Qua đó, đưa ra đánhgiá tác động của các chính sách này tới sự phát triển của DNN&V Trên cơ sở thực trạng, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sáchtrợ giúp DNN&V Việt Nam trong đi
Trang 1Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khu vực hoá và toàn cầu hoá đã trở thành những xu thế tất yếukhông thể đảo ngược của thời đại Trong bối cảnh ấy, mọi nền kinh tế đều đặtvấn đề hội nhập kinh tế lên vị trí hàng đầu để làm tiền đề cho các hoạt động hợptác khác Có thể nói rằng hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT) vừa là đòi hỏi kháchquan của nên kinh tế thế giới nói chung, vừa là nhu cầu nội tại của sự phát triểnkinh tế mỗi nước
Trong xu thế tất yếu ấy, Việt Nam cũng là một bộ phận cấu thành Điềunày đã sớm được khẳng định trong những văn kiện đại hội Đảng VII, VIII, IX1.Tuy nhiên, lực lượng tham gia trực tiếp vào hội nhập KTQT hơn ai hết lại chính
là đội ngũ doanh nghiệp trong nước Do đó, sự thành công của quá trình hộinhập KTQT phải kể đến đóng góp của lực lượng doanh nghiệp Theo các số liệuthống kê, doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa(DNN&V)2 Như vậy, vấn đề là ở chỗ năng lực của DNN&V Việt Nam hiện naynhư thể nào? Liệu các DNN&V có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu hội nhậpKTQT không?
Thực tế cho thấy rằng DNN&V của Việt Nam đang phát triển Cũng nhưcác nước khác trên thế giới, DNN&V Việt Nam có một số điểm mạnh nhữngcũng có những mặt hạn chế cố hữu Và vì vậy, khu vực này không thể khôngnhận được sự trợ giúp từ phía các chính sách của Nhà nước
1 - Đứng trước đòi hỏi cấp bách của tình hình quốc tế, Đại hội Đảng lần thứ VII đã chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, đánh dấu bước khởi đầu cho tiến trình hội nhập KTQT.
- Đại hội Đảng lần thứ VIII đã khẳng định “chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”.
- Nghị quyết Đại hội Đảng IX nêu rõ chúng ta cần tiếp tục chính sách mở cửa và chủ động hội nhập KTQT, thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết trong quá trình hội nhập mà nước ta đã tham gia, đặc biệt chú ý tới những cam kết trong khuôn khổ ASEAN, APEC, ASEM và xúc tiến đàm phán để gia nhập WTO.
2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chiếm khoảng 96% tổng số lượng doanh nghiệp (xem mục 2.1.1)
1
Trang 2Trước đây, vấn đề chính sách hỗ trợ DNN&V ít nhiều đã được đề cập tới.Tuy nhiên, đây vẫn luôn là một vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch định chínhsách, các nhà quản lý Nhà nước bởi tính mới mẻ và tầm quan trọng của nó
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về DNN&V, quá trình hội nhập kinh tếquốc tế, từ đó đưa ra các vấn đề cần quan tâm đối với DNN&V và các chínhsách trợ giúp khu vực này đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốctế
Nghiên cứu thực trạng phát triển của DNN&V ở Việt Nam hiện nay, cácchính sách đang áp dụng nhằm trợ giúp phát triển DNN&V Qua đó, đưa ra đánhgiá tác động của các chính sách này tới sự phát triển của DNN&V
Trên cơ sở thực trạng, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sáchtrợ giúp DNN&V Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Chuyên đề là thực trạng DNN&V ở Việt Namhiện nay, các chính sách trợ giúp phát triển DNN&V, trong đó DNN&V đượcxác định theo quy định trong Nghị định 90/2001/NĐ-CP Tuy nhiên, do quátrình áp dụng tiêu chí mới này chưa lâu nên các số liệu thống kê trực tiếp vềDNN&V theo tiêu chí trên chưa được phát hành Do vậy, tác giả đã sử dụngnhiều hình thức, cả trực tiếp và gián tiếp để xem xét và đánh giá vấn đề vớinhững số liệu cập nhật nhất có thể
4 Phương pháp nghiên cứu
Tổng hợp, phân tích, so sánh, thu thập và xử lý số liệu
5 Cấu trúc của Chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về DNN&V trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam
Chương II: Thực trạng DNN&V và các chính sách đối với khu vực này Chương III: Khuyến nghị chính sách phát triển DNN&V trong điều kiện hội nhập KTQT
Trang 4CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DNN&V TRONG XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CỦA VIỆT NAM
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DNN&V
1.1.1 Định nghĩa và tiêu chí phân loại DNN&V
Tiêu chí phân loại DNN&V
Việc đưa ra một khái niệm chuẩn xác về DNN&V có ý nghĩa rất quantrọng đối với các quốc gia trên thế giới Bởi đó là cơ sở để xác định cơ chế quản
lý với những chính sách ưu tiên thích hợp và xây dựng cơ cấu tổ chức, quản lýhiệu quả đối với hệ thống các DN này Tuy nhiên, không có tiêu thức thống nhất
để phân loại DNN&V cho tất cả các nước vì điều kiện kinh tế - xã hội của mỗinước không giống nhau, và thậm chí ngay trong một nước, sự phân loại cũngkhác nhau tuỳ theo từng thời kỳ, từng ngành nghề, từng vùng lãnh thổ
Thông thường có hai nhóm tiêu chí phổ biến dùng để phân loại DNN&V:tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng
Nhóm tiêu chí định tính: Nhóm tiêu chí này dựa trên những đặc trưng cơ
bản của các DNN&V như: trình độ chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít,mức độ phức tạp của quản lý thấp Sử dụng các tiêu chí này có ưu thế là phảnánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế Do đó nóchỉ dùng làm cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại
Nhóm tiêu chí định lượng: Nhóm tiêu chí này có thể sử dụng các tiêu chí
như: số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận của DN Tuynhiên, về cơ bản việc phân loại DNN&V chủ yếu dựa vào các tiêu chí số lượnglao động, tổng giá trị tài sản (vốn) hoặc doanh thu
Bảng 1.1 dưới đây sẽ minh hoạ sự đa dạng của tiêu chí phân loại DNN&V
ở một số nước trong APEC
Trang 5Bảng 1.1 Tiêu chí xác định DNN&V của các nước thành viên APEC
Tên nước Loại
DN nhỏ
< 1,5 triệu USD
< 776.566 USD Nhật Bản Ngành CN
Xin-ga-po Ngành DV < 200 người < 15 triệu $ tài sản cố
định Thái Lan < 200 người < 100 Bat
Việt Nam < 300 người < 10 tỷ đồng
Canađa < 500 người < 20 triệu CAD Malaixia Ngành SX < 150 người < 25 triệu RM Philippin < 199 người < 60.000.000 P
Mỹ Ngành SX
Ngành phi SX
Nguồn: Phạm Quốc Trụ, Phát triển DNN&V trong điều kiện hội nhập quốc
tế-Kinh nghiệm của APEC [6]
Trang 6 Các yếu tố tác động đến phân loại DNN&V
Sở dĩ có sự đa dạng trong việc lựa chọn tiêu chí xác định DNN&V củacác quốc gia là do sự chi phối của một số nhân tố chính Đó là:
- Trình độ phát triển kinh tế của một nước: Tuỳ theo trình độ phát triển
kinh tế của mỗi nước mà mức độ các tiêu chí sẽ được xác định như thế nào.Thông thường, nếu trình độ phát triển kinh tế của một nước được nâng lên thì xuhướng đối với tiêu chí về vốn, doanh thu, sẽ càng được nâng cao Tuy nhiênđối với tiêu chí về lao động lại có thể giảm đi do tỷ lệ đầu tư vốn/lao động tănglên theo sự phát triển của khoa học công nghệ Cơ sở của vấn đề này là do quy
mô trung bình của các DN ở những quốc gia này thường cũng tăng lên Ví dụnhư trong Bảng 1.1, ta thấy ở Mỹ DN được coi là vừa và nhỏ nếu chúng có dưới
500 lao động (ngành sản xuất) hoặc doanh thu dưới 5triệu USD (ngành phi sảnxuất), cũng như vậy số liệu tương ứng ở Canađa là 500 người và 20 triệu đôlaCanađa
- Tính chất ngành nghề: Do đặc điểm của mỗi ngành khác nhau nên quy
mô sử dụng lao động trong mỗi ngành cũng khác nhau, có ngành sử dụng nhiềulao động (dệt, may); có ngành sử dụng nhiều vốn ít lao động (hoá chất, điện)
- Vùng lãnh thổ: Do điều kiện và đặc điểm riêng của từng vùng lãnh thổ mà
trình độ phát triển kinh tế của vùng này khác với các vùng khác Điều này dẫnđến quy mô trung bình của các DN cũng khác nhau Vì vậy việc phân loại DNcũng khác nhau về lao động, vốn, doanh thu, tổng tài sản
- Tính chất lịch sử: Trong mỗi giai đoạn khác nhau thì trình độ phát triển
cũng khác nhau, vì vậy ở mỗi giai đoạn, tiêu chí phân loại có thể thay đổi tuỳthuộc điều kiện phát triển kinh tế của giai đoạn đó
- Mục đích phân loại: Mỗi nước tuỳ theo điều kiện và khả năng của mình
mà có những mục đích phân loại DNN&V Ví dụ, mục đích để hỗ trợ các DNyếu, mới ra đời sẽ khác với mục đích giảm thuế cho các DN có công nghệ sạch,hiện đại không gây ô nhiễm môi trường
Định nghĩa DNN&V ở Việt Nam hiện nay
Trang 7Ở Việt Nam, định nghĩa DNN&V bắt đầu xuất hiện kể từ khi có các tổchức quốc tế hỗ trợ DNN&V hoạt động tại nước ta Sau nhiều nỗ lực nghiên cứu
