1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ

132 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 3,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thạc sỹ kỹ thuật “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh Thái Bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ” đã được hoàn thành tại khoa Kỹ thuật Tài nguyên

Trang 1

Kính gửi: Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước – Trường Đại học Thủy Lợi

Tên tác giả: Phạm Thị Nhung

Học viên cao học: CH17Q

Người hướng dẫn: PGS TS Phạm Việt Hòa

Tên đề tài Luận văn: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh Thái Bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ”

Tác giả xin cam đoan: Đề tài luận văn được làm dựa trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp tài liệu, hệ thống các kết quả từ thực tế trong nước để đưa ra một số đề xuất về giải pháp, tác giả không sao chép bất kỳ một luận văn thạc sỹ nào trước đó

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Phạm Thị Nhung

Trang 2

Luận văn thạc sỹ kỹ thuật “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản

lý và bảo vệ đê điều tỉnh Thái Bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ” đã được

hoàn thành tại khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước trường Đại học Thủy lợi tháng 09 năm 2012 Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và gia đình

Trước hết tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS.TS Phạm Việt Hòa là người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Tác giả cũng chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè đã nhiệt tình giúp

đỡ, hỗ trợ về mặt chuyên môn cũng như trong việc thu thập tài liệu liên quan để Luận văn được hoàn thành

Xin gửi lời cảm ơn đến phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học, khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước trường Đại học Thủy lợi và toàn thể các thầy cô đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian học tập cũng như thực hiện Luận văn

Trong khuôn khổ một luận văn, do thời gian và điều kiện hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 9 năm 2012

Học viên

Phạm Thị Nhung

Trang 3

TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH SỰ CỐ ĐÊ ĐIỀU

2.2 Tác hại của các sự cố đê điều trong lũ27T 68

2.2.1.Tác hại của sự đùn, sủi; thẩm lậu 68

Trang 5

PH ẦN MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cùng với sự biến đổi khí hậu đang diễn ra trên toàn cầu thì những rủi ro thiên tai như bão lũ, hạn hán cũng đã và đang diễn ra theo chiều hướng ngày càng bất lợi

và ảnh hưởng khắc nghiệt hơn đến Việt Nam Trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội, các hoạt động của con người, sự bùng nổ dân số, đô thị hóa, đã làm suy thái tài nguyên môi trường và đã làm gia tăng mức độ, hậu quả do thiên tai gây ra, rủi ro thiên tai do bão đã và đang gia tăng do các tác động của biến đổi khí hậu Theo dự báo của các chuyên gia, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam vào năm 2010 sẽ tăng 0,5-0,7% so với năm 1990, mực nước biển tăng từ 10-15% Số lượng bão hằng năm tăng từ một đến hai trận và cường độ bão sẽ lớn dần từ Bắc vào Nam Trung bình mỗi năm Việt Nam phải hứng chịu 6-7 trận bão gây thiệt hại nghiêm trọng, hủy hoại

cơ sở hạ tầng, kinh tế, giao thống vận tải, đê điều với quy mô rất lớn, đặc biệt là khu vực đồng bằng ven biển

Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới, trung tâm vùng Đông Nam Á, tựa lưng vào lục địa châu Á rộng lớn, tiếp giáp với Thái Bình Dương, bởi hàng năm có tới hàng trăm cơn mưa, bão xảy ra gây ra lũ lớn, cũng là nơi mà nhiều dòng sông

đổ ra biển cả Thực tế nước ta có trên 3.700km biên giới đất liền và khoảng 3200km

bờ biển, nhiều đảo và quần đảo Riêng phần lục địa mang tính chất bán đảo rõ rệt, một bán đảo đối mặt thường xuyên với bão tố Thái Bình Dương Vì vậy lượng mưa trung bình năm biến đổi theo vùng từ 1500mm đến 2000mm, cũng có nơi trên 3000mm như vùng Trung Trung Bộ Theo diện tích thì lãnh thổ nước ta hứng trọn

600 tỷ mP

3

Pnước mưa hàng năm, chưa kể hàng trăm tỷ mét khối từ ngoài lãnh thổ do

hai con sông lớn Mê Kông và Hồng Hà đưa vào

Để góp phần chống lại sự đe dọa và ảnh hưởng nặng nề của bão lũ, từ ngàn năm nay dân tộc ta với biện pháp cơ sở nhất nhưng cũng có giá trị khoa học lâu dài nhất là đắp đê ngăn lũ Cho đến nay dân tộc Việt Nam đã xây dựng, bồi đắp và tôn tạo nên một hệ thống đê vững chắc qua nhiều thời đại, góp phần bảo vệ sự an toàn

Trang 6

cho nhân dân, giảm thiểu thiệt hại của nền kinh tế Công trình đê đã trở thành một

hệ thống công trình liên hoàn vĩ đại gồm 7.700km đê trong dó 5.700km là đê sông

và 2.000km là đê biển

Ngày nay hệ thống đê điều được coi là một phần hạ tầng cơ sở, bởi nó đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn lũ và bảo vệ sự an toàn cho tính mạng, tài sản của nhân dân và nhà nước Đê điều thể hiện sự đóng góp công sức, tiền của và sự cố gắng của toàn dân trong suốt nhiều thế kỷ qua Nhà nước ta ngoài việc tôn cao và củng cố hệ thống đê đến mức tối đa kết hợp với các biện pháp thoát lũ, phân lũ, chậm lũ…đã trồng rừng và xây dựng nhiều hồ điều tiết ở thượng nguồn sông, để cắt được lũ đúng lúc, làm giảm thấp mực nước trên các triền sông hạ du, hỗ trợ cho hệ thống đê có thể làm việc tốt Tuy nhiên công trình đê điều được tu bổ tôn tạo qua nhiều thời kỳ nên trong nó còn có những ẩn họa có thể xảy ra sự cố khôn lường trong mùa lũ, ảnh hưởng của lũ lụt hàng năm và hoạt động của con người cùng với

sự quản lý, bảo vệ đê điều chưa tốt …đã tác động tiêu cực đến khả năng chống lũ của đê điều

Hệ thống các văn bản quy phạm Pháp luật đã được ban hành, đã và đang đi vào thực tiễn cuộc sống Luật đê điều số 79/2006/QH11 của Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006; Nghị định Số: 113/2007/NĐ-CP,

ngày 28 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chi tiết và hướng

dẫn thi hành một số điều của Luật Đê điều; có nhiều thay đổi so với trước đây; về cách tiếp cận và phạm vi điều chỉnh, quy định về quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê, quy hoạch đê điều, đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp và kiên cố hóa đê điều, quản lý, bảo vệ đê, hộ đê và sử dụng đê điều

Đẩy mạnh việc thực thi Pháp luật khi nhà nước đã tạo điều kiện về quyền cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động

về đê điều, các hoạt động có liên quan đến đê điều thì phải đảm bảo về nghĩa vụ trách nhiệm cho quyền của mình trong lĩnh vực này Ngày 02/08/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 129/2007/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về đê điều

Trang 7

Thái Bình là tỉnh ven biển, thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Phía Bắc giáp với tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng; phía Tây và Tây Nam giáp với tỉnh Nam Định và Hà Nam; phía Đông giáp với vịnh Bắc Bộ Diện tích tự nhiên 153.390 ha, với số dân năm 2010 là trên 1.8 triệu người, được bao bọc

bởi hệ thống đê sông, đê biển khép kín với tổng chiều dài 584,6km đê, trong đó có 362,8km từ cấp III trở lên, còn lại 221,8km đê bối, đê bao, đê vùng; địa hình bị chia

cắt làm hai bởi sông Trà Lý Các tuyến đê trong tỉnh có 101 kè hộ bờ với trên 100km kè lát mái và 60 kè mỏ, dưới đê có 219 cống lớn nhỏ làm nhiệm vụ tưới tiêu nước, phục vụ sản xuất nông nghiệp Thái Bình có bờ biển dài 52 km, có 4 con sông khá lớn chảy qua: phía bắc và đông bắc có 27Tsông Hóa27Tdài 35 km, phía Bắc và Tây Bắc có 27Tsông Luộc27T(phân lưu của sông Hồng) dài 53 km, phía Tây và Nam là đoạn

hạ lưu của 27Tsông Hồng27Tdài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km Các sông này tạo ra 4 cửa sông lớn: Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân

Cao trình mặt đất tự nhiên của Thái Bình rất thấp, về mùa lũ mực nước sông thường cao hơn mặt đất tự nhiên từ 3-5m Nếu vỡ đê bất cữ chỗ nào thì một nửa

tỉnh Thái Bình bị ngập sâu từ 2-4m nước trở lên, hoặc vỡ đê biển bất cứ chỗ nào thì hàng ngàn ha đất canh tác bị nhiễm mặn phải cải tạo, thau rửa nhiều năm mới hồi

phục được Với các đặc điểm ấy mà vấn đề an toàn các công trình đê điều phòng chống lụt bão có một vai trò quan trọng đối với tỉnh Thái Bình

Hệ thống đê điều của tỉnh Thái Bình được coi là một phần cơ sở hạ tầng bởi

nó đóng vai trò quan trọng sống còn trong việc ngăn lũ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, cho phép các ngành kinh tế hoạt động mà không bị đe dọa thường xuyên của lũ lụt, bảo vệ sản xuất, tính mạng và tài sản của nhân dân Thái Bình nói riêng và tài sản của nhà nước nói chung Việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả quản lý và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ đê điều chống lũ là một nội dung quan trọng, cấp thiết cần được xem xét và giải quyết như một nhiệm vụ tiên quyết, quan trọng hàng đầu

Trang 8

Trên đây là lý do chính và là sự cần thiết nghiên cứu của đề tài:

“Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh Thái Bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ”

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh Thái Bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ

III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nội dung nghiên cứu chính của luận văn là:

1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế và xã hội khu vực tỉnh Thái Bình (bao gồm điều kiện địa hình, đất đai, khí tượng, thủy văn và dân sinh, kinh tế….)

