Vai trò của thầy giáo trong sự nghiệp giáo dục được khẳng định trong nghị quyết hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng khóa VIII: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2
và đa dạng Vì vậy, chú trọng phát triển nguồn nhân lực với chất lượng cao chính là chìa khóa để phát triển nền kinh tế Nguồn nhân lực nói chung, nhân viên công tác trong các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, du lịch có chất lượng cao nói riêng đang thực sự trở thành yếu tố cơ bản cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước, khu vực và quốc tế
Giáo dục Đại học có vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, trong đó đội ngũ giảng viên trong nhà trường đóng vai trò quyết định chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng và Đại học có nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân vừa có đức lại vừa có trình độ kỹ thuật tiên tiến để góp phần "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" cho đất nước Chính vì vậy mà việc Phát triển đội ngũ giảng viên ở trường Đại học, Cao đẳng là việc làm cần thiết, cấp bách hiện nay Nhà giáo là người tác động trực tiếp đến quá trình phát triển về đạo đức, tri thức và hình thành nhân cách của người học Từ ngàn đời nay nhà giáo luôn được coi trọng Tục ngữ Việt Nam có câu: “Không thầy đố mày làm nên”;
Trang 3“Tôn sư trọng đạo” là một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, được nhân dân ta không ngừng vun đắp và phát triển.
Bác Hồ nói: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục” Vai trò của thầy giáo trong sự nghiệp giáo dục được khẳng định trong nghị quyết hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng khóa VIII: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh” và “khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên môn nghiệp vụ”
Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư TW Đảng khóa IX ngày 15/06/2004
về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và quản lý giáo dục,
đã chỉ đạo:
“Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2001 -2010 và chấn hưng đất nước Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu ”
Về mặt lý luận, các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định tầm quan trọng của nhà giáo và công tác xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện là một trong những nội dung quan trọng của đổi mới công tác quản lý giáo dục
1.2 Về thực tiễn
Sinh viên các trường CĐ nói chung, Trường CĐ VH, TT & DL Nguyễn
Du nói riêng sau khi tốt nghiệp ra trường là lực lượng lao động quan trọng tham gia trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Do vậy, nhà trường phải đào tạo nên những sinh viên có trình độ chuyên môn cao, năng lực thực hành tốt,
Trang 4năng động, sáng tạo và có đầy đủ phẩm chất của người lao động mới Bên cạnh đó, Trường CĐ VH, TT&DL Nguyễn Du với nhiệm vụ đào tạo những thầy giáo, cô giáo đứng trên bục giảng thông qua dạy chữ để dạy người, những hướng dẫn viên, những cán bộ văn hoá, những diễn viên, nghệ sĩ, vận động viên những người làm công tác định hướng lý tưởng, thẩm mĩ Cho nên, để làm được nhiệm vụ nặng nề ấy cùng với các nguồn lực khác như tài chính, cơ sở vật chất , nguồn lực con người đóng vai trò hết sức quan trọng Nguồn lực con người ở đây chính là đội ngũ giảng viên của nhà trường Đội ngũ ấy phải đủ về số lượng, chuẩn về chất lượng, hợp lý và đồng bộ về cơ cấu
Hiện nay, nhà trường vừa mới được nâng cấp lên trường CĐ, bởi vậy
so với yêu cầu, nhiệm vụ mới của trường, đội ngũ giảng viên Trường CĐ VH, TT&DL Nguyễn Du còn những bất cập sau đây:
- Đội ngũ giảng viên còn thiếu về số lượng, chất lượng chưa đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ mới
- Trình độ chuyên môn giảng viên ở từng khoa chưa đồng đều, kỹ năng
sư phạm của một số giảng viên còn hạn chế
- Thực hiện kế hoạch, nội dung, chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên chưa thường xuyên
- Tổ chức biên chế đội ngũ giảng viên chưa phù hợp với yêu cầu của trường CĐ
Do vậy, công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của Trường
CĐ VH, TT&DL Nguyễn Du trở nên vô cùng cấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sắp tới của nhà trường
Từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Văn hoá, Thể
Trang 5thao và Du lịch Nguyễn Du, tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài luận văn cao học
chuyên ngành Quản lý Giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, đề xuất những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường CĐ VH, TT&DL Nguyễn Du, tỉnh Hà Tĩnh nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được những giải pháp mang tính hệ thống,có cơ sở khoa học và thực tiễn thì có thể sẽ tạo cơ sở cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ mới của nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài
5.3 Đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên Trường CĐ VH, TT&DL Nguyễn Du, tỉnh Hà Tĩnh
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trang 6Sử dụng và phối hợp các phương pháp: tổng hợp, phân tích, phân loại
dự báo, khái quát hóa các tài liệu khoa học có liên quan để xác định khái niệm công cụ và xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Để khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên Trường CĐ VH, TT&DL Nguyễn Du, tỉnh Hà Tĩnh và thu thập các thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò
- Phương pháp trao đổi
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý các dữ liệu thu được về mặt định lượng
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Về mặt lý luận
Luận văn hệ thống hoá các vấn đề lý luận về giảng viên, đội ngũ giảng viên, làm rõ thêm một số đặc trưng của giảng viên ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật, phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng
7.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn khảo sát tương đối toàn diện thực trạng đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng VH, TT&DL Nguyễn Du, tỉnh Hà Tĩnh; đưa ra các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi để phát triển đội ngũ giảng viên nhà trường giai đoạn 2011 - 2015
8 Cấu trúc luận văn
Trang 7Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 3 Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Du, tỉnh Hà Tĩnh.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngày nay, các quốc gia coi giáo dục là nền tảng và là nhân tố quan trọng có tính chất quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội và hưng thịnh của mỗi quốc gia Trong những năm đầu thế kỷ XXI, thế kỷ của công nghệ thông tin, của nền kinh tế tri thức và xu thế hội nhập, toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực Thế giới ngày nay đang diễn ra cuộc chạy đua quyết liệt để phát triển, trong đó tập trung vào phát triển kinh tế Tuy nhiên để có thể thắng trong cuộc chạy đua này hoặc ít nhất không bị tụt hậu, các quốc gia cần phải đầu tư và chăm lo cho sự phát triển giáo dục của đất nước mình Điều này càng đặc biệt quan trọng đối với những nước đang phát triển, như nước ta hiện nay Sự đầu tư chăm lo phát triển giáo dục đi trước một bước, đón đầu các yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học, xã hội,… đã được các nước Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc,… thực hiện có hiệu quả cao
Giáo dục là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ, quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế - xã hội, đồng thời có tác động mạnh đến tiến trình phát triển của một quốc gia Mặt khác chúng ta đều biết chất lượng giáo dục được đào tạo nên từ tổ hợp gồm nhiều yếu tố nhưng trong tổ hợp các yếu tố đó thì đội ngũ giáo viên là yếu tố quan
Trang 8trọng và chủ yếu nhất quyết định chất lượng giáo dục, vì đội ngũ giáo viên là người trực tiếp thi hành các mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục, với vai trò chủ đạo trong giáo dục đào tạo ở các trường Do đó xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên là một vấn đề được các nước quan tâm cho dù là nước lớn hay nước nhỏ, nước giàu hay nước nghèo, nước phát triển hay đang phát triển Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển, mô hình đào tạo đội ngũ giáo viên ở các nước trên thế giới và vận dụng phù hợp vào điều kiện nước ta là một yêu cầu cấp bách, có ý nghĩa rất lớn trong công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Mô hình đào tạo giáo viên một số nước trên thế giới
- Cộng hoà Liên bang Đức: Giáo viên chuyên nghiệp được đào tạo chính quy tại các khoa sư phạm kỹ thuật trong các trường Đại học theo mô hình thống nhất trong toàn Liên bang mà đầu vào là học sinh tốt nghiệp các trường nghề và sau khi học xong chương trình phải có hai năm làm việc theo nghề đã đào tạo sau đó mới được cấp bằng giáo viên
- Ở Mỹ: Mô hình đào tạo giáo viên đa dạng hơn, đầu vào là sinh viên tốt nghiệp các trường Đại học kỹ thuật, các trường Cao đẳng cộng đồng… sau
đó đào tạo tiếp nghiệp vụ sư phạm để trở thành giáo viên chuyên nghiệp
- Ở Australia: Giáo viên chuyên nghiệp được đào tạo tại các trường Đại học nhưng đầu vào là những người đã có tay nghề đang làm việc tại các cơ sở sản xuất
Nhìn chung mô hình đào tạo giáo viên ở các nước rất khác nhau, nhưng
có một điểm chung: Đầu vào đều là những người có kiến thức, kinh nghiệm
về một nghề nào đó sau mới được đào tạo thành giáo viên chuyên nghiệp
Ở Việt Nam, trong Kết luận của Hội nghị lần thứ 6 BCH TW khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW II khoá VIII về phương hướng phát triển giáo dục đào tạo khoa học công nghệ từ 2005 đến 2010 có ghi “tạo chuyển
Trang 9biến cơ bản về chất lượng giáo dục trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên…” và ông cha ta thường nói “không thầy đố mày làm nên” điều này không ngoài ý khẳng định vai trò, công lao của người thầy đối với mỗi con người.
Luật Giáo dục đã xác định rõ vai trò của giáo viên: “Nhà giáo giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục…” [21]
GS.TSKH Nguyễn Minh Đường đề cập tới vấn đề Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới (Nhà in Bưu điện, Hà Nội, 1996) Trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ, kinh nghiệm của các quốc gia (tháng 10/2002, tập II), tác giả đã đưa ra
một số giải pháp để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 -
2010 đó là việc hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp Theo tác giả đó là một giải pháp quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện phát triển chiến lược giáo dục của nước ta trong giai đoạn này
Về vấn đề quản lý chất lượng và kiểm định đánh giá chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH được đề cập đến trong
công trình nghiên cứu Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO và TQM của PGS.TS Trần Khánh Đức.
Một số công trình nghiên cứu sau đây cũng liên quan đến vấn đề xây
dựng phát triển đội ngũ giáo viên như Mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật của PGS.TS Nguyễn Tiến Đạt (1990), Xây dựng mô hình giảng viên kỹ thuật ở trình độ Đại học cho các trường THCN - dạy nghề do PGS.TS Nguyễn Đức Trí là chủ biên (1996), Xây dựng mô hình hoạt động cho giáo viên dạy nghề
của Thạc sĩ Nguyễn Đăng Trụ (2004)… ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu có đề cập tới việc đào tạo giáo viên dạy nghề của Phan Chính Thức, Trần Hùng Lượng, Hoàng Ngọc Trí vào những năm 2003 - 2005
Trang 10Nhìn chung các công trình nghiên cứu nói trên đã có những tác động nhất định đối với công tác quản lý GD&ĐT nói chung và lĩnh vực xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên nói riêng ở các cấp độ bình diện khác nhau Trong đó các tác giả đã đề cập khá toàn diện cả về mặt lý luận và cả những giải pháp cụ thể được xác lập trên cơ sở khảo sát thực trạng của mỗi trường Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường CĐ VH, TT&DL Nguyễn Du, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay Trong lúc đó một thực tế đặt ra là Trường CĐ VH, TT&DL Nguyễn Du mới được thành lập chưa được 01 năm và đang bước vào thời kỳ xây dựng đề án quy mô tổng thể giai đoạn 2010 - 2020, nên cần thiết phải có
sự khảo sát cụ thể về thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên, nhằm đưa ra các giải pháp phát triển phù hợp, hướng tới xây dựng nguồn nhân lực cho trường CĐ đa ngành với cốt lõi là các ngành nghệ thuật
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Giảng viên và đội ngũ giảng viên
1.2.1.1 Giảng viên
Theo Từ điển tiếng Việt, giảng viên “là tên gọi chung người làm công
tác giảng dạy ở các trường chuyên nghiệp, các lớp đào tạo, huấn luyện, các trường trên bậc phổ thông” [24, 376]
Luật Giáo dục 2005, điều 70 quy định: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên,
ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên” [21]
Theo phân loại hệ thống cán bộ, công chức nhà nước của Ban Tổ chức -
CB Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), giảng viên có 3 bậc (gọi là ngạch), là: giảng viên, giảng viên chính và giảng viên cao cấp Mỗi ngạch có tiêu chuẩn nghiệp vụ riêng, quy định tại quyết định số 538/TCCP-BCTL, ngày 18/12/1995 của Ban Tổ chức - CB Chính phủ
Trang 11Ở đây, trong đề tài nghiên cứu này, giảng viên được hiểu là đội ngũ nhà giáo, giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học, không phân biệt rạch ròi theo cách hiểu trên.
Điều 26, Điều lệ trường Cao đẳng quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ của giảng viên:
b) Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ GD&ĐT và nhà trường quy định; viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập theo sự phân công của nhà trường, khoa, bộ môn
c) Chịu sự giám sát của các cấp QL về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và NCKH
d) Tham gia hoặc chủ trì các đề tài NCKH, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;
đ) Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người học, hướng
Trang 12dẫn người học trong học tập, NCKH, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống.
e) Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;
g) Hoàn thành tốt các công tác khác được trưởng, khoa, bộ môn giao
1.2.1.2 Đội ngũ
Theo Từ điển tiếng Việt, đội ngũ được định nghĩa:
“1) Khối đông người được tập hợp và tổ chức thành lực lượng chiến đấu.2) Tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng” [24, 328]
Như vậy khái niệm đội ngũ xuất phát theo cách hiểu thuật ngữ quân sự Nói đến đội ngũ là nói đến một số đông người được tổ chức thành một lực lượng, có sự gắn bó chặt chẽ với nhau bằng những quy định về điều lệnh, điều
lệ, kỷ luật… để tạo nên sức mạnh hành động nhằm đạt một mục đích chung Chẳng hạn: Đội ngũ công nhân, đội ngũ nhà văn, đội ngũ cán bộ khoa học, đội ngũ giáo viên…
Còn có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm đội ngũ nhưng có thể thống nhất quan niệm:
- Là một số đông người;
- Được tập hợp lại và có tổ chức;
- Có nhiệm vụ và mục đích chung
1.2.1.3 Đội ngũ giảng viên
Không có định nghĩa cụ thể cho “đội ngũ giảng viên” Có thể coi đội ngũ giảng viên là một phạm trù Trên cơ sở khái niệm giảng viên và đội ngũ
ta có thể hiểu: Đội ngũ giảng viên là tập hợp những người làm công tác giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, được tổ chức thành một lực lượng, có chung một nhiệm vụ là giảng dạy, giáo dục và NCKH theo quy định của Bộ
Trang 13GD&ĐT, nhằm mục tiêu “đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức,
có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [21]
1.2.1.4 Đặc trưng của đội ngũ giảng viên
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 đã ghi rõ: “Phát triển đội ngũ nhà giáo, đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục” [8, 30]
Chỉ thị 40/CT-TW, ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục cũng đã nêu: “Mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo về CBQL giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo…” [3]
Như vậy đặc trưng của đội ngũ nhà giáo hay nói cách khác, yêu cầu xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo là: đủ về số lượng, hợp lý và đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về chất lượng Việc phát triển đội ngũ GV của trường CĐ phải hướng vào mục tiêu ấy
* Về số lượng: Phải đảm bảo đủ, tính theo định mức quy định của Bộ
Giáo dục - Đào tạo và Bộ Nội vụ
- Đảm bảo có đủ GV cơ hữu cho tất cả các bộ môn của các chuyên ngành đào tạo;
- Đảm bảo tỷ lệ SV/GV bình quân là 20 Trong đó, các ngành khoa học
tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ từ 10 - 15 SV/GV; các ngành khoa học xã hội
và nhân văn, các ngành kinh tế từ 20 - 25 SV/GV [8; 32]
Trang 14- Ngoài ra phải dành một tỷ lệ thích hợp GV làm công tác kiêm nhiệm
về giáo dục, QL học sinh - sinh viên, công tác đoàn thể quần chúng
* Về cơ cấu: - Cơ cấu ngành (chuyên môn): Đồng bộ về ngành nghề
đào tạo, có sự cân đối GV các môn học, các ngành nghề đào tạo; có GV dạy
lý thuyết và GV hướng dẫn thực hành;
- Cơ cấu trình độ: Vừa có số lượng GV đạt chuẩn nhưng phải có một bộ phận GV đạt trình độ trên chuẩn (thạc sĩ, tiến sĩ), GV có tay nghề bậc cao GV chính, GV giỏi trong từng ngành học, môn học để làm nòng cốt
- Cơ cấu độ tuổi: Có độ tuổi hợp lý, tuổi đời bình quân không quá cao
và phân bố các độ tuổi hợp lý, có lớp trẻ, lớp trung bình và lớp già để đảm bảo tính kế thừa và liên tục trong hoạt động giảng dạy, giáo dục của nhà trường Mặt khác bổ sung cho nhau những ưu thế, mặt mạnh của mỗi lứa tuổi
- Cơ cấu giới tính - vùng miền: Thể hiện ở tỷ lệ nam/nữ hợp lý với từng môn học, ngành học; có tỷ lệ Đảng viên thích hợp để giữ vai trò lãnh đạo trong các môn học, ngành học Nếu đào tạo nguồn nhân lực là người dân tộc cần có GV là người dân tộc, hiểu biết văn hoá, phong tục tập quán… của dân tộc đó để thuận lợi trong giao tiếp sư phạm
Trang 15Theo tiêu chuẩn GV (ban hành theo Quyết định 538/TCCP-BCTL đã nêu trên) thì còn phải có ít nhất 2 chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học là: “Chương trình chính trị - triết học nâng cao” và “Những vấn đề cơ bản về tâm lý học và
lý luận dạy học bộ môn ở Đại học”; sử dụng được một ngoại ngữ trong chuyên môn ở trình độ B (đối với GV ngoại ngữ phải là ngoại ngữ thứ hai)
- Về phẩm chất: Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt
Hiểu và vận dụng đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và các quy định của ngành trong công tác GD&ĐT đại học, cao đẳng
Phải nắm vững đường lối đổi mới của Đảng, quan điểm, đường lối phát triển giáo dục đào tạo trong từng giai đoạn Hiện nay GD&ĐT phải góp phần tích cực vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Người GV phải có đạo đức, tác phong, tư tưởng đúng đắn theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Có sức khoẻ tốt để đảm bảo được công tác giảng dạy và giáo dục lâu dài; có lý lịch bản thân rõ ràng
1.2.2 Phát triển, phát triển nguồn nhân lực và phát triển đội ngũ giảng viên
1.2.2.1 Phát triển
Thuật ngữ phát triển theo triết học là biến đổi hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp Lý luận của phép biện chứng duy vật khẳng định: Mọi sự vật hiện tượng không phải chỉ
là sự tăng hay giảm về mặt số lượng mà cơ bản chúng biến đổi chuyển hoá
từ sự vật này đến sự vật khác, cái mới kết thúc cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình phát triển tiến lên mãi mãi Nguyên nhân của sự phát triển là sự liên hệ tác động qua lại của các mặt đối lập vốn có bên trong các sự vật, hiện tượng, hình thái, cách thức của sự phát triển đi từ
Trang 16những biến đổi về lượng đến những biến đổi, chuyển hoá về chất và ngược lại.
Con đường, xu hướng của sự phát triển không theo con đường thẳng, cũng không theo đường tròn khép kín mà theo đường xoáy ốc tạo thành xu thế phát triển từ từ, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn
Từ những năm 60 của thế kỷ XX thuật ngữ phát triển được sử dụng khá đơn giản với nhiều cách hiểu đơn giản là phát triển kinh tế, sau đó khái niệm này được bổ sung nội hàm và được hiểu một cách toàn diện hơn Ngày nay khái niệm phát triển được dùng để chỉ ba mục tiêu cơ bản của nhân loại: Phát triển con người toàn diện, bảo vệ môi trường, tạo hoà bình và ổn định chính trị Phát triển là quá trình nội tại, là bước chuyển hoá từ thấp đến cao, trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm năng những khuynh hướng dẫn đến cái cao là cái thấp đã phát triển Phát triển là quá trình tạo sự hoàn thiện của cả tự nhiên và xã hội Phát triển có thể là quá trình thực nhưng cũng có thể là một tiềm năng của sự vật hiện tượng
1.2.2.2 Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực là tạo ra sự phát triển vững chắc, bền vững
về hiệu năng của một thành viên và hiệu quả chung của tổ chức, gắn liền với không ngừng tăng về số lượng và chất lượng của đội ngũ cũng như chất lượng sống của nhân loại Nội dung của sự phát triển xét trên bình diện xã hội là phạm trù rộng lớn Theo quan điểm của chương trình phát triển Liên hợp quốc, có năm nhân tố của sự phát triển nguồn nhân lực: giáo dục - đào tạo - sử dụng - bồi dưỡng; sức khoẻ và dinh dưỡng; đầu tư - việc làm; sự giải phóng con người Trong năm nhân tố đó, nhân tố giáo dục và đào tạo là nhân tố giữ vai trò quan trọng hơn tất cả bởi nó là cơ sở cho sự phát triển của các nhân tố khác Một số quan niệm nghiên cứu cho rằng: phát triển nguồn nhân lực bao
Trang 17gồm ba mặt chủ yếu: giáo dục - đào tạo, sử dụng - bồi dưỡng và đầu tư - việc làm
Phát triển nguồn nhân lực được đặt trong nhiệm vụ quản lý nguồn nhân lực và là một nội dung quan trọng của quản lý nguồn nhân lực Có thể hình dung quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển nguồn nhân lực qua sơ đồ dưới đây
Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực
với quản lý nguồn nhân lực 1.2.2.3 Phát triển đội ngũ giảng viên
Phát triển đội ngũ giảng viên là tạo ra một đội ngũ (một tổ chức) giảng viên cho một trường Cao đẳng, Đại học đủ về số lượng, đảm bảo về chất
Quản lý nguồn nhân lực
Phát triển nguồn
nhân lực
Sử dụng nguồn nhân lực
Môi trường nguồn nhân lực
- Mở rộng việc làm
- Mở rộng quy mô
- Phát triển tổ chức
- Đánh giá
Trang 18lượng, có trình độ được đào tạo đúng quy định có phẩm chất đạo đức, có năng lực trong quá trình dạy học và giáo dục sinh viên, trên cơ sở đó đội ngũ này được đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu của chương trình đào tạo giáo dục Đại học.
1.2.3 Giải pháp và giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên
1.2.3.1 Giải pháp
Theo Từ điển tiếng Việt “giải pháp là phương pháp giải quyết một công
việc, một vấn đề cụ thể” [24, 378]
Để hiểu rõ hơn về khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt rõ một
số khái niệm tương tự như: phương pháp, biện pháp Điểm giống nhau của các khái niệm này là đều nói về cách tiến hành, cách giải quyết một công việc, một vấn đề Còn điểm khác là ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn mạnh đến trình
tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mục đích
Trong một giải pháp có thể có nhiều biện pháp, giải pháp được đánh giá theo các tiêu chí sau:
+ Tính hiện thực: giải pháp phải giải quyết được vấn đề đặt ra
+ Tính hiệu quả: giải pháp phải giải quyết được vấn đề đặt ra và không làm nảy sinh những vấn đề phức tạp hơn
+ Tính khả thi: giải pháp không bị các yếu tố chi phối, nó ràng buộc ở góc độ cao
1.2.3.2 Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên
Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên là hệ thống các cách tổ chức, điều khiển hoạt động phát triển đội ngũ giảng viên Từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên thực chất là đưa ra các cách tổ chức, điều khiển có hiệu quả hoạt động phát triển đội ngũ giảng viên theo hai hướng sau đây:
Trang 19- Xác định giải pháp tương ứng với các phương pháp phát triển đội ngũ giảng viên Mỗi phương pháp phát triển đội ngũ giảng viên sẽ bao gồm những giải pháp cụ thể Những giải pháp này tác động đến những khía cạnh khác nhau của đội ngũ giảng viên và tạo ra sự thay đổi của đội ngũ theo mục tiêu
đã xác định
- Xác định giải pháp theo nội dung phát triển đội ngũ giảng viên Xuất phát từ các đặc trưng và các nội dung của công tác phát triển đội ngũ giảng viên Trường CĐ VH, TT&DL xác định được các giải pháp phát triển đội ngũ này Đây là các giải pháp mang tính độc lập tương đối tương ứng với hoạt động cụ thể được thực hiện theo nội dung của công tác phát triển đội ngũ nhằm tác động đến các thành tố của đội ngũ
Với tư cách là những hoạt động cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ xác định trong công tác phát triển đội ngũ, các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên có khả năng tác động để làm thay đổi về số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ giảng viên Chẳng hạn với nội dung giáo dục bồi dưỡng của công tác phát triển đội ngũ hàng loạt các tác động có thể được triển khai để nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp cho đội ngũ giảng viên
Trong khuôn khổ luận văn này, các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên sẽ được xác định theo phức hợp các định hướng đã nêu trên Từ đó, chúng tôi quan niệm: giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường CĐ VH, TT&DL là các hoạt động cụ thể được chủ thể quản lý, sử dụng tác động đến các thành tố cấu trúc của đội ngũ giảng viên nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại của đội ngũ này, phát triển nó theo mục tiêu đã xác định
1.3 Một số vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ
1.3.1 Một số nội dung về công tác cán bộ trong Nghị quyết của Đảng
Trong quá trình thực hiện CNH - HĐH vai trò đội ngũ cán bộ là cực kỳ quan trọng vì họ là người vạch ra kế sách; người tổ chức thực hiện các mục
Trang 20tiêu đề ra, vì vậy việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trở nên quan trọng
và cấp bách
“Một đội ngũ cán bộ có chất lượng cao là đội ngũ có đủ bản lĩnh, phẩm chất và năng lực, nắm bắt được các yêu cầu của thời đại, có đủ tài năng, đạo đức và ý chí để thiết kế và tổ chức thực hiện những kế hoạch của tiến trình CNH - HĐH” [29, 109]
Nghị quyết lần thứ 4 BCH TW khoá VII đã ghi: “Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục: Đối với giáo viên, khuyến khích người giỏi làm nghề dạy học Có chính sách ưu đãi đặc biệt về tiền lương và phụ cấp đối với giáo viên giảng dạy ở những nơi khó khăn thuộc vùng cao, vùng sâu, hải đảo và một số vùng miền núi” [11, 65]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH TW khoá VIII về chiến lược cán
bộ thời kỳ CNH - HĐH đất nước đã xác định mục tiêu xây dựng đội ngũ cán
bộ đến năm 2020 là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có đủ bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH - HĐH, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội” [12, 36]
Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng khoá VIII nói về đổi mới công tác đào tạo đội ngũ giáo viên ghi: “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục Sử dụng giáo viên đúng năng lực, đãi ngộ đúng công tác và tài năng với tinh thần ưu đãi và tôn vinh nghề dạy học” [12, 109]
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX ghi: “Phát triển đội ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng giáo dục và đạo đức sư phạm, cải thiện chế độ đãi ngộ Bảo đảm về cơ bản đội ngũ giáo viên đạt chuẩn quốc gia và tỉ lệ giáo viên so
Trang 21với học sinh theo yêu cầu của từng cấp học Có cơ chế chính sách đảm bảo đủ giáo viên cho các vùng miền núi cao, hải đảo” [14, 204].
Kết luận của Hội nghị lần thứ sáu BCH TW khoá IX và tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 2 khoá VIII, phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đến năm 2005 và đến năm 2010 ghi rõ: “Ban chấp hành Trung ương chủ trương từ nay đến năm 2010 toàn Đảng, toàn dân mà nòng cốt là đội ngũ giáo viên và cán bộ giáo dục cần tập trung vào những nhiệm vụ sau: Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, trước hết cần nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo Thực hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt chú trọng giáo dục tư tưởng, lối sống cho người học” [20, 128]
Chỉ thị 40/CT-TƯ của Ban Bí thư TW Đảng khoá IX ngày 15/06/2004
về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã chỉ đạo: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 và chấn hưng đất nước Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ
về số lượng, đồng bộ về cơ cấu…”
Trên đây là một số Văn kiện cơ bản của Đảng, liên quan đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ nhà giáo nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Những định hướng
đó sẽ giúp cho việc tìm ra các biện pháp để xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên Trường CĐ VH, TT&DL Nguyễn Du
1.3.2 Quan niệm về xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên
1.3.2.1 Xây dựng và phát triển
Trang 22Theo Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 1997 khái niệm xây dựng
mang ý nghĩa xã hội:
1 Làm hình thành một bộ máy hay một chỉnh thể xã hội, chính trị, kinh
tế, văn hoá theo một phương hướng nhất định
2 Tạo ra, sáng tạo ra cái có giá trị tinh thần, có ý nghĩa trừu tượng
Theo Từ điển Hán - Việt, phát triển có nghĩa là “mở mang ra”.
Theo Từ điển tiếng Việt, phát triển là: “Biến đổi hoặc làm cho biến đổi
từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [24, 743]
Triết học lại quan niệm: “Ở cấp độ chung nhất, phát triển được hiểu là
sự thay đổi hay biến đổi tiến bộ, là một phương thức của vận động, hay là quá trình diễn ra có nguyên nhân, dưới những hình thức khác nhau như tăng trưởng, tiến hoá, phân hoá, chuyển đổi, mở rộng cuối cùng tạo ra sự biến đổi
về chất” [33, 35]
Các tác giả Việt Nam cũng đưa ra khái niệm: “Ở cấp độ chung nhất, phát triển được hiểu là sự thay đổi hay biến đổi tiến bộ, là một phương thức hay quá trình diễn ra có nguyên nhân dưới những hình thức khác nhau như tăng trưởng, tiến hoá, phân hoá, chuyển đổi, mở rộng cuối cùng là tạo ra sự biến đổi về chất” [22, 43]
Ngoài ra còn có nhiều cách hiểu khác về khái niệm phát triển, xuất phát
từ nhiều góc độ nghiên cứu Tuy nhiên có thể thống nhất coi phát triển phương thức vận động làm biến đổi theo chiều hướng tích cực, tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng và sắp xếp điều chỉnh cơ cấu một cách hợp lý hơn.
1.3.2.2 Quan niệm về xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên
Như vậy, việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên trước hết phải tạo ra một đội ngũ (một tổ chức các nhà giáo), từ đó phát triển đội ngũ cả về
số lượng, chất lượng, cơ cấu, giới tính
Trang 23Việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên thực chất là phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục Theo GS.TSKH Nguyễn Minh Đường, phát triển nguồn nhân lực có thể hiểu như sau:
“+ Với nghĩa hẹp nhất, đó là quá trình đào tạo và đào tạo lại, trang bị hoặc
bổ sung thêm những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để người lao động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ mà họ đang làm hoặc tìm một việc làm mới
+ Với nghĩa rộng hơn bao gồm cả bổ túc văn hoá cho người lớn, xoá mù chữ là những cơ sở trí thức cần thiết để học nghề và phát triển nghề nghiệp
+ Phát triển nguồn nhân lực được hiểu với một khái niệm rộng hơn bao gồm cả ba mặt: phát triển sinh thể, phát triển nhân cách đồng thời tạo một môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn lợi phát triển” [17, 27]
Việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên thực chất là phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục
Đội ngũ nhà giáo nói chung và đội ngũ giảng viên trong trường cao đẳng nói riêng là nguồn nhân lực rất quan trọng, quyết định chất lượng GD&ĐT, quyết định sự phát triển của nhà trường
Đội ngũ giảng viên, như đã nêu trên, có những đặc trưng về số lượng,
cơ cấu và chất lượng Phát triển đội ngũ giảng viên phải mang tính toàn diện
và bền vững trên cả ba mặt đã nêu trên
Phát triển đội ngũ giảng viên về mặt số lượng là bằng các phương thức vận động trong công tác quản lý để gia tăng số lượng hiện có theo yêu cầu đủ giảng viên giảng dạy, NCKH ở tất cả các bộ phận của các ngành nghề đào tạo hiện nay Chọn trong số giảng viên làm công tác giảng dạy một số giảng viên
có kiến thức, có kỹ năng và hứng thú các hoạt động giáo dục, hoạt động xã hội, kiêm nhiệm các mặt hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS - SV theo quy định Cán bộ, giảng viên làm công tác kiêm nhiệm được giảm định mức giảng dạy, được quy định tại Thông tư 37/TT, ngày 14/11/1980 của Bộ
Trang 24Giáo dục (nay là Bộ GD&ĐT) Mục tiêu chung là giảm tỷ lệ SV/GV đề đạt bình quân 20 SV/GV vào năm 2010, trong đó chú ý đặc thù của từng môn học, ngành học.
Phát triển cơ cấu đội ngũ giảng viên là chuyển đổi, điều chỉnh, bổ sung thành phần giảng viên hiện có sao cho hợp lý, cân đối, đồng bộ Tính hợp lý và đồng bộ được thể hiện ở chỗ: giải quyết được mâu thuẫn nội tại, phát huy được sức mạnh tổng hợp, hạn chế được những bất cập yếu kém của đơn vị, bộ phận
Phát triển chất lượng là làm chuyển biến chất lượng theo hướng tích cực Cần coi trọng phát triển cả về bề rộng và chiều sâu Nói theo thuật ngữ thường dùng trong giáo dục - đào tạo là phát triển đại trà và mũi nhọn Tức là vừa phát triển chất lượng toàn diện, vừa nâng cao chất lượng của từng mặt Phát triển chất lượng đội ngũ GV trên cơ sở phát triển chất lượng giảng viên Chúng ta coi đội ngũ giảng viên là nguồn nhân lực, trong đó mỗi GV là con người cụ thể của nguồn nhân lực, giữa chúng có mối quan hệ hết sức bền chặt Về mặt giá trị, phát triển con người là gia tăng giá trị nói chung của con người, còn phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị sử dụng của con người, vì thế, trong nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực luôn luôn đặt ra mục tiêu phát triển con người: có con người phát triển đầy đủ giá trị thì mới có nhân lực chất lượng cao
Chính vì vậy, bằng các con đường, các biện pháp quản lý tạo điều kiện
và cơ hội để mỗi giảng viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, về phẩm chất, đạo đức, tư tưởng, về sức khoẻ thể chất và tinh thần Đồng thời phải luôn luôn
có ý thức và hành động cụ thể để nâng cao trình độ đã đạt Trong điều kiện cụ thể cần có sự lựa chọn ưu tiên nâng cao chất lượng từng tiêu chí để đạt hiệu quả phát triển
Phát triển đội ngũ giảng viên trên cơ sở phát triển (gia tăng) về số lượng, phát triển (nâng cao) về chất lượng và phát triển (điều chỉnh, chuyển đổi) về cơ cấu Trong quá trình phát triển phải luôn coi trọng tính cân đối, hợp
Trang 25lý giữa các mặt nêu trên Đồng thời để bảo đảm sự phát triển bền vững của đội ngũ giảng viên, cần tính đến yếu tố môi trường xã hội về nguồn nhân lực lao động trong tương lai và những yêu cầu để hội nhập khu vực và quốc tế.
1.3.3 Công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên của Hiệu trưởng
Luật Giáo dục 2005 quy định: “Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục” và
“Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” [18] Vì vậy, việc quản lý đội ngũ giảng viên là nhiệm vụ rất quan trọng của người Hiệu trưởng trong nhà trường
Điều lệ trường cao đẳng còn quy định: “Hiệu trưởng là người đại diện theo pháp luật của nhà trường, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường theo các quy định của pháp luật, Điều lệ trường cao đẳng, các quy chế, quy định của Bộ GD&ĐT, Quy chế tổ chức và hoạt động của trường đã được cơ quan chủ quản phê duyệt”
Cũng như quản lý nói chung, quản lý đội ngũ giảng viên cũng theo các chức năng: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
1.3.4 Kế hoạch hoá công tác phát triển đội ngũ giảng viên
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chi: “Kế hoạch hoá nguồn nhân lực là lập kế hoạch để đáp ứng những nhu cầu trong tương lai về nhân sự của tổ chức khi tính đến cả những nhân tố bên trong và những nhân
tố của môi trường bên ngoài Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệ thống quản lý và bị quản lý” [9, 32]
Việc lập kế hoạch phát triển đội ngũ phải căn cứ vào quy hoạch phát triển nhà trường, trong đó có phát triển đội ngũ; vào mục tiêu chiến lược của ngành học, bậc học đã được Bộ GD&ĐT quy định Đồng thời, kế hoạch còn
Trang 26phải căn cứ vào tình hình thực tiễn của nhà trường tức là bối cảnh môi trường hoạt động (bên trong và bên ngoài) của nhà trường.
Quy trình lập kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên bao gồm các bước:
Thứ nhất: Nhận thức đầy đủ về yêu cầu phát triển đội ngũ GV đáp ứng
mục tiêu xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo theo Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư TW; đáp ứng mục tiêu dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 và yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục đại học sắp tới
Thứ hai: Phân tích đánh giá đúng thực trạng đội ngũ GV và thực trạng
QL phát triển đội ngũ giảng viên Để làm được việc đó, phải dùng phương pháp phân tích SWOT, tức là phải thấy được:
- Những điểm mạnh (Strengths)
- Những điểm yếu (Weaknesecs)
- Thời cơ (Opportunities)
- Nguy cơ (Threats)
của công tác phát triển đội ngũ giảng viên hiện nay
Thứ ba: Xác định các nguồn lực cần thiết cho việc phát triển đội ngũ
giảng viên Đó là nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, nguồn lực về cơ
sở vật chất Nguồn lực ấy bao gồm nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài Trong đó nguồn lực bên trong (nội lực) là quan trọng và cơ bản
Thứ tư: Xác định mục tiêu cụ thể, các biện pháp, giải pháp và chương
trình, quy trình công tác phát triển đội ngũ giáo viên
Thông thường, ở cấp cơ sở như các nhà trường, trung tâm đào tạo, học viện… có các loại kế hoạch ngắn hạn (1 năm), trung hạn (3 - 5 năm) Cũng có thể có kế hoạch dài hạn (từ 10 năm) mang tính định hướng
1.4 Tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên
Trang 271.4.1 Giáo dục và vai trò của giáo dục trong sự phát triển kinh tế - xã hội
* Quan niệm về giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là một bộ phận cấu thành đời sống xã hội và được coi là cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội Giáo dục là một quá trình xã hội hoá liên tục và có tính phổ quát trong sự hiện diện của nó ở mọi thời đại, mọi giai đoạn lịch sử của nhân loại Giáo dục xuất hiện trong xã hội loài người, trong cộng đồng nhằm mục đích truyền thụ kinh nghiệm sống, truyền thụ kỹ năng lao động… cho các thế hệ tiếp nối và chức năng nguyên thuỷ của giáo dục là xã hội hoá cá nhân, giáo dục phát triển thành một quá trình tự giác và nhà trường xuất hiện Với ý nghĩa này giáo dục trở thành một quá trình tác động có tính chất định hướng ý thức và thể chất, nhằm hình thành và phát triển nhân cách, góp phần xã hội hoá nhân cách Chính vì lẽ đó
người ta coi giáo dục là “khai sáng” và “vầng trán của cộng đồng”.
* Vai trò của giáo dục trong sự phát triển kinh tế - xã hội
Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng ta xác định rõ: “Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta” Tại Đại hội toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta xác định: “Tiếp tục đưa đất nước ta bước vào công cuộc CNH - HĐH, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” Muốn vậy, lấy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, quan điểm này đặt ra cho chúng ta nhiều nhiệm vụ to lớn, nặng nề nhưng đầy vinh quang Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị con người trên các mặt đạo đức, tri thức, kỹ năng, tâm hồn, thể chất làm cho con người trở thành người lao động
có phẩm chất, năng lực ở mức cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu của công cuộc đổi mới mà Đảng đã chỉ ra
Trang 28Từ những quan niệm và cách nhìn về giáo dục như trên, Đảng ta đã:
Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân; coi giáo dục là nền móng cho sự phát triển khoa học kỹ thuật đem lại sự thinh vượng cho nền kinh tế quốc dân
1.4.2 Vai trò của đội ngũ giảng viên
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội loài người, từ hoạt động một cách tự phát nay nó trở thành một hệ thống giáo dục trong mỗi quốc gia Luật Giáo dục đã xác định
rõ vai trò của nhà giáo: “Nhà giáo giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách đảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình, giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học” [26, 5]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”
Đội ngũ giáo viên là người trực tiếp thực thi các mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục, với vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục đào tạo ở các trường, các
cơ sở giáo dục, đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục
Đất nước ta đang trên con đường đổi mới, từng bước thực hiện sự nghiệp CNH - HĐH với định hướng phấn đấu đưa nền kinh tế phát triển thành nền kinh tế tri thức Muốn làm được điều đó nền giáo dục phải được đầu tư đúng mức và người giáo viên phải luôn đi tiên phong
1.4.3 Vai trò của đội ngũ giảng viên trường cao đẳng
Trong hệ thống giáo dục - đào tạo đội ngũ giảng viên trường cao đẳng
có vai trò hết sức quan trọng Họ là hạt nhân lãnh đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của nhà trường mà ngành giáo dục và đào tạo giao phó Biến đường lối,
Trang 29chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực Nghị quyết Hội nghị TW
II khoá VIII của Đảng đã khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”
Giảng viên thông qua các hoạt động: Giảng dạy, nghiên cứu, hoạt động
xã hội, lao động sản xuất dịch vụ để hưởng tới mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo Do vậy đội ngũ giảng viên phải có đủ đức, tài được xã hội tôn vinh
và được đãi ngộ xứng đáng
1.5 Mục tiêu của giáo dục cao đẳng
- Đào tạo nhân lực trình độ cao đẳng có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp phù hợp, đáp ứng nhu cầu của xã hội, có khả năng hợp tác trong hoạt động nghề nghiệp, tự tạo được việc làm cho mình và cho xã hội
- Thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do các cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền giao; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học, triển khai nghiên cứu khoa học; phát triển và chuyển giao công nghệ, thực hiện các loại hình dịch vụ khoa học, công nghệ và sản xuất; sử dụng có hiệu quả kinh phí đầu tư phát triển khoa học và công nghệ
- Thực hiện dân chủ, bình đẳng, công khai trong việc bố trí và thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, khoa học, công nghệ và hoạt động tài chính; quản lý giảng viên, cán bộ, công nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ
về số lượng, đảm bảo yêu cầu về chất lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Đăng ký, tổ chức triển khai kiểm định chất lượng giáo dục và chịu sự quản lý chất lượng của cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục
- Tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ theo đúng quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 30- Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội
ngũ cán bộ giảng viên của trường
- Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài sản theo quy định của pháp luật
- Phối hợp với các tổ chức, cá nhân và gia đình của người học trong hoạt động giáo dục
- Tổ chức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo Chăm lo đời sống và bảo
vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của cán bộ, giảng viên nhà trường
- Giữ gìn và phát triển những di sản văn hoá dân tộc
- Thực hiện chế độ báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan quản lý các cấp về các hoạt động của trường theo quy định hiện hành
- Công khai những cam kết của trường về chất lượng đào tạo, chất lượng đào tạo thực tế của trường, các điều kiện đảm bảo chất lượng và thu chi tài chính hàng năm của trường
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
1.6 Yêu cầu chức danh giảng viên, yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên
1.6.1 Yêu cầu chức danh giảng viên
Là giảng viên trường cao đẳng phải đáp ứng yêu cầu sau:
1 Giảng viên trường cao đẳng phải có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; có trình độ chuyên môn, sức khoẻ tốt, lý lịch bản thân rõ ràng
2 Giảng viên các trường cao đẳng phải có trình độ từ đại học trở lên phù hợp với các môn học của ngành đào tạo Ưu tiên tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi và người có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành giảng viên
Trang 31Những người tốt nghiệp các ngành ngoài sư phạm phải có chứng chỉ nghiệp
vụ sư phạm
3 Giảng viên, cán bộ, nhân viên trường cao đẳng phải nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quy chế tổ chức hoạt động của trường và các quy định khác do Hiệu trưởng ban hành
4 Giảng viên trường cao đẳng phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể dưới đây:
a) Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường quy định; viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;
b) Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học;
c) Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;
d) Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người học, hướng dẫn người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức tác phong, lối sống;
đ) Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;
e) Hoàn thành tốt các công tác khác được trường, khoa, bộ môn giao
3 Nhiệm vụ cụ thể của cán bộ, nhân viên các đơn vị trong trường cao đẳng do Hiệu trưởng quy định
1.6.2 Yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên
Để phù hợp với sự phát triển về quy mô và chất lượng đào tạo việc phát triển theo định hướng phát triển nhà trường giai đoạn 2010 - 2015, và tầm nhìn đến năm 2020 việc phát triển đội ngũ giảng viên cần phải:
Trang 32- Xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng có tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
- Xây dựng thái độ tích cực đối với hoạt động sư phạm, có phong cách dân chủ, tập thể, lối sống đoàn kết, giản dị
- Xây dựng tinh thần không ngừng tự vươn lên tự học, tự nâng cao trình
độ và nghiên cứu khoa học
- Trau dồi năng lực sư phạm đáp ứng sự đổi mới ngày càng cao của yêu cầu dạy học
Như vậy, đội ngũ giảng viên trường cao đẳng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ học vấn tương xứng với nhiệm vụ được giao, có trình
độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực sư phạm tốt, hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, xứng đáng là người chiến sỹ trên mặt trận giáo dục
1.7 Tiêu chuẩn chức danh giảng viên trường cao đẳng
1.7.1 Giảng viên
- Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm trở lên hoặc có bằng tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp với chuyên môn, chuyên ngành giảng dạy và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm;
- Có đề án hoặc đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường được công nhận
và áp dụng có kết quả trong chuyên môn;
Trang 33- Có trình độ Trung cấp lý luận chính trị - hành chính hoặc trung cấp chính trị và chứng chỉ bồi dưỡng quản lý hành chính theo quy định.
1.7.3 Giảng viên cao cấp
- Có bằng tiến sĩ phù hợp với chuyên môn, chuyên ngành giảng dạy
- Có ngoại ngữ trình độ C trở lên;
- Có tin học trình độ C trở lên;
- Có đề án hoặc đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh hoặc cấp bộ, ngành trở lên được Hội đồng khoa học công nhận và áp dụng có kết quả trong chuyên môn;
- Có trình độ cao cấp lý luận chính trị - hành chính hoặc cao cấp chính trị và chứng chỉ bồi dưỡng quản lý hành chính theo quy định
2 Việc phát đội ngũ giảng viên là một trong những nội dung chủ yếu của quản lý nguồn nhân lực trong các nhà trường Phát triển đội ngũ giảng viên cần phảỉ thực hiện theo quy chế, quy định thống nhất, trên cơ sở pháp
Trang 34luật Nhà nước, theo sự hướng dẫn của các Bộ, ngành chủ quản Vì vậy, việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên vừa là nhiệm vụ trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm thực hiện thành công sự nghiệp giáo dục
và đào tạo
Trang 35Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc - Trung Bộ, là một trong những địa phương có
vị trí chiến lược quan trọng, được mệnh danh là “phên dậu” của đất nước Với diện tích hơn 6.000km2, Hà Tĩnh hầu như hội đủ các vùng sinh thái rừng núi, đồng bằng, biển và bề dày lịch sử hào hùng gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc
Hà Tĩnh không chỉ là nơi có điều kiện tự nhiên và khí hậu khắc nghiệt, đòi hỏi con người lúc nào cũng phải vươn lên để vượt qua, mà còn là mảnh đất phải chịu đựng sự hy sinh mất mát nặng nề qua các cuộc chiến tranh Trong thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong cao trào cách mạng như Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), những địa danh như Thị trấn Nghèn, đất thép Kỳ Trinh, Ngã ba Đồng Lộc, đường Khe Giao đã đi vào lịch sử như một thiên anh hùng ca bất tử, tiêu biểu cho lòng yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam Hà Tĩnh còn là nơi sinh dưỡng những danh nhân, anh hùng hào kiệt như Mai Thúc Loan, Đặng Tất, Đặng Dung, Phan Đình Phùng, Trần Phú, Hà Huy Tập,… và nhiều thi nhân, nhiều ngôi sao sáng của thi đàn Việt Nam như Đại thi hào Nguyễn Du - danh nhân văn hóa thế giới, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Tự, Xuân Diệu, Huy Cận,… Không chỉ vậy, Hà Tĩnh còn nổi danh với nhiều tên tuổi lớn như Giáo sư Toán học - nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt Nam Hoàng Xuân Hãn; Giáo sư Toán học Lê Văn Thiêm, Giáo sư - Tiến sĩ Vật lý Nguyễn Đình Tứ, Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, v.v…
Hà Tĩnh còn là nơi có nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng như núi Hồng, sông Lam, chùa Hương Tích, rừng quốc gia Vũ Quang, hồ Kẻ Gỗ, suối
Trang 36nước nóng Sơn Kim, bãi biển Thiên Cầm, Thạch Hải, Xuân Thành, Đèo Con… và nhiều di tích lịch sử như: Khu di tích Đại Thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ; Tổng Bí thư Trần Phú, Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Phan Đình Phùng, Hải thượng Lãn ông Lê Hữu Trác, đền Củi, đền Bích Châu, đền Chiêu trưng Đại Vương v.v… và hàng trăm di tích lịch sử văn hóa có giá trị khác là những tiềm năng, thế mạnh để Hà Tĩnh phát triển du lịch với nhiều loại hình đa dạng.
Trong công cuộc đổi mới, tiếp nối truyền thống cha ông, Hà Tĩnh đã cùng
cả nước bước vào thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Sau khi tái lập tỉnh, Hà Tĩnh đã tạo được bước phát triển mới, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, thương mại, thu nhập và đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Từ một tỉnh thiếu đói, đến nay Hà Tĩnh đã tự túc được lương thực và bước đầu đã có tích lũy
Tuy nhiên, đến nay Hà Tĩnh vẫn đang là một tỉnh nghèo, công nghiệp còn nhỏ lẻ, đời sống nhân dân ở nhiều vùng vẫn còn khó khăn, những tiềm năng về du lịch, về tài nguyên khoáng sản, về những thuận lợi trong phát triển kinh tế vẫn chưa được khai thác, phát huy Vì vậy trong những năm tới vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, tiến công vào đói nghèo, lạc hậu là mục tiêu hết sức quan trọng của Hà Tĩnh
2.2 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển Trường Cao đẳng Văn hoá, Thể thao và Du lịch Nguyễn Du, tỉnh Hà Tĩnh
Ngày 04 tháng 04 năm 2011, Trường Cao đẳng Văn hoá, Thể thao và
Du lịch Nguyễn Du được thành lập theo Quyết định số 1328/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tỉnh Hà Tĩnh đã có Trường Văn hóa, Nghệ thuật từ năm 1964 nhưng đến năm 1976 sau khi nhập tỉnh, Trường Văn hóa, Nghệ thuật Hà Tĩnh đã sáp
Trang 37nhập với Trường Văn hóa, Nghệ thuật Nghệ An trở thành Trường Văn hoá, Nghệ thuật Nghệ Tĩnh 15 năm nhập tỉnh tất cả những thành quả xây dựng và hoạt động nghệ thuật đều tập trung tại thành phố Vinh Khi chia tỉnh, Trường Trung học Văn hoá nghệ thuật đã không chia vì thế Hà Tĩnh không có trường đào tạo cán bộ văn hoá nghệ thuật Năm 1991, sau khi tách tỉnh, trước sự thiếu thốn đội ngũ cán bộ, diễn viên hoạt động văn hoá, nghệ thuật ở tất cả các địa phương, Đoàn Ca - Múa - Kịch Hà Tĩnh đã tuyển gần 20 học sinh đào tạo các ngành Sân khấu, Âm nhạc; đến năm 1993, Trung tâm Văn hoá, Thông tin và Triển lãm Hà Tĩnh tuyển sinh 53 học sinh đào tạo nghiệp vụ Văn hóa quần chúng thông tin, Âm nhạc và Mỹ thuật Trước sự ra đời của hai cơ sở đào tạo, hơn nữa trước nhu cầu cần phải cung cấp một đội ngũ cán bộ văn hoá cho các trung tâm văn hoá huyện, thị nên năm 1994 UBND tỉnh đã ra quyết định thành lập Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Văn hoá - Nghệ thuật
Hà Tĩnh (đóng tại thị trấn Cày huyện Thạch Hà) Ngày 15/06/1996, UBND tỉnh đã có quyết định thành lập Trường Trung cấp Văn hoá, Nghệ thuật Hà Tĩnh, trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ Văn hóa, Nghệ thuật Hà Tĩnh
Năm 1997, UBND tỉnh quyết định đầu tư xây dựng Trường tại trung tâm thị xã Hà Tĩnh Đến năm 2000, Trường Trung cấp Văn hoá, Nghệ thuật
Hà Tĩnh chuyển vào địa điểm chính thức tại khối phố 4, phường Đại Nài, thị
xã Hà Tĩnh (nay là thành phố Hà Tĩnh) Tuy còn hạn chế về nhiều mặt, nhưng với một khuôn viên được xây dựng mới đã tạo nên tâm lý “an cư lạc nghiệp” cho đội ngũ cán bộ, giáo viên Nhà trường đã nhanh chóng ổn định bắt tay vào sự nghiệp đào tạo một cách toàn diện, chính quy Năm 1998, UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định số 609/QĐ-UBTC ngày 25/09/1998 về việc nâng Trường Trung cấp Văn hoá, Nghệ thuật Hà Tĩnh từ hạng II lên hạng I
Trang 38Trải qua 15 năm phát triển từ cái nôi của trường trung cấp, với yêu cầu ngày càng phát triển của xã hội học tập và yêu cầu ngày càng cao của nguồn nhân lực thì việc nâng cấp Trường Trung cấp Văn hoá nghệ thuật Hà Tĩnh thành Trường Cao đẳng Văn hoá, Thể thao và Du lịch Nguyễn Du là hoàn toàn phù hợp với định huớng phát triển giáo dục đào và đinh hướng phát triển của tỉnh nhà, đồng thời mở ra một giai đoạn phát triển mới của Nhà trường.
2.2.1 Quy mô và cơ cấu tổ chức
Toàn trường có 10 đơn vị trực thuộc Ban Giám hiệu: 04 phòng ban chức năng, 04 khoa và 02 trung tâm
2.2.2.1 Các đơn vị quản lý hành chính
- Phòng Tổ chức - Hành chính tổng hợp;
- Phòng Đào tạo - Quản lý học sinh - sinh viên;
- Phòng Thanh tra - Khảo thí và Kiểm định chất lượng;
- Phòng Quan hệ quốc tế - Nghiên cứu khoa học;
- Ban Quản lý dự án
2.2.1.2 Các đơn vị, tổ chức chuyên môn, đào tạo
- Khoa Âm nhạc - Sân khấu - Múa đào tạo các ngành: Thanh nhạc, đàn Guitar, đàn Organ, đàn Bầu, đàn Thập lục, đàn Tam thập lục, đàn Nguyệt, Diễn viên múa, Biên đạo múa; Diễn viên sân khấu Đạo diễn sân khấu;
- Khoa Hội hoạ đào tạo các ngành: Hội họa, Đồ họa ứng dụng;
- Khoa Sư phạm Nhạc - Họa đào tạo các ngành: Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật; Sư phạm Giáo dục Thể chất;
- Khoa Văn hóa - Du lịch đào tạo các ngành: Văn hoá Du lịch, Thư viện cơ sở, Văn hoá cơ sở, Bảo tồn - Bảo tàng, Phát hành sách, Quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa ở cơ sở;
- Trung tâm Thực hành biểu diễn nghệ thuật và tổ chức sự kiện;
- Trung tâm Thực hành và triển lãm mỹ thuật
Trang 392.2.2 Về đào tạo
Ngay từ khi có Quyết định nâng cấp thành trường Cao đẳng, trường đã phát huy truyền thống và năng lực đào tạo để tổ chức đào tạo theo hướng cốt lõi là các ngành âm nhạc, hội hoạ, sư phạm, du lịch… Hiện nay, trường đang hoàn tất hồ sơ mở mã ngành đào tạo, dự kiến năm học 2012 - 2013 sẽ tuyển sinh 05 mã ngành cao đẳng và 04 mã ngành trung cấp
Về thành tích đào tạo: Từ khi còn là trường Trung cấp Văn hóa, Nghệ thuật Hà Tĩnh trường đã đào tạo được gần 2000 cán bộ văn hoá quần chúng các chuyên ngành âm nhạc, hội hoạ, quản lý văn hoá cơ sở, giáo viên âm nhạc, mỹ thuật cho các trường tiểu học Sinh viên tốt nghiệp ra trường đã đáp ứng một phần nhu cầu nguồn nhân lực của tỉnh nhà và được đánh giá tốt
Về các ngành đào tạo:
* Bậc trung cấp:
- Ngành Âm nhạc: Gồm các chuyên ngành: Thanh nhạc, đàn Guitar, đàn Organ, đàn Bầu, đàn Thập lục, đàn Tam thập lục, đàn Nguyệt
- Ngành Hội hoạ: Gồm các chuyên ngành Hội họa, Đồ họa ứng dụng
- Ngành Sư phạm: Gồm các chuyên ngành: Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật; Sư phạm Giáo dục Thể chất
- Ngành Sân khấu - Múa: Gồm các chuyên ngành: Diễn viên sân khấu, Đạo diễn sân khấu, Diễn viên Múa, Biên đạo Múa
- Ngành Văn hóa: Gồm các chuyên ngành: Ngành Du lịch: Nghiệp vụ khách sạn - nhà hàng, Nghiệp vụ lữ hành, Hướng dẫn viên du lịch
- Ngành Thể thao: Năng khiếu thể thao tuổi nhỏ: Bóng bàn, Điền kinh,
Võ dân tộc, Bơi lội, Cầu lông, Thể dục dụng cụ và Thể dục nhịp điệu
* Bậc cao đẳng:
- Ngành Âm nhạc: Gồm các chuyên ngành: Thanh nhạc, đàn Piano, đàn Organ, đàn Guitar, đàn Bầu, đàn Thập lục, đàn Tam thập lục, Sáo trúc, đàn Nhị, đàn Nguyệt, Trống;
Trang 40- Ngành Hội họa: Gồm các chuyên ngành: Hội họa, Đồ họa ứng dụng, Điêu khắc, Mĩ thuật công nghiệp;
- Ngành Sư phạm: Gồm các chuyên ngành: Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật, Sư phạm Giáo dục thể chất;
- Ngành Múa: Gồm các chuyên ngành: Diễn viên múa, Biên đạo múa;
- Ngành Sân khấu: Gồm các chuyên ngành: Diễn viên sân khấu, Đạo diễn sân khấu;
- Ngành Văn hóa - Du lịch: Gồm các chuyên ngành: Thư viện - Thông tin, Quản lý Văn hoá, Bảo tồn - Bảo tàng, Quản trị kinh doanh nhà hàng, khách sạn; Tổ chức và quản lý các hoạt động văn hóa cơ sở;
- Ngành Du lịch: Gồm các ngành: Nhà hàng - Khách sạn, Lữ hành - Hướng dẫn;
- Ngành Thể thao: Tổ chức và quản lý các hoạt động thể dục - thể thao
cơ sở: Điền kinh, Thể dục, Bóng chuyền, Cầu lông, Bóng bàn, Bóng đá, Bóng
rổ, Bóng ném, Bơi lội, Võ dân tộc, Cờ vua, Trò chơi vận động, Đá cầu và Môn thể thao nâng cao
* Liên kết đào tạo bậc đại học:
Quản lý văn hóa, Thư viện, Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mĩ thuật, Sư phạm Giáo dục thể chất, Du lịch, Thể dục - thể thao, Âm nhạc, Mĩ thuật, Sân khấu, Múa, v.v
* Bồi dưỡng nghiệp vụ:
Quản lý Văn hoá cơ sở, Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mĩ thuật, các chuyên ngành nghệ thuật, thể thao và du lịch
Về chất lượng giáo dục: Trong những năm qua, Trường CĐ VH, TT&DL Nguyễn Du đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục - Đào tạo đánh giá cao về phương pháp tổ chức đào tạo thích ứng với xu thế đổi mới Trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế và thực hiện công cuộc xây