Xin cảm ơn các Anh, Chị ở Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản tỉnh Hậu Giang, các Anh, Chị ở phòng Nông Nghiệp các huyện Phụng Hiệp, Châu Thành, Châu Thành A và các chủ hộ khai thác thủy s
Trang 1Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Lê Xuân Sinh về sự hướng dẫn tận tình dành cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể Quý Thầy, Cô cán bộ khoa Thủy Sản – Trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức quý báu, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập cũng như thực hiện đề tài
Xin cảm ơn các Anh, Chị ở Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản tỉnh Hậu Giang, các Anh, Chị ở phòng Nông Nghiệp các huyện Phụng Hiệp, Châu Thành, Châu Thành A và các chủ hộ khai thác thủy sản ở tỉnh Hậu Giang đã giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài này
Cuối cùng xin được cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong thời gian học tập cũng như thực hiện đề tài tốt nghiệp
Tác gi ả
Trương Ngọc Trân
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2Nghiên cứu này được thực hiện tại huyện Phụng Hiệp, Châu Thành và Châu Thành A của tỉnh Hậu Giang từ tháng 02 đến tháng 07 năm 2006 Mục
tiêu của việc thực hiện đề tài này là nhằm khái quát được tiềm năng về nguồn
lợi thủy sản và hiện trạng của các hoạt động khai thác cũng như công tác bảo
vệ nguồn lợi thủy sản nước ngọt ở tỉnh Hậu Giang Từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm góp phần cải thiện hiệu quả của các hoạt động khai thác thủy sản và hiệu quả của công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong địa bàn tỉnh Tiến hành thu 32 mẫu nghề cào và 32 mẫu chất chà
Kết quả điều tra cho thấy nghề khai thác thủy sản ở tỉnh Hậu Giang phổ biến
là nghề cào và chất chà trên sông Hầu hết tàu khai thác thủy sản có trang bị máy có công suất nhỏ (dưới 20 CV) Đối với nghề cào ngư dân ở đây khai thác quanh năm (trừ mùa lũ từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 12) và phụ thuộc vào con nước Đối với nghề chất chà trên sông 1 tháng mới khai thác một lần Sản lượng đánh bắt, ở ngư trường Phụng Hiệp sản lượng trung bình từ 3-10 kg/ngày đối với nghề cào và (10-100) kg đối với nghề chất chà Nhìn chung sản lượng khai thác trên sông ngày càng giảm (giảm 62,9% so với 10 năm trước)
Độ tuổi lao động khai thác trung bình từ 30-40 tuổi, phần lớn là nam giới Lợi nhuận bình quân khoảng 52.000 đ/ngày (nghề cào) và 400.000 đ/đợt (nghề chà)
Năng suất và lợi nhuận của nghề khai thác thủy sản chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như: số năm kinh nghiệm, tuổi lao động, công suất máy, kích thước mắt lưới đụt
Phần lớn các hộ khai thác còn thiếu vốn để đầu tư vào trang thiết bị khai thác (37,5%) Bên cạnh đó do ý thức của người dân chưa cao trong việc khai thác nên gây khó khăn cho công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Ngoài ra, một số giải pháp cho quản lý nguồn lợi thủy sản cũng được đề cập trong nghiên cứu này
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3Tựa mục Trang số
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách bảng v
Danh sách hình vi
Danh sách các từ viết tắt vii
Chương 1: Đặt vấn đề 1
Giới thiệu 1
Mục tiêu nghiên cứu 2
Nội dung nghiên cứu 2
Chương 2: Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tình hình thủy sản thế giới 4
2.2 Tình hình phát triển thủy sản của Việt Nam 4
2.3 Tình hình ngành thủy sản ở ĐBSCL 6
2.4 Tình hình ngành thủy sản của tỉnh Hậu Giang 8
2.4.1 Điều kiện tự nhiên 8
2.4.2 Nguồn lợi thủy sản của tỉnh Hậu Giang 10
2.4.3 Tình hình khai thác thủy sản ở tỉnh Hậu Giang 11
2.4.4 Đánh giá chung về công tác BVNLTS và môi trường 13
2.4.5 Quản lý bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản 13
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 15
3.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu 15
3.2 Phương pháp nghiên cứu 15
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 15
3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 15
3.2.3 Phân tích hiệu quả kinh tế 16
Chương 4: Kết quả và thảo luận 17
4.1 Hiên trạng kinh tế - xã hội của các hộ tham gia khai thác thủy sản 17
4.1.1 Thông tin chung về hộ khai thác thủy sản 18
4.1.2 Các hoạt động kinh tế chủ yếu của hộ khai thác 18
4.1.3 Số nhân khẩu và lao động 19
4.2 Hiện trạng đánh bắt thủy sản ở mức độ hộ gia đình 20
4.2.1 Tài sản phục vụ cho khai thác 20
4.2.2 Kinh nghiệm, kiến thức khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 20
4.2.3 Thời gian và mùa vụ khai thác 22
4.2.4 Ngư trường hoạt động khai thác thủy sản 22
4.2.5 Sản lượng khai thác của các hộ khai thác thủy sản 23
4.2.6 Hiệu quả kinh tế của hoạt động khai thác thủy sản 25
4.2.7 Nhận thức của ngư dân về khai thác thủy sản nước ngọt 27
4.2.8 Những khó khăn và đề xuất của ngư dân trong khai thác 28
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của nghề cào30 4.4 Phân tích những thuận lợi, khó khăn, thách thức (sơ đồ SWOT) 34
Chương 5: Kết luận và đề xuất 37
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 45.2 Đề xuất 38 Tài liệu tham khảo 39
Phụ lục 41
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) theo giá so sánh 1994 phân theo
khu vực kinh tế 11
Bảng 2.2: Số phương tiện khai thác từ năm 2000 – 2004 11
Bảng 4.1: Tuổi tác và giới tính của chủ hộ khai thác 17
Bảng 4.2: Nhân khẩu và lao động trong hộ khai thác 19
Bảng 4.3: Thông tin về tàu thuyền 20
Bảng 4.4: Thống kê kích thước mắt lưới sử dụng trong họ khai thác 20
Bảng 4.5: Kiến thức về khai thác và kiến thức BVNLTS của chủ hộ 22
Bảng 4.6: Thời gian và mùa vụ khai thác 22
Bảng 4.7: Ngư trường hoạt động 23
Bảng 4.8: Sản lương đánh bắt theo ngư trường 24
Bảng 4.9: Sự thay đổi về sản lượng và kích cỡ bình quân trong khai thác 25
Bảng 4.10: Lý do thay đổi về sản lượng và kích cỡ sản phẩm 25
Bảng 4.11: Đối tượng khai thác chủ yếu 26
Bảng 4.12: Chi phí, thu nhập của hoạt động khai thác thủy sản 26
Bảng 4.13: Phương thức tiêu thụ sản phẩm khai thác 26
Bảng 4.14: Nhận thức của ngư dân về khai thác thủy sản 27
Bảng 4.15: Phân tích ma trận SWOT của hoạt động khai thác tỉnh Hậu Giang 36