2 Đánh giá thực trạng hệ thống đê điều và công tác quản lý bảo vệ đê điều tỉnh Thái Bình

3 Phân tích, đánh giá nguyên nhân các sự cố đê điều xảy ra trong lũ và các biện pháp kỹ thuật xử lý

4 Nghiên cứu, tính toán và đề xuất các giải pháp quản lý để nâng cao khả năng chống lũ cho hệ thống đê điều tỉnh Thái Bình

IV CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Từ các tài liệu thu thập được và công tác khảo sát thực địa, nghiên cứu đánh giá

sơ bộ hiện trạng công trình từ đó đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp Trong luận văn này sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

1 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa và thu thập tài liệu nhằm nghiên cứu, đánh giá thực trạng công trình và thực trạng công tác quản lý, bảo vệ đê điều

2 Phương pháp phân tích hệ thống nhằm phân tích, đánh giá nguyên nhân các

sự cố đê điều xảy ra trong lũ và biện pháp kỹ thuật xử lý

3 Phương pháp phân tích thống kê nhằm nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và khả năng chống lũ cho đê điều

Trang 9

4 Phương pháp chuyên gia (tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong việc phân tích tính toán lựa chọn phương án kết cấu bảo vệ)

V BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn được bố cục với 3 phần chính như sau:

- Phần I: Mở đầu

- Phần II: Nội dung gồm 3 chương :

+ Chương 1: Tổng quan về hệ thống đê điều và công tác quản lý, bảo vệ đê điều tỉnh Thái Bình

+ Chương 2: Phân tích, đánh giá nguyên nhân phát sinh sự cố đê điều trong

lũ và biện pháp kỹ thuật xử lý

+ Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh Thái Bình

- Phần III: Kết luận và kiến nghị

Các tài liệu tham khảo đã sử dụng của luận văn

Trang 10

CHƯƠNG 1

T ỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO

V Ệ ĐÊ ĐIỀU TỈNH THÁI BÌNH

1.1 Đặc điểm hệ thống đê điều và điều kiện dân sinh kinh tế tỉnh Thái Bình

1.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Bình

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Hình 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình

Tỉnh Thái Bình nằm ở hạ du châu thổ sông Hồng, phía bắc giáp Thành phố Hải Phòng, phía Nam giáp tỉnh Nam Định, phía tây giáp tỉnh Hải Dương và phía Đông giáp biển Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh là 1.546,54 km2; dân số khoảng 1.827.000 người; mật độ dân số 1.183 người /km2; giới hạn xung quanh tỉnh là sông và biển, địa hình bị chia cắt làm hai bởi sông trà Lý

Trang 11

Toàn tỉnh gồm có 8 huyện, thành phố, thị xã là: Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, thị xã Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư và thành phố Thái Bình với tổng số 284 xã, phường, thị trấn

1.1.1 2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Thái Bình được bao bọc bởi hệ thống sông, biển khép kín Bờ biển dài trên

50 km và 4 sông lớn chảy qua địa phận của tỉnh: Phía Bắc và Đông Bắc có sông Hóa dài 35,3 km, phía Bắc và Tây Bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài

53 km, phía Tây và Nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ Tây sang Đông 65 km Đồng thời có 5 cửa sông lớn (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân)

Cao trình mặt đất tự nhiên của toàn tỉnh Thái Bình rất thấp, địa hình tương đối bằng phẳng, với độ dốc nhỏ hơn 1%, cao trình biến thiên phổ biến từ 1m đến 2m so với mặt nước biển và thấp dần từ Bắc xuống Nam Do cao trình mặt đất tự nhiên thấp nên về mùa lũ mực nước sông thường cao hơn mặt đất tự nhiên từ 3,0m đến 5,0m Nếu vỡ đê sông bất cứ chỗ nào thì ít nhất có 1/2 tỉnh bị ngập sâu từ 2,0m nước trở lên, hoặc nếu vỡ đê biển bất cứ chỗ nào thì hàng ngàn ha đất canh tác bị nhiễm mặn phải nhiều năm mới phục hồi được Với các đặc điểm ấy mà vấn đề an toàn các công trình đê điều phòng chống lụt bão có một vai trò quan trọng đối với tỉnh Thái Bình

1.1.1 3 Đặc điểm địa chất

Thái Bình là tỉnh đồng bằng, không có núi đồi, độ cao địa hình từ 0,8 đến 2,5m so với mực nước biển và thấp dần về hướng đông nam Bề mặt địa hình được cấu thành bởi các loại đất đá là trầm tích trẻ được thành tạo từ khoảng 6 nghìn năm trước đây và tiếp tục được bồi đắp cho đến ngày nay

Địa chất khu vực Thái Bình có 5 lớp địa tầng được phân bố cụ thể như sau: + Lớp 1: Đất bồi, đất trồng là sét pha, cát pha lẫn nhiều tạp chất

+ Lớp 2: Sét pha màu xám nâu, xám hồng, trạng thái dẻo mềm

+ Lớp 3: Cát hạt mịn, hạt nhỏ màu xám đen, xám nâu kết cấu chặt vừa – xốp

Trang 12

+ Lớp 4: Sét pha màu xám nâu, xám hồng, xám ghi, trạng thái dẻo chảy + Lớp 5: Sét pha màu xám nâu, xám ghi, trạng thái dẻo mềm

1.1.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn

1.1.2 1 Khí tượng

Đặc điểm khí hậu tỉnh Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, bức xạ mặt trời lớn, tạo nên nhiệt độ cao Những đặc trưng chính trong chế độ khí hậu – thời tiết như sau:

- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau là 278mm (chiếm 17% cả năm)

Trang 13

- Lượng bốc hơi trung bình hàng năm khoảng 752mm, lượng bốc hơi càng cao thì nước càng nhiều Tháng 4, 5 có lượng bốc hơi lớn, tháng 1, 2 lượng bốc hơi ít nhất, trung bình E = 15,8 mP

và mực nước ở các cửa sông Trà Lý và sông Hồng đều dâng lên, ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu nước và an toàn của hệ thống đê điều

1.1.2 2 Thủy văn

a Đặc điểm mạng lưới sông ngòi

Thái Bình được bao bọc bởi hệ thống sông, biển khép kín Bờ biển dài trên

50 km và 4 sông lớn chảy qua địa phận của tỉnh: Phía Bắc và Đông Bắc có sông Hóa dài 35,3 km, phía Bắc và Tây Bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài

53 km, phía Tây và Nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ Tây sang Đông Đồng thời có

5 cửa sông lớn (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân) Các sông này đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh, lưu lượng lớn, hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều, lượng phù sa không đáng kể Nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền (15-20 km)

b Chế độ dòng chảy

Chế độ dòng chảy trên phân thành hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa kiệt Mùa

lũ thường bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 10 và mùa kiệt là các tháng còn lại Số liệu thống kê mực nước trung bình các tháng mùa kiệt tại trạm Thái Bình cho thấy rõ điều đó

Trang 14

Bảng 1.1: Mực nước trung bình các tháng mùa kiệt

Các đặc trưng mực nước cơ bản tại trạm Thái Bình cụ thể như sau:

- Mực nước trung bình mùa kiệt lớn nhất: năm 2008 là 59cm

- Mực nước trung bình mùa kiệt nhỏ nhất: năm 1998 là 19cm

- Mực nước trung bình mùa kiệt nhiều năm: 42,49cm

* Dòng chảy mùa lũ:

Nguyên nhân sinh ra lúc là do mưa, đặc biệt là mưa do bão hoặc ảnh hưởng của bão, mưa do hội tụ nhiệt đới và mưa dông, cường độ mưa xảy ra khá lớn Lượng mưa trung bình mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10): 1439mm (chiếm 83% cả năm) Do cường độ mưa lớn kết hợp triều cường nên mực nước sông ở cửa Trà Lý

và sông Hồng đều dâng cao gây ra lũ

Trang 15

- Sự thay đổi mực nước mùa lũ trên sông thể hiện rõ đặc điểm của lũ ở vùng đồng bằng là cường suất lũ nhỏ, đỉnh bẹt, các con lũ xảy ra liên tiếp, thời gian lũ kéo dài

- Mực nước lớn nhất trong năm thường xuất hiện vào các tháng VII, VIII

Bảng 1.2 : Mực nước lũ cao nhất và bão Thái Bình từ năm 1980-2010

Gió mạnh cấp 8

- 10

Gió mạnh cấp 10-12

* Dòng chảy mùa kiệt:

Các sông chịu ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều về mùa kiệt Thuỷ triều truyền qua các cửa sông ngược lên thượng lưu, biên độ triều có xu thế giảm dần về phía thượng lưu

Mực nước bình quân ngày thể hiện sự dao động theo nguyệt triều Mực nước bình quân các trạm ít biến đổi và giảm dần về phía hạ lưu

1.1.2 3 Chế độ thủy triều

Thủy triều vùng biển Thái Bình có chế độ nhật triều (trong một ngày chỉ có 1 lần triều lên và 1 lần triều xuống), một tháng có 2 chu kỳ triều, mỗi chu kỳ có 14

Trang 16

con nước Trong 14 con nước có từ 2-4 con nước có độ chênh lệch giữa đỉnh triều

và chân triều không lớn, giai đoạn này được gọi là triều kém Từ con nước thứ 7 đến con nước thứ 11 chênh lệch giữa đỉnh và chân triều rất lớn gọi là thời kỳ triều cường, từ vùng cửa sông biên độ triều giảm dần về phía thượng lưu

Độ lớn triều tang dần trong vòng 4-5 ngày và bước vào kỳ nước cường tiếp theo, các kỳ con nước lặp lại một cách tuần hoàn nhưng khác nhau về cường độ Kỳ triều cường xảy ra vào tuần trăng rằm đầu tháng âm lịch, tuần triều kém có độ lớn triều cực tiểu vào thời kỳ trăng non và trăng già (cuối tháng âm lịch)

Các cửa sông lớn như: Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân sát biển, hàng năm chịu ảnh hưởng rất lớn từ thủy triều của biển, có mùa nước nhiều mang theo phù sa

từ thượng nguồn về bồi tụ cho đồng bằng Thái Bình, cải tạo đất màu mỡ Tuy nhiên các vùng ven biển như 2 huyện Thái Thụy, Tiền Hải, chịu tác động của thủy triều, mùa lũ cũng như những lúc triều cường nên đất thường xuyên bị xâm nhập mặn, đào sâu 1-3 m sẽ gặp nước lợ

1.1.3 Điều kiện dân sinh kinh tế

1.1.3.1 Tình hình dân sinh – xã hội

a Dân số - Lao động:

Dân số Thái Bình ước khoảng: 1 triệu 827 ngàn người Trong đó dân số nông thôn chiếm 94,2%, dân số thành thị chiếm 5,8%; mật độ dân số 1.183 người/km2; bình quân nhân khẩu là 3,75 người/hộ; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên hiện nay là 1,02%

