Các số liệu về tàu thuyền, nghề nghiệp khai thác, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực hải sản, công tác quản lý Nhà nước về thuỷ sản sản tại địa phương được thu thập tại Sở Nông n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi,
số liệu sử dụng trong Luận văn là trung thực Các số liệu phỏng vấn thu mẫu thống kê về
năng suất, sản lượng kinh tế nghề cá, điều tra thực địa trên ngư trường là kết quả tham gia
của tôi thực hiện trong các chuyến điều tra và kết hợp trong các chuyến kiểm tra trên biển
Các số liệu về tàu thuyền, nghề nghiệp khai thác, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh
vực hải sản, công tác quản lý Nhà nước về thuỷ sản sản tại địa phương được thu thập tại Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh
Hòa và phòng chuyên môn, các huyện và thành phố có quản lý khai thác thuỷ sản
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội dung nghiên cứu trong Luận văn này
Người cam đoan
Đàm Hải Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thuỷ sản và các phòng ban của Trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập;
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến: Tiến sĩ Nguyễn Đức Sĩ - Trưởng Bộ môn Hàng Hải -Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thuỷ sản Trường Đại học Nha Trang, đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này; Tiến sĩ Hoàng Văn Tính; Tiến sĩ Trần Đức Phú; Tiến sĩ Hoàng Hoa Hồng và các thầy giáo giảng dạy lớp cao học Công nghệ Khai thác Thủy sản, khóa học 2011-2013 đã tận tình giảng dạy để tôi hoàn thành khóa học, nâng cao nhận thức chuyên môn để hoàn thành luận văn này;
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Khai thác Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa; Viện Hải dương học Nha Trang, Cục Khai thác
và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, các phòng chuyên môn, các huyện, thị xã và thành phố có quản lý thuỷ sản và các bạn đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan, đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu cần thiết để hoàn thành luận văn này Xin cảm ơn tới toàn thể cán bộ công chức, viên chức Ban quản lý Vịnh Nha Trang đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học cao học và làm đề tài luận văn thạc sĩ
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.1 Các nghiên cứu về KBTB trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.1.1 Các nghiên cứu về KBTB trên thế giới 14
1.1.2. Các khu bảo tồn biển và ven biển tại Việt Nam 15
1.2 Khái quát về khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang 18
1.2.1 Vị trí địa lý 19
1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội 19
1.2.3. Hiện trạng môi trường và đa dạng sinh học trong KBTB 21
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Nội dung nghiên cứu 26
2.1.1 Thực trạng hoạt động khai thác thủy sản trong KBTB vịnh Nha Trang 26
2.1.2 Thực trạng công tác quản lý khai thác, bảo vệ nguồn lợi và đa dạng sinh học trong KBTB vịnh Nha Trang 26
2.1.3 Thực trạng công tác quản lý KBTB vịnh Nha Trang 26
2.1.4 Đề xuất giải pháp 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 27
2.2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp 27
2.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thực trạng khai thác thủy sản trong khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang 29
3.1.1 Tàu thuyền các loại nghề khai thác 29
3.1.2 Thực trạng hoạt động đánh bắt của tàu thuyền trên vịnh Nha Trang 31
3.2.2 Sự tham gia của các bên liên quan 42
3.2.3 Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức 45
3.2.4 Công tác tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm về BV NLTS 47
3.2.5 Công tác phát triển cộng đồng 50
3.3 Thực trạng công tác quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang 51
Trang 63.3.1 Công tác chỉ đạo quản lý KBTB vịnh Nha Trang 51
3.3.2 Mô hình tổ chức quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang 52
3.3.3 Thiết lập các tổ chức cộng đồng và huy động sự tham gia của cộng đồng vào quá trình quản lý KBTB 58
3.3.4 Đánh giá hiệu quả quản lý KBTB vịnh Nha Trang 61
3.4 Đề xuất giải pháp 64
3.4.1 Các giải pháp chung về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 64
3.4.2 Giải pháp nâng cao năng lực quản lý đối với các cơ quan hữu quan và nâng cao nhận thức của cộng đồng 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1 Kết luận 73
2 Kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 78
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
BV&PTNLTS Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
KT&BVNLTS Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
QLDVCĐ Quản lý dựa vào cộng đồng
QLNCDVCĐ Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng
DTSQTG Dự trữ sinh quyển thế giới
NGO - NGOs Tổ chức phi chính phủ - Các tổ chức phi chính phủ
DANIDA Cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch
DCE Chương trình hợp tác phát triển Đan Mạch – Việt Nam trong lĩnh
vực môi trường LMPA Hợp phần sinh kế bền vững bên trong và xung quanh các khu bảo
tồn biển (thuộc DCE) - Bộ NN&PTNT IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
WWF Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên
WAP Liên minh đất ngập nước quốc tế
UNESCO Tổ chức Văn hóa-Khoa học-Giáo dục Liên hiệp quốc
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Phân bố số lượng tàu thuyền theo nghề (< 90CV) 29
Bảng 3.2: Thống kê các phường có tàu hoạt động nghề lưới kéo trong vịnh Nha Trang 31
Bảng 3.3: Tỷ trọng trung bình các nhóm thương phẩn trong một mẻ lưới kéo 33
Bảng 3 4: Phân bố số lượng tàu thuyền nghề lưới rê hoạt động trong vịnh Nha Trang 34
Bảng 3.5: Tỷ trọng trung bình các nhóm thương phẩn trong một mẻ lưới rê 35
Bảng 3.6: Chiều dài trung bình của một số đối tượng chính của nghề lưới rê 36
Bảng 3 7: Thống kê nghề pha xúc hoạt động quanh khu bảo tồn biển Hòn Mun 36
Bảng 3.8: Ngư trường đánh bắt nghề pha xúc 37
Bảng 3 9: Tỷ trọng trung bình các nhóm thương phẩm trong từng mẻ lưới nghề pha xúc 37 Bảng 3 10: Thống kê nghề mành hoạt động quanh KBTB Hòn Mun 38
Bảng 3 11: Tỷ trọng trung bình các nhóm thương phẩn trong một mẻ lưới rê 39
Bảng 3 12: Tóm tắt đối tượng, mùa vụ, vùng khai thác theo nghề. 39
Bảng 3.13: Tổng hợp số vụ vi phạm quy chế KBTB vịnh Nha Trang về KTTS các năm 49
Bảng 3 14: Kế hoạch phân vùng và mục tiêu của mỗi vùng trong KBTB Hòn Mun [1] 55
Bảng 3 15: Những lợi ích quan trọng nhất của KBTB vịnh Nha Trang 59
Bảng 3 16: Các chỉ tiêu về hiệu quả quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang 62
Bảng 3 17: Phân tích SWOT hiện trạng quản lý trong KBTB vịnh Nha Trang 62
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Phân bố rạn san hô trong Vịnh Nha Trang 9
Hình 1.2: Vịnh Nha Trang 19
Hình 1.3: Độ phủ cao của san hô sống Porites(cận cảnh) và Montipora spp., Đông Bắc Hòn Tre [30] 22
Hình 1.4: Thảm cỏ biển đơn loài Halophila ovalis tại Đầm Tre 23
Hình 3 1: Biến động số lượng tàu thuyền theo nghề 30
Hình 3 2: Ngư trường đánh bắt nghề lưới kéo 32
Hình 3 3: Tỷ lệ trung bình nhóm thương phẩm trong một mẻ lưới của nghề lưới kéo 33
Hình 3 4: Ngư trường đánh bắt nghề lưới rê 35
Hình 3 5: Tỷ lệ trung bình các nhóm thương phẩm trong đánh bắt nghề lưới rê 36
Hình 3 6: Ngư trường đánh bắt nghề Mành 38
Hình 3 7: Tỷ lệ nhóm thương phẩm chính của nghề Mành 39
Hình 3 8: Pa nô tuyên truyền về KBTB vịnh Nha Trang ở Hòn Mun 45
Hình 3 9: Giáo dục về bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học trong trường học ở KBTB vịnh Nha Trang 46
Hình 3 10: Hội trại bảo vệ môi trường, bảo tồn ĐDSH biển vịnh Nha Trang 47