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản năm 2001 – 2005 9
Hình 2.2: Bản đồ hành chính tỉnh Hậu Giang 12
Hình 4.1: Trình độ văn hóa của chủ hộ 18
Hình 4.2: Hoạt động kinh tế của hộ khai thác thủy sản 18
Hình 4.3: Kinh nghiệm khai thác của chủ hộ 21
Hình 4.4: Những khó khăn của ngư dân trong khai thác thủy sản 29
Hình 4.5: Những đề xuất của ngư dân trong khai thác thủy sản 30
Hình 4.6: Ảnh hưởng của tuổi đến năng suất của nghề cào 31
Hình 4.7: Ảnh hưởng của kinh nghiệm đến năng suất của nghề cào 32
Hình 4.8: Ảnh hưởng của số tháng khai thác/năm đến năng suất của nghề cào 33
Hình 4.9: Ảnh hưởng của công suất máy đến năng suất và lợi nhuận của nghề cào 33
Hình 4.10: Ảnh hưởng của kích thước mắt lưới đụt đến năng suất và lợi nhuận của nghề cào 34
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVNLTS : Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
ĐBSCL : Đồng Bằng Sông Cửu Long
NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển Nông Thôn
Trang 8Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng phát triển thủy sản trong khu vực châu Á Thái Bình Dương Với bờ biển dài 3.260 km, hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ và vùng đặc quyền kinh tế rộng gần 1 triệu km2
Trong nội địa, hệ thống sông ngòi chằng chịt và gần 1.400.000 ha mặt nước cùng các yếu tố nhiệt độ, môi trường, nguồn lợi thủy sản phong phú và nguồn thức ăn tự nhiên
là những điều kiện thuận lợi cơ bản để đầu tư phát triển kinh tế thủy sản
Nguồn lợi thủy sản phong phú nên được xác định là một trong những ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên cần khẳng định nguồn lợi thủy sản không phải là vô tận nếu khai thác không đi đôi với bảo vệ, tái tạo và phát triển thì nguồn lợi sẽ bị khánh kiệt Việc khai thác quá mức và không theo quy hoạch, đặc biệt là việc sử dụng các ngư cụ khai thác hủy diệt nguồn lợi thủy sản dẫn đến tình trạng giảm sút nghiêm trọng về số lượng cũng như chất lượng hải sản khai thác được Vấn đề bảo vệ môi trường sống, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thủy sản và phát triển nguồn lợi đã được nhà nước hết sức quan tâm trong những năm gần đây Nhiều chính sách khuyến khích đầu tư các nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản, các văn bản pháp quy về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Hệ thống tổ chức bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã được triển khai trên toàn quốc là điều kiện quan trọng để làm tốt công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng cực nam của Việt Nam, một vùng châu thổ rộng lớn với hệ thống các kênh rạch chằng chịt của sông Cửu long chảy qua Bờ biển dài 735 km, diện tích mặt nước nội địa khoảng 954.000 ha tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bằng phát triển mạnh cả về khai thác và nuôi trồng thủy sản, góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của vùng và cả nước
Hậu Giang là một tỉnh thuộc vùng nước ngọt của ĐBSCL Đây là một vùng đất thấp với khí hậu điều hòa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh,
có nguồn lợi thủy sản khá phong phú, chủ yếu là các giống loài tôm cá nước
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9ngọt Những thuận lợi đó giúp cho Hậu Giang có nguồn lợi thủy sản phong phú phát triển mạnh về nuôi trồng thủy sản và khai thác tự nhiên Năm 2003, sản lượng khai thác là 3.559 tấn, nuôi trồng là 10.989 tấn Năm 2005, sản lượng khai thác là 4.242 tấn, nuôi trồng là 21.916 tấn (Sở Nông Nghiệp và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2005) Tỉnh đang xây dựng vùng nuôi cá tôm với diện tích 5.000 ha, phấn đấu hằng năm đạt sản lượng 11.750 tấn cá nuôi nước ngọt
và khai thác tự nhiên cung cấp cho các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu Đặc biệt, tỉnh khai thác thế mạnh cá nước ngọt có các loại cá đồng đặc sản như: cá sặc rằn, cá rô, cá thát lát Nguồn lợi thủy sản đã mang lại nhiều lợi ích cho tỉnh Hậu Giang và ĐBSCL Tuy nhiên tình trạng khai thác thủy sản bừa bãi và sử dụng các hình thức khai thác hủy diệt (dùng xung điện, chất nổ, kích thước mắt lưới nhỏ hơn quy định) đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản tự nhiên và trực tiếp ảnh hưởng xấu tới đời sống của một bộ phận lớn cộng đống dân cư địa phương Vì vậy, các hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở vùng nước này cần được xem xét và đánh giá nhằm tìm cách quản lý tốt để duy trì và phát triển nguồn lợi thủy sản
Những lý do nêu trên đã giúp tôi có ý tưởng để thực hiện đề tài “Khảo sát tình
hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản nước ngọt ở tỉnh Hậu Giang”
nhằm tìm hiểu tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở địa phương Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm cải thiện hiệu quả các hoạt động khai thác cũng như giúp công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản được tốt hơn theo hướng khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản một cách hợp lý và lâu dài
Mục tiêu nghiên cứu
Việc thực hiện đề tài này nhằm khái quát được tiềm năng và hiện trạng của các hoạt động khai thác cũng như công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản nước ngọt ở tỉnh Hậu Giang Từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm góp phần cải thiện hiệu quả của các hoạt động khai thác thủy sản và hiệu quả của công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong địa bàn tỉnh
Nội dung nghiên cứu
i) Tổng hợp các thông tin liên quan tới các hoạt động khai thác và công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản nước ngọt ở tỉnh Hậu Giang
ii) Mô tả và đánh giá được hiệu quả của nghề cào và chất chà trong khai thác thủy sản nước ngọt tại địa bàn nghiên cứu
iii) Xác định và phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệuquả nghề cào
và nghề chất chà
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10iv) Đề xuất một số giải pháp cơ bản mang tính khả thi nhằm góp phần cải thiện hiệu quả khai thác thủy sản và hiệu quả của công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vùng nước ngọt