Dân số phân bố không đồng đều trên toàn địa bàn, mật độ dân số cao nhất phân bổ ở thị xã, sau đó tới các huyện Dân cư trong huyện thuộc dân tộc Kinh, đa

số không theo tôn giáo, một số bộ phận nhỏ theo đạo Thiên chúa giáo

b Diện tích đất đai:

Đất đai Thái Bình phì nhiêu màu mỡ, nổi tiếng 'bờ xôi ruộng mật' do được bồi tụ bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Hệ thống công trình thủy lợi tưới

Trang 17

tiêu thuận lợi, góp phần làm nên cánh đồng 14 - 15 tấn/ha và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp để xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha trở lên

Tổng diện tích tự nhiên 153.596 ha Trong đó: Diện tích cây hàng năm: 94.187 ha; Ao hồ đã đưa vào sử dụng: 6.018 ha Hầu hết đất đai đã được cải tạo hàng năm có thể cấy trồng được 3-4 vụ, diện tích có khả năng làm vụ đông khoảng 40.000 ha

Ngoài diện tích cấy lúa, đất đai Thái Bình rất thích hợp cho các loại cây: Cây thực phẩm (khoai tây, dưa chuột, sa lát, hành, tỏi, lạc, đậu tương, ớt xuất khẩu), cây công nghiệp ngắn ngày (cây đay, cây dâu, cây cói), cây ăn quả nhiệt đới (cam, táo,

ổi bo, vải thiều, nhãn, chuối), trồng hoa, cây cảnh v.v

Tiềm năng và nguồn lợi thủy sản là một trong những thế mạnh của tỉnh Thái Bình Thái Bình có 3 thủy vực khác nhau: nước ngọt, nước lợ, nước mặn

- Nước mặn chiếm khoảng 17km2 chủ yếu dành cho hoạt động khai thác khoáng sản Tổng trữ lượng hải sản vùng ven biển Thái Bình khoảng 26.000 tấn Trong đó trữ lượng cá 24.000 - 25.000 tấn, tôm 600 - 1.000 tấn, mực 700 - 800 tấn Khả năng khai thác tối đa cho phép 12.000 -13.000 tấn Các loài khai thác chính là

cá Trích, cá Đé, cá Khoai, cá Đối, cá Vược các loài tôm: tôm Vàng, tôm Bộp, tôm He Hiện tại mới duy trì các hoạt động đánh bắt nhỏ, khai thác tự nhiên, phần lớn là nguồn cung cấp nguyên liệu để chế biến các mặt hàng truyền thống như nước mắm, mắm tôm và chế biến thức ăn thủy sản

- Vùng nước lợ: Chủ yếu ở các khu vực cửa sông Hồng, sông Thái Bình và sông Trà Lý có các nguồn phù du sinh vật, các loại tảo thực vật, thủy sinh phong phú làm thức ăn tự nhiên cho nuôi trồng thủy sản Vùng này có khoảng 20.705 ha (Tiền Hải 9.949 ha, Thái Thụy 10.756 ha), trong đó diện tích có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ là 5.453 ha Hiện đã đưa vào khai thác 3.629 ha để nuôi trồng thủy sản: tôm, cua, sò, hến, trồng rau câu

Bên cạnh đó Thái Bình còn có các cồn cát ven biển như: Cồn Vành, Cồn Thủ, Cồn Đen và vùng đất ngập mặn rất thích hợp trồng tập trung cây sú vẹt, bần

Trang 18

Hiện tại có gần 5.000 ha rừng vừa giữ đất, chắn sóng, vừa tạo môi trường sinh thái

và cảnh quan thiên nhiên du lịch ven biển

- Vùng nước ngọt: Tổng diện tích có khả năng nuôi thủy sản là 9.256 ha, hiện mới đưa vào nuôi khoảng 6.020 ha Ngoài ra còn có trên 3.000 ha vùng lúa ruộng trũng cấy 1 vụ năng suất thấp có thể chuyển sang nuôi thủy sản

- Thái Bình có triền cỏ ven đê, ven sông và hệ thống kênh mương ao hồ rộng khắp là điều kiện để phát triển chăn nuôi trâu, bò, bò sữa, lợn, gà, vịt, cá

- Nguồn nước ngọt cho nhu cầu dân sinh và công nghiệp tương đối dồi dào, chủ yếu là nguồn nước mặt của các sông lớn

c Về xã hội:

Toàn tỉnh gồm có 8 huyện, thành phố, thị xã là: Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Kiến Xương, Vũ Thư, thị xã Tiền Hải, và thành phố Thái Bình với tổng số 284 xã, phường, thị trấn

- Tình hình hiện nay của tỉnh: An ninh chính trị được giữ vững ổn định, trật

tự ATXH được đảm bảo, rất thuận lợi cho các nhà đầu tư và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài vào đầu tư cho các dự án phát triển KT-XH của địa phương

d Về y tế:

Mỗi huyện có 1 trung tâm y tế, các xã trong huyện đều có trạm y tế cơ sở Khó khăn lớn nhất của y tế xã là: Nhiều trạm y tế xuống cấp, thiếu phòng và thiếu trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân, thiếu kinh phí đào tạo y

bác sĩ cho y tế xã

e Về giáo dục:

Công tác giáo dục, đào tạo cho đến nay hệ thống trường lớp cơ bản đã được quy hoạch và hoạt động có nề nếp, 100% số xã trong tỉnh có trường phổ thông cơ sở Mỗi huyện có từ 1 đến 3 trường phổ thông trung học Về giáo dục trung học chuyên nghiệp có 3 trường trung học chuyên nghiệp đào tạo các lĩnh vực: Trung học y tế, trung học mẫu giáo, trung cấp tài chính Giáo dục đại học, cao đẳng đã có 3 trường đóng tại thành phố Thái Bình là: Đại học Y khoa, Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng

Trang 19

nghệ thuật Các trường đều có các cơ sở hạ tầng đã được đầu tư nâng cấp tương đối khang trang

Hàng năm Thái Bình có khoảng 19.000 học sinh tốt nghiệp THPT, là lao động trẻ, có trình độ văn hoá, chưa có điều kiện học tiếp lên đại học Lực lượng này có thể học tiếp ở các trường trung cấp, công nhân kỹ thuật trong tỉnh hoặc được đào tạo tại chỗ ở các đơn vị sản xuất kinh doanh trong tỉnh sẽ là nguồn nhân lực cho phát triển Kinh tế - Xã hội, trong đó có các khu công nghiệp

1.1.3 2 Tình hình kinh tế

a Nông nghiệp

Thái Bình là tỉnh trọng điểm về nông nghiệp sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế thu hút tới 90% dân số toàn tỉnh Trong sản xuất nông nghiệp trồng trọt là ngành sản xuất chính với tập quán trồng lúa nước từ lâu đời Quá trình sản xuất từ chỗ chỉ trồng cấy 2 vụ lúa là chủ yếu đến nay đã gieo cấy được 3 vụ, trong đó 2 vụ lúa và 1 vụ đông mà sản xuất nông nghiệp là ngành phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, thiên tai, lũ lụt

b Công nghiệp:

Những năm gần đây chuyển sang cơ chế nền kinh tế thị trường, thì công nghiệp Thái Bình mới chỉ là bước đầu trên con đường phát triển Tuy nhiên tỉnh đã bước đầu khai thác những nguồn tài nguyên sẵn có của địa phương để phục vụ phát triển kinh tế như: Nguồn khí mỏ, nước khoáng tại Tiền Hải đã được khai thác từ năm

1986 với sản lượng khai thác bình quân mỗi năm hàng chục triệu m3 khí thiên nhiên phục vụ cho sản xuất đồ sứ, thủy tinh, gạch ốp lát, xi măng trắng thuộc khu công nghiệp Tiền Hải Tháng 5-6 năm 2003, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã tiến hành nổ địa chấn 3D lô 103/107 Vịnh Bắc Bộ (trữ lượng ước tính ban đầu khoảng 7 tỷ m3) Ngày 23/3/2005, Công ty Đầu tư phát triển Dầu khí (PIDC), Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã thử vỉa thành công tại giếng khoan xã Đông Lâm, huyện Tiền Hải ở độ sâu 2600m Theo kết quả đánh giá ban đầu lưu lượng khí khai

Trang 20

thác đạt 30.000m3/ngày đêm kịp thời bổ sung cho nguồn khí phục vụ phát triển công nghiệp của tỉnh

Mỏ nước khoáng Tiền Hải ở độ sâu 450 m có trữ lượng tĩnh khoảng 12 triệu m3,

đã khai thác từ năm 1992, sản lượng 9,5 triệu lít được trong và ngoài nước biết đến với các nhãn hiệu nước khoáng Vital, nước khoáng Tiền Hải

Gần đây tại vùng đất xã Duyên Hải huyện Hưng Hà đã thăm dò và phát hiện mỏ nước nóng 57oC ở độ sâu 50 m và nước nóng 72oC ở độ sâu 178 m hiện đang được đầu tư khai thác phục vụ phát triển du lịch và chữa bệnh cho nhân dân

Trong lòng đất Thái Bình còn có than nâu thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng, được đánh giá có trữ lượng rất lớn (trên 30 tỷ tấn) nhưng phân bổ ở độ sâu 600 -1000m nên chưa đủ điều kiện để khai thác./

Với sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh và nhân dân trong tỉnh; cùng với sự chỉ đạo, điều hành vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, có trọng điểm của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh; tình hình kinh tế – xã hội có những bước phát triển mới Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân 10 năm đạt 8,5% trở lên

- Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân trên 4%/năm

- Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng bình quân trên 18%/năm

- Giá trị dịch vụ tăng bình quân trên 11%/năm

Cùng với đà phát triển về kinh tế chung toàn tỉnh trong những năm gần đây thì an ninh xã hội cũng ngày càng được ổn định

1.2 Công tác quản lý, bảo vệ đê điều ở nước ta

1.2.1 Tổng quan về hệ thống đê điều

Đê điều là công trình quan trọng, được xây dựng, tu bổ và bảo vệ qua nhiều thế hệ nhằm ngăn nước lũ, nước biển, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và của nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững Quá trình hình thành và phát triển, hệ thống đê điều luôn gắn liền với đời sống và hoạt động

Trang 21

sản xuất của nhân dân từ đời này qua đời khác Phần lớn các tuyến đê hiện nay đều được kết hợp làm đường giao thông, trong đó nhiều tuyến đê đã trở thành tuyến giao thông huyết mạch đi qua các khu du lịch, đô thị, dân cư Trong quá trình phát triển của đất nước, yêu cầu đối với hệ thống đê điều, cũng như tác động trực tiếp của thiên nhiên, con người đối với đê ngày càng tăng và có diễn biến ngày càng phức tạp