Hình 3 11: Thu gom rác ở Hòn Một và trồng rừng ngập mặn ở Đầm Bấy 47
Hình 3 12: Canô tuần tra của đội tuần tra KBTB vịnh Nha Trang tại Hòn Mun 48
Hình 3 13: Số lượng các vụ vi phạm KTTS trong KBTB qua các năm 49
Hình 3 14: Bản đồ phân vùng quản lý KBTB vịnh Nha Trang 56
Hình 3 15: Hệ thống phao neo tàu thuyền KBTB vịnh Nha Trang 57
Hình 3 16: Sơ đồ phối hợp giữa BQL KBTB với các cơ quan liên quan 58
Hình 3 17: Tỷ lệ người dân đánh giá về hiện trạng nguồn lợi 60
Hình 3 18: Người dân các khóm đảo tham gia bắt sao biển gai 60
Hình 3 19: Tỷ người tham gia giáo dục cộng đồng 61
Hình 3 20: Phụ nữ các khóm đảo tham gia chương trình giáo dục bình đẳng giới và diễn văn nghệ chào mừng ngày quốc tế phụ nữ 61
Trang 10MỞ ĐẦU
Vịnh Nha Trang có diện tích 249,65 km2; trong đó diện tích mặt biển là 211,85
km2 và diện tích các đảo nằm trong vịnh là 37,8 km2 [18], có hệ thống sinh thái rất đa dạng, là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển Các nhà khoa học đã phát hiện được trên 26 loài cá có giá trị thương mại, trên 200 loài cá sống ở tầng đáy, 30 loài cá sống nổi ven bờ, 33 loài cá sống ở cửa sông và 176 loài cá sống ở các rạn san hô Nhưng quan trọng hơn cả là phát hiện được trên 350 loài san hô sống trong ranh giới Khu bảo tồn biển [29] Vịnh Nha Trang là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới, được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng Di tích quốc gia, là danh lam thắng cảnh theo Quyết định số 14/2005/QĐ-BVHTT ngày 25/3/2005
Vịnh Nha Trang có 9 hòn đảo lớn, nhỏ với 5 cụm dân cư đó sinh sống lâu đời tại đây: Trí nguyên, Vũng Ngán, Hòn Một, Đầm Bấy, Bích Đầm với tổng dân số hiện nay khoảng 5.168 người và 1.138 hộ Trong đó, cụm dân cư Trí Nguyên có dân số đông nhất với số dân 3.253 người và 730 hộ [3]
Thành phố Nha Trang có 3.128 tàu thuyền đánh bắt thủy sản, trong đó khai thác trong Vịnh Nha Trang trên 2.000 chiếc, số còn lại đánh bắt các ngư trường ngoài tỉnh Các ngành nghề đánh bắt trong Vịnh Nha Trang gồm nghề lưới rê, nghề câu, nghề lưới vây rút chì, mành trũ, lưới cước, lưới quét… Trong đó, loại tàu có công suất nhỏ hơn 20cv chiếm khoảng trên 35% Lực lượng này thường xuyên khai thác và khai thác quá mức ở vùng ven bờ, và đây là nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi thủy sản vùng ven
Đa số nuôi tập trung tại Hòn Miếu, Vũng Ngán, Hòn Một, Đầm Bấy và Bích Đầm
Ngoài ra, Vịnh Nha Trang có nhiều đơn vị, cá nhân tổ chức các dịch vụ du lịch trên Vịnh như: Công ty Cổ phần Du lịch và Thương mại Vinpearl trên đảo Hòn Tre, Công ty Cổ phần Du lịch Biển Hòn Tằm Nha Trang trên đảo Hòn Tằm, Công ty TNHH
du lịch Trí Nguyên- Nha Trang, Công ty TNHH Nhà nước MTV Yến Sào Khánh Hòa, Công ty Cổ phần Đại Hòa (khu du lịch ở Đầm Bấy) trên đảo Hòn Tre…và trên 15 Câu
Trang 11lạc bộ bơi, lặn …, trên 200 tàu thuyền du lịch cả canô làm dịch vụ đưa đón khách du lịch đi tham quan trên các tuyến đảo và nhiều dịch vụ nhà hàng, khách sạn trên các đảo
và ven bờ bên trong và xung quanh Vịnh Nha Trang [3] Các dịch vụ du lịch này rất phong phú, nhiều loại hình dịch vụ vui chơi như: du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng,
du lịch khám phá, du lịch tham quan, các trò chơi mạo hiểm, cảm giác mạnh
Vịnh Nha Trang nói chung và Hòn Mun nói riêng có tính đa dạng sinh học khá cao Một trong những hệ sinh thái nổi bật và quan trọng nhất là hệ sinh thái rạn san hô Kết quả khảo sát đa dạng sinh học và nơi sinh cư khu bảo tồn biển cho thấy, Hòn Mun
là nơi có rạn san hô phong phú và đa dạng nhất Việt Nam Nó có tầm vóc quốc tế vì có
số loài tương tự như ở trung tâm thế giới về đa dạng san hô ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, người ta đã tìm thấy 65 giống san hô cứng, 350 loài rạn san hô trong tổng
số hơn 800 loài san hô cứng trên thế giới (chiếm 40% tổng số loài san hô thế giới) Do địa thế của đảo Hòn Mun nói riêng và cụm đảo Vịnh Nha Trang nói chung rất gần với dòng hải lưu nóng từ phía xích đạo đưa tới nên thích hợp với điều kiện phát triển của san hô và nhiều loại sinh vật biển nhiệt đới, đáy biển vùng Hòn Mun là một tập hợp quần thể sinh vật biển phong phú, đa dạng, là nơi quan sát, nghiên cứu rất lý thú, bổ ích cho các nhà nghiên cứu sinh vật biển, hải dương học và du khách muốn tìm hiểu về biển [7]
Các rạn san hô và dải san hô có chức năng để chắn sóng tự nhiên, bảo vệ các vùng
bờ thấp tránh xói mòn Các rạn san hô cũng góp phần vào việc bồi tích đất thông qua việc bồi đắp thêm cát vào các bãi biển Bên cạnh đó, các rạn san hô cũng là môi trường tốt để các loài thủy sinh sinh sản và phát triển như cá rạn, tôm, tôm hùm, hải sâm, v.v Ngoài ra, với vẻ đẹp tự nhiên, sự phong phú về mặt sinh học, đa dạng về màu sắc, vùng nước trong lành là những đặc điểm tốt để chúng trở thành các khu vực giải trí được ưu chuộng thu hút du khách trong và ngoài nước tới khám phá
Trang 12Hình 1.1: Phân bố rạn san hô trong Vịnh Nha Trang Rạn san hô và các sinh vật biển là những loài vốn rất nhạy cảm với những thay đổi của môi trường nước Tuy nhiên, hiện đang có những vấn đề ảnh hưởng đáng kể tới chất lượng nước trong vịnh Nha Trang như hàm lượng các trầm tích, chất phù dưỡng và các chất thải rắn Các chất thải này phần lớn từ các con sông và các hoạt động phát triển trên đất liền Đây thực sự là vấn đề cần phải được quan tâm một cách toàn diện Bên cạnh đó, rạn san hô đang phải đối diện với nhiều mối đe dọa bởi việc sử dụng quá mức các nguồn lợi trong vịnh, chẳng hạn như đánh bắt quá mức, thả neo lên rạn san hô, phát
triển du lịch và các mối đe dọa từ đất liền cũng như từ các vùng đảo trong vịnh
Vịnh Nha Trang là nơi tập trung nhiều tiềm năng cho phát triển kinh tế cảng và giao thông biển; nuôi trồng và đánh bắt thủy sản; du lịch và kinh tế đảo Trong những năm qua, những thế mạnh đặc thù của Vịnh, trong đó có du lịch, đã và đang được khai thác có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Về chủ trương quy hoạch, vịnh Nha Trang chỉ dành riêng phục vụ cho du lịch biển
và các dịch vụ vui chơi giải trí, thể thao trên biển Tuy nhiên về cơ chế quản lý, quy chế phối hợp chưa được phê duyệt
Nhiều tàu thuyền khai thác thủy sản ở các địa phương lân cận vào vịnh Nha Trang đánh bắt vẫn chưa được kiểm soát Vùng vịnh Nha Trang là nơi có giá trị đa dạng sinh học cao, số lượng loài san hô và độ che phủ cao nhất ở nước ta nhưng hiện nay chưa được bảo vệ tốt thường xuyên bị các tàu thuyền đánh cá xâm hại đặc biệt là các mùa cao điểm của lưới mành, trũ và giã cào, có ngày tập trung đến 3- 4 chiếc tại một khu vực nhỏ
Trang 13Hiện nay mặt nước trong vịnh Nha Trang, đặc biệt trong vùng nhạy cảm vẫn bị người dân địa phương và người dân từ bên ngoài đến khai thác quá mức, áp lực đánh bắt cá hiện nay lớn hơn rất nhiều so với mức sinh thái bền vững
Trong vịnh và ven vịnh Nha Trang xuất hiện những hiện tượng đáng lo ngại ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, đó là: Khai thác, vận chuyển san hô để bán làm quà lưu niệm, làm hòn non bộ vẫn còn diễn ra tại một số nơi; làm bẫy nhử tôm hùm con thả khắp vịnh Tình trạng du khách giẫm đạp lên san hô, tàu thuyền đánh cá bằng lưới trũ, lưới kéo trên rạn san hô gây gẫy vỡ
Sự gia tăng cường lực khai thác quá mức bao gồm sự tăng nhanh số lượng và công suất tàu thuyền ở vùng ven bờ là một trong những nguyên nhân chủ yếu Thêm vào đó,
cơ cấu nghề nghiệp khai thác bất hợp lý, khai thác mang tính hủy diệt cùng với hàng loạt vấn đề bất cập, hạn chế về thể chế, khung pháp luật; cơ chế và khả năng tổ chức quản lý, giám sát; đầu tư cho bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; trình độ dân trí, điều kiện kinh tế xã hội của ngư dân vùng ven biển đang là những vấn đề đặt ra một cách cấp thiết trong lĩnh vực quản lý nghề cá hiện nay Trong đó, việc tìm ra phương thức quản lý nghề cá phù hợp với điều kiện nghề cá quy mô nhỏ của Việt Nam hiện nay
