4.1 4.2 4.3 5 Thực trạng tham gia của cộng đông trong xây dung, quan lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ ở huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương Tình hình phát triển thuỷ lợi nhỏ 4.1.2 Đặc điể
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LÊ CAO SƠN
THỰC TRANG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG,
QUAN LY VA SU DUNG CONG TRINH THUY LOI NHỎ
TREN DIA BAN HUYEN CHI LINH TINH HAI DUONG
LUAN VAN THAC Si KINH TE
Chuyén nganh : KINH TE NONG NGHIEP
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS DO KIM CHUNG
HANOI - 2005
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực
và chưa được sử dụng trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận án đều được ghi rõ nguồn gốc
Lê Cao Sơn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình của các tổ chức và cá nhân Tôi xin chân thành cảm ơn những tổ chức, cá
nhân đó
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đỗ Kim
Chung, người thày đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thày giáo, cô giáo Khoa Sau đại học, Khoa
Kinh tế và PTNT, Bộ môn Phát triển nông thôn đã giúp đỡ và tạo điều kiện về
mọi mặt để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Chí Linh, Xí nghiệp KTCTTL huyện; UBND, HTX nông nghiệp và nhân dân 2 xã Chí Minh và Nhân Huệ đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu thực tế của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đã chia sẻ những khó khăn, động viên tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Lê Cao Sơn
Trang 41.1 _ Tính cấp thiết của đề tài
1.2 _ Mục tiêu nghiên cứu của để tài
1.3 _ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ
2.1 Công trình thủy lợi nhỏ và vai trò trong nông nghiệp
2.1.1 Thuỷ lợi trong nông nghiệp và công trình thuỷ lợi nhỏ
2.1.2 Công trình thuỷ lợi nhỏ, một số đặc điểm kỹ thuật, kinh
tế xã hội 2.1.3 Vai trò của công trình thuỷ lợi nhỏ trong nông nghiệp,
nông thôn 2.2 _ Sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng, quản lý và sử dụng
công trình thuỷ lợi nhỏ
2.2.1 Cộng đồng và sự tham gia
2.2.2 Nội dung, hình thức và công cụ tham gia của cộng
đồng trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ
2.2.3 Cơ sở của sự tham gia xây dựng, quản lý và sử dụng
công trình thuỷ lợi nhỏ 2.2.4 Vài nét về mô hình PIM và yêu cầu tham gia quản lý
công trình
2.2.5 Sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng, quản lý và sử
dụng công trình thuỷ lợi nhỏ trên thế giới và ở Việt Nam
3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
3.2
3.1.1
3.1.2 Đặc điểm tự nhiên
Đặc điểm kinh tế - xã hội
Phương pháp nghiên cứu
44
46 41
Trang 54.1
4.2
4.3
5
Thực trạng tham gia của cộng đông trong xây dung, quan lý
và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ ở huyện Chí Linh tỉnh
Hải Dương
Tình hình phát triển thuỷ lợi nhỏ
4.1.2 Đặc điểm xây dựng, quản lý và sử dụng công trình
thuỷ lợi Thực trạng tham gia xây dựng, quản lý và sử dụng hai công trình
nghiên cứu
4.2.1 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của hai công trình nghiên cứu
4.2.2 Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong xây dựng,
quản lý và sử dụng hai công trình nghiên cứu 4.2.3 Một số kết luận về những ảnh hưởng tới sự tham gia của
cộng đồng trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ ở huyện Chí Linh
Một số giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong
xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ
Trang 6DANH MUC CAC CHUVIET TAT
Ban quản lý công trình
Diện tích
Giá trị
Dịch vụ nông nghiệp
Hợp tác xã
Hiệp hội người dùng nước (Phillipines)
Chuyển giao quản lý thuỷ nông
Tổ chức các nước có mô hình PIM
Khai thác công trình thuỷ lợi
Vùng khai hoá thổ nhưỡng (Nhật Bản)
Cơ quan quản lý tưới quốc gia (Phillipines)
Ban tài nguyên quốc gia (Phillipines)
Tham gia quản lý thuỷ nông
Phương pháp cùng tham gia và hành động
Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân Sản xuất
Tram bom
Uy ban nhan dan
Hiệp hội những người sử dụng nước
Trang 7DANH MUC CAC BANG
Phân loại hệ thống thuỷ nông theo năng lực thiết kế
Những tác động của PIM
Tình hình đất đai của huyện Chí Linh
Tình hình dân số, lao động của huyện
Đặc điểm kỹ thuật, kinh tế, xã hội của hai công trình
nghiên cứu
Đặc điểm tham gia của cộng đồng trong xây dựng, quản lý
và sử dụng hai công trình nghiên cứu
Các phương pháp PRA và cách thức thực hiện
Diện tích tưới qua các năm phân theo nguồn nước
Tình hình phân bổ nguồn nước theo địa bàn xã ở huyện
Chí Linh
Số lượng công trình thuỷ lợi phân theo loại hình và quy mô
Số lượng công trình phân theo quy mô và hình thức quản lý
Tỷ lệ giá trị đóng góp của cộng đồng theo quy mô công trình
và các giai đoạn quản lý
Kết quả phục vụ tưới chủ động
Đặc điểm kinh tế xã hội của hai công trình nghiên cứu
Tình hình tham gia của cộng đồng trong xác định nhu cầu và
khảo sát thiết kế công trình
Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả tham gia của cộng đồng
trong xác định nhu cầu, khảo sát thiết kế hai công trình
nghiên cứu
Tình hình tham gia của cộng đồng trong xây dựng trạm bơm
Mẫu Sáu
Một số chỉ tiêu thực hiện trong xây dựng công trình
Tình hình tham gia của cộng đồng trong quản lý trạm bơm
Mẫu Sáu
Một số chỉ tiêu thực hiện trong quản lý công trình
Mức thu thuỷ lợi phí theo quy định của UBND tỉnh
Tình hình phân bổ thuỷ lợi phí công trình trạm bơm Mẫu Sáu
Một số chỉ tiêu thực hiện thuỷ lợi phí ở trạm bơm Nhân Huệ
và trạm bơm Mẫu Sáu
Trang 8Bảng 4.17 Tình hình duy tu bảo dưỡng ở hai công trình Nhân Huệ và 84
Mẫu Sáu
Bảng 4.18 Tình hình tham của cộng đồng trong phân phối nước 89 Bang 4.19 Một số chỉ tiêu đánh giá tác động tham gia của cộng đồng, 90
Trang 9Khái quát đặc điểm công tác thuỷ lợi
Mô hình nhà nước quản lý trước tháng 6/2003
Mô hình nhà nước quản lý sau tháng 6/2003
Mô hình nhân dân quản lý công trình Đặc điểm trong sử dụng công trình
Nguyên nhân hạn chế năng lực phục vụ của công trình
Cây vấn đề về nguyên nhân cộng đồng không tham gia xác định nhu cầu, khảo sát thiết kế công trình
Cây vấn đề về cơ sở tham gia của cộng đồng trong xác định nhu cầu, khảo sát thiết kế trạm bơm Mẫu Sáu
Cây vấn đề về cơ sở tham gia của cộng đồng trong xác định nhu cầu, khảo sát thiết kế trạm bơm Mẫu Sáu
Tổ chức bộ máy quản lý trạm bơm Nhân Huệ
Tổ chức bộ máy quản lý trạm bơm Mẫu Sáu
Kế hoạch tưới tiêu trạm bơm Nhân Huệ
Kế hoạch tưới trạm bơm Mẫu Sáu Mối quan hệ giữa cộng đồng hưởng lợi và công trình trạm
bơm Nhân Huệ
Mối quan hệ giữa cộng đồng hưởng lợi và công trình
Mối quan hệ giữa cộng đồng hưởng lợi và công trình thủy
Trang 101.MỞ ĐẦU
11 TINH CAP THIET CUA DE TAI
Ở hầu hết các quốc gia hiện nay, mô hình người dân tham gia quản lý thuỷ
nông (PIM - Participatory Irrigation Management) dugc ép dung nhu mot diéu
kiện tiên quyết để phát triển thuỷ lợi hiệu quả và bên vững Mô hình bắt đầu hình thành vào những năm cuối của thập kỷ 80 khi một số quốc gia thực hiện chuyển giao quyền quản lý công trình từ nhà nước sang cho người dân Việc chuyển giao ban đầu chỉ đơn thuần là cắt giảm những trợ cấp cho công tác thuỷ lợi nhằm mục tiêu ổn định nền tài chính quốc gia Tuy nhiên, khi thực hiện nó lại tạo ra bước
phát triển quan trọng mang tính cách mạng trên phạm vi toàn cầu, đó là mở ra cho người dân khả năng tham gia nhiều hơn trong công tác thuỷ lợi Nông dân là những người được hưởng lợi trực tiếp từ công trình, vì vậy họ có động cơ mạnh
mẽ hơn ai hết để có thể thực hiện quản lý, sử dụng công trình một cách tốt nhất
Họ tự quyết định việc tổ chức quản lý như thế nào, khi nào thì duy tu bảo dưỡng công trình, thực hiện kế hoạch tưới ra sao Tính hợp lý của các quyết định này được xem xét một cách hệ thống trên cơ sở đáp ứng yêu cầu sản phát triển sản xuất nông nghiệp và sử dụng bền vững những nguồn lực của người dân Cơ sở thành công của PIM dựa trên việc khai thác hiệu quả những nguồn lực to lớn của
