1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

160 1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhất là hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long là nơi nuôi dưỡng của hơn 500 loài cá nước ngọt tạo nên một nguồn lợi thủy sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao.. Căn cứ vào các tài liệu về đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY SẢN KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

BÀI GIẢNG MÔN HỌC:

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Đối tượng và mục tiêu của môn học

Việt Nam là đất nước ven biển trải dài trên 3000 km, trong vùng nhiệt đới gió mùa nên nguồn lợi thủy sản rất giàu có và đa dạng với hơn 2030 loài cá, 225 loài tôm, 653 loài tảo,

35 loài mực, 5 loài rùa biển và 12 loài rắn (Số liệu của Bộ Thủy sản, 2001) Ngoài ra còn có bào ngư, ngọc trai, sò huyết, san hô và các loài đặc hữu khác Nguồn tài nguyên biển phong phú đó đã đóng góp một phần quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta từ ngày dựng nước Bên cạnh đó từ những mặt nước sông suối, ao hồ, kênh mương, ruộng trũng nhất là hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long là nơi nuôi dưỡng của hơn 500 loài

cá nước ngọt tạo nên một nguồn lợi thủy sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao Trong những năm qua, việc mở rộng đối tượng nuôi thủy sản và nhất là tăng sản lượng nuôi các đối tượng có giá trị kinh tế cao như tôm sú, cá basa xuất sang nhiều thị trường quốc tế đã đóng góp nhiều cho sự phát triển của ngành thủy sản Theo thống kê của Bộ Thủy sản, tổng sản lượng thủy sản (hải sản và thủy sản nước ngọt) khai thác được của nước ta trong năm 2004

là 1,92 triệu tấn và sản lượng nuôi trồng thủy sản là 1,15 triệu tấn, ngoài việc cung cấp cho nhu cầu trong nước còn đem lại cho nền kinh tế nước nhà 2,4 tỷ USD qua xuất khẩu

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển dân số ngày càng tăng và nhận thức của người dân còn hạn chế trong việc tiếp cận khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thủy sản cùng với những bất cập trong công tác quản lý đã dẫn đến những nguy cơ đe dọa sự cạn kiệt của nguồn lợi Theo thống kê của Bộ Thủy sản, chỉ trong khoảng chưa đến 10 năm từ 1989 đến

1997, số lượng các loài bị đe dọa cạn kiệt đã tăng nhanh từ 10 lên đến 135 loài bao gồm 78 loài sống ở biển Ở nhiều vùng biển, đặc biệt vùng nước nông gần bờ, việc khai thác hải sản

đã đến mức báo động, nhiều loài cá kinh tế bị khai thác quá mức Sản lượng khai thác tăng vững chắc hàng năm nhưng năng suất đánh bắt trong những năm qua lại giảm rõ rệt Thêm vào đó sự phát triển ồ ạt của việc nuôi trồng thủy sản thiếu định hướng và thiếu sự quản lý hiệu quả cũng đã dẫn đến những thiệt hại trực tiếp do dịch bệnh cũng như tác động xấu đến môi trường sinh thái

Do đó, việc nghiên cứu nắm vững hiện trạng nguồn lợi thủy sản để đề ra các chính sách đầu tư, phát triển và quản lý hiệu quả nghề cá đảm bảo sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng bền vững đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người, đã trở nên ngày càng cấp bách Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nguồn lợi thủy sản của các nhà khoa học Việt Nam được công bố Nhiều chính sách định hướng việc phát triển và bảo vệ nguồn lợi thủy sản bền vững đã ra đời mà điển hình là bộ Luật Thủy sản đã được Quốc Hội thông qua ngày 26-11-2003

Với đối tượng nghiên cứu là thủy sản Việt Nam bao gồm nguồn lợi thủy sản nước ngọt

và nguồn lợi hải sản cùng với những định hướng bảo vệ và quản lý nguồn lợi thủy sản, mục tiêu của môn học “Sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản” nhằm:

Trang 3

- Trang bị cho sinh viên những kiến thức về nguồn lợi thủy sản Việt Nam, nghề cá thế giới và khu vực Đông nam Á, cũng như các định hướng bảo vệ và quản lý nguồn lợi thủy sản hướng đến phát triển bền vững

- Cung cấp cho sinh viên kỹ năng phân tích hiện trạng nguồn lợi và đề xuất các biện pháp bảo vệ và quản lý nguồn lợi thủy sản bền vững Và qua môn học

- Giúp cho sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của nguồn lợi thủy sản trong sự nghiệp phát triển đất nước cũng như ý thức bảo vệ nguồn lợi hướng đến khai thác và sử dụng bền vững nguồn lợi đó

2 Nội dung môn học:

Để đáp ứng được các mục tiêu nói trên môn học có những nội dung chính sau:

- Giới thiệu nguồn lợi thủy sản nước ngọt qua khu hệ cá nước ngọt Việt Nam, nguồn lợi

cá nước ngọt và các thủy sản nước ngọt khác Điểm qua tình hình khai thác, sử dụng nguồn lợi thủy sản nội địa ở Việt Nam và đánh giá hiện trạng nguồn lợi thủy sản nước ngọt

- Phần nguồn lợi hải sản sẽ điểm qua tình hình khai thác cá biển thế giới và khu vực Đông Nam Á Giới thiệu đặc trưng môi trường biển Việt Nam; những đặc điểm về nguồn lợi, phân bố và sinh học của cá biển Việt Nam Điểm qua các phương pháp đánh giá trữ lượng và sản lượng cá biển Việt Nam Đi sâu phân tích nguồn lợi cá biển Việt Nam qua các vùng biển Giới thiệu những nguồn lợi hải sản khác ngoài cá Đánh giá tiềm năng và hiện trạng khai thác nguồn lợi biển Việt Nam

- Tìm hiểu một số nguyên nhân ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản và đề ra các biện pháp bảo vệ các hệ sinh thái và môi trường liên quan đến sinh vật thủy sản

- Đề xuất khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản nước ngọt; phương hướng khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản; và cuối cùng là phân tích những định hướng về bảo vệ và quản lý nguồn lợi thủy sản

Trang 4

CHƯƠNG I: NGUỒN LỢI THỦY SẢN NƯỚC NGỌT

I KHU HỆ CÁ NƯỚC NGỌT VIỆT NAM

I.1.Thành phần loài và nguồn gốc khu hệ

Các nhà khoa học đã thống kê được 544 loài và phân loài cá nước ngọt nằm trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, nằm trong 18 bộ, 57 họ và 228 giống (Bảng 1)

Ngoài ra, còn có một số vực nước ở nơi quá hẻo lánh (miền núi, hải đảo) chưa thể có điều kiện thu mẫu và giám định loài hết được nhưng có thể ước lượng khoảng gần 600 loài Nếu so với diện tích vào khoảng 33 triệu ha mà có số lượng loài như vậy là khá nhiều và thuộc vào nước có đa dạng sinh học về cá nước ngọt cao

Bảng 1: Số lượng họ, giống, loài và phân loài cá trong các bộ

(Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam, 1996) STT

Osteoglossiformes Salmoniformes Anguilliformes Cypriniformes Silurisformes Cyprinodonpiformes Beloniformes

Gasterosteiformes Mugiliformes Sybranochiformes Ophiocephaliformes Perciformes

Pleuronestiformes Mastacembeliformes Tetrodontiformes

Qua bảng 1 nhận thấy có 5 bộ quan trọng xếp theo thứ tự sau:

- Bộ cá Chép (Cypriniformes) gồm 4 họ, 100 giống, 276 loài và phân loài (chiếm 50,7%), trong đó đáng lưu ý là họ cá Chép có tới 228 loài và phân loài chiếm 41,9%

Trang 5

- Bộ cá Nheo (Silurisformes) có 10 họ, 31 giống, 88 loài và phân loài (chiếm 16,2%), đáng lưu ý là họ cá Lăng (Bagridae), họ cá Tra (Pangssidae) và họ cá Nheo (Siluridae)

- Bộ cá Vược (Perciformes) có 17 họ, 44 giống, 70 loài và loài phụ (chiếm 12,9%) đáng lưu ý là các họ cá Mú (Serranidae), họ cá Sặc (Belontidae), họ cá Chẻm (Centropomidae), họ cá Bống đen (Eleotridae) và họ cá Bống trắng (Gobiidae)

- Bộ cá Trích (Clupeiformes) có 2 họ, 11 giống, 22 loài và phân loài (chiếm 4,04%) đáng lưu ý là họ cá Trích (Clupeidae)

- Bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) có 4 họ, 5 giống, 22 loài và loài phụ (chiếm 4,04%) đáng lưu ý là họ cá Bơn (Soleidae) và họ cá Bơn cát (Cynoglossodae)

Các bộ khác có ít loài nhưng cũng có một số bộ có giá trị kinh tế cao như bộ cá Trình (Anguilliformes), bộ cá Quả (Ophiocephaliformes) và bộ cá Mang liền (Synbranchiformes)

Căn cứ vào các tài liệu về địa chất, cơ sở sinh vật học và so sánh thành phần loài cá của nước ta với các nước lân cận, cũng như trong các vùng khác nhau, khu hệ cá nước ngọt Việt Nam được chia làm 2 nhóm lớn có nguồn gốc hình thành khác nhau: nhóm các loài cá nước ngọt miền Bắc gắn liền với lịch sử phát triển của lưu vực sông Hồng và nhóm các loài

cá nước ngọt miền Nam gắn liền với lịch sử phát triển của lưu vực sông Mêkông Cũng có một nhóm nhỏ khoảng trên 10 loài sống chủ yếu ở đồng bằng ven biển ở cả nước có nguồn gốc phát tán từ Ấn độ, Mã Lai sang

Cả hai nhóm lớn trên đều hình thành và phát triển vào cuối kỷ đệ tam, sang kỷ đệ tứ chỉ còn vài biến đổi nhỏ và không có sự phân hoá loài thêm nữa Những biến đổi gần đây về thành phần loài chủ yếu liên quan đến hoạt động của con người

Trong thành phần khu hệ cá nước ngọt Việt Nam, số lượng các loài đặc hữu (chỉ gặp ở nước ta) hiện được thống kê qua danh sách khoảng 60 loài Vì thiếu tài liệu nghiên cứu ở các vùng lân cận, hơn thế nữa việc định tên loài mới còn cần được kiểm tra và lưu hành một thời gian nhất định, ta có thể ước tính có khoảng 35 loài là đặc hữu Đây là các loài hiếm chỉ gặp ở nước ta nên rất quý cần phải được quan tâm bảo vệ Chúng sống ở các vực nước đặc trưng và có sự cách ly với mạng lưới thuỷ văn của các vùng lân cận

I.2 Đặc trưng về phân bố địa lý của khu hệ

Trong số gần 550 loài cá nước ngọt được biết ở Việt Nam, có 11 loài phân bố rộng chung cho cả hai miền Nam-Bắc Các tỉnh thuộc Bắc Bộ có 226 loài (chiếm 41,6%) Các tỉnh thuộc Nam Bộ có 306 loài (chiếm 56,2%) Các tỉnh Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên-Huế có 145 loài (chiếm 26,7%), trong đó có 3 loài đặc hữu là cá Mè Huế, cá Chẻm và cá lăng Quảng Bình; các tỉnh Nam Trung Bộ từ Quảng Nam-Đà Nẵng đến Bình Thuận có 120 loài (chiếm 22,1%) Khu hệ cá sông ở đây mang tính chất trung gian chuyển tiếp giữa hai khu hệ trên Tại đây có 3 loài cá Chình và loài cá Dầy là đặc hữu

Trang 6

Một vấn đề đáng lưu ý trong thành phần cá đã thống kê có 228 loài và phân loài (chiếm 21,3%) nằm trong 60 giống (chiếm 26,3%), 31 họ (chiếm 54,4%) và 12 bộ (chiếm 66,7%)

là những loài cá có nguồn gốc nước mặn và nước lợ di cư vào vùng nước ngọt sinh sản và kiếm ăn và đã trở thành đối tượng khai thác hoặc nuôi dưỡng, có một số bộ quan trọng được xếp theo thứ tự sau:

- Bộ cá Trích (Clupeiformes) có 2 họ, 11 giống, 22 loài

- Bộ cá Vược (Perciformes) có 11 họ, 19 giống, 22 loài

- Bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) có 4 họ, 5 giống, 22 loài