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11Chương 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tình hình thủy sản thế giới
Theo FAO (2002), tổng sản lượng hàng năm tăng nhanh 13% trong giai đoạn
1985 – 1995 đạt 128 – 130 triệu tấn Trong mấy năm gần đây, những biến động tương đối lớn giữa các năm Nuôi trồng thủy sản tăng rất nhanh với tốc
độ bình quân 7,6%/năm và đạt khoảng 37,5 triệu tấn vào năm 2001, chiếm 29,1% tổng sản lượng thủy sản toàn thế giới Khai thác còn chiếm tỷ trọng cao nhưng gần như không tăng do đã gần đạt mức năng suất tối đa Có khoảng 2/3 tổng sản lượng thủy sản được con người sử dụng trực tiếp, phần còn lại được chế biến dưới nhiều hình thức Trong đó khoảng 25% dùng làm bột cá trong chăn nuôi và các mục đích phi thực phẩm khác Mức gia tăng tập trung chủ yếu ở Trung Quốc, sản lượng bình quân/người/năm tăng dần: 14,3 kg/1994; 15,7 kg/1996; 15,8 kg/1997 và 16,2 kg vào n ăm 2001 (Trích dẫn bởi Lê Xuân Sinh,2005)
Theo FAO (1998), dự đoán tổng sản lượng thủy sản thế giới ở thời điểm năm
2010 có thể đạt khoảng 107–144 triệu tấn, trong đó khoảng 30 triệu tấn được dùng làm bột cá và các mục đích phi thực phẩm khác Mặc dù mỗi quốc gia có tiềm năng lớn về thủy sản đã và đang có chiến lược và các chính sách được đề
ra cho việc khai thác thủy sản Nhưng các chiến lược và chính sách này cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với nghề nuôi trồng thủy sản và biến động của các thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản trong từng quốc gia, từng khu vực và trên toàn thế giới ( Trích dẫn bởi Lê Xuân Sinh, 2005)
2.2 Tình hình ngành thủy sản của Việt Nam
Việt Nam với diện tích đất là 330.514 km2, trong đó dãi đất ven biển chỉ chiếm 24.000 km2, nhưng lại là nơi sinh sống của hơn 50% dân số cả nước Bờ biển dài hơn 3.260 km, diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu
km2 và có nhiều đảo lớn nhỏ Cùng với khai thác các nguồn lợi cá và hải sản biển, Việt Nam có một tiềm năng phong phú về các nguồn lợi thủy sản nước ngọt và nước lợ, cùng với những điều kiện tự nhiên để đẩy mạnh nuôi trồng các đối tượng thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước biển, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư và làm giàu cho đất nước Hai hệ thống sông lớn đổ ra biển: Sông Hồng và Sông Cửu Long, hệ thống sông ngòi chằng chịt
có nguồn lợi thủy sản đa dạng và phong phú (Sở Thủy Sản tỉnh Bến Tre, 2002)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12Nước ta có khoảng 2.470 loài trong 19.000 loài cá trên thế giới, tỉ lệ đa dạng sinh học trên thế giới bằng 13% Theo tài liệu thống kê gần đây, đã thống kê được 546 loài cá nước ngọt, phân loài cá nước ngọt thuộc 18 bộ, 57 họ và 228 giống (Bộ Thủy Sản, 1996) Trong số các loài cá nước ngọt nội địa, đã thống
kê 97 loài cá kinh tế nằm trong 23 họ và phân ra thành 4 nhóm chính: Các loài
cá kinh tế sống ở sông, suối thuộc lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình; các loài sống ở sông, suối thuộc lưu vực ĐBSCL, sông Đồng Nai; các loài sống ở thủy vực nước tỉnh như ao, hồ, ruộng đồng bằng; các loài cá có nguồn gốc nước mặn, lợ di cư vào nước ngọt (Đặng Ngọc Thanh, 2000)
Tổng trữ lượng cá biển ước tính khoảng 3–3.5 triệu tấn, và tổng sản lượng cho phép khai thác hàng năm ước tính khoảng 1.2–1.4 triệu tấn Trong số trên 1.700 loài cá biển có khoảng 170 loài được coi là có giá trị thương mại Khoảng 30 loài có ý nghĩa quan trọng đối với nghề cá Do giá trị kinh tế cao nên tôm là đối tượng thương mại quan trọng nhất Các loài quan trọng sau tôm gồm có cá nục, cá đù, cá trích, cá mối, cá trác, cá ngừ và cá chuồn
Việc đánh giá cho thấy phần lớn sản lượng hải sản của Việt Nam được khai thác ở các vùng ven bờ trong phạm vi độ sâu 50 m Khoảng 98,7% tổng sản lượng có thể đã được khai thác trong vùng có độ sâu 50 m Hình ảnh này cho thấy rõ là nghề cá biển Việt Nam chủ yếu là nghề cá ven bờ Trên 1.4 triệu ha diện tích mặt nước nội địa của Việt Nam đã tạo một tiềm năng cho ngành nuôi trồng thuỷ sản đầy sức sống Khoảng 548.050 ha là diện tích ruộng lúa, 397.500 ha là hồ chứa vừa và lớn; 290.200 ha là vùng triều; 84.700 ha là vùng đầm và vịnh, còn lại 58.088 ha là các ao hồ nhỏ Trên 600.000 ha đang được
sử dụng để nuôi cá theo các mô hình khác nhau Ước tính sản lượng hàng năm của nghề khai thác cá ở sông Hồng và sông Cửu Long đã giảm sút từ mức 80.000 tấn và 200.000 tấn xuống còn 10.000 tấn và 50.000 tấn Điều hiển nhiên là nguồn lợi cá ven bờ đã được khai thác trên mức cho phép đối với hầu hết các loài cá Do đó chính phủ đã nhấn mạnh rằng bất kỳ sự phát triển nghề khai thác cá biển nào cũng phải nhằm vào các nguồn lợi chưa được khai thác hết và phải giảm bớt áp lực đối với trữ lượng cá ven bờ bằng cách tìm kiếm để tạo ra các cơ hội khác mang lại công ăn việc làm
Theo thống kê của Bộ Thủy Sản (2005), các lĩnh vực về khai thác, chế biến, tiêu thụ hải sản đã đạt được bước chuyển biến rõ rệt, khai thác hải sản tiếp tục tăng Sản lượng khai thác hải sản năm 2005 đạt hơn 1,8 triệu tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2004 và bằng 103,4% kế hoạch năm Nhiều mô hình mới về hợp tác xã khai thác hải sản trên biển đã xuất hiện, phát huy tác dụng tốt, thích ứng được với việc nhiên liệu tăng giá, đồng thời hỗ trợ ngư dân ứng cứu lẫn nhau khi gặp rủi ro, tai nạn trên biển
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13Cũng trong năm 2005, ngư dân tiếp tục đóng mới tàu đánh bắt xa bờ Tổng số tàu thuyền đóng mới đến cuối năm 2005 là 90.880 chiếc, với tổng công suất là 5.317.447 CV, tăng 23% về số lượng và tăng 64% về công suất so với năm
2000 Cùng với đó, các tỉnh ven biển đã triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn, thực hiện phân cấp quản lý tàu cá, công tác đăng ký, đăng kiểm tàu cá được thực hiện khá đồng bộ