và điều chỉnh, tới nay DNN&V được định nghĩa chính thức theo Nghị định90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ (gọi tắt là Nghị định 90) nhưsau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký kinh doanh không quá 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
Theo nghị định này, các đối tượng thuộc diện DNN&V bao gồm:
- Các DN thành lập và hoạt động theo Luật DN;
- Các DN thành lập và hoạt động theo Luật DN Nhà nước;
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã;
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày
03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh
Trong Chuyên đề Thực tập tốt nghiệp, định nghĩa chính thức mà Nghịđịnh 90/2001/NĐ-CP đưa ra sẽ được sử dụng để phân tích khu vực DNN&V ởViệt Nam
1.1.2 Đặc điểm của DNN&V
1.1.2.1 Ưu thế của DNN&V
Quy mô nhỏ - đó là bản chất của DNN&V Và xuất phát từ đặc trưng này,DNN&V có rất nhiều thế mạnh riêng mà những DN lớn không có Đó là:
Thứ nhất, DNN&V dễ dàng khởi sự, bộ máy hoạt động linh hoạt, gọnnhẹ, nhạy bén với những thay đổi của thị trường DN chỉ cần một quy mô vốn ít,diện tích mặt bằng không lớn và các điều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắtđầu hoạt động Do tốc độ quay vòng vốn không lâu nên DN có thể huy động từnhiều nguồn phi chính thức như từ người thân, bạn bè và sử dụng vốn tự có dễdàng Đồng thời, do quy mô nhỏ nên các DN này rất cơ động, linh hoạt, dễchuyển hướng kinh doanh để thích ứng với những thay đổi của thị trường và
Trang 8vươn tới bao phủ mọi khoảng trống của thị trường Nếu một nền kinh tế đượccấu thành bởi số lượng lớn DNN&V thì chắc chắn sẽ phát huy được được sứcsống năng động và sáng tạo cho các DN nói riêng và cả nên kinh tế nói chung
Thứ hai, DNN&V sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, kể cả lĩnh vực có
độ rủi ro cao Với quy mô nhỏ gọn, các DN này có thể len lỏi tới mọi ngõ ngáchcủa thị trường, thử sức ở các lĩnh vực mới - điều mà các DN lớn với bộ máycồng kềnh hơn chưa thể thích ứng kịp Hơn nữa, DNN&V phải tự tìm cho mìnhnhững lĩnh vực hoạt động riêng, kể cả những lĩnh vực kinh doanh mạo hiểm vì
họ không thể cạnh tranh với những DN lớn với những thị trường truyền thống vànhững dây chuyền sản xuất hàng loạt
Thứ ba, DNN&V dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ và cóthể sản xuất sản phẩm có chất lượng tốt ngay cả khi điều kiện sản xuất kinhdoanh còn hạn chế Thực tế cho thấy các DNN&V rất linh hoạt trong việc thayđổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây chuyền công nghệ thường thấp và họthường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù hợp với quy mô của mình từnhững công nghệ cũ và lạc hậu Điều này cũng góp phần tạo nên sự khác biệtcho sản phẩm để chúng có thể tồn tại trên thị trường
Thứ tư, vấn đề nhân sự trong DNN&V có nhiều thuận lợi xét về mặt tâm
lý lao động Quy mô lao động trong DNN&V không lớn, do đó quan hệ giữangười quản lý và nhân viên khá gần gũi, tạo điều kiện thực hiện những ý tưởngmới, kích thích tính năng động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của người laođộng
1.1.2.2 Khó khăn của DNN&V
Bên cạnh những ưu thế riêng, DNN&V luôn phải đối mặt với không ítkhó khăn làm cho sức cạnh tranh của khu vực này rất hạn chế Những khó khănnày xuất phát từ hai phía: chủ quan từ chính DN và khách quan từ môi trườngkinh doanh
Trang 9Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNN&V là vấn đề vốn Có rất nhiềunhân tố cản trở DNN&V tiếp cận các khoản vay chính thức từ ngân hàng thươngmại như các thủ tục và điều kiện vay vốn khắt khe, thủ tục thế chấp Thôngthường DNN&V phải huy động vốn từ các nguồn phi chính thức như ngườithân, bạn bè Do vậy, thiếu vốn là tình trạng phổ biến khi DNN&V muốn mởrộng thị trường hay tiến hành đổi mới, nâng cấp thiết bị.
Thứ hai, trình độ quản lý của chủ DN cũng như tay nghề của người laođộng thấp Các chủ DN thường là những kỹ sư hoặc kỹ thuật viên tự đứng rathành lập và vận hành DN Họ vừa là người quản lý DN, vừa tham gia trực tiếpvào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý không cao Bên cạnh đó,các chủ DNN&V không đủ khả năng cạnh tranh với các DN lớn trong việc thuênhững người lao động có tay nghề cao do hạn chế về tài chính Ngoài ra, ngườilao động không thường xuyên được đào tạo hay đào tạo bằng nguồn kinh phíhạn hẹp vì vậy trình độ thấp và kỹ năng thấp
Thứ ba, khả năng về công nghệ của DNN&V thấp do không đủ tài chínhcho nghiên cứu triển khai Nhiều khi các DN này có những sáng kiến công nghệtiên tiến nhưng không đủ tài chính cho việc triển khai nên không thể hình thànhcông nghệ mới, mà họ chỉ thường tận dụng một cách linh hoạt những công nghệ
đã cũ và lạc hậu
Thứ tư, khả năng tiếp cận thị trường của DNN&V kém, đặc biệt đối vớithị trường nước ngoài Nguyên nhân chủ yếu là do đây thường là những DN mớihình thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không có và họcũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống Thêm vào đó, quy mô thị trườngcủa các DN này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra cácthị trường mới là rất khó khăn
Thứ năm, DNN&V phần lớn là thiếu thông tin, đặc biệt là thông tin kinhdoanh Họ thiếu thông tin về thị trường đầu vào như thị trường vốn, thị trườnglao động, thị trường nguyên vật liệu, thị trường thiết bị-dây chuyền công nghệ;thiếu thông tin về môi trường kinh doanh như: hệ thống luật pháp nói chung và
Trang 10các văn bản pháp luật của Nhà nước liên quan đến hoạt động của DN nhỏ vàvừa; thiếu thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là thị trường xuấtkhẩu hàng hoá.
Nhìn chung, bên cạnh một số hạn chế xuất phát trực tiếp từ DN, DNN&Vcòn gặp phải những khó khăn từ môi trường bên ngoài như: sự phân biệt đối xửtrong chính sách kinh tế đối với các thành phần kinh tế và trong các giao dịch vềvay vốn, mặt bằng sản xuất, sự ghi nhận xã hội thấp
1.1.3 Vai trò của DNN&V
- Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Việc hình thành nhiều DN ở các vùng nông thôn, vùng núi, vùng sâu,vùng xa sẽ làm tỷ trọng ngành nông nghiệp ở những vùng này giảm xuống vàlàm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ Các DNN&V sẽ đóng góp rấtđáng kể trong cơ cấu GDP của vùng DN đóng trụ sở, đặc biệt là những vùngnông thôn mà tỷ trọng nông nghiệp còn cao Việc hình thành DN sẽ làm tăng cơcấu ngành công nghiệp và phát triển ngành dịch vụ
- Tăng hiệu quả kinh tế: cạnh tranh, phân bổ phạm vi rộng hơn.
Các DNN&V làm tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế cũng như sự phân
bổ rộng hơn các hoạt động kinh doanh Việc thành lập của các DNN&V sẽ làm
Trang 11cho thị trường sản phẩm hàng hoá mà nó tham gia trở nên đa dạng và mang tínhcạnh tranh hơn do số DN và khối lượng hàng hoá đó trên thị trường tăng, áp lựccạnh tranh sẽ lớn Các DN muốn tiêu thụ được sản phẩm phải tập trung hơn chochính sách marketing nhằm thu hút khách hàng Các DNN&V có thể hoạt động
ở những vùng có địa hình khó khăn hơn như vùng núi, vùng nông thôn, vùngsâu, vùng xa (Tại đây, nguồn nguyên vật liệu có sẵn chỉ có đủ để cung ứng chonhững DNN&V mà đối với các DN quy mô lớn hơn sẽ phải mua thêm từ nơikhác, tăng chi phí vận chuyển dẫn đến giá thành sản phẩm tăng cao) Ngoài ra,các DNN&V có thể tồn tại ở những khu vực có số dân ít, với quy mô thị trườngnhỏ
- Tăng tốc độ áp dụng công nghệ mới trong sản xuất
Mặc dù có những hạn chế về vốn song các DNN&V thường là nhữngngười đi trước trong việc đổi mới công nghệ và những sáng kiến về kỹ thuật.Các DNN&V luôn phải cạnh tranh với nhau và cạnh tranh với cả các DN lớn, vìvậy để tồn tại chúng phải luôn duy trì được sự khác biệt của các sản phẩm củamình Muốn có sự khác biệt về sản phẩm thì những cải tiến và phát triển côngnghệ mới, công nghệ mang tính đặc trưng riêng luôn là một đòi hỏi chính đáng
và khẩn thiết Họ cũng không thể cạnh tranh về giá đối với các DN lớn do bất lợi
- Các DNN&V thường đóng vai trò là vệ tinh cho các DN lớn
Trang 12Các DNN&V thường là những vệ tinh cho các DN lớn với cả hai tư cách
là người cung cấp (các sản phẩm trung gian, các bộ phận của các sản phẩm hoànchỉnh, một số loại nguyên vật liệu) và khách hàng (mua lại công nghệ, máy mócsản xuất của các DN lớn Các DNN&V cũng có thể làm đại lý cho các DN lớn,thậm chí chúng có thể trở thành các chi nhánh hoặc công ty con của các DN lớnnếu quan hệ giữa chúng mang lại những lợi ích to lớn cho cả hai phía
Đóng góp cho xã hội
- Tạo công ăn việc làm, giảm sức ép thất nghiệp.
Hiện nay do tỷ lệ tăng dân số của những năm trước để lại, hàng năm ViệtNam có khoảng 1,2 -1,4 triệu người ra nhập vào lực lượng lao động Việc giảiquyết việc làm cho những người này là rất cấp thiết Bên cạnh đó, khu vựcDNNN hiện đang thực hiện sắp xếp lại nên không những không thể thu hút thêmlao động mà còn tăng thêm số lao động dôi dư Như vậy, bên cạnh khu vực đầu
tư nước ngoài, phần lớn số người tham gia lực lượng lao động đang trông chờvào khu vực nông thôn và khu vực DNN&V Tại Việt Nam tỷ lệ lao động trongkhu vực DNN&V khoảng 24% trong tổng số lao động (không kể khu vực nônglâm nghiệp chiếm 72%), chỉ có khoảng 3,2% là việc tại các khu vực khác trong
đó có các DN quy mô lớn Như vậy khu vực DNN&V đóng góp rất lớn trongviệc tạo công ăn việc làm cho một bộ phận lao động đáng kể Ở một số quốc giakhác tỷ lệ này còn cao hơn nhiều do khu vực nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ hơn
Ví dụ ở Nhật là 77,6%, Đức khoảng 78% Tiềm năng của khu vực này còn rấtlớn tại Việt Nam, trong tương lai khu vực này sẽ góp phần rất quan trọng trongviệc giải quyết việc làm cho người lao động3
- Ổn định xã hội (giảm bớt các tệ nạn xã hội do những người thất nghiệp gây ra, đặc biệt là những thanh niên mới gia nhập lực lượng lao động) Việc tạo thêm việc làm cho người lao động của các DNN&V sẽ thu hút
một lượng lớn các thanh niên mới tham gia lực lượng lao động tránh tình trạng
3 Số liệu dẫn từ: Nguyễn Cúc (2001), Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển DNV&N ở Việt Nam đến năm 2005, NXB Chính trị quốc gia.
Trang 13thất nghiệp của nhóm này Đây là nhóm tuổi nhạy cảm, dễ bị lôi kéo vào những
tệ nạn như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút
1.1.4 Sự cần thiết phải hỗ trợ DNN&V
Như đã phân tích ở phần trên, có thể khẳng định rằng DNN&V có vai tròrất quan trọng trong nền kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào Do vậy, hỗ trợDNN&V phát triển cũng được coi là một yêu cầu cấp thiết bởi vì điều này có lợikhông chỉ cho cả DN mà còn cho toàn xã hội
Lợi ích của các chính sách hỗ trợ đối với các DNN&V
Từ những phân tích trong mục 1.1.2.2 trên đây, có thể nhận xét rằngDNN&V còn quá yếu ớt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt vớinhững hạn chế như nói trên (năng lực quản lý yếu, công nghệ lạc hậu, vốn ít )
Do đó, để các DN này phát huy được vai trò của mình, nhất thiết phải có sự hỗtrợ của Nhà nước Hơn nữa, có nhiều vấn đề mà các DN không thể tự giải quyếtđược như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộngthị trường, đào tạo nguồn nhân lực Nhiều vấn đề khác nếu được sự hỗ trợ củaNhà nước sẽ làm giảm bớt khó khăn cho DN, tạo điều kiện cho DN đứng vữngđược trên thị trường và phát triển thuận lợi
Lợi ích của chính sách hỗ trợ đối với Nhà nước và xã hội
Thực tế của nhiều nước cho thấy, sự hỗ trợ không chỉ có lợi đối với các
DN mà còn có lợi cho cả Nhà nước và xã hội Lợi ích đó được thể hiện trên cácmặt sau:
Trước hết, sự hỗ trợ các DN là cách thức để nuôi dưỡng các nguồn thucho Ngân sách Nhà nước
Hỗ trợ DN là một cách đầu tư gián tiếp của Nhà nước: thay vì Nhà nướcphải đầu tư trực tiếp để thành lập các DNNN (như mô hình kinh tế hiện vậttrước đây) bằng việc hỗ trợ cho các DN đã có, đặc biệt là các DN khu vực tưnhân
Trang 14Thông qua chính sách hỗ trợ của Nhà nước, việc đầu tư phát triển sản xuất
sẽ hiệu quả hơn vì vừa huy động được tiềm năng sáng tạo trong dân, vừa thựchiện tốt chức năng quản lý Nhà nước
Bằng việc hỗ trợ các DNN&V, Nhà nước cũng có thể giải quyết nhữngvấn đề xã hội như thất nghiệp, tạo việc làm hiệu quả với nguồn vốn hạn hẹp củaNhà nước: thay vì chỉ thành lập mới các DNNN, thì với số vốn đó có thể hỗ trợcho một số lượng DN đã có nhiều gấp bội
Ngoài ra, Nhà nước có thể thông qua chính sách hỗ trợ để định hướngphát triển các DNN&V
Tóm lại, hỗ trợ DNN&V phát triển là một đòi hỏi tất yếu của các nền kinh
tế Không riêng ở Việt Nam mà hầu hết các nước trên thế giới đều phải hỗ trợcác DNN&V (Xem mục 1.3) Trong khuôn khổ dự án “Chính sách hỗ trợDNN&V ở Việt Nam”, các chuyên gia đã đánh giá về vai trò của việc hỗ trợDNN&V như sau: 100% số người được hỏi ý kiến đều cho rằng cần hỗ trợDNN&V, trong đó 64,4% ý kiến nói rằng “rất cần hỗ trợ” các DN này4
1.2 DNN&V VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.2.1 Tính tất yếu của quá trình hội nhập KTQT
Thế giới của chúng ta ngày nay chứa đựng đầy biến động Nhiều thay đổicăn bản đang diễn ra sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Dướitác động của cách mạng tin học, của kỹ thuật và công nghệ hiện đại, quá trìnhquốc tế hoá và sự giao lưu quốc tế đang hoà quện vào nhau, thâm nhập vàchuyển hoá, tạo nên bức tranh toàn cảnh của một thế giới sinh động
Trong xu thế ấy, không một quốc gia riêng lẻ nào có thể đứng ngoài cuộc.Nền kinh tế thị trường tạo ra sức cuốn hút đối với tất cả các quốc gia trên thếgiới Sự phát triển đơn lẻ theo kiểu khép kín, biệt lập không đủ sức giành thắng
4 Dự án do Viện Friedrich Ebert (CHLB Đức) tài trợ, Khoa Quản lý kinh tế - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nghiên cứu bắt đầu từ tháng 6/1996 và chia thành nhiều giai đoạn nghiên cứu Số liệu nêu trên dẫn từ kết quả nghiên cứu giai đoạn I của Dự án được in trong: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh & Viện Friedrich Ebert, “Kỷ yếu khoa học - Dự án Chính sách hỗ trợ phát triển DNN&V ở Việt Nam”, 12/1996.
Trang 15lợi trước những ưu thế kỹ thuật và sự liên kết mang tính quốc tế Thị trường củatừng quốc gia đang hoà nhập vào thị trường khu vực và thị trường toàn cầu Đặctrưng rõ nét nhất của tình hình thế giới hiện nay là:
công nghệ - Động lực của quá trình toàn cầu hoá
Xu thế phát triển mang tính bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ tin học, vật liệu mới
đã làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ
Xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới - Trạng thái của quá trình toàncầu hoá
Đây thực chất là biểu hiện của sự phân công lao động quốc tế Trong đó,quốc tế hoá sản xuất tiếp tục phát triển và ngày càng đi vào chiều sâu, làm tăngkhả năng và cơ hội cho mỗi nước và cho toàn bộ nền kinh tế thế giới, đồng thờilàm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Vai trò của các công ty đaquốc gia, công ty xuyên quốc gia ngày càng mạnh mẽ và chi phối tới sự vậnđộng của nền kinh tế thế giới Điều này sẽ dẫn đến việc cạnh tranh trên thịtrường khu vực và thị trường quốc tế ngày càng khắc nghiệt
Xu thế hoà bình, hợp tác - Phương thức của quá trình toàn cầu hoá
Ngày nay, xu thế hoà bình và hợp tác đã trở thành xu thế chính thay cho
sự đối đầu, chạy đua và thù địch giữa các thế lực siêu cường Con đường hợptác, đối thoại vì sự phát triển chung là phương thức để các nền kinh tế trên thếgiới ngày càng hội nhập sâu rộng
Đối với Việt Nam, với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á và traođổi mậu dịch chủ yếu với khu vực này, do vậy đây là cơ hội cho nước ta trướchết là hội nhập vào kinh tế khu vực, và sau đó là hội nhập kinh tế quốc tế Nước
ta đã trở thành thành viên của ASEAN năm 1995 và đang thực hiện lộ trìnhAFTA và sẽ hoàn thành chương trình CEPT vào năm 2006 Năm 1996, ViệtNam tham gia với tư cách thành viên sáng lập ASEM và bắt đầu tham gia đàmphán Hiệp định thương mại với Mỹ Đến 1998, Việt Nam tham gia vào APEC
Trang 16Và sau 5 năm đàm phán, tháng 7 năm 2000, Việt Nam – Hoa Kỳ đã ký hiệp địnhthương mại song phương đầu tiên với các nguyên tắc của WTO làm cơ sở Vềtiến trình gia nhập WTO, Việt Nam đã hoàn thành 7 vòng đàm phán, và hy vọng
sẽ gia nhập tổ chức này trong năm 2005
Như vậy, vấn đề đặt ra là, dù muốn hay không Việt Nam cũng như cácquốc gia khác sẽ phải hội nhập vào dòng chảy của thời đại, vào nền kinh tế thếgiới Nếu tích cực, chủ động và chuẩn bị tốt thì sẽ tận dụng được lợi thế và tiếnlên Ngược lại, nếu bị động thì sẽ thua thiệt và tụt hậu Đó là một tất yếu kháchquan
1.2.2 Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến DNN&V
Ngày nay, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu trong xu thếtoàn cầu hoá của các quốc gia Quá trình này luôn đem lại nhiều cơ hội và cũngkhông ít thách thức đối với mỗi quốc gia và đặc biệt là đối với một nước đangphát triển như Việt Nam Trong đó, các DN Việt Nam - lực lượng chính trựctiếp tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - hơn hết sẽ được hưởngnhững thuận lợi đồng thời phải đối mặt với cả những bất lợi do quá trình hộinhập đem lại
1.2.2.1 Thuận lợi
Giảm giá thành đầu vào cho sản xuất Kinh nghiệm các nước cho thấy,trong tiến trình hội nhập, khi mở cửa thị trường, hàng hoá nhập khẩu sẽ có cơhội thâm nhập sâu hơn, nhiều hơn vào thị trường trong nước Người tiêu dùng sẽ
có cơ hội mua hàng với giá thấp hơn (do hàng rào thuế quan giảm), có nhiều sựlựa chọn với mẫu mã đa dạng hơn Các DNN&V nếu tham gia vào các ngànhsản xuất, với tư cách là người tiêu dùng, cũng sẽ có những cơ hội tương tự nhưvậy để lựa chọn đầu vào với giá cả được hạ thấp, chất lượng cao và nhiều sự lựachọn hơn cho vật liệu sơ chế và các đầu vào trực tiếp khác
Gắn kết nền kinh tế trong nước với thị trường toàn cầu cả ở phần đầu vào
và đầu ra Không chỉ được hưởng những thuận lợi do chi phí đầu vào giảm,DNN&V tham gia hội nhập quốc tế còn có cơ hội tiếp xúc với các thị trường
Trang 17đầu ra đa dạng Thị trường các nước sẽ mở cửa cho hàng hoá, dịch vụ xuất khẩucủa Việt Nam Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan bị rỡ bỏ sẽ mang lạinhiều cơ hội kinh doanh trên các lĩnh vực mới
Khắc phục tình trạng phân biệt đối xử, được hưởng những ưu đãi thươngmại Tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực, Việt Nam sẽ tránh được tìnhtrạng bị phân biệt đối xử giành cho những nước không phải thành viên Ngoài
ra, trong quan hệ với các nước, đặc biệt là cường quốc lớn, chúng ta cũng khắcphục được tình trạng này Chẳng hạn như khi Việt Nam gia nhập WTO, hànghoá của các DN nước ta sẽ có thêm sức cạnh tranh vì khi đó chúng ta đượchưởng quy chế tối huệ quốc lâu dài và thân thiện
Các tranh chấp được giải quyết công bằng Nếu có tranh chấp xảy ra, các
DN Việt Nam có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại đa biên
để giải quyết một cách công bằng trong quan hệ thương mại, từ đó bảo vệ đượclợi ích chính đáng của của DN, không sợ bị chèn ép
Cơ hội tiếp cận với công nghệ, máy móc hiện đại, trình độ quản lý tiêntiến Việc nước ta tham gia và chấp nhận các luật lệ chung của các thể thế kinh
tế quốc tế, đặc biệt là WTO sẽ dần tạo lập và củng cố lòng tin của các nhà đầu tưnước ngoài, nhờ đó sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư yên tâm đầu tư và chuyển giaocông nghệ, làm tăng khả năng liên kết của DNN&V trong nước với DN nướcngoài Bên cạnh đó, thông qua hội nhập kinh tế quốc tế, các nhà sản xuất và nhàthương mại Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp xúc với các nhà sản xuất và các DN nướcngoài, học tập về kiến thức và kỹ năng quản lý tiên tiến, xoá bỏ tư duy ỷ lại, baocấp, dám đương đầu với cạnh tranh, hình thành phong cách làm ăn mới, lấy chấtlượng và hiệu quả làm động lực để phấn đấu vươn lên
Mở rộng quan hệ hợp tác Nhờ đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ khiViệt Nam hội nhập mà các DNN&V trong nước sẽ có nhiều đối tác hơn tronglàm ăn, có cơ hội trở thành thầu phụ cho các DN nước ngoài Các DN thầu chínhhiện nay luôn tìm kiếm những DNN&V có khả năng sản xuất hàng chất lượng
Trang 18cao - điều này sẽ là động cơ khuyến khích các DNN&V thầu phụ nâng cao nănglực cạnh tranh của mình
1.2.2.2 Khó khăn
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, DNN&V thường gặp phải một
số hạn chế nhất định Những hạn chế đó bao gồm hai loại: bên ngoài (kháchquan) và nội tại (chủ quan) Trong các hạn chế bên ngoài, hạn chế lớn nhấtthường liên quan đến môi trường chính sách kinh tế trong nước Các hạn chế nộitại liên quan đến năng lực cạnh tranh của DN (chiến lược phát triển, tiếp cận thịtrường, trình độ quản lý, tay nghề người lao động, khả năng tiếp cận và xử lýthông tin, trình độ công nghệ ) Tất cả các hạn chế đó đều có tác động rất lớnđến năng lực cạnh tranh của DNN&V
Các chính sách vĩ mô như chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái, bảo đảm môitrường kinh doanh thuận lợi là những điều kiện quan trọng giúp các DN pháttriển ổn định Tuy nhiên, với thực tế Việt Nam là nước đi sau, trình độ phát triểnthấp, cơ chế thị trường đang hoàn thiện, khuôn khổ pháp lý chưa hoàn chỉnh,chưa phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, cơ cấu phân bổ các nguồn lựcchưa hiệu quả và có xu hướng tạo sức ỳ từ phía các nhóm đặc quyền và khu vựcđược lợi nhờ bảo hộ - những điều này tạo ra rất nhiều khó khăn khách quan chocác DN Việt Nam, đặc biệt là DNN&V Với những thủ tục rườm rà, nhiều chiphí phụ thì một DN nhỏ để sản xuất ra một sản phẩm cũng phải đi qua mọi cửa
và chịu cùng một khoản chi phí phụ như một công ty lớn, và rõ ràng là giá thànhsản phẩm sẽ bị dội lên so với sản phẩm cùng loại do công ty lớn sản xuất.Không những thế, giá chi phí trung gian như chi phí lao động, chi phí thuê vănphòng, giá điện, điện thoại cao cũng gây rất nhiều bất lợi cho các DNN&V.Nếu đối chiếu các khoản chi phí này với một số nước trong khu vực thì ta thấychi phí trung gian mà các DN Việt Nam phải chịu là tương đối cao [Xem phụlục 1]
Trong các hạn chế bên trong, chiến lược phát triển DN cũng là một vấn đềcần quan tâm Hiện nay, các DN nước ta vẫn thường hoạt động theo cách làm ăn
Trang 19“xổi”, thiếu chiến lược dài hạn Để có được một chiến lược như vậy, một trongnhững bước cơ bản là phải có đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D),marketing, đào tạo huấn luyện Đây sẽ là một thách thức rất lớn đối vớiDNN&V do nguồn lực hạn chế
Bên cạnh đó, các DNN&V của ta thường dựa nhiều vào lợi thế về laođộng Tuy nhiên, đây mới chỉ là sự khởi đầu của tính cạnh tranh, và về lâu dàilợi thế này sẽ mất dần Sự phát triển năng động của DN thường phải dựa trên cơ
sở gắn kết lợi thế so sánh về chi phí cùng việc nâng cao khả năng cạnh tranh vềchất, được nhìn nhận trong tổng thể môi trường kinh tế vĩ mô, thị trường, bạnhàng, đối thủ cạnh tranh Trên lĩnh vực này, DNN&V nước ta còn nhiều yếukém, đặc biệt là do thiếu thông tin Ngoài ra, sự thiếu hiểu biết về kiến thức kinh
tế, luật pháp, mà đặc biệt là luật thương mại quốc tế cũng là một thách thức lớnđối với DNN&V trong quá trình hội nhập quốc tế
1.2.3 Yêu cầu đặt ra trong quá trình hội nhập KTQT
1.2.3.1 Từ phía DNN&V
Các DNN&V Việt Nam muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhậpkinh tế quốc tế thì nhiệm vụ trung tâm là phải nâng cao năng lực cạnh tranh củasản phẩm hàng hoá và dịch vụ Trong đó, DN cần phải đáp ứng một số điều kiện
cơ bản sau:
Trước hết, DNN&V cần phải nhận thức rõ ràng rằng: hội nhập kinh tếquốc tế về bản chất là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh mở rộng thị trườngcho hàng hoá và thương nhân trong nước vươn mạnh ra thị trường quốc tế vàkhu vực, đồng thời tạo cơ hội tranh thủ những tiến bộ về khoa học, công nghệmới phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,trong đó sức cạnh tranh của chính DN là yếu tố quyết định thành công Nhữngđiều mà các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực đòi hỏi Việt Nam cam kết cũngchính là những điều chúng ta cần đòi hỏi ở họ để mở đường cho hàng hoá vàthương nhân Việt Nam thâm nhập vào thị trường quốc tế Như vậy, nhiệm vụhàng đầu của các DN, mà đặc biệt là các DNN&V là phải biến các cam kết quốc
Trang 20tế thành chương trình hành động cụ thể của mình bằng chính sức mình, năngđộng, sáng tạo vươn lên, mạnh dạn đổi mới khoa học, công nghệ, không ngừngnâng cao sức cạnh tranh để vươn ra khẳng định mình trên thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, có thể khẳng định rằng, trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế, Nhà nước sẽ chỉ hỗ trợ, tạo môi trường pháp lý thông thoáng và thuậnlợi, còn sự thành công của quá trình này tuỳ thuộc vào khả năng cạnh tranh vàtính năng động, sáng tạo của chính các DNN&V Do vậy, tư tưởng trông chờvào Nhà nước hỗ trợ tất yếu sẽ bị đào thải Và như vậy, DNN&V không còn conđường nào khác là phải thực sự vào cuộc
Một nhiệm vụ không thể thiếu là DNN&V cần phải nghiên cứu, nắmvững cam kết cụ thể của các nước đối với Việt Nam, cũng như của Việt Namđối với các nước khác về vấn đề ưu đãi thuế quan, các cam kết cắt giảm hàngrào phi thuế quan, cắt giảm hạn ngạch hạn chế số lượng, chế độ giấy phép, thủtục hải quan, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật Ngày nay, thông tin là mộttrong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy,
DN cần phải tăng cường năng lực thu nhận thông tin và đẩy mạnh trao đổi thôngtin giữa các DN và các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan về các vấn đề vướngmắc nảy sinh trong quá trình hội nhập
DNN&V cần phải chú trọng tới tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, kể cảcán bộ quản lý và nhân viên, trong đó bao gồm: đào tạo công nhân lành nghề ởtừng lĩnh vực, đào tạo cán bộ kinh doanh quốc tế giỏi và đào tạo cán bộ pháp lý
am tường cả lĩnh vực kinh tế và thương mại quốc tế
Trên đây là một số yêu cầu cơ bản nhất đối với DNN&V trước yêu cầucủa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra, còn có những yêu cầu khác đốivới DNN&V cần được tiến hành từng bước như: DNN&V cần phải xây dựngchiến lược kinh doanh và hội nhập, áp dụng công nghệ mới, đẩy mạnh hoạtđộng tiếp thị, tiếp cận các kênh phân phối nước ngoài, tập hợp trong các hiệphội, ngành hàng để sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Trang 211.2.3.2 Từ phía chính sách trợ giúp DNN&V
Bối cảnh hội nhập quốc tế đặt ra không chỉ cơ hội mà còn rất nhiều khókhăn thách thức cho các DNN&V, mà xét một cách tổng thể thì DNN&Vgặpnhiều thách thức hơn thời cơ Điều này đặt ra câu hỏi đối với các cơ quan, chínhsách hỗ trợ bộ phận này Chính sách trợ giúp DNN&V trong điều kiện hội nhậpkinh tế quốc tế cũng phải đáp ứng được một số thông lệ như:
Xác định mục tiêu hỗ trợ DNN&V: chủ yếu là nhằm tạo điều kiện cho các
DN này phát huy được vai trò, tiềm năng vốn có của chúng, giải quyết các vấn
đề kinh tế - xã hội mà nếu chỉ riêng các DN lớn thì không giải quyết nổi
Nội dung hỗ trợ: những vấn đề thiết thực đối với DNN&V như
- Có quan điểm, chiến lược, chính sách cởi mở để khuyến khích DNN&Vphát triển
- Hỗ trợ tạo lập môi trường kinh doanh: thông tin, cơ sở hạ tầng, thịtrường
- Hỗ trợ các yếu tố đầu vào như vốn, công nghệ, lao động, quản lý
- Hỗ trợ các yếu tố đầu ra liên quan tới hàng hoá, dịch vụ
Phương pháp hỗ trợ: có thể kết hợp phương pháp trực tiếp và gián tiếp
- Phương pháp hỗ trợ trực tiếp: đơn giản hoá thủ tục cấp giấy phép; cấp vốntrực tiếp, cung cấp mặt bằng sản xuất kinh doanh; cung cấp thông tin, xây dựng
cơ sở hạ tầng
- Hỗ trợ gián tiếp: chủ yếu là hỗ trợ thông qua cơ chế, chính sách tác độngvào môi trường kinh doanh để điều chỉnh hoạt động của DN: ổn định môitrường kinh doanh để điều chỉnh hoạt động của DN như: ổn định chính trị-xãhội, tạo lập thị trường, khuyến khích thành lập các hiệp hội, các trung tâm hỗtrợ, đào tạo nguồn nhân lực, miễn giảm thuế, hỗ trợ cho các DN mới thành lậpđược vay vốn, tạo điều kiện để các DNN&V hợp tác liên doanh với nướcngoài
Công cụ hỗ trợ: thông qua công cụ quản lý Nhà nước như chiến lược, kếhoạch, quy hoạch, chính sách Để hỗ trợ DNN&V có kết quả tốt, nhất thiết phải
Trang 22có một hệ thống cơ chế và mô hình hỗ trợ đồng bộ từ mục tiêu nội dung, phươngpháp, công cụ hỗ trợ
Xét trong dài hạn, chính sách có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hỗ trợ các DNN&V Chính sách tác động tới DNN&V bao gồm:
- Chính sách kinh tế vĩ mô: (tiền tệ, tài chính, thương mại,): tác động tớitoàn bộ nền kinh tế, trong đó có các DNN&V;
- Các chính sách cụ thể hỗ trợ DNN&V: Tín dụng; Hỗ trợ kỹ thuật, côngnghệ, thiết bị; Đào tạo nguồn nhân lực; Chính sách thị trường; Xúc tiến xuấtkhẩu; Phát triển cơ sở hạ tầng
Hiện nay, các chính sách trợ giúp phát triển DNN&V thường có xuhướng:
+ Hỗ trợ theo cơ chế kinh doanh thay vì cho không, vì việc bao cấp chokhông thường gây ra tâm lý trông chờ, ỷ lại và đặc biệt là sử dụng cácnguồn lực kém hiệu quả Chẳng hạn như: áp dụng cho vay vốn lãi suấtthấp hoặc trợ cấp lãi suất thay cho việc cấp vốn không lãi suất hoặc cấpvốn không hoàn lại
+ Hướng gián tiếp nhiều hơn trực tiếp: nhằm tạo lập cho các DNN&V cáchứng xử theo cơ chế thị trường
+ Công khai và rõ ràng hơn;
+ Phân quyền cho chính quyền địa phương nhiều hơn là tập trung vào Nhànước trung ương Tăng cường các tổ chức phi chính phủ (hội nghềnghiệp, các công ty tư vấn tư nhân);
+ Bao quát toàn bộ nền kinh tế thay vì chính sách theo thành phần, nhóm
DN Chỉ nên có một số chính sách riêng cho DNN&V, nhưng đặt nótrong tổng thể của nền kinh tế;
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DNN&V
Không riêng ở Việt Nam, nhìn chung các DNN&V ở các nước trên thếgiới đều gặp phải một số khó khăn tương tự nhau về mặt môi trường chính sách,nguồn nhân lực, công nghệ, nguồn lực tài chính, thị trường và tiếp cận thông
Trang 23tin Mặc dù vậy, DNN&V vẫn luôn khẳng định vai trò ngày càng quan trọngtrong nền kinh tế quốc gia và quốc tế Ngày nay, trong khi vẫn thừa nhận vai tròcủa các công ty xuyên quốc gia như là một yếu tố quan trọng của quá trình toàncầu hoá, người ta ngày càng ý thức rõ ràng hơn vai trò ngày càng tăng củaDNN&V trong quá trình này
Phải thừa nhận rằng Việt Nam là một nước đi sau Tuy vậy sẽ không chỉhoàn toàn là bất lợi nếu chúng ta biết tận dụng lợi thế của nước đi sau trong việchọc hỏi kinh nghiệm và những bài học thành công cũng như thất bại của nhữngnước đi trước, và từ đó rút ra bài học cho riêng mình Trong quá trình nghiêncứu và tham khảo tài liệu về các DNN&V trên thế giới, tác giả đã tổng hợp đượcmột số kinh nghiệm về phát triển DNN&V trong khuôn khổ APEC và đưa vàoChuyên đề với mục đích tham khảo kinh nghiệm quốc tế và rút ra bài học choViệt Nam
1.3.1 Các biện pháp nhằm phát triển DNN&V của APEC
Về cơ chế chính sách
APEC hướng tới việc xây dựng khuôn khổ pháp lý bảo đảm tạo ra trongmỗi nền kinh tế thành viên và trên phạm vi khu vực một môi trường kinh doanhthuận lợi, bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp Khuôn khổ pháp lý này cần cụthể, rõ ràng, công khai và cho phép giải quyết các tranh chấp, bảo vệ quyền sởhữu, bảo đảm sự cạnh tranh công bằng Bên cạnh đó, Nhà nước còn có nhữngchính sách hỗ trợ doanh nghiệp nói chung và các DNN&V nói riêng thông quaviệc đào tạo và tăng cường những tiền đề cần thiết cho hoạt động doanh nghiệpnhư cấp đất xây dựng xí nghiệp; xây các cơ sở hạ tầng về giao thông, thông tin
và cả những khu chế xuất, khu công nghiệp, khu vực phi thuế, công viên côngnghệ, các điều kiện về khoa học và kỹ thuật, các thủ tục hành chính hiệu quả
Về phát triển nguồn nhân lực
Các biện pháp được áp dụng chủ yếu bao gồm:
- Lập quỹ hỗ trợ cho việc đào tạo nghề nghiệp, kỹ năng chuyên môn chongười lao động;
Trang 24- Thành lập và tăng cường các cơ sở đào tạo nghề và đào tạo chuyênngành, đào tạo quản lý doanh nghiệp;
- Hỗ trợ nghiên cứu và phát triển của các DNN&V, đặc biệt là cácnghiên cứu áp dụng công nghệ cao, công nghệ mới, phương thức quản
lý tiên tiến
Về lĩnh vực công nghệ
Nhiều biện pháp và chính sách quan trọng được áp dụng như:
- Tạo ra và tăng cường ý thức phát triển công nghệ trong DNN&V;
- Khuyến khích và hỗ trợ tài chính, kỹ thuật đối với việc áp dụng côngnghệ mới, công nghệ cao;
- Khuyến khích và hỗ trợ cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng kiến củaDNN&V;
- Thành lập các trung tâm đào tạo nhằm cung cấp một đội ngũ cán bộ kỹthuật có thể giúp các DNN&V ra các quyết định liên quan đến vấn đềcông nghệ
Về lĩnh vực này, các biện pháp cụ thể được áp dụng ở mỗi nước APEC rấtphong phú Chẳng hạn như ở Philíppin, Nhà nước hỗ trợ việc lập và phát triểncác phòng thí nghiệm về công nghệ, các trung tâm nghiên cứu về bảo đảm chấtlượng, hỗ trợ đào tạo kỹ năng và phát triển nhân lực phục vụ cho việc tiếp nhậncông nghệ, lập mạng lưới thông tin về công nghệ và thị trường công nghệ, bảođảm cung cấp dịch vụ tư vấn về công nghệ
Về lĩnh vực tài chính
Nhằm giải quyết các khó khăn liên quan đến nguồn tài chính và việc tiếpcận các nguồn tài chính của các DNN&V, các biện pháp chính sách chủ yếuđược áp dụng bao gồm:
- Lập các tổ chức tài chính hỗ trợ DNN&V, chẳng hạn như các quỹchung cũng như quỹ hỗ trợ chuyên ngành hoặc lĩnh vực hoạt động cụthể;
Trang 25- Khuyến khích các ngân hàng thương mại cho DNN&V vay thông quacác biện pháp cụ thể, đặc biệt là các biện pháp liên quan đến bảo hiểmcác khoản tín dụng danh cho DNN&V.
- Bảo đảm cung cấp tín dụng với lãi suất ưu đãi hoặc các khoản trợ cấpđặc biệt cho các DNN&V;
- Các chính sách ưu đãi về thuế: các hình thức ưu đãi rất phong phú và
đa dạng trong các nước APEC
Cụ thể như ở Hàn Quốc, các biện pháp chủ yếu ưu đãi về thuế đối vớiDNN&V bao gồm:
+ Miễn giảm thuế thu nhập, thuế đăng ký, thuế công ty, thuế tài sản và thuếđịa phương cho DNN&V khởi nghiệp tới 50% trong vòng 2 – 5 năm kể từkhi thành lập;
+ Trừ 15% giá trị tài sản sử dụng phục vụ mục đích kinh doanh khỏi phần
+ Miễn giảm một số thuế như chuyển đổi thu nhập, thuế thanh lý và đăng
ký đánh vào tài sản kinh doanh trong quá trình các DNN&V riêng rẽ sápnhập thành các hợp tác xã
Vấn đề phát triển thị trường
APEC tập trung vào vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm và tiếp cận thịtrường cho các DNN&V
Đối với chất lượng sản phẩm và phát triển thị trường trong nước và quốc
tế cho DNN&V, các biện pháp được áp dụng là:
- Lập và tăng cường các thiết chế về tiêu chuẩn chất lượng thông quaviệc xác lập các tiêu chuẩn và khuyến khích các DNN&V áp dụng ISO9000;
Trang 26Về thúc đẩy tiếp cận thị trường, những biện pháp cơ bản bao gồm:
- Cải thiện công tác thông tin về thị trường;
- Thúc đẩy các nỗ lực giảm chi phí trong giao dịch thương mại quốc tế;
- Khuyến khích các công ty lớn sử dụng DNN&V làm gia công và cungcấp sản phẩm cũng như dịch vụ đầu vào;
- Hỗ trợ DNN&V thâm nhập thị trường xuất khẩu thông qua các hoạtđộng xúc tiến thương mại và đầu tư chung;
- Xây dựng các cơ sở dữ liệu điện tử về kinh doanh phục vụ DNN&V;
- Hỗ trợ DNN&V tận dụng các cơ hội mở rộng thị trường, đặc biệt làthúc đẩy DNN&V tiếp cận với thương mại điện tử
Vấn đề thông tin
Các DNN&V cần những thông tin đa dạng và phong phú về rất nhiều khíacạnh, trong đó cơ bản là những thông tin liên quan đến các quy định luật pháp,tài chính, phát triển công nghệ, đào tạo nghề, kỹ năng, thị trường Vai trò củaNhà nước hỗ trợ phổ biến thông tin là rất quan trọng đối với DNN&V Các biệnpháp chủ yếu để tăng cường công tác thông tin cho DNN&V trong APEC baogồm:
- Xây dựng và tăng cường hệ thống thông tin với các trung tâm thông tin
và hình thức phổ biến thông tin đa dạng phục vụ nhu cầu thông tin củaDNN&V;
- Thiết lập các cơ quan xúc tiến phát triển DNN&V;
- Hình thành cơ chế đối thoại giữa khu vực Nhà nước và tư nhân;
- Tăng cường các hiệp hội thương mại và ngành nghề
Trang 27Tóm lại, các biện pháp mà APEC áp dụng nhằm phát triển DNN&V trongđiều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hết sức đa dạng và phong phú Trên đây chỉ làkhái quát về những biện pháp chính sách chủ yếu được áp dụng.
1.3.2 Bài học cho Việt Nam
Trên cơ sở các chính sách phát triển DNN&V của APEC, có thể rút ramột số kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
- Từ tiêu chí phân loại DNN&V áp dụng khác nhau trong APEC (Xembảng 1.1), ta thấy việc định nghĩa và phân loại các DNN&V phải dựa trên mụctiêu hỗ trợ theo ngành, lĩnh vực, loại hình, Như vậy đối với mỗi cơ quan, tổchức thì tiêu chí phân loại cũng khác nhau Vì vậy việc xác định tiêu chí nên cókhoảng mở và phân theo ngành, lĩnh vực tạo sự linh hoạt cho các hoạt động hỗtrợ của Nhà nước cũng như các tổ chức khác
- Việc phân loại DNN&V dựa trên các tiêu chí khác nhau sẽ ảnh hưởng đếnphạm vi các doanh nghiệp được hưởng những hỗ trợ Vì vậy việc xác định cáctiêu chí phân loại phải dựa vào mục đích hỗ trợ đối với từng vùng, lĩnh vực,ngành nghề nhất định Việc phân loại DNN&V là nhằm mục đích hỗ trợ khuvực này nên cần phải xét đến tính khả thi khi áp dụng các chính sách hỗ trợ Tuỳtheo thời gian, không gian, ngành nghề mà các tiêu chí nên áp dụng linh hoạt Vìvậy cần phải có quy hoạch ngành, lãnh thổ rõ ràng và chính xác làm cơ sở choviệc thực hiện những biện pháp chính sách ưu đãi
- Việc hỗ trợ các DNN&V dựa trên nguyên tắc tự hỗ trợ, tránh tạo nên sự ỷlại của các DNN&V vào những hỗ trợ của chính phủ và các tổ chức khác Điềunày có nghĩa rằng các DNN&V phải tăng cường sức mạnh và khả năng củamình dựa trên những hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức khác Nói cách khác,
hỗ trợ phải đạt hiệu quả cao và nhằm mục đích tăng cường khả năng của cácDNN&V
- Cần có những quy định rõ ràng, cụ thể đối với khu vực DNN&V trong đóquy định những hỗ trợ, khuyến khích đối với khu vực này Bên cạnh đó cần cócác cơ quan chuyên tránh thực thi các quy định và chính sách hỗ trợ cho cácDNN&V
Trang 28- Phải tạo điều kiện về tín dụng, đất đai, công nghệ, nguồn nhân lực, hỗ trợxuất khẩu cho các DNN&V thông qua các chính sách cụ thể để hạn chế nhữngkhó khăn do quy mô đem lại Đối với vấn đề tín dụng thì việc hình thành Hệthống bổ trợ tín dụng, bao gồm hệ thống bảo lãnh tín dụng và hệ thống bảo hiểmtín dụng là rất cần thiết, nó sẽ hạn chế được tình trạng khó khăn về vốn của khuvực DNN&V hiện nay.
- Thành lập và khuyến khích các tổ chức trong và ngoài nước hoạt độngtrong lĩnh vực hỗ trợ và giúp đỡ các DNN&V Những tổ chức này bao gồm:Quỹ bảo lãnh tín dụng, các khu công nghiệp, đặc biệt là các vườn ươmDNN&V
Ngoài ra, việc hợp tác với nước ngoài trong việc trao đổi kinh nghiệm vàtận dụng những hỗ trợ là việc rất nên làm đối với điều kiện của Việt Nam hiệnnay
Trang 29CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DNN&V VÀ CÁC CHÍNH
SÁCH ĐỐI VỚI KHU VỰC NÀY
2.1 TOÀN CẢNH DNN&V VIỆT NAM
Như đã đề cập trong Chương I, DNN&V trong Chuyên đề này được xácđịnh theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP, theo đó những doanh nghiệp có vốn đăng
ký kinh doanh không quá 10 tỷ đồng và/hoặc lao động trung bình hàng nămdưới 300 người sẽ được coi là DNN&V Tuy nhiên, các thống kê về doanhnghiệp ở Việt Nam thường chỉ phân nhóm theo thành phần kinh tế hoặc loạihình doanh nghiệp, chứ không có những thống kê trực tiếp về DNN&V Do vậy,
để có được những số liệu dưới đây, tác giả đã phải rất cố gắng tính toán, tổnghợp từ nhiều nguồn tài liệu chính thức và sử dụng những số liệu cập nhật nhất cóthể được, đồng thời sử dụng cả một số số liệu để gián tiếp phân tích và đánh giá
về DNN&V ở Việt Nam
2.1.1 Về mặt số lượng, DNN&V chiếm tỷ lệ áp đảo trong tất cả các DN của
Việt Nam
2.1.1.1 Số lượng DNN&V đăng ký
Theo Báo cáo đánh giá tình hình thi hành Luật doanh nghiệp năm 2003
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng doanh nghiệp mới đăng ký trong những
năm gần đây liên tục tăng nhanh với tốc độ chưa từng thấy Trong gần 4 năm (từnăm 2000 đến tháng 9/2003) đã có 72.601 doanh nghiệp mới đăng ký - tăng hơn1,6 lần so với số lượng doanh nghiệp mới đăng ký trong 9 năm trước đó 1991-
1999 (với 45.000 doanh nghiệp mới đăng ký) Số doanh nghiệp đăng ký trungbình hàng năm hiện nay bằng 3,75 lần so với trung bình hàng năm của thời kỳ1991-1999 (Minh hoạ trong Hình 2.1) Nếu xét theo khu vực kinh tế thì tính đếnnay, tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân trong cả nước đã lên tớikhoảng 120.000 doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là DNN&V5
5 Theo nhận định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong Báo cáo Tình hình triển khai Nghị định 90 [3], tháng 10/2003 Báo cáo này còn nhận định rằng DNN&V ở nước ta hiện tại chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc Như vậy theo quan điểm chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng DNN&V có thể ước
Trang 30Hinh 2.1: Số doanh nghiệp đăng ký hàng năm giai đoạn 1991 - 2003 (Đơn
vị: doanh nghiệp)
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2004
2.1.1.2 Số lượng DNN&V hoạt động
Theo số lượng doanh nghiệp đăng ký, thì nước ta có khoảng 12 vạn doanhnghiệp, và phần lớn là DNN&V Tuy nhiên, vấn đề được nhiều người quan tâm
là hiện có bao nhiêu DN đang hoạt động sản xuất kinh doanh? Về vấn đề này,
các nguồn thông tin khác nhau đưa ra những câu trả lời khác nhau Báo cáo [2]của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng số DN đang hoạt động chiếm từ 80 đến85% số DN đăng ký Tuy nhiên, con số thực tế có thể còn thấp hơn nữa, bởi theo
điều tra của Tổng cục thống kê [12], tính đến 31/12/2002, thì chỉ có 62.908 DN
hoạt động (tức là khoảng 60% số lượng DN đăng ký) Số DN không hoạt động
có thể do nhiều nguyên nhân như: mất cơ hội kinh doanh; tính sai cơ hội kinhdoanh; tự ý giải thể không báo cáo; và kể cả một số ít DN thành lập để mua bánhoá đơn thuế giá trị gia tăng
Nếu xét riêng về số lượng DNN&V hoạt động căn cứ theo Nghị định 90, tính đến 31/12/2002 nước ta có 59.831 DN dưới 300 lao động (chiếm 95,11%
tính thông qua số lượng DN trong khu vực tư nhân, hoặc khoảng 96% tổng số DN trên toàn quốc.
14413
21043 21535
15686
0 5000
Trang 31tổng số DN hoạt động) và 54.216 DN vốn dưới 10 tỷ đồng (chiếm 86,18 % tổng
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2004 [12] và tính toán của tác giả 6
Như vậy là, dù xét theo tiêu chí nào chăng nữa (DN đăng ký, DN hoạt
động, tiêu chí vốn hay lao động), ta có thể khẳng định rằng DNN&V chiếm một
tỷ lệ rất lớn trong tất cả DN của Việt Nam
Bên cạnh đó, số liệu trong Bảng 2.1 còn minh chứng cho nhận định rằng
phần lớn DN tư nhân ở Việt Nam là DNN&V và ngược lại Bởi lẽ:
- Thứ nhất, số lượng DNN&V tư nhân đã chiếm gần hết tổng số DN tư nhântrên toàn quốc (tới 98,49% theo tiêu chí lao động và 93,73% theo tiêu chívốn) (Bảng 2.1)
- Thứ hai, tỷ lệ DN tư nhân trong số DNN&V là 91% (tính theo tiêu chí laođộng) hay 96% (tính theo tiêu chí vốn) (Minh hoạ trong hình 2.2)
Hình 2.2 (a): Tỷ trọng các loại hình DNN&V theo tiêu chí lao động
Trang 32Hình 2.2 (b): Tỷ trọng các loại hình DNN&V theo tiêu chí vốn
Nguồn: Tính tỷ lệ % các loại hình DNN&V dựa trên Bảng 2.1
Tóm lại, thông qua các số liệu về số lượng DNN&V trên đây, rõ ràng làDNN&V là một bộ phận vô cùng quan trọng trong nền kinh tế nước ta bởi tỷ lệ
áp đảo mà khu vực này nắm giữ Đây cũng là điều dễ hiểu trong hoàn cảnh củaViệt Nam hiện nay với nền kinh tế đang phát triển và nền sản xuất nhỏ là phổbiến Từ đó, cần phải luôn luôn ý thức rằng: DNN&V và song hành với nó-khuvực tư nhân- là bộ phận cấu thành thiết yếu của nền kinh tế với số lượng hết sức
đông đảo
2.1.2 Cơ cấu ngành của DNN&V
Qua những phân tích trong mục 2.1.1, tác giả đã sử dụng cả hai tiêu chí laođộng và vốn để xác định DNN&V Mặc dù Hình 2.2 cho thấy tỷ lệ các DNN&Vtheo loại hình DN hầu như tương tự nhau Tuy nhiên rõ ràng là, một số chênhlệch trong khi xác định DNN&V theo cùng lúc cả hai tiêu chí khác nhau làkhông thể tránh khỏi Trở lại Bảng 2.1 ta thấy, khu vực DNNN nếu theo tiêu chílao động có tới 67,69% là DNN&V, nhưng theo tiêu chí vốn thì chỉ có 32,87%.Đối với khu vực DNN&V có vốn đầu tư nước ngoài, tình trạng này cũng diễn ratương tự (77,98% và 29,59%) Sụ tương đồng chỉ xảy ra đối với khu vựcDNN&V ngoài quốc doanh (98,49% và 93,73%) Điều này cho thấy tiêu chíxác định DNN&V áp dụng ở nước ta vẫn chưa hài hoà nhau và điều này gây rakhông ít khó khăn trong quá trình nghiên cứu Chuyên đề Do vậy, để đơn giảnhoá mà vẫn đảm bảo được tính tin cậy, các số liệu sử dụng sau này sẽ chỉ lấytiêu chí lao động để xác định DNN&V hoạt động
3%
96%
1%
DNN&V NN DNN&V ngoai NN DNN&V FDI
Trang 33Bảng 2.2: DNN&V hoạt động trong các ngành theo tiêu chí lao động năm
2002
Ngành SXKD DN dưới 300 lao
động năm 2002
Tỷ lệ DNN&V trên tổng số DN theo ngành SX - KD
Số DN Tỷ lệ
DNN&V chia theo ngành, %
Năm 1995
Năm 2002
Nông lâm nghiệp 821 1,37 - 84,5 Thuỷ sản 2.402 4,01 - 99,8 Công nghiệp khai thác mỏ 801 1,34 88,1 91,1
SX, phân phối điện, khí đốt, nước 167 0,28 96,5 90,3
Khách sạn, nhà hàng 2.804 4,69 99,3 98,6 Vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc 3.088 5,16 98,0 95,3 Tài chính, tín dụng 1.025 1,71 99,5 98,3 Khoa học công nghệ 12 0,02 100,0 100,0 Bất động sản, dịch vụ tư vấn 3.185 5,32 81,7 98,5
Giáo dục, đào tạo 123 0,21 100 99,2
Y tế, cứu trợ xã hội 79 0,13 100 97,5 Văn hoá, thể thao 170 0,28 98,1 92,9 Dịch vụ cho cá nhân và công cộng 244 0,41 95,6 90,7
-Nguồn: - Tổng cục thống kê, 2004 [12] và tính toán của tác giả 7
- Riêng cột (4): Đề tài [4], 2004
Theo số liệu trong cột (2) và (3) của Bảng 2.2, trong số 59.831 DNN&V,
có khoảng 63% các DNN&V tham gia vào các ngành thương nghiệp, sửa chữa
và công nghiệp chế biến (trong đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
Trang 34thương nghiệp, sửa chữa chiếm 41,08% và các doanh nghiệp hoạt động trongngành công nghiệp chế biến chiếm 21,97%) Tiếp đó, các DN hoạt động tronglĩnh vực xây dựng chiếm hơn 12%; các DN hoạt động trong ngành kinh doanhbất động sản và dịch vụ tư vấn chiếm 5,32%; các DN hoạt động trong ngành vậntải, kho bãi và thông tin liên lạc chiếm 5,16%; các DN hoạt động trong ngànhkhách sạn và nhà hàng chiếm 4,69%; các DN hoạt động trong ngành thuỷ sảnchiếm 4,01%; các doanh nghiệp hoạt động trong 9 ngành còn lại chỉ chiếm tỷ lệ
rất nhỏ Như vậy, các số liệu trên đây cho thấy ngành hoạt động chủ yếu của
các DNV&N Việt Nam là buôn bán, sửa chữa và công nghiệp chế biến (minhhoạ trong hình 2.3)
Trang 35Hinh 2.3: Tỷ trọng DNN&V theo một số ngành SX-KD chính
Nguồn: Minh hoạ số liệu trong bảng 2.2 (cột (5))
Mặt khác, khi xét về cơ cấu ngành hoạt động của DNN&V, so sánh tỷ lệ
DNN&V hoạt động trong các ngành năm 1995 và năm 2002 cho thấy cũng đã
có sự chuyển biến tích cực Để thấy được xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngànhcủa DNN&V, hãy quan sát Hình 2.4 sau đây Hình vẽ đã sử dụng các số liệutrong cột (4) và (5) của Bảng 2.2, với trục tung là Tỷ lệ DNN&V trên tổng số
DN theo ngành SX - KD (cột 5) và trục hoành là Các ngành có số thứ tự tươngứng như STT trong Bảng 2.2
Hình 2.4: So sánh tỷ lệ DNN&V trên tổng số DN hoạt động theo ngành SX
-KD năm 1995 và 2002.
Như vậy, nhìn chung tỷ lệ DNN&V trong các ngành có xu hướng giảm
dần Riêng trong ngành công nghiệp chế biến và Dịch vụ tư vấn, bất động sản,
tỷ lệ DNN&V lại tăng đáng kể (từ 37,7% lên 88,8% đối với công nghiệp chếbiến và từ 81,7% lên 98,5% đối với bất động sản-dịch vụ tư vấn) Điều này chophép nhận định rằng trong những năm gần đây, ở ngành công nghiệp chế biến
và bất động sản-dịch vụ tư vấn, số lượng DNN&V hoạt động đã tăng lên đáng
kể - góp phần quan trọng làm gia tăng số lượng DNN&V của Việt Nam Đây
Trang 36cũng là xu hướng tích cực trong quá trình phát triển của khu vực DNN&V củanước ta.
2.1.3 Phân bố DNN&V theo vùng lãnh thổ
Bảng 2.3: DNN&V theo vùng lãnh thổ năm 2002
Tỷ lệDNN&Vtrên tổng số
DN của mỗivùng lãnhthổ, %
-Nguồn: Tổng cục thống kê, 2004 [12] và tính toán của tác giả 8
Bảng 2.3 cho thấy DNN&V tập trung đông nhất ở Đồng bằng sông Hồng,Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ Chỉ riêng ba vùng này đã tậptrung tới khoảng 76% DNN&V của cả nước (trong đó Đông Nam Bộ và Đồngbằng sông Cửu Long chiếm 51%, Đồng bằng sông Hồng chiếm 25%) Ở 6 vùngcòn lại, số lượng DNN&V tập trung ở mỗi vùng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (dưới 7,5%)trong tổng số DNN&V của cả nước (Xem hình 2.5)
8 Cách tính:
Cột (3): cộng dồn tổng số doanh nghiệp có số lao động dưới 300 người theo tiêu chí vùng lãnh thổ
Cột (4): bằng tỷ lệ % của DNN&V của mỗi vùng lãnh thổ trên tổng số DNN&V
Cột (5): bằng tỷ lệ phần trăm của DNN&V của mỗi vùng lãnh thổ trên tổng số DN đang hoạt động trong vùng lãnh thổ đó
Trang 37Hình 2.5 Tỷ trọng DNN&V theo vùng lãnh thổ năm 2002
Nguồn: Minh hoạ số liệu trong Bảng 2.3
Sở dĩ có tình trạng phân bố DNN&V tập trung ở 3 vùng lãnh thổ này là do
có sự đóng góp của yếu tổ lịch sử Ngay từ những năm đổi mới, hàng loạt DNmới ra đời, nhất là trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, trong khi đó nhiềuDNNN bị sáp nhập, giải thể hoặc đóng cửa Tình hình đó đã có tác động quantrọng đến thực trạng phân bố doanh nghiệp trong cả nước, bao gồm cả
DNV&N Các vùng đô thị tập trung đông dân cư, các vùng gần thị trường tiêu
thụ và các trung tâm công nghiệp sẵn có (đã có cơ sở từ trước thời kỳ đổi mới)
là những nơi thuận lợi cho việc ra đời của các doanh nghiệp mới Ngoài ra, ở các
vùng nông thôn- nơi các làng nghề bị mai một trong những năm bao cấp, nay
được chính sách đổi mới tác động nên nhiều doanh nghiệp với các loại hìnhkhác nhau đã ra đời để duy trì các nghề truyền thống, tạo công ăn việc làm cho
số lao động sẵn có tại địa phương
Bên cạnh đó, nhờ có chính sách mở cửa đối với đầu tư nước ngoài nên
nhiều DN có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam Những DN
này chủ yếu tập trung ở các đô thị và trung tâm công nghiệp lớn - nơi có điềukiện cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật tốt hơn và lực lượng lao động có trình độ caohơn
Tất cả các yếu tố nêu trên đã ảnh hưởng tới sự phân bố doanh nghiệp theovùng lãnh thổ trong cả nước nói chung Và đối với phân bố DNN&V - tình trạngnày cũng hoàn toàn tương tự
6 vung con lai
Trang 382.1.3 Tình hình vốn của DNN&V
Trở lại Mục 2.1.1, ta thấy số lượng DNN&V xác định theo tiêu chí vốn
(dưới 10 tỷ đồng) thường ít hơn số DNN&V xác định theo tiêu chí lao động Đểlàm rõ hơn vấn đề, hãy xem so sánh tỷ lệ DNN&V xác định theo tiêu chí vốncủa năm 1995 và năm 2002 trong Bảng 2.4 sau đây:
Bảng 2.4: Tỷ lệ DNN&V theo tiêu chí vốn năm 1995 và năm 2002
Số liệu trong Bảng 2.4 cho thấy tỷ lệ DN có vốn dưới 10 tỷ đồng của năm
2002 hầu như đều ít hơn năm 1995 Điều này có nghĩa là số lượng DN có vốndưới 10 tỷ đã giảm đi trong năm 2002 so với năm 1995 Đặc biệt DNN&V khuvực Nhà nước giảm đáng kể (từ 80.3% năm 1995 xuống 32,87% năm 2002) Sựchuyển dịch này có nguyên nhân là:
năm 1995, khắc phục một phần tình trạng “không đủ vốn” đã tồn tạinhiều năm nay;
• Một số DNNN đã được tổ chức lại trên cơ sở sáp nhập nên số vốn tănglên;
• Một số DNNN đã có các dự án đầu tư mới nên vốn tăng lên;
• Một số DNNN, phần lớn trong số đó có quy mô nhỏ hoặc trung bình, đãđược chuyển đổi sở hữu, hoặc giải thể
Về tình hình nguồn vốn hoạt động của DNN&V, xin xem bảng 2.5 sau:
Trang 39Bảng 2.5: Tình hình nguồn vốn của DNN&V 9
Nguồn vốn của khu vực DNN&V
Tỷ lệ nguồn vốn của DNN&V trong
tổng nguồn vốn của toàn bộ DN(%)
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2004 [12]
Nhìn vào Bảng trên, ta thấy nguồn vốn của khu vực DNN&V liên tục tăngqua các năm (năm 2001 tăng 18% so với năm 2000, năm 2002 tăng 25% so vớinăm 2001) Nhìn chung, nguồn vốn của khu vực DNN&V chiếm khoảng 27%đến 30% tổng nguồn vốn của toàn khối DN
2.1.4 Tình hình công nghệ của DNN&V
Nhìn chung, năng lực công nghệ của DNN&V trong nước còn rất hạn chế(chỉ bằng 3% mức trang bị kỹ thuật trong các DN công nghiệp lớn) [10] Thêmvào đó, tỷ lệ đổi mới trang thiết bị cũng thấp Tại thành phố Hồ Chí Minh - nơiđược coi là trung tâm công nghệ cao nhất cả nước - tỷ lệ này cũng chỉ khoảng10%/năm tính theo vốn đầu tư [10] Như vậy, phải mất khoảng 10 năm DN mớiđổi mới khấu hao hết máy móc thiết bị Trong khi đó, nhiều sản phẩm côngnghiệp như sản phẩm điện tử, viễn thông, hoá thực phẩm lại có chu kỳ sôngngắn Tình trạng này cho thấy rõ ràng công nghệ của các DN đã quá lạc hậu(trong đó công nghệ của khu vực ngoài quốc doanh - chủ yếu bao gồm DNN&V
- thuộc loại lạc hậu và rất lạc hậu), và dẫn đến hậu quả là năng suất thấp, giáthành cao, khó cạnh tranh được trên thị trường
Tình hình công nghệ nêu trên của các DN được rút ra từ một nghiên cứuthực hiện năm 1997 [10] Cho đến nay, tình hình có lẽ đã được cải thiện đôichút Tuy nhiên, do không có số liệu thống kê nên việc phân tích cụ thể gặp rất
nhiều khó khăn Tác giả chỉ xin nêu ra đây một số chỉ tiêu ứng dụng công nghệ
9 DNN&V được tính là DN dưới 300 lao động
Trang 40thông tin của các DN ngoài quốc doanh (trong đó phần lớn là DNN&V - xem
mục 2.1.1) trong những năm gần đây nhất (Xem Hình 2.5), để phần nào phảnánh năng lực công nghệ của DNN&V
Hình 2.6: Một số chỉ tiêu ứng dụng CNTT của DN ngoài Nhà nước năm
2001 – 2002
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2004 [12]
Như vậy, qua một số chỉ tiêu ở Hình 2.5, ta thấy số lượng DN ngoài Nhànước có máy tính, có mạng cục bộ, có kết nối internet, có website và có giaodịch bằng thương mại điện tử từ năm 2001 đến 2002 đều tăng Ở một mức độnào đó, điều này thể hiện năng lực công nghệ của DN ngoài quốc doanh đã đượccải thiện phần nào Tuy nhiên, chỉ tiêu này không tiêu biểu cho năng lực côngnghệ nói chung của DN mà chỉ minh hoạ rằng tình hình công nghệ của DNN&Vđang được cải thiện hơn, còn nói chung DNN&V Việt Nam vẫn gặp rất nhiềukhó khăn trong việc đầu tư, ứng dụng trang thiết bị, máy móc hiện đại và hiệuquả
21468 26699
2542 3819
8634 11294
So DN co mang cuc bo
So DN co ket noi internet
So DN co website
So DN co giao dich TMDT
2001 2002