1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa

88 464 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 4,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngư trường ven bờ huyện Vạn Ninh cũng rất thuận lợi cho tàu thuyền lưới kéo của các địa phương bạn đến tham gia khai thác như Phú Yên, Bình Định, Nha Trang, Ninh Hòa....Thực trạng này cà

Trang 1

MỤC LỤC Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục…… ……….……… 1

Danh mục các bảng……….……… 4

Danh mục các hình………5

Danh mục các ký hiệu viết tắt……… ……….6

Mở đầu……… ………7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……… …… 10

1.1 Tổng quan về địa phương nghiên cứu 11

1.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Vạn Ninh 11

1.1.1 Vị trí địa lý 11

1.1.1.2 Thủy triều 11

1.1.1.3 Nhiệt độ 13

1.1.1.4 Mưa 13

1.1.1.5 Chế độ gió 13

1.1.1.6 Thủy văn……… 13

1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 14

1.1.2.1 Giao thông: Cảng sông biển……… …… …… 14

1.1.2.2 Đặc điểm dân cư địa phương……… 14

1.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế ở địa phương 15

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 17

1.2.1 Giảm số lượng tàu thuyền khai thác và chuyển đổi nghề nghiệp 18

1.2.2 Áp dụng các mô hình toán trong quản lý khai thác thủy sản 19

1.2.3 Áp dụng hệ thống quản lý nghề cá có trách nhiệm 19

1.2.4 Áp dụng hệ thống quản lý khai thác theo hạn ngạch 20

1.2.5 Hệ thống quản lý thủy sản ở các nước trong khu vực Đông Nam Á 22 1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……….… 28

2.1 Nội dung nghiên cứu 29

2.1.1 Thực trạng nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh 29

2.1.2 Thực trạng hoạt động của nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh có gây hại nguồn lợi thủy sản 29

2.1.3 Đề xuất giải pháp 29

2.2 Phương pháp nghiên cứu 30

2.2.1 Phương pháp chung 30

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 30

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp……….… …….31

Trang 2

2.2.4 Phân tích xử lý số liệu thống kê 32

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ……… 33

3.1 Thực trạng nghề lưới kéo tại huyện Vạn Ninh 34

3.1.1 Đặc điểm ngư trường vùng bờ huyện Vạn Ninh 34

3.1.1.1 Phạm vi giới hạn, diện tích……… … 34

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình đáy biển……… …36

3.1.1.3 Đặc điểm địa chất trầm tích……… …37

3.1.1.4 Đặc điểm thời tiết bất thường 39

3.1.2 Nguồn lợi thủy sản ven bờ huyện Vạn Ninh 39

3.1.3.Thực trạng tàu thuyền và trang bị nghề LKVB huyện Vạn Ninh… 41

3.1.3.1.Tình hình biến động số lượng tàu thuyền LKVB theo địa phương 41

3.1.3.2 Tình hình biến động tàu thuyền LKVB theo nhóm công suất 43

3.1.3.3 Cơ cấu tàu thuyền LKVB theo địa phương và nhóm công suất 44

3.1.3.4 Đặc điểm tàu thuyền LKVB huyện Vạn Ninh 46

3.1.3.5 Trang thiết bị cho tàu thuyền LKVB huyện Vạn Ninh 48

3.1.4 Thực trạng về ngư cụ nghề LKVB huyện Vạn Ninh 49

3.1.5 Thực trạng về lao động nghề LKVB huyện Vạn Ninh 51

3.2 Thực trạng hoạt động của nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh có gây hại nguồn lợi thủy sản 52

3.2.1 Thực trạng tàu thuyền lưới kéo hoạt động ven bờ huyện Vạn Ninh 52

3.2.2 Thực trạng về sản lượng và thành phần sản phẩm khai thác 53

3.3 Thực trạng công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản huyện Van Ninh 57

3.3.1 Thực trạng bộ máy quản lý 57

3.3.1.1 Chi cục Khai thác-Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa 57

3.3.1.2 Thanh tra chuyên ngành thủy sản Khánh Hòa 59

3.3.2 Thực trạng về cơ sở vật chất cho công tác BVNLTS 61

3.3.3 Các hoạt đông phục hồi, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản 61

3.3.4 Công tác tuyên truyền hướng dẫn về bảo vệ nguồn lợi thủy sản 62

3.3.5 Công tác phối hợp trong kiểm tra, giám sát hoạt động nghề cá 63

3.3.6 Phân tích đánh giá thực trạng công tác BVNLTS huyện Vạn Ninh 63

3.3.6.1 Thực thi các văn bản, chính sách62 63

3.3.6.2 Nhân sự và năng lực của cán bộ quản lý 64

3.3.6.3 Quản lý tàu thuyền 65

3.3.6.4 Quản lý ngư trường 66

3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản của nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh……… 68

3.4.1 Đặt vấn đề 68

Trang 3

3.4.2 Nội dung giải pháp 69

3.4.3 Cơ sở khoa học của giải pháp 69

3.4.4.1 Xác định vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh 71

3.4.4.2 Tuyên truyền giáo dục nâng cao hiểu biết của ngư dân 72

3.4.4.3 Chuyển đổi nghề cho tàu Lưới kéo lắp máy công suất dưới 20cv họat đông trong vùng bờ huyện Vạn Ninh 73

3.4.4.4 Quản lý hoạt động cuả tàu thuyền lưới kéo trong vùng bờ huyện Vạn Ninh 75

3.4.4.5 Thành lập tiểu khu bảo tồn biển cấp thôn, xã 76

3.4.4 Phân tích đánh giá kết quả giải pháp mang lại 77

3.4.4.1 Về nội dung của giải pháp 77

3.4.4.2 Về tính khả thi của các biện pháp thực hiện giải pháp 78

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ……….……80

Kết luận 80

Khuyến nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 82

PHỤ LỤC ……… …84

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1-1: Tăng dân số tự nhiên qua các năm 8

Bảng 1-2: Giá trị sản xuất của các ngành 15

Bảng 1-3: Tốc độ phát triển của các ngành 17

Bảng 2-1: Phân bố mẫu điều tra theo địa phương 31

Bảng 3-1: Các nhóm hải sản chủ yếu 40

Bảng 3-2: Những đối tượng khai thác chủ yếu của nghề LKVB Huyện Vạn Ninh 41

Bảng 3-3: Phân bố tàu thuyền LKVB theo địa phương từ 2006-2010 41

Bảng 3-4: Cơ cấu tàu thuyền LKVB theo nhóm công suất từ năm 2006-2010 43

Bảng 3-5: Cơ cấu tàu thuyền LKVB theo địa phương và công suất từ năm 2010 44

Bảng 3-6: Đặc điểm tàu thuyền LKVB huyện Vạn Ninh 46

Bảng 3-7: Tình hình trang bị máy khai thác hàng hải cho tàu thuyền LKVB Vạn Ninh 48

Bảng 3-8: Thống kê trang bị dụng cụ an toàn hàng hải cho tàu thuyền LKVB Vạn Ninh 48

Bảng 3-9: Các thông số cơ bản của LKVB Vạn Ninh 50

Bảng 3-10: Thực trạng bố trí thuyền viên trên tàu thuyền LKVB Vạn Ninh 51

Bảng 3-11: Trình độ học vấn, chứng chỉ thuyền viên tàu LKVB Vạn Ninh 51

Bảng 3-12: Thực trạng tàu thuyền lưới kéo các địa phương bạn vào khai thác ngư trường ven bờ huyện Vạn Ninh 53

Bảng 3-13: Sản lượng và thành phần sản phẩm khai thác của nghề LKVB huyện Vạn Ninh 54

Bảng 3-14: Phương tiện hỗ trợ phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát nguồn lợi 61

Bảng 3-15: Một số dự án nhằm phục hồi nguồn lợi thủy sản ven bờ 61

Bảng 3-16: Một số dự án bảo vệ, bảo tồn đa dạng sinh học 62

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1-1: Bản đồ vị trí huyện Vạn Ninh 6

Hình 3-1: Bản đồ ngư trường nghề LKVB huyện Vạn Ninh 39

Hình 3-2: Đồ thị biến động tàu thuyền LKVB theo địa phương từ 2006-2010 42

Hình 3-3: Đồ thị biến động tàu thuyền LKVB theo công suất từ 2006-2010 44

Hình 3-4: Đồ thị cơ cấu tàu thuyền LKVB theo địa phương-công suất 2010 45

Hình 3-5: Máy chính trên tàu LKVB huyện Vạn Ninh 45

Hình 3-6: Tàu thuyền LKVB huyện Vạn Ninh 46

Hình 3-7: Biểu đồ đặc điểm tàu LKVB huyện Vạn Ninh 47

Hình 3-8: Kích thước mắt lưới ở đụt của LKVB huyện Vạn Ninh 49

Hình 3-9: Biểu đồ trình độ học vấn thuyền viên tàu LKVB huyện Vạn Ninh 52

Hình 3-10: Sản phẩm một mẻ lưới tàu LKVB huyện Vạn Ninh 54

Hình 3-11: Một mẻ lưới thàn công 56

Hình 3-12: Sơ đồ tổ chức bộ máy chi cục Khai thác –BVNLTS Khánh Hòa 57

Hình 3-13: Sơ đồ tổ chức bộ máy thanh tra chuyên ngành thủy sản Khánh Hòa 59

Hình 3-14: Hệ thống phao đánh dấu tuyến bờ huyện Vạn Ninh Khánh Hòa 71

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

FAO: Tổ chức lương thực thế giới

HST: Hệ sinh thái;

KTTS: Khai thác thủy sản;

KT&BVNLTS: Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản;

LKVB: Lưới kéo ven bờ;

NLTS: Nguồn lợi thủy sản;

NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn;

Trang 7

MỞ ĐẦU

Khánh hòa có khoảng 13.000 tàu thuyền đánh cá biển, tập trung chủ yếu ở

TP Nha Trang, TP Cam Ranh và các huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa Tuy nhiên, số tàu thuyền có khả năng đánh bắt xa bờ chỉ có 500 chiếc, số còn lại đều có công suất nhỏ tập trung khai thác ven bờ, nhất là trong các đầm, vũng, vịnh Điều đáng nói là trong

số những tàu thuyền đánh cá Khánh Hòa, có một đội tàu lưới kéo khoảng 1600 chiếc tập trung phần lớn ở TP Nha Trang và huyện Vạn Ninh

Huyện Vạn Ninh có vịnh Vân Phong và vịnh Đại Lãnh là ngư trường ven

bờ rất thuận lợi cho nghề lưới kéo phát triển Vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh bao gồm cả vùng ngoài ven bờ xã Đại Lãnh, xã Vạn Thọ, xã Vạn Thạnh, bán đảo Hòn Gốm và một phần vịnh Vân Phong Vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh và vịnh Vân Phong là nơi chưa đựng nhiều nguồn lợi thủy sản đa dạng và phong phú Trong vịnh Vân Phong có nhiều hệ sinh thái, rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn cũng đang bị con người ở đây khai thác triệt để Những hệ sinh thái, môi trường đáy biển ở đây cũng đang bị nghề lưới kéo ven bờ ngày càng hủy diệt

Với lợi thế về ngư trường như trên, huyện Vạn Ninh có một nghề lưới kéo khá phát triển Trong số 1600 tàu lưới kéo của tỉnh Khánh Hòa thì huyện Vạn Ninh

có 571 chiếc (đứng sau Nha Trang có 668 chiếc) Đội tàu lưới kéo của huyện Vạn Ninh hầu hết công suất nhỏ (số tàu lắp máy dưới 90cv chiếm 97%) cho nên chủ yếu hoạt động ở vùng biển ven bờ

Ngư trường ven bờ huyện Vạn Ninh cũng rất thuận lợi cho tàu thuyền lưới kéo của các địa phương bạn đến tham gia khai thác như Phú Yên, Bình Định, Nha Trang, Ninh Hòa Thực trạng này càng gây áp lực lớn cho nguồn lợi vùng ven bờ huyện Vạn Ninh

Nếu để tình trạng này diễn ra thiếu sự kiểm soát điều chỉnh thì chắc chắn một thời gian không xa, nguồn lợi, môi trường và các hệ sinh thái biển ở vịnh Vân Phong nói riêng và vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh nói chung sẽ bị suy thoái dưới tác động xấu của nghề lưới kéo ven bờ khó vực dậy được Vì vậy, việc khảo sát thực

trạng tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra ”Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ

nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa”

là viẹc làm mang tích thời sự, cấp thiết

Trang 8

Mục tiêu chính của đề tài luận văn là đề xuất được giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi ở vùng biển ven bờ huyện Van Ninh tỉnh Khánh Hòa

Đề tài luận văn được thực hiện từ tháng 03/2010 đến tháng 07/2011, tại huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa với các nội dung chủ yếu như sau:

1 Điều tra, phân tích thực trạng nghề lưới kéo khai thác thủy sản tại vùng biển ven

bờ huyện Vạn Ninh

2 Điều tra, phân tích thực trạng hoạt động nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh có gây hại nguồn lợi thủy sản

3 Phân tích thực trạng công tác quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Vạn Ninh

4 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng biển ven

bờ huyện Vạn Ninh

Đề tài luận văn sẽ là tài liệu khoa học góp phần giúp các nhà quản lý nghề

cá nói chung và nghề Lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh nói riêng có cơ sở để đề xuất

và thực thi các biện pháp nhằm làm cho nguồn lợi vùng biển ven bờ ngày càng phát triển bền vững

Trang 9

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 10

1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA PHƯƠNG NGHIÊN CỨU

1.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Vạn Ninh

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Vạn Ninh nằm ở phía Bắc của tỉnh Khánh Hoà, phía Nam dãy Đèo Cả - Vọng Phu Địa giới hành chính giáp các huyện Đông Hòa, Tây Hòa, Sông Hinh của Phú Yên về phía Bắc và phía Tây; giáp thị xã Ninh Hòa về phía nam Huyện có 12

xã (Đại Lãnh, Vạn Thọ, Vạn Thạnh, Vạn Phước, Vạn Long, Vạn Bình, Vạn Khánh, Vạn Phú, Vạn Lương, Xuân Sơn, Vạn Hưng, Vạn Thắng) và 1 thị trấn (Vạn Giã) Tổng diện tích tự nhiên của huyện Vạn Ninh là 550 km², với khoảng 75% là rừng (Quản lý những khu vực nào thuộc về biển) Tổng dân số là 129.578 người, mật độ dân số 229 người/ km2 Dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp, ngư nghiệp

và lâm nghiệp Trong Hơn 90% dân số ở đây sống bằng nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản

1.1.1.2 Thủy triều

Chế độ thủy triều ở khu vực vùng biển Vạn Ninh biến đổi khá lớn từ vùng này sang vùng khác Chế độ triều ở đây là triều hỗn hợp thiên về nhật triều tuy nhiên Thủy triều tại vịnh VP mang đặc trưng nhật triều không đều, vào các tháng VI – VII, XII – I tính nhật triều thể hiện rõ hơn các tháng khác

Biên độ triều đạt cực đại vào các kỳ hạ chí (tháng VI) và đông chí (tháng VII), cực tiểu vào thời kỳ xuân phân (tháng III) và thu phân (tháng IX) Trong tháng thường có 7 - 10 ngày là 2 lần nước lớn, 2 lần nước ròng (bán nhật triều trong kỳ nước sinh) Trong các tháng mùa hè (tháng V - IX) nước cường, nước cạn vào buổi chiều Trong các tháng mùa đông (XI - III) nước cường, nước cạn vào buổi sáng

Các giá trị mực nước đo tại trạm Cầu Đá (Nha Trang) được tính toán ngoại suy cho vịnh VP là: Cực đại mực nước đo được là 238 cm (XI-1976), cực tiểu là 0

cm (VI-1979) Biến động mực nước lớn nhất trong năm là 234 cm (1976), nhỏ nhất

là 192 cm (1986, 1988) Mực nước từ 130 cm trở lên có tần suất xuất hiện là 50%, từ

235 cm trở lên – 0.005%

Trong năm mực nước đạt cực đại vào gió mùa Đông Bắc, cực tiểu vào gió mùa Tây Nam Trong năm mực nước đạt cực đại có thể chênh nhau 68 cm, chênh

Trang 11

lệch mực nước cực tiểu tháng tới 66 cm, mực nước trung bình tháng có thể chênh nhau tới 43 cm Mực nước trung bình vào gió mùa Tây Nam thấp hơn mực nước trung bình trong gió mùa Đông Bắc là 25 - 30 cm

Hình 3.1: Bản đồ vị trí huyện Vạn Ninh trong tỉnh Khánh Hòa

Trang 12

1.1.1.3 Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình hàng năm của khu vực là 26,70C, tổng lượng nhiệt hàng năm là 9600 - 97000C Nhiệt độ thấp nhất trong năm là tháng 01 Nhiệt độ thấp nhất quan trắc được là 15,80C (năm 1984) Các tháng nóng nhất là tháng 5 và tháng 7, nhiệt độ trung bình của các tháng này là 28 - 290C, nhiệt độ cao nhất đã quan trắc được là 37,90C (tháng 8 năm 1976)

1.1.1.4 Mưa

Huyện Vạn Ninh là một trong những vùng ít mưa của tỉnh Khánh Hoà Tổng lượng mưa bình quân một năm là 1100 - 1300 Năm mưa nhiều nhất 2195,5 mm (1981) Năm mưa ít nhất 541,7 mm (1982) Lượng mưa tập trung vào các tháng mùa mưa (I, X, XI) Các tháng mùa khô (I - VIII) lượng mưa chỉ chiếm 20 - 30% tổng lượng mưa năm Nhìn chung trong năm của khu vực vịnh VP có không quá 100 ngày mưa Theo số liệu quan trắc (1977 - 1995) số lượng mưa trung bình hàng năm

là 73 ngày Tháng có mưa nhiều nhất là 22 ngày (tháng XI) năm 1983 Trong các tháng mùa khô, có tháng không có ngày mưa nào

Độ ẩm trung bình nhiều năm trong khu vực là 80% Độ ẩm trung bình trong các tháng VIII - II là 83% Độ ẩm trung bình trong các tháng III - VIII

là 77% Các tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng VI, VII có ngày độ ẩm xuống dưới 50% (2 ngày/ tháng) Mỗi năm thường có 15 - 20 ngày có nhiệt độ không khí  350C, độ ẩm nhỏ  55% (tháng VI - VIII)

1.1.1.5 Chế độ gió

Chế độ gió ở vịnh Vân Phong – vùng biển huyện Vạn Ninh mang đặc trưng của chế độ nhiệt đới gió mùa có sự luân chuyển các hướng gió theo hai mùa trong năm rất rõ rệt Mùa gió Đông Bắc từ khoảng tháng X-III, tốc độ gió trung bình đạt từ 4,0-6,0m/s, tốc độ gió lớn nhất có thể đạt trên 30m/s Mùa gió Tây Nam thường xuất hiện gió Tây khô, nóng thịnh hành từ tháng IV-IX, các đợt gió Tây có thể kéo dài 5-

7 ngày, tốc độ gió trung bình đạt từ 3,0-4,0m/s và tốc độ gió lớn nhất đạt từ 16m/s

12-1.1.1.6 Thủy văn

Trang 13

Biến đổi nhiệt độ nước và độ muối khá rõ theo thời gian (chu kỳ ngày-đêm, chu kỳ mùa khí hậu) và không gian (giữa các khu vực và tầng nước khác nhau trong vịnh)

 Mùa khô: Biến trình ngày của nhiệt độ tại tầng mặt có một cực đại và một cực tiểu, biên độ dao động trên các tầng nước là 1- 40C Biến trình dao động độ muối không có quy luật rõ ràng, biên độ ngày - đêm là 0,2 - 4,3 ppt

 Mùa mưa: Biên độ nhiệt độ chỉ xảy ra mạnh ở tầng mặt tại đây biên độ ngày -đêm 1,270C Tại tầng giữa và tầng đáy biên độ nhỏ hơn 10C Biến động theo thời gian của độ muối chỉ thấy rõ ở tầng giữa có biên độ 1,12ppt

Biến đổi theo các tầng nước của nhiệt muối trong chu kỳ ngày - đêm tại khu

vực đầm Môn cho thấy: Biên độ dao động xảy ra mạnh nhất ở tầng nước mặt (nhiệt

độ 27,47 ± 2; độ muối 33,7 ± 0,2); ở tầng 5m là nhiệt độ 26,8 ± 0,92; độ muối 34,17

± 0,1) và ở tầng 10m - nhiệt độ 26,31 ± 0,75; độ muối 34,2 ± 0

Phân bố mặt rộng của nhiệt - muối cho thấy: Các đặc trưng này thể hiện rõ tính chất nóng của vịnh nhiệt đới và tính chất mặn cao của nước đại dương

1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

1.1.2.1 Giao thông: cảng sông, biển

Nằm ở cửa ngõ đầu phía Bắc của tỉnh Khánh Hòa, huyện Vạn Ninh nằm trên trục đường giao thông đường bộ huyết mạch và có tuyến đường sắt quan trọng nối liền các tỉnh miền Bắc và miền Nam với nhau Hệ thống giao thông quốc lộ đường

bộ đang được củng cố, đặc biệt là đường tỉnh lộ nối liền quốc lộ 1A và đường sắt

Bắc Nam, đường 26 đi từ Ninh Hòa đi Buôn Mê Thuật, đường 27 đi Đà Lạt

Nằm trong chương trình phát triển khu hậu cần nghề cá phía Bắc tỉnh, dự án Cảng cá Đại Lãnh (huyện Vạn Ninh) được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt với tổng mức đầu tư hơn 27 tỷ đồng Theo kế hoạch, Cảng cá Đại Lãnh sẽ đưa vào sử dụng cuối năm 2010 Dự án sẽ góp phần nâng cao năng lực hậu cần nghề

cá cho phía Bắc Khánh Hòa và các tỉnh lân cận

Ngoài ra hệ thống đường thủy đang có triển vọng được mở rộng với các dự án xây dựng cảng biển sâu Hiện nay, khu vực vịnh Vân Phong – Vạn Ninh có một số

cảng nhỏ chủ yếu phục vụ kinh tế địa phương:

Trang 14

- Cảng Phú Hội ở Vạn Ninh, tàu 10 tấn có thể cập bến với lượng 100 chiếc/ngày

- Cảng Chào Tai (Vạn Giã) phục vụ ghe tàu tối đa là 8 tấn, sức chứa 80 chiếc/ngày

- Cảng Vạn Lương (Đầm Môn) với tàu 8 tấn trọng tải,có sức chứa 50 chiếc/ngày

- Cảng truyền tải cát ở Đầm Môn có thể tiếp nhận tàu có trọng tải 3 vạn tấn

- Cảng ở thôn Mỹ Giang phục vụ cho đóng tàu và chữa tàu

1.1.2.2 Đặc điểm dân cư địa phương

Tổng dân số trên địa bàn huyện: 128.162 dân, mật độ dân số khoảng 229

người/km² Huyện Vạn Ninh có ít khu công nghiệp nên chủ yếu dân cư sinh kế bằng nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm nghiệp, thời gian lao động theo mùa vụ Ước tính thì thời gian nông nhàn trong toàn vùng khảo sát là 0 – 180 ngày/năm, trung bình 46,9 ngày/ năm Nghề có số ngày nông nhàn lớn là nông nghiệp (trung bình 53 ngày/năm), giã cào (47 ngày/năm) Nghề bận rộn và hoạt động quanh năm là nghề nuôi biển, nghề đánh bắt thủy sản trong vịnh

Bảng 1-1: Tăng dân số tự nhiên qua các năm

Tỷ lệ tăng(‰) 11,8 12 11,4 10,36 9,9 8,91

Tổng thu nhập của các hộ 5,6 – 116 triệu đồng/ hộ/ năm, trung bình 16,8 triệu/hộ/năm Thu nhập thấp là các hộ làm nông nghiệp, khai thác hải sản trong vịnh (< 16 triệu/hộ /năm) Thu nhập cao nhất là hộ khai thác hải sản xa bờ, nuôi biển, nuôi tôm Sú, dịch vụ,

Thu nhập bình quân tính theo đầu người mỗi tháng dao động trong khoảng 250.000–2.400.000đ/khẩu, trung bình 495.000đ/ khẩu Thu nhập thấp nhất là hộ làm nông nghiệp, nguyên nhân nghèo là do trồng cây tạp (trồng chuối, cam, đu đủ), trình

độ văn hoá thấp (6/12), đông con (4 con, trong đó 3 con nhỏ đang đi học tiểu học), Số hộ có bình quân thu nhấp dưới trung bình (< 495.000đ/khẩu/ tháng) là 61,4% TSPĐT

Thống kê tiện nghi sinh hoạt và điều kiện sống của các hộ cho thấy: Nhà tranh

Trang 15

lá chiếm khoảng 24% TSPĐT, nhà trệt không kiên cố 56,6%, nhà kiên cố 19,4% Số

hộ có xe đạp chiểm 41% TSPĐT, xe gắn máy – 35%, TV – 78%, tủ lạnh – 3,6%, thuyền máy – 57,8%,

1.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế ở địa phương

Đối với huyện Vạn Ninh nhìn chung nghề khai thác thủy sản ở địa phương là nghề cá quy mô nhỏ, chủ yếu đánh bắt ven bờ, thời gian đi biển ngắn từ 01 đến 03 ngày Ngư trường đánh bắt ở Vạn Ninh chủ yếu trong vịnh Vân Phong rộng khoảng 440km2, ngoài ra còn khai thác ở biển khơi nhưng không quá 30km Toàn huyện có khoảng 3.000 chiếc tàu thuyền các loại, về nghề cá tập thể có 03 hợp tác xã thủy sản chuyên khai thác nghề đầm Đăng nhưng chỉ khai thác được khoảng 4-5 tháng (từ tháng 3 đến tháng 7 dương lịch hàng năm) Ngư dân tại đây đánh bắt quanh năm, tùy theo mùa vụ để sử dụng phương tiện khai thác hợp lý Một chủ tàu có thể thuần thục đánh bắt các loại nghề khác nhau như câu, giã cào, vây… tùy thuộc vào từng mùa

vụ Tổng sản lượng khai thác hàng năm ước đạt từ 8 đến 10 ngàn tấn thủy sản các loại

Tuy nhiên trong những năm gần đây kinh tế thủy sản Vạn Ninh đã chuyển dịch theo hướng chuyển từ khai thác là chính sang nuôi trồng, chuyên về các loại hải sản

có giá trị cao về kinh tế phục vụ xuất khẩu Giá trị sản lượng của ngành nuôi trồng thủy sản cũng tăng mạnh, đến năm 2008 đạt gần 400 tỷ đồng Những năm gần đây, mặc dù gặp nhiều khó khăn về dịch bệnh diễn biến phức tạp, vốn đầu tư eo hẹp nghề nuôi tôm hùm ở Vạn Ninh vẫn có bước phát triển đáng kể Ðến nay, toàn huyện có khoảng 2.000 hộ nuôi tôm hùm, sản lượng thu hoạch hằng năm khoảng

300 tấn Ðây được coi là một trong những thế mạnh về kinh tế của huyện Vạn Ninh Ngoài ra, hiện nhiều hộ ngư dân phát triển nuôi ốc hương, song sụn, cá bớp, cá chẽm góp phần tạo sự đa dạng trong nuôi trồng thủy sản

Bảng 1-2: Giá trị sản xuất của các ngành ( đơn vị tính triệu đồng )

Nông nghiệp 91.999 99.045 103.132 97.582 117.256 119.312 628.326 Thủy sản 327.660 334.213 313.416 342.300 314.442 357.929 1.989.960 Công nghiệp 43.120 48.133 57.900 71.343 80.017 102.912 403.425

Trang 16

Bảng 1-3 Tốc độ phát triển của các ngành ( năm trước = 100%)

Đơn vị tính %

Giá trị SX Nông nghiệp 84,8 107,7 104,1 94,6 120 101,7 Giá trị Thủy sản 126,6 102,0 99,8 109,2 91,9 113,8 Giá trị Công nghiệp

TTCN 114,7 111,6 120,3 114,0 121,2 128,6

Qua số liệu thống kê trong vòng 5 năm (từ năm 2005 đến 2010) ta thấy Thủy sản đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của địa phương thể hiện rõ nét ở giá trị sản xuất của ngành Thủy sản chiếm gấp đôi giá trị sản xuất của cả hai lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp cộng lại Tuy nhiên giá trị thủy sản lại trên đà sút giảm liên tục từ năm 2005 đến 2009 và chỉ đến năm 2010 thì mới trên đà phục hồi

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

Tình hình nghiên cứu và quản lý theo hướng phát triển bền vững nghề khai

thác thủy sản trên thế giới

Sản lượng khai thác hải sản trên toàn thế giới giảm 2% trong giai đoạn 2000 -

2002 Một số quốc gia có sản lượng khai thác giảm nhưng bù lại là sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng Sản lượng khai thác trên thế giới năm 2002 đạt 93,2 triệu tấn Tuy nhiên nếu tính trên đầu người thì lượng thực phẩm khai thác giảm nhẹ từ 10,8kg (1997) xuống còn 9,8kg (2002) [15]

Theo thống kê của FAO, trong giai đoạn 1970 - 2000 trữ lượng cá giảm từ 10 – 25% Việc khai thác quá mức vẫn còn diễn ra ở nhiều nước, do đó các chương trình khôi phục trữ lượng và ngăn chặn việc khai thác quá mức cần phải thực hiện nhanh chóng ở mỗi quốc gia [15]

FAO thống kê từ 12 trong 16 vùng nghiên cứu cho thấy ít nhất 70% trữ lượng

cá đã bị khai thác hoàn toàn hay khai thác quá mức Điều này cho thấy chúng ta đã

Trang 17

khai thác vượt ngưỡng tối đa và cần có những biện pháp quản lý để hạn chế việc khai thác nhằm phục hồi nguồn lợi

Để hướng đến phát triển bền vững có sự tham gia của cộng đồng, thông qua FAO và Hội nghị thượng đỉnh phát triển bền vững Thế giới tổ chức tại Nam Phi năm

2002, các quốc gia đang xúc tiến mở rộng chính sách và quản lý tập trung vào việc bảo vệ nguồn lợi và hệ sinh thái Các vấn đề quản lý quan trọng nhất cần đề cập đến

là ảnh hưởng của nghề cá đến sinh cảnh, quần thể và mối tương tác sinh thái học cũng như các hoạt động trong đất liền và sự thay đổi khí hậu Đa số các loại ngư cụ khai thác không có tính chọn lọc đã làm gia tăng việc loại bỏ các loài khai thác chưa đạt kích cỡ thương phẩm trên biển Do việc loại bỏ cá này đã làm gia tăng áp lực khai thác lên nguồn lợi có thể dẫn đến việc khai thác quá mức, ảnh hưởng tới một số loài đang có nguy cơ bị đe dọa [15]

Theo báo cáo của Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), hơn 2/3 nguồn lợi hải sản trên thế giới bị khai thác quá mức Đến năm 2025, dân số thế giới đạt 9,3 tỷ người thì nhu cầu thực phẩm thủy sản ngày càng gia tăng Điều này có thể làm cho hoạt động nghề cá chuyển sang quy mô lớn hơn và việc sử dụng các ngư cụ hủy diệt cũng gia tăng nhằm khai thác cá triệt để Theo chương trình bảo vệ môi trường của Liên hợp quốc, các phương pháp khai thác hủy diệt là mối đe dọa lớn nhất vì nó không những làm cho nguồn lợi suy giảm một cách nhanh chóng nhất mà còn tàn phá hệ sinh thái cần thiết cho sinh trưởng, tồn tại và sinh sản của các loài sinh vật Các phương pháp khai thác hủy diệt nguy hiểm nhất phải kể đến là thuốc nổ, chất độc, xung điện mạnh và một số nghề như lưới kéo đáy, tác hại của nghề lưới kéo đáy

là làm hư hại nền đáy và đe dọa đến đa dạng sinh học

Khai thác bằng chất độc Cyanua rất phổ biến ở các nước Đông Nam Châu Á Các phương pháp khai thác này tập trung vào các loài cá rạn san hô có giá trị kinh tế cao như: cá Mó (Cheilinus undulatus) và cá Mú chuột (Cromoleptis altevi, Epinephelus lanceolatus) để bán cho Hồng Kông Năm 1997 Hồng Kông đã nhập khẩu khoảng 32.000 tấn cá rạn tươi sống Trong đó 2 loài cá này đang nằm trong danh mục những loài quý hiếm đang có nguy cơ đe dọa nằm trong sách đỏ của IUCN Mặc dù việc nghiêm cấm khai thác hai loài cá này ở một số quốc gia như Philippines, Indonesia và Maldives, nhưng các loài cá này vẫn được tìm thấy trên thị trường Hồng Kông

Trang 18

Khai thác thủy sản cũng là sinh kế chính cho các nước Châu Á FAO (2002) ước tính có khoảng 27 triệu người hoạt động trong khai thác thủy sản trên thế giới, trong đó Châu Á có 22 triệu người

Trước nguy cơ nguồn lợi suy giảm, hệ sinh thái bị tàn phá Một số phương pháp khai thác và bảo vệ nguồn lợi hợp lý đang được áp dụng trên thế giới như sau:

1.2.1 Giảm số lượng tàu thuyền khai thác và chuyển đổi nghề nghiệp

Năm 2004, tổng số tàu thuyền trên thế giới khoảng 4,1 triệu chiếc Số lượng thuyền khai thác tập trung nhiều nhất ở Châu Á (85%) Tiếp theo là Châu Âu (8,9%), Bắc và Trung Mỹ (4,5%) [15]

Trước sự gia tăng số lượng và công suất tàu thuyền, một số nước đã thực hiện nghiêm túc việc cắt giảm số lượng tàu thuyền dư thừa Việc giảm số lượng tàu thuyền công suất lớn là rất cần thiết, tuy nhiên việc khai thác xa bờ luôn luôn đòi hỏi phải dùng tàu công suất lớn mới đảm bảo an toàn trong điều kiện thời tiết xấu Ngoài ra các tàu công suất lớn thì khai thác cá nổi ngoài biển khơi hiệu quả hơn Do

đó theo dự báo thì số lượng tàu cỡ lớn sẽ gia tăng trong thời gian tới [15]

Tuy nhiên, ở một số nước đang thực hiện chương trình cắt giảm số lượng tàu

cỡ lớn Trung Quốc đang nỗ lực giảm kích thước thuyền, số lượng người tham gia khai thác nhằm hạn chế việc khai thác quá mức Năm 2000, số lượng lao động khai thác giảm 2% và có khoảng 4% được chuyển qua làm các nghề khác Trung Quốc cố gắng loại bỏ một số thuyền cũ, kém hiệu quả và tăng cường tập huấn cho họ về nuôi trồng thủy sản Kết quả là số người nuôi trồng thủy sản tăng 6% năm 2002 so với năm 2000 và nguồn lợi dần được khôi phục

Xu hướng chuyển đổi lực lượng lao động khai thác sang NTTS cũng được tiến hành ở nhiều quốc gia khác nhau Các nước công nghiệp, đặc biệt là Nhật Bản và một số nước Châu Âu, lực lượng lao động KTHS giảm qua các năm vừa qua Đây là kết quả của các chương trình cắt giảm cường lực khai thác và áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến [15]

Năm 2003, một số quốc gia đã giảm một lượng lớn tàu 100 tấn Nhật Bản là nước đầu tiên với số lượng giảm là 140 chiếc Hơn 90% tàu Nhật Bản có công suất dưới 5 tấn Số lượng loại này giảm từ giữa năm 1997 – 2000 Đặc biệt số tàu trên 50 tấn giảm 20%

Trang 19

Khối liên minh châu Âu cắt giảm 2% tàu khai thác hàng năm Số lượng tàu thuyền của liên minh châu Âu giảm từ 96.000 chiếc (năm 2000) xuống còn 88.701 chiếc (năm 2003) Trong đó 13% là lưới kéo, 6% lưới rùng, 3% lưới rê, 16% câu còn lại là các nghề khai thác khác

Theo thống kê của FAO thì tàu khai thác cá ngừ vượt quá công suất cho phép

Do đó việc đóng tàu công suất lớn cần phải tạm ngưng, đồng thời di chuyển một số tàu khai thác xa bờ vào vùng ven bờ [15]

Iceland giảm 8% lượng tàu khai thác năm 2002 và 10% trong 5 năm trước đó

Ở Nauy có 9.569 chiếc tàu khai thác đăng ký đến thời điểm tháng 12/2002 So với năm 2000 thì số lượng tàu đã giảm 48% [15]

Như vậy việc cắt giảm số lượng tàu thuyền đã góp phần đáng kể đến việc khôi phục nguồn lợi ở một số quốc gia

1.2.2 Áp dụng các mô hình toán trong quản lý khai thác thủy sản

Cùng với sự gia tăng số lượng tàu thuyền một cách nhanh chóng, một số mô hình toán về quản lý nguồn lợi đã được sử dụng nhằm quản lý nguồn lợi thủy sản Các mô hình này là sự kết hợp giữa sinh học và kinh tế (Hannesson, 1978) Sự phát triển mô hình động học quần thể của Beverton và Holt (1957) đã góp phần quan trọng trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Trong các mô hình này có sự kết hợp kinh tế – xã hội và nguồn lợi tự nhiên đã đưa đến khái niệm mới trong nghiên cứu nguồn lợi: mô hình kinh tế sinh học Mô hình động học quần thể của Beverton và Holt, Gordon Schaefer và Fox là những mô hình đang được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế thủy sản, đặc biệt là đối với các nước nhiệt đới, nơi có nghề cá đa loài khó dự báo trữ lượng chính xác (Gordon, 1954) Các mô hình cho phép tính toán hiệu quả kinh tế và sinh học trong thủy sản, khả năng dự báo, lập kế hoạch và điều chỉnh số lượng tàu thuyền cũng như cường lực một cách tốt hơn

1.2.3 Áp dụng hệ thống quản lý nghề cá có trách nhiệm

Mặc dù việc khai thác quá mức ở Châu Âu được xem xét trong hơn 20 năm qua, nhưng Liên minh Châu Âu chưa thực hiện thành công quản lý thủy sản bền vững Nhà nước hỗ trợ hàng triệu Euro vào ngành công nghiệp khai thác làm cho số

Trang 20

lượng tàu công suất lớn gia tăng rất nhanh Việc xây dựng hệ thống quản lý mới là giảm số lượng tàu thuyền và nâng cao trách nhiệm giữa những người quản lý và người dân trong việc khôi phục nguồn lợi và hệ thống này cần phải khẩn trương thực hiện nhanh chóng [24]

Hệ thống quản lý mới là chuyển quyền khai thác có trách nhiệm cho người dân, trong đó mọi người dân xem nguồn lợi thủy sản là tài sản chung của mọi người

và cần phải được bảo vệ Với hệ thống quản lý này cho thấy có những thành công lớn trong việc bảo vệ và phục hồi nguồn lợi Các thành viên EU đã thực hiện hiệu quả việc khôi phục trữ lượng, giảm áp lực khai thác và đem lại lợi ích kinh tế cao cho ngành công nghiệp khai thác của mình

Từ 1990, số lượng tàu thuyền thuộc khối EU gia tăng một cách nhanh chóng Dựa trên số liệu thống kê, EU dự báo số tàu thuyền khai thác ở EU cao hơn 40% so với đăng ký thực tế Kết quả là khai thác quá mức và nguồn lợi bị suy giảm Đầu những năm 1990, EU đã thỏa thuận hiệp định cơ bản về khai thác hạn ngạch, giới hạn cường lực khai thác và xây dựng các khu bảo tồn biển Theo Hiệp định này, nghề khai thác phải được quản lý sao cho trữ lượng nguồn lợi hiện có phải cân bằng với tốc độ tử vong của từng loài Thế nhưng theo Hội đồng bảo vệ môi trường biển Đông Bắc Đại Tây Dương thì 2/3 trữ lượng cá ở vùng này vẫn không được quản lý một cách bền vững [15]

1.2.4 Áp dụng hệ thống quản lý khai thác theo hạn ngạch

Đầu những năm 1980, do nguồn lợi thủy sản ngày càng ít trong khi đó số lượng thuyền khai thác quá nhiều Ngành công nghiệp khai thác Newzealand và Chính phủ nước này nhận thấy rằng cần phải có một hệ thống quản lý mới trong khai thác hải sản Vào tháng 10/1986, sau 2 năm lập kế hoạch và thẩm định, hệ thống quản lý theo hạn ngạch được áp dụng Nguyên tắc của khai thác hạn ngạch là các cá nhân hay công ty đăng ký sẽ được quyền khai thác với một số lượng nhất định của một loài nào đó Hạn ngạch đã trở thành một dạng tài sản có thể cho thuê, mua, bán hoặc chuyển nhượng

Hàng năm các nhà khoa học và ngành khai thác sẽ cùng nhau đánh giá trữ lượng của từng loài Sau đó quy định hạn ngạch cho phép khai thác cho ngư dân và các công ty Khi đã đủ hạn ngạch các các nhân hay công ty phải dừng và mua hạn

Trang 21

ngạch của người khác Theo lý thuyết không ai cho phép khai thác vượt hạn ngạch của mình và tổng lượng khai thác không vượt quá tổng hạn ngạch cho phép Tuy nhiên trong thực tế, sản lượng khai thác thường lớn hơn hạn ngạch cho phép Những trường hợp này phải nộp phạt hoặc phải trả tiền thuế rất cao cho phần sản lượng vượt quá hạn ngạch cho phép

Theo sau hệ thống quản lý bằng hạn ngạch, trong những thập niên vừa qua, có nhiều Quốc gia áp dụng hệ thống quản lý định mức khai thác cá nhân Thông qua quy định này người dân có thể chuyển nhượng, bán hoặc cho thuê như tài sản cá nhân của mình Nhiều Quốc gia đã áp dụng thành công hệ thống quản lý này như: Canada, Australia, Chilê, Mỹ…và kết quả có nhiều dẫn chứng cho thấy trữ lượng đã được hồi phục

Các nghiên cứu về hệ thống quản lý theo hạn ngạch của Newzealand cho thấy giá trị quyền chuyển nhượng quyền khai thác đã được nâng cao Trữ lượng đã được hồi phục ở nhiều vùng khác nhau, trữ lượng quần thể đã ổn định và một số loài có biểu hiện gia tăng

Trữ lượng ổn định cũng được thấy ở Hà Lan khi áp dụng hệ thống quản lý theo hạn ngạch Nhờ áp dụng hệ thống này, giá trị sản lượng khai thác trên một đơn vị thuyền ở biển Bắc năm 1998 tăng 33 lần so với 15 năm trước Ở Iceland, tổng giá trị hạn ngạch khai thác năm 2000 tăng gấp 20 lần so với năm 1984 Sản lượng khai thác hàng năm của Iceland tăng hơn 4% so với trước đây (chỉ 2,8%) (1974-1995) Lợi nhuận công nghiệp khai thác của Iceland tăng 10 lần từ 1984 – 1996

Trải qua 30 năm sau nghề khai thác tự do, nghề khai thác của Nauy đã được quản lý bằng việc đăng ký định mức khai thác nhằm ngăn chặn việc khai thác quá mức và suy giảm nguồn lợi Sự di chuyển của một số loài cá đến vùng địa phận quốc

tế làm cho áp lực khai thác của nhiều quốc gia ở vùng này gia tăng Do đó việc thực hiện hiệp định khai thác quốc tế bảo vệ nguồn lợi hải sản là rất cần thiết Nauy có truyền thống lâu đời về hợp tác quốc tế khai thác hải sản Nauy đã ký hiệp định thủy sản với nhiều quốc gia Năm 1995, Hiệp định Liên hợp quốc về bảo vệ nguồn lợi và trữ lượng cá di cư là bước đi đúng hướng và họ đã chú trọng đến việc thực hiện hiệp định này

Mục tiêu của Nauy là bảo vệ và hồi phục nguồn lợi cá để khai thác bền vững hàng năm theo định mức dựa vào nghề cá có trách nhiệm Để thực hiện thành công,

Trang 22

Chính phủ Nauy đã đầu tư rất nhiều nghiên cứu về đánh gái trữ lượng cá Nauy đang

cố gắng trở thành quốc gia hàng đầu về công nghệ khai thác thủy sản Chính vì thế, nghề cá Nauy đứng thứ 2 sau ngành dầu khí của nước này

Năm 1981, ở châu Á, chính sách đăng ký thuyền khai thác bắt đầu ở Malaysia Theo chính sách này thì kích thước thuyền, loại ngư cụ và vùng khai thác phải được đăng ký Việc hạn chế người khai thác dựa vào hệ thống hạn ngạch một khi nguồn lợi có nguy cơ suy giảm Đối với các tàu khai thác truyền thống thì hoạt động trong vùng 5 hải lý (loại A), các tàu lưới kéo và lưới rùng có công suất <40cv thì khai thác trong vùng 5 – 12 hải lý (loại B), các tàu lưới kéo có công suất <70cv thì được khai thác trong vùng từ 12 – 30 hải lý (loại C) Ngoài 30 hải lý thì cho phép tất cả các tàu thuyền được khai thác

Trong thực tế, hệ thống quản lý khai thác theo hạn ngạch còn tồn tại một số nhược điểm sau: khai thác hạn ngạch chỉ tốt khi chúng ta có đầy đủ cơ sở dữ liệu về trữ lượng đàn cá, tốc độ hồi phục quần thể, tỷ lệ tử vong và mức đe dọa sinh thái Tuy nhiên hầu hết chúng ta không có dữ liệu chính xác như vậy và hạn ngạch chỉ mang tính dự báo khoa học Khoảng 15% trữ lượng cá chúng ta không có đầy đủ dữ liệu Hầu hết các nghiên cứu về trữ lượng chỉ tập trung đánh giá đơn loài mà bỏ qua tác động đa loài

Ngoài ra trong quản lý khai thác theo hạn ngạch không đề cập đến bảo vệ sinh cảnh, đa dạng sinh học và ngư cụ mang tính hủy diệt, do đó một số lượng lớn cá đã

bị vứt ra biển trước khi tàu vào bờ do vấn đề hạn ngạch

Như vậy khai thác theo hạn ngạch không thể đảm bảo tính bền vững, mặc dù

nó đã có những cải thiện tốt về nguồn lợi Vì vậy chúng ta cần có những giải pháp quản lý khác phù hợp hơn với nghề cá Việt Nam

1.2.5 Hệ thống quản lý thủy sản ở các nước trong khu vực Đông Nam Á

Các vùng ven biển và nông thôn Châu Á thường nghèo, KTHS là sinh kế quan trọng của họ Có khoảng 22 triệu người Châu Á có mức sống thấp hơn 1USD/ngày phụ thuộc vào nghề cá Do đó nếu có biện pháp quản lý tốt nguồn lợi thủy sản sẽ nâng cao thu nhập cho những người sống ven biển Sản lượng KTHS ở châu Á chiếm 90% so với tổng sản lượng khai thác trên thế giới [15]

Trang 23

Các đánh giá cho thấy nguồn lợi thủy sản trong khu vực châu Á đang có nguy

cơ suy giảm trầm trọng, khai thác quá mức đang xảy ra trong khu vực Điều này cho thấy chưa có biện pháp quản lý khai thác hiệu quả trong vùng Do đó các nước trong vùng cần phải thiết lập các chương trình bảo vệ để khôi phục nguồn lợi bằng cách giảm số lượng tàu thuyền và cường lực khai thác Các chiến lược cần phải thực hiện

ở cấp quốc gia và tập trung vào phát triển hệ thống quyền khai thác theo định mức Năm 1998, Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) đã phát triển kế hoạch chiến lược để đánh giá hoạt động trong vùng trong vòng 30 năm Kế hoạch chiến lược của SEAFDEC là giúp đỡ các nước thành viên để thực hiện quản

lý nghề cá bền vững Mục tiêu của kế hoạch là: (1) thực hiện các biện pháp kỹ thuật

để xác định chính sách và quyền ưu tiên trong vùng, (2) xúc tiến hợp tác thực hiện chính sách gần gũi hơn nữa giữa các nước thành viên ASEAN Theo kế hoạch chiến lược này, các mục tiêu này đã đem lại hiệu quả cao giữa các nước thành viên

Một trong những thành tựu đạt được là xây dựng mã số cho nghề cá có trách nhiệm (CCRF) với sự hợp tác của FAO CCRF đã xây dựng các nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế cho nghề cá có trách nhiệm để đảm bảo việc khai thác nguồn lợi thủy sản một cách bền vững

SEAFDEC đã xuất bản nhiều bản hướng dẫn về quản lý nghề cá (2003), khai thác thủy sản (2000) và các phương pháp bảo quản và chế biến sau thu hoạch Ngoài

ra, SEAFDEC cũng ban hành một số quy định như: quy định buôn bán thủy sản, các chỉ số bền vững nghề cá, nuôi trồng thủy sản thân thiện với môi trường, thống kê nghề cá, các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm (HACCP) và danh mục loài nguy

cơ, đe dọa và tuyệt chủng (CITES)

Theo sau kế hoạch chiến lược của SEAFDEC thì nhóm tư vấn thủy sản giữa các nước ASEAN và SEAFDEC được hình thành năm 1998 nhằm xúc tiến trao đổi hàng năm về các quy định, chính sách giữa các nước ASEAN và SEAFDEC Các chương trình hành động của SEAFDEC bao gồm các chương trình về quản lý thủy sản, chương trình nuôi trồng thủy sản, chương trình quản lý chất lượng vệ sinh an toàn và thú y thủy sản

Với các chính sách quản lý cấp toàn cầu, khu vực và cấp quốc gia; một số nước trên thế giới đã và đang phát triển nghề cá trên cơ sở bền vững; và Việt Nam cũng đang có rất nhiều nỗ lực nhằm quản lý nghề khai thác một cách bền vững Để nỗ lực

Trang 24

này được thực thi một cách có hiệu quả, cần có những giải pháp phù hợp và một hệ thống quản lý năng động cũng như có trách nhiệm Và hơn nữa sự thực thi các giải pháp này cần phải được tiến hành đồng bộ từ trên xuống dưới, từ Trung ương xuống địa phương và đặc biệt là cộng đồng ngư dân ven biển

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Vấn đề phát triển bền vững cho nghề khai thác hải sản nói riêng và ngành Thuỷ sản nói chung chỉ mới được đề cập trong một vài năm trở lại đây Phát triển bền vững nói chung đã trở thành quan điểm và mục tiêu của Đảng và chính sách của Nhà nước Thể chế hóa phát triển bền vững bằng văn bản luật trong các chỉ thị, Nghị quyết; Quyết định của các cấp chính quyền nhà nước như: Chỉ thị số 36/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1998), Nghị quyết số 41/NQ-TW của

Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường (2004) Đặc biệt, ngày 17 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 153/2004/QĐ -TTg ban hành Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) Trong đó, thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế được xác định cần phải ưu tiên nhằm PTBV

Đã có một số nghiên cứu bước đầu về PTBV nghề khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản ở Việt Nam nói chung Một số mô hình quản lý nguồn lợi có sự tham gia của cộng đồng cũng đã được tiến hành thí điểm tại một số địa phương như: Dự án Bảo tồn biển Rạn Trào tại huyện Vạn Ninh do IMA tài trợ; Dự án Bảo tồn sinh vật biển ở Hòn Mun tại Vịnh Nha Trang; Dự án quản lý nguồn lợi có sự tham gia của cộng đồng tại Phù Long - Cát Bà - Hải Phòng Qua nhiều Hội thảo khoa học đều cho rằng mô hình đồng quản lý nghề cá tỏ rõ có khả năng thực hiện mô hình quản lý nghề cá bền vững ở Việt Nam Thành phố Nha Trang có mô hình quản lý Hòn Mun đang là điểm sáng trong cả nước

Giải pháp nhằm giảm số lượng tàu thuyền công suất nhỏ khai thác ở vùng biển gần bờ, đầu tư các tàu thuyền có công suất lớn khai thác ở những vùng biển xa bờ đã được chú trọng thông qua Chương trình vay vốn ưu đãi đóng tàu khai thác hải sản xa

bờ của Chính phủ thực hiện từ năm 1997 Nhưng hiệu quả chưa đạt được theo mong muốn, đặc biệt số lượng tàu thuyền nhỏ vẫn có xu hướng gia tăng và hiệu quả

Trang 25

kinh tế của nhiều đội tàu xa bờ còn thấp

Các giải pháp nhằm quản lý số lượng tàu thuyền cũng đã được thực hiện thông qua việc đăng ký, đăng kiểm tàu thuyền Tuy nhiên, khi có Quyết định 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân thì số tàu thuyền của tỉnh Khánh Hòa tăng lên đột biến từ hơn 6.300 chiếc (cuối năm 2007) tăng lên hơn 13.000 chiếc (cuối năm 2009)

Luật Thuỷ sản (năm 2003) và các văn bản dưới Luật ra đời nhằm quản lý các hoạt động thuỷ sản, trong đó có việc quản lý khai thác thuỷ sản Tuy nhiên Luật cũng như các biện pháp cấm và hạn chế các nghề khai thác gây xâm hại nguồn lợi chưa thực sự đi vào cuộc sống vì chưa có các giải pháp quản lý và các chính sách đồng bộ nhằm tạo sinh kế cho người dân

Tại tỉnh Khánh Hòa và một số tỉnh trong nước cũng đã có các giải pháp nhằm giảm áp lực khai thác và tạo sinh kế cho cộng đồng như:

- Năm 1999, UBND tỉnh Khánh Hòa đã có biện pháp chỉ đạo trong việc chuyển đổi nghề nghiệp cho ngư dân làm các nghề: Lưới kéo, xiệp điện trong đầm Nha Phu sang nuôi vẹm xanh và ương tôm hùm giống đã thu được kết quả bước đầu khả quan

- Dự án thí điểm khu bảo tồn biển Hòn Mun, Khánh Hòa; Dự án thí điểm khu bảo tồn biển Rạn Trào, Vạn Ninh, Khánh Hòa; Dự án quy hoạch tổng thể quản lý khai thác thủy sản đầm phá Thừa Thiên Huế; Dự án quản lý nguồn lợi thủy sản ven

bờ dựa vào cộng đồng, khu bảo tồn nguồn lợi Phù Long; Dự án xây dựng mô hình phát triển bền vững ngành thủy sản tại Cát Bà, Hải Phòng; Dự án quản lý tổng hợp vùng bờ vịnh Hạ Long Tuy nhiên hiệu quả của các hoạt động này đưa lại còn quá ít

ỏi so với yêu cầu bức thiết của thực tế đặt ra

- Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Hải sản (Dự án ALMRV), tỷ lệ cá tạp trong thành phần sản lượng khai thác của các nghề khai thác hải sản ven bờ như

te xiệp, lưới rùng, lưới kéo ven bờ chiếm tới 70÷90% Rõ ràng sự hoạt động của các nghề khai thác ven bờ mang lại tác hại không nhỏ đối với nguồn lợi hải sản

- Viện Nghiên cứu hải sản Hải Phòng liên tục trong nhiều năm nghiên cứu đã

có được những con số dự báo tiềm năng nguồn lợi hải sản và khả năng đánh bắt tại các khu vực biển trong cả nước Dựa vào dự báo đó hàng loạt quy hoạch khai thác

Trang 26

các tỉnh duyên hải trong cả nước theo những chỉ tiêu khả năng khai thác cho phép Cách quản lý cường lực khai thác như trên chứng tỏ Cơ quan quản lý nghề cá của Quốc gia đã xây dựng kế hoạch phát triển nghề cá với cơ sở khoa học vững chắc đương thời Tuy nhiên, khả năng dự báo nguồn lợi trên cơ sở những nghiên cứu trên

tỏ ra thiếu chính xác và không thể cập nhật trước tình hình phát triển cường lực khai thác không quản lý được Những lý do trên cho thấy cần thiết tìm kiếm phương pháp xác định mới nhằm quản lý bền vững cường lực khai thác phù hợp với tiềm năng nguồn lợi

- Ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, ở miền Bắc Việt Nam, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành đánh giá tiềm năng nguồn lợi hải sản ở vịnh Bắc Bộ, từ đó xác định được giá trị tiềm năng hải sản và giá trị cho phép khai thác Tuy nhiên vào thời gian đó, cường lực khai thác hải sản còn ít, vì thế những khái niệm bảo vệ nguồn lợi thủy sản hoặc khái niệm khai thác nguồn lợi biển bền vững chưa có

Trang 27

CHƯƠNG 2

NỘI DUNG

&

PHƯƠNGPHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 28

2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Thực trạng nghề lưới kéo khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh

- Đặc điểm ngư trường ven bờ huyện Vạn Ninh

- Nguồn lợi hải sản tại vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh

- Thực trạng tàu thuyền nghề lưới kéo khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh

- Thực trạng về ngư cụ nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh

- Thực trạng về lao động nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh

2.1.1 Thực trạng hoạt động nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh

- Tình hình hoạt động nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh

- Thực trạng sản lượng và thành phần sản phẩm khai thác của lưới kéo

2.1.2 Thực trạng quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Vạn Ninh

- Thực trạng về bộ máy quản lý

- Thực trạng cơ sở vật chất cho công tác BVNLTS

- Các hoạt động phục hồi, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản

- Công tác tuyên truyền hướng dẫn về khai thác và BVNLTS

- Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động nghề cá

- Phân tích đánh giá thực trạng công tác BVNLTS huyện Vạn Ninh

2.1.3 Đề xuất giải pháp

- Đặt vấn đề

- Nội dung giải pháp

- Các biện pháp thực hiện giải pháp

+ Xác định ranh giới vùng ven bờ của huyện Vạn Ninh

+ Biện pháp tuyên truyền giáo dục nâng cao hiểu biết của ngư dân

+ Chuyển đổi nghề cho tàu lưới kéo lắp máy dưới 20cv hoạt động trên vùng

bờ của huyện Vạn Ninh

+ Quản lý hoạt động khai thác của tàu thuyền trong vùng bờ huyện Vạn Ninh

Trang 29

+ Thành lập các tiểu khu bảo tồn biển cấp thôn, xã

- Phân tích đánh giá kết quả của giải pháp mang lại

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp chung

Tiến hành thu thập, phân tích các số liệu về thực trạng nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh; các hoạt động khai thác và công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại địa phương nghiên cứu Từ đó thấy được những vấn đề bất cập trong cơ cấu nghề, những hoạt động khai thác gây hại nguồn lợi thủy sản trong vùng biển ven bờ của huyện Phân tích đánh giá để phát hiện những tồn tại và hiệu quả thấp trong công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại huyện Vạn Ninh Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh để đưa ra một số giải pháp nhằm từng bước nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại địa phương

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Nghiên cứu và phân tích số liệu từ các tài liệu sẵn có về những vấn đề liên quan đến nghề lưới kéo ven bờ và vùng biển nghiên cứu như nguồn lợi thủy sản, điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội

Luận văn cũng sử dụng nguồn tài liệu, số liệu thống kê từ Cục Thống kê, Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Trung Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Vạn Ninh và Ủy ban nhân các xã có nghề lưới kéo hoạt động tại vùng biển Một số tài liệu chủ yếu:

+ Kết quả nghiên cứu khoa học liên quan đến điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và nguồn lợi hải sản tại vịnh Vân Phong

+ Các văn bản pháp lý của Nhà nước có liên quan đến khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của Trung ương và địa phương

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

- Phỏng vấn các hộ ngư dân làm nghề lưới kéo khai thác tại vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh theo phiếu điều tra được trình bày ở phụ lục 1 Phiếu điều tra gồm các thông tin về số liệu tàu thuyền, trang thiết bị, ngư cụ, sản lượng và sản phẩm khai

Trang 30

thác, mùa vụ, vùng hoạt động và các thông tin liên quan đến công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh

Đề tài chọn 100 mẫu điều tra phỏng vấn hộ ngư dân đại diện cho các xã nghề lưới kéo hoạt động tại vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh Phân bổ mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Cụ thể số lượng mẫu điều tra phân bổ cho các địa phương như bảng 2-1

Bảng 2-1: Phân bổ mẫu điều tra theo địa phương (xã)

TT Tên địa phương Tổng số đơn vị nghề Số mẫu điều tra

Việc xác định vùng biển ven bờ của huyện Vạn Ninh được thực hiện trên bản

đồ do google cung cấp Tuyến bờ được xác định dựa vào phụ lục của Nghị định 33/2010/NĐ-CP [8]

- Phỏng vấn cán bộ quản lý thủy sản thuộc UBND 08 xã, thị trấn có nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh, Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Khánh Hòa về tổ chức bộ máy quản lý, triển khai các cơ chế chính sách, quy định pháp luật thủy sản có liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất

- Số lượng lao động và trình độ học vấn – đào tạo nghề: Phỏng vấn thuyền trưởng, thuyền viên và những người làm việc trên tàu

- Ngư cụ: Phỏng vấn thuyền trưởng và đo trực tiếp trên ngư cụ (đo kích thước mắt lưới)

Trang 31

- Mùa vụ và ngư trường khai thác: Phỏng vấn thuyền trưởng và khảo sát trực tiếp trên biển

- Thành phần, sản lượng khai thác: Phỏng vấn thuyền trưởng, khảo sát trực tiếp trên biển; mua mẫu cá tạp để cân, đo và xác định loài

2.2.4 Phân tích, xử lý số liệu thống kê

- Sử dụng phương pháp xử lý số liệu trong khai thác thủy sản và phần mềm Microsoft Office Excel để tính toán các chỉ số về tàu thuyền, sản lượng và thành phần sản phẩm khai thác…

- Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Trang 32

CHƯƠNG 3:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 THỰC TRẠNG NGHỀ LƯỚI KÉO VEN BỜ HUYỆN VẠN NINH

3.1.1 Đặc điểm ngư trường vùng bờ huyện Vạn Ninh

3.1.1.1 Phạm vi giới hạn, diện tích

Vùng biển ven bờ (còn gọi là vùng bờ) huyện Vạn Ninh được giới hạn bởi tuyến bờ theo quy định bởi Nghị định Chính phủ số 33/2010/NĐ-CP [12], theo phụ lục của nghị định Chính phủ [8] và đường bờ biển của huyện Vạn

Trang 33

Ninh Vùng biẻn ven bờ huyện Vạn Ninh có phía Bắc giáp biển tỉnh Phú Yên; phía Nam giáp vùng biển huyện Ninh Hòa – Khánh Hòa Ngư trường ven bờ huyện Vạn Ninh có thể chia làm 2 khu vực là:

Khu vực 1: Ngư trường vịnh Vân Phong

Khu vực 2: Ngư trường vùng biển phía ngoài vịnh Vân Phong

Khu vực 1, nằm giữa tuyến bờ (BC-CD) vạch theo phụ lục Nghị Định 33/2010/NĐ-CP và đường bờ biển xã Đại Lãnh, Xã Vạn Thọ, Xã Vạn Thạnh, bán đảo Hòn Gốm

Khu vực 2 nằm trọn trong vịnh Vân Phong, phí ngoài vịnh được giới hạn bởi vùng biển huyện Ninh Hòa

Ngư trường nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh chủ yếu là nằm cả vùng biển phía ngoài và trong vịnh Vân Phong Ngư trường ven bờ của huyện Vạn Ninh trải dài trên 100km đường bờ biển và ước tính có diện tích khoảng 2.200 km2

A B

Trang 34

Hình 3-1: Ngư trường ven bờ huyện Vạn Ninh

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình đáy biển

Do sự có mặt của bán đảo hòn Gôm ở phía Đông Bắc, núi Tiên Du ở phía Nam cùng các bán đảo Hòn Khói, đảo Hòn Lớn, về mặt hình thái tổng thể vịnh Vân Phong thực tế được cấu tạo bởi 3 phần chính:

+ Phần vụng Bến Gỏi, độ sâu < 20m

+ Phần chính vịnh Vân Phong, độ sâu 20 - 30m

+ Phần vụng lạch Cổ Cò và Cửa Bé, độ sâu 15 - 20m

Trang 35

- Địa hình đáy vụng Bến Gỏi tương đối đơn giản, chỉ những nơi có nền đáy cứng với san hô phát triển, đáy vụng bị chia cắt, gồ ghề lồi lõm Độ sâu lớn nhất trong vụng đạt 18m Đặc điểm nổi bật và khác biệt với các thành phần đáy khác là

sự phân bố các đường đẳng sâu theo một khoảng cách tương đối đồng đều, chúng gần như song song với nhau và song song với đường bờ Do sự có mặt của dãy đảo: hòn Bịp, hòn Mạo, hòn Được, đáy vụng có thể chia làm 2 phần dưới dạng hai rãnh máng Một từ bờ Tây ra dãy đảo và rãnh kia từ đáy đảo đến bờ phía Đông vụng Đáy của các dãy này khá bằng phẳng, độ dốc lòng rãnh từ 0 - 5' Hai bên bờ có độ dốc lớn hơn (5 - 10') Nhìn tổng thể, đáy vịnh Bến Gỏi có độ sâu tăng dần từ bờ ra giữa vụng và từ đỉnh ra cửa vụng

- Địa hình đáy của phần chính vịnh Vân Phong hoàn toàn khác với địa hình vụng Bến Gỏi Hình thái đáy vịnh tương đối bằng phẳng tạo thành một máng lớn, lòng máng thoải (độ dốc 0 - 5') nghiêng dần về phía cửa vịnh Nét đặc trưng của bờ mặt đáy vịnh được thể hiện rõ ràng trong sự phân bố các đường đẳng sâu và độ dốc đáy Các đường đẳng sâu có dạng đường cong vòng vèo, uốn lượn phân bố không đều Ở phía Đông vịnh các đường đẳng sâu có phần giãn ra, mức độ ngoằn ngèo, uốn lượn cũng tăng lên rõ rệt Độ sâu lớn nhất trong khu vực vịnh Vân Phong dao động trong khoảng 20-30m Nếu trong vụng Bến Gỏi độ sâu tăng dần từ Tây sang Đông thì trong vịnh Vân Phong độ sâu tăng dần từ đỉnh ra cửa Do đặc điểm này cùng với hiện trạng bề mặt địa hình và độ dốc, làm cho sự giao lưu của khối nước thuộc vụng Bến Gỏi với biển khơi, chủ yếu qua lạch Cổ Cò và Cửa Bé

- Địa hình lạch Cổ Cò, Cửa Bé là phần còn lại của đáy vịnh Vân Phong - Bến Gỏi, phần đáy này được tạo ra do sự có mặt của đảo Hòn Lớn và bán đảo Hòn Gôm Địa hình đáy ở đây rất đơn giản, độ sâu tăng dần từ 2 bờ lạch ra giữa dòng Trắc diện ngang hình chữ V với độ sâu lớn nhất đạt > 20m Điểm nổi bật và là đặc trưng của địa hình phần này là sự kế thừa địa hình cổ không có khả năng xoá lấp theo thời gian Nguyên sinh ở đây là một thung lũng kiến tạo hẹp, sâu bị biển tiếm tràn vào xâm chiếm đóng vai trò cấp thoát nước cho vụng Bến Gỏi Vì vậy đáy lạch thường

bị nạo vét, ít có khả năng tích tụ vật liệu mới

3.1.1.3 Đặc điểm địa chất trầm tích

Trang 36

Như đã đề cập ở trên, vịnh Vân Phong - Bến Gỏi được hình thành sau khi xuất hiện bán đảo hòn Gôm Hiện nay các nét địa hình cổ vẫn còn giữ được khá rõ tại nhiều nơi trên bề mặt đáy vịnh Về cấu trúc hình thái có thể phân biệt:

Phần trong vịnh Vân Phong là vụng Bến Gỏi, tương đối tĩnh, thông với phần ngoài qua một eo hẹp (Lạch Cổ Cò - đầm Môn - Cửa Bé) Phần ngoài là vịnh Vân Phong thông ra biển khơi

Phân bố trầm tích tầng mặt vịnh Vân Phong tương đối đa dạng, song ưu thế thuộc về các trầm tích hạt mịn - bùn sét và bùn sét cát

Trầm tích cát chứa graven và bùn sét phân bố phía Nam vịnh, từ phía Đông Bắc hòn Mỹ Giang xuống tới Hòn Hèo, độ sâu 20 - 23m Kiểu trầm tích này thường

có màu xám, xám sáng, chọn lọc kém thành phần cát bao gồm các vật liệu lục nguyên và vật liệu vôi (hàm lượng cacbonat thường trên 38 -39%) Thành phần graven gồm các mảnh đá (đá sót, đá trầm tích biến chất) và các mảnh vụn san hô, vỏ

sò ốc, các mảnh đá thường có kích thước và hình dạng khác nhau, nhiều viên đạt tới

2 - 2,5cm, độ mài tốt đến trung bình, nhiều viên có góc

Dựa vào cấu trúc hình thái địa hình và sự phát triển của khu vực cho thấy, kiểu trầm tích cát chứa graven và bùn sét vùng này thuộc kiểu trầm tích tướng chân rạn san hô

Trầm tích cát phân bố thành phần dài hẹp dọc bờ tới độ sâu 2 - 3m (ở ven bờ phía Tây từ đèo Cổ Mã đến Ninh Thọ, bãi tắm Dốc Lết) hay 5 - 7m đến hơn 10m (dọc bờ phía Tây bán đảo Hòn Gôm kéo dài theo phần vịnh Đại Lãnh và khu vực phía mũi Đông Hòn Khói đến Hòn Mỹ Giang) Đây là thành phần trầm tích chủ yếu

ở bãi tắm hiện nay

Trầm tích cát thô - cát lớn màu xám, xám vàng bắt gặp ở khu vực quanh bãi cạn giữa mũi Đông Hòn Khói và Hòn Mỹ Giang Ở đây chúng phân bố thành bao quanh đới rạn ranh giới giữa chúng với đới cát nhỏ bên trong rất rõ ràng ở độ sâu 10

- 11m và ở khoảng 350 - 370m từ bờ ra theo mặt cắt Thành phần vật liệu bao gồm vật liệu lục nguyên và vật liệu sinh vật nổi Hàm lượng cacbonat trong trầm tích thường đạt trên 25% với thành phần chủ yếu là vỏ xác sinh vật vôi (Hàm lượng cacbonat thường là 57%) đôi nơi có lẫn mùn bã và thực vật màu đen

Cát nhỏ chọn lọc rất tốt có màu xám, xám tro phân bố thành dải hẹp ở phía Tây bán đảo hòn Gôm dọc bờ Tây vụng Bến Gỏi và một đới rộng khu vực từ mũi

Trang 37

Đông hòn Khói đến hòn Mỹ Giang Ngoài ra còn gặp ở khu vực quanh bãi cạn giữa mũi hòn Khói và mũi Đông Bắc đảo hòn Lớn Thành phần chính của cát nhỏ là thạnh anh, fenspat, các mảnh đá vụn, các khoáng vật nặng (epidot, granít, imenit, ziacon, manhetit) và vụn vỏ xác sinh vật vôi Hàm lượng cacbonat trong cát nhỏ thay đổi theo từng khu vực: Ở phía Tây Bắc bán đảo hòn Gốm thường 5 - 7%; dọc

bờ Tây vụng Bến Gỏi thường lớn hơn 20%, còn khu hòn Khói đến khu hòn Mỹ Giang là 10 - 15% có nơi tới 20%

Cát bùn sét và bùn sét cát thường có màu xám, xám xanh (trong vụng Bến Gỏi, khu vực Đầm Môn) và xám vàng (vịnh VP) thành phần vật liệu cấp hạt cát chủ yếu là vụn nhỏ xác sinh vật, các khoáng vật thạch anh, fenspat và ít khoáng vật nặng Hàm lượng cacbonat trong trầm tích thường đạt từ 20 - 30%

Bùn sét là kiểu trầm tích phổ biến nhất, trong vụng Bến Gỏi và vụng Cổ Cò, chúng thường có màu xám xanh, độ ướt và độ dính cao Ở vịnh khu vực giữa vịnh

VP và phần ngoài lạch Cửa Bé, bùn sét có màu xám vàng do ảnh hưởng của dòng bồi tích dọc bờ ven biển miền Trung Nhìn chung kiểu trầm tích này có độ chọn lọc tốt (S0 = 2 - 3), hàm lượng cacbonat trong thành phần trầm tích cao (20 - 27% trong vụng Bến Gỏi, và 15 - 20% ở vịnh Vân Phong)

3.1.1.4 Đặc điểm thời tiết bất thường

Cũng như toàn bộ khu vực Khánh Hoà, vịnh Vân Phong chịu ảnh hưởng không lớn của bão Mùa bão bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 7 năm sau Tháng 11 là tháng tập trung bão nhiều nhất Số cơn bão trung bình là 0,75 cơn/năm Bão thường gây sóng, gió mạnh, mưa lớn ở đầu nguồn sông, gây ngập lụt, xói lở bờ biển Tốc độ gió mạnh nhất đã ghi được tại Nha Trang 10/1993 (30m/s)

Hàng năm trung bình có 30 - 40 ngày dông tại khu vực nghiên cứu Do địa hình che chắn của vịnh, nên ảnh hưởng của các cơn dông thường không đáng kể Dông thường xuất hiện vào các tháng 5 và 9 Các tháng này có số ngày dông trung bình 6 - 10 ngày/tháng Các tháng còn lại có số ngày có dông không quá 5 ngày/tháng

Số ngày có sương mù tại vịnh Vân Phong hàng năm bình quân rất thấp (10 -

15 ngày) Sương mù chỉ là làn sương nhẹ thường xảy ra vào buổi sáng các tháng 12,

1, 2 Sương mù hầu như không ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế ven biển

Trang 38

3.1.2 Nguồn lợi thủy sản ven bờ huyện Vạn Ninh

Nguồn lợi hải sản vùng biển ven bờ huyện Vạn Ninh rất đa dạng, phong phú bao gồm: cá, giáp xác, thân mềm, trong đó chủ yếu là nguồn lợi cá biển Theo số liệu thống kê thì vùng biển huyện Vạn Ninh có khoảng hơn 600 loài cá khác nhau, trong đó có trên 50 loài có giá trị kinh tế Trữ lượng cá biển ở huyện Vạn Ninh có khoảng 116 nghìn tấn, trong đó chủ yếu là cá nổi lớn như: cá Thu, cá Ngừ, cá Bạc

Má, cá nhám; cá nổi nhỏ như: cá Cơm, cá Trích, cá Nục… Cá đáy tuy sản lượng không cao, chỉ chiếm khoảng 30%, nhưng có nhiều loài cá có giá trị xuất khẩu như:

cá Mú, cá Mối, cá Hố, cá Sơn thóc…

Tình trạng nguồn lợi được thể hiện qua sản lượng khai thác hàng chục năm trở lại đây cho thấy thành phần loài tương đối phong phú và đa dạng Kết quả nghiên cứu cho thấy trong vịnh Vân Phong có trên 100 giống, loài hải sản kinh tế Các thành phần loài hải sản kinh tế trong vịnh đã và đang bị khai thác vượt quá mức cho phép Thông tin được cung cấp dựa vào số liệu thống kê ghi trong bảng 3-1

Bảng 3-1: Các nhóm hải sản chủ yếu

Các nhóm hải sản kinh tế Số lượng giống loài Tình trạng nguồn lợi

1 Động vật Ruột khoang 2 Số lượng không đáng kể

2 Động vật Thân mềm 20 Khai thác vượt quá mức

cho phép

3 Động vật Giáp xác 10 Số lượng không đáng kể

4 Động vật Da gai 5 Khai thác vượt quá mức

100 tấn/năm tôm biển trị giá 1 - 2 tỷ đồng Tuy nhiên sản lượng các loài hải sản trên

Trang 39

biến động mạnh và giảm sút nghiêm trọng trong vài năm gần đây, do tác động biến đổi của môi trường và phương thức khai thác chưa hợp lý của con người

Đối tượng khai thác chủ yếu của nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh bao gồm mực ống, mực nang, cá hố, cá mối, tôm bộp, cua, ghẹ Mùa sinh sản, mùa vụ khai thác và kích cỡ khai thác của từng đối tượng được trình bày ở bảng 3-2

Bảng 3-2: Những đối tượng khai thác chủ yếu của nghề LKVB huyện Vạn Ninh

Kích cỡ khai thác (mm) Đối tượng

khai thác chính Mùa sinh sản

Mùa khai thác thực tế

3.1.3 Thực trạng về tàu thuyền và trang bị nghề lưới kéo huyện Vạn Ninh

3.1.3.1 Tình hình biến động số lượng tàu thuyền LKVB theo địa phương Huyện Vạn Ninh có 5 xã hoạt động khai thác thủy sản bằng nghề lưới kéo với tổng số tàu thuyền là 571 chiếc, trong đó có 27 chiếc hoạt động ở vùng xa bờ (công suất máy ≥90cv Số tàu công suất nhỏ (<90cv) hoạt động nghề lưới kéo trên vùng

Trang 40

biển ven bờ chiếm số lượng chủ yếu (544 chiếc) Đây là nghề truyền thống, hoạt động khai thác thủy sản theo quy mô nhỏ phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của ngư dân địa phương Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung đối với 544 chiếc tàu thuyền lưới kéo có công suất nhỏ (<90cv) hoạt động vùng biển ven bờ Cơ cấu số lượng tàu thuyền nghề lưới kéo ven bờ huyện Vạn Ninh theo địa phương (xã) được trình bày ở bảng 3-3

Bảng 3-3 Phân bổ tàu thuyền LKVB theo địa phương từ năm 2006 ÷2010

(Đơn vị tính: chiếc) Năm

Ngày đăng: 05/03/2015, 14:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Bản đồ vị trí huyện Vạn Ninh trong tỉnh Khánh Hòa - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Hình 3.1 Bản đồ vị trí huyện Vạn Ninh trong tỉnh Khánh Hòa (Trang 11)
Bảng 1-2: Giá trị sản xuất của các ngành. ( đơn vị tính triệu đồng ) - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Bảng 1 2: Giá trị sản xuất của các ngành. ( đơn vị tính triệu đồng ) (Trang 15)
Bảng 1-3. Tốc độ phát triển của các ngành ( năm trước = 100%) - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Bảng 1 3. Tốc độ phát triển của các ngành ( năm trước = 100%) (Trang 16)
Hình 3-2: Đồ thị Biến động tàu thuyền LKVB theo địa phương từ 2006 ÷2010 - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Hình 3 2: Đồ thị Biến động tàu thuyền LKVB theo địa phương từ 2006 ÷2010 (Trang 41)
Hình 3-4. Cơ cấu tàu thuyền LKVB theo địa phương và công suất năm 2010 - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Hình 3 4. Cơ cấu tàu thuyền LKVB theo địa phương và công suất năm 2010 (Trang 44)
Hình 3-5: Máy chính trên tàu cá chủ yếu là công suất nhỏ và đã qua sử dụng - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Hình 3 5: Máy chính trên tàu cá chủ yếu là công suất nhỏ và đã qua sử dụng (Trang 44)
Hình 3-6: Tàu thuyền lưới kéo ven bờ tại Vạn Ninh - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Hình 3 6: Tàu thuyền lưới kéo ven bờ tại Vạn Ninh (Trang 45)
Bảng  3-8:  Thống  kê  trang  bị  dụng  cụ  an  toàn  hàng  hải  cho  tàu  LKVB  Vạn  Ninh - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
ng 3-8: Thống kê trang bị dụng cụ an toàn hàng hải cho tàu LKVB Vạn Ninh (Trang 47)
Hình 3-8: Kích thước mắt lưới tại bao đụt lưới kéo - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Hình 3 8: Kích thước mắt lưới tại bao đụt lưới kéo (Trang 49)
Hình 3-10: Sản phẩm 1 mẻ lưới thu được - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Hình 3 10: Sản phẩm 1 mẻ lưới thu được (Trang 53)
Bảng 3-13: Sản lượng và tỷ lệ thành phần sản phẩm khai thác nghề LKVB Vạn Ninh - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Bảng 3 13: Sản lượng và tỷ lệ thành phần sản phẩm khai thác nghề LKVB Vạn Ninh (Trang 54)
Hình 3-11: Một mẻ lưới kéo thành công - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Hình 3 11: Một mẻ lưới kéo thành công (Trang 55)
Hình 3-10: Sơ đồ tổ chức bộ máy Chi cục KT&amp;BVNLTS Khánh Hòa - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Hình 3 10: Sơ đồ tổ chức bộ máy Chi cục KT&amp;BVNLTS Khánh Hòa (Trang 56)
Hình 3-13: Sơ đồ tổ chức bộ máy thanh tra chuyên ngành thủy sản - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Hình 3 13: Sơ đồ tổ chức bộ máy thanh tra chuyên ngành thủy sản (Trang 58)
Hình 3-7: Hệ thống Phao đánh dấu tuyến bờ huyện Vạn Ninh - giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho nghề lưới kéo ven bờ huyện vạn ninh, tỉnh khánh hòa
Hình 3 7: Hệ thống Phao đánh dấu tuyến bờ huyện Vạn Ninh (Trang 70)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w