đã và đang là vấn đề cấp bách đặt ra cho các nhà khoa học, các nhà quản lý từ Trung ương đến các địa phương nghề cá
Năng lực của cơ quan quản lý và sức mạnh phối hợp các bên liên quan còn chưa đủ
để quản lý một không gian rộng lớn và một nghề cá quy mô nhỏ hết sức đặc thù của khu bảo tồn biển Trong khi đó, phương thức quản lý chưa hình thành rõ ràng để huy động một nguồn sức mạnh to lớn của cộng đồng Vì vậy, kết quả quản lý, bảo tồn biển chưa đạt được như mong muốn, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững Với thực tế đó, việc vận dụng và phát triển các phương thức quản lý nghề cá hợp pháp mới có hiệu lực hơn, khả thi hơn, ít tốn kém hơn, phù hợp với điều kiện thực tế của KBTB vịnh Nha Trang là vấn đề hết sức cần thiết Tuy nhiên, cho đến nay một kế hoạch quản lý tổng hợp, bảo vệ phát triển vịnh Nha Trang còn chưa được thực hiện và điều này sẽ là một yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững vịnh Bên cạnh đó một số văn bản còn chồng chéo, chưa sát với tình hình thực tế tạo khoảng hở trong công tác quản lý, làm cho công tác quản lý gặp nhiều khó khăn, bất cập
Chính vì vậy, vấn đề cơ bản đặt ra đó là cần có giải pháp quản lý hiệu quả đối với phát triển bền vững vịnh Nha Trang, và là cơ sở cho những nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp, góp phần hạn chế những tác động tiêu cực và phát huy những tác động
tích cực trong quá trình phát triển
Trang 14Xuất phát từ yêu cầu thực tế đã nêu, tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang”
Kết cấu của Luận văn gồm các phần sau:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hiện nay, có nhiều tổ chức đưa ra các định nghĩa khác nhau về khu bảo tồn biển Theo Tổ chức Bảo tồn thế giới (IUCN) 1988, một khu bảo tồn biển được định nghĩa như sau: “ Một khu vực nào đó thuộc vùng triều hoặc dưới triều, cùng khối nước phía trên và các khu hệ động, thực vật, các đặc điểm lịch sử và văn hóa đi kèm được bảo hộ bởi pháp luật hoặc các biện pháp tích cực nhằm bảo vệ một phần hoặc toàn bộ môi trường tại đó” [6]
Khu bảo tồn biển bao gồm một vùng biển (thường gồm những vùng đất và những vùng ven biển) được quản lý thông qua một hệ thống pháp lý và những phương tiện quản lý hiệu quả khác nhằm bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học hoặc nguồn lợi tự nhiên và các giá trị về văn hóa trong vùng [20]
Theo Nghị định 27/2005/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Thủy sản, KBTB được định nghĩa như sau: “Khu bảo tồn biển là vùng biển được xác định (kể cả đảo có trong vùng biển đo) có các loài động vật, thực vật, có giá trị và tầm quan trọng quốc gia hoặc quốc tế về khoa học, giáo dục, du lịch, giải trí được bảo vệ và quản lý theo quy chế của khu bảo tồn” [22]
Khu bảo tồn biển trong Quy chế tạm thời quản lý KBTB Hòn Mun được hiểu: Là một vùng biển mà đa dạng sinh học cùng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các đặc điểm lịch sử, văn hóa đi kèm được quản lý, duy trì và bảo vệ theo quy định của pháp luật [1]
Các khu bảo tồn biển được thành lập nhằm đạt được rất nhiều những mục tiêu khác nhau Mục tiêu chung chủ yếu hiện nay là:
Bảo tồn đa dạng sinh học là một mục tiêu của các khu bảo tồn biển, nếu không xét đến sự mở rộng đặc biệt về giải trí của chúng [20]
Bảo tồn đa dạng gen: Các khu bảo tồn biển và ven bờ có thể giúp duy trì các ngân hàng gen theo một số cách Chúng bảo vệ những loài bị nguy hiểm, bị đe dọa, loài hiếm, loài có giá trị như những nguồn gen đã tuyệt chủng của địa phương Bảo tồn gen
là quan trọng nhằm duy trì sự phù hợp của loài, với tất cả các quan hệ mật thiết về kinh
tế và xã hội Bảo tồn đa dạng là quan trọng như nhau đối với việc duy trì các loài bản
xứ, giúp để duy trì tính toàn vẹn của các quần xã sinh vật [20]
Bảo vệ những loài có giá trị về mặt thương mại: Một trong những điều quan trọng
là duy trì năng suất cho ngành thủy sản- một ví dụ rõ ràng của một quá trình sinh thái
Trang 16trực tiếp hỗ trợ cho phúc lợi kinh tế của con người Các hệ sinh thái có khả năng sản xuất tự nhiên, như các rạn san hô và vùng của sông, cung cấp miễn phí những gì mà nghề nuôi hải sản tốn kém nhưng hiếm khi có thể đáp ứng được sản lượng cá liên tục Ở nhiều nơi trên thế giới, hải sản cung cấp phần lớn protein động vật và sinh kế cho người dân Ở Châu Phi, nghề thủy sản thủ công cung cấp số lượng lớn cá cho người dân địa phương, những thủy sản này được xem là bị khai thác một cách đầy đủ, với một số đang bị khai thác bên ngoài mức bền vững mà không có giới hạn nào để nuôi sống dân
số ngày càng tăng Vì nhu cầu ngày càng tăng với sự phát triển kinh tế và sự gia tăng dân số, thủy sản không được quản lý một cách tiêu biểu cho sự bền vững; sự đóng góp của chúng đối với thực phẩm quốc gia và thu nhập là đang giảm và có lẽ sẽ tiếp tục giảm Các KBTB có thể giúp làm bền vững những ngành thủy sản như thế Việc bảo vệ những nơi cư trú nguy cấp có thể cần thiết để duy trì nguồn lợi thủy sản hoặc ngăn chặn
“sự tuyệt chủng về mặt kinh tế” của các loài quan trọng về mặt thương mại Nhiều loài
có giá trị về mặt thương mại hiện không còn bị đe dọa với sự tuyệt chủng sinh học nhưng vì bị khai thác một cách nặng nề nên chúng có thể bị “đe dọa về mặt thương mại”[20]
Bảo vệ khỏi những rủi ro thiên nhiên: Một chức năng quan trọng thường bị đánh giá thấp của những hệ sinh thái dọc theo những bãi ngang là sự bảo vệ ven bờ khỏi những thảm họa thiên nhiên Sự bảo vệ này là đặc biệt quan trọng ở các nơi rạn san hô viền bờ, rạn san hô chắn và rừng ngập mặn giúp bảo vệ những cánh đồng trũng ven bờ, những thảm thực vật, và những ngôi làng nhỏ khỏi sự tàn phá của bão nhiệt đới Cũng quan trọng đối với những vùng ven bờ cao năng được đặc trưng bởi những đụn cát được làm ổn định bởi những thảm thực vật đất đặc trưng phù hợp với môi trường đụn cát khắc nghiệt Những đảo chắn và những đảo cát là những ổ sinh thái động bảo vệ các quần xã ven bờ khỏi sóng, bão- hình dạng và vị trí của chúng xác định bởi hướng gió thịnh hành, dòng chảy, sóng và những ảnh hưởng ổn định của rạn và thảm thực vật Sự can thiệp với các quá trình xây dựng đảo và sự ổn định có thể dẫn đến sự mất mát giá trị bảo vệ đó Những KBTB có thể giúp bảo vệ an toàn những môi trường nhạy cảm như thế [20]
Giải trí và du lịch: Nơi nào có ngành du lịch trong những KBTB thì dành riêng những khu vực du lịch đặc biệt cho bơi lội, lặn ống thở, và những môn thể thao dưới nước khác Điều này sẽ khuyến khích khách du lịch và làm giảm tối thiểu xung đột với những hình
Trang 17thức sử dụng khác như đánh cá Đồng thời nó còn có thể tách riêng những người sử dụng ngành du lịch xung đột với nhau như những người bơi lội và tàu cao tốc [20]
1.1 Các nghiên cứu về KBTB trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Các nghiên cứu về KBTB trên thế giới
Trên thế giới, theo thống kê của Graeme et al, 1995 có khoảng 1.306 khu bảo tồn biển [20] Sự phân bố về mặt số lượng có sự khác nhau lớn giữa các vùng biển; vùng biển có nhiều khu bảo tồn biển nhất là Úc, New Zealand với 260 KBTB, ít nhất là vùng biển Trung Tâm Ấn Độ Dương chỉ đạt 15 KBTB
Về mặt kích thước, cũng có sự khác nhau lớn giữa các KBTB Kích thước trung bình trên 100.000 ha Tuy nhiên, con số này rất mất cân đối bởi số lượng các KBTB thật sự lớn là tương đối nhỏ, phần lớn là những khu bảo tồn tương đối nhỏ; trung vị là 1.584ha [20]
Dữ liệu về hiệu quả quản lý còn sơ sài Sự khó khăn của việc có được những thông tin đó cho thấy sự thiếu vắng chung của việc đánh giá hiệu quả quản lý Mức độ quản lý đã được phân loại theo các mức: Cao - KBTB đã đạt được các mục tiêu quản lý đặt ra; Trung bình - khi KBTB đạt được một phần các mục tiêu quản lý; Thấp - không đạt được các mục tiêu quản lý [20]
Xét về mức độ quản lý của 383 KBTB được đánh giá thì chỉ có 117 KBTB đạt hiệu quả quản lý cao, nghĩa là nhìn chung đạt được các mục tiêu quản lý của chúng, 155 KBTB đạt mức trung bình, 111 KBTB không đạt được các mục tiêu và quản lý hiệu quả thấp [20]
Những lý do mà các KBTB không đạt được các mục tiêu quản lý của chúng thay đổi giữa các vùng biển Tuy nhiên, có thể tóm tắt thành một số lý do như sau: Thứ nhất, các KBTB thiếu nguồn kỹ thuật, nhân viên được huấn luyện và và tài chính để triển khai và thực hiện các kế hoạch quản lý Thứ hai, thiếu dữ liệu mà từ đó có thể đưa ra các quyết định quản lý bao gồm các thông tin về các tác động của việc sử dụng nguồn lợi và hiện trạng các nguồn lợi về sinh học Thứ ba, hầu hết các KBTB đều thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng và những người sử dụng không sẵn lòng tuân thủ những qui chế quản
lý, thường là do những người này đã không tham gia một cách đầy đủ đáng kể vào việc xây dựng những luật lệ này cũng như việc không thực hiện đầy đủ các quy chế của KBTB Thứ tư, các tác động từ các hoạt động ở vùng biển và đất bên ngoài ranh giới các KBTB, bao gồm ô nhiễm, khai thác quá mức và sử dụng không bền vững nguồn lợi
Trang 18trong KBTB Cuối cùng là sự thiếu trách nhiệm tổ chức, quản lý rõ ràng và không có sự hợp tác giữa các cơ quan có trách nhiệm liên quan tới các KBTB Việc đạt được sự quản lý có hiệu quả các KBTB đang tồn tại và sự thiết lập các KBTB mới có sự ưu tiên bằng nhau Ở phần lớn các khu vực, một số lượng đáng kể các KBTB chỉ tồn tại trên giấy tờ mà không có kế hoạch quản lý nào và không có hoạt động quản lý nào cả [20] Một số KBTB được quản lý mang lại hiệu quả tốt trên thế giới: Một ví dụ về KBTB đa chức năng là KBTB đặc biệt đảo Cousin, một KBT chim đất và biển ở Seychelles, đồng thời cũng bảo tồn cả rùa biển, rạn san hô và thực vật, và bao gồm cả nghiên cứu và hạn chế du lịch trong những mục tiêu của nó Khu bảo tồn Great Barrier Reef của Úc là KBTB thành công với hiệu quả quản lý tổng hợp Chính phủ đã thiết lập một chế độ quản lý đa dụng qua khu vực 300.000km2 này Khu vực này được phân vùng nhằm tách riêng các hoạt động không tương hợp với nhau và bảo tồn những địa điểm đó nhằm sử dụng chúng một cách đúng đắn nhất Những khu vực ví dụ là các khu công viên quốc gia biển, các khu nghiên cứu khoa học, các khu bảo tồn, các khu bổ sung, và các khu đóng cửa theo mùa [20]
1.1.2 Các khu bảo tồn biển và ven biển tại Việt Nam
Hoạt động bảo tồn thiên nhiên biển được có thể được tính từ năm 1986 khi vườn quốc gia Cát Bà được thành lập với diện tích phần biển khoảng 5400 ha Tuy nhiên, hoạt động bảo tồn ở đây chủ yếu tập trung vào khu vực rừng Tiếp theo đó, vườn quốc gia Côn Đảo với phần biển được đưa vào bảo vệ năm 1993 Giống như vườn quốc gia Cát Bà, vườn quốc gia Côn Đảo chưa được chính thức công nhận là khu bảo tồn biển ở Việt Nam Tuy nhiên, vườn quốc gia Côn Đảo với nhiều hỗ rợ của chính phủ, của tỉnh
và các tổ chức quốc tế như WWF, Danida, ADB đã đạt được những kết quả bước đầu Nhiều chương trình bảo tồn biển đã và đang được triển khai như bảo tồn rùa biển, nghiên cứu giám sát rạn san hô và thảm cỏ biển, bảo tồn Du- Gong Các cán bộ những vườn quốc gia này cũng được đào tạo về quản lý rừng, giáo dục môi trường và quản lý tài nguyên biển Tuy có những hoạt động kể trên, nhưng hệ thống biển và ven biển quan trọng ở Việt Nam phần lớn chưa được quản lý và hệ thống khu bảo tồn chỉ mới bắt đầu được hình thành ở tỉnh Khánh Hòa Cho đến nay, nước ta đã có 5 KBTB được thành lập
và đi vào hoạt động là: Vịnh Nha Trang (Khánh Hòa), Cù lao Chàm (Quảng Nam), Phú Quốc (Kiên Giang), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Núi Chúa (Ninh Thuận)
Trang 19Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang: Tháng 1 năm 2001, chính phủ Việt Nam (Bộ Thủy sản) và các cơ quan tài trợ (WB / GEF, Danida) và IUCN đã thảo luận thực hiện
dự án trình diễn KBTB Hòn Mun ở vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa UBND tỉnh Khánh Hòa đã phê duyệt quy định tạm thời về Ban quản lý KBTB Hòn Mun Nằm trong vùng có giá trị ĐDSH hệ sinh thái san hô cao nhất ở Việt Nam (350 loài san hô,
220 loài cá, 106 loài nhuyễn thể, 18 loài da gai và các loài vi tảo ) (Dự án KBTB Hòn Mun, 2003), cách thành phố Nha Trang khoảng 10 km vùng bảo tồn được dự kiến khoảng 122 km2 bao gồm vùng biển bao quanh các đảo Hòn Mun, Hòn Một Hòn Nọc, Hòn Tre, Hòn Miếu, Hòn Tằm, Hòn Cau, Hòn Vung có tổng diện tích đất là 38 km2 Mục tiêu của dự án là giúp cộng đồng dân cư ở trên đảo cải thiện cuộc sống của họ và cùng với các đối tác bảo vệ và quản lý có hiệu quả ĐDSH biển tại Hòn Mun để trở
thành mô hình quản lý KBTB tại Việt Nam Mục tiêu này có thể thành công thông qua việc thành lập một khu vực đa mục đích và phân vùng phù hợp Điều này có thể giúp bảo vệ các hệ sinh thái rạn san hô, rừng ngập mặn và cỏ biển có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế
Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm: Sau KBTB vịnh Nha Trang, tháng 10 năm 2003 KBTB Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam được chính phủ (Bộ Thủy sản) phối hợp với các bên liên quan và chính phủ Đan Mạch phối hợp thực hiện thành lập KBTB Cù Lao Chàm được thành lập theo mô hình của KBTB vịnh Nha Trang Dự án có nguồn vốn hỗ trợ là một triệu đô la, thực hiện trong 3 năm, bắt đầu từ tháng 10/ 2003 KBTB Cù Lao Chàm có diện tích lớn hơn 5000ha, gồm 8 hòn đảo, với 3.500 dân, sống bằng nghề khai thác thủy sản là chủ yếu Về đa dạng sinh học có khoảng 250 loài san hô, hơn 200 loài
cá rạn và các hệ sinh thái tiêu biểu như rạn san hô, thảm cỏ biển [28]
Tháng 12/2005, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quy chế quản lý KBTB Cù Lao Chàm, quy định cụ thể về phân vùng chức năng KBTB, chế độ pháp lý cụ thể cho từng vùng cũng như quy định trách nhiệm phối hợp thực hiện của các sở, ban, ngành, địa phương trong tỉnh Ban quản lý KBTB Cù Lao Chàm được thành lập, đơn vị sự nghiệp thuộc UBND tỉnh Quảng Nam Công tác quản lý của KBTB Cù Lao Chàm được tiến hành theo hướng đồng quản lý và xây dựng kế hoạch quản lý tổng hợp cho KBTB [28]
Khu bảo tồn biển Phú Quốc: được thành lập vào tháng 01 năm 2007, KBTB Phú Quốc nằm trên hai khu vực: khu phía Đông bắc, Đông nam và khu phía Nam quần đảo
Trang 20An Thới thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Trong đó, vùng thảm cỏ biển thuộc hai xã Hàm Ninh và Bãi Thơm, vùng rạn san hô nằm quanh các hòn của quần đảo An Thới Diện tích mặt nước của KBTB Phú Quốc là 26.863,17 ha, trong đó vùng bảo vệ nghiêm ngặt 2.952,45 ha, vùng phục hồi sinh thái rộng 13.592,95 ha và vùng phát triển 10.317,77 ha Đặc trưng đa dạng sinh học của KBTB: đã thống kê được 1.079 loài thực vật bậc cao trên cạn, 150 loài động vật hoang dã, 98 loài rong biển, 89 loài san hô cứng,
19 loài san hô mềm, 1 loài thủy tức hình san hô, 132 loài thân mềm, 9 loài giáp xác, 32 loài da gai, 125 loài cá rạn san hô, 6 loài thú biển trong đó có loài bò biển (Dugong), 1
loài rùa biển (đồi mồi Eretmochelys imbicata) [21]
Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ: Nhằm mục đích thành lập KBT loài, sinh vật cảnh gồm: hệ sinh thái rạn san hô và các loài động thực vật quý hiếm Năm 2009, KBTB Cồn Cỏ được thành lập với tổng diện tích KBTB là 4.532 ha bao gồm ba phân khu chức năng (Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái và phân khu phát triển) , một vùng phát triển cộng đồng và vành đai KBTB Cồn Cỏ Về đa dạng sinh học, hiện đã thống kê được 118 loài thực vật trên cạn, 52 loài rong biển (trong đó có 2 loài mới cho Bắc Việt Nam), 108 loài san hô cứng, 10 loài san hô mềm và 1 loài thủy tức hình san hô, 108 loài động vật đáy (thân mềm có 89 loài, da gai có 10 loài, giáp xác có
9 loài), 267 loài cá trong đó có 77 loài thuộc nhóm cá rạn san hô Các rạn san hô ở khu bảo tồn biển Cồn Cỏ thuộc loại cấu trúc rạn viền bờ khá điển hình theo kiểu nhóm rạn
hở Rạn san hô ở đây phát triển tốt, thành phần loài phong phú và độ phủ cao [22] Khu bảo tồn biển Núi Chúa: Thuộc địa phận tỉnh Ninh Thuận, KBTB Núi Chúa thuộc một phần của vườn quốc gia Núi Chúa thành lập từ năm 2003 theo quyết định của thủ tướng chính phủ Tuy nhiên, phải đến năm 2009 KBTB Núi Chúa mới được thành lập thông qua dự án “tăng cường năng lực cho bảo tồn biển và cải thiện sinh kế” Vườn quốc gia Núi Chúa nằm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ phần gần cuối của dãy Trường Sơn chuyển tiếp tới vùng Đông Nam Bộ nên khu hệ động, thực vật ở đây có mối liên hệ chặt chẽ với hệ động, thực vật của dãy Trường Sơn Nam và vùng Đông Nam Bộ Ở đây, đã xác định được 330 loài san hô trong đó có 307 loài san hô cứng tạo thành vùng rạn nhiều màu sắc phong phú, độc đáo, thuộc 49 chi có độ che phủ trung bình là 42,6%, trong đó có 14 loài mới và là nơi cư trú cho 92 loài thủy sản quý hiếm Theo thống kê của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (WWF), tại Vườn Quốc gia Núi Chúa hiện
Trang 21có năm trong số bảy loại rùa biển trên thế giới (gồm rùa xanh, vích, đồi mồi, rùa đầu to, rùa da) [22]
Nhìn chung, các KBTB đang hoạt động ở nước ta đều có hệ sinh thái động, thực vật phong phú với nhiều loài hải sản quý hiếm, đa dạng sinh học cao Với việc thành lập các KBTB thì sự đa dạng sinh học, các nguồn gen quý hiếm của các loài động, thực vật tại đây sẽ được bảo vệ nghiêm ngặt để đáp ứng các mục tiêu bảo tồn Để bảo vệ đa dạng sinh học nói chung và các hệ sinh thái biển nói riêng, cùng với cộng đồng quốc tế trong chiến lược toàn cầu, ngày 26/5/2010 chính phủ đã ban hành quyết định số 742
QĐ TTG phê duyệt Quy hoạch hệ thống KBTB đến năm 2020 với mục tiêu cụ thể chia làm hai giai đoạn Giai đoạn 2010-2015: hoàn thiện hệ thống KBTB Việt Nam; xây dựng quy hoạch chi tiết, thành lập đưa vào hoạt động thêm 11 KBTB, đồng thời rà soát, điều chỉnh quy hoạch các KBTB đã đi vào hoạt động Đến năm 2015, có ít nhất 0,24% diện tích các vùng biển Việt Nam nằm trong các KBTB và khoảng 30% diện tích của từng KBTB được bảo vệ nghiêm ngặt Giai đoạn 2016-2020: tiến hành nghiên cứu, đề xuất quy hoạch phát triển mở rộng hệ thống khu bảo tồn biển; điều tra, khảo sát và thiết lập, đưa vào hoạt động một số KBTB mới; tổ chức giám sát nguồn lợi thủy sản, đa dạng sinh học, hệ sinh thái KBTB, phát triển mô hình quản lý cộng đồng cho cộng đồng dân
cư tại địa phương và các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước tham gia xây dựng và quản lý KBTB nhằm khai thác, sử dụng các KBTB hiệu quả tạo đà phát triển kinh tế cho cho cộng đồng dân cư, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái biển [22]
Dự kiến đến năm 2015 nước ta sẽ có thêm 11 KBTB mới là Đảo Trần, Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vỹ, Cát Bà (Hải Phòng), Hòn Mê (Thanh Hóa), Hải Vân-Sơn Trà (Thừa Thiên Huế-Đà Nẵng), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Nam Yết (Khánh Hòa), Phú Quý, Hòn Cau (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu) [22]
Nhìn chung, các KBTB đang hoạt động hiện nay ở Việt Nam đều có hệ sinh thái động, thực vật biển phong phú với nhiều loài hải sản quý hiếm, tính đa dạng cao Trong
số các KBTB đang hoạt động hiện nay thì KBTB vịnh Nha Trang được xem là KBTB
có tầm vóc quốc tế vì có số loài tương tự ở trung tâm thế giới về đa dạng san hô ở khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Với tổng diện tích 160 km2, vịnh Nha Trang là KBTB đầu tiên của Việt Nam và đã được quỹ Động vật hoang dã thế giới đánh giá là khu vực có đa dạng sinh học biển phong phú bậc nhất nước ta [34]
1.2 Khái quát về khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang
Trang 221.2.1 Vị trí địa lý
Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang (trước đây là KBTB Hòn Mun) được thành lập năm 2001 với sự phối hợp của Bộ thủy sản Việt Nam (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), UBND tỉnh Khánh Hòa và Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới IUCN phối hợp thực hiện Khu bảo tồn biển nằm trong vịnh Nha Trang, trải dài từ 109o13’ đến 109o22’ kinh Đông và từ 12o12’ đến 12o18’ vĩ Bắc với diện tích trên 16.000 ha gồm các đảo Hòn Tre, Hòn Miễu, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Rơm, Hòn Nọc, Hòn Vung (Hòn Dung), Hòn Cau (Hòn Hố) và vùng nước xung quanh Hòn Tre là đảo lớn nhất có diện tích 3.250 ha, Hòn Nọc là đảo nhỏ nhất có diện tích khoảng 4 ha Nhiệt độ không khí trung bình năm là 26,4oC, thấp nhất vào tháng 1,2 (23,8oC) và cao nhất là vào tháng 5,6 (33,2oC) Lượng mưa trung bình năm là 1.441 mm chủ yếu tập trung trong tháng 9 đến 12 Tháng khô nhất là tháng 7,8 Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, và gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 8 [3]
Vịnh Nha Trang nằm trong khu vực biển Việt Nam có hiện tượng nước trồi vào mùa gió Tây Nam từ tháng 5 tới tháng 9 làm cho nguồn dinh dưỡng trong môi trường nước tăng lên tạo nguồn thức ăn đa dạng cho các thủy sinh vật [6]
Hình 1.2: Vịnh Nha Trang
1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội
KBTB Vịnh Nha Trang có 9 đảo, với 5 khóm đảo có dân cư sinh sống trên 3 đảo lớn là: Bích Đầm, Đầm Báy và Vũng Ngán nằm trên đảo Hòn Tre; Hòn Một nằm trên đảo Hòn Một; Trí Nguyên nằm trên đảo Hòn Miễu Tổng số dân trên đảo khoảng 5.168 người và 1.138 hộ dân, tỉ lệ phân bố nam và nữ tương đối cân bằng nhau Dân cư phân
bố không đồng đều giữa các khóm đảo (Đầm Báy 76 hộ dân, cụm dân cư Trí Nguyên
Trang 23có dân số đông nhất 3.253 người và 730 hộ) Số nhân khẩu trung bình trong mỗi hộ không cao (trung bình là 5 người trên mỗi hộ Số nhân khẩu trung bình của mỗi hộ trên các khóm đảo tương tự nhau) [3]
Hoạt động kinh tế chính ở các khóm đảo trong KBTB là khai thác thủy sản, 80% hoạt động sinh kế chính trong gia đình là khai thác thủy sản Phần lớn các hộ ngư dân này không làm thêm kinh tế phụ nên thu nhập rất dễ bị ảnh hưởng bởi kết quả của hoạt động đánh bắt cũng như việc phân vùng khai thác trong KBTB [23]
Nuôi trồng thủy sản trong vịnh Nha Trang đã bắt đầu từ cuối thập niên 80 Khoảng 30% số hộ gia đình nuôi trồng thủy sản, đối tượng nuôi ban đầu chủ yếu là cá
mú, cá hồng sau đó là tôm hùm Số lượng lồng nuôi hải sản trong vịnh Nha Trang tăng lên rất nhanh đến khoảng năm 2007 nhưng sau giảm đáng kể từ khoảng cuối 2007 do nguồn bệnh làm chết tôm hùm nuôi Nghề nuôi trồng thủy sản đã góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư các khóm đảo trong vịnh [33]
Ngoài ra, có sự phối hợp hỗ trợ từ dự án KBTB và các tổ chức, chính quyền ủy ban nhân dân phường Vĩnh Nguyên trong suốt thời gian từ năm 2001 tới nay với các hoạt động tạo sinh kế phụ, cho vay vốn làm kinh tế hay đào tạo nghề cho con em trong khóm đảo (lựa chọn con em trong khóm đảo đi đào tạo nghề ở trường Hoa Sữa) Một số hoạt động sinh kế phụ đã mang lại hiệu quả cho ngư dân khóm đảo như làm mành ốc ở khóm đảo Bích Đầm, bơi thuyền du lịch ở Hòn Một, đan lưới thể thao ở Trí Nguyên, nuôi trồng thủy sản ở các khóm đảo Vũng Ngán, Hòn Một, Trí Nguyên, chăn nuôi ở Đầm Báy [3]