Cường độ khai thác và sử dụng nguồn lợi nước ngọt tự nhiên ở nước ta hiện nay khá cao, nguyên nhân do sản lượng thực phẩm hiện nay còn chưa đáp ứng kịp nhu cầu hàng ngày, mặt khác do những tập quán ưa dùng thủy sản nước ngọt lâu đời của nhân dân ta Do cường độ khai thác cao dễ đi đến khai thác quá mức, các biện pháp bảo vệ lại chưa chặt chẽ, nên sản lượng thủy sản nội địa đã có hiện tượng giảm sút Sản lượng thủy sản nước ngọt ở nước ta, với những thuận lợi cơ bản về mặt điều kiện tự nhiên so với những nước có ngành thủy sản nước ngọt phát triển còn chưa cao, chỉ trên 30% tổng sản lượng hải sản, trong khi Trung Quốc là 40% (Bộ Thủy sản,2002)
Tuy chưa có nhiều tài liệu và kết quả điều tra về tình hình khai thác cá nước ngọt trong nước Hiện nay việc khai thác đánh bắt tự nhiên ở Việt Nam có thể coi là đã tới mức báo động, đối với một số đối tượng đã có thể coi là quá mức, nguyên nhân chính là do khai thác quá mức hay nói cách khác là khai thác không hợp lý nguồn lợi thủy sản Vì vậy, phương hướng khai thác thủy sản tự nhiên hiện nay là khai thác cần phải đi đôi với việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
2.3 Tình hình thủy sản ở ĐBSCL
ĐBSCL có vai trò quan trọng đối với ngành thủy sản của Việt Nam cả về khai thác và nuôi trồng Với bờ biển dài 735 km và diện tích mặt nước nội địa khoảng 954 ngàn ha, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bằng phát triển mạnh về khai thác nuôi trồng, góp phần quan trọng vào nền kinh tế của vùng và cả nước Hàng năm đóng góp khoảng 50% tổng sản lượng thủy sản cả nước, 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu, đặc biệt là 80% sản lượng tôm cho xuất khẩu
ĐBSCL là một vùng đất thấp rộng 3,9 triệu ha, chiếm 71% tổng diện tích châu thổ sông Mêkông, có mạng lưới sông rạch chằng chịt, đất đai màu mỡ, ĐBSCL cũng được biết đến như là một nơi có sự phong phú về đa dạng sinh học, đặc biệt là các loài thủy sinh vật trong thuỷ vực nước ngọt và nước mặn
lợ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14Ở ĐBSCL, hàng năm có khoảng 1 triệu hecta diện tích ngập lũ trong 2 - 4 tháng Vì vậy nguồn lợi thủy sản nước ngọt rất phong phú Theo kết quả điều tra khoa học, xác định được 544 loài cá nước ngọt phân bố ở Việt Nam
Nguồn lợi thủy sản của ĐBSCL rất dồi dào về chủng loại, ở sông có: tôm càng xanh, tép trứng, tép bạc, cá làng, cá chốt, rô biển,… Nhuyễn thể có vẹm, hến,… Trong đồng ruộng có: cá lóc, cá trê, cá sặc, cá rô,…
Theo Bộ Thủy Sản (2005) thì sản lượng khai thác nội địa của Việt Nam đạt khoảng 190.000 tấn, trong đó ĐBSCL đóng góp khoảng 71%
Tình hình khai thác thủy sản ở ĐBSCL rất đa dạng và phong phú, tàu khai thác ở các vùng xa, ven bờ biển có công suất từ 45 CV trở lên Tuy nhiên, phần lớn tàu thuyền còn thiếu thông tin
Phương tiện khai thác trên sông và nội đồng với công suất nhỏ (nhỏ hơn 20CV) và ngư cụ thô sơ Thời gian khai thác cũng khác nhau tùy theo từng loại ngư cụ, mùa nước, ngư trường, hoạt động từ sông lớn đến kênh mương, nội đồng ruộng lúa Có nhiều phương pháp đánh bắt cá tôm tự nhiên được áp dụng trong vùng nước ngọt, đặc biệt là cào, đáy, chất chà, giăng lưới, câu, đặt đăng - lợp Một mô hình bắt cá tôm tự nhiên có thể dùng từ một đến nhiều phương pháp, việc dùng xiệc điện bắt cá đã xuất hiện nhiều, một số người dân còn dùng nhiều hóa chất, chất độc để đánh bắt cá tôm tự nhiên
Lượng cá tôm bắt ở vùng ngập lũ của ĐBSCL chủ yếu từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 11 âm lịch (tương ứng với thời gian có mực nước lũ cao trong năm) Trung bình một hộ có thời gian hoạt động này có thể đánh bắt bình quân 237,3 kg/năm Nhìn chung sản lượng cá tôm tự nhiên thu được bởi các hộ tham gia khai thác có thể được sử dụng theo nhiều cách, trong đó để lại ăn trong gia đình chiếm 38%, phần lớn được đem bán ra ngoài chiếm 58,9%, và
có khoảng 3,1% còn lại có thể dùng cho bà con hàng xóm (Lê Xuân Sinh, 2000)
Nhưng nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng cạn kiệt do con người với những phương tiện khai thác hủy diệt hàng loạt gây nên, ô nhiễm môi trường, những thay đổi về thời tiết,… tác động mạnh đến nguồn lơi thủy sản, cùng với những chính sách quản lý không chặt chẽ Hiện nay việc khai thác và bảo vệ nguồn lợi cần phải được bảo vệ và quan tâm hơn nữa
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 152.4 Tình hình ngành thủy sản của tỉnh Hậu Giang
2.4.1 Điều kiện tự nhiên
Theo Cục Thống Kê Tỉnh Hậu Giang (2005) Tỉnh Hậu Giang là tỉnh mới được tách ra từ tỉnh Cần Thơ (để trở thành một tỉnh mới trực thuộc Trung Ương) là 1 trong 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành ĐBSCL Hậu Giang nằm tại khu vực trung tâm của tiểu vùng Tây Nam Sông Hậu, có vị trí trung gian giữa vùng thượng lưu châu thổ Sông Hậu (An Giang, Cần Thơ) với vùng ven biển Đông (Sóc Trăng, Bạc Liêu) và cũng là vùng nằm giữa hệ thống Sông Hậu chịu ảnh hưởng của triều biển Đông với hệ thống Sông Cái Lớn chịu ảnh hưởng của triều biển Tây
Tỉnh Hậu Giang với tổng diện tích 1.607,73 km2 vị trí địa lý: 105019’39” -
105053’39” Kinh độĐông; 90
34’59” - 9059’39” Vĩ độ Bắc
- Phía Bắc giáp thành phố Cần Thơ
- Phía Nam giáp Tỉnh Sóc Trăng
- Phía Tây giáp Tỉnh Kiên Giang và Tỉnh Bạc Liêu
- Phía Đông giáp sông Hậu và Tỉnh Vĩnh Long
Khí hậu và thời tiết: Khí hậu điều hòa, ít bão, quanh năm nóng ẩm không có mùa lạnh Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Sông ngòi tỉnh Hậu Giang nằm ở trung tâm ĐBSCL, giữa một mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt như: sông Hậu, sông Cái Tư, kênh Quản Lộ Phụng Hiệp, kênh Xà No
Những thuận lợi đó giúp cho Hậu Giang có nguồn lợi thủy sản phong phú tạo
ra tiềm năng lớn để phát triển mạnh về cả nuôi trồng thủy sản và khai thác tự nhiên
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16Hình 2.2: Bản đồ hành chính tỉnh Hậu Giang
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 172.4.2 Nguồn lợi thủy sản của tỉnh Hậu Giang
Hậu Giang là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi với địa hình thấp và bằng phẳng, khí hậu ôn hòa, có nguồn nước ngọt phong phú, hệ thống sông ngòi chằng chịt tạo nên nhiều dạng thủy vực khác nhau, thích hợp cho sự phát triển của nhiều loài thủy sản Sau thế mạnh cây lúa, nuôi thủy sản được xác định là thế mạnh thứ hai trong chương trình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh
Về thủy sản, tỉnh có tiềm năng lớn về cá nước ngọt và tỉnh đang xây dựng vùng nuôi cá tôm là 5.600 ha, phấn đấu hằng năm đạt sản lượng 11.750 tấn cá nuôi nước ngọt và 15.750 tấn thủy sản nước ngọt khai thác tự nhiên cung cấp cho các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu Đặc biệt, tỉnh khai thác thế mạnh cá nước ngọt có các loại cá đồng đặc sản như: cá sặc rằn, cá rô, cá thát lát Loại cá thát lát đang được các nhà khoa học cho sinh sản nhân tạo thành công Loài cá này làm nguyên liệu chế biến chả cá phục vụ thị trường nội địa
và xuất khẩu (www.haugiang.gov.vn)
Theo số liệu thống kê của tỉnh, năm 2005 Hậu Giang có diện tích ngập nước quanh năm và theo thời vụ khoảng 125.000 ha, trong đó có tới 54.000 ha có thể đưa vào nuôi thủy sản Nghề nuôi trồng thủy sản ở Hậu Giang trong ít năm gần đây chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh nhưng theo
số liệu thống kê cho thấy đây là nghề có tiềm năng rất lớn và có khả năng phát triển nhanh Chỉ trong vòng 5 năm diện tích nuôi thủy sản tăng lên rỏ rệt từ 5.939 ha (năm 2001) lên 8.500 ha (năm 2005), tốc độ tăng bình quân 9,2
%/năm Năm 2005 tổng sản lượng là 26.158 tấn tăng 30% so với năm 2004 Khai thác là 4.242 tấn, giảm 75 tấn so với năm 2004 Nuôi là 21.916 tấn, tăng 6.216 tấn so với năm 2004
Giá trị sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2004 thực hiện đạt 3.836,43 tỉ đồng, chiếm tỉ trọng 39,37% tổng giá trị sản xuất trên địa bàn Kết quả này cho thấy kinh tế Hậu Giang khi thành lập tỉnh chủ yếu là kinh tế nông nghiệp (với dân số ở khu vực nông thôn là 84,8% tổng dân số toàn tỉnh) và hiệu quả của kinh tế nông nghiệp ở khu vực nông thôn là khá thấp gần 85% dân số chỉ tạo ra khoảng 39% giá trị nền kinh tế
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Bảng 2.1 Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) theo giá so sánh 1994 phân theo khu vực kinh tế
Tổng GDP toàn tỉnh 2.332.048 2.649.396 2.871.985 3.182.328 Tổng GDP nông nghiệp 1.227.331 1.331.186 1.363.699 1.486.248 Giá trị sản xuất ngành
Nguồn Cục Thống Kê tỉnh Hậu Giang (2004)
Năm 2004 ngành thủy sản tạo ra giá trị tăng thêm 117.385 tỉ đồng (giá so sánh năm 1994) Trong đó chủ yếu là thủy sản nuôi trồng chiếm tỉ trọng khoảng 74,4% giá trị tăng thêm của ngành thủy sản, phần còn lại là khai thác thủy sản nước ngọt (24,3%) và các dịch vụ thủy sản (1,3%)
Về cơ sở thức ăn:do đa dạng về loại hình thủy vực (sông, hồ, ao, ruộng lúa nước, đầm phá…) đã tạo nên sự đa dạng sinh học thủy vực như thành phần loài đặc trưng, cấu trúc thành phần loài, đặc điểm phân bố, số lượng… cho từng loại thủy sản vực Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới đã ảnh hưởng thuận lợi cho khả năng sinh trưởng và phát triển của các quần xã sinh vật quanh năm
Nền cơ sở thức ăn tự nhiên tương đối phong phú, đặc biệt là sinh vật nổi, vi khuẩn nước: mật độ thực vật nổi tại các hồ của vùng đồng bằng có thể tới hàng triệu, thậm chí hàng chục triệu tế bào/lít
2.4.3 Tình hình khai thác thủy sản ở tỉnh Hậu Giang 2.4.3.1 Tàu thuyền, lao động
Số lượng tàu khai thác trên sông không nhiều, hầu hết tàu khai thác thủy sản
có trang bị máy công suất nhỏ (dưới 20 CV)
Bảng 2.2 Số phương tiện khai thác từ năm 2000-2004
Nguồn Cục Thống Kê tỉnh Hậu Giang (2004)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19Tổng số lao động của tỉnh Hậu Giang: 497.669 người, trong đó lao động phi nông nghiệp chiếm 20%, còn lại là lao động nông nghiệp, GDP bình quân đầu người: 4.529.600 đồng/năm
2.4.3.2 Sản lượng khai thác nội địa
Sản lượng thủy sản Hậu Giang tăng khá nhanh chủ yếu trong lĩnh vực nuôi trồng, nghề khai thác nội địa chỉ chiếm một phần nhỏ do nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh ngày càng giảm sút Sản lượng nuôi trồng và khai thác nội địa năm 2001 đạt 10.328 tấn, đến năm 2005 ước tăng 20.200 tấn, tốc độ tăng bình quân 19%/năm
024681012141618
Tấn/năm
Sản lượng nuôi trồng Sản lượng khai thác
Hình 2.1: Sản lượng nuôi trồng và đánh bắt năm 2001- 2005
Nguồn Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở tỉnh Hậu Giang (2005)
Nghề khai thác thủy sản chủ yếu là đặt đáy, cào, vó, chất chà ở sông sản lượng không đáng kể, hầu hết tàu khai thác thủy sản có trang bị máy công suất nhỏ (dưới 20 CV)
Trong những năm gần đây nguồn lợi thủy sản tự nhiên trên địa bàn tỉnh Hậu Giang giảm sút nhanh Có nhiều nguyên nhân làm ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản song qua nghiên cứu và thực tiễn cho thấy có hai nguyên nhân chủ yếu:
+ Nguồn lợi thủy sản giảm sút do quá trình chết tự nhiên + Do tác động của con người đến môi trường sinh sống của thủy sản Tình trạng khai thác không hợp lý, do ý thức của người dân trong việc sử dụng các
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20công cụ đánh bắt thủy sản chưa cao, vẫn còn nhiều vụ sử dụng xung điện, lưới
có kích thước mắt lưới nhỏ hơn qui định để khai thác thủy sản (Năm 2005 thu giữ 1.646 bộ xiệc điện và 8 ghe cào vi phạm khai thác thủy sản )
2.4.4 Đánh giá chung về công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường
Nhìn chung tỉnh Hậu Giang có điều kiện tự nhiên và nguồn lợi thủy sản tương đối thuận lợi để phát triển nghề thủy sản một cách đa dạng Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế, khó khăn như:
- Nhận thức của người dân về phát triển thủy sản theo hướng bền vững gắn với phát triển cộng đồng chưa cao
- Tình hình an ninh bảo vệ sản xuất đối với nghề nuôi thủy sản trong nông thôn chưa làm người sản xuất an tâm, vẫn còn nhiều vụ liên quan đến xiệc điện, thuốc cá gây ảnh hưởng rất xấu đến phong trào phát triển nuôi thủy sản trong tỉnh
- Tín dụng cho phát triển khai thác thủy sản tự nhiên và nuôi thủy sản còn rất
+ Nghề hạn bị hạn chế: các nghề khai thác nước ngọt, bắt cá đi đẻ từ đồng ra sông như vó bè, lờ, lợp, đăng chắn, bao chà
- Qui định mức sản lượng cho phép khai thác làm căn cứ cho việc quy hoạch,
kế hoạch khai thác, tổ chức hậu cần dịch vụ thích hợp ở các vùng nước, để đảm bảo tái sinh tự nhiên các loài thủy sản, đảm bảo năng suất khai thác lâu dài và đời sống của ngư dân (Chi cục BVNLTS Trà Vinh, 1996)