Thái Bình nằm ở hạ lưu châu thổ sông Hồng được bao bọc bởi hệ thống đê sông và đê biển khép kín với tổng chiều dài 584,6km đê trong đó có 362,8km đê từ cấp III trở lên, còn lại 221,8km đê bối, đê bao, đê vùng Dọc theo các tuyến đê trong tỉnh có 101 kè hộ bờ với trên 100km kè lát mái và 60 kè mỏ, dưới đê có 219 cống lớn nhỏ làm nhiệm vụ tưới tiêu nước, phục vụ sản xuất nông nghiệp Cao trình mặt đất tự nhiên của Thái Bình rất thấp, về mùa lũ mực nước sông thường cao hơn mặt đất tự nhiên từ 3m ÷ 5m Nếu vỡ đê bất cứ chỗ nào thì 1/2 tỉnh Thái Bình bị ngập sâu từ 2m ÷ 4m nước trở lên, hoặc vỡ đê biển bất cứ chỗ nào thì hàng ngàn ha đất canh tác bị nhiễm mặn phải cải tạo, thau rửa nhiều năm mới hồi phục được

Nhiều năm qua, hệ thống đê Thái Bình được Bộ và tỉnh quan tâm đầu tư, đã

tu bổ hoàn thiện mặt cắt đê ở một số đoạn, tuyến trọng điểm, tăng cường ổn định, thu hẹp đáng kể các đoạn, tuyến xung yếu Các tuyến đê biển được tu bổ theo dự án PAM5325, mặt cắt đê cơ bản đảm bảo các chỉ tiêu thiết kế Các tuyến đê sông, những năm trước đây do số lượng các đoạn đê thấp nhỏ lớn, nên việc tu bổ đê điều hàng năm còn dàn trải chủ yếu tôn cao theo độ chống tràn Từ năm 2002, thực hiện chủ trương của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục quản lý đê điều và phòng chống lụt bão, các đoạn đê tu bổ thường xuyên đều được thiết kế theo chỉ tiêu hoàn thiện mặt cắt với cao độ đảm bảo yêu cầu chống lũ thiết kế theo chỉ tiêu hoàn thiện mặt cắt với cao độ đảm bảo yêu cầu chống lũ thiết kế Bề rộng mặt đê 5m, độ dốc mái phía sông m=2; phía đồng m=3 và mặt đê được gia cố đá dăm hoặc

bê tông để kết hợp giao thông Vì vậy nhiều đoạn đê được cải thiện về khả năng phòng chống lũ bảo thiết kế

Trang 22

Tuy vậy, do chiều dài đê lớn, tốc độ bào mòn xuống cấp nhanh, trong khi khả năng đầu tư còn hạn chế nên vẫn còn nhiều đoạn đê còn thấp, nhỏ hơn so với tiêu chuẩn đê thiết kế

1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển về tổ chức Quản lý bảo vệ đê điều ở nước ta

Việc quản lý, bảo vệ hệ thống đê điều là một nhiệm vụ không thể thiếu và là nghĩa vụ của mọi người dân, mọi tổ chức, kinh tế, để hệ thống đê điều không bị xâm hại, đảm bảo tính năng tác dụng mang lại lợi ích cho chính chúng ta

Đảng và Nhà nước ta vô cùng quan tâm đến việc khai thác, sử dụng bảo vệ

và giữ gìn hệ thống đê điều Nhà nước vừa là bộ máy chính trị-hành chính vừa là một tổ chức quản lý kinh tế, chính trị, xã hội Nhà nước thực hiện hai chức năng: Tổ chức xây dựng và trấn áp Hai chức năng này thống nhất hữu cơ, tác động qua lại với nhau Nhà nước đảm bảo thống nhất vì lợi ích cho nhân dân

Vì vậy tăng cường cho quản lý, bảo vệ hệ thống đê điều một cách triệt để và hiệu quả thông qua quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân Công trình đê điều mang tính đặc thù, để đáp ứng được yêu cầu đó:

- Ngày 28 tháng 5 năm 1948, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ký sắc lệnh số 194-SL về thành lập các Uỷ Ban bảo vệ đê điều;

- Ngày 18 tháng 6 năm 1949, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ký sắc lệnh số 68-SL “Ấn định kế hoạch thực hiện các công tác Thuỷ nông và thể lệ bảo vệ các công trình Thuỷ nông” ( có nội dung thể lệ bảo vệ đê điều)

- Ngày 23 tháng 12 năm 1963 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh điều lệ bảo vệ đê điều gồm 4 chương, 16 điềù;

- Ngày 8 tháng 5 năm 1971 Hội đồng chính phủ ra quyết định số 90-CP về việc tổ chức đội quản lý đê ( thành lập đội quản lý đê chuyên trách để tăng cường công tác quản lý nhà nước về đê điều);

Trang 23

- Ngày 16 tháng11 năm1989 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh số 26 LCT/HĐNN công bố pháp lệnh về đê điều gồm có 7 chương 34 điều;

- Ngày 7 tháng 9 năm 2000 Chủ tịch nước, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ký lệnh số 09/L-CTN công bố pháp lệnh đê điều gồm 7 chương, 34 điều;

- Luật đê điều số 79/2006/QH11 của Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Khung cơ cấu thể chế

Hiện nay trong khung cơ cấu thể chế xác định 4 cấp rõ ràng cho mục đích Quản

lý, bảo vệ đê điều gồm: Cấp Quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Bộ Nông nghiệp

và PTNT

Các Bộ và cơ quan ngang bộ

Trang 24

- Cấp Quốc gia: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm

trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về đê điều, Bộ chủ trì mọi hoạt động

về đê điều-đây là tổ chức liên ngành xử lý các hoạt động quản lý đê điều Trong Bộ Nông nghiệp & PTNT có Cục Quản lý đê điều và PCLB chịu trách nhiệm về quản

lý và hỗ trợ kỹ thuật cho các hoạt động đê điều

- Cấp tỉnh: Về quản lý đê điều cơ cấu thể chế được lặp lại thông qua Sở Nông

nghiệp và PTNT Sở Nông nghiệp &PTNT mỗi tỉnh đều có Chi cục Quản lý đê điều và PCLB với các chức năng nhiệm vụ tương tự như Cục Quản lý đê điều và PCLB ở Trung ương

- Cấp huyện: Mỗi huyện có đê đều có lực lượng Quản lý đê chuyên trách (hạt

Quản lý đê) Riêng lực lượng này về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được Quốc hội quy định (thông qua Luật đê điều) để trực tiếp thực hiện quản lý đê điều

- Cấp xã: Mỗi xã có đê đều có lực lượng Quản lý đê nhân dân để trực tiếp thực

hiện nhiệm vụ quản lý đê điều ở địa phương mình

1.2.3 Công tác quản lý, bảo vệ đê điều

- Đối với thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đê điều Nhìn lại gần 7 năm triển khai thực hiện Pháp lệnh đê điều năm

2000 đã thực sự đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong việc quản lý, xây dựng, tu bổ, bảo vệ đê điều Tuy nhiên Pháp lệnh đê điều đã bộc lộ nhiều bất cập: một số quy định trong Pháp lệnh chưa cụ thể, còn mang tính định hướng nên khó thực hiện; đã nảy sinh một số vấn đề bức xúc trong quản lý đê điều (cấp quyền sử dụng đất đai trong phạm vi bảo vệ đê điều; việc sử dụng bãi sông để xây dựng công trình, nhà cửa ở những vùng đê đi qua khu đô thị, khu dân cư; việc xử lý nhà cửa, công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều…) Việc phân công, phân cấp, xã hội hóa trong công tác quản lý bảo vệ đê điều chưa được trú trọng đúng mức

Mặc dù công tác quản lý, bảo vệ đê điều cũng đã được củng cố và tăng cường, nhất là việc kiểm tra , thanh tra chấp hành Pháp luật và xử lý vi phạm về đê

Trang 25

điều Song hiện tượng vi phạm pháp lệnh đê điều, như: Xây dựng nhà kiên cố, nhà tạm trong hành lang bảo vệ đê; chứa chất vật tư, chất thải trên đê; đào xẻ đê không đúng quy định; xây dựng lò gạch, lò vôi ngoài bãi sông; chặt phá cây chắn sóng…luôn diền ra hàng ngày Theo thống kê chưa đầy đủ, năm 2001 có 3.652 vụ

vi phạm, đã xử lý 1.244 vụ; năm 2002 có 2.884 vụ vi phạm, đã xử lý 1.350 vụ; năm 2003 có 2.190 vụ vi phạm, đã xử lý 658 vụ; năm 2004 có 1.881 vụ vi phạm, đã

xử lý 626 vụ; năm 2005 có 1.801 vụ vi phạm, đã xử lý 862 vụ;

Để đê điều phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo

an ninh, quốc phòng trong giai đoạn mới Nhà nước đã ban hành Luật đê điều có hiệu lực từ 01/7/2007 nhằm mục đích cơ bản như sau:

Một là: Nâng cao hiệu lực pháp lý để điều chỉnh các vấn đề có liên quan phù

hợp với tính chất quan trọng của hệ thống đê điều trong việc phòng chống lụt, bão, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo vệ dân sinh, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh, quốc phòng

Hai là: Mở rộng phạm vi điều chỉnh; cụ thể hóa các quy định đối với các hoat động liên quan đến đê điều như tổ chức lực lượng trực tiếp quản lý bảo vệ đê; phân công rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lýnhà nước, các tổ chức, cá nhân trong hoạt động liên quan đến đê điều, giải quyết những tồn tại bất cập của Pháp lệnh đê điều năm

2000 đã tính tới đặc thù của đê điều ở cá vùng miền khác nhau

Ba là: Hệ thống hóa các quy định dưới luật để ban hành và thực hiện có hiệu quả để bảo đảm hiệu lực pháp lý cao hơn

- Đối với tổ chức bộ máy quản lý bảo vệ đê điều Được Nhà nước quy định rõ trong Luật đê điều về chức năng; nhiệm vụ; quyền hạn; trách nhiệm và biên chế cho lực lượng quản lý đê chuyên trách và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, để giúp cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đê điều