người dân (phát huy toàn tối đa lợi thế so sánh) PIM vừa là phương tiện vừa là
mục tiêu trong tiến trình phát triển thuỷ lợi của hầu hết các quốc gia hiện nay
Ở Việt Nam, khái niệm về PIM mới được phổ biến từ năm 1997 (Hội thảo quốc gia về PIM từ ngày 07+10/4/1997 tại Nghệ An) Song "lũ lụt thì lút cả làng", nội dung tham gia của người dân trong công tác thuỷ lợi đã tồn tại và phát triển theo suốt chiều dài lịch sử của nền văn minh lúa nước Thống kê những thành tựu đạt được, đến năm 2001 cả nước đã có 8.265 công trình thuỷ nông các
loại, trong đó có 743 hồ chứa vừa và lớn, 1.017 đập dâng, 4.712 cống tưới tiêu
vừa và lớn, gần 2.000 trạm bơm, khoảng 8.000 km bờ bao ngăn lũ ở đồng bằng sông Cửu Long và hàng vạn kilômét kênh mương cùng công trình trên kênh [7]
Trang 11đảm bảo tưới cho trên 3 triệu ha diện tích đất canh tác, tiêu cho 1,4 triệu ha, ngăn
mặn cho 70 vạn ha, cải tạo 1,6 triệu ha đất phèn chua ở đồng bằng sông Cửu Long [9] Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, quá trình phát triển thuỷ lợi ở nước ta còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế Các đánh giá cho thấy, đa số các hệ thống công trình mới khai thác được 50-60% năng lực thiết kế, có hệ thống chỉ
đạt 30%[9] do những nguyên nhân như xây dựng không đồng bộ, sai sót trong
thiết kế và thi công, không duy tu bảo dưỡng công trình thường xuyên Phần lớn các công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của nhà nước hoạt động không hiệu quả, mất cân đối giữa thu và chi, thua lỗ triền miên Nguồn vốn đầu
tư hàng năm quá hạn hẹp nên công trình đã xuống cấp nay càng xuống cấp hơn
Tồn tại của hình thức quản lý quan liêu bao cấp có ảnh hưởng không tốt tới năng
lực quản lý công trình cũng như chất lượng dịch vụ tưới tiêu Ở nhiều nơi, nông
dân không tham gia xây dựng, quản lý công trình hoặc có chăng chỉ là hình thức
đo bị tác động theo kiểu huy động, áp đặt một chiều từ trên xuống dưới Người
dân quan niệm công trình là của nhà nước, hư hỏng thì nhà nước sửa chữa Tình
trạng người dân sử dụng sai mục đích, lãng phí nước, nợ đọng thuỷ lợi phí, lấn
chiếm đất trong phạm vi, đục phá công trình là kết quả của việc không phát
huy được vai trò của cộng đồng trong công tác thuỷ lợi hiện nay
Đánh giá được vai trò quan trọng của cộng đồng trong việc tháo gỡ những
tồn tại của công tác thuỷ lợi, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức liên kết các nước có
mô hình PIM (INPIM) và thực hiện phát triển mô hình ở các địa phương như
Tuyên Quang, An Giang, Nghệ An, Thanh Hoá Thực tế cho thấy người dân
hoàn toàn có thể quản lý công trình thuỷ lợi, kể cả công trình phức tạp nếu có cơ
chế tác động phù hợp, được giao quyền (thông qua tổ chức do chính họ lập ra), được đào tạo, hướng dẫn PIM ở Việt Nam không phụ thuộc vào quy mô, tên gọi
hay địa giới hành chính mà phụ thuộc vào nhu cầu, sự đồng tình ủng hộ của người dân cũng như điều kiện cụ thể của công trình thuỷ lợi Bước đầu phát triển PIM còn gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại nhưng đã chứng minh tính hiệu quả
Trang 12vốn có của mô hình, đặc biệt với các công trình thuỷ lợi nhỏ, mắt xích quan trọng trong hệ thống tổng thể các công trình thủy lợi
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng và một số giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ trên địa bàn huyện Chí Linh tinh Hai Dương”
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu cơ bản của đề tài là nghiên cứu thực trạng, để xuất một số giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ
- Đề xuất những định hướng và giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về công trình thuỷ lợi nhỏ, cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng trong công tác thuỷ lợi, mô hình tham gia quản lý PIM
Trang 13Đối tượng khảo sát của đề tài là công trình thuỷ lợi nhỏ, cộng đồng hưởng lợi từ công trình và những đối tượng khác có liên quan tới việc nghiên cứu trên địa bàn huyện Chí Linh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi về thời gian
- Thời gian nghiên cứu thực trạng: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng
tham gia xây dựng, quản lý và sử dụng của cộng đồng trong thời gian 3 năm (từ năm 2002 - 2004) Những khoảng thời gian khác có liên quan (chủ yếu là thời gian xây dựng) tuỳ thuộc vào mỗi công trình và nội dung nghiên cứu
- Thời gian cho định hướng và giải pháp: Đề tài đề xuất những giải pháp cho vấn đề nghiên cứu trong khoảng thời gian tới
1.3.2.2 Phạm vi về không gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương
1.3.2.3 Phạm vi nội dung
- Nghiên cứu thực trạng tham gia của cộng đồng trong xây dựng, quản lý
và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ trên địa bàn huyện Chí Linh
- Từ thực trạng nghiên cứu, đề tài đưa ra những giải pháp tăng cường hơn
nữa sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ
Trang 142 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ SỰ THAM GIA
CUA CONG DONG TRONG XAY DUNG, QUAN LY VA SU DUNG
CONG TRINH THUY LOI NHO
2.1 CÔNG TRÌNH THỦY LỢI NHỎ VÀ VAI TRÒ TRONG NÔNG NGHIỆP 2.1.1 Thuỷ lợi và công trình thuỷ lợi trong nông nghiệp
Các nguồn nước cơ bản trong tự nhiên bao gồm nước ngầm, nước mặt và
nước mưa Chúng phân bố không đều và gây ra tình trạng thiếu nước hoặc thừa nước ở những không gian và thời gian khác nhau Do vậy, công tác thuỷ lợi hình
thành và phát triển như là một hoạt động không thể thiếu nhằm điều hoà giữa lượng nước đến của tự nhiên với yêu cầu về nước của con người Công tác thuỷ lợi bao gồm tổng hợp những biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ các nguồn
nước và hạn chế những thiệt hại do nước gây ra như hạn hán, lũ lụt
Suen ie đời sống sinh hoạt )
(lao động, vật tư, thiết bị )
Sơ đồ 2.1: Khái quát đặc điểm công tác thuỷ lợi
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nội dung chủ yếu được đề cập là công tác thuỷ lợi phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp (thủy nông) "Nhất
nước, nhì phân, tam cần, tứ giống", thuỷ lợi trong nông nghiệp có ý nghĩa quyết
định tới năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi trên cơ sở đáp ứng yêu cầu về
nước trong từng giai đoạn sinh trưởng phát triển Công tác thuỷ lợi bao gồm tổng hợp các biện pháp như quy hoạch, xây dựng, quản lý và sử dụng công trình;
thực hiện tưới tiêu khoa học nhằm chủ động nguồn nước cho trồng trọt, chăn
Trang 15nuôi, từ đó tạo điều kiện mở rộng diện tích canh tác, tăng năng suất, đa dạng hoá
cơ cấu cây trồng, vật nuôi Bên cạnh đó công tác thuỷ lợi trong nông nghiệp cũng có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội nông thôn như cung cấp nguồn nước trong sinh hoạt và các ngành nghề nông thôn, tạo cảnh quan môi trường sinh thái nông nghiệp nông thôn thuận lợi
Về công trình thuỷ lợi, nó là công cụ cơ bản để con người thực hiện việc
điều tiết nguồn nước theo nhu cầu của mình Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi nêu rõ: Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại[12] Trong nông nghiệp, công trình thuỷ lợi có nhiều hình thái khác nhau với những kết cấu và tính năng khác nhau như tạo nguồn (hồ, đập ), điều phối (kênh,
mương máng ), động lực (trạm bơm tưới, tiêu) Chúng thường được phân loại theo quy mô xây dựng hay năng lực phục vụ Theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam 285 (2002), việc phân phân loại dựa trên diện tích phục vụ của công trình
với những cấp thiết kế như sau:
Bảng 2.1: Phân loại hệ thống thuỷ nông theo năng lực thiết kế [I]
Hệ thống thuỷ nông có DT được
tưới hoặc DT tự nhiên khu tiêu 250 | <50+10 < 10+2 <2+0,2 | <0,2
(10° ha)
