đưa ra định hướng và một số kiến nghị trong việc đổi mới công tác quản lý và sửdụng công trình thuỷ nông ở nước ta.1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1 Mục tiêu chung Qua nghiên cứu tình hình t
Trang 1MỤC LỤC3.1 Đặc điểm ở Việt Nam 10
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do nghiên cứu đề tài
Với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tếđộc lập tự chủ, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiệnđại vào năm 2020; muốn vậy trước hết nông nghiệp và nông thôn phải phát triển lênmột trình độ mới bằng việc đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu đượctrên một đơn vị diện tích, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; phát triển côngnghiệp, dịch vụ, các làng nghề ở nông thôn, tạo nhiều việc làm mới
Để đáp ứng những mục tiêu đó Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đầu tư rấtnhiều tiền của, công sức để xây dựng hệ thống các công trình thuỷ lợi nhằm phục vụphát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên hiện nay, những công trìnhthuỷ lợi này mới chỉ khai thác khoảng 50-60% công suất thiết kế Để nâng cao hiệuquả khai thác các công trình, vấn đè quan trọng và cấp thiết đặt ra là phải tổ chứcquản lý và sử dụng công tác thuỷ nông Mặt khác, công tác thuỷ lợi phục vụ sảnxuất nông-lâm-ngư-diêm nghiệp và kinh tế nông thôn đang đứng trước những thời
cơ và thách thức mới Đó là việc đảm bảo nước để ổn định khoảng 4 triệu ha đất cóđiều kiện sản xuất lúa, giữ vững an ninh lương thực với sản lượng lương thực có hạtkhoảng 40 triệu tấn vào năm 2010; có các giải pháp thuỷ lợi hiệu quả phục vụ cho 3triệu ha cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm, khoảng 1,2 triệu ha cây côngnghiệp hàng năm; cung cấp nước cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, cáclàng nghề nông thôn, cung cấp nước sạch cho cư dân nông thôn; xây dựng các hệthống cung cấp nước để làm muối chất lượng cao và nuôi trồng thuỷ, hải sản với qui
mô lớn; xử lý nước thải từ các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, từ các làng nghề,
từ các cơ sở sản xuất công nghiệp dịch vụ ở nông thôn Trong những thập niên vừaqua, thuỷ lợi là yếu tố chiếm hơn một nửa chi tiêu nông nghiệp và đóng góp chủyếu vào tăng trưởng nhanh chóng của xuất khẩu và việc làm trong nông nghiệp
Với các lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Chính sách tổ
chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi” Từ thực tiễn ở Việt Nam và các
nước trong khu vực về tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi Bài viết đã
Trang 3đưa ra định hướng và một số kiến nghị trong việc đổi mới công tác quản lý và sửdụng công trình thuỷ nông ở nước ta.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Qua nghiên cứu tình hình tổ chức quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợitrong những năm gần đây từ đó thấy được tác động của việc tổ chức quản lý và sửdụng công tình thuỷ lợi đến phát triển nông nghiệp
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về bản chất, đặc điểm của việc tổ chức quản lý và
sử dụng công trình thuỷ lợi trong nông nghiệp
Đánh giá tác động của quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi với phát triểnnông nghiệp ở nước ta
Kiến nghị một số định hướng chính sách
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Về thời gian
Chính sách thuỷ lợi là chính sách trong dài hạn, ảnh hưởng và tác động của
nó trong thời gian dài Số liệu thu thập chủ yếu từ năm 2001- 2006
Thời gian nghiên cứu 4 tuần
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
Trang 4Số liệu sử dụng chủ yếu trong chủ đề nghiên cứu là tài liệu thứ cấp hầu hếtcác tài liệu được thu thập qua sách, báo, internet.
Chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ về chíên lược phát triển thuỷ lợi.Các lý luận từ sách giáo khoa, sách chuyên khảo
Các thông tin trên báo và tạp trí liên quan, internet…
Các nghiên cứu trước
1.4.2 Phương pháp phân tích
1.4.2.1 Phương pháp phân tích kinh tế
Dùng để đánh giá hiện tượng trong mối quan hệ tổng hoà với mối quan hệ khác
1.4.2.3 Phương pháp phân tích thống kê
Dựa trên các số liệu đã được phân tổ chia tách trong bảng và xem nhữngthông số đó nói lên điều gì?
1.4.2.4 Phương pháp phân tích chính sách
Dựa trên những mô hình chính sách phân tích thặng dư người sản xuất vàtiêu dùng
Trang 5II CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Các khái niệm
2.1.2 Công trình thủy lợi
“Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặtlợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằngsinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫnnước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại”
2.1.3 Hệ thống công trình thủy lợi
Hệ thống công trình thủy lợi bao gồm các công trình thủy lợi có liên quantrực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định (Pháplệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi)
2.1.4 Thủy lợi phí
Để đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển thủy lợi phục vụ cho sự nghiệpphát triển kinh tế, xã hội, trong từng giai đoạn Nhà nước đã ban hành chính sáchThủy lợi phí :
Trong đó “Thủy lợi phí là phí dịch vụ về nước thu từ tổ chức, cá nhân sử dụngnước hoặc làm dịch vụ từ công trình thủy lợi cho mục đích sản xuất nông nghiệp đểgóp phần chi phí cho việc quản lý, duy tu, bảo dưỡng và bảo vệ công trình thủylợi”
2.1.5 Quản lý công trình thủy lợi
Quản lý: “ Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành,hướng dẫn, kiểm tra các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúngphát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhàquản lý với chi phí hợp lý Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động củacác bộ phận nhằm đạt tới một mục tiêu nhất định
Quản lý công trình thủy lợi là quá trình bảo đảm duy trì các hoạt động củacông trình thủy lợi để công trình phát huy tác dụng, hiệu quả và bền vững Quản lý
là quá trình điều hành hệ thống theo một cơ chế quản lý phù hợp, bao gồm công tác
kế hoạch hóa, điều hành bộ máy, quản lý vận hành, duy tu công trình, quản lý tàisản cố định
Một hệ thống thủy lợi sau khi được xây dựng xong, được đưa vào khai thác
và sử dụng cần thiết lập một bộ máy quản lý để khai thác tốt nhất hiệu ích của hệthống công trình, phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ cho sự phát triểndân sinh, kinh tế, xã hội
Trang 62.1.6 Hệ thống văn bản pháp lý về tổ chức quản lý và sử dụng nguồn nước của Đảng và Chính phủ.
a Các văn bản đã ban hành
Nhà nước đã ban hành những văn bản pháp lý rất quan trọng cho quản lý tàinguyên nước, quản lý thủy lợi là: Luật Tài nguyên nước có hiệu lực từ 1/1/1999;Nghị định chính phủ quy định về việc thi hành Luật Tài nguyên nước có hiệu lực từ15/1/2000: Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi có hiệu lực từ1/7/2001; Pháp lệnh đê điều có hiệu lực từ 1/1/2001; Các quyết định của Thủ tướngchính phủ thành lập Hội Đồng về Tài nguyên nước 15/6/2000, ban hành Quy chế tổchức và hoạt động của Hội Đồng Quốc gia Tài nguyên nước (28/6/2001)
Một số quyết định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT như thành lậpBan quản lý quy hoạch lưu vực sông Cửu Long; Ban quản ly quy hoạch lưu vựcsông Đồng Nai, vận hành Quy chế tổ chức, hoạt động của Ban quản lý quy hoạchlưu vực sông, Nghị định về giá nước và thủy lợi phí
b Các văn bản đang được xây dựng
Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh khai thác-bảo vệ công trình thủylợi; Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực Tài nguyên nước; Quy định về thủtục cấp phép về khai thác sử dụng tài nguyên nước (nước mặt, nước ngầm) và xảnước thải vào nguồn nước
c Tổ chức quản lý nguồn nước
Công tác quản lý nước trước đây do Viện Quy hoạch và Quản lý nước-BộThủy lợi và các sở Thủy lợi đảm nhiệm, từ năm 1995-2003 do Cục quản lý nước vàcông trình thủy lợi (nay là Cục Thủy lợi)-Bộ Nông nghiệp và PTNT đảm nhiệm.Đồng thời còn có Hội đồng Quốc gia về Tài nguyên nước, Ủy ban sông Mê kôngViệt Nam (từ 1978), Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông Hồng tham gia vào hoạtđộng quản lý tài nguyên nước
Hiện nay, công tác quản lý Nhà nước về Tài nguyên nước do Bộ Tài nguyên
và Môi trường Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý các lưu vực sông, quản lý khaithác sử dụng và phát triển tổng hợp các dòng sông theo quy hoạch Quản lý xâydựng, khai thác sử dụng và bảo vệ các công trình thủy lợi, công trình cấp thoát nướcnông thôn Quản lý xây dựng, bảo vệ đê diều, công trình phòng chống lũ bão vàcông tác phòng chống lũ lụt, bảo, úng, hạn hán, sạt lở vên sông, biển Thường trựcBan quản lý quy hoạch các lưu vực sông
d Tổ chức chỉ đạo phòng chống lụt bão
Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão được thành lập từ ngay sau khi miền Bắcđược giải phóng, thống nhất từ trung ương đến địa phương Ban chỉ huy phòngchống lụt bão Trung ương do một Ủy viên TW Đảng – Bộ trưởng làm Trưởng ban,thứ trưởng một số Bộ, Ngành khác làm Phó ban Ở các Bộ, Ngành có BCH PCLBriêng chị sự điều hành của TW, ở các địa phương có BCH PCLB tỉnh và huyện
e Hệ thống tổ chức quản lý công trình thủy lợi
Hiện có 129 doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi gồm 109 Công tykhai thác công trình thủy lợi, 20 xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi Có 3 công
ty khai thác công trình thủy lợi do Bộ NN&PTNT quản lý: Bắc – Hưng –Hải,
Trang 7Nam-Hà và Dầu Tiếng Ngoài ra còn có các Hợp tác xã, Hội, Ban, Tổ làm dịch vụ nước.
Ở các hệ thống thủy lợi nhỏ, độc lập có 1000 tổ chức hợp tác dùng nước quản lý
2.2 Đặc điểm của các công trình thủy lợi và chính sách tổ chức quản lý, sử dụng công trình thủy lợi
2.2.1 Đặc điểm của các công trình thủy lợi
Các hệ thống thủy lợi đều phục vụ đa mục tiêu, trong đó có tưới, tiêu, cấpnước sinh hoạt, thủy sản, sản xuất công nghiệp, phát điện, giao thông, du lịch,chống lũ, ngăn mặn, cải tạo đất đai, môi trường, sinh thái
Vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi thường rất lớn, bình quân phải đầu
tư thấp nhất 30-50 triệu đồng, cao nhất 100-200 triệu đồng
Công trình thuỷ lợi muốn phát huy hiệu quả cao phải được xây dựng đồng
bộ, khép kín từ đầu mối ( phần do Nhà nước đầu tư ) đến tận ruộng (phần do dân tựxây dựng)
Mỗi công trình, hệ thống công trình thủy lợi chỉ phục vụ cho một vùng nhấtđịnh theo thiết kế, không thể di chuyển từ vùng đang thừa nước đến vùng thiếunước theo yêu cầu thời vụ; đều phải có một tổ chức của nhà nước, tập thể hay cánhân trực tiếp quản lý, vận hành theo yêu cầu của các hộ sử dụng nước
Hệ thống công trình thuỷ lợi nằm rải rác ngoài trời, trải trên diện rộng, có khiqua các khu dân cư, nên ngoài tác động của thiên nhiên, còn chịu tác động trực tiếpcủa con người (người dân)
Hiệu qủa của công trình thủy lợi hết sức lớn và đa dạng, có loại có thể xácđịnh được bằng tiền hoặc bằng khối lượng vật chất cụ thể, nhưng có loại không thểxác định được
2.2.2 Đặc điểm của tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi
Với tính đặc thù của công tác thuỷ lợi mà nó có nhiều đặc điểm khác biệt sovới các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác như sản phẩm của các công rình thuỷ lợicung cấp một loại sản phâmả manh tính độc quyền tự nhiên; đơn vị đo sản phẩm làdiện tích tưới tiêu nên số lượng và chất lượng sản phẩm rất khó xác định, hao phílao động sống, lao động vật hoá để hình thành giá trị và chất lượng sản phẩm rấtkhác nhau theo vùng, theo khu vực và điều kiện tự nhiên Sự trao đổi sản phẩm dịch
vụ trên thị trường lại bị giới hạn bởi tính hệ thống, sản phẩm không thể vận chuyển
đi xa để bán hay tích trữ Giá cả của sản phẩm dịch vụ tưới tiêu không được quyếtđịnh bởi cung cầu cảu thị trường, không căn cứ vào hao phí lao động sống và laođộng vật hoá Quan hệ giữa người mua và người bán bị ràng buộc bởi nhiều yếu tốmang tính chính trị - xã hội Quan hệ cung cầu và giá cả ở đây không phản ánhđúng được bản chất và vận động của các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thịtrường, người nông dân (người mua) không có quyền lựa chọn sản phẩm, người báncũng không có quyền lựa chọn người mua
2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi
Chính sách của chính phủ và nguồn ngân sách: Đây là một nhân tố vô cùngquan trọng, chính sách thủy lợi là một chính sách dài hạn, việc ra chính sách phùhợp với thực tế đặt ra kết hợp với nguồn lực hiện có phục vụ cho chính sách đó sẽlàm phát huy được hiệu quả sử dụng và tính bền vững của các công trình thủy lợi
Trang 8Ngược lại chính sách không phù hợp không những không mang lại hiệu quả khôngmong đợi mà còn ảnh hưởng không tốt đến vùng được ban hành chính sách dẫn tớimất lòng tin của nhân dân vào việc ra chính sách của Nhà nước làm lãng phí trong
sử dụng ngân sách, bên cạnh đó còn gây ra lãng phí và thất thoát nguồn vốn củaChính phủ trong khi nguồn vốn của Chính phủ còn rất hạn chế Đây chính là việcNhà nước soạn thảo các văn bản pháp luật về tổ chức quản lý và sử dụng công trìnhthủy lợi đưa vào ứng dụng trong thực tế
Nguồn ngân sách có ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức quản lý và sử dụngcông trình thủy lợi vì đây chính là nguồn vốn chi chính cho công tác xây dựng cáccông trình mới, đội ngũ làm công tác quản lý công trình thủy lợi trong khi số tiềnthu tư hoạt động của các công trình thủy lợi chưa đáp ứng một nửa chi phi phải chicho công tác quản lý, duy tu công trình thủy lợi
Thiết chế cộng đồng: Công trình thủy lợi của nước ta hiện nay có thể doUBND xã quản lý, có thể do HTX quản lý, có thể do cán bộ thủy nông của huyệntham gia quản lý một phần, có thể nhóm hộ dùng nước quản lý Sự quản lý này tùytheo thiết chế của từng địa phương, từng cộng đồng Trong khi trình độ quản lý củacác địa phương lại khác nhau mà hiện nay chủ yếu trình độ quản lý còn rất yếukhông muốn nói là kém, lại còn mang nặng tư tưởng bao cấp Nên làm cho hiệu quảtrong sử dụng không cao, một số công trình thì đang bị xuống cấp nghiêm trọng vàmột số thì không thể sử dụng được vì không hợp lý trong khấu thiết kế và xây dựngkhông phù hợp với thực tế
Sự tham gia của người dân: Trong phương diện này quan hệ cung cầu và giá
cả ở đây không phản ánh đúng được bản chất và vận động của các quan hệ kinh tếtrong nền kinh tế thị trường, người nông dân (người mua) không có quyền lựa chọnsản phẩm, người bán cũng không có quyền lựa chọn người mua Mà chính sách đâychính lại là chính sách công nhằm phục vụ lợi ích cho cả cộng đồng Nên sự thamgia của người dân là một điều tất yếu, cả hai bên có hợp tác thì bên chính sách có cơ
sở là cái dân cần thì chính sách đó mới có tính khả thi và đạt được hiệu quả khi đưavào thực tế
Điều kiện tự nhiên: Các công trình thủy lợi chủ yếu được xây dựng ở ngoàitrời, phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến chínhsách chính sách tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi như mưa bão, hạnhán Thiên tai làm hư hại đến chất lượng công trình dẫn tới giảm tuổi thọ công trình,làm mất tác dụng của công trình thủy lợi
Trang 92.5 Tác động của chính sách
Sơ đồ thể hiện sự tác động của chính sách
Chính sách tổ chức, quản lý và khai thác công trình thủy lợi có tác động rộngđến nhiều đối tượng
Trước hết nó có tác động rõ rệt và trực tiếp đến nền nông nghiệp bởi nước làyếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vậtnuôi
Tác động đến nền kinh tế, chính sách đưa ra nhằm mục đích làm tăng sảnlượng nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng ngân sách Nhà nước
Vì vậy, nó có tác động đến cả nền kinh tế nói chung
Tác động đến an sinh xã hội: chính sách đưa ra gián tiếp làm tăng thu nhập chongười nông dân từ đó góp phần ổn định xã hội
Tác động đến người sản xuất: người sản xuất ở đây chính là Nhà nước, người
tổ chức quản lý và thực hiện các công trình thủy lợi, chính sách đưa ra thành cônghay thất bại ảnh hưởng trực tiếp người sản xuất
Tác động đến người tiêu dùng: người tiêu dùng ở đây chính là người sử dụng cáccông trình thủy lợi, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các công trình, trong đó người nôngdân là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất
Nông nghiệp
Chính sách tổ chức quản lý và
sử dụng công trình thủy lợi.
Trang 10III CƠ SỞ THỰC TIỄN3.1 Đặc điểm ở Việt Nam
Nhà nước luôn coi công tác thủy lợi là vấn đề quốc sách hàng đầu để giữvững tình hình kinh tế xã hội, luôn dành một khoản ngân sách lớn để phát triểncông tác này Đồng thời huy động nguồn vốn và sức lao động với phương châm
“Nhà nước và nhân dân cùng làm”
Trước năm 1955 chỉ có 13 hệ thống công trình ở Bắc Bộ và Trung Bộ, tổngnăng lực tưới khoảng 30 vạn ha, tiêu úng 8 vạn ha và một số kênh rạch ở Nam Bộ
Đến những năm 90 của thế kỷ 20, nước ta đã có một hệ thống cơ sở vật chất
kỹ thuật về thủy lợi khá mạnh, có năng lực hạn chế được tác hại của hạn hán và únglụt đối với sản xuất nông nghiệp và dân sinh
Đến nay, ngành Thủy lợi Việt Nam đã có hệ thống các công trình thủy lợivới năng lực thiết kế tưới cho 3 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngăn mặn cho 700 nghìn
ha Hình thành 75 hệ thống thủy nông lớn và vừa Đã xây dựng 750 hồ chứa nướclớn và vừa, trên 10.000 hồ chứa nhỏ Diện tích trồng lúa được tưới chiếm 80% tổngdiện tích lúa trong cả nước Đây là một tỷ lệ cao về đất nông nghiệp được tưới sovới các nước trên thế giới
Bên cạnh đó, các công trình mới đảm bảo tưới, tiêu có tần suất tưới thiết kếmới đạt 75% Những năm mưa ít, những vùng tưới trực tiếp bằng dòng chảy cơ bản,vùng cuối kênh còn bị hạn Chất lượng tưới tiêu trên một số vùng còn hạn chế nênsản lượng lúa còn bấp bênh, nhất là vụ mùa ở miền Bắc và khu 4 cũ
Nhiều công trình, hệ thống công trình thuỷ lợi được xây dựng đưa vào khaithác đã lâu, yêu cầu nguồn kinh phí lớn để kiên cố, nâng cấp sửa chữa
Khả năng dự báo còn hạn chế, việc quản lý, điều hành các công trình thuỷ lợiđối phó kịp với biến động gay gắt của thời tiết là việc làm rất khó khăn, phức tạp
Trong thực hiện khoán đến hộ nông dân, tổ chức và hoạt động của các tổchức hợp tác dùng nước còn lỏng lẻo, việc lấy nước, tháo nước trong hệ thống điềuhành khó khăn hơn
Từ các lý do trên ta thấy, để phát triển công tác thủy lợi, thì đòi hỏi phải thựchiện chính sách của Nhà nước một cách đúng đắn và phù hợp với công tác này
3.2 Thực tiễn chính sách
3.2.1 Thực trạng hệ thống tổ chức quản lý công trình thủy lợi
Hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước Theo Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệcông trình thủy lợi số 32/2001/PL-UBTVQH10 ngày 04/4/2001 và các quy địnhhiện hành khác, bộ máy quản lý Nhà nước đối về thuỷ lợi từ Trung ương đến địaphương được tổ chức theo bộ máy hành chính nhà nước 4 cấp
Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công trình thuỷ lợi được mô tả ở sơ đồ sau:
Trang 11Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước
về quản lý khai thác công trình thủy lợi
Tuy vậy, bộ máy quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thuỷ lợithiếu thống nhất, chức năng nhiệm vụ không nhất quán nên việc chỉ đạo điều hành
từ Trung ương xuống địa phương không thông suốt và thường gặp nhiều khó khăn
Cơ quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở cấp tỉnh hiện
có 6 hình thức chủ yếu
Bảng 2.1 Hình thức tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về quản lý khai
thác công trình thuỷ lợi ở cấp tỉnh