Trang 26

1.3 Thực trạng đê điều và công tác quản lý, bảo vệ đê điều tỉnh Thái Bình

1.3.1 Thực trạng đê điều tỉnh Thái Bình

Theo báo cáo kiểm tra đánh giá hiện trạng đê, kè, cống sau lũ, bão năm

2009 và trước mùa lũ, bão năm 2010 của các huyện, thành phố, các đơn vị trong ngành và sự quản lý theo dõi công trình của Chi cục Đê điều và Phòng chống lụt bão cho thấy hiện trạng công trình đê điều trước lũ, bão năm 2010 như sau:

1 3.1.1 Đê Hồng Hà I

Đê Hồng Hà I từ Triều Dương đến Phú Nha dài 17km từ K133-K150 thuộc huyện Hưng Hà quản lý

1 Đối với đê:

- Cao trình đê đủ cao trình thiết kế ứng với mực nước 13,1m tại Hà Nội,

đê Hồng Hà I đã được đắp tường nghiêng chống thấm mái ngoài

- Mặt cắt ngang đê: Mặt đê rộng từ 4-5m, mái phía sông ms=2, mái phía đồng md=3, toàn bộ chiều dài đê Hồng Hà I đã được đắp cơ rộng 3-4m, riêng đoạn đê từ K133-K134.5 có 2 tầng cơ

- Nền và thân đê có một số đoạn nằm trên nền đất xấu như: đoạn K133 – K135, K136 – K140 và K143- K145 hàng năm xuất hiện nhiều mạch đùn, mạch sủi ở chân đê phía đồng, trong đó có những mạch sủi nước đục phải xử lý rất phức tạp, tốn kém, trong thân đê có nhiều tổ mối và các ẩn họa, hàng năm phát hiện và xử lý khoảng 100 tổ mối Tuy vậy cũng còn một số tổ chưa phát hiện được, do đó trong lũ bão phải kiểm tra, phát hiện để xử lý kịp thời

Khoan phụt vữa gia cố đê được 3km từ K143-K146

- Tre chắn sóng từ K136-K142 phát triển tốt do thị trấn Hưng Nhân, xã Tiến Đức có biện pháp bảo vệ totó, một số đoạn đê tre chắn sóng còn thưa thớt, hoặc tre mới trồng, bị trâu bò phá chưa phát huy tác dụng như đoạn K133-K136

và K142- K150

Trang 27

- Cứng hóa mặt đê: toàn bộ đê đã được cứng hóa bằng rải đá dăm nước

từ K133-K134.5 và K142-K150 trong đó từ K143-H145 mặt đê bị hư hỏng do

xe chở vật liệu đi lại nhiều, đổ bê tông được từ K134.5-K142.1

- Đường hành lang chân đê: Đổ bê tông mặt đường từ K137+200 – K137+850

2 Đối với kè:

Toàn tuyến đê có 7 kè lát mãi và 3 hệ thống mỏ hàn lái dòng Phần lớn các kè được xây dựng từ lâu nên nhiều kè bị hư hỏng, tuy một vài năm gần đây

đã được đầu tư tư bổ sửa chữa, củng cố, nhưng trong quá trình sử dụng một số

kè vẫn bị sát lở mất đá, hoặc trong lũ, bão thường có diễn biến phức tạp như: + Kè Lão Khê: Xây dựng từ lâu, qua nhiều năm không được tu sửa nên kè bị

xô tụt mất đá rất nhiều, nhất là đoạn đầu kè năm 2005 phải được xử lý khẩn cấp sau bão số 7 dài 210m Đoạn nối tiếp với cống Lão Khê dài 350m mái kè dốc,

bị sạt lở, xô tụt cục bộ nhiều chỗ

+ Hệ thống kè mỏ Hà Xá: Nằm ở khu vực phân lưu của sông Hồng vào sông Luộc, chế độ dòng chảy diễn biến phức tạp, phía sông Luộc có 8 mỏ,mỏ 5 sửa chữa năm 2002 đến nay ổn định, mỏ 6 bị sạt lở xô tụt đã nhiều, đã được tu sửa năm 2001 và 2002, hiện nay bãi phía hạ lưu mỏ 6 vẫn tiếp tục sạt lở chạy dài về phía kè Tân Hà

Hệ thống kè và mỏ về phía sông Hồng gồm 5 mỏ được xây dựng từ năm 1991-1995 hệ thống này ổn định đang được bồi lấp

+ Kè Tân Hà: Kè này bảo vệ cho hàng trăm hộ dân của xã Tân Lễ mùa lũ bão năm 2005, nhất là ảnh hưởng của bão số 7 gây sạt lở bãi cuối kè hàng trăm mét cách chân đê chỉ còn 5-10m, đã cho xử lý khẩn cấp được 260m, nhưng vẫn còn đang diễn biến tiếp

+ Kè An Tảo: Cuối kè bồi, bãi thượng lưu lở nhẹ không đáng kể

+ Hệ thống kè Nhật Tảo: Kè Nhật Tảo từ K199,1-K140,3 gồm kè lát mái và

hệ thống 3 mỏ hàn lái dòng Kè này thường có diễn biến phức tạp, hàng năm

Trang 28

phải đầu tư kinh phí tu bổ và xử lý ứng cứu Lũ năm 2002 và năm 2004 mỏ 2 bị cắt phần thân và mũi mỏ phải xử lý bằng đá hộc và rọ thép Năm 2008, 2009 kè không có diễn biến gì, hệ thống kè Nhật Tảo luôn chịu sức ép lớn của dòng chảy do hợp lưu hai nhánh sông Hồng sau khi vượt qua bãi nổi, vì vậy là trọng điểm xung yếu I của tỉnh, thường có diễn biến phức tạp cần được theo dõi chặt chẽ

+ Kè An Nghiệp: Bãi đỉnh kè hẹp, năm 1999 sau khi được tu bổ sửa chữa, củng cố đoạn cuối kè đến nay kè ổn định, thượng lưu kè đang bồi

+ Kè Thanh Nga: Dự án nâng cấp năm 2006 được hơn 900m, năm 2007 làm tiếp 410m và 3 mở nối với phần tu sửa năm 1999 ổn định

+ Kè Phú Nha: Những năm 1996-1997 và 2005 đã được tu sửa, nối dài tới cửa Trà Lý, mái và chân kè ổn định, kè nằm sát đê, bãi hẹp, trong lũ bão cần phải theo dõi, khi có diễn biến sạt lở phải xử lý kịp thời

3 Đối với cống

Có hai cống dưới đê là cống Lão Khê và cống xả tiêu trạm bơm Minh Tân, chất lượng công trình đảm bảo chống lũ, bão Cống Lão Khê có khẩu độ lớn Công ty khai thác thủy lợi Bắc Thái Bình cần sơn sửa cánh van, phai và chú trọng khi vận hành trong mùa lũ Cống trạm bơm Minh Tân đê quai bể xả còn nhỏ hơn đê chính, năm 2007-2008 đã sửa chữa rò bể xả, bể hút, khi vận hành trạm bơm trong lúc lũ cao và bơm tiêu úng phải theo dõi chặt chẽ và có phương án hộ đê

Tóm lại: Đê Hồng Hà I tuy chất lượng tương đối khá, nhưng lại là đê đầu

nguồn có một số đoạn nền và thân đê xấu nên khi lũ cao, kéo dài phải chú trọng các đoạn có nhiều mạch sủi, thẩm lậu mái đê và các kè nằm sát đê đang

có diễn biến

1.3.1.2 Đê Hồng Hà II

Từ An Điện đến cống Tám Đạc (K150-K200,4) dài 50,4km thuộc hai

huyện Vũ Thư và Kiến Xương quản lý

Trang 29

1 Đối với đê:

- Cao trình đê cơ bản đủ cao trình thiết kế, tuy vậy còn đoạn từ K174,5 thấp hơn cao trình thiết kế từ 0,1-0,4m cá biệt có đoạn từ K193-K198,5 cao trình mặt đê thiết kế thiếu từ 0,7-1,2m

K173,0 Mặt cắt ngang đê: Chiều rộng mặt đê hầu hết đạt từ 4-5m, cá biệt còn

có đoạn mặt đê còn nhỏ so với thiết kế từ 0,5-1m như đoạn K150-K153, K157,5-K158 K179-K185,6, mái đê ms=3, md=2 nhưng vẫn còn nhiều đoạn dốc không đảm bảo mái như K150-K151, K162-K164, K173-K177 mái đê mới đạt m=1.5-1.7, chân đê có nhiều ao hồ, ruộng trũng, đặc biệt đoạn từ K193-K198 mái đê dốc đứng m=0.5-1.0, đoạn này đê rất thấp, bé, bên ngoài có đê bối Hồng Tiến, Bình Định, Bình Thanh đang được củng cố nâng cấp

Đê có cơ phía đồng từ K150-K173, còn lại chưa có cơ

- Nền và thân đê địa chất nền đê xấu như đoạn K150-K150,3; K155,2; K159-K163; K185,6-K192, khi lũ cao, kéo dài thường xuất hiện nhiều mạch sủi, thẩm lậu

K154,7-Khoan phụt vữa gia cố thân đê 1km từ K165,5-K166,5

Thân đê có những đoạn đắp bằng đất xấu, mái đê dốc, chân đê có nhiều đầm, ao sâu khi có lũ báo động số 2 trở lên kéo dài, thường xuất hiện nhiều vòi nước, thẩm lậu ở mái đê phía đồng như đoạn K157,5-K158,6; K163-K169; K171-K172,8; K181-K183; K189,6-K192 Trong đê còn nhiều tổ mối và các ẩn họa khác, hàng năm phát hiện và xử lý từ 200-300 tổ mối Tuy vậy cũng còn một số tổ chưa phát hiện được, trong lũ bão phải kiểm tra, phát hiện để xử lý kịp thời

- Tre chắn sóng phát triển khá tốt, phát huy tác dụng chống sóng bảo vệ

đê điều, trừ đoạn từ K153-K155; K166+500-K167+500, K186-K192 phát triển kém

- Mặt đê bê tông được K161,7-K165,6; K170,5-K173; K174,5-K179; K185,65-K187 và K190-K193, đá láng nhựa K151-K161,7; K166.5-K170,5;

Trang 30

K179-K185,65; K193-K198,5, cứng hóa bằng đá dăm nước K165,6-K166,5; K173-K174,5; K187-K190 và K198,5-K200,4 như vậy đến năm 2009 toàn bộ mặt đê Hồng Hà II đã được cứng hóa

- Đường hành lang chân đê: mới được 2,4km từ K151,4-K152 và K153,5-K155,3

2 Đối với kè:

Có 10 kè lát mái và 3 hệ thống mỏ hàn lái dòng

- Kè Hồng Lý (K150-K151,5) và mom phân lưu vào cửa Trà Lý: Kè được làm từ năm 1991 đến năm 1994 thì hoàn chỉnh, lũ 2003 kè phía sông Hồng bị sạt lở phải xử lý đột xuất một đoạn kè dài trên 100m Sau lũ năm 2003

và đầu năm 2004 mom phân lưu và đoạn kè phía cửa sông Trà Lý tiếp tục có diễn biến sạt lở nghiêm trọng phải tập trung xử lý khắc phục kịp thời đưa công trình vào chống lụt bão, đến nay đã phát huy tác dụng rất tốt Bãi cuối kè Hồng

Lý lở 2 đoạn, một đoạn dài 280m, một đoạn dài 270m, sâu từ 0,7-1,1m cách chân đê bối Hồng Lý chỗ gần nhất 3m, năm 2007 đã xử lý đoạn nguy hiểm nhất dài 280m

- Kè Hướng Điền (K155,7-K158,05): Gồm hệ thống kè lát mái dài 2,5km

và 5 mỏ lái dòng Hiện tại cả 5 mỏ đều có hiện tượng xô tụt đá ở mái, mũi và mặt mỏ từ (5-10)m2, con bơn nổi giữa sông (K156) do khai thác cát nhiều tạo nên khả năng thoát lũ tốt hơn, nhưng dòng chủ lưu đi sát cuối kè làm cho đoạn

kè lát mái hạ lưu xô trụt dài hàng trăm mét Trong lũ bão phải theo dõi chặt chẽ, có phương án hộ đê và xử lý kịp thời khi kè có diễn biến

- Kè Đại An (K165,85-K166,1): từ thượng lưu đến giữa kè xô tụt, mất đá hoàn toàn dài 150m, giữa kè chỉ còn lại một đoạn ngắn, tiếp đến cuối kè xô tụt hết

- Kè Ngô Xá (K167,57-K169,15): gồm kè lát mái dài 1500m và 3 mỏ lái dòng, mỏ 1 nằm hoàn toàn trên bãi, mỏ 3 ổn định, mỏ 2 đang có diễn biến sạt

lở, bãi thượng lưu tiếp tục lở chậm, phần kè lát mái từ sau mỏ 2, k167+570 đến

Trang 31

K168+800 sạt lở hầu như không còn đá, chân kè ổn định Đoạn cuối kè K168+800 đến K169+150 mái kè bị xô tụt cục bộ

- Kè Vũ Tiến (K169,9-K172,25): Đoạn đầu kè từ K169+900 đến K171+400 mái kè mất đá hoàn toàn, giữa kè K171+400 đến K172 mái kè xô tụt

xô tutụt cục bộ kè lát mái đoạn giữa mỏ 5 và mỏ 6

- Kè Minh Tân (K190+750-K191+470): Năm 1999 được đầu tư kinh phí làm tiếp đoạn bãi đầu kè, song do dòng chảy tại đây vẫn chưa ổn định, mái kè

bị xô tụt cục bộ dài 200m, bãi đầu kè vẫn tiếp tục lở chậm lấn vào bãi từ 2)m, sâu từ (0,5-1,5)m, trong lũ, bão phải theo dõi chặt chẽ và có phương án bảo vệ đoạn kè sát đê, đề phòng diễn biến

(1 Kè Duy Nhất, kè Vũ Đoài, kè Vũ Vân (huyện Vũ Thư): 3 kè này nằm ở tuyến ngoài trực diện với lũ, bão bảo vệ bối bãi và dân cư ngoài bãi, mái kè ở một số đoạn bị sạt lở cục bộ chưa được đầu tư kinh phí tu sửa Bãi thượng lưu

kè Duy Nhất, thượng lưu kè Vũ Đoài vẫn tiếp tục lở, dòng chảy tại khu vực này diễn biến phức tạp cần kiểm tra theo dõi thường xuyên

3 Đối với cống:

Đê Hồng Hà II có 27 cống lớn, nhỏ dưới đê và 1 băng két Trong đó huyện

Vũ Thư có 12 cống và 1 băng két, huyện Kiến Xương có 15 cống

Trang 32

- Cống An Điện, Bách Thuận, Bồng Tiên, An Thái, cống 54, của huyện

Vũ Thư, cốn Cù Là, cống Mộ Đạo, cống Nguyệt Giám của huyện Kiến Xương cần chủ động thả phai dự phòng khi có lũ, bão

- Cống trạm bơm Tân Lập, Việt Thuận, Vũ Vân, không sử dụng đã lấp, trong mùa lũ bão phải kiểm tra độ lún sụt đắp củng cố lại để đảm bảo an toàn

- Cống Ngô Xá, cống Thái Hạc, cống Nguyệt Lâm là những cống có khẩu độ lớn, lại gần sông cần lưu lý trong quản lý vận hành, đóng cánh cống, thả phai dự phòng trong mùa lũ, bão Cống Tân Đệ đang trong thời

kỳ xây dựng, trong mùa lũ bão phải kiểm tra, củng cố lại đê quai thượng lưu, đóng cánh cống và thả phai dự phòng

- Các cống trạm bơm Phù Sa, Nguyên-Tiến-Đoài, Lịch Bài cần kiểm tra

kỹ phai, cánh, thả phai kịp thời trong mùa lũ

Huyện Kiến Xương còn một số cống được xây dựng từ lâu, cống ngắn so với mặt cắt đê hiện tại lại bị hư hỏng chưa được tu sửa như cống Dương Liễu, cống Tân Ấp, cống Khả Phú Các cống này đều bị nứt gãy rò rỉ, khả năng an toàn trong lũ bão rất kém, do đó phải có biện pháp bảo vệ trong lũ bão

- Ngoài ra còn một số cống dưới đê bao, đê bối bảo vệ dân sinh sống ngoài bãi, bị hư hỏng như: Cống Tây Thành có hiện tượng mạch sủi ở kênh hạ lưu, cống Phán Xá cánh không khít máy đóng mở nặng, cống Phú Thiện đã lấp bịt, cống Vũ Đoài cũ (huyện Vũ Thư) đã lấp bịt năm 2008, cống mới xây chưa được thử thách qua lũ cần theo dõi đề phòng Cống Ngõ Quỳnh và một số cống dưới đê bối Bình Thanh, Bình Định, Hồng Tiến (huyện Kiến Xương) là những cống chất lượng kém, trong lũ bão phải có phương án bảo vệ, làm giàn van và

hệ thống đóng mở cống Cao Bình 1, không được để các cống này bị bục trong

lũ, gây vỡ đê bối đột ngột, làm thiệt hại cho nhân dân trong vùng bối

Tóm lại: Đê Hồng Hà II thuộc loại đê xung yếu, trong lũ bão phải chú

trọng các khu vực có mạch sủi chân đê, thẩm lậu mái đê và các kè có diễn biến sạt lở, các cống bị hư hỏng hoặc hệ thống đóng mở, cánh van, phai không đảm

Trang 33

bảo an toàn Bão lớn trùng hợp với lũ cao, phải có biện pháp bảo vệ mái đê, chú ý nhữgn đoạn không có cây chống sóng hoặc tre chống sóng mới trồng chưa phát huy tác dụng và có phương án chống tràn cho những đoạn đê còn thấp

1.3.1.2 Đê Tả Trà Lý

Đê Tả Trà Lý từ Phú Nha đến cống Nam Cường (K0-K42), dài 42km,

thuộc huyện Hưng Hà, Đông Hưng, Thành phố và Thái Thụy quản lý

1 Đối với đê:

Cao trình đê Tả Trà Lý cơ bản được đắp củng cố đủ cao trình thiết kế

- Mặt cắt ngang đê: Chiều rộng mặt đê hầu hêté mới đạt 4m, còn từ K17; K20,8-K21,8; K30-K33 mới đạt từ (3-3,5)m, mái đê mx=3, mđ=2, K35-K39 mái đê mđ≤2 Đê có cơ K0-K33, từ K33-K42 không có cơ

K16 Nền đê có nhiều đoạn rất xấu, trong đồng còn nhiều ao đầm chưa lấp hết, nên khi có lũ từ báo động 2 trở lên kéo dài, đoạn đê K2-K3; K5-K9; K10-K11; K18-K20; K34,4-K34,6 thường xuất hiện nhiều mạch sủi và thẩm lậu mái, chân đê phải xử lý Trong thân đê có nhiều tổ mỗi và chuột phá hoại, hàng năm phát hiện và xử lý (200-300) tổ Tuy vậy cũng không thể phát hiện hết được, nên trong lũ bão phải kiểm tra phát hiện và xử lý kịp thời

- Tre chắn sóng: phần lớn tre chắn sóng dọc đê phát triển tốt nhưng cũng còn một số đoạn do quản lý và chăm sóc không tốt nên thưa thớt, phát triển kém như K0-K3; K15-K16; K17,5-K21,9; K25,6-K26; K39-K40 Nhiều đoạn mái kè là mái đê, có chỗ bãi hẹp không trồng được tre chắn sóng, khi có lũ bão trùng hợp phải có biện pháp chống sóng những đoạn đê này

- Cứng hóa mặt đê: Mặt đê đã được đổ bê tong từ K2,8-K3,3; K4,6-K7,6; K16,8-K20,8; K21,8-K30 và K30,5-K31,5 Rải đá cấp phối được từ K0-K2,8; K3,3-K4,6; K7,6-K16,8; K33,0-K42; nhựa hóa được từ K20,8-K21,8 và K31,5-K33 Đến 2010 toàn bộ tuyến đê Tả Trà Lý đã được cứng hóa

Trang 34

- Đường hành lang chân đê: Làm được ở 3 xã Bạch Đằng, Hồng Giang, Hoa Nam dài 2,3km, chiều rộng (5-7)m chưa được cứng hóa, gồm K7,5-K7,9; K8,4-K8,6; K9,5-K10; K12,5-K13; K15,7-K16,4

Bê tông hóa được K15,7-K16,5; K28,2-K28,85

2 Đối với kè:

- Đê Tả Trà Lý có 15 kè lát mái Nhìn chung các kè thuộc triền đê này đều ở sát đê, có chỗ mái kè là mái đê, rất nguy hiểm, một số kè xây dựng từ lâu

bị hư hỏng không được tu bổ, sửa chữa thường xuyên, hiện nay nhiều kè đang

bị sạt lở, xô tụt mất đá cục bộ Có 6 kè mới được tu bổ, nâng cấp ổn định alf kè Hồng Phong, Bồ Xuyên Tả, Thái Hà Kè Hậu Thượng, Hậu Trung 1 năm 2008, Hậu Trung 2 năm 2009 Còn lại đều có diễn biến sạt lở, xô tụt đá như: An Lập, Đại Đồng Tả, Hoa Nam, Vinh Quang, Phương Cúc, Đông Thọ, đoạn đầu kè Hiệp Trung, Sa Cát Kè Đồng Phú sau xử lý khắc phục 2005 đến nay đã ổn định, nhưng bãi cuối kè đang lở dài 200m

3 Đối với cống:

- Đê Tả Trà Lý có 17 cống lớn nhỏ dưới đê Trong đó có 7 cống trạm bơm: Tịnh Xuyên, Hậu Thượng, An Lập, Đông Hòa, Hoàng Diệu, Xóm Đền, Sa Lung, các cống này đều là những cống nổi cần kiểm tra kỹ cánh và phai dự phòng khi lũ từ báo động II trở lên có biện pháp chống rò rỉ qua cánh cống

- Các cống ngầm trừ cống Sa Lung mới xây dựng, cống Cống Hộ mới được tu sửa, còn cống Tịnh Xuyên, Hậu Thượng, Đồng Cống, Đồng Bàn, Cống

39, Thuyền Quan đều xây dựng từ lâu, có một số cống ngắn so với đê, bị hư hỏng, đã được tu sửa nối dài, hiện tại các cống hoạt động bình thường Lưu ý cống có khẩu độ lớn như: Hậu Thượng, Đồng Cống, Thuyền Quan

- Cống Quan Hỏa đã sửa chữa nhiều lần phải hoành triệt, đề nghị kiểm tra lại nếu chưa đảm bảo an toàn phải đắp củng cố them Cống Quan Hỏa mới đang tiến hành thi công yêu cầu phải hoàn thành trước 30/4/2010 Cống An Lại

Trang 35

(Hưng Hà) mới được tu bổ sửa chữa, nếu đê bối phía ngoài bị vỡ, phải kiểm tra theo dõi

Tóm lại: Đê Tả Trà Lý thuộc loại xung yếu, khi có lũ cao phải theo dõi phát

hiện, xử lý kịp thời các mạch sủi, thẩm lậu và chống sạt trượt mái đê Đặc biệt khi có lũ, bão trùng hợp phải có phương án hộ đê cho những đoạn trực diện với song, bên ngoài không vật che chắn, những đoạn đê trung lưu chiụ ảnh hưởng thủy triều, có nước dâng

1.3.1.3 Đê Hữu Trà Lý

Đê Hữu Trà Lý từ An Điện đến Trà Giang, từ K0- K42 dài 42km thuộc huyện Vũ Thư, Thành phố và Kiến Xương quản lý

1 Đối với đê:

- Cao trình đê nhìn chung toàn tuyến đã được đắp đủ cao trình thiết kế

- Mặt cắt ngang đê: Mặt đê trung bình rộng 4m, đoạn K23,2-K23,5 bề rộng mặt đê 3-3,5m; từ K27-K42 rộng 3,5-4m Mái đê ms=3, mđ=2 Từ K0-K12; K14-K17; K20-K29 đê có cơ, một số đoạn chưa có cơ như K12-K13; K17-K20; K29-K42

- Nền và thân đê từ K3-K21,5 trong các năm 1977-1980 xuất hiện nhiều vết nứt dọc đê, những năm sau đó đã được đào lên xử lý đắp lại tôn cao mở rộng mặt đê, đắp cơ cần tiếp tục theo dõi xử lý kịp thời khi có đê diễn b iến

Nhiều đoạn nền đê rất xấu, chân đê còn nhiều ao, đầm sâu phía trong đồng chưa được lấp Do đó khi có lũ BĐ2 kéo dài, những đoạn từ K1-K3, K4-K6, K8-K13, K14-K18 xuất hiện nhiều mạch đùn, mạch sủi

Thân đê đắp bằng đất xấu, đã từng bị nứt nên khi lũ cao, mái đê phía đồng bị thẩm lậu nặng phải khoan phụt vữa gia cố đến nay đã làm được từ K1,0-K2,0; K3,5-K15,0 nên hiện tượng thấm qua đê đã giảm hẳn, đoạn còn lại chưa khoan phụt từ K15,0-K23 cần được theo dõi xử lý trong mùa lũ Trong thân đê có nhiều tổ mối và các ẩn họa khác, hang năm phải xử lý từ K6,6-K8,7

Trang 36

mặt đê chưa được cứng hóa nên việc đi lại kiểm tra đê và hộ đê rất khó khăn Trong thân đê còn nhiều ẩn họa như tổ mối và các ẩn họa khác

- Chương trình nâng cấp đê biển: đang thực hiện thi công nâng cấp đoạn K1,9- K3; K5,8-K6,5; K9-K14,5 và K17,5-K26

Đoạn đê thuộc cửa sông Lân từ K0 đến K200,4 đê Tả Hồng Hà II dài 7km đê còn rất thấp bé là tuyến đê trong Tuyến ngoài từ cống Tân Ấp K193,0 (đê Hồng Hà II) đến K0,45 (đê biển 5 qua cống Tân Lập huyện Tiền Hải) UBND huyện Tiền Hải, huyện Kiến Xương, Sở Nông Nghiệp và PTNT đã trình UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch nâng cấp đê để làm tuyến I, được Bộ Nông nghiệp và PTNT đã bố trí kinh phí nâng cấp từ năm 2006 đến nay đã gần hoàn thiện Tuyến II là 2 đoạn đê: Đê Hồng Hà II từ K193,0 – K200,4 (cống Tám Đạc) và đoạn đê biển 5 nối từ K0,45 qua đò An Tứ đến cống Tám Đạc

kè, hiện nay khá ổn định, cần được theo dõi thường xuyên

- Kè Nam Hồng (K5,6-K6,7) lát mái hộ bờ kết hợp 8 mỏ lái dòng phát huy tác dụng tốt, dòng chảy đi sát kè, tạo lạch sâu gần chân kè, có chỗ sâu tới cao trình (-20.0) Năm 2008 xây dựng, nâng cấp gieo chân, thả thảm đá, rọ đá củng cố chân kè, mái kè hiện nay đã ổn định

- Kè Nam Hưng, Nam Thịnh 1, Nam Thịnh 2 và 3 (K21-K23,8) đã và đang được nâng cấp theo dự án đê biển Hệ thống 6 mỏ phát huye tác dụng

- Kè Nam Cường K23,8-K26 trực diện với biển, bên ngoài không có cây chống sóng, năm 2007 và 2008 củng cố theo chương trình nâng cấp đê biển

Trang 37

3 Đối với cống:

Toàn tuyến có 12 cống lớn nhỏ dưới đê, trừ cống 6 và cống Nam Thịnh mới, mới được xây dựng còn lại các cống được xây dựng trước đây đều ngắn so với mặt đê hiện tại, thân cống, mang cống, dàn van…đều cần được tu bổ Cần chú ý cống Trung Lang, cống Bồng He, cống Doãn Đông, cống Khổng, cống số

7, cống Hải Thịnh, các cống này sạt lở mang cống, nứt tường cánh, lún nền, hỏng tiêu năng cần sửa chữa phục vụ chống lụt bão Cống Nam Cường cũ tu sửa nhiều lần cần phải theo dõi chặt chẽ Cống Lân II có khẩu độ lớn, phải chú

ý khi vận hành trong mùa bão

Tóm lại: Đê biển số 5 thuộc loại xung yếu Khi có bão, vào thời kỳ nước

triều cường, hoặc lũ bão trùng hợp phải có biện pháp phòng chống tràn cho những đoạn đê còn thấp bé, chống sạt lở đê, kè và có biện pháp bảo vệ những cống xung yếu dưới đê

1.3.1.4 Đê biển số 6

Đê biển số 6 dài 39,3km từ Trà Giang đến Cống Lân I, thuộc 2 huyện Kiến Xương và Tiền Hải quản lý

1 Đối với đê:

- Cao trình đê từ K0-K2 đủ cao trình thiết kế, từ K2-K4,5 và K15,5-K24 cao độ mặt đê còn thấp so với thiết kế từ 1-1,5m Từ K4,5-K15,5 cao độ mặt đê (+4.0 - +4.5) đủ cao trình thiết kế Đoạn trực diện với biển K24-K39,3 được đắp nâng cấp theo kế hoạch tu bổ thường xuyên và dự án PAM 5325, cao trình mặt đê (+4.6 - +5.2), chất lượng khá

- Mặt cắt ngang đê: Từ K2-K4,5 mới đạt (3-4)m, mái đê phía đồng mđ=1,2-1,8, mái đê phía biển từ mb=2,3-3, dễ bị sạt lở khi có mưa lớn kéo dài, K0-K2; K11,6-K15,5 mặt đê rộng 6m Còn lại hầu hết mặt đê rộng 4m, phía trong không có cơ

- Nền và thân đê: Mặt chân đê phía trong và phía ngoài có nhiều đầm,

ao, mái đê dốc do bị cắt xén khi dân canh tác, dễ gây ra sạt, trượt Trong thân

Trang 38

đê cũng có nhiều tổ mối và các ẩn họa khác Hàng năm phải xử lý trên dưới 100

tổ Trong mùa lũ, bão phải tăng cường kiểm tra phát hiện và xử lý kịp thời

- Rừng ngập mặn ven biển: Từ k26-K30 rừng sú vẹt ở xa và thưa, K33 hàng phi lao gần đê; K28-K30 ngoài bãi biển có dân sinh sống

K30 Cứng hóa mặt đê: Toàn tuyến cứng hóa được 13,5km từ K0-K2; K15,5; bê tông hóa 1,7km K33,8-K35,5 còn lại chưa được cứng hóa nên việc đi lại kiểm tra đê và hộ đê rất khó khăn

K4,5 Chương trình nâng cấp đê biển: thực hiện được từ K0-K2

- Kè Vũ Lăng: bãi cuối kè đang bị lở dài 200m, phải xử lý khẩn cấp năm

3 Đối với cống:

Toàn tuyến có 26 cống lớn nhỏ dưới đê, một số cống xây dựng từ lâu, cống ngắn so với đê, đã bị hư hỏng chưa được sửa chữa, không an toàn trong

Trang 39

lũ, bão như cống: Diệm Dương, Lãng Đông cũ, cống Hồ, Thịnh Quang (Kiến Xương); cống Đại Hoàng, cống Cá, cống Muối cũ, cống Thủy sản, cống Tám

cửa (Tiền Hải) phải có phương án bảo vệ trong lũ, bão

- Cống Ngũ Thôn mới đã được xây dựng để thay thế cống Ngũ Thôn cũ

và cống Thịnh Quang đã bị hỏng Đề nghị địa phương cho lấp cống Thịnh Quang theo thiết kế được duyệt, đồng thời tổ chức theo dõi diễn biến cống Ngũ Thôn mới và cống Ngũ Thôn cũ đã lấp vì các công trình này mới được thi công xong chưa được thử thách qua lũ, bão

- Một số cống ngắn, lở mang: Cống Ngặt Kéo, cống Đông Hải Tưới, Đông Hải Tiêu phải chú ý khi nước dâng, bão đổ bộ vào

- Cống Lân I dầm cầu công tác đã có hiện tượng nứt, nổ bê tông trơ sắt

Trong quản lý và vận hành Công ty KT Thủy lợi Nam phải theo dõi chặt chẽ, nếu cống có diễn biến phải xử lý kịp thời

Tóm lại: Đê biển số 6 thuộc loại xung yếu, khi có bão và gặp kỳ nước

triều cường hoặc lũ bão trùng hợp phải có biện pháp chống tràn cho những đoạn đê còn thấp bé, chống sạt lở đê, kè và có biện pháp bảo vẹ những cống xung yếu dưới đê

1.3.1.5 Đê biển số 7

Đê biển số 7 dài 45,1lm từ cống Nam Cường đến cống Trà Linh I, thuộc huyện Thái Thụy quản lý

1 Đối với đê:

+ Cao trình đê đoạn cửa sông K0-K27 cao trình đê hiện tại (+4.0-+4.5)

đủ cao trình thiết kế Từ K27-K39,1, đê PAM cao trình (+4,6-+4,8) Từ K45,1 cao trình (+4.0-+4.2) thiếu mức gia thăng từ (0,2-0,6)m

K39,1-+ Mặt cắt ngang đê: Chiều rộng mặt đê hầu hết mới đạt 4m, cá biệt có đoạn từ K19-K23; K40-K41, B=2,5-3,5m, mái đê phía biển mb=3, mái đê phía đồng do quá trình canh tác và phát triển nuôi trồng thủy sản bị cắt xén nên độ

Trang 40

dốc lớn mđ=(1,5-1,7); K16-K19 được nâng cấp năm 2006, B=6m, mb=3, mđ=2,

đê không có cơ

+ Nền và thân đê: Thân đê đắp bằng nhiều loại đất khác nhau, chất lượng đắp còn hạn chế nên còn xảy ra hiện tượng rò rỉ và hang chuột, tổ mối, nhất là đoạn đê sông, hàng năm phải xử lý từ 100-150 tổ, tuy vậy vẫn còn những tổ chưa phát hiện được nên trong lũ, bão phải tăng cường kiểm tra phát hiện và xử

lý kịp thời

+ Rừng ngập mặn ven biển: Rừng ngập mặn ngoài bãi biển được trồng

và bảo vệ tốt đoạn trực diện với biển từ K27-K39, nên đã hạn chế được thiệt hại do bão và sóng biển gây ra

+ Cứng hóa mặt đê: Đê biển 7 đã cứng hóa được 3 đoạn K3-K12,5; K16; K25-K34,5 và K44,1-K45,1 tổng cộng 21,0km

K13-+ Chương trình nâng cấp đê biển: Triển khai đang thực hiện từ K13-K19, K27-K30,5, K33,3-K35,5

- Kè Thiên Kiều (K12-K13,6) còn nhiều đoạn mái kè là mái đê, bị lún, sụt, sạt lở cục bộ, bãi có chỗ lở cách chân đê còn 2-4m, hiện đang được tu sửa đoạn cuối kè K13-K13,6

- Đê, kè Thái Đô: Đoạn đầu kè từ K26,8-K31,1 mái kè bị bong xô đá nhiều đang được nâng cấp, đoạn cuối từ K31,1-K33,4 đã được củng cố xây lát

Ngày đăng: 03/10/2014, 11:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Qu ốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10, số 79/2006/QH11 (2006): Lu ật đê điều 2. Tổng cục Thủy lợi - Cục đê điều và phòng, chống lụt bão (2010): Tài liệuphục vụ Hội nghị - Tổng kết 3 năm thực hiện luật đê điều Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đê điều"2. Tổng cục Thủy lợi - Cục đê điều và phòng, chống lụt bão (2010): "Tài liệu
Tác giả: Qu ốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10, số 79/2006/QH11 (2006): Lu ật đê điều 2. Tổng cục Thủy lợi - Cục đê điều và phòng, chống lụt bão
Năm: 2010
4. Cục Quản lý đê điều và PCLB (2011): Tài liệu hướng dẫn xử lý giờ đầu, những sự cố đê điều trong mùa lũ. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn xử lý giờ đầu, những sự cố đê điều trong mùa lũ
Tác giả: Cục Quản lý đê điều và PCLB
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2011
7. Trường Đại học Thủy Lợi (2005): Giáo trình Thủy Công. NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thủy Công
Tác giả: Trường Đại học Thủy Lợi
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2005
8. Phạm Ngọc Hải và nnk (2006): Giáo trình Quy hoạch và thiết kế hệ thống thủy lợi. NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quy hoạch và thiết kế hệ thống thủy lợi
Tác giả: Phạm Ngọc Hải và nnk
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2006
9. Phạm Việt Hòa và nnk (2007): Giáo trình Quản lý hệ thống thủy lợi. NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý hệ thống thủy lợi
Tác giả: Phạm Việt Hòa và nnk
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2007
10. Hoàng Tư An (2005): Giáo trình Thủy lực công trình (dành cho cao học) . NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thủy lực công trình (dành cho cao học)
Tác giả: Hoàng Tư An
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2005
3. Tổng cục Thủy lợi – Cục đê điều và phòng, chống lụt bão (2010): Tài liệu phục vụ Hội nghị triển khai thực hiện một số công việc liên quan đến công tác quản lý về đê điều Khác
5. Cục Quản lý đê điều và PCLB (2002): Hướng dẫn thiết kế đê biển14TCN 130-2002 Khác
6. Thủ tướng chính phủ (2011): Quy chế xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển Khác
11. Nguyễn Phú Nhuận (2002-2003): Tiếp thu giải pháp khoa học công nghệ mới để thăm dò, xử lý ẩn họa hệ thống đê điều tỉnh Thái Bình Khác
12. UBND tỉnh Thái Bình – Sở NN&PTNT: Báo cáo đánh giá hiện trạng đê điều trước mùa lũ năm 2010 tỉnh Thái Bình Khác
13. UBND tỉnh Thái Bình – Ban chỉ huy PCLB tỉnh: Báo cáo phân loại trọng điểm xung yếu đê, kè, cống năm 2011 tỉnh Thái Bình Khác
14. UBND tỉnh Thái Bình – Ban chỉ huy PCLB tỉnh: Báo cáo tình hình mưa lũ, bão tỉnh Thái Bình từ năm 2000 đến năm 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình  Tỉnh Thái Bình nằm ở hạ du châu thổ sông Hồng, phía bắc giáp Thành phố  Hải Phòng, phía Nam giáp tỉnh Nam Định, phía tây giáp tỉnh Hải Dương và phía  Đông giáp biển - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình Tỉnh Thái Bình nằm ở hạ du châu thổ sông Hồng, phía bắc giáp Thành phố Hải Phòng, phía Nam giáp tỉnh Nam Định, phía tây giáp tỉnh Hải Dương và phía Đông giáp biển (Trang 10)
Bảng 1.1: Mực nước trung bình các tháng mùa kiệt - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Bảng 1.1 Mực nước trung bình các tháng mùa kiệt (Trang 14)
Bảng 1.2 : Mực nước lũ cao nhất và bão Thái Bình từ năm 1980-2010 - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Bảng 1.2 Mực nước lũ cao nhất và bão Thái Bình từ năm 1980-2010 (Trang 15)
Hình  1.2: Tổ chức thể chế quản lý đê điều ở nước ta. - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
nh 1.2: Tổ chức thể chế quản lý đê điều ở nước ta (Trang 23)
Bảng 1.3: Tình hình thiệt hại do thiên tai gây ra từ năm 1980 đến năm 2010 - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Bảng 1.3 Tình hình thiệt hại do thiên tai gây ra từ năm 1980 đến năm 2010 (Trang 50)
Bảng 2.1: Một số đặc điểm khác biệt giữa đê và đập - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Bảng 2.1 Một số đặc điểm khác biệt giữa đê và đập (Trang 59)
Hình 2. 1.  Sơ đồ các dòng thấm ở thân và nền đê - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Hình 2. 1. Sơ đồ các dòng thấm ở thân và nền đê (Trang 60)
Bảng 2.2:Tốc độ dòng nước dưới đất bắt đầu gây ra xói ngầm  Kích thước hạt - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Bảng 2.2 Tốc độ dòng nước dưới đất bắt đầu gây ra xói ngầm Kích thước hạt (Trang 73)
Hình 2.3: Phân  bố ứng suất trong cát chảy - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Hình 2.3 Phân bố ứng suất trong cát chảy (Trang 74)
Hình 2.2:  Đồ thị đánh giá khả năng phát triển xói ngầm (V.X. Istomina) - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Hình 2.2 Đồ thị đánh giá khả năng phát triển xói ngầm (V.X. Istomina) (Trang 74)
Hình 2.5: Giếng lọc ngược xử lý mạch sủi dưới đầm, ao sâu - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Hình 2.5 Giếng lọc ngược xử lý mạch sủi dưới đầm, ao sâu (Trang 83)
Hình 2.6: Lọc ngược xử lý bãi sủi ở dưới ao - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Hình 2.6 Lọc ngược xử lý bãi sủi ở dưới ao (Trang 84)
Hình 2.7:  Bố trí hố khoan trên đê - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Hình 2.7 Bố trí hố khoan trên đê (Trang 88)
Hình 2.8 : Đào hố trên thân đê chuẩn bị khoan phụt vữa bê tông (Hữu Trà Lý) - nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đê điều tỉnh thái bình nhằm đảm bảo an toàn chống lũ
Hình 2.8 Đào hố trên thân đê chuẩn bị khoan phụt vữa bê tông (Hữu Trà Lý) (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w