Do đặc điểm địa bàn sản xuất nông nghiệp dàn trải rộng trên diện rộng nên các công trình thuỷ lợi thường liên kết thành hệ thống, mạng lưới Việc đánh giá công trình hay hệ thống công trình vì thế thường mang tính tương đối Theo tiêu chí phân loại trên có thể phân biệt quy mô công trình thuỷ lợi như sau:
- Loại lớn: công trình thuộc cấp thiết ké I và II
Trang 16- Loại vừa: công trình thuộc cấp thiết kế III và IV
- Loại nhỏ: công trình thuộc cấp thiết kế V
2.1.2 Công trình thuỷ lợi nhỏ, một số đặc điểm kỹ thuật, kinh tế xã hội
2.1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật
Công trình thuỷ lợi nhỏ, đó là đánh giá về mặt quy mô và diện tích phục
vụ của công trình Công trình có công suất nhỏ, phạm vi phục vụ không lớn, chủ
yếu cho cộng đồng khu dân cư hoặc làng, xã Theo TCXDVN 285 (2002), có thể
coi công trình thuỷ lợi nhỏ thuộc phân cấp thiết kế V với diện tích tưới hoặc tiêu nhỏ hơn 200 ha Công trình thuộc kết cấu hạ tầng, vị trí cố định và chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện địa chất, thuỷ văn, khí hậu, thời tiết địa phương Công trình thường không đòi hỏi kỹ thuật cao, đa số công trình được đào đắp hoặc xây dựng đơn giản với vật liệu tại chỗ như gạch, đá, cát, sỏi, các loại vật liệu trong nước sản xuất được như xi măng, sắt thép , người dân có thể tự tổ chức xây dựng, quản lý, vận hành được[6] Công trình thuỷ lợi nhỏ thường là hệ thống trên mặt ruộng, điểm cuối cùng trong tổng thể mạng lưới phân phối nước
Ở một số nơi, chủ yếu là vùng trung du, đồi núi, công trình thuỷ lợi nhỏ đứng
độc lập và trực tiếp khai thác, sử dụng những nguồn nước địa phương Công trình
thuỷ lợi nhỏ còn được tính cho cả những công trình có thời gian sử dụng ngắn do
người dân địa phương tự làm
2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Công trình thuỷ lợi nhỏ có quy mô và công suất nhỏ, trực tiếp phục vụ sản xuất nơi cộng đồng dân cư Do vậy, về đặc điểm kinh tế xã hội, công trình mang một số nét đặc trưng sau:
- Công trình thuộc cơ sở hạ tầng, là tài sản chung phục vụ cho lợi ích cộng đồng địa phương
- Công trình có tính cộng đồng cao, có khả năng huy động đông đảo sự tham gia đóng góp của người dân trong quá trình xây dựng, quản lý và sử dụng
Trang 17- Vốn đầu tư cho công trình không lớn, do vậy có thể huy động từ nhiều kênh khác nhau, đặc biệt là nguồn vốn, nguyên vật liệu và lao động trong nhân dân Việc huy động vốn khá linh hoạt và có tính khả thi cao
- Công trình mang tính địa phương do chịu những ảnh hưởng về điều kiện
tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn phục vụ Tính địa phương thường giới hạn theo phạm vi không gian nhỏ hẹp với một hay một vài cộng đồng nông thôn cư trú thành thôn, làng, bản
- Công trình gần gũi, gắn bó với người dân qua các hoạt động sản xuất và
sinh hoạt hàng ngày Ở một số nơi, công trình còn là biểu trưng cho văn hoá
truyền thống của cộng đồng địa phương
2.1.3 Vai trò của công trình thuỷ lợi nhỏ trong nông nghiệp, nông thôn Thực tế cho thấy, hiệu quả phục vụ của hệ thống công trình thuỷ lợi không chỉ do công trình lớn đầu mối mang lại mà còn phụ thuộc vào mạng lưới công trình nhỏ trên mặt ruộng Công trình nhỏ là sự hoàn thiện tính đồng bộ và thống nhất của toàn bộ hệ thống thuỷ lợi Nó là điểm nút cuối trực tiếp đưa nước tới từng đơn vị diện tích sản xuất, mở rộng phạm vi phục vụ của hệ thống công trình Công trình thuỷ lợi nhỏ đặc biệt phát huy hiệu quả trong công tác chống
nông nghiệp và đời sống của người dân Những nguồn nước địa phương này có
trữ lượng thấp và thường không ổn định theo các mùa trong năm Do vậy công
trình thuỷ lợi nhỏ là lựa chọn tối ưu để điều hoà, cân bằng nguồn nước, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng địa phương
Trang 18Công trình thuỷ lợi nhỏ, dù nằm trong hệ thống thuỷ lợi hay đứng độc lập đều là bộ phận trực tiếp đưa nước tới vùng sản xuất, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng phát triển Công trình là tiền đề để ứng dụng
những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Công trình góp phần thúc đẩy việc mở rộng diện tích canh tác, thâm canh tăng vụ, đa dạng hoá
cơ cấu cây trồng vật nuôi, tạo điều kiện cho người dân được lựa chọn cơ cấu sản xuất phù hợp và hiệu quả Phát triển thuỷ lợi nhỏ còn đồng nghĩa với phát triển nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, xoá đói giảm nghèo tiến tới từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người người dân, đặc biệt là những vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu vùng xa Thực tế cho thấy nơi nào thuỷ lợi phát triển thì đói nghèo được xoá bỏ, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của
người dân được nâng cao, an ninh chính trị, xã hội được ổn định
Công trình thuỷ lợi nhỏ được coi như tài sản chung của cộng đồng Cộng đồng thường có ý thức cao trong việc tham gia xây dựng, quản lý và sử dụng công trình do được hưởng lợi từ công trình Thông qua sự tham gia này, tính cộng đồng trong mối quan hệ xã hội truyền thống của địa phương được củng cố,
tăng cường
Với khả năng thu hút đông đảo sự tham gia của cộng đồng địa phương trong xây dựng, quản lý và sử dụng, công trình sẽ phát huy tốt năng lực thiết kế
và mang lại những hiệu quả kinh tế xã hội vốn có của nó Bên cạnh đó, sự tham
gia còn hướng tới khả năng tự nâng cao ý thức cộng đồng trong sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên của địa phương
Trang 192.2 SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DUNG CONG TRINH THUY LOI NHO
2.2.1 Cộng đông và sự tham gia
2.2.1.1 Cộng đông
Có nhiều quan điểm và khái niệm về cộng đồng Tuy nhiên có thể hiểu một cách chung nhất, đó là một tập hợp những người sống thành xã hội, có quan điểm chung với nhau, gắn bó thành một khối Cộng đồng bao gồm hai loại hình
cơ bản sau: 1) Cộng đồng địa lý: Bao gồm những người dân cư trú trong cùng
một địa bàn với các đặc điểm xã hội đồng nhất và có một mối quan hệ ràng buộc với nhau Họ cùng được áp dụng chính sách chung; 2) Cộng đồng chức năng:
Gồm những gồm người có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có lợi ích chung Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức (Phạm Thanh Hải, 1999) [3]
Như vậy, khái niệm cộng đồng chỉ mang ý nghĩa tương đối Tuỳ thuộc vào khía cạnh xem xét, đánh giá (tính chất, tiêu chuẩn) mà có thể có cộng đồng lớn hay nhỏ, liên kết lỏng hay chặt chẽ (cộng đồng trong cộng đồng) Mặt khác, những tính chất hay tiêu chuẩn đánh giá này cũng chỉ là tương đối (thậm chí biến
đổi theo thời gian) nên khái niệm cộng đồng thường mang tính bao quát như một phạm trù
Trong những thập kỷ gần đây, khái niệm về Cộng đồng hưởng lợi được bổ xung thêm như là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu phát triển Khái niệm Cộng đông hưởng lợi là sự kết hợp của Cộng đông địa lý và Cộng đồng chức
năng trong đó nhấn mạnh khía cạnh cùng hưởng lợi ích chung Trong cộng đồng
hưởng lợi, mỗi thành viên đều có trách nhiệm tham gia đóng góp (tài sản hay sức lao động) và có quyền lợi hợp lệ, hợp pháp từ việc sử dụng những thành quả chung của cộng đồng (theo mức độ thống nhất chung của cộng đồng) Cộng đồng hưởng lợi thông thường là sự hợp tác vì lợi ích Trong đó, sự tham gia của
mỗi cá nhân luôn thể hiện tính tự nguyện, tự giác và tinh thần trách nhiệm cao
Trang 20Cộng đồng theo nội dung nghiên cứu của đề tài là cộng đồng hưởng lợi với đặc điểm là những cư dân nông thôn cư trú, sinh sống thành thôn bản, làng
xã có chung phong tục, tập quán và truyền thống văn hoá nông nghiệp nông
thôn Địa bàn cư trú của cộng đồng thuộc vùng phục vụ của công trình thuỷ lợi nhỏ Trong cộng đồng, các thành viên đều có đóng góp theo những hình thức nhất định và được hưởng lợi ích, tác dụng của công trình Như vậy, bên cạnh mối quan hệ mật thiết từ cuộc sống xã hội chung, các thành viên trong cộng đồng còn
có mối liên kết từ việc chung hưởng lợi ích của công trình Mức độ liên kết này