Sau khi KBTB được thành lập, hoạt động du lịch biển tại KBTB Nha Trang đã và đang tạo ra những tác động tích cực đến đời sống của một số nhóm cộng đồng dân cư, nhất là nhóm cộng đồng sống bên trong vịnh Các nhóm chuyên chở khách du lịch bằng thuyền thúng đáy kính tại Hòn Một và Trí Nguyên là một ví dụ cụ thể Thành viên thuộc các nhóm này đã được tập huấn về cách thức hoạt động, kỹ năng cơ bản trong giao tiếp Đặc biệt là với sự hỗ trợ về mặt pháp lý của chính quyền địa phương, cụ thể
là Ủy ban Nhân dân phường Vĩnh Nguyên, và của Ban quản lý khu BTB vịnh Nha Trang về các trang thiết bị cần thiết để phục vụ khách du lịch Các hoạt động này đã tạo
ra các cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho hộ gia đình vốn bị ảnh hưởng bởi việc hình thành khu bảo tồn biển, đồng thời nó cũng hỗ trợ làm giảm áp lực khai thác và sự phụ thuộc của con người vào tài nguyên biển giúp bảo vệ các tài nguyên này tốt hơn [23]
Trang 24Nhìn chung, trình độ học vấn của người lớn chỉ ở mức cơ bản, hầu hết chỉ ở cấp I
Họ chỉ biết đọc và biết viết Ở các khóm đảo đều có trường cấp I Vì thế, tỷ lệ đi học ở cấp học này khá cao Càng lên cao, tỷ lệ số trẻ em nghỉ học càng nhiều, số học sinh ở
độ tuổi cấp 3 đi học ở các trường trung học phổ thông rất ít Tỷ lệ này được thể hiện qua các con số thống kê: có 64,5% chủ hộ có trình độ học vấn cấp I, 23,7% có trình độ cấp II, 2,8% số chủ hộ học tới cấp III và chỉ có 0,8% có trình độ sau phổ thông, còn lại 5% chủ hộ không biết chữ [23]
1.2.3 Hiện trạng môi trường và đa dạng sinh học trong KBTB
Phát triển du lịch biển tại vịnh Nha Trang cũng đã tạo ra một số tác động tiêu cực, đặc biệt vấn đề rác thải và chất thải/nước thải từ con người Vấn đề nhận thức và hành
vi đối với rác thải của khách du lịch trong một chừng mực nào đó còn hạn chế đã tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường biển, nhất là rác thải là vỏ lon nước ngọt/nước giải khát, bia và túi ny-lon mà phải mất thời gian rất lâu qua nhiều thế hệ mới bị phân hủy Vấn đề nữa là chất thải và nước thải từ con người chủ yếu là người dân sống trên các đảo và một số ít từ khách du lịch Vấn đề người dân tự xây nhà vệ sinh cá nhân và một
số được sự hỗ trợ của BQL là một nỗ lực rất lớn đáng được ghi nhận và nhân rộng Điều đó đã và đang góp phần làm môi trường sinh hoạt và du lịch trở nên vệ sinh và văn hóa hơn, giúp thu hút khách du lịch hơn Diện tích đất sử dụng cho các công trình công cộng vốn đã hẹp cũng là một vấn đề khó khăn cho BQL vịnh và chính quyền địa phương Tuy nhiên, việc lắp đặt một số nhà vệ sinh sinh thái trên đảo, nhất là ở Trí Nguyên là một nỗ lực rất lớn từ BQL vịnh và Ủy ban Nhân phường Vĩnh Nguyên [23] Các số liệu quan trắc chất lượng nước biển ven bờ vịnh Nha Trang trong 5 năm (2004 đến 2008) cho thấy chất lượng môi trường nước ven bờ vịnh Nha Trang ngày càng được cải thiện Hầu hết, các thông số ô nhiễm đều có xu thế ngày giảm Đặc biệt
là hàm lượng chất rắn lơ lửng , coliform có xu thế giảm dần qua các năm Ngoại trừ, thông số dầu mỡ khoáng trong nước biển có xu thế gia tăng [33]
Nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường ngày càng được nâng cao Các biện pháp quản lý đã được các cơ quan liên quan, chính quyền thành phố Nha Trang thực thi như quy hoạch nuôi trồng thủy sản hợp lý, nuôi các loài thủy sản thân thiện với môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng vật chất trên các khóm đảo có khu dân cư, các khu du lịch trên đảo đã đầu tư xử lý nước thải, chất thải trước khi thải ra môi trường, đã triển khai các hoạt động thu gom rác thải từ lồng bè nuôi thủy sản, tại các khu dân cư và khu
Trang 25du lịch trên các đảo đưa về thành phố Nha Trang, quy định các tàu thuyền du lịch phải
có các hoạt động thu gom rác thải, nước thải hợp vệ sinh… Tất cả những điều đó đã giúp cho chất lượng môi trường nước trong vịnh Nha Trang ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, các hoạt động du lịch trên các tuyến đảo trong vịnh Nha Trang đã làm gia tăng số lượng tàu thuyền tham gia vào hoạt động vận chuyển du khách cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng hàm lượng dầu mỡ khoáng (HC) trong nước Số liệu quan trắc nhiều năm cho thấy sự gia tăng hàm lượng HC trong nước theo thời gian (khu vực bãi tắm) [33]
Hình 1.3: Độ phủ cao của san hô sống Porites(cận cảnh) và Montipora spp., Đông Bắc
Hòn Tre [30]
Sự đa dạng thủy sinh vật trong khu bảo tồn vịnh Nha Trang bao gồm đa dạng về phiêu sinh thực vật với 316 loài rong tảo, trong đó có 48% số loài đặc trưng của vùng biển nhiệt đới Về đa dạng về phiêu sinh động vật, theo kết quả nghiên cứu của Poliacova và cộng sự cho thấy ở vịnh Nha Trang có khoảng 100 loài phiêu sinh động vật Về khu hệ sinh vật đáy, đã xác định được 441 loài động vật không xương sống (trong đó 83 loài mới được ghi nhận tại ven biển Việt Nam, 128 loài mới tại khu vực vịnh), có 21 loài tôm, 17 loài cua, 70 loài hải tiêu Động vật nhuyễn thể có 298 loài chân bụng và 14 loài hai mảnh vỏ (Gogolev, 1994 [11] Đã phát hiện được 62 loài cá
Trang 26thuộc 23 họ sống trong vùng đáy cứng và vùng giáp đáy mềm; ngoài ra, cũng đã xác định được những quần xã đáy mềm và quần xã động vật sống hợp quần với san hô, với hải sâm, với sao biển và hải quỳ lớn Tại vịnh Nha Trang đã xác định được hai dạng
quần xã san hô là Acropora - Motipora, chiếm trên 40%, quần xã Motipora - Alcyonaria chiếm 10-51% với trên 30 loài (Latipov & Dautova, 2004 Về đa dạng khu
hệ cá trong vịnh, theo kết quả nghiên cứu nhiều năm của các nhà khoa học đã xác định vịnh Nha Trang hiện có hơn 300 loài cá, trong đó có trên 60 loài lần đầu tiên ghi nhận tại vùng biển Việt Nam và có 15 loài mới đối với khoa học Thường gặp nhất là đại
diện các họ Engraulidae, Carangidae, Scombridae Trong các rạn san hô vịnh Nha Trang ghi nhận được 32 loài cá bướm (Chaetodonidae), trong đó có 17 loài mới được
phát hiện tại vịnh Nha Trang [11]
Vịnh Nha Trang là vùng biển đa dạng về quần cư, trong đó chủ yếu là các rạn san
hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn đã tạo nên tính đa dạng sinh học cao cho vịnh Nha Trang Hiện đã ghi nhận được 350 loài san hô tạo rạn, trong đó có 40 loài mới được ghi nhận gần đây, 222 loài cá rạn san hô, 120 loài thân mềm, 70 loài giáp xác, 30 loài da gai, 248 loài rong, và 7 loài cỏ biển đã được xác định [28]
Hình 1.4: Thảm cỏ biển đơn loài Halophila ovalis tại Đầm Tre
Nguồn lợi thủy sản chính của vịnh Nha Trang bao gồm cá, giáp xác, thân mềm, rong biển, trong đó chủ yếu là nguồn lợi cá biển Theo số liệu thống kê của Viện Hải
Trang 27Dương Học, vùng biển Nha Trang có khoảng hơn 600 loài thủy sản khác nhau, trong đó
có trên 50 loài có giá trị kinh tế [28]
Trữ lượng thủy sản ở vịnh Nha Trang chiếm khoảng 30% trữ lượng thủy sản tỉnhKhánh Hòa, khoảng 35.000 tấn/120.000 tấn, trong đó chủ yếu là cá nổi chiếm 70% bao gồm cá nổi lớn như cá Thu, cá Ngừ, cá Bạc Má, cá Nhám; cá nổi nhỏ như cá Cơm, cá Trích, cá Nục, cá Chuồn, cá Chỉ V à n g Cá đáy tuy sản lượng không lớn chỉ chiếm khoảng 30% nhưng có nhiều loài có giá trị xuất khẩu như cá Mú, cá Đổng, cá Mối, cá Hố [28]
Ngoài cá biển, còn có các loại thân mềm, giáp xác, da gai Thân mềm gồm có: Bào Ngư, ồc Đụn, Mực Nang, Mực Lá, Mực ồng Hiện nay, số lượng Bào Ngư còn lại rất ít [28] Giáp xác gồm: Tôm Bạc, Tôm gân, Tôm sú, Tôm rảo, Cua xanh, Ghẹ nhàn, Tôm hùm [28] Da Gai gồm: Nhum sọ và các loài Hải sâm: Nhum sọ (còn gọi là Cầu Gai sọ dừa) tập trung nhiều nhất ở Rạn chắn lớn và Rạn cạn (phía Nam vịnh) và đã bị khai thác ồ ạt từ năm 1990 - 1993, sản lượng thành phẩm có năm đạt đến hàng chục tấn, nhưng hiện nay nguồn lợi này đã bị cạn kiệt do khai thác quá mức [28]
Hải sâm cũng là một đối tượng kinh tế quan trọng ở vịnh Nha Trang Theo các kết quả điều tra từ trước năm 1990 thì nhiều nhất là Hải sâm đen, Hải sâm mít và Hải sâm dừa; các loài khác như Hải sâm lựu, Hải sâm vú và Hải sâm cát cũng gặp nhưng với số lượng ít hơn Vùng biển Hòn Chồng trước đây có rất nhiều Hải sâm nhưng nay đã cạn kiệt [28]
Từ những dẫn liệu về đa dạng sinh học có thể nói Vịnh Nha Trang là nơi có tính
đa dạng sinh học cao so với các khu vực ven bờ khác của Việt Nam Là khu bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam với mục đích “bảo tồn một mô hình điển hình về đa dạng sinh học biển có tầm quan trọng quốc tế và đang bị đe dọa” và đạt được các mục tiêu
“giúp các cộng đồng dân cư tại các đảo nâng cao đời sống và cộng tác với các bên liên quan khác để bảo vệ và quản lý có hiệu quả đa dạng sinh học biển tại Khu bảo tồn biển Hòn Mun, tạo nên một mô hình quản lý Khu bảo tồn biển tại Việt Nam” [3]
Tuy nhiên, sự phát triển quá mức của các ngành nghề khai thác cũng như các hoạt động kinh tế khác của con người đã làm ảnh hưởng nhất định tới khu hệ sinh vật cũng như tài nguyên biển vịnh Nha Trang
Các nghề đánh bắt trong vịnh Nha Trang bao gồm các nghề lưới cản, lưới câu, nghề vây rút chì, mành trũ, lưới cước, lưới quét, lưới đăng Các nghề giã cào và pha xúc
Trang 28thường đánh bắt ở ngư trường khơi và ngư trường ngoài tỉnh Số lượng tàu thuyền tham gia khai thác trong vịnh theo các ngành nghề khác nhau Trong năm 2012, các nghề lưới (lưới cước, lưới quét) chiếm 653 chiếc, mành trũ 608 chiếc, nghề giã cào 424 chiếc, nghề câu 835 chiếc, nghề vây rút chì 28 chiếc, nghề pha xúc 201 chiếc còn lại
336 chiếc làm các nghề khác [4]
Từ khi thành lập KBTB, các hệ sinh thái cũng như nguồn lợi trong khu bảo tồn được bảo vệ và tái tạo Theo báo cáo hiện trạng Đa dạng sinh học trong vịnh Nha Trang năm 2011 cho thấy có sự phục hồi khá tốt qua các năm Mức tăng 10% vào thời điểm khảo sát so với chuyến khảo sát năm 2010 về độ che phủ của san hô sống [7]
Tuy nhiên, sự phục hồi về nguồn lợi cá rạn là chưa rõ nét, kết quả thu được của chuyến khảo sát năm 2011 khá thấp Với cá Mú trung bình số cá thể đếm được ở kích thước trưởng thành cho mỗi đoạn 20m của mặt cắt thấp hơn 1 cá thể Cá Mú gù, cá Kẽm, cá Chình không thấy xuất hiện tại các mặt cắt khảo sát Cá Hồng cũng chỉ hơn 1
cá thể trên mỗi đoạn 20m của mặt cắt [7]
Một số nguồn lợi khác như thân mềm, giáp xác có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, cá mú gù, ốc tù và cũng ít bắt gặp trong đợt khảo sát năm 2011 Điều đó cho thấy
áp lực khai thác lên nguồn lợi này ở khu bảo tồn biển vẫn cao và chưa có dấu hiệu phục hồi [7]
Trang 29CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Thực trạng hoạt động khai thác thủy sản trong KBTB vịnh Nha Trang
- Tàu thuyền, nghề khai thác (số lượng, phân bố theo nghề, địa phương, công suất, cỡ loại tàu )
- Cường độ khai thác, sản lượng, thành phần sản phẩm theo nghề, theo cỡ loại tàu, theo mùa vụ, theo vùng
- Tình hình biến động NLTS trong các năm qua về sản lượng
2.1.2 Thực trạng công tác quản lý khai thác, bảo vệ nguồn lợi và đa dạng sinh học trong KBTB vịnh Nha Trang
- Thực trạng tổ chức, nguồn nhân lực, vật lực, tài chính
- Sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng
- Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức
- Công tác tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm về BV NLTS
2.1.3 Thực trạng công tác quản lý KBTB vịnh Nha Trang
- Công tác chỉ đạo quản lý KBTB vịnh Nha Trang
- Mô hình tổ chức quản lý KBTB vịnh Nha Trang (tổ chức bộ máy Ban quản lý, mối quan hệ phối hợp giữa BQL với các cơ quan, ban ngành, địa phương và các tổ chức đoàn thể, cộng đồng)
- Công tác thiết lập các tổ chức cộng đồng và huy động sự tham gia của cộng đồng vào quá trình quản lý KBTB
2.1.4 Đề xuất giải pháp
- Các giải pháp chung về khai thác và bảo vệ NLTS
- Giải pháp về nâng cao năng lực quản lý đối với cơ quan có liên quan và nhận thức của cộng đồng địa phương; Về xây dựng cơ sở pháp lý, thể chế chính sách cho việc thực hiện quản lý KBTB; Về xây dựng hệ thống tổ chức cộng đồng và các điều kiện đảm bảo duy trì tính bền vững trong quản lý khai thác và BVNLTS
Trang 302.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các chương trình sinh kế, phát triển cộng đồng KBTB vịnh Nha Trang
- Số liệu về tàu thuyền, nghề nghiệp, sản lượng khai thác của tỉnh, thành phố Nha Trang và phường Vĩnh Nguyên qua các báo cáo tổng kết hàng năm hoặc các dự án, chương trình điều tra, khảo sát
- Số liệu về ĐDSH, NLTS trong KBTB vịnh Nha Trang qua các kết quả điều tra, khảo sát
- Luật, văn bản pháp quy liên quan đến quản lý nghề cá của trung ương và tỉnh
- Các tài liệu về quản lý nghề cá, ĐQL, ĐQLNC, QLNCDVCĐ của các tác giả trong nước và nước ngoài
- Các kết quả về thực trạng KT&BVNLTS (tàu thuyền, nghề nghiệp, sản lượng, năng suất, đối tượng khai thác, sự biến động về NLTS ), thực trạng quản lý nghề cá trong KBTB VNT thông qua số liệu điều tra xã hội, phỏng vấn, tham vấn cộng đồng, cán bộ quản lý và Chương trình Logbook (Chương trình ghi Nhật ký đánh cá – Ban quản lý KBTB VNT và Viện Nghiên cứu Hải sản Hải phòng)
- Kế thừa kết quả điều tra tình hình kinh tế xã hội tại phường Vĩnh Nguyên 5/2006 (theo mẫu Phụ lục 2) của Ban quản lý KBTB VNT
- Số liệu về thực trạng KTTS và quản lý KBTB VNT dựa vào các Báo cáo hoạt động hàng năm của Ban quản lý KBTB VNT
2.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
- Số liệu điều tra xã hội về KT&BVNLTS trong KBTB VNT theo mẫu phiếu điều tra in sẵn (Phụ lục 1), thực hiện tháng 7/2012 Tác giả đã tiến hành điều tra toàn bộ
số hộ có phương tiện KTTS trong vịnh Nha Trang
Trang 31- Tham vấn ý kiến của 50 hộ ngư dân KTTS theo mẫu Phụ lục 1 (chọn mẫu ngẫu nhiên theo tư vấn của cán bộ quản lý KBTB vịnh Nha Trang, kết hợp phỏng vấn trực tiếp và sử dụng phương pháp PRA – Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng)
- Số liệu về thực trạng hoạt động KTTS của khối tàu cá cỡ nhỏ vùng ven biển của TP
và các địa phương lân cận thông qua phỏng vấn cán bộ, ngư dân sống trong vịnh Nha Trang
2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa:
- Trực tiếp khảo sát, đo đạc, phân loại, thu thập các số liệu về sản lượng, đối tượng khai thác, thành phần sản phẩm bằng cách đi biển với ngư dân hoặc thực hiện tại Cảng cá Hòn Rớ, Vĩnh Trường ngay khi các tàu về bến và chưa tiêu thụ sản phẩm Lựa chọn các nghề chủ lực có ảnh hưởng lớn đến NLTS và chọn ngẫu nhiên mỗi nghề 3
hộ, mỗi hộ tiến hành đo đạc 05 chuyến biển để thu thập sản lượng, thành phần sản phẩm, đo đạc kích thước đối tượng khai thác kết hợp với phiếu điều tra để đánh giá
- Số mẫu thu thập đảm bảo độ chính xác cao
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm Excel để xử lý và tính toán các chỉ số về thời gian khai thác, sản lượng khai thác, … phục vụ cho nội dung tính cường độ khai thác, sự biến động NLTS của KBTB vịnh Nha Trang
- So sánh số liệu thực trạng KTTS với các tiêu chuẩn quy định của nhà nước hiện hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của nó đối với NLTS trong KBTB
- Sử dụng bản đồ phân vùng KBTB vịnh Nha Trang để minh họangư trường đánh bắt và đề xuất phân vùng quản lý KT&BVNLTS bằng các phần mềm vi tính chuyên dụng
- Sử dụng phương pháp phân tích SWOT (phân tích đánh giá nội tại: các điểm mạnh, điểm yếu và bên ngoài: các cơ hội, thách thức) để đánh giá thực trạng mô hình quản lý KBTB nói chung và quản lý KT&BVNLTS nói riêng
- Dựa trên cơ sở số liệu thực trạng, đề xuất các giải pháp quản lý KT&BVNLTS phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững tại KBTB VNT
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng khai thác thủy sản trong khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang
3.1.1 Tàu thuyền các loại nghề khai thác
Hiện nay, tàu thuyền hoạt động đánh bắt quanh khu bảo tồn biển với các loại nghề như: Lưới rê, câu, pha xúc, mành, vây rút, lưới kéo, trủ, lưới cước, lưới quét tập trung chủ yếu ở 2 phường Vĩnh Trường và Vĩnh Nguyên Phường Vĩnh Trường có các nghề khai thác như lưới kéo, mành, lưới rê; phường Vĩnh Nguyên có nghề lưới mành, pha xúc, trủ rút
Qua điều tra khảo sát cho thấy, các nghề hoạt động với cường lực mạnh nhất là các nghề: lưới kéo đơn, mành, vây, trủ rút, lưới rê (lưới cước), pha xúc Phạm vi hoạt động của các nghề này cũng rất rộng, không chỉ ở trong Vịnh Nha Trang mà còn xuống
cả vùng biển Ninh Thuận, Bình Thuận Nhìn chung, các nghề có công suất nhỏ hơn 90
CV đều hoạt động chủ yếu trong khu vực Vịnh Nha Trang từ Hòn Chà Là chạy thẳng xuống phía dưới Hòn Nội, Hòn Ngoại trở vào phía trong bờ,
Phân bố số lượng tàu thuyền theo nghề, theo công suất tại các phường, xã trong thành phố Nha Trang được trình bày ở các bảng 3.1, 3.2, 3.3
Bảng 3.1: Phân bố số lượng tàu thuyền theo nghề (< 90CV)
Trang 33Hình 3 1: Biến động số lượng tàu thuyền theo nghề
Từ kết quả điều tra và số liệu thống kê ở các bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy, có 11 nghề với các hình thức đánh bắt khác nhau tham gia hoạt động khai thác thủy sản trên vịnh Nha Trang
Số lượng tàu thuyền có công suất nhỏ hơn 20 CV chiếm tỷ lệ đến 50%, không thể vươn ra xa bờ, chỉ tập trung trong vịnh Nha Trang Số tàu hoạt động quanh vịnh Nha Trang tiếp giáp với khu bảo tồn biển Hòn Mun là tàu thuyền của các xã, phường thuộc Thành phố Nha Trang (ngoại trừ tàu thuyền của xã Vĩnh Lương)
Loại nghề có số lượng tàu thuyền công suất nhỏ hơn 20 CV chiếm số lượng nhiều nhất là câu (31%), lưới cước (28%), mành (17%) Các nghề có công suất tàu lớn tập trung ở nghề giã cào và pha xú
Tàu thuyền của các nghề nêu trên, đa số có chiều dài nhỏ hơn 15m và trong khoảng chiều dài trung bình từ 8-12m Tàu thuyền có kết cấu vỏ gỗ, ca bin nằm phía
Trang 34đuôi tàu, boong thao tác chủ yếu nằm phía trước Hệ thống lái phần lớn là bằng cần lái,
ít sử dụng vô lăng Hầu hết các tàu đều có trang bị từ 1-5 hầm, tuy nhiên thời gian hoạt động của các tàu trên biển thường chỉ một ngày đến hai ngày, nên hầm chứa cá ít được
sử dụng
Phần lớn các tàu thuyền đều được trang bị máy bộ đàm, định vị Đối với những tàu đánh bắt cá có sử dụng ánh sáng như tàu mnh, tủ, thì ngoài trang bị máy bộ đàm , định vị, các tàu này còn trang bị thêm máy dò cá
Theo điều tra thực tế cho thấy có khoảng 50 – 70% số lượng tàu thuyền có công suất nhỏ tham gia khai thác thường xuyên trong vịnh (khoảng 25 – 30 ngày trong tháng) Hiện nay ngư dân tăng cường đánh bắt trên vịnh có tác động rất lớn đối với nguồn lợi ven bờ
3.1.2 Thực trạng hoạt động đánh bắt của tàu thuyền trên vịnh Nha Trang
3.1.2.1 Nghề lưới kéo
a Tàu thuyền:
Tàu thuyền nghề lưới kéo của thành phố Nha Trang hoạt động đánh bắt trên vịnh Nha Trang được thể hiện ở bảng 3.4
Bảng 3.2: Thống kê các phường có tàu hoạt động nghề lưới kéo trong vịnh Nha Trang
Qua điều tra khảo sát thực tế các chuyến biển của ngư dân làm nghề lưới kéo cho thấy, các vùng đánh bắt chủ yếu của nghề lưới kéo nằm ở phía nam Hòn Tre Đường đi chủ yếu của loại nghề này là dọc theo ven bờ và ven các đảo phía ngoài Qua phỏng vấn
Trang 35ngư dân, chúng tôi có được vết hoạt động của nghề lưới kéo trên ngư trường quanh vịnh Nha Trang, thể hiện ở hình 3.3
Hình 3 2: Ngư trường đánh bắt nghề lưới kéo
Lý do của việc các tàu lưới kéo thường hoạt động ở các vùng trên là vì phần lớn nghề lưới kéo tập trung ở Vĩnh Trường, và do đặc điểm ngư trường vùng biển phía nam Hòn Tre thường ít rạn và đá hơn so với các vùng khác Ngư trường ở phía nam và phía ngoài Hòn Tre thường tập trung nhiều các loại cá đáy, thích hợp cho nghề lưới kéo đáy Vết màu xanh tô đậm trên hình 3.3 thể hiện vết đi của tàu lưới kéo thường hoạt động, vùng tô đậm hình ô van là vùng nước mà các tàu lưới kéo hoạt động với mật độ cao nhất
b Sản phẩm khai thác:
Sản phẩm cá chợ có khoảng 0,5 – 1 kg trong mỗi mẻ lưới, hỗn hợp các loại cá này thường là cá đỏ, cá liệt, nục, bạc má… Các loài cá có giá trị kinh tế và thường xuất hiện nhiều trong các mẻ lưới như cá mối, phèn, đổng, mực, tôm là các nhóm thương phẩm được ngư dân lựa ra thành một nhóm bán cho lái buôn
Cá phân là loại cá có kích thước rất nhỏ, thường bị nát và chết sau khi vào lưới Ngư dân gọi là “cá heo”, thực chất đó là loại cá phân Loại sản phẩm này chủ yếu dùng làm thức ăn trong nuôi tôm, làm mắm
Trang 36Các loài giáp xác nhỏ (tôm, cua, ghẹ, …) ngư dân bán cho các trại nuôi để làm thức ăn cho tôm hùm Giá trị của nhóm cá này thường bán cao hơn cá phân
Bảng 3.3: Tỷ trọng trung bình các nhóm thương phẩn trong một mẻ lưới kéo
Từ hình 3.3 cho thấy, sản lượng đánh bắt cá phân và giáp xác chiếm tới 80% toàn
bộ sản lượng của các mẻ lưới Cá phân chiếm tỷ lệ cao, có giá trị nhỏ hơn 4-5 lần giá trị
Trang 37của các nhóm cá khác, nhưng do nhu cầu sử dụng loại cá phân làm thức ăn nuôi tôm, nuôi cá rất cao, nên ngư dân vẫn tiếp tục đánh bắt loại sản phẩm này
Đây là một thực tế không tốt và là hệ quả của việc ngư dân giảm kích thước mắt lưới để tăng sản lượng đánh bắt (2ađụt = 15mm)
3.1.2.2 Nghề lưới rê
a Tàu thuyền:
Tàu thuyền nghề lưới rê là các tàu có công suất nhỏ phổ biến từ 8 – 15CV, tập trung ở các phường Vĩnh Trường và Vĩnh Nguyên, hầu hết các tàu lưới rê cước đánh bắt ven đảo, gần bờ nhất là ở gần Hòn Nội, Hòn Ngoại và vùng phía bắc của Hòn Tre
Ngoại trừ tàu thuyền nghề lưới quét thường hoạt động ở các vùng nước sâu, xa
bờ, còn lại các loại tàu thuyền nghề lưới rê khác như lưới hai, lưới tư, lưới năm đánh bắt quanh năm xung quanh vịnh Phân bố số lượng tàu thuyền nghề lưới rê thành phố Nha Trang được thể hiện ở bảng 3.4
Bảng 3 4: Phân bố số lượng tàu thuyền nghề lưới rê hoạt động trong vịnh Nha Trang
Trang 38Hình 3 4: Ngư trường đánh bắt nghề lưới rê
c Sản phẩm khai thác
Sản phẩm đánh bắt của nghề lưới rê đa dạng, có các thành phần loài trong một mẻ lưới gồm cá thu, cá ngừ chù, cá trác đuôi ngắn, cá mối, cá đổng và cá nục được phân bố theo bảng 3.5 và hình 3.5
Bảng 3.5: Tỷ trọng trung bình các nhóm thương phẩn trong một mẻ lưới rê
Trang 39Hình 3 5: Tỷ lệ trung bình các nhóm thương phẩm trong đánh bắt nghề lưới rê
Từ hình 3.5 cho thấy, loài có tần suất xuất hiện nhiều nhất là cá Đổng, sau đó là cá ngừ Chù, cá Mối, cá Trác
Bảng 3.6: Chiều dài trung bình của một số đối tượng chính của nghề lưới rê
Nghề pha xúc là loại nghề đánh bắt thủ công, dùng sức người là chính Khi phát
hiện ra đàn cá, đèn pha được bật lên, cá tập trung lại từ từ, khi cá đã có dấu hiệu tập trung dày hơn, đèn pha được giảm dần ánh sáng trở thành ánh sáng màu đỏ khi nhìn trên mặt nước Lưới được thả xuống ngay cạnh mạn tàu, khi lưới đã chìm sâu thì bắt đầu kéo lên
Bảng 3 7: Thống kê nghề pha xúc hoạt động quanh khu bảo tồn biển Hòn Mun
Trang 40a Ngư trường hoạt động
Ngư trường hoạt động của nghề pha xúc rất rộng, hoạt động hầu như trên toàn vịnh Nha Trang
Bảng 3.8: Ngư trường đánh bắt nghề pha xúc Đặc điểm của loại nghề này là thường bám theo đàn cá cơm, đàn cá xuất hiện ở đâu thì các tàu thuyền tập trung lại ở đó Nghề pha xúc có đặc điểm ít phụ thuộc vào chất đáy của ngư trường, mà chủ yếu hoạt động ngay trên tầng mặt, cách mặt nước chừng (3-4)m, nên loại nghề này có thể hoạt động khắp các vùng trong vịnh Nha Trang Màu xanh lá cây
tô đậm trên bản đồ là vùng ngư trường hoạt động chủ yếu của nghề pha xúc