- Bộ cá Nheo (Silurisformes) có 2 họ, 4 giống, 17 loài

- Bộ cá Lóc (Tetridontiformes) có 2 họ, 7 giống và 13 loài

- Bộ cá Kìm (Beloniformes) có 2 họ, 4 giống và 7 loài

So sánh các khu hệ cá của ta với khu hệ cá của các vùng lân cận: Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia, khu hệ cá nước ngọt Việt Nam có thể xếp vào vùng Đông phương với hai vùng phụ và 10 tỉnh địa lý như sau:

- Vùng phụ Nam Trung Hoa có 5 tỉnh thuộc Việt Nam: Cao Lạng, Việt Bắc, Tây Bắc, miền núi Bắc Trung Bộ, đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ

- Vùng phụ Đông Dương có 4 tỉnh thuộc Việt Nam: Tây Nguyên, hạ lưu sông Mê Kông, đồng bằng Nam Bộ, Phú Quốc

- Tỉnh thứ 10 là tỉnh Trung và Nam Trung Bộ mang tính chất chuyển tiếp giữa hai vùng phụ trên Do đó có nhiều loài phân bố cực Bắc và cực Nam của hai khu hệ cá miền Bắc và miền Nam có mặt ở đây

Tính chung cho cả nước thì gần 500 loài, nhưng nếu xét từng tỉnh địa lý thì chỉ có trên dưới 100 loài Mỗi tỉnh địa lý phân bố cá có một số loài đặc trưng riêng cần được lưu ý Mỗi tỉnh ở các vực nước cụ thể thuộc các kiểu hệ sinh thái ở nước như ao, hồ đập nước, sông suối, ruộng nước, đất ngập nước có thành phần loài đặc thù riêng Lý do là mỗi loài đều chọn cho mình một nơi ở và một tổ hợp sinh thái phù hợp

I.3 Sự phân bố cá theo các hệ sinh thái ở nước

Việt Nam là một đất nước có lịch sử địa chất phức tạp, địa hình đa dạng, 3/4 là đồi núi, hai đồng bằng rộng lớn, chiều dài ven biển tới 3260km, ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Đông Nam Á, lượng mưa trung bình hàng năm cao, mạng lưới thủy văn phong phú, có nhiều thủy vực khác nhau bao gồm các hệ sinh thái

- Hệ sinh thái nước chảy có: sông, suối, thác nước

- Hệ sinh thái nước đứng có: ao, hồ, ruộng nước, đất ngập nước, đập nước nhân tạo

- Nước ngầm cũng có sông suối ngầm, hồ nước ngầm

Mỗi kiểu hệ sinh thái trên phân bố ở các vùng sinh thái cảnh quan khác nhau như miền núi, trung du, đồng bằng ven biển, các đảo cũng khác nhau Mặt khác phân bố cá ở các miền như miền Bắc, miền Nam, Tây Nguyên, ven biển các tỉnh miền Trung cũng khác nhau Khu hệ cá của từng vực nước, từng hệ sinh thái cụ thể cũng khác nhau

Trang 7

Nhìn chung số lượng các loài cá nước ngọt gặp ở sông là nhiều nhất trên 100 loài Dòng chính sông Hồng có trên 100 loài phân ra thượng nguồn, trung lưu và hạ lưu Dòng chính sông Mê Kông phân ra hạ lưu là phần ở Việt Nam thống kê được khoảng 150 loài Số lượng loài ở suối khoảng 50-60 loài, ở ao hồ ruộng khoảng 30-40 loài Số lượng loài ở các vực nước ở đảo, ở núi cao, ở ngầm ít, đa dạng sinh học thấp

II NGUỒN LỢI CÁ NƯỚC NGỌT

II.1 Đánh giá chung về khai thác và nuôi trồng thủy sản

II.1.1 Tiềm năng diện tích mặt nước và hướng phát triển NTTS

Diện tích mặt nước có thể nuôi trồng và phát triển ở nước ta là 1,35 triệu ha, phân chia như trong bảng 2:

Bảng 2: Diện tích các loại mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản

(Theo Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996)

Các số liệu Tổng

số

Ao nhỏ

Ruộng Mặt

nước lớn

Bãi triều nước lợ

Đầm phá

Eo vịnh Diện tích (ngàn ha)

Tỷ lệ (%)

1.350

100

56,2 4,1

544,5 40,2

394,5 29,1

290,1 21,4

26,7 1,97

56 4,1

Tiềm năng diện tích mặt nước được phân bố theo các vùng kinh tế như sau (Bảng 3)

Diện tích mặt nước ngọt tập trung nhiều nhất ở Nam Bộ 55,07%, Bắc Bộ 24,15%, Nam Trung Bộ 13,40%, Bắc Trung Bộ chiếm 7,38%

Diện tích ao tập trung ở vùng Bắc Bộ chiếm 76,75% (vùng đồng bằng 50,85%, trung du

và miền núi 25,80%), vùng Nam Bộ 14,63% (đồng bằng 12,91%, vùng Đồng Nam Bộ 1,72%), vùng Bắc Trung Bộ 7,74%, vùng Nam Trung Bộ chỉ có 0,88%

Diên tích ruộng có khả năng nuôi cá tập trung chủ yếu ở vùng Nam Bộ 90,59% (đồng bằng 88,40%), Đông Nam Bộ 2,19%, vùng Bắc Bộ 8,31% (đồng bằng 5,65%, trung du và miền núi 2,66%), vùng Bắc Trung Bộ 1,1% Riêng vùng Nam Trung Bộ cá ruộng không có khả năng phát triển

Diện tích mặt nước lớn tập trung ở vùng Bắc Bộ 36,74% (trung du và miền núi 23,62%, đồng bằng 12,85%), vùng Nam Trung Bộ 30,06% (Tây Nguyên 16,35%, duyên hải 13,71%), vùng Bắc Trung Bộ 13,96%, vùng Đông Nam Bộ 19,51% Riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long không có diện tích mặt nước lớn

Diện tích bãi triều, nước lợ có khả năng phát triển thủy sản tập trung vùng Nam Bộ 60,88 (đồng bằng sông Cửu Long 43,68%, Đông Nam Bộ 17,2%), vùng Bắc Bộ 26,83%, vùng Bắc Trung Bộ 11,69% Vùng Nam Trung Bộ chỉ có ở Duyên hải chiếm 7,63%

Trang 8

Diện tích đầm phá, eo vịnh tập trung ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ chiếm tới 50,41%, vùng Bắc Trung Bộ 25,87%, vùng duyên hải Bắc Bộ chiếm 23,62% Đặc biệt là vùng ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ không

có diện tích loại này

Năm 2003, diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước đã đạt 867 613 ha, trong đó diện tích nước ngọt dùng để nuôi trồng thủy sản là 254.835,2 ha và diện tích nuôi ở môi trường nước mặn lợ là 612.777,8 ha

Hướng phát triển nuôi trồng thủy sản của ngành:

Nuôi trồng thủy sản là hướng chiến lược chủ yếu của ngành, vừa có ý nghĩa tái tạo nguồn lợi, vừa tạo ra nguồn nguyên liệu có giá trị xuất khẩu, chuyển nhanh nghề nuôi trồng thủy sản trở thành ngành sản xuất hàng hóa, chú trọng các đối tượng có giá trị xuất khẩu

Phát triển nuôi trồng thủy sản phải hợp lý và có hiệu quả đối với các loại mặt nước bằng việc thu hút lao động, bố trí dân cư và bảo vệ môi trường sinh thái Xây dựng đồng bộ hệ thống giống, thức ăn, thuốc trị bệnh, dịch vụ kỹ thuật

Việc nuôi trồng thủy sản triển khai theo các định hướng sau:

- Đối với ao hồ nhỏ, ruộng trũng vừa trồng lúavừa kết hợp với nuôi tôm, nuôi cá theo mùa vụ Diện tích các ao hồ nhỏ tương đối ổn định cần chú trọng nâng cao năng suất và đặc biết chú ý nuôi các đặc sản xuất khẩu

- Đối với mặt nước lớn: sông, suối, hồ tự nhiên và hồ chứa ngày càng tăng, cần có chính sách thích hợp để quản lý và sử dụng nguồn lợi thủy sản, đồng thời phát triển nghề nuôi cá lồng, bè để xuất khẩu và phục vụ tiêu dùng nội địa

- Vùng bãi triều nước lợ ven biển có diện tích lớn cần phấn đấu sử dụng hết diện tích

để nuôi tôm, cua, các loài nhuyễn thể, trồng rau câu để xuất khẩu

- Eo, vũng, vịnh biển là mặt nước cần được sử dụng từng bước để nuôi các đặc sản xuất khẩu như cá Song, cá Vược, cá Cam, tôm Hùm, nhuyễn thể theo hình thức lồng bè

Trang 9

Bảng 3: Khả năng diện tích nuôi trồng thủy sản phân theo vùng kinh tế (Bộ Thủy sản, tháng 5/1992)

Đơn vị: ha

Đầm phá, eo vịnh

58.088 44.588 14.988 29.600 4.500

500

-

500 8.500 1.000 7.500

4,2 13,3 8,0 20,3 4,4 0,3

- 0,4 1,1 0,7 1,2

548.050 45.550 14.550 31.000 6.000

-

-

- 496.500 12.000 484.500

39,8 13,5 7,8 21,3 5,9

-

-

- 65,4 8,5 78,3

397.500 145.000 93.900 51.000 55.500 119.500 65.000 54.500 77.500 77.500

-

28,7 43,3 50,1 34,2 54,7 64,6

100 45,5 10,2 55,2

-

290.700 78.000 44.000 34.000 13.500 22.200

- 22.200 177.000 50.000 127.000

21,1 23,8 23,5 24,2 13,3 12,0

- 18,5 23,3 35,6 20,5

84.700 20.000 20.000

- 22.000 42.700

- 42.700

-

-

-

6,2 6,1 10,6

- 21,7 23,1

- 35,6

-

-

-

Trang 11

II.1.2 Sản lượng và năng suất cá nước ngọt

a Sản lượng cá nội địa

Trong vòng 15 năm (1986-2000) sản lượng cá nội địa biến động từ 242.866-723.110 tấn/năm và chiếm khoảng một phần ba tổng sản lượng cá khai thác trên toàn quốc Đóng góp vào sản lượng này có phần rất lớn từ sản lượng cá nuôi ví dụ như ở đồng bằng sông Hồng đã vượt quá 50%

Bảng 4: Sản lượng cá nội địa và cá biển trong vòng 15 năm (1986-2000)

242.866 249.940 249.791 252.130 306.750 347.910 358.598 374.472 397.168 415.280 411.000 492.000 537.870 614.510 723.110

28,89 27,94 27,36 27,60 31,33 32,75 32,66 32,12 32,78 30,89 29,92 31,33 32,33 33,62 36,09

b Nguồn lợi thủy sản đồng bằng sông Hồng

Nguồn lợi thủy sản vùng đồng bằng sông Hồng mang tính chất nhiệt đới gió mùa, phong phú về thành phần loài nhưng năng suất và sản lượng thấp

Khác với sông Mê kông, sông Hồng có hệ thống đê dọc theo hai bên bờ nên không có

sự lưu thông giữa sông và đồng Nguồn nước và cá giữa sông và đồng giao lưu qua hệ thống cống và hệ thống các trạm bơm điều tiết nước suốt dọc theo hai ven sông Dựa theo các đặc điểm tự nhiên và sinh thái học có thể chia nguồn lợi cá ở đồng bằng thành các khu

hệ sau:

- Khu hệ cá sông gồm: 216 loài của 125 giống và 30 họ, chủ yếu là các loài trong họ

cá Chép và có khoảng hơn 40 loài cá kinh tế thuộc bộ cá trơn Sản lượng cá sông Hồng ước tính khoảng 1.200 tấn/năm bao gồm các nhóm sau: các loài cá biển di cư vào sông (cá Mòi,

cá Cháy, cá Lành Canh) khoảng 650 tấn; nhóm cá trơn 140 tấn; nhóm cá nuôi: Mè, Trôi,

Trang 12

Trắm khoảng 100 tấn; các loài khác trong họ Chép 200 tấn; các loài cá tự nhiên khác 50 tấn

- Khu hệ cá đồng gồm có 33 loài, chủ yếu là nhóm cá đen như cá Quả,cá Chuối Hoa,

cá Rô, cá Trê, Lươn và các loài cá trắng như cá Chép Sản lượng cá ruộng ước khoảng