Từ đầu năm 2005 đến nay các huyện đã thu giữ 1.646 bộ xiệc Trong đó, vận động nộp 781 bộ xiệc và tịch thu 865 bộ xiệc (trong đó phạt tiền 116 bộ xiệc với số tiền 28.600.000 đồng và phạt cảnh cáo (thu giữ tang vật) 750 bộ xiệc Bắt 8 ghe cào vi phạm (sử dụng dynamo để khai thác thủy sản) trong đó phạt 6 với số tiền 2.700.000 đồng, tịch thu tiêu huỷ 2 dynamo) Tất cả các vụ vi phạm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21đều do địa phương xử phạt Từ đầu năm 2005 các huyện đã tổ chức 203 cuộc tuyên truyền về bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho 6.080 người
- Đẩy mạnh thực hiện kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ Đạo 01 về chương trình hành động cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy
sản (xem Phụ lục D)
- Thống kê tình hình sử dụng xung điện của các hộ dân trên địa bàn tỉnh
- Tiếp tục hướng dẫn thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận đăng ký ghe cào cho các hộ hành nghề khai thác thủy sản trên sông, rạch
- Phác thảo văn bản pháp quy, trình UBND tỉnh Hậu Giang ký ban hành với
nội dung Các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản
2.4.5.2 Công tác quản lý
- Đã cấp 8 giấy chứng nhận đăng ký tàu cá cho các hộ hành nghề ghe cào trên
địa bàn tỉnh Hậu Giang
- Kiểm tra điều kiện vệ sinh các cơ sở sản xuất kinh doanh giống thủy sản (42
cơ sở), cơ sở sản xuất thuốc thú y thủy sản (1 cơ sở) và các cửa hàng kinh
doanh thuốc thú y, thức ăn thủy sản (126 cửa hàng)
- Chứng nhận 26 bản công bố chất lượng về con giống thủy sản cho các cơ sở kinh doanh giống
- Cấp 18 giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc thú y thủy sản - thức
ăn thủy sản và 18 chứng chỉ hành nghề mua bán thuốc thú y thủy sản
2.4.5.3 Công tác thanh tra, kiểm tra
- Cùng với các cơ quan chức năng ở địa phương tiến hành kiểm tra các phương tiện đánh bắt thủy sản ở huyện Phụng Hiệp, Châu Thành, Châu Thành
A Qua đợt kiểm tra ghe cào đoàn thanh tra đã kiểm tra 4 ghe cào Trong đó có
1 ghe vi phạm, do sử dụng dynamo để đánh bắt thủy sản và đã giao cho địa phương xử lý
- Cùng với thanh tra sở nông nghiệp & PTNT Hậu Giang thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra các cơ sở kinh doanh giống thủy sản trên địa bàn tỉnh Hậu Giang Kết quả đã kiểm tra 30 cơ sở, đa số các cơ sở này đều chưa có bằng cấp chuyên môn, sổ theo dõi quá trình sản xuất kinh doanh theo qui định của Bộ Thủy Sản Qua đó đoàn thanh tra đã nhắc nhở và hướng dẫn chủ các cơ sở thực hiện đúng theo qui định
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đã được thực hiện từ tháng 2 năm 2006 đến tháng 7 năm 2006
Công tác dã ngoại để thu số liệu được tiến hành ở tỉnh Hậu Giang Việc nhập,
xử lý, phân tích số liệu và viết báo cáo được tiến hành tại khoa Thủy sản trường Đại học Cần Thơ
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thông tin cần thu thập gồm 2 loại
+ Thông tin thứ cấp: Các nghiên cứu trước đây, các báo cáo của tỉnh cùng với các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
+ Thông tin sơ cấp: Là những thông tin được thu trực tiếp từ các ngư dân khai thác thủy sản ở địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp thu số liệu
+ Đối với thông tin thứ cấp: Liên hệ với các cơ quan, ban ngành ở địa bàn nghiên cứu để thu thập thông tin thứ cấp hoặc thư viện, website, báo chí…
+ Đối với thông tin sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp ngư dân khai thác tại địa bàn tỉnh Hậu Giang bằng cách sử dụng bảng câu hỏi được soạn sẵn và đã được hiệu chỉnh sau khi thử
+ Số mẫu đã thu:
Do điều kiện về nhân lực, thời gian và kinh phí nên đề tài chỉ thực hiện khảo sát với 2 loại hình ngư cụ chủ yếu là nghề cào và nghề chất chà với tổng số hộ được phỏng vấn là 64 Tiến hành thu ở huyện Phụng Hiệp 17 mẫu ghe cào và
22 mẫu chất chà, huyện Châu Thành A 10 mẫu ghe cào và 6 mẫu chất chà, còn
5 mẫu ghe cào và 4 mẫu chất chà là ở huyện Châu Thành
3.2.2 Phân tích hiệu quả kinh tế:
- Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi phí + Tổng thu = Sản lượng * Giá bán + Tổng chi phí = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi + Chi phí cơ hội Chi phí cố định: Khấu hao sữa chữa máy móc, trang thiết bị
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23Chi phí biến đổi: Thức ăn, dầu, nhớt, nước đá,
- Hiệu quả chi phí = Tổng thu/Tổng chi phí
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu thu được kiểm tra, bổ sung hoặc điều chỉnh và mã hóa trước khi nhập vào máy tính Phần mềm dùng để xử lý số liệu và viết báo cáo là Microsoft Word 2003, Microsoft Excel 2003 và SPSS version 10 for Windows
- Sau khi nhập vào máy tính số liệu được kiểm tra lần cuối trước khi tiến hành
xử lý và phân tích thống kê
- Các phương pháp sau đây đã được sử dụng:
+ Thống kê mô tả: Các chỉ số thống kê mô tả đơn giản như giá trị trung bình,
độ lệch chuẩn, tầng suất, tỷ lệ % được dùng để mô tả diện tích khai thác, hiện trạng kỹ thuật khai thác, các đặc trưng kinh tế xã hội của nông hộ Dựa trên các chỉ số này tiến hành so sánh, phân tích và rút ra nhận xét
+ Thống kê so sánh: so sánh sự khác biệt của nghề cào và nghề chất chà
+ Phân tích tương quan đa biến các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhận của nghề cào, còn nghề chất chà do không đủ các yếu tố nên không phân tích tương quan đa biến
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội của các hộ tham gia khai thác thuỷ sản
4.1.1 Thông tin chung về hộ khai thác thuỷ sản 4.1.1.1 Độ tuổi và giới tính của chủ hộ
Theo kết quả điều tra cho thấy: các hộ có tuổi trung bình từ 30–40 đều ở độ tuổi trung bình Trong đó nghề cào ở độ tuổi này chiếm 50%, thấp nhất là ở độ tuổi trên 60 chiếm 6,3% Tuy nhiên đối với nghề chà thì ở độ tuổi 40–50 chiếm 40,6% và không có hộ nào trên 60 tuổi Qua kết quả điều tra cho thấy tuổi tác thường thể hiện kinh nghiệm khai thác
Sự phân bố giới tính ở Bảng 4.1 cho thấy nam giới giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động đánh bắt thuỷ sản, nữ giới ít tham gia vào hoạt động khai thác điều này cho thấy sự phân công lao động phụ thuộc vào tính chất đặc thù của nghề
Bảng 4.1 Độ tuổi và giới tính của chủ hộ khai thác
4.1.1.2 Trình độ văn hoá của chủ hộ
Hình 4.1 thể hiện trình độ văn hóa của các chủ hộ là không đồng đều Các chủ
hộ có trình độ văn hóa ở cấp 3 là rất ít, chiếm tỉ lệ nhỏ (1,6%) Số chủ yếu là
từ cấp 2 trở xuống Đối với nghề cào, các chủ hộ có trình độ văn hóa ở cấp 1 chiếm đến 37,5%, chỉ có 3,1% là chủ hộ có trình độ văn hóa ở cấp 3 Tuy nhiên nghề chà thì tỉ lệ mù chữ lại chiếm số lượng lớn 37,5%, không có hộ nào
có trình độ văn hóa cấp 3 trở lên
Kết quả khảo sát cho thấy các chủ hộ tham gia vào hoạt động đánh bắt thủy sản phần lớn có trình độ văn hóa không cao, do đó các hộ còn thiếu nhiều hiểu biết về lĩnh vực này và sẽ gây bất lợi cho công tác khuyến ngư đến các nông
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25hộ Vì vậy đây là điểm cần chú ý trong việc tuyên truyền đến nhóm đối tượng này
0.0 5.0 10.0 15.0 20.0 25.0 30.0 35.0 40.0
Tỉ lệ (%)
Cào Chà
Hình 4.1 Trình độ văn hoá của chủ hộ
4.1.2 Các hoạt động kinh tế chủ yếu của hộ khai thác
Ngoài việc tham gia trực tiếp vào khai thác thuỷ sản, đa số các nông hộ vùng khảo sát còn tham gia vào các nghề khác để tăng thu nhập cho gia đình như: trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Trong đó, đánh bắt thủy sản kết hợp với trồng trọt chiếm tỷ lệ cao 23%, so với các nghề khác như: chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản (Hình 4.2) Các hộ ở đây chủ yếu là làm ruộng là chính Một số hộ thì vừa đánh bắt vừa chăn nuôi chiếm tỷ lệ 14,1% Bên cạnh đó, có một số hộ vừa đánh bắt thủy sản vừa chăn nuôi kết hợp với trồng trọt để đem lại hiệu quả kinh tế cao
NTTS Khai thác+
Trồng trọt Trọt+Chăn nuôiHình 4.2 Hoạt động kinh tế của hộ khai thác thủy sản
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26Theo kết quả điều tra, các hộ khai thác thường tham gia vào nhiều hoạt động (Phụ lục A3) Điều này cho thấy nghề khai thác thủy sản chưa thực sự là ngành nghề chính của rất nhiều ngư dân ở vùng nghiên cứu
4.1.3 Nhân khẩu và lao động
Lao động trong ngành nông nghiệp có những đặc điểm riêng so với những ngành khác Trước hết, là tính thời vụ cao, lao động trong ngành nông nghiệp
có xu hướng thu hẹp về số lượng và chuyển 1 số bộ phận sang các ngành khác Ngành công nghiệp với những lao động trẻ, khoẻ, có trình độ học vấn và kỹ thuật Vì thế, số lao động ở lại trong nông nghiệp thường là những người có độ tuổi trung bình cao và tỷ lệ này có xu hướng tăng lên Tuy nhiên, đó là đặc điểm chung của tất cả các ngành nghề nông nghiệp mà ngành khai thác thủy sản cũng không thể loại trừ
Khi nói đến lao động của hộ thì hầu hết nam giới thường liên quan đến các hoạt động có tính chất nặng nhọc như: đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, trồng trọt với tỷ lệ cao hơn so với nữ giới Phụ nữ thường liên quan đến các công việc nhẹ nhàng hơn như: nông nghiệp, buôn bán với tỷ lệ cao hơn nam giới, (Bảng 4.2) Trong các hộ đánh bắt thủy sản, số thành viên trong nông hộ ảnh hưởng đến kết quả đánh bắt của nông hộ, thường thì những nông hộ đông người hơn
sẽ có nhiều thành viên tham gia hoạt động đánh bắt hơn
Bảng 4.2 Nhân khẩu và lao động của chủ hộ
Nghề
Số người trung bình (người/hộ)
Số LĐGĐ tgia kthác % Nam % Nữ
4.2 Hiện trạng đánh bắt thủy sản ở mức độ hộ gia đình
4.2.1 Tài sản phục vụ cho khai thác 4.2.1.1 Thông tin về tàu thuyền
Nghề cào trên sông hầu hết sử dụng tàu đánh bắt thủy sản có trang bị máy với công suất nhỏ (16 CV), chiếm 93,8% số hộ kết hợp với tàu có tải trọng trung bình khoảng 2,3 tấn, máy mà các hộ thường sử dụng để đánh bắt thường là D15, chiếm 46,9%, số hộ còn lại (6,3%) thì sử dụng thuyền chèo Riêng với nghề chất chà trên sông thì không cần sử dụng tàu thuyền có trang bị máy có công suất để đánh bắt thủy sản, (Bảng 4.3)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27Bảng 4.3 Thông tin về tàu thuyền
Loại nghề Thuyền máy Xuồng chèo
Trọng tải
Công suất (CV)
4.2.1.2 Thông tin về ngư cụ khai thác
Lưới kéo (cào) hoạt động theo nguyên lý lọc nước lùa cá ở phần cánh lưới và phần thân lưới và giữ cá phần đụt lưới Kích thước mắt lưới của cả 2 nghề tương đối giống nhau, nghề chất chà chỉ có 1 kích cỡ dao động trong khoảng 10–25 mm, trung bình là 17,7 mm (B ảng 4.4) Ở nghề cào phần đụt kích cỡ trung bình là 18,4 mm dao động trong khoảng 10–20 mm Có những hộ sử dụng kích thước mắt lưới phần đụt tương đối nhỏ là 12 mm, điều này vi phạm nghiêm trọng quy định của nhà nước về bảo vệ nguồn lợi Có hộ chấp hành đúng thì rất ít Theo kết quả điều tra thì đa phần ngư dân nơi đây khai thác thủy sản đều vi phạm quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, một phần cũng
do sự thiếu giám sát, kiểm tra chặt chẽ của cơ quan quản lý Đối với nghề chất chà thì không quy định kích cỡ mắt lưới, họ chỉ kiểm soát sự cản trở dòng chảy của nghề này Hiện tại thì nghề chất chà đã bị cấm ở các huyện nhưng các ngư dân vẫn lén lút khai thác
Bảng 4.4 Bảng thống kê kích thước mắt lưới của chủ hộ sử dụng khai thác Loại
Kích thước mắt lưới đụt (mm)
Kích thước mắt lưới thân (mm)
Kích thước mắt lưới cánh (mm)
(10 - 20)
21,1 (15 - 25)
25,4 (22 - 28)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28nước lũ về (sau cơn bão số 5, 1997) nên cá, tôm trong ao nuôi tràn ra ngoài nhiều, nhờ vậy mà khôi phục được một phần sản lượng thủy sản tự nhiên đã bị mất đi Điều đó cho thấy nuôi trồng được xem là điều kiện để phát triển ngành thủy sản
72%
14%
<10 10-19.5 20-29.5 30-39.5
Hình 4.3 Kinh nghiệm khai thác thủy sản của chủ hộ
4.2.2.2 Kiến thức khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Đa số các chủ hộ đều không quan tâm đến kiến thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản nghề cào (59,4% số hộ), nghề chà (68,8% số hộ) Phần còn lại là do người dân
tự tìm hiểu thông tin về bảo vệ nguồn lợi thủy sản chỉ chiếm 34,4% và 31,3% cho 2 loại nghề cào và chà
Còn về kiến thức khai thác thủy sản người dân tham gia đánh bắt thủy sản chủ yếu là theo kinh nghiệm (53,1% số hộ) đối với nghề cào, (40,6% số hộ) đối với nghề chà Bên cạnh đó một số hộ thì đánh bắt theo cha truyền con nối và một phần thì biết được thông qua người quen, bạn bè (Bảng 4.5)
Tóm lại, ngư dân khai thác phần lớn do kinh nghiệm và do gia truyền Điều này cho thấy các lớp tập huấn dành cho người khai thác còn nhiều hạn chế, lĩnh vực này ít được quan tâm Vì vậy kiến thức khai thác của họ còn nhiều hạn chế, do đó người dân khai thác chỉ vì nguồn lợi trước mắt mà không nghĩ đến hậu quả lâu dài của nó Và với những ngư cụ đánh bắt chưa được trang bị tốt (do thiếu vốn đầu tư) đây cũng là một trong những nhân tố làm cho đời sống người dân gặp nhiều khó khăn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29Bảng 4.5 Kiến thức về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của chủ hộ Loại
nghề Chỉ tiêu
Kinh nghiệm
Gia truyền
Từ bạn
bè
Tự tìm hiểu
Không quan tâm
4.2.3 Thời gian và mùa vụ khai thác
Mùa vụ đánh bắt thủy sản là quanh năm Đối với nghề cào là khoảng 7-8 tháng/năm, trừ những tháng nước lũ (từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 12) là không đánh bắt được Thông thường việc đánh bắt được thực hiện vào những lúc nước ròng trong ngày Trung bình số ngày khai thác là khoảng 21–22 ngày/tháng Riêng nghề chất chà thì chất quanh năm nhưng mỗi tháng thì đánh bắt 1 lần và cũng tránh những tháng nước lũ không khai thác được (Bảng 4.6) Bảng 4.6 Thời gian và mùa vụ khai thác
Thời gian đánh bắt Loại nghề Mùa vụ
Số ngày /tháng Số tháng /năm
(15 - 25)
7,3 (6 - 12) Chà
Quanh năm
4.2.4 Ngư trường hoạt động khai thác thủy sản
Người dân ở đây đánh bắt thủy sản chủ yếu ở những khúc sông gần nhà khoảng từ vài chục mét đến vài trăm mét để thuận tiện cho việc đi và về nhà Riêng huyện Phụng Hiệp có hệ thống sông lớn nhỏ, chằng chịt Do đó số lượng người tham gia hoạt động khai thác thủy sản như cào sông và chất chà chiếm số lượng lớn nhất trong 3 huyện là 53,2% đối với cào và 68,8% đối với chất chà Có thể coi đây là huyện khai thác thủy sản nội đồng trọng điểm của tỉnh Hậu Giang Huyện Châu Thành A thì sản lượng ít hơn chủ yếu là nghề cào sông chiếm 31,3% còn chất chà chỉ là nghề phụ của các hộ gia đình chiếm 18,8% Riêng huyện Châu Thành thì rất ít người làm người khai thác thủy sản trên sông, nghề cào và chà ở đây rất ít phát triển, chỉ có vài hộ làm nghề cào (15,6%) và nghề chất chà (12,5%) Qua tìm hiểu thì nghề cào ở huyện Phụng Hiệp là nghề có truyền thống nhiều năm của các hộ gia đình, thu nhập tương
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30đối ổn định với ngư trường nhiều tiềm năng nên nghề cào sông nơi đây đang
có xu hướng phát triển (Bảng 4.7)
Bảng 4.7 Ngư trường hoạt động
Đối với ngư trường ở Châu Thành A, người dân khai thác trên tuyến sông nối với kênh xáng Xà No Đây là con sông đánh bắt chính của huyện nhưng sản lượng không cao lắm, trung bình khoảng 5,4 kg/ngày, dao động từ 3-7 kg/ngày (Bảng 4.8) Đa số người dân ở đây phải đánh bắt ở ngư trường khác Vì nguồn lợi thủy sản ở đây ngày càng cạn kiệt do sự vô tình hay thiếu ý thức của một
số người nông dân thải thuốc bảo vệ thực vật từ đồng ruộng ra sông làm cho
cá tôm chết hoặc phải di cư đi nơi khác Mặt khác sự xuất hiện của một số loài
cá có giá trị kinh tế thấp (cá lau kiếng) hoặc không theo mong muốn của ngư dân (cá tạp) xuất hiện nhiều làm cho thu nhập của người dân không đủ sống dẫn đến tình trạng đổi nghề hoặc khai thác với ngư cụ cấm như: sử dụng xung điện, kích thước mắt lưới nhỏ hơn quy định để đánh bắt ngày càng nhiều
Còn ở huyện Châu Thành, họ khai thác chủ yếu dựa vào nguồn lợi thủy sản của sông Hậu là chính Tuy nhiên sản lượng đánh bắt của từng hộ ngư dân có
sự biến động rất lớn 9-100 kg/nghề cào và 10-120 kg/nghề chất chà Do nơi đây một số hộ sử dụng xung điện để khai thác nên sản lượng tăng đột biến nó không đại diện cho sản lượng bình quân đầu người được
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 31Qua số liệu khảo sát cho thấy sản lượng khai thác thủy sản trung bình không đồng đều, có hộ rất thấp có hộ thì lại rất cao Phần lớn là do thiếu vốn đầu tư vào trang thiết bị khai thác Nhưng để tăng thu nhập cho gia đình các hộ không ngần ngại sử dụng các ngư cụ cấm để đánh bắt Mặc dù biết làm như vậy thì một ngày không xa nguồn lợi thủy sản sẽ không còn nữa Nhìn chung, mật độ thủy sản còn lại trên sông ngày càng giảm Số hộ khai thác ngày càng tăng mà phần lớn lại sử dụng xung điện để đánh bắt nên cá con và cá bố mẹ đều dần dần cạn kiệt Đây là vấn đề cấp thiết cần được quan tâm giảm bớt và loại trừ Bảng 4.8 Sản lượng khai thác theo ngư trường
Loại nghề Tên ngư trường N Sản lượng trung bình ĐLC
(3 - 10) ± 2,2
(3 - 7) ± 1,2 Cào
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32cơ sở để phát triển bền vững và nuôi trồng được xem là điều kiện để phát triển ngành thủy sản
Bảng 4.9 Sự thay đổi về sản lượng khai thác theo thời gian
% sản lượng còn lại so với % kích cỡ còn lại so với Loại
nghề 5 năm trước 10 năm trước 5 năm trước 10 năm trước
Tuy nhiên mặc dù sản lượng thay đổi đáng kể nhưng qua khảo sát đa số các hộ cho rằng kích cỡ theo thời gian vẫn không thay đổi (100% đối với nghề chất chà), (95% đối với nghề cào) so với 10 năm trước, nếu có chỉ một phần nhỏ không đáng kể
4.2.5.3 Lý do thay đổi sản lượng, kích cỡ bình quân
Lý do chính thay đổi sản lượng kích cỡ là do ô nhiễm môi trường, thuốc cá tôm trên sông (chủ yếu là do hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật) gây ra sự thay đổi lớn 53,4% số hộ nghề cào và 87,5% số hộ nghề chà, (Bảng 4.10) Một số còn lại là do nhiều người khai thác bừa bãi, ý thức về bảo vệ nguồn lợi thủy sản chưa cao
Bảng 4.10 Lý do thay đổi về sản lượng và kích cỡ khai thác bình quân
Chà
4.2.6 Hiệu quả kinh tế của hoạt động khai thác thủy sản 4.2.6.1 Đối tượng khai thác chủ yếu
Đối với nghề cào là ngư cụ đánh bắt chủ động, lọc nước để lùa cá vào lưới nên
có thể bắt tất cả các loài thủy sản mà nó đi qua Các đối tượng chính bắt được là: cá bống, tép, tôm và một số cá tạp Nghề chà thì đánh bắt chủ yếu là cá mè vinh, thát lát, tôm cộng với một số cá tạp (Bảng 4.11)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu