Trân trọng cám ơn sự giúp đỡ quý báu của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Khánh Hòa, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa, UBND huyện Cam Lâm, UBND các xã,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Quyết định giao đề tài: 306/QĐ-ĐHNT, ngày 26/03/2015
Quyết định thành lập hội đồng: 1035/QĐ-ĐHNT, ngày 05/11/2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi thực hiện dưới sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS.Hoàng Hoa Hồng Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, không trùng lặp với bất cứ các đề tài của tác giả nào và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Kết quả của luận văn có sử dụng một số tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước đã được tác giả chú thích và trích dẫn rõ ràng khi sử dụng
Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung và kết quả của mình./
Khánh Hòa, ngày 20 tháng 01 năm 2016
Tác giả luận văn
Đặng Ngọc Tính
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với sự phấn đấu và nỗ lực của bản thân, cùng với sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình
của thầy giáo hướng dẫn và sự giúp đỡ các ban ngành trong tỉnh Khánh Hòa, bà con
ngư dân và các đồng nghiệp đến nay luận án đã được hoàn thành
Xin tỏ lòng biết ơn Thầy giáo hướng dẫn TS.Hoàng Hoa Hồng và các thầy giáo
giảng dạy tại Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thủy sản
Trân trọng cám ơn sự giúp đỡ quý báu của Sở Nông nghiệp và phát triển nông
thôn tỉnh Khánh Hòa, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa,
UBND huyện Cam Lâm, UBND các xã, phường và cộng đồng dân cư ven đầm Thủy
Triều đã cung cấp thông tin, tư liệu và giúp cho tôi tìm hiểu thực tế, nghiên cứu và xây
dựng các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, đóng góp vào sự phát triển
nghề cá có hiệu quả và bền vững tại đầm Thủy Triều, tỉnh Khánh Hòa
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Khánh Hòa, ngày 20 tháng 01 năm 2016
Tác giả luận văn
Đặng Ngọc Tính
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Giới thiệu đầm Thủy Triều 4
1.1.1 Vị trí địa lý 4
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 5
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư quanh đầm Thủy Triều 6
1.2.1 Số hộ 6
1.2.2 Trình độ văn hoá của chủ hộ 6
1.2.3 Độ tuổi của chủ hộ 7
1.2.4 Phương tiện và nghề khai thác chủ yếu 8
1.2.5 Các nghề khai thác chủ yếu 8
1.3 Nguồn lợi thủy sản, các hệ sinh thái tai đầm Thủy Triều 9
1.3.1 Các loài cá thường gặp 9
1.3.2 Các loài thủy sản khác 10
1.3.3 Các hệ sinh thái đặc trưng trong đầm Thủy Triều 11
1.4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 13
1.4.1 Nghiên cứu ngoài nước 14
1.4.2 Nghiên cứu trong nước 15
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nội dung nghiên cứu 19
2.1.1 Thực trạng khai thác thủy sản trong đầm Thủy Triều 19
2.1.2 Thực trạng công tác quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Thủy Triều 19
Trang 62.2 Phương pháp nghiên 19
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 19
2.2.2 Xử lý số liệu 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Thực trạng tàu thuyền khai thác thủy sản khu vực đầm Thủy Triều 22
3.1.1 Tàu thuyền nghề lưới kéo 24
3.1.2 Tàu thuyền nghề lưới rê 25
3.1.3 Tàu thuyền nghề pha xúc 27
3.1.4 Tàu thuyền nghề lờ dây Trung Quốc 27
3.2 Thực trạng nghề khai thác trên đầm Thủy Triều 29
3.2.1 Nghề lưới kéo 30
3.2.2 Nghề lưới rê 33
3.2.3 Nghề pha xúc 35
3.2.4 Nghề lờ dây Trung Quốc 36
3.2.5 Nghề đăng, nò 38
3.2.6 Nghề lặn 40
3.3 Cơ cấu nghề khai thác 42
3.3.1 Cơ cấu nghề khai thác theo địa phương 42
3.3.2 Cơ cấu nghề khai thác theo công suất 43
3.4 Thực trạng về lao động 44
3.4.1 Cơ cấu lao động 44
3.4.2 Trình độ chuyên môn 44
3.5 Thực trạng về sản lượng khai thác 45
3.6 Thực trạng về sản xuất 47
3.7 Thực trạng về công tác quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 48
3.7.1 Công tác quản lý của sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Khánh Hòa 48
3.7.2 Công tác quản lý của Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 48
3.7.3 Tổ chức cán bộ Thanh tra ngành NN và PTNT tỉnh Khánh Hòa 50
3.8 Nội dung các giải pháp và biện pháp triển khai thực hiện quản lý khai thác nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản 54
3.8.1 Nội dung về giải pháp quản lý tàu thuyền 54
3.8.2 Nội dung về giải pháp quản lý nghề 55
Trang 73.8.3 Nội dung về giải pháp quản lý ngư trường 57
3.8.4 Nội dung về giải pháp nâng cao năng lực quản lý 59
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- BVNL : Bảo vệ nguồn lợi
- BVNLTS : Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- PTNT : Phát triển nông thôn
- UBND : Ủy ban nhân dân
- FAO : Food and Agriculture Organization (Tổ chức lương thực Nông nghiệp Liên Hợp Quốc)
- SEAFDEC : Southeast Asian Fisheries Development Center (Trung tâm Phát
triển nghề cá Đông Nam Á)
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Trình độ học vấn của chủ hộ 6
Bảng 1.2 Độ tuổi của chủ hộ 7
Bảng 1.3 Phương tiện (thuyền) 8
Bảng 1.4 Tỷ lệ thuyền máy 8
Bảng1.5 Cơ cấu các loại nghề khai thác thủy sản .9
Bảng 3.1 Phân bổ số lượng tàu thuyền theo nghề và nhóm công suất 22
Bảng 3.2 Thống kê các xã, phường, thị trấn có hoạt động nghề lưới kéo trong đầm Thủy Triều 24
Bảng 3.3 Phân chiều dài tàu theo nghề lưới kéo 24
Bảng 3.4 Phân chiều rộng tàu theo nghề lưới kéo 25
Bảng 3.5 Phân bố số lượng tàu thuyền nghề lưới rê hoạt động trong đầm Thủy Triều 26
Bảng 3.6 Thống kê tàu thuyền nghề pha xúc hoạt động trên đầm Thủy Triều 27
Bảng 3.7 Phân bố số lượng tàu thuyền nghề lờ dây Trung Quốc hoạt động trong đầm Thủy Triều 28
Bảng 3.8 Phân theo chiều dài tàu 28
Bảng 3.9 Phân theo chiều rộng tàu 29
Bảng 3.10 Tần suất về thời gian khai thác thủy sản theo nghề 29
Bảng 3.11 Các loại ngư cụ vi phạm quy định về kích thước mắt lưới theo thông tư 02/2006/TT-BTS 30
Bảng 3.12 Tỷ trọng trung bình các nhóm sản phẩm trong một mẻ lưới kéo 32
Bảng 3.13 Tỷ trọng trung bình các nhóm sản phẩm trong một mẻ lưới rê 34
Bảng 3.14 Tỷ trọng trung bình các nhóm sản phẩm trong từng mẻ lưới nghề pha xúc 33
Bảng 3.15 Tỷ trọng trung bình các nhóm sản phẩm trong một mẻ lưới nghề lờ dây Trung Quốc 37
Bảng 3.16 Tỷ trọng trung bình các nhóm sản phẩm trong một mẻ lưới nghề Đăng, nò 39
Bảng 3.17 Cơ cấu nghề khai thác theo địa phương 42
Bảng 3.18 Phân loại nghề theo công suất 43
Bảng 3.19 Cơ cấu lao động 44
Trang 10Bảng 3.21 Thống kê sản lượng khai thác trên đầm Thủy Triều 45
Bảng 3.22 Sản lượng theo loại nghề khai thác 46
Bảng 3.23 Thu nhập trong ngày 47
Bảng 3.24 Tổ chức cán bộ Thanh tra ngành NN và PTNT tỉnh 50
Bảng 3.25 Phương tiện hỗ trợ phục vụ cho công tác tuần tra, kiểm soát 50
Bảng 3.26 Tổng hợp số vụ vi phạm quy định về khai thác thủy sản qua các năm 52
Bảng 3.27 Số lượng các cuộc tuần tra trong đầm Thủy Triều năm 2014 53
Trang 11
DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Bản đồ Khu vực đầm Thủy Triều 4
Hình 1.2 Trình độ học vấn của chủ hộ 7
Hình 1.3 Độ tuổi của chủ hộ 7
Hình 1.4 Cơ cấu các loại nghề khai thác thủy sản .9
Hình 3.1 Biến động số lượng tàu thuyền theo nghề .23
Hình 3.2 Tàu thuyền đánh bắt nghề lưới rê .26
Hình 3.3 Tàu thuyền nghề lờ dây Trung Quốc .27
Hình 3.4 Ngư trường đánh bắt nghề lưới kéo .30
Hình 3.5 Tỷ lệ trung bình nhóm sản phẩm trong một mẻ lưới của nghề lưới kéo 32
Hình 3.6 Ngư trường đánh bắt nghề lưới rê 33
Hình 3.7 Sản phẩm khai thác của nghề lưới rê 34
Hình 3.8 Tỷ lệ trung bình các nhóm sản phẩm của nghề lưới rê 34
Hình 3.9 Ngư trường đánh bắt nghề pha xúc 35
Hình 3.10 Ngư cụ và sản phẩm khai thác nghề lờ dây 37
Hình 3.11 Hình ảnh nghề đăng, nò 38
Hình 3.12 Ngư trường khai thác nghề đăng, nò 39
Hình 3.13 Sản phẩm khai thác nghề đăng nò 39
Hình 3.14 Nghề lặn trên đầm Thủy Triều 41
Hình 3.15 Pa nô tuyên truyền về Bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong đầm Thủy Triều 49
Hình 3.16 Thả giống tái tạo nguồn lợi thủy sản 49
Hình 3.17 Ca nô tuần tra của Thanh tra nông nghiệp và PTNT trong đầm Thủy Triều 51
Hình 3.18 Số lượng các vụ vi phạm quy định về khai thác thủy sản qua các năm 52
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đầm Thủy Triều là một khu vực có nhiều tài nguyên về các loài hải sản, đồng thời đóng vai trò quan trọng đối với cân bằng sinh thái và môi trường sống của cả khu vực Trước đây việc khai thác nguồn lợi hải sản trong đầm Thủy Triều
đã tạo công ăn việc làm và thu nhập cho nhiều hộ gia đình ngư dân, góp phần cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội của cộng đồng ngư dân sinh sống quanh khu vực đầm Tuy nhiên, do sức ép về gia tăng dân số, do nhu cầu sống nên một số bộ phận
cư dân ven đầm đã tiến hành các họat động khai thác thủy sản theo hướng tự phát, ồ
ạt không theo quy hoạch và chưa có định hướng của cơ quan quản lý, điều này đã dẫn đến một số vấn đề bất cập trong nghề khai thác thủy sản trong đầm Trong những năm gần đây nguồn lợi thủy sản và môi trường sinh thái đầm bị ảnh hưởng nặng nề bởi những tác động xấu từ hoạt động sản xuất, khai thác quá mức nguồn lợi, sử dụng các ngư cụ có tính hủy diệt như lờ dây, phương tiện đánh bắt du nhập
từ Trung Quốc, sử dụng xung điện, các lọai ngư cụ có kích thước mắt lưới nhỏ để khai thác thủy sản Các họat động kinh tế và của cộng đồng dân cư ở đây đã làm cho diện tích đầm bị thu hẹp, môi trường vùng nước bị ô nhiễm, nguồn lợi thủy sản
bị suy giảm Tác động trực tiếp đến sinh kế và kinh tế của cộng đồng dân cư
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng của nghề khai thác thủy sản tại đầm Thủy Triều, tỉnh Khánh Hòa
Đề xuất các giải pháp quản lý nhằm giảm tác động của nghề khai thác thủy sản đối với nguồn lợi thủy sản tại đầm Thủy Triều, tỉnh Khánh Hòa
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sử dụng tài liệu, số liệu tàu cá tại Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa, các công trình khoa học đã công bố, các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nghề cá của Trung ương và địa phương
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thứ cấp tại các Sở, Ngành
có liên quan, phòng chuyên môn của huyện Cam Lâm, UBND xã Cam Hải Đông, Câm Hải Tây, Cam Đức, Cam Hòa, Cam Thành Bắc, Cam Nghĩa
Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Sử dụng phiếu điều tra kinh tế - xã hội, tình hình khai thác, chí phí doanh thu, mùa vụ của các nghề khai thác
Trang 13Phương pháp khảo sát: Khảo sát trực tiếp tại bến cá, tại nhà, trên biển về ngư cụ,
kỹ thuật khai thác, thành phần loài
Kết quả nghiên cứu
Tàu thuyền tham gia khai thác trong vùng đầm Thủy Triều đều có công suất nhỏ Chủ yếu tập trung trong dãy công suất từ 20 ÷ 50cv Trong đó số lượng tàu thuyền trong dãy công suất từ 20 ÷ 45cv chiếm khoảng 90%
Trong những năm gần đây số lượng tàu thuyền làm nghề lờ dây Trung Quốc tăng mạnh Năm 2010 chỉ có 150 tàu thuyền nhưng đến năm 2014 sô lượng tàu thuyền làm nghề lờ dây tăng mạnh lên tới 310 chiếc
Ngư cụ khai thác chủ yếu là các loại nghề: Nghề lưới rê, nghề lưới kéo, nghề lờ dây Trung Quốc Trong đó, gây ảnh hưởng nhiều nhất đến nguồn lợi thủy sản trong vùng là nghề lờ dây Trung Quốc và nghề lưới kéo Các nghề này đã tạo ra áp lực lớn lên nguồn lợi, là nguyên nhân chính làm cho nguồn lợi thủy sản trong khu vực nghiên cứu ngày càng suy giảm
Cơ cấu lao động giữa nam và nữ có sự chệnh lệch tương đối lớn ở tất cả các địa phương xung quanh đầm Thủy Triều, hầu hết lao động là nam giới, trình độ dân trí còn thấp, chủ yếu là học chưa hết cấp 1, số người học cấp 2, cấp 3 rất ít Nguồn thu nhập chính của các hộ tập trung chủ yếu vào khai thác thủy sản ven bờ
Lực lượng cán bộ quản lý hạn chế, địa bàn quản lý rộng Công tác tổ chức, phối hợp với các địa phương, các ngành liên quan trong việc tuần tra, kiểm soát hoạt động khai thác trên khu vực rất ít và chưa chặt chẽ
Không phát triển thêm (đóng mới, mua lại) các tàu cá nhỏ hoạt động ven bờ có công suất dưới 20cv, từng bước tiến tới giảm dần tàu thuyền loại này, nhằm giảm năng lực khai thác ven bờ, bảo vệ nguồn lợi, duy trì và nâng cao hiệu quả sản xuất, đảm bảo phát triển bền vững
Giải pháp
Không cho đăng ký thêm các tàu thuyền hoạt động trong đầm, hạn chế tàu có kích thước lớn hoạt động khai thác trong vùng đầm Thủy Triều, chỉ cho phép những tàu có kích thước nhỏ và công suất máy dưới 20cv mới được phép tham gia hoạt động
Xây dựng quy chế quy định tuổi thọ của đội tàu tham gia khai thác, giải bản những tàu đã sử dụng trên 10 năm không đảm bảo an toàn
Trang 14Giảm số lượng tàu dưới 20cv khai thác thủy sản trong đầm Thủy Triều xuống còn 200 tàu, không cho tàu trên 20cv khai thác trong đầm nhằm bảo vệ và giảm áp lực đánh bắt và khôi phục nguồn lợi thủy sản trong đầm Thủy Triều
Không cho tàu làm nghề lưới kéo và nghề lờ dây Trung Quốc khai thác trong đầm Thủy Triều
Ngoài số lượng nghề đang hoạt động, không cấp phép khai thác thêm cho những tàu thuyền khác, dần dần sẽ giảm số lượng tàu thuyền hoạt động khai thác trong khu vực
Tăng cường thêm phương tiện và con người phục vụ công tác tuần tra kiểm soát việc khai thác thủy sản trên các vùng biển địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Xây dựng kế hoạch và bổ sung nguồn kinh phí phục vụ công tác tuần tra, kiểm soát cho các ca nô, tàu kiểm ngư để hoạt động quản lý khai thác thủy sản được đảm bảo và hiệu quả
Khảo sát vùng biển ven bờ để khoanh vùng, phân chia khu vực cho mô hình đồng quản lý
Tuyên truyền, vận động ngư dân tham gia mô hình quản lý nghề khai thác hải sản ven bờ theo hướng đồng quản lý
Từ khóa: Quản lý khai thác thủy sản, Đầm Thủy Triều, tỉnh Khánh Hòa
Trang 15MỞ ĐẦU
Khánh Hòa là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, với hơn 300km bờ biển và 135km đường ven đảo, nhiều vũng vịnh, đầm phá như: Vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh, vịnh Vân Phong, đầm Nha Phu, đầm Thủy Triều Đây là nơi có điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển các ngành kinh tế biển như: Du lịch biển, khai thác thủy sản, nuôi hải sản nước mặn, đóng tàu, cảng biển…
Đầm Thủy Triều nằm trên địa bàn huyện Cam Lâm bao gồm các xã Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, Cam Hòa, Cam Thành Bắc và thị trấn Cam Đức, cùng với một phần nhỏ thuộc phường Cam Nghĩa của thành phố Cam Ranh Trải dài qua các xã phường như vậy nên đầm có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế cũng như đời sống của gần 4.000 hộ gia đình nơi đây
Đầm Thủy Triều được biết đến như một khu vực có nhiều tài nguyên về các loài hải sản, đồng thời đóng vai trò quan trọng đối với cân bằng sinh thái và môi trường sống của cả khu vực Trước đây việc khai thác nguồn lợi hải sản trong đầm Thủy Triều đã tạo công ăn việc làm và thu nhập cho nhiều hộ gia đình ngư dân, góp phần cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội của cộng đồng ngư dân sinh sống quanh khu vực đầm
Tuy nhiên, do sức ép về gia tăng dân số, do nhu cầu sống nên một số bộ phận
cư dân ven đầm đã tiến hành các họat động khai thác thủy sản theo hướng tự phát, ồ ạt không theo quy hoạch và chưa có định hướng của cơ quan quản lý Điều này đã dẫn đến một số vấn đề bất cập trong nghề khai thác thủy sản trong đầm Trong những năm gần đây nguồn lợi thủy sản và môi trường sinh thái đầm bị ảnh hưởng nặng nề bởi những tác động xấu từ hoạt động sản xuất, khai thác quá mức nguồn lợi, sử dụng các ngư cụ có tính hủy diệt như lờ dây, phương tiện đánh bắt du nhập từ Trung Quốc, sử dụng xung điện, các lọai ngư cụ có kích thước mắt lưới nhỏ để khai thác thủy sản, khai thác các đối tượng thủy sản trong giai đọan sinh sản và các lọai tôm cá trong thời kỳ
ấu niên với cường lực khai thác cao, mang tính tận thu đã tác động không nhỏ tới nguồn lợi thủy sản, các hệ sinh thái và gây lãng phí tài nguyên trong đầm
Mặt khác, do chưa có định hướng quy họach khai thác thủy sản tại các vùng nước trên đầm, nên việc gia tăng số lượng phương tiện khai thác, các lọai ngư cụ khác nhau đã làm tăng cường độ khai thác lớn trên một diện tích mặt nước, việc tranh giành
Trang 16Ranh… Các họat động kinh tế và của cộng đồng dân cư ở đây cùng với sự biến đổi của các yếu tố sinh thái ở khu vực này đã làm cho diện tích đầm có nguy cơ bị thu hẹp, môi trường vùng nước bị ô nhiễm, nguồn lợi thủy sản tại đầm Thủy Triều trong những năm qua bị suy giảm nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến sinh kế và kinh tế của cộng đồng dân cư Thêm vào đó, sự nhận thức của cộng đồng ngư dân về vấn đề bảo vệ nguồn lợi thủy sản còn rất hạn chế Hầu hết các ngư dân hoạt động riêng lẻ, không có
sự hợp tác, liên kết với nhau Vì vậy cần có sự nghiên sâu để nghề khai thác thủy sản phát triển bền vững và có hiệu quả
Việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng trong lĩnh vực khai thác thủy sản và những tác động có liên quan đến nguồn lợi, môi trường thủy sản nhằm tìm kiếm các giải pháp cụ thể, khả thi về khai thác và bảo vệ nguồn lợi có hiệu quả và bền vững, gắn kết trách nhiệm của cộng đồng dân cư trong việc quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm phá ven biển là việc làm rất cần thiết Đặc biệt là việc chọn lựa địa điểm nghiên cứu đầm Thủy Triều nơi có tính chất đặc thù về đầm phá, chứa đựng nhiều nguồn lợi thủy sản phong phú, đa dạng, khu vực đang bị tàn phá nghiêm trọng về môi trường và nguồn lợi thủy sản do việc khai thác bằng các công cụ, phương tiện mang tính hủy diệt và nhiều họat động kinh tế khác như: Xả thải công nghiệp, tàu thuyền… Để điều chỉnh các hoạt động ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản, ngày 10/02/2014 UBND tỉnh Khánh Hòa đã ban hành quyết định số 05/2014/QĐ-UBND về việc quản lý hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong đó có đầm Thủy Triều Từ đó làm cơ sở cho việc ứng dụng các giải pháp, triển khai mô hình quản lý khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại các đầm vịnh trong tỉnh
Đó là những vấn đề mang tính cấp thiết đặt ra trong thực tiễn quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản đối với các nhà khoa học, nhà quản lý nghề cá tại khu vực đầm Thủy Triều - tỉnh Khánh Hòa
Phạm vi nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2014, thu thập thông tin nghề cá có
sự tham gia của cộng đồng ngư dân bằng phiếu điều tra tại 6 xã, phường, thị trấn có nghề khai thác thủy sản tại đầm Thủy Triều gồm: Xã Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, Cam Hòa, Cam Thành Bắc, thị trấn Cam Đức huyện Cam Lâm và phường Cam Nghĩa, thành phố Cam Ranh
Đối tượng nghiên cứu là nghề khai thác thủy sản tại đầm Thủy Triều, nghiên cứu về tác động của nghề khai thác đến nguồn lợi thủy sản, phân tích hiện trạng quản
Trang 17lý nghề khai thác thủy sản có sự tham gia của cộng đồng ngư dân, đề xuất các giải pháp quản lý nghề khai thác thủy sản
Mục đích nghiên cứu là đề xuất giải pháp quản lý khai thác thủy sản nhằm bảo
vệ và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản tại đầm Thủy Triều, làm gia tăng sản lượng khai thác và đời sống cộng đồng ngư dân quanh đầm
Về phương pháp nghiên cứu, thu thập thông tin bằng phương pháp tham khảo tài liệu kết hợp với phương pháp điều tra và xử lý thông tin bằng phương pháp xử lý logic kết hợp với phương pháp xử lý số liệu, ứng dụng phần mềm Excel 2007
Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu góp phần bổ sung vào phương pháp luận nghiên cứu khoa học quản lý nghề khai thác thủy sản đầm phá tại Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu giúp cho chính quyền địa phương các
xã, phường, thị trấn ven đầm, Ủy ban nhân dân huyện Cam Lâm, Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Khánh Hòa và các cơ quan chức năng có thể áp dụng và nhân rộng một số giải pháp quản lý nghề khai thác thủy sản nhằm bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản tại đầm Thủy Triều
Ngoài phần mở đầu, nội dung chính của Luận văn được thể hiện trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và Kiến nghị
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu đ ầm Thủy Triều
1.1.1 Vị trí địa lý
Đầm Thủy Triều có tọa độ địa lý 109°10'2" kinh độ Đông và 12°6'7" vĩ độ Bắc Địa giới hành chính bao gồm: Huyện Cam Lâm (xã Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, Cam Hòa, Cam Thành Bắc, trị trấn Cam Đức và phường Cam Nghĩa)
Đầm Thủy Triều có chiều dài 15km, diện tích khoảng 2.500 ha, là quần thể đầm phá đặc trưng của hệ sinh thái vùng đất ngập nước Đầm có nguồn thức ăn phong phú,
đa dạng, chế độ thủy văn, thủy triều thuận lợi, tạo điều kiện cho các loài thủy sản sinh sống và phát triển, là vùng ương nuôi các loài tôm, cá, cua tạo quần đàn cho các khu vực lân cận Vốn là nơi có hệ sinh thái rừng ngập mặn và thảm cỏ biển rất đa dạng và phong phú, độ sâu trung bình khoảng 1,2m Cửa đầm thông với vịnh Cam Ranh rất hẹp (400÷500)m [4]
Trang 191.1.2 Điều kiện tự nhiên
Khí hậu vùng đầm Thủy Triều là nhiệt đới gió mùa, đặc trưng cơ bản là nền nhiệt
độ cao và lượng mưa trung bình thấp nhất tỉnh, gió Tây khô nóng nhưng không kéo dài (dưới 15 ngày/năm), tháng nóng nhất là các tháng 5, tháng 6, tháng 7 và tháng 8: Theo tài liệu [8], khí hậu vùng đầm được phân bố như sau:
- Nhiệt độ không khí bình quân 28,70 C
- Nhiệt độ không khí trung bình lớn nhất 28,80 C
- Nhiệt độ không khí trung bình nhỏ nhất 24,30 C
Độ ẩm trong giới hạn từ (74 ÷ 81)% Lượng bốc hơi bình quân (1400 ÷ 1600) mm/năm Tháng 5,6,7,8 bốc hơi nhiều nhất: (112 ÷ 142)ml Tháng 10,11 mùa mưa bốc hơi ít nhất: (64 ÷ 70)ml
Số giờ nắng trung bình năm khoảng 2500÷2600 giờ Tháng 3 đến tháng 8 là những tháng nắng nhất: (200 ÷ 280) giờ/tháng Tháng 10,11 là các tháng ít nắng nhất bình quân 130 giờ/tháng
Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 Lượng mưa trung bình năm từ 1.400
÷ 2.200mm Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, tập trung đến 70 ÷ 80% lượng mưa cả năm, các tháng còn lại nắng ấm
Bão cũng có thể xuất hiện trùng hợp vào các tháng 9, tháng 10 và tháng 11 với tần suất 0,86 cơn bão trong năm
1.1.2.3 Chế độ thủy văn
Thủy triều thiên về nhật triều không đều, trong tháng có từ (16 ÷ 22) ngày nhật triều, có 2 lần triều cường và triều kém Thời kỳ triều kém thường có thêm một con nước nhỏ Thời gian triều dâng lâu hơn triều rút Biên độ triều cường (1,5 ÷ 2)m Biên
Trang 20Chân triều vùng đầm cao hơn chân triều vùng biển từ (0,4 ÷ 0,6)m Biên độ triều cường vùng đầm là (1,3 ÷ 1,4)m trong khi đó biên độ triều vùng biển cùng kỳ (1,6 ÷ 2,0)m [8]
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư quanh đầm Thủy Triều
Theo kết quả điều tra năm 2012 về sự biến động số lượng tàu thuyền và nghề khai thác tại các xã, phường làm nghề đánh bắt thủy sản của Chi cục Khai thác và Bảo
vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa cho thấy: So với năm 2008 số lượng tàu thuyền hoạt động trong khu vực đầm Thủy Triều bằng xuồng tay giảm 100 chiếc, thuyền gắn máy giảm 30 chiếc, nhưng tổng công suất tăng từ 565cv lên 1.153cv), chủ yếu khai thác các nghề: Họ lưới rê (lưới tôm, lưới cua ghẹ, lưới cá), lưới kéo, lờ dây Trung Quốc, đăng,
nò, rớ [11]
Tàu thuyền khai thác quanh năm, nhiều tàu kiêm thêm nghề theo mùa vụ Số hộ nghèo chiếm 9,37% (theo chuẩn 1997), không có nghề nghiệp, cuộc sống phụ thuộc vào nghề biển chiếm 69,5%
Trình độ dân trí thấp (60% tiểu học, 20% trung học, 10% phổ thông trung học, 10% mù chữ), chất lượng cuộc sống thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu kém
1.2.2 Trình độ văn hoá của chủ hộ
Trong 100 hộ điều tra khảo sát có 65 chủ hộ đạt trình độ văn hoá cấp I, đạt tỷ lệ 65%, trình độ văn hoá cấp II là 20 chủ hộ, đạt 20%, trình độ văn hoá cấp III có 02 chủ
hộ, đạt 02%, có 13 chủ hộ không biết chữ đạt tỷ lệ 13%
Bảng 1.1 Trình độ học vấn của chủ hộ Trình độ học vấn Số hộ Tỷ lệ (%)
Trang 21Hình 1.2 Trình độ học vấn của chủ hộ
1.2.3 Độ tuổi của chủ hộ
Độ tuổi của chủ hộ cũng là vấn đề cần quan tâm ngoài trình độ học vấn Nó quyết định thành quả lao động của hộ Ngoài sức khỏe, độ tuổi cũng quyết định khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật áp dụng vào nghề nghiệp để tăng mức thu nhập trong các sinh kế của người dân
Bảng 1.2 Độ tuổi của chủ hộ Nhóm tuổi Tần suất Tỷ lệ (%)
Trang 22
Qua quan sát 100 hộ ta thấy rằng:
+ Nhóm tuổi từ 16 ÷ 25 chiếm tỷ lệ thấp 5%
+ Nhóm tuổi từ 26 ÷ 35 tuổi cũng chiếm một tỷ lệ quá thấp 18%
Hai nhóm tuổi trên là giai đoạn con người có khả năng tiếp thu tốt khoa học
kỹ thuật để ứng dụng vào thực tế sản xuất lại có một tỷ lệ quá thấp
+ Nhóm tuổi từ 36 ÷ 45 chiếm tỷ lệ 40%
+ Nhóm tuổi từ 46 ÷ 55 tuổi chiếm tỷ lệ 23%
+ Nhóm tuổi từ 55 ÷ 60 tuổi chiếm tỷ lệ 10%
+ Nhóm tuổi trên 60% chiếm 4%
1.2.4 Phương tiện và nghề khai thác chủ yếu
Bảng 1.3 Phương tiện (thuyền)
1.2.5 Các nghề khai thác chủ yếu
Trong khu vực đầm Thủy Triều có các nghề khai thác sau: Họ lưới rê (lưới ghẹ, lưới tôm, lưới bén), lưới kéo (cào sò, giã điện), lờ dây Trung Quốc, đăng, nò, nghề khác (câu, soi, khai thác dời biển, sò giá)… Cơ cấu nghề khai thác thủy sản và thời gian hoạt
động như sau:
Trang 23Bảng1.5 Cơ cấu các loại nghề khai thác thủy sản
Hình 1.4 Cơ cấu các loại nghề khai thác thủy sản
Trong các nghề khai thác thủy sản nêu trên, nghề chiếm tỷ lệ nhiều nhất là họ lưới rê và nghề lờ dây Trung Quốc Các loại nghề khác chiếm tỷ lệ không đều nhau trong tất cả các nghề khai thác thủy sản Đó là thực trạng nghề cấm khai thác trong đầm, gây áp lực lên nguồn lợi thủy sản ven bờ
1.3 Nguồn lợi thủy sản, các hệ sinh thái tai đầm Thủy Triều
Trong đầm Thủy Triều vẫn tồn tại hơn 100 loài thủy sản khác nhau, trong đó cá chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 70 loài [9] Các loài thủy sản thường xuất hiện và là nguồn cá khai thác chính của các hộ dân bao gồm: Tôm đất, tôm rằn, tôm sú, cua xanh, ghẹ, cá đối lá, cá
mú, cá hanh, cá móm, cá liệt, cá trích, cá bống, cá đục, Các loài cá này xuất hiện theo mùa, rộ nhất là từ tháng 3 đến tháng 9 Các loài cá này có kích thước nhỏ
1.3.1 Các loài cá thường gặp
Cá biển được khảo sát dựa vào hoạt động đánh bắt của ngư dân ở ven đầm Thủy Triều Các loài cá có giá trị kinh tế được đánh bắt thuộc các họ cá đối lá, cá dìa,
cá liệt, cá bống, cá hồng, cá mú, cá đục…
Trang 24Trong mùa mưa bão, sóng gió lớn, một số loài cá sống ở ngoài khu vực đầm di
cư vào để trú ẩn và tìm kiếm thức ăn làm cho sản lượng đánh bắt và thành phần loài phong phú và đa dạng hơn
1.3.2 Các loài thủy sản khác
1.3.2.1 Động vật thân mềm
Ngoại trừ các loài hàu, vẹm, các loài động vật thân mềm có giá trị kinh tế rất hiếm gặp Nhiều ngư dân cho biết trước đây, ngao và sò rất nhiều nhưng ngày càng suy giảm do bị khai thác với cường độ cao Theo tài liệu [5], ta thấy:
*) Họ OSTREIDAE – Hàu
o Crassostrea belcheri (Sowerby, 1871)
o Crassostrea lugubris (Sowerby, 1871)
o Crassostrea rivularis ( Gould, 1861)
o Saccostrea cucullata (Born, 1778)
Tập trung phân bố nhiều gần khu vực hai bên cầu Long Hồ Chúng bám trên các vách đá, san hô, và các trụ cây người dân cắm để nuôi trồng thủy sản
1.3.2.2 Giáp xác
Đã thu thập và xác định được 6 loài có giá trị kinh tế cao như: ghẹ, cua và các loài tôm họ Penaeidae Các loài giáp xác, đặc biệt tôm bạc, tôm đất là thành phần quan trọng trong việc khai thác của các ngư cụ như nò, đăng, lờ dây Trung Quốc Ghẹ xanh
có giá trị cao tuy nhiên bị khai thác quá mức, chủ yếu là ghẹ có kích thước nhỏ, giá trị kinh tế thấp Các thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, nguồn giống cua con được khai thác quanh năm, cung cấp cho địa phương và các tỉnh lân cận Theo tài liệu [5], ta thấy:
*) Họ PENAEIDAE - Họ tôm He
o Penaeus monodon Fabricius, 1798 (tôm sú)
o Penaeus merguiensis de Man, 1888 (tôm bạc thẻ)
Tôm được đánh bắt quanh năm Ngư cụ để khai thác chính đó chính là đăng, nò, đáy, lờ dâyTrung Quốc, lưới kéo, rớ, lưới bén,
* Họ PORTUNIDAE - Họ Ghẹ
o Portunus pelagicus (Linnaeus, 1766) (ghẹ Xanh)
o Portunus sanguinolentus (Herbst) (ghẹ Ba chấm)
o Scylla spp, 1949 (Cua Bùn)
Trang 25Ghẹ được khai thác tập trung từ tháng 1 đến tháng 9, đặc biệt là tháng 4, 5 Khi nồng độ muối tăng cao, ghẹ vào khu vực vùng nước đầm ngư dân khai thác được sản lượng cao Ngư dân sử dụng nghề dập ghẹ, lờ dây Trung Quốc, lưới ghẹ để thực hiện việc khai thác cua, ghẹ
1.3.3 Các hệ sinh thái đặc trưng trong đầm Thủy Triều
Đầm Thủy Triều là nơi có hệ sinh thái rừng ngập mặn và thảm cỏ biển rất đa dạng
và phong phú Tuy nhiên, những năm gần đây dưới sức ép của sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng, nhiều diện tích rừng ngập mặn và thảm cỏ biển
đã bị biến mất hoặc suy thoái Các hệ sinh thái này góp phần quan trọng làm nên tính đa dạng sinh học trong đầm Nhờ lớp phủ thực vật của đất ngập nước, sự cân bằng giữa O2
và CO2 trong khí quyển khiến vi khí hậu địa phương được ổn định đặc biệt là nhiệt độ
và lượng mưa làm giảm sức gió của bão và bào mòn đất của dòng chảy mặt và được coi như bể lọc tự nhiên, nó có tác dụng giữ lại những chất lắng đọng và chất độc Ngoài ra khu vực này là nơi trú ngụ, kiếm ăn của các loài thủy sản có giá trị kinh tế, đồng thời là nơi cung cấp nguồn giống quan trọng phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản
ven đầm
1.3.3.1 Rừng ngập mặn
Thành phần loài cây ngập mặn trong đầm khá nghèo với 26 loài được xác định,
trong đó có 16 loài cây ngập mặn thật sự (true mangroves) và 10 loài cây tham gia rừng ngập mặn (mangrove associates) Các loài cây ngập mặn phổ biến ở đầm Thủy Triều là Đước (Rhizophora apiculata), Đưng (Rhizophora mucronata), Mắm trắng
(Avicennia alba), Mắm biển (Avicennia marina), Giá (Excoecaria agallocha) và Cóc
trắng (Lumnitzera racemosa) Đáng chú ý là có sự xuất hiện của loài Cóc đỏ
(Lumnitzera littorea) ở đầm Thủy Triều [10] Đây là loài cây ngập mặn quý hiếm, có
tên trong sách Đỏ cần được bảo tồn ở Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới
Rừng ngập mặn tự nhiên trong đầm Thủy Triều hầu như không còn, chỉ còn lại các dải cây ngập mặn nhỏ hẹp phân bố dọc theo đường bờ phía Đông của đầm thuộc
xã Cam Hải Đông, hoặc phân bố rải rác trên các bờ ao, đìa nuôi thủy sản ở các xã Cam Hải Đông, Cam Hải Tây và Cam Hòa Tổng diện tích các dải rừng ngập mặn ở khu vực đầm Thủy Triều khoảng 14ha [9] Các quần xã cây ngập mặn điển hình, thường gặp ở đầm Thủy Triều là:
Trang 26- Quần xã đước (Rhizophora apiculata) - đưng (Rhizophora mucronata) rất phổ
biến ở vùng đỉnh đầm, thuộc các xã Cam Hòa và Cam Hải Đông, hầu hết là các dải rừng trồng bảo vệ bờ đìa
- Quần xã Đước (Rhizophora apiculata) - mắm trắng (Avicennia alba) - mắm biển (Avicennia marina) khá phổ biến, thường phân bố dọc theo bờ Đông của đầm
Thủy Triều thuộc xã Cam Hải Đông
- Quần xã cóc trắng (Lumnitzera racemosa) - giá (Excoecaria agallocha) thường
phân bố rải rác trên nền đất cao ven đầm và trong vùng ao, đìa nuôi thủy sản
Đáng chú ý là tồn tại dải rừng ngập mặn tự nhiên với diện tích khoảng 1ha phân
bố dọc đường bờ thuộc thôn 4, xã Cam Hải Đông Dải rừng này có thành phần loài khá phong phú, nhưng phổ biến là các loài mắm biển, mắm trắng, đước và bần trắng Đây cũng là nơi phân bố của 8 cây cóc đỏ làm cho dải rừng tự nhiên nơi đây trở nên đặc sắc cần được quan tâm bảo vệ
Diện tích rừng ngập mặn ở đầm Thủy Triều hiện nay đã bị suy giảm rất nhiều
so với trước Nguyên nhân chính làm mất rừng ngập mặn là do tình trạng phá rừng lấy đất làm nhà ở, khu dân cư, đường xá, đặc biệt là phong trào phá rừng ngập mặn ồ ạt để xây dựng các ao đìa nuôi tôm Hiện nay, có một số dải cây đước hoặc đưng được trồng phân tán dọc theo bờ đầm và trong ao, đìa bỏ hoang ở vùng đỉnh đầm, thuộc xã Cam Hải Đông và Cam Hòa Tuy nhiên, diện tích rừng trồng còn rất ít ỏi và phân tán
1.3.3.2 Thảm cỏ biển
Thành phần loài cỏ biển trong đầm Thủy Triều khá đa dạng với 8 loài Hai loài cỏ
xoan (Halophila ovalis) và cỏ lá dừa (Enhalus acoroides) rất phổ biến trong đầm Thủy Triều Loài cỏ kim (Ruppia maritima) chỉ thấy mọc trong các ao, đìa bỏ hoang lâu ngày Riêng loài cỏ nàn nàn (Halophila beccari) rất hiếm gặp, chỉ xuất hiện trong mùa
mưa khi độ mặn nước ven đầm hạ thấp
Các thảm cỏ biển lớn phân bố chủ yếu ở Cồn Giữa thuộc vùng đỉnh đầm và dọc theo vùng nước nông ven bờ đầm thuộc các xã Cam Hòa, Cam Hải Đông, Cam Thành Bắc và Cam Nghĩa Tổng diện tích thảm cỏ biển trong đầm Thủy Triều khoảng 547ha
Ở khu vực đỉnh đầm, đặc biệt là Cồn Giữa loài cỏ xoan thường chiếm ưu thế, tạo thành các thảm cỏ biển dày có mật độ và độ phủ cao Loài cỏ lá dừa có kích thước lớn thường phân bố ở vùng nước nông ven bờ phía Nam đầm, nơi độ mặn thường cao và ít dao động hơn, nhiều nơi cỏ lá dừa chiếm ưu thế hoàn toàn, tạo thành thảm cỏ đơn loài
Trang 27Thảm cỏ biển ở Cồn Giữa thuộc vùng đỉnh đầm bị suy thoái nhiều do rong lục
(Enteromorpha sp.Chaetomorpha sp) phát triển mạnh phủ dày lên trên Hàng chục
hecta cỏ biển ở khu vực ven bờ nhà máy Đường Khánh Hòa (xã Cam Thành Bắc) đã bị suy thoái nghiêm trọng, độ phủ cỏ biển chưa đến 5%, do bị người dân đào xới liên tục
để khai thác các loài thân mềm như giá biển Các thảm cỏ biển nằm dọc ven bờ đầm
xã Cam Hải Đông đều có sự suy giảm về mật độ, sinh lượng và độ phủ so với trước đây [9]
1.4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Vấn đề bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại các vùng nước: Ao hồ, đầm phá, vùng biển đang ngày càng trở thành những nhiệm vụ kinh tế - xã hội rất quan trọng trong ngành thủy sản
Mối quan hệ giữa các yếu tố: Con người, môi trường, nguồn lợi thủy sản, các điều kiện về kinh tế - xã hội và thể chế chính sách được liên kết chặt chẽ, hữu cơ và có tác động qua lại giữa các yếu tố trong việc sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản có hiệu quả và bền vững
Đầm Thủy Triều là nơi có tính đa dạng sinh học cao, bao gồm hệ thống rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, vùng đầm lầy, bãi triều… là nơi tập trung phong phú của nhiều loài thủy sản nước lợ, nước mặn và các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao Đồng thời cũng là nơi sinh sống và cư ngụ của cá con Với diện tích khoảng 2500 ha, mặt nước phân bổ rộng kéo dài trên 6 xã phường của huyện Cam Lâm và thành phố Cam Ranh, với số lượng lớn lao động và dân số phụ thuộc vào thu nhập từ nguồn lợi thủy sản ven đầm, điều đó cho ta thấy rằng đầm Thủy Triều có ý nghĩa rất lớn trong đời sống kinh tế và xã hội của cộng đồng dân cư sinh sống ven đầm
Với ý nghĩa và tầm quan trọng của đầm Thủy Triều, đã có một số công trình nghiên cứu, các chương trình, đề tài dự án có liên quan đến môi trường, tính đa dạng
sinh học, triển khai các mô hình phục hồi, quản lý rừng ngập mặn và thảm cỏ biển tại
khu vực đầm Thủy Triều ở nhiều mức độ khác nhau, là tài liệu quý giá trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng vào việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại các đầm ven biển trong tỉnh
Trang 281.4.1 Nghiên cứu ngoài nước
Do sự bùng nổ về dân số, đô thị hóa, nhu cầu về thực phẩm thủy sản gia tăng trên thế giới, việc khai thác nguồn lợi thủy sản bằng nhiều cách khác nhau đã làm cho nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt, đặc biệt là nguồn lợi ven bờ
Trước nguy cơ nguồn lợi suy giảm nghiêm trọng, hệ sinh thái bị tàn phá Một
số phương pháp khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản hợp lý được nghiên cứu và áp dụng trên thế giới như
+ Pritchard 1963, Mee 1978; Sikora and Kjefie 1985 Các vùng đầm phá ven biển chiếm 13% diện tích ven biển trên thế giới, có độ sâu trung bình từ 1÷3m Việc nghiên cứu tập trung nhiều về các nghiên cứu cơ bản về loại hình đầm phá ven biển, thủy triều, dòng chảy, môi trường và tính đa dạng sinh học của đầm phá Ngoài ra còn
có nhiều nghiên cứu khoa học nhằm quản lý và sử dụng đầm phá có hiệu quả tại từng vùng đầm phá của các nước như: Thái Lan, Mỹ, Ý, Pháp, Brazin, Trung Quốc
+ SEAFDEC 2006 “Đồng quản lý là một cách tiếp cận quản lý mà ở đó chính quyền chia sẻ một số quyền hạn, trách nhiệm và chức năng quản lý nhất định trong việc quản lý nghề cá với cộng đồng sử dụng nguồn lợi như là những đối tác”
+ Ở Philippin, có khoảng hơn 400 khu bảo tồn biển do địa phương quản lý đã được thành lập Các khu bảo tồn biển được giao cho cộng đồng địa phương tự quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý nhằm giảm nhẹ chi phí cho nhà nước đồng thời tăng hiệu quả quản lý
+ Mô hình Đồng quản lý nghề cá nội địa tại Bangladesh: Nghề cá nội địa đóng vai trò rất quan trọng ở Bangladesh, 80% hộ gia đình sống ở nông thôn khai thác cá nuớc ngọt làm thức ăn và tạo thu nhập Tuy nhiên việc quản lý kém hiệu quả, khai thác quá mức, phương pháp khai thác có tính huỷ diệt đã làm suy giảm chất lượng môi trường là nguyên nhân dẫn đến nguồn lợi cá bị giảm sút trầm trọng Năm 1996, chính quyền, các tổ chức phi chính phủ đã tiến hành thử nghiệm đồng quản lý nghề cá nội địa ở 19 vùng khác nhau của Bangladesh Kết quả cho thấy người dân đã có thể thành lập được hội ngư dân và bầu ra ban quản lý Các quy định về quản lý và giám sát quy định đã được tổ chức ngư dân đưa ra và thực hiện rất tốt Thu nhập đã dần tăng lên, nguồn lợi cá được phục hồi nhanh chóng
+ Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng để thực hiện quản lý nguồn lợi ven bờ
Để bảo vệ nguồn lợi ven bờ Thái lan đã xây dựng những vùng cấm đánh bắt ven bờ,
Trang 29khai thác có mùa vụ, khuyến khích ngư dân đóng tàu có công lớn khai thác xa bờ, xây dựng nhiều khu bảo tồn biển Quản lý nguồn lợi ven bờ theo hình thức khu bảo tồn biển dựa trên cơ sở cộng đồng đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng như: Khu bảo tồn biển vịnh Co Tong, đảo San Salvador - Philipines, đồng quản lý nguồn lợi Jemluk
- Indonesia
+ Quản lý nghề cá có trách nhiệm: Các nước thuộc liên minh Châu Âu đã hỗ trợ hàng trăm triệu Euro vào ngành công nghiệp khai thác làm cho số lượng tàu thuyền công suất lớn gia tăng rất nhanh, giảm số lượng tàu thuyền nhỏ và nâng cao trách nhiệm giữa những người quản lý và người dân trong việc khôi phục nguồn lợi (Steffen Henrich, Markus Salomon, 2005) Các thành viên Châu Âu đã thực hiện hiệu quả việc khôi phục trữ lượng, giảm áp lực khai thác ven bờ và đem lại lợi ích kinh tế cho ngành công nghiệp khai thác của mình
+ Một số nước như: Iceland, Nauy, Nhật, Trung Quốc đã nghiên cứu áp dụng phương pháp cắt giảm số lượng tàu thuyền khai thác cũ, kém hiệu quả và tăng cường tập huấn chuyển đổi ngành nghề sang lĩnh vực nuôi trồng thủy sản theo sự quy hoạch của nhà nước
Việc nghiên cứu các mô hình đồng quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở các nước, cho ta thấy rằng việc triển khai và ứng dụng mô hình đồng quản lý mỗi lãnh thổ, mỗi vùng nước, phạm vi đều có một cách triển khai phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, nguồn lợi và môi trường, phong tục tập quán, trình độ văn hóa, quyền sử dụng mặt nước của cộng đồng Tất cả các mô hình đều đạt được những kết quả nhất định như: Nhận thức của cộng đồng ngư dân trong việc khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản được nâng lên, nguồn lợi thủy sản được phục hồi và cộng đồng ngư dân có trách nhiệm cùng với chính quyền trong việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
1.4.2 Nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, phát triển bền vững nghề khai thác mới được đề cập đến và được Đảng, nhà nước quan tâm Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định
số 153/2004/QĐ-TTg ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) Trong đó, thủy sản là một trong những
ngành kinh tế mũi nhọn được xác định cần phải ưu tiên nhằm phát triển bền vững
Trang 30Đã có những chính sách, đề tài nghiên cứu, mô hình dự án chuyển đổi cơ cấu ngành nghề cho những hộ gia đình tham gia khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ từ các
nghề khai thác bị cấm sang những nghề khai thác hạn chế nguồn lợi thủy sản ven bờ
+ Dự án quy hoạch tổng thể quản lý khai thác thủy sản đầm phá Tam Giang,
Thừa Thiên Huế Qua 5 năm thực hiện, mô hình quản lý và quy hoạch này đã đạt được nhiều kết quả quan trọng như: Hệ thống cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh liên quan đến các mặt kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường tại khu vực đầm phá phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch Xây dựng thêm được 22 chi hội nghề cá ở 8 xã với quy chế hoạt động đầy đủ Khoanh vùng và quy hoạch khai thác trên thực địa với tọa độ được định
vị bằng vệ tinh cho các chi hội này, định vị được các vị trí đặt nò sáo trên thực địa cho từng thành việc trong chi hội để đảm bảo dòng chảy lưu thông tốt hơn, định vị được các vùng hạn chế khai thác, các bãi đẻ, các vùng khác cho từng nhóm ngành nghề
+ Khánh Hòa chuyển từ nghề lưới kéo, xiệp điện trong đầm Nha Phu sang nuôi
vẹm xanh, hàu và khai thác tôm hùm giống (năm 1999)
+ Mô hình đồng quản lý Khu bảo tồn biển Rạn Trào huyện Vạn Ninh tỉnh
Khánh Hòa sau ba năm thực hiện đã trở thành một trong những khu bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam do địa phương quản lý góp phần quản lý bền vững nguồn lợi ven
bờ Mô hình đã thành công được một số nội dung cơ bản sau:
+ Năng lực quản lý nguồn lợi thuỷ sản ven bờ của người dân và cán bộ thuỷ sản được nâng cao thông qua các hoạt động đào tạo và quản lý dự án
+ Ý thức gìn giữ môi trường biển và nguồn lợi thuỷ sản tại vùng dự án được nâng cao, nhận thức về bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và nguồn lợi biển của đại bộ phận nhân dân được nâng cao rõ rệt
+ Tình trạng khai thác thuỷ sản bằng các hình thức huỷ diệt đánh mìn, dùng xianua, phá hoại các rạn san hô cơ bản đã giảm hẳn
+ Nguồn lợi rạn san hô và cá rạn san hô tại khu vực của dự án được bảo vệ và tái tạo với số chủng loại và trữ lượng loài tăng lên rõ rệt
+ Các nguồn sinh kế thay thế cho người dân được tăng cường, ngưòi dân được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn tín dụng, tăng cường sinh kế, các kỹ thuật nuôi trồng hải sản lựa chọn được cải thiện theo hướng tăng năng suất và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường biển
Trang 31Tuy nhiên, ngoài các kết quả đã đạt được ở trên vẫn còn những mặt hạn chế của
dự án về kế hoạch quản lý nguồn lợi sau khi dự án kết thúc và hướng phát triển sinh kế cho người dân những vấn đề còn tồn tại mà người dân thực hiện “Mô hình đông quản
lý khu bảo tồn biển Rạn Trào” nói riêng và các mô hình quản lý nguồn lợi thủy sản ven bờ nói chung cần phải giải quyết và có các giải pháp khắc phục khi dự án kết thúc Chưa có kế hoạch cho những bước tiếp theo sau khi dự án kết thúc, đây là một vấn đề cần được các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương nghiên cứu xem xét và đề xuất được để đảm bảo tính bền vững của mô hình
Các mô hình dự án quản lý nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn trong công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản dưới nhiều góc độ Đồng thời các mô hình dự án này bước đầu chỉ mới đưa ra được sự tham gia quản lý của cộng đồng đối với nguồn lợi thủy sản
Qua các nội dung trên ta nhận thấy:
Việc áp dụng mô hình quản lý trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ đã được triển khai rộng khắp tại các vùng miền, tại các thủy vực: Đầm, hồ
Hầu hết các mô hình quản lý được thành lập đều xuất phát trên cơ sở thực tiễn,
từ những bức xúc trong quản lý và đề xuất của chính ngư dân Hình thức tổ chức mô hình phong phú và đa dạng với các chi hội, hiệp hội nghề nghiệp, tổ nghề nghiệp, tổ cộng đồng, câu lạc bộ hay các hợp tác xã
Bên cạnh đó việc triển khai, tổ chức các mô hình quản lý cũng gặp những khó khăn: Về thể chế và thiết chế chưa có văn bản pháp quy hướng dẫn giao ranh giới vùng nước thực hiện đồng quản lý cho cộng đồng, nhận thức của người dân về môi trường, nguồn lợi, sinh trưởng và bảo tồn còn hạn chế, mức thu nhập thường xuyên từ nguồn lợi thủy sản của cộng đồng vẫn còn thấp và việc chuyển đổi sinh kế cho cộng đồng đồng ngư dân vẫn là bài toán nan giải cho các mô hình đồng quản lý nguồn lợi
Trang 32Từ những phân tích trên đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này là: Đánh giá thực trạng khai thác và quản lý khai thác thủy sản tại đầm Thủy Triều để đề xuất các giải pháp quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản phù hợp với đặc thù của vùng nước và địa phương trong đầm Thủy Triều
Trang 33CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Thực trạng khai thác thủy sản trong đầm Thủy Triều
- Tàu thuyền, nghề khai thác, (số lượng phân bổ theo nghề, địa phương, công suất, cỡ loại tàu…)
- Sản lượng, thành phần sản phẩm theo nghề, theo cỡ loại tàu, theo mùa vụ, theo vùng…
- Tình hình biến động về nguồn lợi thủy sản trong các năm qua về sản lượng, kích thước, chủng loại …
2.1.2 Thực trạng công tác quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Thủy Triều
- Thực trạng tổ chức, nhân lực và tài chính
- Sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng
- Công tác tuyên truyên, nâng cao nhận thức
- Công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về bảo vệ nguồn lợi thủy sản
2.1.3 Đề xuất giải pháp
- Giải pháp về quản lý tàu thuyền
- Giải pháp về quản lý khai thác
- Giải pháp về quản lý ngư trường
Trang 34phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, cổng thông tin điện tử tỉnh Khánh Hòa
và các trang mạng khác Các tài liệu chủ yếu là:
- Số liệu về điều kiện tự nhiên, môi trường tại đầm Thủy Triều
- Số liệu về tàu thuyền, nghề nghiệp, sản lượng khai thác của huyện Cam Lâm qua các báo cáo tổng kết hang năm
- Các văn bản pháp quy liên quan đến nghề khai thác thủy sản của địa phương
và trung ương
- Luật, văn bản pháp quy liên quan đến quản lý nghề cá của trung ương và tỉnh
- Các báo cáo tổng kết về thực trạng khai thác và bảo vệ NLTS (tàu thuyền, nghề nghiệp, sản lượng, năng suất, đối tượng khai thác, sự biến động về nguồn lợi thủy sản…), thực trạng quản lý nghề cá trong đầm Thủy Triều
- Kế thừa kết quả điều tra số lượng tàu thuyền và số lượng thuyền trưởng, máy trưởng của Chi cục Khai thác và bảo vệ NLTS năm 2011 đến 2015
2.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
- Số liệu điều tra về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong đầm Thủy Triều theo mẫu phiếu điều tra in sẵn (Phụ lục 1)
- Sử dụng phiếu điều tra kinh tế - xã hội, tình hình khai thác, chí phí doanh thu, mùa vụ của các nghề khai thác
- Tham vấn ý kiến của 50 hộ ngư dân tham gia khai thác thủy sản trong đầm theo mầu (Phụ lục 1) Chọn mẫu ngẫu nhiên theo hướng dẫn điều tra nghề cá của FAO, kết hợp phỏng vấn trực tiếp và sử dụng phương pháp PRA – Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng…
- Trực tiếp khảo sát, đo đạc, phân loại, thu thập các số liệu về sản lượng, đối tượng khai thác, thành phần sản phẩm bằng cách đi biển cùng ngư dân và thực hiện tại các bến cá Lựa chọn các nghề chủ lực có ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản và chọn ngẫu nhiên mỗi nghề 3 hộ, mỗi hộ tiến hành đo đạc 5 chuyến biển để thu thập sản lượng, thành phần sản phẩm, đo đạc kích thước đối tượng khai thác kết hợp với phiếu điều tra để đánh giá
- Số mẫu thu thập đảm bảo độ chính xác cao
2.2.2 Xử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm Excel để xử lý và tính toán các chỉ số về cường lực khai thác, năng suất khai thác, sản lượng khai thác,
Trang 35- So sánh số liệu thực trạng khai thác thủy sản với các tiêu chuẩn quy định của nhà nước hiện hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của nó đối với nguồn lợi thủy sản trong đầm Thủy Triều (So sánh các thông số với thông tư 02/2006/TT-BTS)
- Sử dụng bản đồ phân vùng khai thác theo từng khu vực để minh họa ngư trường đánh bắt và đề xuất phân vùng quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản bằng các chương trình ứng dụng
- Sử dụng kiến thức chuyên ngành khai thác thủy sản để phân tích, đánh giá và xác định các cơ sở khoa học của việc đề xuất các giải pháp quản lý nghề cá theo hướng phát triển bền vững
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng tàu thuyền khai thác thủy sản khu vực đầm Thủy Triều
Hiện nay tàu thuyền đánh bắt trong khu vực đầm Thủy Triều chủ yếu với các loại nghề như: Lưới kéo, lờ dây Trung Quốc, đăng, nò, lưới rê (lưới cước), pha xúc, câu, rớ, lặn… Tập trung chủ yếu ở các xã Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, Cam Thành Bắc và thị trấn Cam Đức có các nghề như lờ dây Trung Quốc, lưới rê (lưới cước), lưới kéo Phường Cam Nghĩa, xã Cam Thành Bắc có nghề lặn, pha xúc, đăng, nò, rớ Ngoài
ra còn có nhiều tàu thuyền từ các phường như Cam Phúc Bắc, Cam Phúc Nam, Cam Phú cũng vào đầm Thủy Triều để khai thác
Qua điều tra khảo sát cho thấy, các nghề hoạt động với cường lực mạnh nhất là các nghề: Lưới kéo, lưới rê (lưới cước), lờ dây Trung Quốc Phạm vi hoạt động của nghề này cũng rất rộng, không chỉ trong khu vực của địa phương mà hoạt động trong toàn bộ khu vực đầm từ cầu Long Hồ trải dài tới hết địa phận xã Cam Hòa
Phân bổ số lượng tàu thuyền theo nghề, công suất tại các xã, phường, thị trấn quanh đầm Thủy Triều được trình bày ở các bảng 3.1
Bảng 3.1 Phân bổ số lượng tàu thuyền theo nghề và nhóm công suất
Trang 37Hình 3.1 Biến động số lượng tàu thuyền theo nghề
Từ kết quả điều tra và số liệu thống kê ở các bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy, có
08 nghề với các hình thức đánh bắt khác nhau tham gia khai thác thủy sản trên đầm Thủy Triều
Số lượng tàu thuyền có công suất dưới 20cv chiếm tỉ lệ 68%, những tàu này không thể vươn ra xa bờ mà chỉ tập trung khai thác trong khu vực đầm Thủy Triều
Loại nghề có số lượng tàu thuyền công suất nhỏ hơn 20cv chiếm số lượng nhiều nhất là nghề lờ dây Trung Quốc chiếm 52% , lưới rê chiếm 23%, lặn chiếm 7,4%, đăng, nò chiếm 5,5% Các nghề có công suất tàu lớn tập trung chủ yếu ở nghề lờ dây Trung Quốc
Tàu thuyền các nghề nêu trên đa số có chiều dài nhỏ hơn 10m và nằm trong khoảng chiều dài trung bình từ 5 ÷ 8 m Tàu thuyền có kết cấu vỏ gỗ, cabin nằm phía đuôi tàu, boong thao tác chủ yếu nằm phía trước Hệ thống lái phần lớn là sử dụng cần lái, ít sử dụng vô lăng Hầm chứa cá chủ yếu dùng để chứa ngư cụ, vì chuyến biển chỉ
đi trong ngày nên hầm chứa cá ít được sử dụng
Theo điều tra thực tế cho thấy có khoảng 70% tàu thuyền có công suất nhỏ tham gia khai thác thường xuyên trong đầm Thủy Triều trung bình khoảng 25 ngày trong tháng Hiện nay việc ngư dân tăng cường thời gian và cường độ đánh bắt trong
Trang 38Đặc thù của vùng đầm là độ sâu thấp, có nhiều cồn, bãi Các nghề khai thác không cần dùng những tàu có công suất và kích thước lớn để đánh bắt, nên công suất tàu không ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ
3.1.1 Tàu thuyền nghề lưới kéo
Tàu thuyền nghề lưới kéo của huyện Cam Lâm và thành phố Cam Ranh hoạt động đánh bắt trong đầm Thủy Triều được thể hiệnở bảng 3.2
Bảng 3.2 Thống kê các xã, phường, thị trấn có hoạt động nghề lưới kéo trong đầm
Thủy Triều
STT Xã, phường, thị trấn Số lượng tàu (chiếc)
Tuổi thọ hầu hết các tàu tham gia khai thác từ 7 ÷ 10 năm Các loại máy sử
dụng hầu hết là các loại máy cũ đã qua sử dụng do Trung Quốc và Nhật, Hàn Quốc sản xuất Các tàu lưới kéo hoạt động chủ yếu là lưới kéo đơn hoạt động quanh năm trong đầm Thủy Triều
Tàu thuyền nghề lưới kéo khai thác thủy sản trong đầm đóng chủ yếu từ các loại gỗ chất lượng không cao, vì thế tuổi thọ tàu bị hạn chế so với những tàu khai thác
xa bờ ở các địa phương khác
Từ bảng 3.2 cho thấy, xã Cam Hải Đông có số lượng tàu thuyền làm nghề lưới kéo nhiều nhất trong huyện, thị trấn Cam Đức và xã Cam Hòa không có tàu thuyền hoạt động nghề lưới kéo
Bảng 3.3 Phân chiều dài tàu theo nghề lưới kéo
Phân theo chiều dài tàu L (m) Địa phương ≤ 6,0 6,01 ÷ 8,0 8,01 ÷ 10,0 10,01 ÷ 15,0 Tổng cộng
Trang 39Xã Cam Thành Bắc 5 0 0 0 5
Bảng 3.4 Phân chiều rộng tàu theo nghề lưới kéo
Phân theo chiều rộng tàu B (m) Địa phương 1,0 ÷ 1,99 2,0 ÷ 2,99 3,0 ÷ 4,0 Tổng cộng
3.1.2 Tàu thuyền nghề lưới rê
Tàu thuyền nghề lưới rê là các tàu có công suất nhỏ phổ biến từ 8 – 15cv, tập trung chủ yếu ở Xã Cam Hải Đông, Cam Thành Bắc Hầu hết các tàu làm nghề lưới rê (lưới cước) đánh bắt ở khu vực xã Cam Hải Tây và khu vực cầu Long Hồ - phường Cam Nghĩa
Trang 40Hình 3.2 Tàu thuyền đánh bắt nghề lưới rê
Ngoài một số tàu thuyền đánh bắt ở ngoài khu vực vịnh Cam Ranh, khu vực Bãi Dài vùng nước sâu, còn lại các tàu thuyền làm nghề lưới rê khác như lưới hai, lưới
ba đánh bắt quanh năm trong đầm Thủy Triều Phân bố số lượng tàu thuyền nghề lưới
rê huyện Cam Lâm được thể hiện ở bảng 3.5
Bảng 3.5 Phân bố số lượng tàu thuyền nghề lưới rê hoạt động trong đầm Thủy Triều
STT Xã, phường, thị trấn Số lượng tàu (chiếc)