- Khu hệ cá cửa sông ven biển gồm 233 loài, 71 họ trong đó bộ cá Vược 33 họ, 120 loài chiếm 51,5%, bộ cá Trích 5 họ, 2 loài chiếm 9% Các họ cá có số lượng nhiều gồm Carangidae (15 loài), Cynoglosidae (14 loài), Leiognathidae, Sciaenidae, Tritraodontidae mỗi họ có 11 loài Họ Clupeidae và Eugraulidae mỗi họ có 9 loài Họ Mugilidae có 6 loài

Họ cá Chép và họ cá Ngạnh mỗi họ có 5 loài đều là các loài phổ biến Trong vùng cửa sông có 30 loài có giá trị kinh tế, thành phần khai thác đa dạng gồm nhóm cá Trích, cá Lầm, cá Bẹ, cá Sơn, cá Lẹp Vàng, Lẹp Gà, cá Mòi, cá Chày, cá Lành Canh, cá Khoai, cá Đối, cá Úc, cá Nhụ, cá Tráp, cá Chẻm, cá Bống

Sản lượng hàng năm ở đồng bằng sông Hồng khai thác tự nhiên khoảng 4.000 tấn cá nước ngọt và 40.000 tấn thủy sản nước lợ mặn

Đánh giá về tiềm năng cá nước ngọt khai thác tự nhiên trước đây là 5.000 tấn /năm và

600 triệu cá bột/năm, nay giảm đến mức báo động chỉ còn dưới 1.000 tấn/năm và 100-200 triệu cá bột/năm Nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông ven biển thì năng suất tự nhiên khu vực bãi ngang, cửa sông hình phễu khoảng trên dưới 200 kg/ha và cửa sông lớn, vùng có thảm thực vật đáykhoảng trên dưới 500 kg/ha, trong đó sản lượng cá chiếm 80%, tôm 20%

Sản lương cá nội địa đồng bằng sông Hồng biến động từ 35.497 – 45.782 tấn/năm (trung bình 39.384 tấn/năm) và chiếm từ 42,41-53,7% (trung bình 46,99%) tổng sản lượng của vùng (Bảng 5) Đặc biệt từ năm 1989 đến nay sản lượng cá nuôi cao hơn sản lượng khai thác cá biển

Trang 13

Bảng 5: Sản lượng cá nuôi nội địa và thủy sản khai thác vùng đồng bằng sông Hồng

(Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996)

35.497 36.050 37.198 45.782 42.393

43,50 42,41 44,09 53,70 51,15

c Nguồn lợi thủy sản đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn lợi thủy sản đồng bằng sông Cửu Long mang tính chất nhiệt đới rõ rệt, được đánh giá đa dạng về thành phần loài và phong phú về sản lượng Khoảng 236 loài cá được tìm thấy ở hạ lưu sông Mê Kông thuộc Việt Nam, trong đó họ cá Chép (Cyprinidae) phong phú nhất với 74 loài (31,36%), họ cá Trơn (Siluriformes) 51 loài (21,60%), hơn 50 loài được xem có giá trị kinh tế, khoảng 10 loài được nuôi trong ao hồ bé Dựa vào đặc điểm sinh thái học các nhà nghiên cứu đã chia nguồn lợi thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long thành các nhóm sau:

- Các loài cá có nguồn gốc biển hay còn gọi là nhóm cá nước ngọt cấp 2 Các loài cá

này di cư từ biển vào trong nước ngọt để kiếm ăn hoặc sinh sản như cá Cơm (Corina

sorbona), cá Mề Gà (Colia macrognathus), cá Lẹp (Septipinna melanochis), cá Tớp (Lycothrissa crocodilus), cá Cháy (Clupeioides thibaudoami), cá Đù (Johnius spp), cá Sửu (Pseudosciaena soldado), cá Thu sông (Scomberomorus chinensis), các loại Lưỡi Trâu

(Cynoglossidae) và cá Bơn (Soleidae) Các loài này di cư rất lạ không chỉ trong vùng đồng bằng mà còn tới tận Biển Hồ (Tonlesap) thuộc Campuchia

- Nhóm cá sông hay còn gọi là nhóm cá trắng sống trên dòng chính và các nhánh sông rạch lớn Hằng năm các loài cá thuộc nhóm này có sự di cư vào và ra khỏi vùng ngập trũng

theo sự lên xuống của mức nước lũ Cá trong nhóm này bao gồm cá Duồng (Cirrhinus

microlepis), cá Linh (Cirrhinus jullient, Thynnichthys thynoides, Labiobarbus spp.), cá

Ngựa (Hampala macrolepidota), cá Chài (Leptobarbus hoevenii), Mè Vinh (Puntius

goninotus, P daruphani), Mè Hôi (Osteochilus melanopleura), cá Ét Mọi (Morulius chrysophekadion) và các loài cá trong họ cá Tra (Pangasiidae), họ cá Leo (Siluridae), và họ

cá Thát Lác (Notopteridae) Một số loài như cá Tra, cá Ba Sa, cá Duồng, cá Hô, cá Trà Sóc có sự di cư ngược dỏng lên trung lưu sông (thuộc Campuchia) để sinh sản vào đầu mùa Hè

Đặc biệt trong nhóm cá trắng thì các loài cá Linh có quần đàn rất lớn, hàng năm chiếm

tỷ lệ cao trong sản lượng khai thác cá nước ngọt và hàng trăm triệu cá Tra bột được vớt hàng năm trên sông Tiền và sông Hậu là nguồn cung cấp giống cho nghề nuôi cá ở đồng bằng sông Cửu Long

Trang 14

- Nhóm cá đen hay còn gọi là cá đồng Các loài cá này thích ứng với nước tĩnh, chịu được môi trường nước nông, hàm lượng oxygen hòa tan thấp, nước bị nhiễm phèn trong mùa khô ở các vùng đầm lầy, bưng biền thuộc vùng rừng U Minh và Đồng Tháp Mười như các loài trong họ cá Lóc (Ophiocephalidae), họ cá Rô (Anabantidae), họ cá Sặc (Belontidae), họ Lươn (Plutidae), họ cá Thát Lác (Notopteridae) Nhóm cá này cho sản lượng cao với nhiều loài cá có giá trị kinh tế Đa số các loài cá đen ăn động vật hoặc thức

ăn thối rữa, có khả năng di chuyển trên cạn hoặc có cơ quan hô hấp phụ để sử dụng khí trời

- Nhóm cá đặc trưng cho vùng cửa sông nước lợ gồm các loài cá trong họ cá Trích (Clupeidae), họ cá Bè (Carangidae), họ cá Thu (Scombridae), họ cá Đối (Mugilidae), họ cá

Đù (Scianidae), họ cá Nhụ (Polymenidae), họ cá Chẻm (Centropomidae), bộ phụ cá Bống (Gobiidae)

- Các loài tôm nước lợ và tôm Càng Xanh là nguồn lợi thủy sản có giá trị kinh tế nhất hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long Chúng phân bố trên dòng chính và các cửa rạch lớn Tôm Càng Xanh phân bố rất rộng trong nước ngọt và được đánh bắt cách cửa sông trên

200 km Các loài tôm nước lợ vào trong nội địa nơi có độ mặn dưới 2o/oo

Ngoài ra một số loài nhuyễn thể nước lợ như Nghêu, Sò Huyết, Hầu là thành phần quan trọng của hệ sinh thái vùng cửa sông và cũng là đối tượng được khai thác của ngành thủy sản

Về sản lượng khai thác, trước đây đồng bằng sông Cửu Long được xem như vựa cá chính Những giai thoại về cá đồng rừng U Minh hoặc Đồng Tháp Mười hoặc cá Linh trên sông Tiền và sông Hậu là rất thực tế Có một số loài cỡ lớn đến vài trăm kg như cá Hô, cá Tra Dầu và hàng chục kg như cá Trên Dốc, cá Leo, cá Bông Lau, cá Tra Nhiều loài cá Hô làm mắm nổi tiếng ở vùng Châu Đốc, An Giang, Đồng Tháp, Hồng Ngự là do lượng cá bắt được quá nhiều trong vụ khai thác, không tiêu thụ hết chế biến thành mắm và phơi khô

Sản lượng và kết cấu sản lượng cá nội địa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long từ

112.650 114.700 134.205 149.829 154.300 162.400 171.694 176.156

42,64 39,52 36,81 39,14 36,79 42,42 40,88 43,84

Trang 15

Sản lượng cá nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long biến động hàng năm từ 112.650 –176.156 tấn (trung bình 146.991 tấn) chiếm từ 36,79-43,87% (trung bình 40,41%) sản lượng cá của vùng

d Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản nước ngọt

Sản lượng thủy sản nuôi trồng nước ngọt cả nước trong năm 2001 là 390.820,4 tấn, năm

2002 là 844.809,6 tấn và đến năm 2003 đã vượt ngưỡng 1triệu tấn với tổng sản lượng đạt 1.003.095 tấn

Sản lượng cá nuôi theo các loại hình mặt nước ở đồng bằng sông Hồng năm 1990 như sau: cá ao hồ nhỏ 32.790 tấn (77,34%), cá ruộng 3.550 tấn (8,37%), cá mặt nước lớn 3.671 tấn (8,65%), cá lồng bè 274 tấn (0,67%) và cá nuôi ở vùng mặn lợ 2.108 tấn (4,97%), sản lượng cá nuôi gấp 39-40 lần sản lượng cá khai thác tự nhiên

850

5.300 1.700 4.000 6.800 4.000 6.500 3.800 3.000

950

5.894 2.240 4.100 7.000 3.869 6.700 3.500 2.895 1.000

6.545 2.885 6.298 8.900 5.216 5.460 4.948 4.700

800

8.330 3.253 7.445 7.695 4.225 6.325 1.742 2.503

875

6.194 2.422 5.249 7.185 4.178 6.410 3.580 3.272

895

15,72 6,14 13,32 18,24 10,06 16,27 9,08 8,30 2,33 Toàn vùng 35.497 36.050 37.198 42.393 42.393 39.385 100,00

Ở đồng bằng sông Cửu Long sản lượng cá nuôi chiếm 49% và cá khai thác tự nhiên chiếm 51% Sản lượng cá ao hồ chiếm 46,8%, ruộng trũng chiếm 18,9%, cá nước lợ 27%

và cá bè 7,3%

Tổng thủy sản nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long năm 1988 là 178.156 tấn trong đó khai thác tự nhiên là 97.774 tấn (45%) với cá chiếm 91,28% và tôm chiếm 8,72% Sản lượng nuôi thủy sản là 80.382 tấn (55%), trong đó cá chiếm 40,6%, tôm biển 28,2% và cá nuôi lồng chiếm 9,5% (bảng 8)

Tuy nhiên trong thời gian qua nguồn lợi thủy sản đồng bằng sông Cửu Long giảm sút rõ rệt cả về số lượng loài, cỡ cá khai thác và sản lượng Theo các ngư dân khai thác thường xuyên trên sông Tiền và sông Hậu, từ kinh nghiệm cá nhân, nhận xét sản lượng cá khai thác hiện nay thấp hơn nhiều so với những năm trước, chỉ khoảng 1/2 so với 15 năm trước đây

Trang 16

Ngoài ra cỡ cá khai thác cũng bé hơn so với trước đây (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996)

Bảng 8: Cơ cấu sản lượng nội địa ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long năm 1986

(Theo Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản 1990)

Cá nước

lợ

Cá bè Tổng sản

Cá tự nhiên

714

256 1.500 1.270 4.600 2.200

160

800 3.600

750

750 6.203 4.600

450

600 8.100

220

15.000 10.000 32.000 21.000 5.000 12.000 23.000 28.000 16.400

5.864 6.006 13.903 11.520 3.650 3.960 18.216 10.321 6.120

9.136 3.994 18.097 9.480 1.350 8.040 4.780 17.679 10.280

Bảng 9: Cơ cấu sản lượng các đối tượng thủy sản ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

1988 (Theo Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản 1990)

T

T Các tỉnh

Tổng sản lượng thủy sản (tấn)

Sản lượng đối tượng nuôi chính (tấn) Sản lượng khai thác tự nhiên (tấn) Tổng

số Cá

Tôm càng xanh

Tôm biển

4.315 4.627 11.360 7.800 20.026 3.700 1.222 14.401 9.991

4.220 3.057 7.000 4.500 4.652 3.075 2.500 8.016 8.250

73

472 2.000

11.685 6.373 24.700 15.200 5.378 1.300 2.778 14.500 15.960

11.430 5.625 24.500 14.300 5.000 1.000 1.500 10.900 15.000

960 Tổng cộng

Tỷ lệ %

Tỷ lệ %

178.156 100,0

80.382 100,0 45,0

46.288 40,6

3.606 4,5

22.668 28,2

7.820 9,5

97.774 100,0 55,0

89.255 91,28

8.519 8,72

Trang 17

Bảng 10: Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản nước ngọt theo các khu vực

trong 10 năm 1985-1994 (Nguồn BộThủy sản)

và không trực tiếp thông ra biển

Theo thống kê có 230 hồ với diện tích 34.602 ha và phân bố theo các quy cỡ sau (bảng 11) (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996)

Bảng 11: Số lượng và diện tích các đàm hồ tự nhiên theo quy cỡ (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996, theo Nguyễn Văn Hảo, 1993, 1995)

231 100,0 Diện tích ha

%

3.698 1.954 7.252 3.184 1.851 10,69 5,65 20,96 9,20 3,5

34.602 100,0

Trang 18

Các hồ phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, rồi đến miền núi trung du Bắc Bộ

và vùng khu V, các vùng khác có rất ít

Các hồ ở vùng đồng bằng phần lớn do sông đổi dòng tạo thành, kích thước và dộ sâu không lớn (2-3m), đáy bằng phẳng, xung quanh nhiều cây cối, lau sậy và cỏ nước Các hồ tiêu biểu là hồ Tây, đầm Sét, đầm Dạ Trạch, đầm Nhân Huệ

Bảng 12: Phân bố các đầm hồ tự nhiên theo các vùng sinh thái (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996, theo Nguyễn Văn Hảo, 1993, 1995)

3.598 8.668 5.464 15.500

712

660

10,40 25,05 15,79 44,80 2,06 1,96

Các hồ vùng ven biển hình thành do cát bồi lấp ở phía ngoài giáp biển; độ sâu dưới 2m nước, đáy rộng bằng, ven hồ có nhiều thực vật thủy sinh mọc đặc biệt là rong như đầm Châu Trúc, đầm An Khê, đầm Thị Nại

Các hồ ở vùng trung du miền núi hình thành do tạo núi, các nếp gãy của lưu vực và hoạt động của núi lửa Độ sâu của hồ vùng này rất lớn tới 30m (như hồ Ba Bể), và 10m (hồ Lắc, Biển Hồ) và 4-5m như đầm Dưng, đầm Vạc, đầm Chính Công Phần lớn các hồ có đáy bùn cát hoặc cát bùn

Các hồ tự nhiên thường có dạng hơi tròn, một số hồ có dạng kéo dài, đáy bằng phẳng, thức ăn đáy phong phú Các hồ đều thuận lợi cho việc khai thác cá tự nhiên Một số hồ có điều kiện đã tổ chức nuôi cá có hiệu quả

Các hồ tự nhiên có từ 19-56 loài Đối với các hồ miền Bắc thì hồ Ba Bể có 56 loài, đầm Dưng 24 loài, hồ Tây 36 loài Đối với các hồ miền Trung thì Biển Hồ có 27 loài, hồ Lắc 35 loài, đầm Châu Trúc 47 loài và đầm An Khê 19 loài

Thành phần các loài cá ở hồ tự nhiên kém phong phú hơn ở sông và hồ chứa Các hồ lớn có lưu vực lớn, hồ thông với sông có nhiều loài cá có kích thước lớn hơn, còn các hồ nhỏ, có lưu vực nhỏ, thì giống loài có ít và gồm nhiều loài cá có kích thước nhỏ, giá trị kinh

tế kém

Tùy theo vị trí địa lý của từng hồ mà thành phần các loài cá kinh tế có khác nhau:

Hồ Ba Bể gồm cá Trôi, Chép, Bỗng, Lợ, Chầy Đất, Diếc, Vền, Quả, Mương, Nheo

Hồ Tây gồm cá Chép, cá Diếc,cá Nhưng, cá Thiểu, Ngão, Chày, Vền, Niên, cá Lóc

Trang 19

Các hồ vùng Tây Nguyên có cá Thát Lác, cá Lúi, cá Ngựa, cá Niên và cá Lóc

Các hồ vùng ven biển có cá Chình (Mun, Hoa và đầu nhọn), cá chép, cá Dày, cá Vược, cá Chẻm

b Sản lượng và năng suất

Sản lượng và năng suất cá khai thác tự nhiên ỏ các đầm hồ như bảng sau

Bảng 13: Sản lượng và năng suất cá đánh bắt ở các đầm hồ tự nhiên

(Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996)

TT Các đầm hồ Diện tích

(ha)

Sản lượng (tấn/năm)

Năng suất (kg/ha/năm)

Tác giả và năm nghiên cứu

333 - 553

Mai Đình Yên, 1971 Nguyễn Anh

Thái Bá Hồ Nguyễn Anh và Thái Bá Hồ Thái Bá Hồ Thái Bá Hồ Thái Bá Hồ Cộng

6,4 - 30 334,5 22,8 - 45 127,2 - 300

21,3 - 100

609 76,0 - 150,0

106 - 250

Nguyễn Văn Hảo &ctv Nguyễn Văn Hảo &ctv Nguyễn Văn Hảo &ctv Nguyễn Văn Hảo &ctv Cộng

Trung bình

2.300 600,2

460,9 - 709,5

261 0

213,4 - 308,5 Tổng cộng

II.2.2 Hồ chứa

a Tiềm năng

Hồ chứa là do con người tạo ra để phục vụ các mục đích như thủy lợi, thủy điện Theo

số liệu của điều tra của Viện Kinh tế và quy hoạch thủy sản (1995) các hồ chứa ở 35 tỉnh và thành phố gồm 2.470 hồ, với diện tích 183.579,5 ha và phân chia theo quy cỡ như trong bảng 14

Trang 20

Các hồ cỡ nhỏ dưới 100 ha chiếm tới 95,10% về số lượng, nhưng chỉ chiếm 11,9% về diện tích Ngược lại, các hồ có trên 100 ha chỉ chiếm 4,9% số lượng, nhưng diện tích lại chiếm tới 88,1%

Theo số liệu điều tra của Bộ Thủy sản (1990) nước ta có 522 hồ có khả năng nuôi cá (150 hồ tự nhiên, 372 hồ chứa) với diện tích 394.300 ha (154.300 ha hồ tự nhiên, 240.000

ha hồ chứa)

Bảng14: Phân chia các hồ chứa nước của Việt Nam theo kích thước

(Theo Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản, 1995)

0,17 0,5 4,20 22,5 29,4 43,2

102.700 30.540 28.480,5 14.904 4.548 2.406

55,9 16,7 15,5 8,1 2,5 1,3

Tuy nhiên các số liệu thống kê của mỗi ngành một khác và chênh nhau, ngay cả các hồ chứa lớn và vừa Điều đó chứng tỏ hồ chưa được điều tra đầy dủ

Hình dạng các hồ chứa đa dạng và phức tạp, đa số dạng nhiều nhánh, một số có dạng hồ

tự nhiên (lòng hồ tương đối đối xứng) và một số có dạng sông (hồ Hòa Bình) Diện tích hồ nhỏ nhất là 3 ha và lớn nhất là 32000 ha Độ sâu hồ nhỏ ở vùng trung du là 10-15m, đồng bằng 4-5m, hồ vừa 15-20m (hồ Núi Cốc, Cấm Sơn), hồ lớn 40-50m (hồ Thác Bà, Trị An)

Tổng diện tích mặt nước nội địa (ha)

Số hồ Diện tích Tỷ lệ % diện

tích mặt nước nội địa

249.793 110.856 79.930,5 54.251 193.485

65.629 20.884 11.289,6 12.671,9 73.105

35,8 18,8 6,1 6,9 39,8

26,27 18,84 14,12 23,35 37,78 Tổng cộng 35 279.104,5 688.415,5 2.470 100,0 183.579,5 100 26,66

Nguồn nước của hồ chủ yếu phụ thuộc vào nước mưa và nước nguồn, ngoài ra còn phụ thuộc vào các mạch nước ngầm và sự điều tiết nước của các công trình thủy lợi và thủy điện Do vậy nước ở hồ cũng có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Độ chênh mức nước

Trang 21

giữa hai mùa lớn Các hồ nhỏ vùng đồng bằng 3-4m, các hồ vùng trung du 5-7m, các hồ vừa 8-10m, các hồ lớn 10-15m, có hồ tới 40-50m (hồ Hòa Bình) Tùy theo thời gian ngập nước và không ngập nước mà hồ chia thành nhiều vùng có hiệu suất sinh học khác nhau ảnh hưởng tới năng suất, sản lượng cá

Hồ chứa là hệ sinh thái nửa hở, nửa kín, do đó có nhiều nét khác biệt với sông suối và

hồ tự nhiên Môi trường nước tốt và thủy sinh vật phát triển, đặc biệt là thức ăn nổi (động vật và thực vật phù du) và mùn bã hữu cơ phát triển mạnh rất phù hợp với cá ăn nổi và cá

ăn mùn bã hữu cơ Đó là điều đặc biệt quan trọng đến nguồn lợi cá và việc nuôi cá ở hồ chứa

b Năng suất cá tự nhiên

Các hồ chứa miền Bắc có 79 loài nằm trong 62 giống và 12 họ đều chung nguồn gốc với cá sông Hồng; các hồ chứa miền Đông Nam Bộ có 96 loài, 53 giống, 16 họ đều chung nguồn gốc với cá sông Mê Kông và sông Đồng Nai; các hồ chứa ở khu V và Tây Nguyên

có 29 loài, 25 giống, 12 họ là vùng đệm có nguồn gốc của cả hai vùng

Thành phần cá trong các hồ chứa có hai dạng chính là cá tự nhiên và cá nuôi, chủ yếu là các loài trong họ cá Chép, rồi đến bộ cá trơn, còn các họ khác số loài ít hơn hoặc kém giá trị hơn Các hồ càng lớn thành phần loài càng nhiều và đa dạng, gồm nhiều loài có kích thước lớn và có giá trị kinh tế Còn các hồ nhỏ thành phần loài đơn giản số loài ít, các loài

cá có kích thước nhỏ chiếm đa số

Các loài cá kinh tế hồ chứa miền Bắc có 30 loài, một số loài cá quý là Chép, Trắm Đen, Trôi Rầm Xanh, Anh Vũ, Chiên, Lăng, Chày Đất, Chày Tràng Các hồ chứa ở khu V có 20 loài và Tây Nguyên có 10 loài, một số loài quý là Dầy, Chình (Mun, Hoa, Đầu nhọn) Cá kinh tế hồ chứa Đông Nam Bộ có khoảng 30 loài, trong đó quan trọng có Thát Lác, Duồng, Ngựa, Mè Vinh, Leo, Trê Trắng, Lươn, Lóc, Bống Tượng và Tai Tượng

Ngoài ra còn có 13 loài cá nuôi, trong đó có 5 loài cá nội địa (Mè Trắng, Trôi, Chép, Trắm Đen, Mè Vinh) và 8 loài cá nhập nội (Mè Trắng Hoa Nam, Mè Hoa, Trắm Cỏ, Rô

Hu, Mrigal, Cát La, Rô Phi Đen và Rô Phi Vằn)

Đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước khi hồ chứa mới bắt đầu nuôi cá, chưa có dung cụ đánh bắt cá nuôi, sản lượng cá tự nhiên đánh bắt ở hồ Suối Hai là 17 tấn với năng suất 28,3 kg/ha/năm và được coi như năng suất tự nhiên của hồ (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996 theo nguồn Nguyễn Văn Hảo, 1973)

Nguyễn Văn Hảo (1983, 1995) và Thái Bá Hồ (1979) đã thu thập sản lượng đánh bắt tự nhiên và tính ra năng suất cá tự nhiên của các hồ chứa trung bình là 31,4 kg/ha/năm (Bảng 16)

Trang 22

Bảng 16: Năng suất cá khai thác tự nhiên ở một số hồ chứa (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam,

1996 Nguồn Nguyễn Văn Hảo, 1983, 1995 và Thái Bá Hồ)

Năng suất (kg/ha/năm) Thấp Cao Trung bình

29,72 69,76 34,72

28,33 28,57 48,80 21,60 40,70 22,00 30,00

Về hiện trạng khai thác cá tự nhiên ở các hồ chứa theo thống kê của Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (1995) thì các hồ chứa hiện nay ít hoặc không thả cá giống mà khai thác chủ yếu là cá tự nhiên Tổng diện tích hồ chứa khai thác tự nhiên của cả nước là 139.044 ha (76,75%), sản lượng cá khai thác được là 5.081,4 tấn, trong đó cá tự nhiên là 4.034,5 tấn và cá nuôi là 1.027,9 tấn, sản lượng cá tự nhiên gấp 3,94 lần cá nuôi, năng suất khai thác cá tự nhiên bình quân chung cho các hồ chứa là 29,2 kg/ha/năm

Bảng 17 : Diện tích, sản lượng và năng suất khai thác cá tự nhiên năm 1993

(Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, 1995)

TT Các vùng

Số

hồ (n)

Tổng diện tích (ha)

Diện tích khai thác

tự nhiên (ha)

52.129

18.321 2.479 2.299 63.816

886

324

70

155 2.618,5

17,0

17,7 28,2 67,4 41,0

370,4

92,0 192,0 59,5 314,0

7,11

5,02 77,45 25,88 4,92

1.256,4

416,0 262,0 214,5 2.932,5

24,10

22,71 105,69 93,30 45,95 Cộng 1403 181.173,6 139.044 4.053,5 29,2 1027,9 7,39 5.081,4 36,55

II.2.3 Các sông suối tự nhiên

a Tiềm năng

Theo thống kê cả nước có khoảng 2.360 con sông trong đó có 106 sông chính, còn lại là các sông phụ theo các cấp khác nhau Hệ thống sông chằng chịt của nước ta chủ yếu do địa hình nước chảy bào mòn và do nứt nẻ của vỏ trái đất hình thành (các nếp gãy) Ngoài ra còn một số con sông nhân tạo Các sông nước ta có nhiều dạng:

Trang 23

- Các sông lớn, dài và rộng và có nguồn lợi cá rất phong phú như sông Tiền, sông Hậu, sông Đồng Nai, sông Hồng, sông Thái Bình

- Các sông nhánh và sông con có nguồn cá kém phong phú hơn như sông Lô, sông Đà, sông Thương, sông Lam, sông Mã, sông Đà Rằng

- Các sông tự nhiên có khả năng nuôi cá như các sông cụt, sông thiên nhiên nhỏ ở vùng đồng bằng: sông Cà Lồ, sông Ngụ, sông Châu Giang

- Các sông đào trung đại thủy nông như sông Đuống, sông Bắc Hưng Hải và hàng loạt các kênh mương thủy lợi

Các sông miền Bắc có 243 loài trong 125 giống và 30 họ, các sông ở miền Trung có 134 loài trong 88 giống và 20 họ (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996, theo Nguyễn Hữu Dực, 1995) Các sông miền Nam có 255 loài trong 102 giống và 46 họ (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996 theo Nguyễn Văn Hảo, 1976, Mai Đình Yên và ctv, 1993)

Các sông lớn có số lượng loài nhiều 100-200 loài, các sông vừa có từ 50-100 loài và các sông nhỏ có từ 20-50 loài Trong các loài cá phân bố trên sông nhiều nhất là các loài cá trong họ cá Chép (Cyprinidae) tiếp đến là bộ các trơn (Siluriformes), rồi đến bộ cá Vược (Perciformes) đặc biệt là các sông ở phía Nam Bộ

Các loài cá kinh tế ở sông khá nhiều:

- Các sông ở miền Bắc có khoảng 50 loài cá, thường gặp là Chép, Diếc, Nhưng, Chầy, Vền, Mè Trắng, Trôi, Trắm Đen, Thiểu Ngão, Nheo, Bò, Ngạnh, Chiên, Lăng, Măng, Nhồng Các loài cá quý như Anh Vũ, Rầm Xanh, Hỏa, Mỵ, Chầy Đất, Chầy Tràng, Bỗng, Sỉnh, Chát

- Các sông miền Nam cá kinh tế cũng có khoảng 50 loài Các loài cá thường gặp là cá Tra, cá Vồ, cá Ba Sa, cá Chài, cá Mè Vinh, cá He, Mè Hôi, Ét Mọi, Duồng, Duồng Bay,

Hô, Trà Sóc, Lóc, Lóc Bông, leo, Kết, Trèn Bầu, Bống Tượng, Lươn, Sử, Chẻm, Thát Lác

- Các sông miền Trung có khoảng 20 loài cá kinh tế, thường gặp là cá Lúi, cá Ngựa,

cá Niên, Chép, Dây, Chình (Mun, Hoa và Đầu nhọn)

Trang 24

Các sông nhỏ : Sản lượng các sông miền Bắc đạt từ 50 - 150 tấn/năm (sông Na Ri 50 tấn, sông Bứa, sông Nậm Na 100 tấn, sông Trung 100 tấn, sông Thương 100 tấn, sông Bôi

100 tấn, sông Cầu 150 tấn) Riêng sông Kỳ Cùng sản lượng đánh bắt đạt 20 tấn /năm Các sông Nam Trung bộ đạt 50 tấn/năm (sông Sa Thầy)

Các sông đại thủy nông ở các tỉnh phía Bắc: sản lượng cá khai thác đạt 50 tấn/năm (sông Đại Giang, sông Bắc Hưng Hải)

Vùng cửa sông của một số sông miền Bắc: sản lượng cá đánh bắt đạt 100 - 200 tấn/năm (cửa Bạch Đằng, cửa Lạch Trường)

Bảng 18 : Sản lượng và năng suất cá tự nhiên đánh bắt ở một số sông miền Bắc (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996, theo Thái Bá Hồ, 1972, 1982, 1986 và Nguyễn Văn

Hảo, 1995)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất (kg/ha)

Năm thống kê

Số năm theo dõi

75

50

44 50,2-66,5 53,6-59,5

1961

1961

1965 1966-1967 1967-1969

Các số liệu đánh giá về năng suất cá tự nhiên trên đơn vị diện tích cho thấy các sông ở vùng đồng bằng miền Bắc đạt được quá thấp, khu vực sông Hồng đạt 7,7 kg/ha/năm; khu vực sông Thái Bình đạt 10 kg/ha/năm (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 1992); còn ở sông Mê Kông đạt được cao 135 kg/ha/năm (Trường Đại học Michìgan 1976)

II.2.4 Cá ruộng nước

Trang 25

Khả năng nghề phát triển nghề cá ruộng của từng tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng như trong bảng 19

Thành phần loài cá ruộng nước cũng đơn giản gồm ít loài và rất ít loài cá kinh tế Theo Nguyễn Văn Hảo (1982) vùng đồng bằng Bắc Bộ 33 loài, vùng Việt Bắc 31 loài, vùng Tây Bắc 29 loài và vùng Khu IV có 25 loài Các loài cá kinh tế biến động 5-10 loài tùy từng vùng

Bảng 19 : Diện tích có khả năng nuôi cá ruộng ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng (Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, 1990, 1992)

TT Đồng bằng sông Cửu Long

2,39 6,87 9,37 18,12 31,24 9,37 7,19 9,37 6,08

Hà Sơn Bình Hải Hưng Thái Bình

Hà Nam Ninh Vĩnh Phú

Hà Bắc Quảng Ninh

2.840 5.000 2.720 5.040

5.300 1.703 7.200

9,52 16,76 9,12 16,90

17,77 5,79 24,14

Các loài cá đồng ở các tỉnh phía Bắc có kích thước nhỏ, số lượng không nhiều, số loài kinh tế ít, năng suất, sản lượng không cao đặc biệt do đê ngăn cách sông và đồng ruộng Còn ở vùng ruộng đồng bằng sông Cửu Long thì khác, giữa ruộng và sông không có đê ngăn cách, mùa lũ nước sông và cá vào ruộng và mùa cạn từ ruộng ra sông do đó các loài

cá đen sống ngay ở đồng ruộng khá phong phú, đặc biệt các loài trong họ cá Lóc (Ophiocephalidae), họ cá Trê (Clariidae), họ cá Thát Lác (Notopteridae) và họ cá Lươn (Flutidae)

Bảng 20: Thành phần loài cá ở một số đồng ruộng (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam,

1996, theo Mai Đình Yên, 1991 và Trần Thanh Xuân, 1994)

Trang 26

b Năng suất cá tự nhiên

Sản lượng và năng suất cá tự nhiên ở mộ số ruộng trong cả nước như trong bảng sau:

Bảng 21 : Sản lượng, năng suất cá ruộng (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam 1996 theo

Mai Đình Yên, 1991 và Trần Thanh Xuân, 1994)

20

30 2.000 20-50 5.000 15.000 5.000

0,32

6,7 4-10 153,8 23,83 83,3

II.3 Các loài cá nuôi và nguồn lợi cá giống

II.3.1 Đối tượng cá nuôi

Các loài cá nuôi nội địa gồm 28 loài nằm trong 23 giống và 11 họ Có 9 loài nguồn gốc

ở các tỉnh phía Bắc 14 loài có nguồn gốc ở các tỉnh phía Nam và 2 loài phân bố rộng ở cả 2 miền

Các loài cá nuôi ở từng vùng như sau: Đồng bằng Bắc bộ có 12 loài, trung du và miền núi Bắc bộ 8 loài, vùng khu IV 8 loài, duyên hải miền Trung 6 loài Tây Nguyên 3 loài, Đông Nam bộ 11 loài và đồng bằng sông Cửu Long 15 loài

Tuy số loài cá gốc nội địa nhiều nhưng sản lượng tập trung lớn chỉ một số loài :

- Miền Bắc : cá Mè Trắng, Chép, Trôi, Trắm Đen, Diếc

- Miền Trung : cá Mè Trắng, Chép, Trôi, Thát Lác

- Các tỉnh Tây Nguyên : cá Chép, Mè Trắng

- Miền Nam : cá Tra, Vồ, Ba Sa, He, Mè Vinh, Chày, Lóc Bông, Bống tượng

Các loài cá nhập nội : cho đến nay đã nhập 11 loài và 7 dòng cá nằm trong 10 giống thuộc 5 họ có nguồn gốc và thời gian nhập khác nhau

Trang 27

trung và thượng nguồn sông Mê Kông ở miền Nam Một số loài như cá Chép là loài cá đẻ trứng dính vào thực vật nên bãi đẻ là những vùng ngập hai ven sông ở miền Bắc hay các loài cá đẻ ở vùng ngập hai ven sông và các rạch ở phía Nam như Mè Vinh, cá Dảnh, cá He

ở miền Nam Ở đồng bằng sông Cửu Long còn có các loài cá đẻ trong bưng như Thát Lác, Lóc Bông, Rô, Bống Tượng

Trứng các loài cá này đẻ trôi nổi trôi theo dòng nước và nở dần thành cá con Cá mới nở được gọi là cá bột được người dân vớt về nuôi Ngoài việc vớt cá bột của các đối tượng cá nuôi, nhân dân còn vớt "cá trụi" tức cá nhỏ cỡ cá giống (5-12cm) của các loài này về nuôi Tuy nhiên một vấn đề đáng quan tâm là khi vớt cá bột với kỹ thuật lọc ép để lấy cá nuôi đã dẫn đến nhiều cá kinh tế bị chết gây suy giảm nguồn lợi

b Cá giống sản xuất nhân tạo

Để chủ động nguồn giống cũng như đáp ứng đủ nhu cầu nuôi trồng cá nước ngọt, ngành thủy sản nước ta đã đẩy mạnh việc sản xuất cá giống bằng cách cho sinh sản nhân tạo Theo Nguồn lợi thủy sản Việt Nam (1996), năm 1963 là năm đầu tiên cho sinh sản nhân tạo cá

Mè Hoa, và sau đó là cá Trắm Cỏ vào năm 1964 Cho đến nay mạng lưới các trại sản xuất

cá giống nhân tạo đã phát triển rộng khắp trong cả nước, góp phần lớn vào việc chủ động giống trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt Năm 2001 số cơ sở sản xuất giống trên toàn quốc là 447 với sản lượng con giống hơn 7.987 triệu

II.4 Các loài cá kinh tế khai thác ở các vực nước tự nhiên

Theo Đặng Ngọc Thanh (2002), trong số các loài cá nước ngọt nội địa, đã thống kê được 97 loài cá kinh tế nằm trong 23 họ Một số tác giả đã phân biệt cá kinh tế thành 4 nhóm chính như sau (Đặng Ngọc Thanh, 2002):

- Nhóm I: gồm các loài cá kinh tế sống ở sông, suối, thuộc lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình

- Nhóm II: gồm các loài sống ở sông, suối thuộc lưu vực sông Cửu Long và sông Đồng Nai

- Nhóm III: gồm các loài sống ở thủy vực nước tĩnh như ao, hồ, ruộng đồng bằng

- Nhóm IV: gồm các loài có nguồn gốc nước mặn và nước lợ di cư vào nước ngọt

II.5 Các loài có giá trị đặc biệt

II.5.1 Các loái cá làm cảnh

Theo Nguồn lợi Thủy sản Việt Nam (1996), tổng các loài cá nước ngọt làm cảnh đã biết gồm 151 loài thuộc 87 giống 35 họ và 11 bộ Các loài cá này thuộc nhiều dạng nhưng chủ yếu là các loài thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes) với 72 loài chiếm 47,68 % Bộ cá Trơn (Siluriformes) với 10 loài (6,62%) Bộ cá Chép Răng(Cypriniodonformes) có 6 loài, chiếm 3,97 % Bộ cá Vược (Perciformes) với 40 loài chiếm 26,49 %

Trang 28

Trong số 151 loài cá ghi trong danh sách có 118 loài cá đã được các nơi nuôi dưỡng và

33 loài sống tự nhiên chưa được nuôi dưỡng Về nguồn gốc có 116 loài cá địa phương và

35 loài cá nhập nội

Bảng 22 : Các loài cá cảnh nội địa và vùng phân bố (Nguồn lợi thủy sản Việt nam, 1996)

II.5.2 Các loài cá nước ngọt có thể xuất khẩu sống

Các loài cá nước ngọt có thể xuất khẩu sống ra thị trường Đông Nam Á đã thống kê được 17 loài nằm trong 9 giống và 8 họ Mỗi vùng có các loài đặc trưng tiêu biểu, nhưng

số loài giữa các vùng chênh lệch không nhiều Các tỉnh phía Bắc có 6 loài, các tỉnh Duyên hải có 7 loài, các tỉnh Tây Nguyên 5 loài, vùng Đông Nam bộ 9 loài; có thể xuất khẩu ra nước ngoài (Nguồn lợi Thủy sản Việt Nam, 1996) Các loài cá xuất sống chủ yếu có các đặc tính sau:

- Các loài cá ăn tạp thiên về động vật, lấy thịt ngon

- Phần lớn các loài cá không vẩy hoặc có vẩy thường là các loài cá đen đang sống trong đồng ruộng

- Cá phần lớn có cơ quan hô hấp phụ chịu đựng được với điều kiện môi trường sống chật hẹp, ít dưỡng khí dễ dàng khi vận chuyển đường xa

Một số loài cá xuất khẩu hiện nay :

- Các tỉnh miền Nam : cá Cơm, Ba Sa, Bống tượng,Trê, Lóc…

- Các tỉnh miền Trung : cá Chình

- Các tỉnh phía Bắc : cá Trê, Lóc, Lươn…

Trang 29

III CÁC LOÀI THỦY SẢN NƯỚC NGỌT KHÁC

III.1 Những loài động vật không xương sống có giá trị kinh tế

Danh sách các động vật không xương sống có giá trị kinh tế ở nước ta :

3- Tôm Càng Xanh M rosenbergii (de Man)

4- Cua Đồng Somaniathelphusa sinensis sinensis (H M Edwards)

5- Tôm Riu Caridina flavilineata Dang

8- Trai Cánh Mỏng Cristaria bialata (Lea)

9- Trai Điệp Sinohyriopsis cumingii (Lea)

10- Trai Sông Sinanodonta elliptica (Hende)

12- Cà Cuống Lethocerus indicus (Lepeletier & Servile)

(Nguồn lợi Thủy sản Việt Nam, 1996)

III 2 Các loài động vật có xương sống nước ngọt (lưỡng cư và bò sát) có giá trị kinh

tế

Danh sách các loài động vật có xương sống nước ngọt có giá trị kinh tế ở nước ta

1- Cá Cóc Tam Đảo Paramesotriton deloustali (Bourret)

12- Rùa Hột Ba Vạch Cuoro trifasciata (Bell)

14- Cá Sấu Hoa Cà Crocodyllus porosus Schneider

15- Cá Sấu Xiêm C siamensis Schneider

(Nguồn lợi Thủy sản Việt Nam, 1996)

Trang 30

III.3 Các nhóm thủy sinh có giá trị kinh tế đặc trưng

Sản lượng khai thác tôm càng M nippoense tự nhiên ở hồ Tây Hà Nội vào các năm

1959-1960 đạt tới 30-50 tấn, chiếm 32-38% sản lượng thuỷ sản hồ Tây thời gian này Theo

số liệu thống kê từ 1971-1975, sản lượng thu hoạch tôm chỉ còn 12-15 tấn/năm Như vậy,

so với những năm 60 thì từ những năm 80 trở lại đây, sản lượng khai thác tự nhiên tôm càng hồ Tây chỉ bằng 1/4 đến 1/40 Sản lượng khai thác tôm càng hồ Tây càng ngày càng giảm dần như vậy một mặt do khai thác quá mức, mặt khác do điều kiện môi trường nước

Bảng 24 : Sản lượng khai thác vỏ trai tại một số địa điểm phía Bắc Việt Nam

Vỏ trai họ Unionidae ở các sông bắc Việt Nam có chất lượng tốt hơn (lớn hơn, dày hơn,

xà cừ đẹp hơn) so với trai Unionidae ở vùng sông Mêkông Ngoài số lượng dùng trong

Trang 31

nước, vỏ trai ở vùng bắc Việt nam còn xuất khẩu, năm 1910 tới 800 tấn Từ 1968-1971, số lượng vỏ trai xuất khẩu có giá trị hàng năm 25-30 tấn

Ngọc trai nước ngọt rất ít gặp ở trai sống ngoài thiên nhiên Bắc Việt Nam Hiện nay đã tiến hành nuôi cấy ngọc trai nhân tạo ở một số thuỷ vực Kết quả nuôi thử nghiệm ngọc trai tại hồ Tây 1987-1990 đã đạt được một số kết quả Trong 3 loài trai cánh thử nghiệm, loài

trai điệp Sinohyriopsis cumingii là đối tượng sử dụng cấy ngọc tốt nhất Tuy nhiên, do giá

trị của loài trai này, loài này đã bị khai thác quá mức và đang là những loài bị đe doạ được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (1996) ở mức nguy cấp (V)

IV.TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG NGUỒN LỢI THỦY SẢN NỘI ĐỊA

cá biển di cư vào sông

2 Sản lượng thủy sản nước ngọt ở nước ta, với những thuận lợi cơ bản về điều kiện tự nhiên so với những nước có ngành thủy sản nước ngọt phát triển, còn chưa cao, chỉ trên 30% tổng sản lượng thủy hải sản Trong khi Trung Quốc tỷ lệ này là 40% Với diện tích mặt nước trên 1,3 triệu ha, điều kiện thời tiết khí hậu nhìn chung thuận lợi cho sự phát triển thủy sản, nguồn thức ăn tự nhiên tương đối phong phú nhất là thức ăn thực vật, thành phần loài thủy sản đa dạng, sinh sản và sinh trưởng nhanh thì tình hình này có thể do nhiều nguyên nhân

- Chúng ta còn chưa đủ điều kiện và cơ sở kỹ thuật cũng như khả năng giống để tận dụng hết diện tích mặt nước hiện có vào nuôi thủy sản, nhất là diện tích hồ chứa và ruộng trũng có tới hàng trăm nghìn ha Một số diện tích lớn như mương máng, hiện nay còn chưa được sử dụng

- Việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở nước ta hiện nay vẫn còn chưa được đầy đủ, nhiều mặt còn chưa đạt yêu cầu bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên thông thường Trong số các nhân tố làm giảm sút trữ lượng thủy sản nội địa, quan trọng nhất hiện nay là các hoạt động khai thác bừa bãi, quá mức, trái với quy định kỹ thuật khai thác như: dùng chất nổ, chất độc, vớt

cá con để ăn, dụng cụ khai thác không đúng tiêu chuẩn quy định, khai thác không đúng mùa

vụ, không đúng đối tượng (ví dụ: cá bố mẹ trong thời gian đi đẻ, khai thác quá nhiều vượt

Trang 32

quá khả năng phục hồi ) Việc vớt cá bột trên sông do yêu cầu, việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi cũng tác hại đáng kể cho trữ lượng cá trong các thủy vực nội địa

- Trình độ khai thác thâm canh thủy sản nội địa còn thấp Việc gây nuôi thủy sản chỉ tập trung vào một số loài cá nước ngọt và cá nước lợ quen thuộc, một số loài cá biển, chưa mở rộng đối tượng nuôi Biện pháp nuôi còn mang nhiều tính chất tự nhiên, chưa có những biện pháp kỹ thuật nuôi đạt năng suất thật cao nếu có mới chỉ là cá biệt chưa thật phổ biến Việc sử dụng thức ăn nhân tạo hiện nay đã thực hiện nhưng còn rất hạn chế, thường chỉ mới

sử dụng cho cá giống Vì vậy, năng suất khai thác cá ở các thủy vực lớn ở nước ta còn thấp thường chỉ tới 100kg/ha Bên cạnh đó cũng phải kể đến những nét tiêu cực của động vật ở nước nội địa ở nước ta hạn chế một phần sản lượng như: tuổi thọ thấp, khối lượng trung bình nhỏ, tỷ lệ chết và hao hụt cao do có nhiều cá dữ, có thể tới 30 – 70% (theo Nguyễn Quốc An, 1974), tỷ lệ hoàn lại trong các hồ chứa có nuôi cá thấp, trung bình chỉ 10% (theo Nguyễn Văn Hảo, 1974) Tỷ lệ ký sinh trùng và bệnh cá có khi khá cao (theo Hà Ký, 1975)

3 Cơ sở khoa học kỹ thuật của ngành thủy sản nước ngọt nội địa nhìn chung còn yếu so với yêu cầu cần phải có để đạt trình độ hiện đại trong lĩnh vực sản xuất này Về mặt khoa học, hàng loạt vấn đề cơ bản làm cơ sở cho việc khai thác và tận dụng hợp lý nguồn thủy sản tự nhiên cũng như phát triển gây nuôi với năng suất cao còn chưa được giải quyết đầy

đủ như: điều tra cơ bản các thủy vực, đặc biệt là vấn đề đánh giá về số lượng và chất lượng

cơ sở thức ăn tự nhiên, tình hình biến động, năng suất sinh học, trữ lượng của đàn cá, đặc điểm sinh học, sinh thái học của các đối tượng nuôi, tạo nguồn thức ăn nhân tạo, thuần hóa các đối tượng nuôi mới và chọn giống đã có Về mặt kỹ thuật, nhiều vấn đề kỹ thuật trong sản xuất giống nhân tạo, kỹ thuật chăm sóc đối tượng nuôi, kỹ thuật khai thác nhất là khai thác cá ở các hồ chứa nước lớn ở các địa hình phức tạp còn chưa được giải quyết đầy đủ

và vững chắc Những hạn chế về mặt khoa học kỹ thuật này khiến cho các khâu cơ bản trong sản xuất thủy sản nội địa như: giống, thức ăn, khai thác, bảo quản, chế biến còn chưa thật vững vàng, ổn định, hạn chế tốc độ phát triển của ngành thủy sản nội địa cũng như sản lượng khai thác

Những đặc điểm trên đây của tình hình khai thác, sử dụng cũng như bảo vệ nguồn lợi thủy sản nội địa ở nước ta đặt ra những vấn đề lớn cần được nghiên cứu đầy đủ để có biện pháp kịp thời và thích hợp, tạo điều kiện phát triển sản xuất thủy sản theo quy mô sản xuất lớn, với sản lượng cao, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới hiện nay

V HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI THỦY SẢN NƯỚC NGỌT

Theo Nguồn lợi Thủy sản Việt Nam (1996) tổng kết, đối với nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt, nhiều loài cá đã bị tuyệt chủng và đe dọa có nguy cơ bị tuyệt chủng Năng suất khai thác ở nhiều loài và nhiều nơi bị giảm sút nghiêm trọng, nhất là các thủy vực một số tỉnh miền Bắc Các bãi đẻ và nguồn lợi cá bột giảm sút đáng kể ở các sông, nhất là trên hệ thống sông Hồng và một số nhánh thuộc hệ thống sông Cửu Long Kích thước khai thác một số loài cá kinh tế ngày càng giảm

Trang 33

Sản lượng cá đánh bắt ở các vùng tự nhiên, theo số liệu của Bộ Thuỷ Sản (1995) trong những năm 1981-1986 từ 85.000 - 97.000 tấn/năm chỉ còn 59.000 - 60.000 tấn/năm trong các năm 1990 -1991và đến thời kỳ 1994 -1995 là 65.000 - 70.000 tấn/năm

Vùng đồng bằng sông Cửu Long năm 1970 có sản lượng khai thác 85.00 tấn/năm (theo trường Đại Học Michigan, 1976), chỉ còn 66.000 tấn/năm trong năm 1990 (Bộ Thuỷ Sản, 1996) Theo ngư dân ở sông Tiền và sông Hậu thì sản lượng cá khai thác hiện nay chỉ bằng 1/2 so với 15 năm trước đây

Vùng đồng bằng sông Hồng, sản lượng cá khai thác tự nhiên trước đây khoảng 5.000 tấn/năm, và hiện nay chỉ còn 1000 tấn/năm (theo Viện Kinh tế Quy Hoạch Thuỷ Sản, 1992) Còn sản lượng cá đánh bắt ở sông Hồng năm 1960 là 4.685 tấn, năm 1970: 2.645 tấn, và năm 1990 ước tính chỉ khoảng 500 tấn (theo Nguyễn Văn Hảo, 1970, 1995) Như vậy sản lượng khai thác cá tự nhiên ở sông Hồng năm 1990 so với năm 1960 đã giảm 9,5 lần

Sản lượng cá đánh bắt ở một số hồ tự nhiên cũng giảm ví dụ như hồ Ba Bể năm 1960 là

42 tấn, 1964 là 17 tấn, 1965 là 15 tấn và 1967 là 12 tấn (theo Nguyễn Văn Hảo,1976)

Sản lượng cá hồ chứa giảm mạnh, chẳng hạn hồ Thác Bà từ 410 tấn (1974) còn 80 tấn (1992) giảm 5,13 lần; hồ Núi Cốc từ 122,5 tấn (1974) còn 19 tấn (1994) giảm 13,4 lần

Sản lượng một số loài cá biển di cư vào sông Hồng trong mùa sinh sản giảm sút rõ rệt

Sản lượng khai thác cá Mòi (Clupanodon thrissa) năm 1964 là 356,5 tấn, năm 1965 là

107,6 tấn, năm 1966 là 68 tấn, năm 1967 là 56,09 tấn (theo Hồ Thế Ân, 1979), năm 1979 là

40 tấn, năm 1982 ở Hà Nội chỉ khai thác được 40 - 50 kg (số liệu thống kê của Bộ Thuỷ Sản, 1984) Hiện nay cá Mòi trên sông không còn cho sản lượng khai thác Cá Cháy

(Macrura reeverssi) cũng là loài cá di cư vào sông Hồng đẻ trứng Sản lượng cá Cháy trong

sông Hồng năm 1962 là 21 tấn, năm 1963 là 17 tấn, năm 1964 là 10,7 tấn (Hồ Thế Ân, 1971) Nhiều năm nay không đánh bắt được cá Cháy trong sông Hồng Các loài cá có giá trị khác cũng giảm sút sản lượng và trở nên hiếm thấy như cá Chiên, Lăng trên hồ chứa lớn như Hòa Bình, Thác Bà

Nguồn lợi cá bột ở các sông lớn cũng giảm Theo số liệu Bộ Thủy sản (1992) sản lượng

cá bột sông Hồng giảm 4-6 lần, nhiều nhất là cá Mè Trắng rồi đến Trắm Đen, Mè Hoa, Trắm Cỏ Sản lượng cá Tra bột trên sông Cửu Long cũng giảm khoảng 2 lần (theo Nguyễn Văn Trọng, 1994)

Các bãi cá đẻ thu hẹp và bị hủy hoại, số lượng cá bố mẹ lên các bãi đẻ giảm Sản lượng

cá Mòi, cá Cháy vào các bãi đẻ giảm hẳn Các bãi cá Mè Trắng đẻ trên sông Thao năm

1962 thu 162 con cá bố mẹ, năm 1963 chỉ còn 66 con, hai năm 1988-1989 chỉ thu được 5-7

Trang 34

con Bãi cá Trôi đẻ ở cửa Ngòi Thia (Yên Bái) là bãi đẻ quan trọng nhất ở sông Hồng, mỗi đợt đẻ trước kia bắt được 500-700 kg cá bố mẹ, đến 1993 chỉ còn 30 kg (theo Nguyễn Văn Hảo và ctv, 1993) Một số bãi cá đẻ bị mất như các bãi cá đẻ của cá Mòi, cá Cháy trên sông Thao, sông Lô; bãi đẻ cá Mè Trắng ở Bach Lâm-Tuần Quán (Yên Bái) trên sông Thao

Kích thước cá khai thác ngày càng giảm Các loài có kích thước to ít gặp cá Chiên, cá Lăng cỡ 50-60 kg, cá Nhồng 40-50 kg không còn gặp ở sông Hồng; cá Tra Dầu 200-300

kg, cá Hô 150-200 kg trên sông Cửu Long không còn, chỉ bắt được cá lớn nhất 30-50kg

Trang 35

CHƯƠNG II: NGUỒN LỢI HẢI SẢN

I NGUỒN LỢI VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC CÁ BIỂN THẾ GIỚI

I.1 Biển và nguồn lợi cá biển.

Diện tích quả đất khoảng 510 triệu km2, trong đó diện tích đại dương và biển chiếm khoảng 361 triệu km2, nghĩa là chiếm 71% diện tích quả đất Chiều sâu tối đa của đại dương đã biết khoảng 11.000 m Diện tích các vùng đại dương có chiều sâu trên 3.000 m chiếm khoảng 51 - 58% toàn bộ diện tích nước biển

Do vậy, vấn đề khai thác đầy đủ và hợp lý nguồn lợi sinh vật biển là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của con người để làm thức ăn và các mục đích kinh tế khác Tuỳ theo sự hoàn thiện kỹ thuật khai thác mà con người đã tiến dần từ các vùng nước nông ven bờ đến vùng thềm lục địa và ra đại dương

Theo thống kê của FAO, tổng sản lượng thủy sản thế giới tăng dần từ 19,3 triệu tấn vào năm 1950 đến hơn 100 triệu tấn vào năm 1989 và đạt được 134 triệu tấn vào năm 2002 Sản lượng cá biển khai thác được đóng góp nhiều nhất trong tổng sản lượng thủy sản thế giới Năm 1950, sản lượng cá biển khai thác được là 16,7 triệu tấn chiếm 86% tổng sản lượng thủy sản thế giới và, vào năm 1980 sản lượng cá biển khai thác được đã tăng lên 62 triệu tấn cũng chiếm 86% tổng sản lượng thủy sản thế giới Tuy nhiên trong vòng hai thập kỷ qua sản lượng nuôi trồng thủy sản đã tăng nhanh hơn cho nên vào năm 2002, tổng sản lượng cá biển khai thác được tuy tăng lên 84,5 triệu tấn nhưng chỉ chiếm 63% tổng sản lượng thủy sản thế giới (134,3 triệu tấn)

Bảng 25: Sản lượng cá biển thế giới khai thác (triệu tấn) trong 10 năm (1994-2003)

(Thống kê của FAO, 2000, 2004)

Sản lượng cá biển khai thác trong những năm qua chỉ dao động trong khoảng 80-86 triệu tấn (trung bình 84 triệu tấn) Sở dĩ có tình trạng trên là do nhiều nguyên nhân, có thể

do nguồn lợi đã dần cạn kiệt, do chính sách của nhiều quốc gia hướng đến nghề cá bền vững nên hạn chế khai thác một số nguồn lợi cá, cũng có nguyên nhân từ việc khoa học kỹ thuật tiến bộ, cải tiến ngư cụ đánh bắt và tính chọn lọc ngư cụ cao nên đã giảm thiểu được sản lượng cá bị đánh bắt kèm theo các đối tượng khai thác chính hay cá con

Trang 36

Trong năm 2002, các nước có sản lượng khai thác thủy sản cao trên 2 triệu tấn là Trung Quốc (16,6 triệu tấn), Peru (8,8 tr tấn), Mỹ (4,9 tr tấn), Indonesia (4,5 tr tấn), Nhật Bản (4,4

tr tấn), Chilê (4,3 tr tấn), Ấn Độ (3,8 tr tấn), Nga (3,2 tr tấn), Thái Lan (2,9 tr tấn) và Na Uy (2,7 tr tấn)

Tổng số loài cá có trong đại dương thế giới khoảng 20 000 loài, trong đó có nhiều loài chưa được khai thác Số loài cá đã khai thác khoảng 450 loài, nhuyễn thể khoảng 100 loài

và giáp xác khoảng 50 loài Số loài cá có sản lượng cao trong tổng sản lượng cá biển khai thác của thế giới khoảng 10 nhóm loài như cá trích và cá cơm chiếm 30%, cá tuyết 10%, cá ngừ, cá nục, cá thu 2-3% (Nguyễn Phi Đính, 1997)

Tuy nhiên, từ thực tế nghề khai thác thuỷ sản thế giới trong vài thập kỷ gần đây đã cho thấy nguồn lợi thuỷ sản đang báo động khi sản lượng khai thác đang có xu hướng giảm Nhiều loài cá kinh tế là đối tượng khai thác truyền thống, là nguồn thực phẩm quan trọng và quý giá đã bị tổn thương nghiêm trọng, khả năng tự tái tạo lại quần đàn đang là dấu hỏi lớn Nhiều ngư trường, nhiều vùng biển trước đây được xếp vào loại giàu có thì nay đã trở nên nghèo nàn, nghề cá đang đứng trước nguy cơ suy sụp cả về khối lượng lẫn hiệu quả Cùng lúc đó, dân số thế giới tiếp tục tăng, nhu cầu về thuỷ sản ngày một cao hơn lại càng là sức

ép đè nặng lên nguồn lợi thuỷ sản vốn đang bị cạn kiệt nhanh chóng

Nguyên nhân thì nhiều trong đó những nguyên nhân khách quan chủ yếu là sự nóng lên của khí hậu toàn cầu kéo theo sự biến đổi lớn về các điều kiện khí tượng thuỷ văn và hải dương học Một trong số đó là hiện tượng các dòng hải lưu nóng và lạnh ở các đại dương có

sự biến động và điều chỉnh, khiến cho các điều kiện khí hậu và hải dương biến đổi theo Thí

dụ, sự hoạt động của các dòng hải lưu nổi tiếng ở Bắc Thái Bình Dương có sự biến đổi, kéo theo sự biến đổi các vùng nước trồi nổi tiếng ở phía Tây - Bắc Thái Bình Dương, là khu vực khí hậu ôn hoà và rất giàu có về thức ăn cho thuỷ sản và cũng là bãi đẻ lý tưởng của nhiều loài cá kinh tế Các điều kiện nhiệt độ, thức ăn ở các khu vực này biến đổi sẽ làm giảm sút rất lớn sự sinh sản và sự tái tạo quần đàn của nhiều loài cá Ảnh hưởng của hiện tượng khí hậu nổi tiếng El Nino đến nguồn lợi cá nổi ở vùng biển Ðông - Nam Thái Bình Dương cũng là thí dụ khá điển hình Sự biến đổi về khí hậu và hải dương học tác động đến nguồn lợi thuỷ sản là vấn đề rất lớn, rất phức tạp đang được các nhà khoa học của nhiều nước tiếp tục nghiên cứu làm rõ

Bên cạnh các nguyên nhân khách quan thì các nguyên nhân chủ quan luôn được xác định là rất quan trọng, trực tiếp và nhanh chóng góp phần làm cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản Trong số rất nhiều các nguyên nhân chủ quan thì việc khai thác bừa bãi, quá mức, mang tính huỷ diệt và không quản lý được đang diễn ra thường xuyên trên khắp các vùng biển thế giới được coi là nguy cơ lớn nhất Ðể thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của thị trường, để chạy theo lợi nhuận, người ta đã bất chấp tất cả, tiến hành khai thác ào ạt và chỉ nhằm vào một số đối tượng có giá trị cao, nhanh chóng làm cạn kiệt trữ lượng của chúng Sản lượng khai thác tăng nhanh và lớn quá mức, vượt xa khả năng tự tái tạo nguồn lợi của thuỷ sản bất chấp các khuyến cáo khoa học, bất chấp luật pháp của quốc gia và quốc tế được coi là nguyên nhân quan trọng nhất làm suy giảm nhanh nguồn lợi nhiều loài thuỷ sản quý Ngoài

ra, việc các vùng nước bị thu hẹp, bị xuống cấp do sử dụng không đúng, nạn ô nhiễm môi

Trang 37

trường trầm trọng đang diễn ra ở nhiều nơi, việc quản lý nguồn lợi, quản lý nghề khai thác

bị xem nhẹ hay buông lỏng cũng đều là nguyên nhân quan trọng đưa đến sự cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản

Trước tình hình đó việc đề ra các giải pháp và các hành động thiết thực, hiệu quả để ngăn chặn ngay sự cạn kiệt của nguồn tài nguyên thiên nhiên quý báu này là hết sức cần thiết

.2 Nghề cá thế giới

Hình 1: Phân vùng thống kê nghề cá biển của FAO

(theo FAO Fisheries Technical Paper No 457)

Điểm qua nghề khai thác của một số vùng khai thác quan trọng hiện nay theo bản đồ phân vùng thống kê của FAO trên thế giới như sau:

I.2.1 Vùng Tây Bắc Thái Bình Dương (vùng 61)

Với diện tích bề mặt biển 19 triệu km2 đây là vùng có sản lượng cao nhất Sản lượng khai thác ở vùng này tăng ổn định từ 4 triệu tấn năm 1950 đến đỉnh 24,8 triệu tấn vào năm

1988 và sau đó giảm còn 21,4 triệu tấn vào năm 2002 Các loài cá khai thác sản lượng cao

là cá trích, cá tuyết, cá hồi, cá thu Hầu hết các loài cá vùng này đã bị khai thác đến ngưỡng

Các nước thường khai thác ở khu vực này là Nhật, Trung quốc , Triều tiên, Mỹ, Nga

Trang 38

Bảng 26: Sản lượng khai thác của vùng Tây bắc Thái Bình Dương (theo FAO, 2005)

I.2.2 Vùng Đông Nam Thái Bình Dương (vùng 87)

Vùng này có diện tích bề mặt 30,02 triệu km2 Các loài cá sản lượng khai thác cao là cơm, trích, bạc má, thu nhật Hầu hết các loài đều đã khai thác quá mức

Các nước khai thác chủ yếu là Pêru, Chilê, Nhật, Êcuađo

Bảng 27: Sản lượng khai thác của vùng Đông Nam Thái Bình Dương (theo FAO, 2005)

I.2.3 Vùng Đông Bắc Đại Tây Dương (vùng 27)

Diện tích 14,3 triệu km2, các nhóm loài khai thác có sản lượng cao là cá trích, cá tuyết,

cá bơn Hầu hết các loài bị khai thác quá mức và có nguy cơ bị tuyệt chủng như cá hồi

Các nước thường khai thác ở vùng này là Anh, Pháp, Đan mạch, Nauy, Thụy điển, Nga, Đức

Bảng 28: Sản lượng khai thác của vùng Đông Bắc Đại Tây Dương (theo FAO, 2005)

I.2.4 Vùng Trung Thái Bình Dương (vùng 71)

Vùng này có sản lượng từ 1 triệu tấn những năm 1950 đã tăng lên 8,7 triệu tấn vào năm

1986 và dao động quanh 9-10 triệu tấn trong những năm gần đây

Trong vùng này nhóm cá đáy như cá lượng, mối, trác đã bị khai thác quá mức Nhóm

cá nổi ven bờ như khế, nục, bạc má đang bị khai thác ngấp nghé giới hạn

Khai thác chủ yếu vùng này là Nhật, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á

Trang 39

Bảng 29: Sản lượng khai thác của vùng Trung Thái Bình Dương (theo FAO, 2005)

I.2.5 Vùng Tây Bắc Đại Tây Dương (vùng 21)

Với diện tích 6,26 triệu km2, vùng này khai thác chủ yếu cá tuyết và cá trích Đại Tây Dương Sản lượng khai thác tăng gấp đôi từ 2,3 triệu tấn trong năm 1950 lên đến 4,6 triệu tấn năm 1968 Sản lượng lại giảm nhanh từ 4,4 triệu tấn năm 1973 xuống còn 2,8 triệu tấn năm 1978 Gần đây đã thấy sự hồi phục khi sản lượng năm 1998 là 1,98 triệu tấn lên 2,24 triệu tấn năm 2002

Các nước thường khai thác ở đây là Canada, Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…

Bảng 30: Sản lượng khai thác của vùng Tây Bắc Đại Tây Dương (theo FAO, 2005)

.3 Nghề cá các nước khu vực Đông Nam Á

Các nước nằm trong khu vực Đông Nam Á có tổng diện tích đất đai là 4.231.644 km2 với tổng chiều dài bờ biển là 212.862 km Nước có diện tích lớn nhất là Indonexia (1.900.000 km2) và nước nhỏ nhất là Singapore (648 km2) Nước có bờ biển dài nhất là Philippin (117 460 km) và thấp nhất là Brunei (142 km) Dân số của các nước nằm trong khu vực Đông Nam Á năm 1993 là 347,63 triệu và năm 1997 đã lên đến 490,07 triệu người Dân số đông nhất là Indonesia 201,35 triệu (1997) sau đó đến Việt Nam, Philippin và Thái Lan Diện tích đất, chiều dài bờ biển và dân số của các nước và vùng lãnh thổ trong bảng

Trang 40

Theo thống kê của SEAFDEC (2001), tổng sản lượng của nghề cá khu vực Đông Nam

Á năm 1993 là 12.069.044 tấn, trong đó sản lượng cá biển chiếm 8.963.539 tấn (72% tổng sản lượng), sản lượng cá nội địa là 1.138.695 tấn (9,4% tổng sản lượng), sản lượng nghề nuôi là 1.966.810 tấn (186% tổng sản lượng) Đến năm 1997, tổng sản lượng nghề cá khu vực đã là 14.795.498 tấn, trong đó nghề cá biển có sản lượng 10.907.552 tấn (73,7% tổng sản lượng), sản lượng cá nội địa 1.643.947 tấn (chiếm 11,1% tổng sản lượng) và sản lượng nuôi trồng là 2.243.999 tấn (chiếm 15,2% tổng sản lượng)

Bảng 32: Sản lượng của nghề cá Đông Nam Á năm 1997(tấn)

Các nước có sản lượng cao nhất trong khu vực là Indonesia 4.579.766 tấn, trong

đó khai thác cá biển được 3.612.961 tấn Sau đó đến Thái Lan là 3.384.400 tấn, trong

đó khai thác cá biển 2.679.500 tấn Thứ ba là Philippin 2.766.507 tấn, trong đó sản lượng cá biển là 1.649.378 tấn

Sản lượng khai thác cá biển của toàn khu vực Đông Nam Á và của từng nước từ năm

1993 đến 1997 (bảng 33) có xu hướng chững lại và giảm sút, chỉ có một số nước như Malaysia, Indonesia và Việt Nam tăng nhưng không đáng kể chứng tỏ nguồn lợi vùng này

đã có dấu hiệu giảm sút

Ngày đăng: 10/02/2015, 10:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Cáo tập huấn Quốc gia về Khu Bảo tồn biển Hòn Mun, tháng 8 năm 2003 (Dự án Quản lý Khu bảo tồn biển Hòn Mun) Khác
2. Bộ Thủy sản. Nguồn lợi thủy sản Việt Nam. NXB Nông Nghiệp Hà Nội, 1996 Khác
3. Bộ Thủy sản. Đánh giá về kỹ thuật, tài chính và kinh tế ngành khai thác và NTTS Việt Nam, 1996 Khác
4. Bộ Thủy sản. Dự án qui hoạch tổng thể ngành Thủy sản đến năm 2010. Hà Nội. 1997 Khác
5. Bộ Thủy sản - Viện Nghiên cứu Hải sản - Hải Phòng. Tuyển tập các công trình nghiên cứu Nghề cá biển, tập I. NXB Nông nghiệp - Hà Nội, 1998 Khác
6. Bộ Thủy sản - Viện Nghiên cứu Hải sản - Hải Phòng. Tuyển tập các công trình nghiên cứu Nghề cá biển, tập II. NXB Nông nghiệp - Hà Nội, 2001 Khác
7. Bộ Thủy sản (Tạp chí Thủy sản). Thủy sản Việt Nam trên đường đổi mới và Hội nhập. NXB Lao động, Hà NộI, 2004 Khác
8. Đặng Ngọc Thanh và ctv. Thủy sinh học các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam. NXB KHKT, Hà Nội 2002 Khác
9. Mai Đình Yên, 1983. Cá kinh tế nước ngọt ở Việt Nam. NXB Khoa hoc & Kỹ thuật, Hà Nội, 1983 Khác
10. Nguyễn Phi Đính, 1997. Nguồn lợi Cá biển Việt Nam. Giáo trình dùng cho các lớp cao học chuyên ngành Ngƣ loại học, Thủy sinh và Khai thác cá biển. Nha Trang, 1997 Khác
11. Vũ Trung Tạng, 1979. Nguồn lợi sinh vật biển Đông. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Khác
12. Vũ Trung Tạng, 1997. Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường Biển Đông. NXB KHKT, Hà Nội Khác
13. Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia. Nguồn lợi sinh vật và các hệ sinh thái biển. Chuyên khảo biển Việt Nam, Tập IV. Hà Nội, 1994 Khác
14. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II. Tuyển tập nghề cá sông Cửu Long. NXB Nông Nghiệp, TP.HCM, 2002 Khác
15. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II. Tuyển tập nghề cá sông Cửu Long. NXB Nông Nghiệp, TP.HCM, 2003 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số lƣợng họ, giống, loài và phân loài cá trong các bộ - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 1 Số lƣợng họ, giống, loài và phân loài cá trong các bộ (Trang 4)
Bảng 3: Khả năng diện tích nuôi trồng thủy sản phân theo vùng kinh tế (Bộ Thủy sản, tháng 5/1992) - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 3 Khả năng diện tích nuôi trồng thủy sản phân theo vùng kinh tế (Bộ Thủy sản, tháng 5/1992) (Trang 9)
Bảng 10: Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản nước ngọt theo các khu vực - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 10 Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản nước ngọt theo các khu vực (Trang 17)
Bảng 12: Phân bố các đầm hồ tự nhiên theo các vùng sinh thái  (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996, theo Nguyễn Văn Hảo, 1993, 1995) - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 12 Phân bố các đầm hồ tự nhiên theo các vùng sinh thái (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, 1996, theo Nguyễn Văn Hảo, 1993, 1995) (Trang 18)
Hình dạng các hồ chứa đa dạng và phức tạp, đa số dạng nhiều nhánh, một số có dạng hồ  tự nhiên (lòng hồ tương đối đối xứng) và một số có dạng sông (hồ Hòa Bình) - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Hình d ạng các hồ chứa đa dạng và phức tạp, đa số dạng nhiều nhánh, một số có dạng hồ tự nhiên (lòng hồ tương đối đối xứng) và một số có dạng sông (hồ Hòa Bình) (Trang 20)
Bảng 16: Năng suất cá khai thác tự nhiên ở một số hồ chứa. (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 16 Năng suất cá khai thác tự nhiên ở một số hồ chứa. (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, (Trang 22)
Bảng 17 :  Diện tích, sản lƣợng và năng suất khai thác cá tự nhiên năm 1993 - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 17 Diện tích, sản lƣợng và năng suất khai thác cá tự nhiên năm 1993 (Trang 22)
Bảng 21 : Sản lƣợng, năng suất cá ruộng (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam 1996 theo - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 21 Sản lƣợng, năng suất cá ruộng (Nguồn lợi thủy sản Việt Nam 1996 theo (Trang 26)
Bảng 22 : Các loài cá cảnh nội địa và vùng phân bố (Nguồn lợi thủy sản Việt nam, 1996) - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 22 Các loài cá cảnh nội địa và vùng phân bố (Nguồn lợi thủy sản Việt nam, 1996) (Trang 28)
Bảng 24 : Sản lƣợng khai thác vỏ trai tại một số địa điểm phía Bắc Việt Nam - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 24 Sản lƣợng khai thác vỏ trai tại một số địa điểm phía Bắc Việt Nam (Trang 30)
Hình 1:        Phân vùng thống kê nghề cá biển của FAO - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Hình 1 Phân vùng thống kê nghề cá biển của FAO (Trang 37)
Bảng 32:   Sản lƣợng của nghề cá Đông Nam Á năm 1997(tấn) - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 32 Sản lƣợng của nghề cá Đông Nam Á năm 1997(tấn) (Trang 40)
Bảng 33:  Sản lượng khai thác (tấn) của các nước Đông Nam Á 1993-1997. - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 33 Sản lượng khai thác (tấn) của các nước Đông Nam Á 1993-1997 (Trang 41)
Bảng 34 :   Sản lƣợng (tấn) khai thác của 20 loài cá biển chủ yếu trong vùng năm 1997 - bài giảng sử dụng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Bảng 34 Sản lƣợng (tấn) khai thác của 20 loài cá biển chủ yếu trong vùng năm 1997 (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w