câu
1.2.2 Về giải pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở nước ngoài:
Xuất phát từ hiệu quả kinh tế lớn của ngành đánh bắt hải sản, nhiều nước trên thế giới đã không ngừng tăng cường đầu tư và phát triển năng lực khai thác cá biển về
cả tàu thuyền, ngư lưới cụ và các trang thiết bị, máy móc Cùng với sự gia tăng cường lực khai thác thì nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là vùng ven bờ ngày càng bị suy giảm, nhiều hệ sinh thái biển và đất ngập nước quan trọng như: rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn bị tàn phá, suy thoái nghiêm trọng…
Trước tình hình suy giảm nguồn lợi thủy sản, nhiều nước trên thế giới đã phát triển nghề cá quy mô lớn có khả năng khai thác xa bờ, đồng thời có chiến lược bảo vệ
và phát triển nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ Trên thế giới tồn tại đồng thời 2 xu hướng quản lý nghề cá, không phụ thuộc vào ý thức hệ, hệ thống chính trị Đại diện tiêu biểu cho một bên là các nước của phương Tây và một bên là Nhật Bản của phương Đông Các nước phương Tây tuân thủ theo cơ chế “tiếp cận mở” hoặc “tiếp cận tự do”, theo đó nguồn lợi thủy sản được hiểu là của tất cả mọi người Theo cơ chế này, Chính phủ quản lý nguồn lợi thủy sản từ trên xuống bằng cách lập ra nhiều quy định, bắt buộc ngư dân tuân thủ hệ thống “Tổng sản lượng cho phép khai thác” (TAC) Ngược lại, ngư dân bao giờ cũng muốn đánh cá càng nhiều càng tốt nên thường vi phạm các quy định của Chính phủ Do đó, Chính phủ phải luôn kiểm soát, xử lý, ngăn chặn ngư dân đánh cá bất hợp pháp nên chi phí quản lý thường rất tốn kém [Nguyễn Quang Vinh Bình (2008), Nghiên cứu mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh Thừa Thiên Huế Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Trường Đại học Nha Trang 2008] Đối với Nhật Bản, kể từ đầu thế kỷ 20, đã luật hóa thành cơ chế “tiếp cận giới hạn” hay
“tiếp cận đóng” đối với nguồn lợi thủy sản ven bờ Theo cơ chế này, Chính phủ cấp ngư trường đánh cá, nguồn lợi thủy sản cho một lượng người giới hạn, bằng cách cấp
“quyền đánh cá” cho tổ chức ngư dân và “giấy phép đánh cá giới hạn” thường chỉ cho ngư dân Cả hai được xem như là một loại "quyền sử dụng lãnh thổ trong nghề cá" Do
Trang 22đó, ngư dân nhận thức nguồn lợi thủy sản là của chính mình, không ai khác được phép đánh cá trong ngư trường (nơi tổ chức của họ được giao quyền đánh cá) Đây là động
cơ để ngư dân cùng tham gia quản lý nghề cá với Chính phủ và sáng tạo ra hệ thống để
tự quản lý nghề cá của chính mình Cơ chế tiếp cận giới hạn này được nghiêm ngặt tuân thủ từ nhiều thế kỷ ở Nhật Bản, nó cũng được tuân thủ rộng rãi tại Hàn Quốc và Đài Loan [1] Cơ chế tiếp cận giới hạn xuất phát từ Nhật Bản và chính sách quản lý nghề cá của họ được phát triển dần thành phương thức Đồng quản lý nghề cá/Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng và được nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển áp dụng một cách có hiệu quả
Một số nước điển hình về áp dụng phương thức quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng như:
Nhật Bản đã thiết lập hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng, thông qua các chính sách, pháp luật, thể chế nghề cá gồm:
- Quyết định sửa đổi Luật Nghề cá theo đường lối dân chủ sau chiến tranh thế giới lần 2;
- Ban hành Luật Nghề cá mới vào tháng 12/1949, hủy bỏ tất cả các "quyền đánh cá" cũ bằng cách mua lại với giá trị bảo đảm vào năm 1950;
- Lập "quy hoạch quản lý nghề cá ven bờ" ở mỗi một tỉnh, với việc tham khảo công chúng, ban hành "giấy phép đánh cá giới hạn" và "quyền đánh cá" của chính quyền tỉnh dựa trên quy hoạch vào năm 1950
Kết quả, Nhật bản đã cấp 100% vùng nước ven bờ cho Hội hợp tác nghề cá để
tự quản lý vùng nước, giảm nhẹ chi phí cho nhà nước đồng thời tăng hiệu quả quản lý Tổng số tổ chức quản lý nghề cá toàn Nhật Bản vào năm 1952 chỉ là 359, sau đó tăng dần theo thời gian, lên 1.339 vào năm 1988, 1.524 vào năm 1993 và 1.734 vào năm
1998 So sánh với tổng số Hội Hợp tác Nghề cá là 1.890 vào năm 1998, thì hầu như tổ chức quản lý nghề cá đã phát triển ở hầu hết mọi Hội Hợp tác Nghề cá [1]
Ở Trung Quốc đã có chủ trương cấm đóng tàu công suất nhỏ, cấm đánh bắt các loài có giá trị kinh tế kích thước nhỏ, khuyến khích đóng tàu công suất lớn, cấm đánh bắt theo mùa vụ… để giảm bớt cường độ khai thác thủy sản ven bờ nhằm mục đích nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản Tính đến năm 2004, Trung Quốc đã
có 10 năm liên tiếp cấm đánh bắt cá theo mùa vụ và là nước Châu Á có số dự án lớn nhất của Chương trình môi trường Liên hiệp quốc/Quỹ Môi trường toàn cầu
Trang 23(UNEP/GEF) về thiết lập các khu bảo tồn biển, khu bảo tồn rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng
Ở Thái Lan đã xây dựng nhiều khu bảo tồn biển kết hợp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Để thí điểm thực hiện hệ thống “quyền đánh cá”, Cục Nghề
cá ban "quyền đánh cá" trong một vùng biển xác định đến các nhóm ngư dân Những ngư dân là thành viên của nhóm có quyền đánh cá trong ngư trường xác định, nguồn lợi thủy sản là của chính họ, họ có trách nhiệm quản lý, bảo vệ, nên nguồn lợi thủy sản ngày càng được quản lý hữu hiệu Bên cạnh đó, việc thiết lập các khu bảo tồn biển, khu bảo vệ thủy sản với phương thức quản lý dựa vào cộng đồng là một trong những giải pháp mang lại hiệu quả lớn nhất trong quản lý nguồn lợi thủy sản ở Thái Lan
Để bảo vệ nguồn lợi vùng ven bờ, Thái Lan đã xây dựng những vùng cấm đánh bắt ven bờ, khai thác theo mùa vụ, khuyến khích ngư dân đóng tàu công suất lớn khai thác xa bờ, xây dựng nhiều khu bảo tồn nguồn lợi thủy sản và giao cơ quan quản lý Vườn Quốc gia, Cục lâm nghiệp Hoàng Gia, Cục thủy sản quản lý
Philipines là một trong những quốc gia thành công nhất về xây dựng cách tiếp cận quản lý tổng hợp vùng bờ và quản lý dựa vào cộng đồng Philippines đã có hơn hai thập kỷ kinh nghiệm về quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản dựa trên cơ sở cộng đồng, trong đó các khu bảo tồn biển đóng một vai trò quan trọng Năm 1999, các tài liệu ghi nhận có 439 khu bảo tồn biển các loại được thành lập tại Philippines, trong
đó phần lớn là các khu bảo tồn quy mô nhỏ Đến năm 2008, có khoảng trên 1000 khu bảo tồn biển tại Philippines, đa phần là quy mô nhỏ và được quản lý theo phương thức dựa vào cộng đồng Nhiều người cho rằng, chế độ quản lý dân chủ là tiền đề cho cách tiếp cận dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, số liệu đã chỉ ra rằng một khung pháp lý (Bộ luật về chính quyền địa phương năm 1991) với việc trao quyền nhiều hơn cho cấp địa phương (phân cấp) có thể là nguyên nhân làm tăng đột biến số lượng các khu bảo tồn biển quản lý dựa vào cộng đồng được hình thành tại Philippines Theo sự phân cấp này thì cấp tỉnh tổ chức quản lý vùng biển ven bờ thuộc địa phương mình và tiếp tục phân cấp cho cấp huyện và cấp huyện giao quyền quản lý vùng biển có ranh giới 15 km kể
từ mép bờ đảo cho chính quyền cấp xã Đồng thời, khi Bộ luật nghề cá mới ra đời (1998) quy định 15% vùng nước địa phương dành cho việc thiết lập các khu bảo tồn biển, đã tạo nên làn sóng thiết lập các khu bảo tồn biển cấp cộng đồng tại những khu vực có hệ sinh thái biển đặc thù như rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn gắn với việc kiểm soát khai thác thủy sản theo từng địa phương Theo đó thì tàu thuyền đánh cá
Trang 24thương mại (tàu lớn, có khả năng đánh bắt xa bờ hơn) và tàu thuyền ở nơi khác không được đánh bắt trong vùng biển đã được phân cấp của địa phương Trong vùng biển này chỉ có tàu thuyền của địa phương được phép đánh bắt gắn với việc tổ chức quản lý nguồn lợi thủy sản do chính cộng đồng ở đó tổ chức thực hiện
Phương thức quản lý nguồn lợi thủy sản dựa vào cộng đồng hiện nay được nhiều nước trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển sử dụng như là một công
cụ hữu hiệu thay thế cho những công cụ mang nặng tính hành chính áp đặt đã có từ nhiều năm trước Về mặt quy mô, phương thức quản lý dựa vào cộng đồng thường được áp dụng trong phạm vi nhỏ với mục tiêu chủ yếu là bảo vệ nguồn lợi thủy sản đi đôi với việc khai thác, sử dụng một cách hợp lý nguồn lợi thủy sản cho trước mắt và lâu dài, đảm bảo duy trì nhịp độ tái tạo của nguồn lợi thủy sản, sức sản xuất sinh học
và tiềm năng kinh tế lâu dài của tài nguyên biển cho cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào tài nguyên đó
Vào năm 1935, ở Florida (Mỹ), Khu bảo tồn biển đầu tiên trên thế giới được thành lập gồm 18.850 ha diện tích mặt biển và 35 ha vùng đất ven bờ Đây là một trong những khu vực bảo vệ nghiêm ngặt nhằm phục hồi nguồn lợi thủy sản và sử dụng phương pháp quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng để thực hiện quản lý nguồn lợi ven bờ hoạt động có hiệu quả
Mô hình quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng, đặc biệt ở những nước đang phát triển Đây là mô hình quản lý được thừa nhận là một phương thức hiệu quả, ít tốn kém nhằm duy trì, quản lý nguồn lợi thủy sản, bảo vệ đa dạng sinh học, đáp ứng được nhu cầu sinh kế của con người, các khu vực được quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý đã phát huy hiệu quả cho việc quản
lý nghề cá như: phục hồi và ổn định trữ lượng hải sản đã bị suy giảm, mật độ sinh vật thủy hải sản tăng gấp đôi, sinh khối tăng ba lần, kích thước của sinh vật và tính đa dạng sinh học tăng lên (20 ÷ 30)% so với vùng không được quản lý chặt chẽ
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
1.3.1 Thực trạng khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản:
Với một vùng biển đặc quyền kinh tế rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, biển Việt Nam giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Vùng biển Việt Nam được coi là một trong những trung tâm đa dạng sinh học biển của thế giới, có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú Theo Viện Nghiên cứu Hải
Trang 25sản Hải phòng, tổng trữ lượng hải sản biển Việt nam khoảng trên 5 triệu tấn, trong đó khả năng cho phép khai thác khoảng trên 2,1 triệu tấn/năm Đây là nơi cung cấp 35 - 40% nguồn đạm động vật cho các cộng đồng dân cư sống trên đảo và ven biển, tạo việc làm cho hàng triệu người lao động Thủy sản là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của cả nước với giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh hàng năm, từ chỗ chỉ đạt khoảng 90 triệu USD năm 1985 thì đến năm 2008 đã đạt trên 4,5 tỷ USD, tăng gấp 50 lần Có thể nói rằng, tiềm năng nguồn lợi hải sản phong phú là bộ phận tài nguyên quan trọng của đất nước và là chỗ dựa sinh kế đối với các cộng đồng dân cư trên các đảo và vùng ven biển Theo tính toán, đánh giá của các nhà khoa học, ở Việt Nam những năm trước đây, khoảng 80% sản lượng hải sản đánh bắt hàng năm là vùng ven
bờ biển
Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề đặt ra do nguồn lợi thủy sản - một nền tảng quan trọng đảm bảo cho
sự phát triển bền vững ngành Thủy sản đang bị suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi thủy
sản ở vùng biển ven bờ đã bị khai thác quá mức cùng với việc mất đi nhiều loài thủy sinh vật quý hiếm, có giá trị kinh tế, giá trị khoa học cao do chính những hành động bất hợp lý của con người: khai thác quá mức; khai thác bằng phương pháp mang tính hủy diệt; bằng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ hơn mức cho phép; xả nước thải, chất thải làm ô nhiễm môi trường sống của các loài thủy sản mà các giải pháp quản lý còn
tỏ ra kém hiệu quả
Trong khai thác thủy sản, sự gia tăng cường lực khai thác quá mức ở vùng ven
bờ với sự tăng nhanh số lượng tàu thuyền là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản Năm 1997, Chính phủ đã ban hành Quyết định 393/TTg ngày 09/6/1997 phê duyệt Chương trình đánh bắt hải sản xa bờ, áp dụng nhiều chính sách ưu đãi nhằm phát triển đội tàu khai thác khơi, giảm áp lực khai thác thủy sản ven bờ Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai thực hiện, hiệu quả không đạt được như mong muốn, số lượng tàu thuyền nhỏ hoạt động ven bờ vẫn tiếp tục gia tăng, Tính đến hết năm 2008, cả nước có khoảng 131.963 tàu thuyền nghề cá, trong đó hầu hết có công suất nhỏ: 68.682 tàu lắp máy dưới 20CV (chiếm 52%), 44.312 tàu từ 21CV đến 89CV và chỉ có khoảng 17.969 tàu từ 90CV trở lên (chiếm 13,7%) Sự gia tăng số lượng tàu thuyền khai thác đưa lại kết quả làm tăng sản lượng khai thác hàng năm (từ hơn 670.000 tấn năm 1990 lên hơn 2.000.000 tấn năm 2009 nhưng năng suất
Trang 26khai thác lại giảm rất mạnh từ 1,12 tấn/1CV/năm - năm 1985 xuống còn 0,35 tấn/1CV/năm - năm 2003
Thực tế trên cho thấy, hiệu quả của nghề khai thác thủy sản đã và đang suy giảm, và một trong những hệ quả của nó là buộc các chủ tàu phải tăng cường lực, tần suất, thời gian hoạt động Điều đó cũng dẫn đến các mâu thuẩn và sự canh tranh giữa những người sử dụng nguồn lợi, giữa các nghề khai thác, giữa tàu cá của địa phương này với địa phương khác, giữa các tàu lớn với tàu nhỏ Nạn nhân của những xung đột này vẫn chính là nguồn lợi thủy sản Bên cạnh đó, cơ cấu nghề nghiệp khai thác bất hợp lý, khai thác mang tính hủy diệt cùng với hàng loạt vấn đề về thể chế quản lý, khung pháp luật; khả năng tổ chức quản lý, giám sát; đầu tư phát triển; trình độ dân trí, mặt bằng nhận thức của ngư dân vùng ven biển đang là những vấn đề bất cập trong lĩnh vực quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nếu không có những giải pháp quản lý hữu hiệu, phù hợp với đặc thù của nghề cá quy mô nhỏ, nguồn lợi thủy sản ven biển sẽ tiếp tục suy giảm, cạn kiệt, thậm chí có những vùng không còn khả năng tự phục hồi
1.3.2 Chính sách quản lý nghề cá Việt Nam và các hạn chế cơ bản:
Nhận thức được vị trí quan trọng của biển và vùng ven biển trong nền kinh tế quốc dân, “Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001-2010” của Đại hội
Đảng lần thứ IX đã nhấn mạnh: Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km 2 thềm lục địa Tăng cường điều tra
cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển Đẩy mạnh nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản Đây là chủ trương đúng đắn nhằm khai thác tốt lợi
thế về biển, đảo của đất nước ta Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát triển nghề khai thác thủy sản theo hướng vươn khơi khai thác hải sản xa bờ và bảo vệ nguồn lợi thủy sản sản vùng ven bờ Trong đó, có một số văn bản quan trọng như:
Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản năm 1989 có những quy định triển khai cách tiếp cận giới hạn để quản lý nghề cá Chẳng hạn, quy định việc nhà nước giao cho tổ chức sử dụng từng vùng nước ổn định lâu dài hoặc có thời hạn để nuôi trồng, khai thác thủy sản với các hình thức phù hợp nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Sau khi Pháp lệnh được ban hành, hệ thống tổ chức bảo vệ nguồn lợi thủy sản từ Trung ương đến địa phương được hình thành và phát triển, khởi đầu là việc thành lập
Trang 27Cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản - nay là Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản – theo Quyết định số 130/CT ngày 20/4/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Luật Thủy sản (18/2003/QH11) có hiệu lực từ 01/7/2004, là văn bản pháp lý cao nhất hiện nay của ngành Thủy sản Tuy nhiên, khía cạnh Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng hay dựa vào dân để quản lý vẫn chưa rõ nét Vai trò của ngư dân và tổ chức ngư dân trong quản lý, bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản chưa được nhấn mạnh Tuy nhiên, cũng kể từ tháng 7/2004, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010, đã bước đầu phát huy và nâng cao vai trò của cộng đồng ngư dân trong hoạt động quản lý, bảo vệ nguồn lợi và môi trường sống của các loài thủy sản Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng được chú trọng thông qua việc xây dựng các
mô hình quản lý nguồn lợi thủy sản với sự tham gia của cộng đồng Tuy vậy, vấn đề phân quyền, giao quyền đánh cá cho ngư dân trong một ngư trường nhất định, nhất là trong ngư trường truyền thống của họ vẫn chưa được đề cập một cách cụ thể
Nguyên tắc cơ bản của Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng là phải có cơ chế phân cấp, phân quyền trong quản lý thủy sản Trung ương phân cấp cho địa phương và cần phải phân cấp một cách triệt để, từ cấp tỉnh, huyện, xã và đến tận tổ chức ngư dân hoạt động không mang tính vụ lợi, tức là cần tuân thủ nguyên tắc quyền ra quyết định phải được đưa xuống cấp hành chính thấp nhất có thể Ở các vùng nước nội địa: sông,
hồ, đầm phá đã được chính thức phân cấp cho UBND các tỉnh từ 01/7/2004 theo Luật Thủy sản Riêng đối với vùng biển thì đến năm 2006, tại Nghị định 123/2006/NĐ-CP, Chính phủ mới phân cấp quản lý nghề cá tại vùng ven bờ (cách bờ
24 hải lý) cho các UBND cấp tỉnh và cấp tỉnh giao cho cấp huyện, xã quản lý tuyến bờ (cách bờ 6 hải lý), phát triển các mô hình quản lý nguồn lợi thủy sản có sự tham gia của cộng đồng ở tuyến bờ Đến đầu năm 2010, Nghị định 33/2010/NĐ-CP của Chính phủ phân cấp cho UBND cấp tỉnh quản lý vùng biển ven bờ và vùng lộng, về cơ bản là giống như vùng ven bờ theo Nghị định 123/2006/NĐ-CP Đồng thời tiếp tục phân cấp
và hướng dẫn quản lý vùng ven bờ, về cơ bản giống như tuyến bờ theo Nghị định 123/2006/NĐ-CP - cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; phát triển các mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng đối với việc quản lý nguồn lợi thủy sản ở vùng ven bờ Tuy chưa kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý dựa vào cộng đồng nhưng việc phân cấp này sẽ tạo ra bước chuyển biến tích cực cho việc áp dụng phương thức Quản
lý nghề cá dựa vào cộng đồng trong thời gian tới
Trang 28Đối với hệ thống tổ chức bảo vệ nguồn lợi thủy sản, từ khi bắt đầu hình thành đến nay đã được nhà nước quan tâm đầu tư về nhân lực, phương tiện vật chất kỹ thuật
và kinh phí hoạt động Đến nay, đã có 34 Chi cục Khai thác & Bảo vệ nguồn lợi thủy sản được thành lập ở hầu hết các tỉnh ven biển và một số tỉnh nội đồng; 01 Chi cục vùng là Chi cục Khai thác & Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Vịnh Bắc bộ Ngoài ra một số địa phương nghề cá còn xây dựng các trạm, trung tâm Bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở các huyện, thị xã, thành phố và mạng lưới cộng tác viên bảo vệ nguồn lợi thủy sản đến cấp
xã, phường Đội tàu Kiểm ngư ngày càng được phát triển về số lượng, đến nay đã có
gần 100 chiếc (Nguồn: Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản) Trong những
năm qua, lực lượng này đã đạt được nhiều kết quả trong công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, quản lý tàu thuyền, kiểm soát nguồn lợi thủy sản, xử lý vi phạm, xây dựng một số mô hình quản lý nguồn lợi thủy sản dựa vào cộng đồng
Tuy nhiên, về cơ bản, chúng ta có thể thấy công tác quản lý nghề cá nói chung, quản lý Khai thác & Bảo vệ nguồn lợi thủy sản nghề nói chung còn những hạn chế cần khắc phục, đó là:
- Nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) còn rất hạn chế, không đủ để quản lý nghề cá còn mang tính chất quy mô nhỏ, manh mún, đa dạng, phân tán dàn trải trên phạm vi vùng biển rộng lớn, bất ổn định về mùa vụ và ngư trường khai thác; công tác giám sát và triển khai thực hiện ở cả trung ương và địa phương còn yếu kém (Bình quân 01 tàu Kiểm ngư kiểm soát trên 1.300 chiếc tàu cá)
- Trong khai thác hải sản, chưa kiểm soát được sự gia tăng số lượng tàu thuyền, sản lượng khai thác; chưa chủ động điều chỉnh được cơ cấu và sự phát triển ngành nghề, các phương thức và công cụ khai thác; chưa kiểm soát được ngư trường, vùng hoạt động, sản lượng đánh bắt của các loại tàu thuyền theo quy định
- Các quy định, chế tài chưa đủ mạnh; các văn bản quản lý còn chồng chéo; các tài liệu hướng dẫn thực hiện còn thiếu, tính khả thi không cao
- Công tác nghiên cứu khoa học, cả về ngư trường, nguồn lợi, cả về khoa học quản lý nghề cá còn nhỏ lẻ, chưa được đầu tư thích đáng nên chưa có những kết quả cụ thể; chưa có mô hình tối ưu cho quản lý nghề cá ở từng lĩnh vực, khu vực Chiến lược về quản lý và phát triển thủy sản bền vững chậm được xây dựng và triển khai thực hiện
- Hệ thống quản lý nghề cá hiện nay theo kiểu quản lý chỉ đạo tập trung từ trên xuống dưới Nhưng hệ thống tổ chức quản lý mới chỉ dừng lại ở trung ương và cấp
Trang 29tỉnh, còn cấp huyện đa phần là thiếu và yếu, đa phần là kiêm nhiệm; thiếu hẳn một lực lượng quản lý thủy sản cấp xã, thôn Chuỗi quản lý nghề cá hiện nay đang bị gián đoạn
ở khâu quan trọng này, kết quả là tác động quản lý từ các cơ quan quản lý thủy sản cấp tỉnh (và một phần là cấp huyện) ít đến được với ngư dân hoặc nếu đến được cũng thiếu thường xuyên, mang nặng tính hình thức, thiếu hiệu quả Thường tạo được hiệu ứng mạnh nhất chỉ là những tác động từ công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm của lực lượng thanh tra bảo vệ nguồn lợi thủy sản hoặc một số cơ quan khác Từ đó có thể thấy rằng, ngư dân chỉ đơn thuần là đối tượng điều chỉnh của công tác quản lý hiện nay và chịu sự kiểm soát của lực lượng nhà nước khi họ khai thác nguồn lợi thủy sản, họ chưa phải là “người chủ” thực sự của ngư trường, nguồn lợi thủy sản, vai trò làm chủ của họ không được phát huy Và như vậy, họ tìm mọi cách khai thác được càng nhiều càng tốt, miễn là đừng để bị phát hiện các hành vị vi phạm pháp luật, hay nói đúng hơn là đối phó, trốn tránh để không bị xử lý Họ không có trách nhiệm bảo vệ nguồn lợi thủy sản bởi theo họ, nguồn lợi thủy sản không phải là của họ mà nó là của chung; trách nhiệm quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản là của nhà nước Cộng đồng ngư dân vẫn chưa được giao trách nhiệm và quyền hạn quản lý nguồn lợi trên chính mãnh đất sản sinh ra lợi ích vật chất trước mắt cho họ và tương lai là cho con cái họ Hay nói một cách khác, việc huy động sự tham gia của cộng đồng vào quá trình Đồng quản lý hay Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng hiện nay còn chưa phổ biến, chưa phát huy được tác dụng của nó Có thể nói, chúng ta đang lãng phí một nguồn lực để có thể quản lý nghề cá một cách bền vững, hiệu quả - đó là cộng đồng những người làm nghề cá
Những phân tích trên cho ta thấy, mặc dù phương thức Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng đã được áp dụng có hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới và gần đây đã bước đầu nghiên cứu áp dụng ở Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, vài mô hình tỏ ra có hiệu quả, nhưng lý luận về Đồng quản lý/Quản lý dựa vào cộng đồng vẫn chưa hoàn thiện; phương pháp, các bước tiến hành, các tiêu chí đánh giá hiệu quả chưa được xây dựng
cụ thể; mối liên hệ hay sự phân định giữa phương thức đồng quản lý và quản lý dựa vào cộng đồng còn chưa rõ ràng Từ đó đưa đến thực tiễn áp dụng ở một số nơi, một số lĩnh vực còn có sự lúng túng nhất định, hiệu quả không rõ ràng, nhiều nơi thiếu các biện pháp, điều kiện để duy trì mô hình trên thực tế
Từ năm 1998, Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) đã khởi xướng các hành động với trọng tâm đặc biệt để khu vực hoá Bộ quy tắc ứng xử nghề
Trang 30cá có trách nhiệm cho phù hợp với bối cảnh quản lý nghề cá của các nước thành viên trong khu vực, trong đó có Việt Nam Giai đoạn từ năm (1998 - 2005) đã có bốn bộ hướng dẫn khu vực về nghề cá có trách nhiệm đã được xây dựng thông qua hàng loạt các cuộc họp tư vấn cấp quốc gia và khu vực Bốn bộ hướng dẫn này đề cập đến các hoạt động khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, quản lý thủy sản và các hoạt động sau thu hoạch và thương mại
Tiếp nối những hoạt động nhằm “khu vực hoá” Bộ Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm, năm 2001 một Hội nghị với các quốc gia thành viên của ASIAN – SAEFDEC đã được tổ chức với chủ đề phát triển bền vững nghề cá cho an toàn lương thực trong thiên niên kỹ mới: “Cá cho mọi người” Hội nghị đã xác định các vấn đề quan trọng trong bối cảnh nghề cá khu vực, xây dựng khung chính sách cho nghề cá khu vực và các hành động ưu tiên để đạt mục tiêu phát triển bền vững nghề cá Tất cả các nội dung này được cụ thể hoá trong “Nghị quyết và kế hoạch hành động về phát triển bền vững nghề cá nhằm mục tiêu an toàn lương thực ở khu vực ASEAN”
Liên quan đến khía cạnh quản lý nghề cá, Nghị quyết và kế hoạch hành động trên đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải xây dựng một cách tiếp cận quản lý sáng tạo
có sự lồng ghép và phân cấp một số chức năng quản lý phù hợp cho cấp địa phương, ứng dụng từng bước việc quản lý nghề cá dựa trên quyền đánh cá thông qua công cụ cấp giấy phép và quyền khai thác thủy sản cộng đồng và xây dựng khung thể chế chính sách phù hợp hỗ trợ quản lý, dưới hình thức đồng quản lý tập trung vào khu vực nghề cá quy mô nhỏ
Một số phương pháp được các chuyên gia trong ngành thủy sản đã và đang tiến hành vận dụng tại Việt Nam trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đó là:
- Đồng quản lý trong ngành thủy sản (CM- Co -Management) được thực hiện tại Khu bảo tồn biển Rạn Trào huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa Đây là một mô hình đầu tiên ở Việt Nam xây dựng và thành lập Khu Bảo tồn biển dựa trên cơ sở sự tham gia của cộng đồng, tham khảo ý kiến của cộng đồng dân cư địa phương về địa điểm và cách quản lý phù hợp nhất với tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương, chú trọng công tác tuyên truyền vận động nâng cao nhận thức của cộng đồng về môi trường sinh thái,
đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn lợi phát huy tốt nhất sức mạnh cộng đồng trong công
Trang 31tác bảo vệ, quản lý và phát triển sinh kế bền vững dưới sự hỗ trợ của tổ chức IMA - Việt Nam và chính quyền địa phương
- Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng (CBFM- Community Based Fisheries Management) được thực hiện tại đầm phá Thừa Thiên - Huế Đây là mô hình thí điểm quy hoạch, quản lý nghề cá dựa vào dân tại xã Quảng Thái thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế nằm trong Đề án “Quy hoạch tổng thể quản lý khai thác thủy sản đầm phá Thừa Thiên - Huế” được xây dựng trong năm 2003 của UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế Hiện nay, các mô hình trên được nhiều địa phương nghiên cứu ứng dụng vào thực
tế và đã phát huy hiệu quả tích cực trong việc quản lý khai thác và BVNL thủy sản
1.3.3 Một số hoạt động nghiên cứu liên quan đến khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại
Đầm Nại điển hình cho kiểu khí hậu nhiệt đới khô hạn ven biển Do có tiềm năng phát triển về khai thác và nuôi trồng thủy sản nên từ năm 1983 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các Trường, Viện và một số cơ quan chức năng của ngành thủy sản Ninh Thuận
Về môi trường đầm Nại, theo kết quả nghiên cứu [16] của Nguyễn Trọng Nho (1993) cho rằng: Nhiệt độ nước trong đầm Nại dao động khoảng 28÷30oC Trong năm, nhiệt độ nước vào tháng 12 là thấp nhất chỉ đạt 23÷26oC Mực nước trong đầm thay đổi theo dao động thủy triều với biên độ khoảng 0,5÷2,5 m; thấp nhất vào tháng 3 và cao nhất vào tháng 10 Về mùa mưa do nước ngọt từ lưu vực tràn về, nước trong đầm dâng cao và bị ngọt hóa nhưng chỉ xảy ra trong khoảng 1÷2 ngày Độ muối dao động trong khoảng 28÷32‰ Các giá trị thủy hóa phù hợp với các thủy vực ven biển, pH trung tính hoặc hơi kiềm, độ tiêu hao oxy trong đầm đạt khoảng 4,8 mgO2/L Hàm lượng các muối dinh dưỡng NH4+ đạt 0,06÷0,9 mg/L, P2O5 đạt 0,02÷0,92 mgP/L
Về chất đáy, nghiên cứu [8], [9] của tác giả Bùi Lai (1998) cho rằng: Đầm Nại
có 4 loại chất đáy: cát, cát bùn, bùn cát và bùn Tại lạch Ninh Chữ thông trực tiếp với đầm có thêm loại đáy cát bùn-mảnh san hô và đáy san hô theo tỷ lệ như sau: Cát: 14%; cát- bùn: 28%; bùn- cát: 33%; bùn: 25%; còn lại là bùn, cát xen mảnh vụn của san hô
và động vật thân mềm
Về chế độ dòng chảy, kết quả nghiên cứu [10] của tác giả Nguyễn Hữu Nhân và cộng tác viên (1998) chỉ ra rằng khi điều tra khảo sát đầm Nại đã có một số kết luận: Nước trong đầm Nại vận động rất yếu, tuy nhiên vùng gần cửa đầm Nại trị số vận tốc
Trang 32khá lớn, nhất là vào mùa mưa lũ Do đó sự lưu thông của nước sẽ vẫn tiếp tục được cân bằng Dự báo sự vận động của nước tại đây sẽ tăng khi thể tích đầm Nại tăng lên Nếu lạch nối với vịnh Phan Rang được duy tu và nạo vét tốt, chất lượng nước đầm Nại
sẽ được cải thiện hơn Cơ chế hoàn lưu nước cho thấy, phần phía Tây đầm Nại bị ảnh hưởng của thượng du mạnh hơn phần phía Đông
Về thủy sinh vật, kết quả nghiên cứu [16] của tác giả Nguyễn Trọng Nho và cộng tác viên về điều kiện môi trường đầm Nại (1993) kết luận: cấu trúc thành phần loài thực vật nổi đầm Nại phù hợp với cấu trúc thành phần loài thực vật nổi các vịnh, đầm phá miền Trung với thành phần tảo silic chiếm ưu thế và không có sự sai khác lớn
về cấu trúc thành phần loài so với nghiên cứu của tác giả năm 1982÷1983 Thành phần động vật nổi đầm Nại mang tính chất biển rõ rệt, cấu trúc thành phần loài đơn giản, không gặp các loài đặc hữu, trong các ao đìa còn gặp thêm một số giống có nguồn gốc nước ngọt như: Asplanchna, Brachionus, Moina, Mesocyclops, Thermocyclops Số lượng động vật nổi có sự giảm thấp hơn so với kết quả nghiên cứu 1982÷1983
Theo tác giả Nguyễn Trọng Nho nghiên cứu [16] năm 1993 đã công bố thực vật nổi tại đầm Nại có 125 loài, trong đó tảo Silic chiếm ưu thế tới 70,4% tổng số loài Mật độ thực vật nổi là 166.500 tb/L Động vật nổi xác định được 25 loài với mật độ 34,9 con/m2 Rong biển có 36 loài thuộc 3 ngành, trong đó Chlorophyta chiếm ưu thế với 18 loài Về động vật đáy đã xác định được 81 loài, trong đó động vật thân mềm có
58 loài, giáp xác có 18 loài và giun nhiều tơ có 5 loài
Theo kết quả nghiên cứu [9] của tác giả Bùi Lai (1998): Thực vật nổi ở đầm Nại khá phong phú, mật độ trung bình là 212.600 tb/L, dao động trong khoảng 113.00- 2.276.000 tb/L Các loài tảo Silic chiếm ưu thế trong thành phần thực vật nổi, chiếm khoảng 52÷79% Mật độ động vật nổi khoảng 4.233-114.886 cá thể/m3, trung bình là 32.871 cá thể/m3
Về nguồn lợi rong biển, theo tác giả Bùi Lai và Huỳnh Quang Năng [9], rong biển ở các đầm vũng tự nhiên như: đầm Nại, Sơn Hải hầu hết là các loài ưa vực nước yên tĩnh với số lượng loài không nhiều, ngoài các tảo kích thước hiển vi và cấu trúc dạng sợi của ngành rong Lam như Lyngbya, Phornidium, Calothrix, một số loài rong
có kích thước lớn như Padina, Dictyota, Hydroclathrus, Colponunia (ngành rong Nâu) Enteromorpha, Ulva, Chaetomorpha, Cladiphora, Avrainvillea (ngành rong Lục) ;
Trang 33Catenella, Gracilaria, Hypnea, Polysiphonia (ngành rong Đỏ) và các loài cỏ biển: Thalasria, Enhalus, Halophila chủ yếu phát triển trong mùa khô
Về nguồn lợi sò, theo tác giả Nguyễn Khắc Lâm và cộng tác viên [12], từ năm
1996 trở về trước sản lượng sò khai thác chỉ trong khoảng 200÷300 tấn/năm, năm
1997 đã khai thác được 400 tấn, năm 1998 là 600 tấn Đối tượng khai thác chính là
loài Anadara granosa và A nodifera Mùa vụ sinh sản của sò trong năm là từ tháng
4÷6 Tại đầm Nại, sò phân bố tập trung ở hai bãi chính là vùng tiếp giáp giữa Hộ Diêm
I và Hộ Diêm II, giữa Gò Đền và Phương Cựu, ở vùng hạ triều và dưới triều
Về rừng ngập mặn, theo Đỗ Kim Tâm (2005) [20] cho rằng trước thập niên 70÷80, diện tích rừng ngập mặn ở đầm Nại khoảng 300 ha, nay còn lại 2,9 ha mọc rãi rác ở một số nơi Qua khảo sát của giáo sư-Tiến sĩ Phan Nguyên Hồng và ông Asano Tetsumi thuộc tổ chức ACTMANG-Nhật Bản trong tháng 8/2001, rừng ngập mặn ở
đầm Nại rất đa dạng gồm các loài đước Đôi (Rhizophora apiculata), đước Vòi (R stylosa), Đưng (R mucronata), Sú Đỏ (Aegiceras corniculatum), Dà Vôi (Ceriops tagal) và vài loài Mắm
Theo tác giả Tạ Khắc Thường (2001) [21], khi môi trường sống có sự thay đổi mạnh có thể dẫn đến làm biến mất một số loài sinh vật và xuất hiện một số loài sinh vật mới, đặc biệt là nhóm sinh vật đáy Một số loài khá phổ biến trước đây nay trở nên
rất hiếm; một số loài bị suy giảm như: Bàn Mai, ốc Nhảy (Strompus isabella), Hải sâm Đen (Holothusia), Móng Tay, cá Dìa Công, ghẹ Xanh, cá Măng, tôm Rảo; rong Câu chân vịt (Gracilaria euchinoides) gần như mất hẳn
Theo kết quả nghiên cứu [25] của tác giả Lưu Xuân Vĩnh và cộng tác viên (2009) về nguồn lợi thủy sản đầm Nại cho rằng: Các nghề khai cá và giáp xác tại đầm Nại bao gồm nghề lưới rê, nghề đăng đáy, nghề câu, nghề bẫy cua, ghẹ và te, xiếc điện diễn ra hầu hết các tháng trong năm Hầu hết các đối tượng khai thác có kích thước nhỏ hơn quy định; một số đối tượng chưa được quy định về kích thước khai thác Sự suy giảm nguồn lợi trong đầm do hoạt động khai thác thủy sản quá mức, các hoạt động kinh tế dân sinh khác gia tăng, hiện tượng bồi lắng, giảm khả năng trao đổi nước, tác động do sự thay đổi hệ sinh thái tự nhiên
Bên cạnh các nghiên cứu cơ bản về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thủy sản còn
có một số công trình nghiên cứu phục vụ cho công tác quy hoạch, các dự án phát triển, các nghiên cứu về các mô hình tổ chức sản xuất, phòng chống dịch bệnh cho các đối
Trang 34tượng nuôi, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng cường hiệu lực quản lý tại Đầm Nại Nghiên cứu khảo sát vùng trồng rong sụn, ốc hương tại đầm Nại để thực hiện chương trình đa dạng hóa đối tượng, giao mặt nước cho ngư dân Nghiên cứu khoa học
để đầu tư cơ sở hạ tầng và hệ thống thủy lợi cấp thoát nước mặn, lợ, ngọt phục vụ nuôi trồng thủy sản khu vực đầm Nại Công trình này đã gắn việc khảo sát điều kiện môi trường đầm Nại và các đìa tôm quanh đầm phục vụ dự án quy hoạch phát triển nuôi tôm xuất khẩu với việc quy hoạch phát triển du lịch sinh thái Công trình nghiên cứu thử nghiệm mô hình nuôi tôm sú đạt hiệu quả cao Nghiên cứu xác định mùa vụ nuôi tôm hợp lý, phương pháp phòng trị một số bệnh để nâng cao hiệu quả nghề nuôi tôm tại đầm Nại Về đánh giá môi trường, nghiên cứu đánh giá tính bền vững của khu vực Đầm Nại, qua đó xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trường Đầm Nại và đề xuất các biện pháp xử lý, phát triển bền vững vùng đầm Nại theo cách tiếp cận liên ngành
Về tổ chức sản xuất, nghiên cứu áp dụng hình thức tổ cộng đồng nuôi trồng thủy sản,
mô hình cộng đồng trong công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại, áp dụng việc quản lý môi trường và hoạt động thủy sản theo cơ chế tổng hợp liên ngành dựa vào cộng đồng tại khu vực đầm Nại, huyện Ninh Hải; nghiên cứu kiểm soát dư lượng một
số chất độc hại và bước đầu tìm hiểu sự ảnh hưởng một số yếu tố có liên quan đến quá trình tích tụ độc tố trong tôm sú nuôi để định hướng cho việc quản lý môi trường, chất lượng sản phẩm, thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại đầm
1.4 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN
1.4.1 Nhận xét chung
Việc điều tra điều kiện tự nhiên các hệ sinh thái đặc thù ở đầm Nại đã được một
số cơ quan và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu đã cho ta một bức tranh khái quát về điều kiện tự nhiên, môi trường, nguồn lợi thủy sinh nói chung và mối quan hệ giữa chúng Từ đó có thể giúp cho các cơ quan quản lý thủy sản
ở địa phương xác định phương hướng quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên tại khu vực này Qua tổng hợp nêu trên cho thấy còn ít công trình nghiên cứu
về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là các đối tượng thủy sản có giá trị làm thực phẩm cho con người, chưa có các nghiên cứu về các phương thức khai thác thủy sản, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nghề khai thác thủy sản và đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn lợi tại đầm Nại
Trang 351.4.2 Phân tích, đánh giá những kết quả nghiên cứu về hiệu quả khai thác và bảo
vệ nguồn lợi thủy sản
Các công trình nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài đã đưa ra được phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của một số nghề khai thác thủy sản như nghề lưới Vây, lưới Kéo…Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở một số chỉ tiêu về kinh tế như: doanh thu, chi phí, lãi ròng Chưa có những nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật đến hiệu quả của các nghề khai thác thủy sản nói chung và nghề khai thác thủy sản ở đầm Nại
Đầm Nại là một vùng đất ngập nước có nguồn lợi thủy sản phong phú và đa dạng sinh học, có nhiều hệ sinh thái như rong biển, san hô, cỏ biển Tuy nhiên trong nhiều năm qua, các nhà khoa học chỉ mới dừng lại ở lĩnh vực nghiên cứu cơ bản như môi trường sinh thái như: chế độ sinh hóa nước biển, đáy biển, phù du sinh vật, các loài thủy sinh… mà chưa có những công trình nghiên cứu về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại
Về giải pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản các quốc gia chủ yếu tập trung nghên cứu thay đổi luật pháp, thể chế nhằm chuyển đổi quyền lợi và nghĩa vụ quản lý nguồn lợi từ Nhà nước sang cộng đồng Từng bước trao quyền quản lý nguồn lợi cho người dân tham gia Áp dụng phương pháp quản lý nguồn lợi thủy sản dựa vào cộng đồng hoặc là Đồng quản lý Các công trình khoa học trước đây chủ yếu tập trung nghiên cứu phục vụ cho việc nuôi trồng thủy sản ở đầm Nại như “Nghiên cứu một số bệnh ở tôm nuôi tại đầm Nại và phương pháp phòng trị” của Nguyễn Trọng Nho (1993) Hay nghiên cứu “Điều kiện môi trường đầm Nại và các đìa tôm quanh đầm phục vụ dự án quy hoạch phát triển nuôi tôm xuất khẩu” Đến nay hầu hết các công trình nghiên cứu chưa chú trọng đến việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ở đầm Nại
Từ những phân tích đánh giá trên đây, tác giả thấy rằng việc điều tra đánh giá thực trạng các nghề khai thác thủy sản tại đầm Nại và hoạt động của chúng có tác động như thế nào lên nguồn lợi thủy sản là một trong những vấn đề có tính cấp thiết Tiếp theo là cần có những biện pháp nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi ở đầm Nại nhằm giúp cho hoạt động khai thác thủy sản tại đây phát triển bền vững Kết quả nghiên cứu này vừa giúp cho các nhà quản lý địa phương có cơ sở khoa học để hoạch định chính sách phù hợp thực tế và đi đúng chiến lược kinh tế biển Mặt khác góp phần giúp
Trang 36người dân địa phương xóa đói, giảm nghèo từng bước đóng góp sức lực cho việc xây dựng nghề cá phát triển
Xuất phát từ việc nghiên cứu tổng quan, trong luận văn này, tác giả sẽ kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước trên các khía cạnh sau:
- Áp dụng phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề khai thác dựa trên các chỉ tiêu doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến 2010
- Áp dụng các giải pháp về kỹ thuật, xây dựng thể chế chính sách nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại
- Phương pháp Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng đang được nhân rộng trên thế giới cũng như ở Việt Nam và có thể đưa vào đề xuất để từng bước áp dụng vào việc quản lý nguồn lợi thủy sản ở đầm Nại
Trang 37CHƯƠNG II - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Thực trạng nghề khai thác thủy sản tại Đầm Nại
- Đặc điểm ngư trường Đầm Nại
- Nguồn lợi hải sản tại Đầm Nại
- Thực trạng về tàu thuyền nghề cá tại Đầm Nại
- Thực trạng về ngư cụ khai thác thủy sản tại Đầm Nại
- Thực trạng về lao động nghề khai thác thủy sản tại Đầm Nại
- Tình hình hoạt động theo nghề
- Thực trạng thành phần sản phẩm khai thác
- Doanh thu, lợi nhuận của nghề khai thác tại Đầm Nại
2.1.2 Thực trạng quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Đầm Nại
- Thực trạng về bộ máy quản lý
- Thực trạng cơ sở vật chất cho công tác BVNLTS
- Công tác tuyên truyền hướng dẫn công tác BVNLTS
- Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động nghề cá
Trang 38Nại Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng trên để đưa ra một số giải pháp nhằm từng bước nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Đầm Nại
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu, kế thừa và phân tích số liệu, tài liệu sẵn có về tổng quan những vấn đề nghiên cứu (khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong, ngoài nước); về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội và các nghiên cứu khoa học đã thực hiện tại đầm Nại
Theo đó, luận văn sử dụng nguồn tài liệu có sẵn lưu trữ tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Cục Thống kê, Chi cục thủy lợi, Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Ninh Thuận, Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Trung tâm khuyến nông - khuyến ngư, UBND huyện Ninh Hải, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ninh Hải và Ủy ban nhân các xã quanh đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận Một số tài liệu chủ yếu:
+ Kết quả nghiên cứu khoa học liên quan đến nuôi trồng thủy sản, môi trường sinh thái và nguồn lợi hải sản tại Đầm Nại
+ Quy hoạch phát triển ngành thủy sản giai đoạn 2006-2010, báo cáo tổng kết hàng năm của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các đơn vị trực thuộc Sở, huyện Ninh Hải và UBND các xã quanh đầm Nại về tình hình sản xuất nông nghiệp, thủy sản và các nội dung liên quan trong các năm gần đây (từ năn 2008-2010); niên giám thống kê năm 2009
+ Các quy định và văn bản pháp lý của Nhà nước có liên quan đến khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của Trung ương và tỉnh
2.2.3 Thu thập thông tin sơ cấp
- Phỏng vấn các hộ ngư dân làm nghề khai thác hải sản theo phiếu điều tra được trình bày ở phụ lục 3 Phiếu điều tra gồm các thông tin về số liệu tàu thuyền, nghề nghiệp, ngư cụ, sản lượng, đối tượng, mùa vụ, vùng hoạt động và các thông tin liên quan đến tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Đầm Nại
Theo đó, đề tài chọn 198 mẫu điều tra phỏng vấn hộ ngư dân đại diện cho các nghề khai thác nằm trong khu vực nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Cụ thể số lượng mẫu điều tra phân bổ cho các nghề như bảng 2.2
Trang 39Bảng 2.2: Phân bổ mẫu điều tra theo nghề
nghề
Số mẫu điều tra Tỷ lệ theo nghề
Việc xác định khu vực khai thác bằng cách phỏng vấn ngư dân kết hợp với bản
đồ đã được chia sẵn bằng các ô lưới; xác định thành phần loài cá và giáp xác bằng cách phỏng vấn ngư dân kết hợp với bộ sưu tập hình ảnh những loài cá thường gặp ở Việt Nam để so sánh, đối chiếu về hình thái giúp cho việc nhận biết từng loài
- Phỏng vấn cán bộ quản lý thủy sản thuộc UBND 05 xã, thị trấn quanh đầm Nại, Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Ninh Thuận về số lượng thuyền nghề đánh bắt, tổ chức bộ máy quản lý, triển khai các cơ chế chính sách, quy định pháp luật về thủy sản có liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất
- Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh/đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA/RRA -Participatory/Rapid Rural Appraisal) để thu thập thêm hoặc bổ sung thông tin, số liệu về khu vực, mùa vụ, năng suất, hiệu quả khai thác, tranh chấp ngư trường…
Theo đó, Đề tài chọn 05 địa bàn thuộc các xã Hộ Hải, Tân Hải, Phương Hải, Tri Hải và Khánh Hải để thực hiện Mỗi địa bàn chọn 30-40 người dân tham dự, đại diện cho những người làm nghề khai thác tại đầm Nại
Sử dụng bản đồ khu vực đầm Nại để ngư dân quan sát, người phỏng vấn gợi ý các câu hỏi để họ trả lời các thông tin liên quan về vị trí, khu vực đánh bắt… và tiến hành đánh dấu trên bản đồ và ghi chép số liệu
Trang 40- Điều tra, khảo sát thực tế thông qua việc đánh bắt, thu mẫu phân tích để thu thập thông tin, số liệu về số lượng, thành phần loài, năng suất khai thác, tỷ lệ loài…
Theo đó, Đề tài sử dụng bản đồ khu vực đầm Nại do Trung tâm kỹ thuật đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường cung cấp Chia bản đồ đầm Nại thành 168
ô vuông, kích thước mỗi ô 200m x 200m (diện tích 40.000m2) Xác lập vùng phân bố nguồn lợi thủy sản dựa theo thông tin do cộng đồng ngư dân cung cấp theo 3 cấp độ khác nhau: vùng nhiều nguồn lợi, vùng có nguồn lợi trung bình, vùng ít nguồn lợi Mỗi vùng lựa chọn ngẫu nhiên 01 ô để khảo sát và sử dụng máy định vị cầm tay (hiệu Garmin) để xác định vị trí khai thác
Thực nghiệm đánh bắt mẫu cá và giáp xác trên các ô đã lựa chọn bằng lưới rê là chính, đánh bắt phụ bằng các nghề: lồng bẫy, cây tay… để xác định thành phần giống loài, số lượng, sản lượng khai thác Chọn ngẫu nhiên mỗi nghề 01 mẫu để khảo sát
Tần suất đánh bắt và thu mẫu 01 lần/tháng để xác định mùa vụ xuất hiện các đối tượng nghiên cứu trong năm
2.2.4 Phân tích, xử lý số liệu thống kê
- Sử dụng phương pháp xử lý số liệu trong khai thác thủy sản và phần mềm Microsoft Office Excel để tính toán các chỉ số về cường lực khai thác, biến động năng suất, sản lượng và hiệu quả khai thác của các nghề
- Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp nhằm đưa ra các giải pháp quản lý khai thác gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản hiệu quả
2.3 PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Phạm vi nghiên cứu: Đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận
- Thời gian nghiên cứu: 12 tháng (15/3/2010-15/3/2011)