có thể là rất chặt chẽ để đảm bảo mang lại những lợi ích thường xuyên, lâu bền cho mỗi thành viên cũng như cho cả cộng đồng, song cũng có thể chỉ dừng ở tính chất giống nhau về nguồn gốc của lợi ích được hưởng
2.2.1.2 Sự tham gia - khái niệm, nội dung và hình thức
Theo cách hiểu chung thì tham gia là góp phần hoạt động của mình vào một hoạt động, một tổ chức chung nào đó [11] Cách hiểu này tương đối đơn giản và không khái quát được bản chất, nội dung của tham gia trong tổng thể các mối quan hệ của nó, đặc biệt là trong phát triển cộng đồng Theo quan điểm của
các nhà nghiên cứu phát triển, tham gia (Participation) là một triết lý đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu phát triển cộng đồng Oakley P (1989) cho rằng
tham gia là một quá trình tạo khả năng nhạy cảm của người dân và làm tăng khả năng tiếp thu và năng lực của người dân nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển
cũng như khích lệ các sáng kiến địa phương Quá trình này hướng tới sự tăng cường năng lực tự kiểm soát các nguồn lực và tổ chức điều hành trong những
hoàn cảnh nhất định Tham gia bao hàm việc ra quyết định, thực hiện, phân chia
lợi ích và đánh giá các hoạt động phát triển của người dân[4] Như vậy, theo
phạm vi nghiên cứu của đề tài thì sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi chỉ là một khía cạnh phát triển thuỷ lợi trong tổng thể sự phát triển chung của cộng đồng Sự tham gia của cộng đồng trong công tác thuỷ lợi cũng mang đầy đủ những nội dung, tính chất của tham gia như trong bất kỳ sự phát triển nào
Trang 21Về mặt nội dung và hình thức của tham gia, chúng là sự nhận biết và chuyển hoá của nhau nên việc phân biệt thường mang tính tương đối Liên quan đến nội dung và hình thức tham gia có hai quan điểm cơ bản của Call M và Prety như sau:
- Sự tham gia có ba mức độ: 1) Tham gia là một phương tiện để tạo ra các điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện các can thiệp từ bên ngoài vào; 2) Tham gia
là một phương tiện để dung hoà trong quá trình ra quyết định và tạo lập chính sách cho các can thiệp từ bên ngoài vào; 3) Tham gia là một mục đích tự thân để các cộng đồng có quyền tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực và ra quyết định Tham gia tự nó là mục đích chứ không phải là phương tiện Cộng đồng tự xác
định và thay đổi các giải pháp cho các nhu cầu phát triển của mình[4]
- Sự tham gia có bảy mức độ: 1) Tham gia bị động: cộng đồng tham gia
được tiếp nhận thông tin một chiều từ bên ngoài vào cho biết là sự kiện gì sẽ xảy
ra Phản ứng của cộng đồng không tác động tới sự kiện đó; 2) Tham gia bằng cách cung cấp thông tin: cộng đồng trả lời những câu hỏi do cá nhân, tổ chức
nghiên cứu phát triển hay các lực lượng xã hội khác đặt ra Theo cách này cộng
đồng không có cơ hội được chia sẻ thông tin trong kết quả nghiên cứu; 3) Tham
gia bằng cách tư vấn: cộng đồng xác định vấn đề, trình bày quan điểm, góp ý, tư
vấn về giải pháp giải pháp thực hiện Tuy nhiên, sự tham gia này không đảm bảo cho cộng đồng bất kỳ sự chia sẻ nào trong việc ra quyết định; 4) Tham gia bằng
khuyến khích vật chất: cộng đồng tham gia bằng cách cung cấp các nguồn lực như vật chất hay sức lao động; 5) Tham gia mang tính chất chức năng: cộng đồng xây dựng các nhóm nhằm thoả mãn mục tiêu phát triển Sự tham gia này thường xuất hiện sau khi quyết định quan trọng đã được đưa ra và có xu hướng
phụ thuộc vào những người khởi xướng, hướng dẫn từ bên ngoài; 6) Tham gia có
tác động qua lại: cộng đồng tham gia phân tích chung để xây dựng kế hoạch
hành động và thiết lập hay củng cố một tổ chức địa phương có khả năng kiểm soát những hoạt động phát triển cụ thể; 7) Tự vận động: cộng đồng tự khởi xướng để thay đổi các hệ thống Họ hình thành hợp đồng với các tổ chức bên
Trang 22ngoài để có được nguồn lực kỹ thuật cần thiết song vẫn duy trì sự kiểm soát việc
ra quyết định, xây dựng và thực thi kế hoạch Sự vận động có thể hướng tới mục tiêu cải thiện sự phân phối phúc lợi và quyền lực hiện tại[4]
Với những mức độ và khía cạnh phát triển khác nhau cho thấy nội dung tham gia của cộng đồng không chỉ đa dạng mà còn có hàm chứa tính vận động
cao Nó có thể là một hay một chuỗi các hoạt động hướng tới sự phát triển có mục đích của cộng đồng Hình thức là biểu hiện của nội dung song sự tham gia
là một quá trình nên đánh giá hình thức tham gia thường mang tính tương đối tại những thang bậc, mức độ xác định khác nhau Mỗi mức độ tham gia có thể có 1 hay nhiều hình thức song nhìn chung có thể khái quát theo các hình thức sau:
- Hình thức bị động: Cộng đồng được tiếp nhận thông tin một chiều từ bên
- Vì lợi ích: Sự tham gia xuất phát từ lợi ích của chính cộng đồng Đây là
hình thức rất quan trọng để có thể thu hút tốt nhất sự tham gia của cộng đồng cũng như mang lại hiệu quả thiết thực cho các hoạt động phát triển
- Vì nhiệm vụ: Sự tham gia tạo nên quyền lực của cộng đồng, một dạng
đặc biệt của lợi ích (lợi ích tiềm năng) Trong thực tế nó thể hiện sự phân cấp,
trao quyên cho cộng đồng, ví dụ như lựa chọn mục tiêu, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện các kế hoạch, giám sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động
- Tương hỗ: Là tổng hợp của các loại hình tham gia Nó có tác động tương
hỗ, đảm bảo phát huy và kết hợp các nguồn lực cộng đồng theo hình thái sức
Trang 23mạnh tập thể Nó có ảnh hưởng chi phối tới cả quá trình phát triển chung trên cơ
sở tác động tới tổ chức, cộng đồng bên ngoài hay các lực lượng xã hội khác
Sự tham gia giúp cộng đồng tự nâng cao năng lực khám phá và giải quyết các vấn đề thực tiễn quan tâm Đây là cơ sở quan trọng thúc đẩy quá trình phát
triển của chính cộng đồng Tuy nhiên, sự tham gia chỉ có ý nghĩa khi cộng đồng
có một số quyền năng nhất định để có thể kiểm soát và tự quyết định những vấn
đề phát triển đó Do vậy, tăng cường sự tham gia thường đi đôi với trao quyền
kiểm soát và quyết định cho cộng đồng
2.2.2 Nội dung, hình thức và công cụ tham gia của cộng đông trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ
2.2.2.1 Nội dung tham gia
Xu hướng chuyển giao quản lý hệ thống công trình hiện nay đã thực sự tạo
ra cho cộng đồng khả năng được tham gia nhiều hơn vào tiến trình phát triển thuỷ lợi Nó không chỉ là sự mở rộng về mức độ, nội dung tham gia mà còn về cả phạm vi và tính chất cộng đồng theo một xu hướng mở: xu hướng xã hội hoá công tác thuỷ lợi Trong xu hướng này có thể thấy cả hai yếu tố là cộng đồng và
sự tham gia của cộng đồng cùng biến đổi Về thực chất đó là sự phát triển của cộng đồng thông qua sự tham gia nhiều hơn trong lĩnh vực thuỷ lợi Quá trình tham gia đóng vai trò phương tiện đồng thời là mục tiêu của sự phát triển của cộng đồng
Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng cho thấy tính tương đối và không
cụ thể trong việc xác định nội dung tham gia Tuy nhiên trong từng lĩnh vực cụ
thể (ví dụ như lĩnh vực thuỷ lợi), có thể xác định nội dung tham gia của cộng
đồng theo các giai đoạn của quá trình phát triển Ví dụ theo nội dung của đề tài,
có thể đặt câu hỏi: nội dung tham gia của cộng đồng trong phát triển thuỷ lợi là gì? câu trả lời là: xây dựng, quản lý và sử dụng công trình Nếu câu hỏi: Nội dung tham gia của cộng đồng trong xây dựng (hay quản lý, sử dụng) công trình
là gì? câu trả lời là: lắng nghe thông tin, tư vấn, góp vốn, góp sức, thành lập
Trang 24nhóm sử dụng, giám sát, đánh giá Như vậy có thể chấp nhận nội dung tham gia theo các giai đoạn của quá trình phát triển với câu hỏi thứ nhất và nội dung
tham gia theo các mức độ tham gia với câu hỏi thứ hai Ở mỗi mức độ tham gia
lại có những biểu hiện (hình thức) cụ thể khác nhau Như vậy sự phân biệt nội dung và hình thức tham gia trong trường hợp này chỉ mang tính tương đối
Nội dung tham gia của cộng đồng không chỉ đánh giá qua những việc họ làm mà về cơ bản nó phải được xem xét trong giới hạn quyền năng của cộng đồng trong những nội dung phát triển thuỷ lợi: xây dựng, quản lý và sử dụng công trình Một thực tế khá phổ biến là các chính phủ thay bằng chuyển giao quyền đối với tài sản thì lại cố gắng chuyển giao trách nhiệm đối với tài sản trong khi vẫn duy trì những quyền sở hữu cơ bản Điều này đã không đem lại bất
kỳ sự cải thiện nào bởi cộng đồng sẽ có xu hướng mất đi sự quan tâm thực sự do
cảm thấy bị khai thác, lạm dụng chứ không phải được trao quyền nắm giữ thực
sự[15] Đối với cộng đồng sử dụng nước, nhận thức về quyên sở hữu hay quyền kiểm soát luôn có ảnh hưởng quyết định đến việc xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi một cách tốt nhất Và các quyền này cũng chỉ được thực hiện
khi mang lại lợi ích hay đáp ứng sự quan tâm của cộng đồng Vì vậy, hoàn thiện nội dung tham gia luôn được xác định trên cơ sở lợi ích và những quyền năng
thực sự của cộng đồng đối với các công trình thuỷ lợi
2.2.2.2 Hình thức tham gia
Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý công trình đã tạo ra
bước phát triển quan trọng trong công tác thuỷ lợi ở hầu hết các quốc gia hiện
nay Việc tăng cường dựa trên cơ sở chuyển giao một phần hay toàn bộ quyên quản lý công trình từ chính phủ sang cho cộng đồng thông qua những tổ chức
của họ (HTX, nhóm, hiệp hội dùng nước ) Tại hội nghị quốc tế về “Chuyển giao quản lý tưới” tại Vũ Hán, Trung Quốc tháng 9/1994 với sự tham gia của
216 nước trên thế giới, các chuyên gia đã tổng kết những hình thức chuyển giao
cho cộng đồng như sau:
Trang 25- Cạnh tranh cung cấp dịch vụ tưới giữa các tổ chức khu vực tư nhân: Các
tổ chức khu vực tư nhân được chính phủ khuyến khích cung cấp các dịch vụ tưới, đặc biệt là các dịch vụ từ các nguồn nước mặt Các tổ chức này có quyền sở hữu
một phần hay toàn bộ hệ thống công trình và tự chủ việc sản xuất kinh doanh trong môi trường cạnh tranh bình đẳng Mô hình này phổ biến ở Bangladesh, Pakistan, Nigeria, Canada
- Hợp đồng: Hiệp hội những người dùng nước hợp đồng với chính phủ về
việc thực hiện những công việc như xây dựng, duy tu, bảo dưỡng, vận hành công trình hay điều tiết nước Hợp đồng mang lại những khía cạnh lợi ích khác nhau
cho cả hai bên Đây là một mô hình nhà nước và nhân dân cùng làm thuỷ lợi Trong hình thức hợp đồng còn có một dạng thay đổi nhỏ, đó là hình thức cho thuê Cho thuê thường được áp dụng khi hệ thống công trình ở trong tình trạng tốt, người ký hợp đồng không phải bỏ ra khoản đầu tư ý nghĩa ban đầu Thời hạn cho thuê thường từ 5 đến 10 năm, ngắn hơn nhiều so với thời hạn của hợp đồng
có thể kéo dài đến 30 năm
- Uỷ quyền: Nhà nước uỷ quyền cho các tổ chức phi chính phủ cung cấp một dịch vụ thuỷ lợi nào đó trong một khoảng thời gian nhất định Khác với hình
thức hợp đồng, người sử dụng nước phải chỉ trả trực tiếp các khoản thuỷ lợi phí cho tổ chức được uỷ quyền
- Cùng đầu tư với chính phủ: Trong trường hợp này, các nhóm dùng nước
được chính phủ cung ứng vật tư, kỹ thuật nếu họ cam kết đóng góp công lao
động để tham gia toàn bộ hoặc một số công đoạn của công trình, đặc biệt là công đoạn bảo dưỡng, duy trì công trình Mô hình này thịnh hành ở Trung Quốc Tỷ lệ đóng góp của hai bên thường là 50/50
- Tổ chức thuỷ lợi tự chủ cân đối thu chỉ tài chính: Nhà nước không bao
cấp, hỗ trợ bằng ngân sách quốc gia cho các tổ chức quản lý công trình Các tổ chức này được chuyển thành các cơ quan độc lập cân đối thu chi từ nguồn thu
phí thuỷ lợi
Trang 26- Đồng quản lý giữa tổ chức nhà nước và các nhóm sử dụng nước: Các nhóm sử dụng nước được quyền tham gia vào quá trình quyết định về các vấn đề liên quan đến thuỷ lợi bao gồm từ quy trình cấp nước, vận hành công trình, duy
tu công trình đến nâng cấp công trình Trung Quốc, Mexico là những nước áp dụng phổ biến mô hình này
- Uỷ thác giám sát: Các tổ chức người sử dụng nước hoặc đại diện được
chính phủ giao toàn bộ quyền quản lý công trình Chính phủ chỉ giữ lại một số
Vai trò giám sát chung
- Tham gia hoàn toàn: Nhà nước hoàn toàn từ bỏ vai trò quản lý thuỷ lợi
ở tất cả các cấp chính quyền Đây là trường hợp của Sênêgal và một số nước
Trang 27chứng tốt nhất những hoạt động phát triển Sự ủng hộ, cam kết của họ luôn là điều kiện đảm bảo cho các hoạt động có kết quả tốt nhất Xuất phát từ những lý
do đó nên quá trình phát triển thuỷ lợi luôn hướng tới sự tham gia cao nhất của
cộng đồng Những công cụ huy động sự tham gia được tìm kiếm và phát triển không ngừng trong suốt quá trình tiếp cận nghiên cứu nông nghiệp nông thôn Vào cuối những năm 70, yêu cầu thông tin nhanh, chính xác để nhận dạng
và đánh giá các chương trình phát triển nông thôn đã thúc đẩy cho việc ra đời
của phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA - Rapid Rural Appraisal)
Phương pháp này có ưu điểm là có thể nắm bắt nhanh những thông tin cơ bản về
đối tượng nghiên cứu thông qua việc để người dân tham gia vào việc cung cấp
thông tin và bày tỏ quan điểm của mình đối với những vấn đề quan tâm Nhược điểm của RRA là vai trò của người dân còn mờ nhạt Họ chỉ là nơi cung cấp và lưu trữ thông tin chứ chưa thực sự tham gia vào quá trình nghiên cứu Sự cải tiến RRA thành PRRA (Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia - Participatory Rural Rapid Appraisal) là để khắc phục một phần hạn chế này
Vào cuối thập kỷ 80, trên cơ sở các phương pháp RRA, Conway G., Chambers R và một số nhà nghiên cứu khác đã đề xuất một hướng tiếp cận
nghiên cứu mới: Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA- Participatory Rural Appraisal) PRA tạo ra khả năng cho cộng đồng nông thôn
tham gia vào việc soạn thảo và thực hiện các kế hoạch quản lý tài nguyên của làng xã một cách bền vững Ở phương pháp này, người dân giữ vai trò chủ yếu là
tư vấn, với những điều kiện nhất định, sự tham gia của cộng đồng có thể phát triển thành các hành động nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn
Những quan điểm gần đây cho rằng, điều quan trọng trong phát triển nông
thôn là phải xác định đúng các vấn đề, tìm ra các giải pháp thích hợp, tổ chức
thực hiện và đánh giá các giải pháp đó Do vậy, phương pháp cùng tham gia, học hỏi và hành động (PLA - Participatory Leaning and Action) đang được sử dụng
khá phổ biến Với phương pháp này, người dân trở thành chủ thể hành động,
Trang 28bình đẳng với các nhà nghiên cứu phát triển Vai trò của họ được thể hiện rõ
ràng trong việc phân tích, lập kế hoạch và tiến hành các hoạt động cụ thể
Các phương pháp nghiên cứu phát triển, đặc biệt là PRA và PLA đã được
áp dụng rộng rãi trong quá trình chuyển giao quản lý thuỷ lợi từ chính phủ cho cộng đồng địa phương PRA và PLA kết hợp khá linh hoạt và được xem là điều kiện để thực hiện thành công mục tiêu tăng cường sự tham gia của cộng đồng
trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi
* Công cụ PRA
PRA là tập hợp các hoạt động nghiên cứu thực tiễn, các cách thức tiếp cận
và ứng xử cho phép cộng đồng đưa ra và phân tích các vấn đề trong cuộc sống của họ để tự họ có thể xây dựng kế hoạch hành động cũng như giám sát việc thực hiện và đánh giá các kết quả thực hiện đó PRA sử dụng tổng hợp những biện pháp nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng đưa ra và phân tích những thông tin theo những nhìn nhận vốn có của họ PRA khuyến khích và giúp đỡ cộng đồng bày tỏ cách nhìn, cách nghĩ của họ về các vấn đề quan tâm Người ngoài cộng đồng chỉ đóng vai trò xúc tác, hỗ trợ để năng lực cộng đồng được phát huy một cách tốt nhất trong việc tự xác định và giải quyết các vấn đề có liên quan tới chính cộng đồng Coi sự tham gia vừa là mục tiêu vừa là phương tiện, PRA khơi dậy và thu hút sự tham gia của mỗi thành viên trong cộng đồng, đồng thời làm bền vững sự tham gia đó Theo Robert Chamberst: Cốt lõi của PRA là những thay đổi và những đảo ngược vai trò, cách xử sự và sự hiểu biết Những người
ngoài cuộc không thống trị và răn dạy, họ tạo điều kiện thuận lợi, ngồi và học
hỏi Người ngoài cuộc không chuyển giao công nghệ, thay vì thế họ chia sẻ các phương pháp mà người dân địa phương có thể sử dụng để phục vụ việc thẩm định, phân tích, lập kế hoạch, hành động, giám sát và đánh giá của bản thân họ Người ngoài cuộc tin tưởng khả năng của người dân địa phương
Lấy người dân và cộng đồng làm trọng tâm cho quá trình phát triển, PRA khơi dậy sự tham gia của cộng đồng bằng cách hướng cộng đồng tự bộc lộ quan
Trang 29điểm về thuỷ lợi: nguồn nước, nhu cầu, khả năng đáp ứng của các công trình trong hiện tại và tương lai Cộng đồng được khuyến khích và tạo điều kiện tự bộc
lộ quan điểm, trao đổi, thảo luận các vấn đề để xây dựng lên kế hoạch hành động
cụ thể về biện pháp để quản lý sử dụng tốt hơn những nguồn lực, những công trình sẵn có; đầu tư, tìm hỗ trợ để sửa chữa nâng cấp hoặc xây dựng thêm công
trình (công trình loại gì, mục đích phục vụ, nguồn lực của cộng đồng và hỗ trợ là
bao nhiêu, sử dụng ra sao, đóng góp của mỗi thành viên trong từng giai đoạn như thế nào ) Kế hoạch này có thể coi như là một báo cáo dự án khả thi, một đề
nghị thu hút sự hỗ trợ từ bên ngoài Trong một số trường hợp, nó còn gợi ý cho
việc điều chỉnh chính sách ở tầm vĩ mô PRA tạo khả năng dẫn đến hành động tập thể của cộng đồng thông qua việc giúp đỡ cộng đồng tự thực hiện, giám sát
và đánh giá việc thực hiện những kế hoạch do chính họ xây dựng lên Cách tiếp cận linh hoạt để khuyến khích cộng đồng tham gia việc hình thành các chương
trình phát triển và chịu trách nhiệm cao đối với việc thực hiện chương trình là điểm quan trọng để công cụ PRA đạt được tính hiệu quả trong công tác thuỷ lợi
* Céng cu PLA
PLA là tập hợp các phương pháp giúp người dân địa phương trình bày, trao
đổi và phân tích trên cơ sở những hiểu biết để lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch
đó PLA là sự phát triển bổ sung của PRA PLA được xem như là quá trình giáo
dục trên cơ sở yêu cầu sử dụng tri thức và kỹ năng của các thành viên tham gia một cách có phê phán PLA có quan điểm giống với PRA trong việc khích lệ để
có sự tham gia nhiều hơn của cộng đồng song PLA tập trung chủ yếu vào phân tích, lập kế hoạch và tiến hành hành động hướng tới sự đổi mới của cộng đồng PLA là công cụ hữu hiệu để có thể huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác thuỷ lợi một cách toàn diện, hiệu quả và bền vững nhất, cu thể:
PLA có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cộng đồng: PLA
hỗ trợ và mang lại năng lực cho cộng đồng và các nhóm, hội ở mọi cấp độ, mọi trình độ Cộng đồng được trợ giúp trong việc tự đề ra quyết định và giải pháp phù
Trang 30hợp với điều kiện và khả năng của họ cũng như nâng cao khả năng tiếp cận với bên ngoài, hội nhập với sự phát triển chung của xã hội Do được cùng tham gia học hỏi và hành động, lòng tin của cộng đồng được củng cố, các tri thức và kỹ
năng được nâng lên thông qua việc tiếp nhận những tiến bộ xã hội, từ đó cộng
đồng sẽ tự mình giải quyết các vấn đề một cách tự chủ Đây là cơ sở đảm bảo để thực hiện các chương trình, dự án có thể phát huy hiệu quả bên vững cùng với sự phát triển của cộng đồng
PLA tạo điều kiện để cộng đồng trở thành người trong cuộc: PLA tạo cơ
hội cho mọi người, đặc biệt là phụ nữ và những người yếm thế trong xã hội tham
gia vào việc đóng góp ý kiến và đề ra quyết định Với vai trò là người trong cuộc,
cộng đồng sẽ xác định được vấn để khó khăn, các tiểm năng và trở ngại phát triển của mình, từ đó đưa ra được những giải pháp khắc phục Cộng đồng hiểu vấn đề một cách toàn diện và có hệ thống Điều này không chỉ giúp cho mỗi cá nhân có sự chuẩn bị tốt hơn cho những nhu cầu của mình mà còn hướng cả cộng đồng tới sự phát triển bên vững Sau khi được tạo điều kiện nhập cuộc, cộng đồng có thể làm chủ được tiến trình phát triển của chính mình
PLA tạo ra một câu nối trực tiếp từ cộng đồng đến các nhóm hỗ trợ, nhà quản lý: Thông qua PLA, các kế hoạch phát triển được hoạch định trên cơ sở thông tin và sự phối hợp hai chiều với những mục tiêu rõ ràng và những cam kết
cụ thể Người dân được trình bày, phản ánh những khó khăn, nhu cầu chính đáng cũng như những giải pháp của mình đề ra, đồng thời các nhà quản lý, nhóm hỗ
trợ theo dõi và đánh giá các hoạt động một cách chặt chẽ theo hướng mục tiêu đề
ra Họ thường xuyên được tiếp nhận những phản ánh về khó khăn, vướng mắc
nảy sinh từ phía cộng đồng Cộng đồng cũng tích cực trong hoạt động của mình ,
kịp thời tìm ra nguyên nhân của vấn đề, để xuất các giải pháp với các nhà quản
lý trong quá trình hoạt động Mối quan hệ qua lại đó chính là nhân tố để phát triển cộng đồng
Trang 31PLA đưa ra những cách nhìn nhận và đánh giá mới: PLA cung cấp cho
cộng đồng những kỹ năng mới để nhận định, phân tích các vấn đề giúp cho việc xác định các nguyên nhân thành công, thất bại của những hoạt động trước đây theo quan điểm của chính mình, từ đó rút ra kinh nghiệm trong điều chỉnh và
xây dựng kế hoạch phát triển trong tương lai[4]
PRA và PLA là hai công cụ hữu hiệu nhằm phát huy vai trò của cộng đồng một cách tốt nhất Nó đặc biệt phù hợp trong công tác thuỷ lợi, nơi mà sự tham gia của cộng đồng vừa mục tiêu vừa là điều kiện tiên quyết để có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình
2.2.3 Cơ sở của sự tham gia xây dung, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ
Phát triển thuỷ lợi là nhiệm vụ quan trọng đối với hầu hết các quốc gia bởi
nó có ảnh hưởng to lớn đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
Thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu nhằm phát triển nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế quan trọng khác, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần xoá đói giảm nghèo và nâng cao đời sống kinh tế xã hội cho phần đông dân số nghèo khổ đang sống tại khu vực nông thôn Đầu tư cho thuỷ lợi mang tính chiến lược lâu dài, đòi hỏi nguồn kinh phí lớn cho toàn bộ quá trình quản lý từ quy hoạch, đầu tư xây dựng đến bảo dưỡng, vận hành sử dụng công trình Do vậy, quan niệm phổ biến cho rằng chỉ có chính phủ (nhà nước) mới có khả năng thực hiện quản lý thuỷ lợi một cách tốt nhất Chính phủ là uỷ nhiệm hợp pháp và hiệu lực nhất trong việc thực hiện phân phối và thu phí nguồn tài nguyên nước của quốc gia Ở hầu hết các nước trên thế giới, công tác thuỷ lợi được đặt dưới sự quản lý của chính phủ thông qua các đơn vị hành chính hay cơ quan chức năng chuyên môn
Những đơn vị này thực hiện quản lý toàn bộ quá trình xây dựng, vận hành hệ
thống thuỷ lợi và cung cấp nước theo kế hoạch và những nguyên tắc được xây dựng cụ thể
Trang 32Chính phủ thực hiện quản lý thuỷ lợi là vấn đề không phải thảo luận nếu không bộc lộ những yếu kém mà việc cải cách thường ít có kết quả Đó là tình trạng đầu tư kém hiệu quả, nguồn thu không đủ bù chi, công trình xuống cấp, những nỗ lực cải thiện không tạo ra chuyển biến đáng kể Trong khi đó, thực tế lại cho thấy một quang cảnh khác hẳn khi mà việc quản lý công trình được
chuyển giao cho những hiệp hội người sit dung nuéc (WUAs - Water User
Associations) Những hiệp hội này tự quản lý, hạch toán thu chi trong việc quản
lý, vận hành và bảo dưỡng một số khâu hay toàn bộ hệ thống theo hợp đồng với chính phủ hay những điều khoản ràng buộc vật chất và pháp lý khác Người sử dụng nước tiếp nhận quyền quản lý thuỷ lợi đồng nghĩa với việc tiếp nhận gánh
nặng chi phí quản lý và duy trì hệ thống đang có xu hướng tăng lên Tuy nhiên,
họ nhìn thấy lợi ích từ việc tự mình tổ chức quản lý công trình: tiết kiệm chỉ phí
đi lại, lưu trú, chế độ bảo hiểm hay phụ cấp công tác, kiểm soát tốt hơn nguồn thu chi, hiểu rõ những tác động ngoại cảnh để có những giải pháp phù hợp, tận dụng được những nguồn lực giá rẻ, chủ động tưới tiêu trong sản xuất Như vậy, người sử dụng nước không chỉ có điều kiện tốt mà còn có động cơ mạnh mẽ dé
có thể thực hiện quản lý một cách tốt nhất
Được xem như là một quy luật tất yếu của quá trình phát triển, mô hình chuyển giao quyền quản lý công trình cho người sử dụng nước đang phổ biến
một xu hướng chung trên phạm vi toàn cầu: xu hướng tăng cường sự tham gia
của cộng đồng trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi Phân tích
xu hướng này cho thấy một số cơ sở của cộng đồng tham gia như sau:
1 Phát triển thuỷ lợi không chỉ đơn thuần là xây dựng hệ thống mà còn phải thực hiện những biện pháp quản lý, duy tu bảo dưỡng và vận hành công trình Nguồn kinh phí đầu tư hàng năm cho các hoạt động này là rất lớn do các công trình phân bố dàn trải, chịu tác động lớn của điều kiện ngoại cảnh Về nguyên tắc kinh tế, nguồn thu thuỷ lợi phí phải đáp ứng được những chỉ phí quản lý, duy tu bảo dưỡng hàng năm cũng như khấu hao, lãi suất và lợi nhuận đầu tư Tuy nhiên, trong thực tế lại không dễ thực hiện
Trang 33điều này, thậm chí thuỷ lợi phí còn không đủ để trang trải cho riêng chỉ phí quản lý hàng năm Các chi phí duy tu bảo dưỡng công trình thì luôn có
xu hướng gia tăng theo thời gian trong khi nguồn thu lại quá ít, do vậy tình trạng công trình nhanh xuống cấp là điều khó trách khỏi Do thuỷ lợi có tác động lớn đến cả đời sống kinh tế, chính trị xã hội nên đứng trước thực trạng trên, các chính phủ phải cắt giảm một phần ngân sách (thường không nhỏ) để chi trả, trợ cấp cho các hoạt động thuỷ lợi Thâm hụt cán cân chi tiêu công cộng khiến các quốc gia, đặc biệt là quốc gia đang phát
triển phải tính đến biện pháp san sẻ gánh nặng trợ cấp thuỷ lợi Trên thực
tế, mô hình chuyển giao quyền quản lý công trình từ chính phủ cho người
sử dụng nước không phải bắt nguồn từ việc nghiên cứu đánh giá nội dung tham gia của cộng đồng mà bắt nguồn từ chính yêu cầu ổn định nền tài chính quốc gia thông qua cắt giảm trợ cấp thuỷ lợi
Cơ chế quản lý "từ trên xuống" (top down) tiềm ẩn những "căn bệnh" về
cơ cấu tổ chức Việc lập kế hoạch và thực thi các biện pháp thuỷ lợi tại các vùng nông thôn nhiều khi không mang lại hiệu quả như mong muốn khiến những nỗ lực và tiền của bỏ ra trở nên lãng phí Không hiểu biết đầy đủ điều kiện tự nhiên cũng như nhu cầu của cộng đồng địa phương dẫn đến những thiết kế không phù hợp; xây dựng kém chất lượng, không đồng bộ làm giảm năng lực phục vụ của công trình Một yếu tố khác là mức tiền công của nhân viên thuỷ lợi thường không đánh giá trực tiếp qua hiệu quả
công việc (quyền lợi không đi đôi với trách nhiệm) nên tạo ra sức ì, năng
lực quản lý suy giảm Đây là những vấn đề thường gặp khi chính phủ thực hiện quản lý thuỷ lợi tập trung Do vậy, chuyển giao quản lý thuỷ lợi cho các hiệp hội sử dụng nước địa phương là biện pháp giải quyết tận gốc
đt
"căn bệnh" của cơ chế quản lý "từ trên xuống”
Tiến trình dân chủ hoá xã hội ở một số các quốc gia thông qua các chương trình hoạt động phát triển cụ thể đã dẫn đến khả năng tham gia nhiều hơn trong các vấn đề có liên quan trực tiếp tới cộng đồng Mặt khác, đối với
Trang 34một số nước sử dụng nguồn vốn nước ngoài để phát triển thuỷ lợi phải cam kết có sự tham gia quản lý của cộng đồng thuộc các tầng lớp thấp xã
hội, đặc biệt là tầng lớp bình dân Những tác động này tạo ra môi trường thuận lợi để cộng đồng tham gia vào công tác thuỷ lợi
Sự tham gia của cộng đồng là động lực cơ bản của phát triển Nó tạo ra một chuỗi phát triển liên tục cả bên trong lẫn bên ngoài cộng đồng Về mặt bản chất, sự tham gia đồng nghĩa với sự vận động để có thể chuyển
hoá sự vật, hiện tượng theo hướng phát triển quy luật của nó Đây là
nguyên lý cơ bản của những thành công trong quá trình chuyển giao quản
lý công trình thủy lợi hiện nay
Cộng đồng tham gia cũng có nghĩa là năng lực của cộng đồng được phát
huy Năng lực này bao gồm tổng thể những nguồn lực như kiến thức bản địa, sức lao động, vốn, tài nguyên và chúng sẽ được phát huy tối đa khi
mà chính cộng đồng có động cơ tốt nhất để sử dụng nó Quá trình xây dựng, quản lý và sử dụng công trình đòi hỏi cả những nguồn lực vật chất
và phi vật chất (kiến thức tự nhiên trong khảo sát thiết kế; vốn, tài sản trong xây dựng; kinh nghiệm, sức lao động trong quản lý, sử dụng công trình) Do vậy, sự tham gia của cộng đồng là sự bổ sung cần thiết cho những điều kiện còn hạn chế của chính phủ trong công tác thuỷ lợi
Quá trình cộng đồng cùng tham gia với chính phủ (bình đẳng và thực chất) hướng tới việc tạo ra lợi thế so sánh cho cả 2 chủ thể trong công tác thuỷ lợi Song không chỉ có như vây, nó còn tác động nhiều mặt đến quá trình phát triển kinh tế xã hội chung Ví dụ như nguồn lực của chính phủ đáng
lẽ phải đầu tư cho thuỷ lợi sẽ được chuyển sang cho các mục tiêu cần thiết khác, hay sự tham gia của cộng đồng trong công tác thuỷ lợi sẽ mở ra nhiều hướng hoà nhập trong các lĩnh vực phát triển khác Có thể nói sự tham gia của cộng đồng trong công tác thủy lợi là một nội dung của phát triển xã hội nói chung
Trang 35Theo nội dung nghiên cứu của đề tài, một cơ sở đặc trưng để cộng đồng tham gia vào quá trình xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thủy lợi nhỏ là đặc tính kinh tế kỹ thuật của công trình Công trình có quy mô nhỏ, kỹ thuật không quá phức tạp, vốn đầu tư không cao Công trình nằm rải rác tại các khu vực sinh sống của cộng đồng, gắn bó với cộng đồng Đó là những điều kiện rất thuận lợi để cộng đồng có thể tham gia tích cực
2.2.4 Vài nét về mô hình PIM (mô hình tham gia quản lý thuỷ nông)
2.2.4.1 PIM là gì?
PIM là viết tắt của cum tir “Participatory Irrigation Management” Thuat
ngữ này dùng để nói đến sự tham gia của những người sử dụng thuỷ lợi ở tất cả các cấp (cấp tỉnh, huyện, xã, các hệ thống công trình đầu mối, công trình thứ cấp, các dự án hay toàn ngành thuỷ lợi) và các phương diện quản lý (lập kế
hoạch, xây dựng, giám sát, cấp vốn, vận hành, bảo dưỡng, kiểm tra, đánh giá hay
thiết lập chính sách) Có thể có nhiều dạng thức cũng như cấp độ tham gia khác nhau song quan điểm của PIM đặc biệt nhấn mạnh vai trò quản lý trực tiếp của người sử dụng thuỷ lợi Thay bằng quan niệm phổ biến cho rằng quản lý thuỷ lợi đòi hỏi phải có vai trò quan trọng của chính phủ thì PIM lại bắt đầu bằng việc cho rằng những người sử dụng mới là những người phù hợp nhất để quản lý nguồn nước và cơ sở vật chất thuỷ lợi một cách tốt nhất [ 15]
2.2.4.2 Nguồn gốc của PIM
Có thể nói nguồn gốc của PIM được hình thành từ rất sớm và gắn liền với
hình thức hợp tác thuỷ lợi trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên để được đánh giá và ghi nhận như một mô hình thuỷ lợi thì phải đến cuối thập kỷ
§0, PIM mới chính thức mở rộng và phát triển (mặc dù trước đó, từ đầu thập kỷ
70, phương pháp tham gia đã được áp dụng ở Philippin) Khái niệm PIM được
khởi nguồn phát triển từ Mêhicô khi vào giữa những năm 80, nên kinh tế nước này rơi vào tình trạng khủng hoảng, chính phủ tan rã, các mạng lưới thủy lợi lớn
đặt dưới sự kiểm soát của liên bang không được duy trì, vận hành không được
Trang 36chi trả Vượt ra ngoài sự cần thiết, chính phủ tái tổ chức cơ quan thủy lợi nhà nước để thành lập một uỷ ban quốc gia về nước (gọi tắt là CNA) cùng với sự cho phép để chuyển giao quản lý các đơn vị thuỷ lợi sang cho các hiệp hội người sử
dụng nước (WUA - Water Users Association) được thành lập một cách đặc biệt
cho mục đích này Việc chuyển giao gánh nặng chi phí O&M cho WUA được xem như là một phương thức nhanh nhất, hiệu quả nhất cho sự ổn định của nền tài chính quốc gia Chính sách chuyển giao quản lý được thực hiện vào năm
1989 và cũng trong năm đó, Liên bang Xô viết bắt đầu sụp đổ Chính sách được
đón nhận như là phát hiện mới để mở ra kỹ năng quản lý của người sử dụng chứ không phải chỉ dựa vào sự quản lý của nhà nước Năm 1990, Mêhicô đã chuyển giao đơn vị thủy lợi đầu tiên cho người sử dụng và đến năm 1995, 80 đơn vị thuỷ
lợi phục vụ hơn 2/3 trong tổng số 3,2 triệu hecta đất nông nghiệp gồm đã được
chuyển giao sang cho 316 WUAs Tiêu chí quan trọng cho việc lựa chọn là
WUAs có thể tự chủ về tài chính và trang trải được các chi phí hành chính và
duy trì hệ thống Do vậy, việc chuyển giao ban đầu được thực hiện ở các đơn vị được tổ chức tốt, hoạt động có hiệu quả và nông dân ở đó là những người có xu hướng thương mại hoá Người dân được giao quyên sử dụng các cơ sở vật chất
kỹ thuật, tự do tạo ra các quy tắc riêng cho việc cho việc quản lý như khi nào thì
làm sạch kênh, phân phối nước như thế nào, thuê nhân viên kỹ thuật gì để thực
hiện công việc Được xác nhận trên cơ sở pháp lý, các con kênh sẽ được nhà nước trao quyền sở hữu trong thời gian 20 năm Trong trường hợp người nông
dân từ chối đảm nhận việc quản lý thì chính phủ vẫn cung cấp các hỗ trợ cần thiết về quản lý, kỹ thuật Đối với nhiều nông dân, đặc biệt là những người có mục tiêu làm kinh tế (thương mại), họ không chấp nhận rủi ro là công trình có thể sụp đổ mà luôn mong muốn đảm nhận việc quản lý, thậm chí việc sử dụng nước phải trả giá cao hơn mà không có sự trợ cấp của chính phủ Chuyển giao quản lý thuỷ nông được xem là một biện pháp thắng lợi đối với cả chính phủ và người dân
Trang 37Philippin lại là trường hợp khá đặc biệt Nội dung của PIM được bắt đầu từ năm 1975 trên cơ sở làm sống lại vai trò truyền thống của người nông dân trong việc xây dựng các hệ thống thuỷ lợi kết hợp với vai trò của cơ quan thuỷ lợi quốc gia trong việc hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật cho người nông dân Hiện nay đã có hơn 6.200 hệ thống thuỷ lợi được các hiệp hội thuỷ lợi quản lý, tuy nhiên, số lượng các hiệp hội chịu trách nhiệm đầy đủ đối với việc vận hành và duy trì (O&M) các hệ thống của họ còn rất khiêm tốn Trường hợp của Philippin là có
sự tham gia của cộng đồng nhưng thiếu sự chuyển giao thực sự [15]
Mô hình chuyển giao quản lý ở Mêhicô đã tác động tới một loạt các nước như Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Trung Quốc, Marốc, Nhật Bản, Pakistan, Nêpan, Ấn Độ,
Uzobékistan Tuy viéc hoc tap kinh nghiém va dụng mô hình vào thực tiễn phát
triển thuỷ lợi ở mỗi nước có tên gọi khác nhau song về bản chất vẫn là tăng cường vai trò quản lý của người dân đối với hệ thống công trình thuỷ lợi Có thể nói rằng lĩnh vực thuỷ lợi trên thế giới đang chuyển sang xu hướng của PIM và
một phong trào toàn cầu đang diễn ra mà ở đó quyền lực tập trung trong tay nhà
nước đang chuyển sang một tầm quan trọng mới dựa trên những quyết định của người dân sử dụng nước
2.2.4.3 PIM và IMT
Khi nói tới PIM, người ta thường hay liên hệ tới chuyển giao quản lý thuỷ
nong (IMT - Irrigation Management Transfer) Chuyén giao quan ly thuc chất là
sự dịch chuyển quyền kiểm soát những quyết định quản lý hệ thống công trình trong tay nhà nước sang người sử dụng thuỷ lợi Chuyển giao là phần nội dung của PIM (có thể coi IMT là một biện pháp quan trọng để thực hiện PIM) song trên thực tế hai nội dung này thường ít được chú ý phân biệt và thậm chí là đánh đồng lẫn nhau Những lý do được giải thích như sau: (1) Sự hoàn thiện của PIM dựa trên cơ sở IMT Khi IMT đã trở thành một phong trào thì PIM mới bắt đầu
phát triển hay nói cách khác PIM là kết quả hoàn thiện từ quá trình nghiên cứu
Trang 38IMT (2) IMT là biện pháp cốt lõi của IPM Các quyền quản lý thuỷ nông vốn đã nằm trong tầm kiểm soát của nhà nước thì chỉ có một lựa chọn duy nhất để thực hiện PIM là trao những quyền đó cho người sử dụng thuỷ lợi (3) IMT thiết lập nên những điều kiện cơ bản và quan trọng để việc tham gia quản lý được thực hiện dễ dàng hơn Kết quả của IMT là nội dung của PIM
- Mang lại lợi ích cho người sử dụng thuỷ lợi: Điều kiện để người nông
dân tham gia quản lý là quá trình chuyển giao phải nằm trong lợi ích của họ Người nông dân có thể nhìn thấy lợi ích từ việc tự tổ chức quản lý công trình
- Động cơ tham gia của người sử dụng: người nông dân phụ thuộc nhiều
vào nguồn nước thuỷ lợi trong đời sống sản xuất và sinh hoạt hằng ngày Do vậy
họ có động cơ mạnh mẽ nhất để quản lý nguồn nước cũng như giải quyết những vấn đề khó khăn có tác động trực tiếp Nếu có một vấn đề không đáng kể trong quản lý nhưng lại quan trọng trong sản xuất nông nghiệp thì nó vẫn được người nông dân ưu tiên giải quyết Trường hợp này sẽ khác đối với những cơ quan quản
lý thuỷ lợi của nhà nước Như vậy, động cơ tham gia của người nông dân cho thấy tính bên vững trong suốt quá trình quản lý công trình
2.2.4.5 Phạm vi của PIM
Phạm vi của PIM được giới hạn theo hai nội dung cấu thành là Quản lý và Tham gia Phạm vi quản lý đánh giá chủ thể quản lý (ai là người kiểm soát việc
Trang 39quản lý) trong đó phân chia thành các giới han ở mức độ tương đối như sau: l) Chính phủ kiểm soát hoàn toàn mọi quyết định quản lý nguồn nước và công trình, người dân không có vai trò ảnh hưởng; 2) Chính phủ kiểm soát có sự giúp
đỡ của người dân Đây là phương pháp quản lý truyền thống ở hầu hết những công trình thuỷ lợi lớn; 3) Người dân kiểm soát và chính phủ tạo điều kiện thuận lợi Đây là mô hình IMT trong đó chính phủ có hỗ trợ trong cả quá trình chuyển giao hoàn toàn, ít nhất cũng là sự trợ giúp về mặt pháp lý; 4) Người dân kiểm soát hoàn toàn Phạm vi này thường thấy ở các hệ thống thuỷ lợi truyền thống do người dân địa phương quản lý
Với phạm vi tham gia, giới hạn thể hiện ở các cấp độ tham gia khác nhau
của người dân như sau: 1) Không tham gia: người dân không tham gia vào các
quyết định quản lý hoặc sự tham gia chỉ được đánh giá ở mức thụ động thông qua việc tiếp nhận thông tin I chiều về quyết định quản lý; 2) Cung cấp thông tin; 3) Tham khảo ý kiến: người dân được tham khảo trước khi hình thành hoặc đưa ra các quyết định; 4) Chia sẻ các quyết định: người dân có được quyền kiểm soát quản lý trực tiếp; 5) Hoàn toàn quyết định: người dân là những nhà quản lý[15]
Hai yếu tố quản lý và tham gia có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau Trong chừng mực nhất định chúng là hai khía cạnh phản ánh của cùng một vấn đề Do vậy, để phạm vi của PIM được mở rộng, bền vững thì nhất thiết tham gia và quản
lý phải được hướng đến một sự hoà nhập tốt nhất trên cơ sở một liên kết rộng rãi, chặt chẽ (tính cộng đồng) và quyền kiểm soát thực sự Tiểm lực của PIM được coi như một chiến lược quản lý để đáp ứng tất cả các mục tiêu phát triển dựa trên việc kết hợp cân bằng sự tham gia và kiểm soát của người sử dụng thủy lợi [15]
2.2.4.6 Tác động của PIM
PIM là phương pháp quản lý thuỷ nông coi trọng việc đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thuỷ lợi Nó làm thay đổi các mối quan hệ quản lý trước đây nhằm hướng tới một trật tự mới trong đó người sử dụng nắm giữ vai trò quyết
Trang 40định trong quản lý công trình Tác động cuả quá trình này lên các chủ thể chịu ảnh hưởng được xem xét trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực (Bảng 2.2)
- Tang tinh minh bạch
- Tang cudng bao dưỡng
- Giảm mâu thuẫn giữa các cá
- Doi hoi nhiều thời gian công sức
để quản lý
(Người nông dân) an - ft được hỗ trợ thiên tai
- Chủ động sản xuất - Ít được hỗ trợ cải tạo, nâng cấp
- Tang năng suất nông nghiệp
- Giảm chỉ phí cho nền kinh tế
- Người nông dân được hài lòng
nghiệp thông qua cơ quan quản lý
thuỷ lợi giảm
- Giảm thiểu sự tham gia vận hành
- Có được những trách nhiệm mới
- Giảm những can thiệp mang tính chính trị
Người dân tham gia quản lý thủy nông đã trở thành một xu hướng toàn
cầu Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia hay địa phương khác nhau lại có những hình thái,
tính chất, mức độ tham gia khác Với sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi nhỏ, đề tài nêu lên kinh nghiệm ở một số
nước châu Á như sau: