1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền Thành phố Hà Nội

132 325 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt thời gian, thì việc thực hiện các giải pháp này đã góp phần giúp cho công tác quản lý nhà nước của chính quyền Thành phố đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng trở nên có hiệu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - -

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - -

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô giáo hướng dẫn khoa học Các số liệu và trích dẫn được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà trường, các quý thầy cô đã trang bị tri thức, tạo môi trường & điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình tôi tham gia học tập tại trường

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Thị Hải Hà, giảng viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân, người đã hướng dẫn trực tiếp và giúp đỡ tôi nghiên cứu hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đã cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục vụ nghiên cứu luận văn, đặc biệt là Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội (nơi tôi công tác), Cục Phát triển doanh nghiệp/Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Tổng cục Thống kê; Cục Thống kê Hà Nội, Cục Thuế Hà Nội, Sở Công thương, Sở Khoa học & Công nghệ Hà Nội…đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục các từ viết tắt i

Danh mục các bảng biểu ii

Danh mục các hình vẽ và đồ thị iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚPPHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu 5

1.2 Cơ sở lý luận về trợ giúp phát triển DNNVV 9

1.2.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa và phát triển DNNVV 9

1.2.2.Trợ giúp phát triển DNNVV của Nhà nước 23

1.2.3 Kinh nghiệm trong nước và quốc tế về trợ giúp phát triển DNNVV38 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53

2.1 Khung logic nghiên cứu 53

2.2.Địađiểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 54

2.3.Quy trình nghiên cứu 54

2.4 Phương pháp thu thập số liệu 55

2.4.1.Nguồn thông tin thứ cấp 55

2.4.2.Nguồn thông tin sơ cấp 55

2.5 Xử lý số liệu 56

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRỢ GIÚP DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 57

3.1 Thực trạng DNNVV trên địa bàn Hà Nội giai đoạn từ 2010-2013 57

3.1.1.Thực trạng DNNVV Hà Nội qua dữ liệu thứ cấp 57

Nguồn: Cục thống kê Hà Nội (2013) 61

3.1.2.Thực trạng DNNVV Hà Nội qua dữ liệu sơ cấp 62

Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu khảo sát 100DN 63

Trang 6

3.1.3.Đánh giá chung về thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn Hà

Nội giai đoạn 2010-2013 68

3.2 Thực trạngtrợ giúp DNNVVgiai đoạn 2010-2013 74

3.2.1 Môi trường thể chế về trợ giúp phát triển DNNVV 74

3.2.2 Kết quả trợ giúp DNNVV của chính quyền Hà Nội 77

3.3 Đánh giá những tiến bộ đạt trong công tác trợ giúp phát triển DNNVV giai đoạn 2010-2013 82

3.3.1 Thành công 82

3.3.2 Hạn chế & tồn tại 84

3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 86

CHƯƠNG 4: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TRỢ GIÚP CỦA CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐẾN NĂM 2020 89

4.1.Bối cảnh trong nước và quốc tế ảnh hưởng đến hoạt động trợ giúp DNNVV trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn mới 89

4.1.1.Bối cảnh trong nước 89

4.1.2.Bối cảnh quốc tế 91

4.2.Định hướng và mục tiêu trợ giúp DNNVV Hà Nội đến năm 2020 92

4.2.1 Định hướng trợ giúp phát triển DNNVV 92

4.2.2 Mục tiêu trợ giúp phát triển DNNVV 93

4.3 Đề xuất hoàn thiện công tác trợ giúp của chính quyền Hà Nội nhằm phát triển DNNVV đến năm 2020 94

4.3.1 Trợ giúp về tài chính cho các DNNVV 94

4.3.2.Trợ giúp về mặt bằng sản xuất cho các DNNVV 96

4.3.3.Trợ giúp đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật cho các DNNVV 97

4.3.4.Trợ giúp xúc tiến mở rộng thị trường cho các DNNVV 98

4.3.5.Hoàn thiện và phát triển hệ thống cung cấp thông tin cho DNNVV100 4.3.6 Trợ giúp phát triển nguồn nhân lực cho các DNNVV 101

Trang 7

4.3.7.Tăng cường liên kết DNNVV với các doanh nghiệp lớn 103

4.4.Điều kiện thực hiện các giải pháp 104

4.4.1.Về phía chính quyền Trung ương 104

4.4.2 Về phía chính quyền Hà Nội 105

4.4.3.Một số điều kiện khác 107

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC

Trang 8

4 CNTT Công nghệ thông tin

5 ĐKKD Đăng ký kinh doanh

14 ILO Tổ chức lao động quốc tế

15 KCN Khu công nghiệp

16 KH & CN Khoa học & Công nghệ

17 KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư

18 SXKD Sản xuất kinh doanh

19 TNDN Thu nhập doanh nghiệp

20 TTHC Thủ tục hành chính

21 UBND Ủy ban nhân dân

22 UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc

23 VƯDN Vườn ươm doanh nghiệp

Trang 9

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG/BIỂU

1 Bảng 1.1 Tiêu chí xác định DNNVV tại Việt Nam 12

2 Bảng3.1 Số lượng DNNVV đăng ký thành lập mới tại HN

3 Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu tài chính của DNNVV Hà Nội 54

4 Bảng 3.3 Lao động trong khu vực DNNVV Hà Nội giai đoạn

7 Bảng 3.6 Tổng tài sản và quy mô vốn của các DNNVV Hà Nội 61

8 Bảng 3.7 Quy mô DNNVV theo tiêu chí lao động 62

9 Bảng 3.8 Khó khăn của DNNVV Hà Nội qua số liệu khảo sát 65

10 Bảng 3.9

Kết quả chương trình hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2013

81

Trang 10

2 Hình3.2 Cơ cấu DNNVV của Hà Nội phân theo ngành/lĩnh vực 60

3 Hình3.3 Thu nhập bình quân của người lao động trong các

Trang 11

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội của các nước Việc phát triển DNNVV góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; giảm bớt chênh lệch giàu nghèo & tạo công ăn việc làm cho người lao động Phát triển DNNVV còn góp phần hỗ trợ cho sự phát triển các doanh nghiệp lớn, đồng thời duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống,…Chính phủ các nước phát triển và đang phát triển đều xác định vai trò quan trọng của DNNVV trong nền kinh tế Công tác trợ giúp phát triển DNNVV được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế quốc gia

Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội lớn của cả nước, Hà Nội

có số lượng doanh nghiệp thành lập và đăng ký hoạt động đứng thứ hai trên cả nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh), trong đó DNNVV chiếm tới 97% Các DNNVV Hà Nội đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển Thủ

đô trở thành trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước.Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, tính đến hết 31/12/2013, Hà Nội đã có 150.251 doanh nghiệp đăng ký thành lập Nhìn chung, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn Hà Nội đã và đang tăng lên một cách đáng kể từ năm 2000 cho đến nay Trong một vài năm gần đây tốc độ tăng cơ học về số lượng tăng từ 3-5% mỗi năm Trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi tự tiêu vong do nhiều nguyên nhân trong đó quan trọng nhất là năng lực cạnh tranh thấp và chưa thích nghi được với thị trường, thiếu các nguồn lực để hoạt động và phát triển Do đó, trợ giúp phát triển DNNVV là nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của thủ đô

Đảng và Nhà nước ta đã coi phát triển các DNNVV là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa,

Trang 12

2

hiện đại hóa của đất nước Trong thời gian qua, nhiều chính sách trợ giúp phát triển DNNVV đã được triển khai thực hiện, cụ thể như: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV; Quyết định số 131/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt

Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2011-2015…

Chính quyền Thành phố Hà Nội cũng đã thực hiện nhiều giải pháp trợ giúp nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các DNNVV phát triển thông qua việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính, thực hiện các chính sách, chương trình trợ giúp DNNVV nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp cận tài chính Các chính sách, chương trình trợ giúp này đã được triển khai trên nhiều lĩnh vực như tài chính, mặt bằng sản xuất, công nghệ, xúc tiến, mở rộng thị trường, thông tin,

tư vấn, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và được triển khai trong thời gian khá dài Về mặt thời gian, thì việc thực hiện các giải pháp này đã góp phần giúp cho công tác quản lý nhà nước của chính quyền Thành phố đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng trở nên có hiệu quả.Tuy nhiên, việc thực hiện các biện pháp trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều tồn tại, tỷ lệ các DNNVV tiếp cận được các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước còn rất thấp Nguyên nhân là phần lớn các chương trình trợ giúp chỉ hướng vào đối tượng doanh nghiệp nói chung, không ưu tiên hoặc dành riêng hỗ trợ DNNVV Một số chương trình trợ giúp có nội dung chồng chéo, trùng lắp dẫn đến hiệu quả thực hiện chưa cao, lãng phí nguồn lực, không giải quyết được các nhu cầu trợ giúp trọng tâm, thiết thực của

DNNVV Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tài “Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền Thành phố Hà Nội” làm luận văn

tốt nghiệp thạc sỹ

Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:

- Thực trạng trợ giúp DNNVV của chính quyền thành phố hiện nay như thế nào? Chính quyền thành phố Hà Nội cần có những giải pháp nào để trợ giúp cho các DNNVV trên địa bàn phát triển trong giai đoạn mới?

Trang 13

3

2 Mụctiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, đánh giá tình hình thực hiện công tác trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền thành phố Hà Nội giai đoạn từ

2010 đến 2013, từ đó đề xuất định hướng nhằm hoàn thiện công tác trợ giúp DNNVV của chính quyền thành phố giai đoạn 2015-2020

3.Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về trợ giúp phát triển DNNVV của chính quyền thành phố để làm khung lý luận nghiên cứu đề tài

- Đánh giá thực trạng DNNVV Hà Nội và công tác trợ giúp của chính quyền Thành phố giai đoạn từ 2010 đến 2013, chỉ ra những mặt thành công, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế

- Đề xuất hoàn thiện hoạt động trợ giúp nhằm phát triển các DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020

4 Đối tượngvà phạmvinghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động trợ giúp của chính quyền thành phố nhằm phát triển các DNNVV trên địa bàn trong khuôn khổ và cơ chế chính sách chung của Nhà nước

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Nội dung nghiên cứu: Tập trung vào các nội dung trợ giúp của chính quyền Thành phố dành cho các DNNVV nhằm trợ giúp phát triển nhóm doanh nghiệp này

+ Không gian nghiên cứu: Trên địa bàn Thành phố Hà Nội

+ Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến năm 2013, đề xuất giải pháp định hướng cho giai đoạn từ 2015 đến 2020

5.Ý nghĩa khoa học của luận văn

- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nội dung trợ

giúp của chính quyền thành phố Hà Nội nhằm phát triển các DNNVV trên địa bàn theo chức năng và nhiệm vụ phát triển kinh tế của địa phương

Trang 14

4

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đặt ra mục tiêu nhằm hoàn thiện công tác trợ giúp DNNVV đối với chính quyền thành phố Hà Nội Trước những khó khăn hiện nay của các DNNVV đang gặp phải, khi nền kinh tế đất nước đang chịu những tác động bất lợi của suy thoái kinh tế thì các DNNVV rất cần “bàn tay nâng đỡ” để tồn tại và phát triển, tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô

6 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 4 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu & Cơ sở lý luận về trợ giúp phát triển DNNVV

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu luận văn

Chương 3: Thực trạng trợ giúp DNNVV của chính quyền thành phố Hà Nội Chương 4: Hoàn thiện công tác trợ giúp của chính quyền thành phố Hà Nội nhằm phát triển các DNNVV đến năm 2020

Trang 15

5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚPPHÁT

TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1 Tổng quan nghiên cứu

Do vai trò quan trọng của các DNNVV trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, không chỉ tại Việt Nam và cả trên thế giới đã có không ít các công trình nghiên cứu về nhóm doanh nghiệp này trên nhiều lĩnh vực, góc độ khác nhau nhằm trợ giúp thúc đẩy các DNNVV phát triển Trong thời gian gần đây, đáng chú ý có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau:

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt, trường ĐH Kinh

tế quốc dân năm 2006 với đề tài: “Vai trò của nhà nước đối với phát triển DNNVV ở Việt Nam” Đề tài đã đi sâu vào phân tích các khía cạnh chính sách

định hướng và hỗ trợ ở một vài lĩnh vực đã được ban hành từ trước năm 2006, khi chưa ra đời các văn bản luật lớn như Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư 2005…Đồng thời, tác giả cũng đi sâu phân tích các tác động của các chính sách đối với phát triển DNNVV Tuy nhiên, đề tài chưa phân tích hết vai trò của nhà nước đối với toàn bộ DNNVV trong toàn quốc

- Cục phát triển doanh nghiệp/Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2005 & 2006

đã chủ trì nghiên cứu đề tài: “Một số vấn đề cơ bản nhằm thực hiện nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ kỹ thuật cho DNNVV trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp Việt Nam” Đề tài đã đưa ra một số căn cứ, nội dung, cách thức tổ chức và

phương pháp hoạt động của các Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cho DNNVV ở Việt Nam một cách hiệu quả nhất nhằm tăng cường năng lực và nâng cao sức cạnh tranh của DNNVV trên thị trường trong nước và quốc tế

- Luận án tiến sỹ của tác giả Phạm Văn Hồng, trường ĐH Kinh tế Quốc Dân Hà Nội năm 2007 với đề tài: “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” Tác giả đã đưa ra một số luận cứ để

phân tích, đánh giá thực trạng DNNVV của Việt Nam nói chung và môi trường

Trang 16

6

thể chế phát triển DNNVV trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, qua đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển DNNVV có hiệu quả hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa/Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà

Nội năm 2008 đã chủ trì thực hiện đề tài: “Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy sự phát triển các DNNVV trên địa bàn Thành phố Hà Nội” Đề tài đã

nghiên cứu những vấn đề chung về DNNVV, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp; kinh nghiệm quốc tế về phát triển DNNVV trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, kinh nghiệm về hỗ trợ DNNVV Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn Hà Nội và đề ra phương hướng, giải pháp thúc đẩy phát triển DNNVV trên địa bàn Hà Nội trong điều kiện gia nhập WTO

- Đề tài cấp Bộ, B2006-06-13: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hà Nội sau khi Việt Nam gia nhập WTO”, năm 2008 do PGS.TS Phạm Quang Trung là chủ

nhiệm đề tài Đề tài tập trung phân tích năng lực cạnh tranh của các DNNVV trên địa bàn Hà Nội, những nguyên nhân tác động, các nhân tố ảnh hưởng và những bài học kinh nghiệm để từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường năng lực cho khu vực DNNVV trên địa bàn Thành phố Hà Nội

- Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Thị Mỹ Linh, trường ĐH Kinh tế Quốc dân

Hà Nội: “Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế” năm 2009 Đề tài đã nghiên cứu một số

vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong các DNNVV, đồng thời vận dụng

lý luận vào phân tích, đánh giá thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực trong các DNNVV ở Việt Nam để từ đó đề xuất những quan điểm, giải pháp để hoàn thiện phát triển nguồn nhân lực trong các DNNVV Đề xuất những kiến nghị đối với nhà nước và các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để có những hỗ trợ phù hợp nhằm phát triển nguồn nhân lực cho các DNNVV

Trang 17

7

- Luận văn thạc sỹ của Lê Thu Hằng, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà

Nội: “Giải pháp của chính quyền cấp tỉnh nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” năm 2012 Đề tài đã phân

tích thực trạng hỗ trợ của chính quyền tỉnh Thanh Hóa đối với các DNNVV trên địa bàn tỉnh, qua đó đề xuất một số giải pháp phù hợp của chính quyền tỉnh Thanh Hóa nhằm hỗ trợ các DNNVV trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

- Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Minh Thùy, trường ĐH Kinh tế - ĐH

Quốc gia Hà Nội: “Chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội” năm 2012 Luận văn đã đi sâu nghiên cứu cơ sở lý

luận về chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng Đồng thời, tác giả cũng đưa ra nhận định và đánh giá tình hình thực hiện chính sách trợ giúp về công nghệ cho các DNNVV Hà Nội trong một số ngành sản xuất giai đoạn từ 2000-2010, qua đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính sách trợ giúp đổi mới công nghệ cho các DNNVV của Hà Nội

Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu khác liên quan đến trợ giúp phát triển DNNVV nói chung như:

- Viện nghiên cứu Kinh tế Đông Á (ERIA) đã thực hiện nghiên cứu về “Sự phát triển DNNVV Trung Quốc” năm 2008 Nghiên cứu đã phân tích, đánh

giá thực trạng phát triển DNNVV Trung Quốc, chỉ ra những vấn đề vướng mắc của DNNVV Trung Quốc, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục các vướng mắc trên

- Viện nghiên cứu Kinh tế Đông Á (ERIA) đã thực hiện nghiên cứu về “Sự phát triển DNNVV của Thái Lan” năm 2008 Nghiên cứu phân tích thực trạng

phát triển DNNVV của Thái Lan, chính sách của Chính phủ Thái Lan dành cho khu vực DNNVV và những vấn đề vướng mắc cần tháo gỡ

- Peter Pang, Phó giám đốc điều hành Cơ quan tiền tệ Hồng Kong với báo cáo “The role of SMEs in Asian Development” tại Hội nghị thường niên phát triển ngân hàng các nước Châu Á năm 2008 (Tạm dịch là Vai trò của DNNVV

Trang 18

8

trong sự phát triển của Châu Á) Báo cáo đã làm rõ vai trò và sự cần thiết hỗ trợ

để phát triển các DNNVV, đặc biệt trong điều kiện vĩ mô khu vực Châu Á với những chính sách, chiến lược chung của khu vực trong việc hợp tác, liên kết cùng phát triển

- “Kinh nghiệm quốc tế về chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV và bài học cho Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Thế Bính (2013), Trường ĐH Ngân

hàng – Tạp chí Phát triển & Hội nhập, số 12 (22) – Tháng 9-10 Bài báo đã phân tích kinh nghiệm hỗ trợ DNNVV của các nước như: Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan để từ đó rút ra kết luận và bài học về kinh nghiệm hỗ trợ DNNVV phù hợp cho Việt Nam

- “Định hướng phát triển DNNVV trong chiến lược phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam” của tác giả Phạm Thế Tri (2011), Trường ĐH Quốc gia Thành

phố Hồ Chí Minh – đăng trên Tạp chí Phát triển & Hội nhập, số tháng 9 (tháng 11/2011).Nghiên cứu đã chỉ ra vị trí, vai trò của DNNVV trong môi trường cạnh tranh, đồng thời đánh giá thực trạng của các DNNVV ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra định hướng cơ bản để phát triển DNNVV ở Việt Nam

Các nghiên cứu kể trên hầu hết đều cập đến các giải pháp trợ giúp nhằm phát triển các DNNVV nói chung, trong đó có các giải pháp đã được ban hành thành các văn bản pháp quy Tuy nhiên, tùy từng điều kiện hoàn cảnh của mỗi địa phương mà nó có thể trở thành những công cụ hữu hiệu cho các nhà quản lý Đây là lý do bên cạnh việc kế thừa, khai thác các kết quả nghiên cứu đã có, luận văn tiến hành nghiên cứu kỹ về thực trạng phát triển của các DNNVV trên địa bàn Thành phố Hà Nội, để từ đó đề xuất hoàn thiện hoạt động trợ giúp cho nhóm doanh nghiệp này phát triển, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô trong giai đoạn mới

Những đóng góp mới của luận văn:

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về trợ giúp phát triển DNNVV của chính quyền Thành phố Hà Nội theo chức năng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô

Trang 19

9

- Phân tích thực trạng trợ giúp phát triển DNNVV của chính quyền thành phố Hà Nội giai đoạn từ 2010-2013, đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế

- Đề xuất hoàn thiện hoạt động trợ giúp của chính quyền thành phố Hà Nội nhằm phát triển các DNNVV trên địa bàn trong giai đoạn mới

1.2 Cơ sở lý luận về trợ giúp phát triển DNNVV

1.2.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa và phát triển DNNVV

1.2.1.1.Khái niệm DNNVV và tiêu chí xác định DNNVV

Khái niệm: Có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa

(DNNVV) Song, xét một cách chung nhất, DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về vốn, lao động hay doanh thu hoặc cả ba Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa (small and medium) Việc xác định quy mô DNNVV chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của một nước, tính chất ngành nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định hay mục đích phân loại DN trong từng thời kỳ nhất định

Nhìn chung, trên thế giới, khái niệm chung nhất về DNNVV có nội dung như sau:

- DNNVV là những cơ sở sản xuất, kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong thời kỳ theo quy định của từng quốc gia

- DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu DNNVV có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô

đó là: doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ

Theo tiêu chí của Ngân hàng thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có dưới 10 lao động, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động Mỗi nước có

Trang 20

10

tiêu chí riêng để xác định DNNVV nước mình Ở Việt Nam, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày 30-6-2009, của Chính phủ quy định số lượng lao động trung bình hằng năm của doanh nghiệp có từ 10 người lao động trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là doanh nghiệp vừa

Như vậy, theo định nghĩa này thì số DNNVV tại Việt Nam nói chung và tại Hà Nội nói riêng chiếm tới 96% trên tổng số doanh nghiệp hiện có

Tiêu chí xác định DNNNVV: trước năm 1998 chưa có một văn bản pháp

luật chính thức nào quy định tiêu chuẩn cụ thể của DNNVV Do đó, các tổ chức

có các hoạt động hỗ trợ hoặc nghiên cứu về DNNVV đưa ra các tiêu chuẩn xác định DNNVV khác nhau, tùy thuộc quan niệm hoặc định hướng mục tiêu và đối tượng doanh nghiệp hỗ trợ của tổ chức mình Chẳng hạn, Ngân hàng Công thương Việt Nam đưa ra tiêu chuẩn DNNVV là những doanh nghiệp có giá trị tài sản dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng, tổng doanh thu dưới 8 tỷ đồng và số lao động thường xuyên dưới 500 người, tồn tại dưới bất kỳ hình thức

sở hữu nào Thành phố Hồ Chí Minh thì xác định những doanh nghiệp có vốn pháp định dưới 1 tỷ đồng, doanh thu hàng năm dưới 10 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 100 người là các doanh nghiệp nhỏ Những doanh nghiệp trên mức tiêu chuẩn đó là các doanh nghiệp vừa và lớn (tuy nhiên không đưa ra tiêu chí cụ thể về doanh nghiệp vừa) Tổ chức UNIDO tại Việt Nam lại đưa ra tiêu thức xác định doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng

số vốn và doanh thu đều dưới 1 tỷ đồng Doanh nghiệp vừa là các doanh nghiệp

có số lao động từ 51-200 người, tổng số vốn và doanh thu từ 1 đến 5 tỷ đồng

Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của các DNNVV, đồng thời để định hướng các chính sách hỗ trợ đối tượng này, ngày 23/11/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Nghị định này thì DNNVV là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập

Trang 21

11

đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10

tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người

Như vậy, đối tượng được xác định là DNNVV theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; các

hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (đây đều là các chủ thể đăng ký hoạt sản xuất kinh doanh theo pháp luật)

Theo định nghĩa trên, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh

tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong hai tiêu thức là số lao động hoặc số vốn đưa ra trong Nghị định 90/2001/NĐ-CP đều được coi là DNNVV Theo cách phân loại này thì số DNNNV chiếm khoảng 96% trong tổng số các doanh nghiệp hiện có ở nước ta (theo tiêu chí lao động) và chiếm 88% (theo tiêu chí vốn đăng ký kinh doanh)

Để theo kịp với sự phát triển của DNNVV trên thế giới, đồng thời tạo điều kiện hỗ trợ thúc đẩy phát triển các DNNVV của Việt Nam, ngày 30/6/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001, theo đó DNNVV được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

Trang 22

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động (người)

Tổng nguồn vốn (tỷ đồng)

Số lao động (người)

Tổng nguồn vốn (tỷ đồng)

Số lao động (người) Nông, lâm

nghiệp và thủy

sản

≤ 10 người

≤ 20 tỷ đồng

≤ 20 tỷ đồng

≤ 10 tỷ đồng

Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ

Đồng thời, tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp

1.2.1.2 Đặc điểm của các DNNVV

DNNVV là các doanh nghiệp có quy mô vốn hoặc lao động nhỏ Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, DNNVV có những đặc điểm nhất định trong quá trình hình thành và phát triển Có thể nhận thấy DNNVV có một số đặc điểm cơ bản sau:

Điểm mạnh:

- DNNVV dễ khởi sự: Hầu hết các DNNVV chỉ cần một lượng vốn ít, số lao

động không nhiều, diện tích mặt bằng nhỏ với các điều kiện làm việc đơn giản đã

có thể bắt đầu sản xuất kinh doanh ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh Loại hình doanh nghiệp này gần như không đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn ngay trong giai đoạn đầu Việc tạo nguồn vốn kinh doanh thường là một khó khăn lớn đối với các doanh nghiệp, nhưng do tốc độ quay vòng vốn nhanh nên DNNVV có thể huy động vốn từ nhiều nguồn không chính thức khác nhau như bạn bè, người thân để nhanh chóng biến ý tưởng kinh doanh thành hiện thực

Trang 23

13

- DNNVV có tính linh hoạt cao: Với quy mô vừa và nhỏ các doanh

nghiệp này rất linh hoạt, dễ thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của thị trường, thích hợp với điều kiện sử dụng các trình độ kỹ thuật khác nhau như thủ công, cơ khí và bán cơ khí để sản xuất ra những sản phẩm thích ứng với yêu cầu của nhiều tầng lớp dân cư có thu nhập khác nhau Trong một số trường hợp các DNNVV còn năng động trong việc đón đầu những biến động đột ngột của thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội, hay các dao động đột biến trên thị trường

Từ góc độ thương mại, nhờ tính năng động này mà các DNNVV dễ dàng tìm kiếm những thị trường ngách và gia nhập thị trường này khi thấy việc kinh doanh có thể thu nhiều lợi nhuận hoặc rút khỏi các thị trường này khi công việc kinh doanh trở nên khó khăn và kém hiệu quả Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi hoặc các nền kinh tế đang phát triển như nước ta

- DNNVV có lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống: So với các doanh nghiệp lớn thì DNNVV có lợi thế hơn trong việc

khai thác, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống Đó là khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả những nguồn lực đầu vào như lao động, tài nguyên hay vốn tại chỗ của từng địa phương Có rất nhiều DNNVV của Việt Nam và thế giới đã từng bước trưởng thành và lớn mạnh khi khai thác các nguồn lực sẵn

có của địa phương Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ còn có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp lớn trong việc nắm bắt kịp thời nhu cầu và thị hiếu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng, qua đó tạo ra nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mới đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng Ở khía cạnh này, các DNNVV có lợi thế trong việc định hướng và làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới từ phía người tiêu dùng Nhờ sự phát triển của các DNNVV mà nhiều loại sản phẩm và dịch vụ mới đã ra đời

- DNNVV có lợi thế về sử dụng lao động: Quan hệ lao động trong các

DNNVV thường có tính chất thân thiện, gần gũi hơn so với các doanh nghiệp lớn Do đó, người lao động trong DNNVV thường dễ dàng được quan tâm, động

Trang 24

14

viên, khuyến khích hơn trong công việc Đặc biệt, mối quan hệ gần gũi, thân thiện đó giữa người lao động trong DNNVV rất phù hợp với văn hóa của người Châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng

Ngoài ra, với lợi thế trong việc khai thác các nguồn lực sẵn có của địa phương, đặc biệt là các ngành sử dụng nhiều lao động, DNNVV có những tác động tích cực trong việc tạo ra việc làm cũng như nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư tại địa phương hoặc duy trì và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống Bên cạnh đó, việc phát triển các DNNVV còn có lợi ích như giảm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giảm sự cách biệt giữa thành thị

và nông thôn, qua đó cũng góp phần làm giảm tệ nạn xã hội và giúp Chính phủ giải quyết tốt hơn những vấn đề xã hội khác

Điểm yếu:

Bên cạnh các điểm mạnh được chỉ ra ở trên thì các DNNVV còn có các điểm yếu nhất định như:

- DNNVV thiếu các nguồn lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn,

hoặc các dự án đầu tư lớn, các dự án đầu tư công cộng

- DNNVV không có các lợi thế kinh tế theo quy mô và ở một số nước thì

loại hình doanh nghiệp này thường bị yếu thế trong các mối quan hệ với ngân hàng, với chính phủ và giới báo chí cũng như thiếu sự ủng hộ của đông đảo công chúng Nhiều DNNVV bị phụ thuộc rất nhiều vào các doanh nghiệp lớn trong quá trình phát triển như về thương hiệu hàng hóa, thị trường, công nghệ, tài chính

- Các DNNVV do rất dễ khởi nghiệp nên cũng phải chịu nhiều loại rủi ro trong kinh doanh: Kinh nghiệm ở các nước trên thế giới cho thấy, càng nhiều

DNNVV ra đời thì cũng có càng nhiều DNNVV bị phá sản Có những doanh nghiệp bị phá sản sau một thời gian hoạt động rất ngắn Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thì các DNNVV có tỷ lệ phá sản và thất bại cao trong năm hoạt động thứ tư Và các doanh nghiệp do nam giới quản lý thường có tỷ lệ thất bại cao hơn so với các doanh nghiệp được điều hành và quản lý bởi các chủ doanh nghiệp nữ

Trang 25

15

- Công nghệ và máy móc thiết bị của các DNNVV thường lạc hậu do chi

phí đầu tư công nghệ mới và kỹ thuật hiện đại cao nên thường vượt quá khả năng của các DNNVV với qui mô vốn hạn chế Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, hơn nữa tốc độ đổi mới lại chậm Hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu

để ứng dụng sản xuất kinh doanh

Cũng cần thấy rằng, do quy mô nhỏ, tiềm lực về vốn và công nghệ thấp nên có rất ít DNNVV tham gia trong lĩnh vực sản xuất và chế tác sản phẩm, mà phần lớn DNNVV chủ yếu tham gia vào các lĩnh vực dịch vụ, thương mại, tư vấn…là những lĩnh vực ít đòi hỏi về trang thiết bị và đổi mới công nghệ, do vậy

đã góp phần làm hạn chế yêu cầu và khả năng đổi mới kỹ thuật, công nghệ trong các DNNVV;

- Năng lực kinh doanh hạn chế do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV

không có điều kiện đầu tư để nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính độc đáo không cao, giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản phẩm nói chung thấp, tính cạnh tranh trên thị trường kém DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là những doanh nghiệp mới hình thành, công tác tiếp thị còn kém hiệu quả và cũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp này thường phục vụ cho nhu cầu của địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn đã hạn chế năng lực cạnh tranh của các DNNVV

- Quản trị nội bộ của các DNNVV còn yếu, nhất là quản lý tài chính, ý

thức chấp hành các chế độ chính sách chưa cao, còn lúng túng trong việc liên kết, nhất là kiên kết trong cùng một hội ngành nghề Khả năng liên kết của các DNNVV còn hạn chế do tư tưởng mạnh ai nấy làm, và do chất lượng sản phẩm

Trang 26

16

chưa đáp ứng yêu cầu DN lớn Trong khi đó ở nhiều nước, DNNVV chính là đơn vị sản xuất phụ trợ, cung cấp nguyên phụ liệu linh kiện, chi tiết sản phẩm cho các DN lớn, tạo thành chuỗi cung ứng hiệu quả

Bên cạnh các tác động ngoại lai tích cực thì DNNVV cũng gây ra không ít những ảnh hưởng ngoại lai tiêu cực trong nền kinh tế như do ít vốn, hầu hết các doanh nghiệp không quan tâm đầy đủ đến bảo vệ môi trường hoặc khi nhiều DNNVV bị phá sản do hoạt động không hiệu quả gây ra sự thiếu tin tưởng của dân chúng với loại hình doanh nghiệp này, gây khó khăn cho người tiêu dùng khi chọn các sản phẩm tiêu dùng cũng như khi chọn các nhà cung cấp dịch vụ Điều này làm giảm uy tín của loại hình DNNVV đối với công chúng và người lao động

1.2.1.3 Vai trò của DNNVV trong phát triển kinh tế - xã hội

Chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, DNNVV là khu vực có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế DNNVV còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong chuỗi cung ứng hàng hóa, dịch

vụ (supply chain) và mạng sản xuất toàn cầu (chuỗi giá trị toàn cầu) Các DNNVV có khả năng tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp; cung cấp cho xã hội khối lượng đáng kể hàng hóa, dịch vụ và làm tăng GDP cho nền kinh tế, tăng cường kỹ năng quản lý và đổi mới công nghệ; góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập trong xã hội, xóa đói nghèo; tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư của dân cư địa phương làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn; cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau Mức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế quốc dân của DNNVV được thể hiện ở mức độ thu hút lao động, vốn đầu tư, tạo

ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế Theo số liệu thống kê của các nước, tỷ trọng thu hút lao động tạo ra giá trị gia tăng của các DNNVV là rất đáng kể Trong điều kiện kinh tế của nước ta và Hà Nội hiện nay, vai trò của các DNNVV được thể hiện ở các khía cạnh sau:

* Khía cạnh kinh tế:

- DNNVV đóng góp tích cực vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, góp phần làm tăng GDP: Cũng như DNNVV ở tất cả các nước, DNNVV ở nước ta

Trang 27

17

và Hà Nội cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hóa khác nhau đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước như trang thiết bị và linh kiện cần thiết cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp cũng như các hàng hóa tiêu dùng khác Theo số liệu thống kê trong những năm vừa qua DNNVV đã đóng góp khoảng 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của cả nước Ngoài ra, DNNVV còn cung cấp hầu hết sản phẩm trong nhiều ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động như may mặc, giày dép, và các ngành nghề thủ công truyền thống Việc mở rộng và phát triển các DNNVV sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm tăng GDP

- DNNVV thu hút vốn và khai thác các nguồn lực sẵn có trong dân cư: Vốn đầu tư là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh Vốn là yếu tố cơ bản để khai thác và phối hợp với các yếu tố sản xuất khác như lao động, đất đai, công nghệ và quản lý để tạo ra lợi nhuận cho các chủ doanh nghiệp Vốn có vai trò to lớn trong việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân cũng như cũng như trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp Tuy nhiên, một nghịch lý hiện nay là trong khi có nhiều doanh nghiệp đang thiếu vốn trầm trọng thì vốn nhàn rỗi trong dân cư còn nhiều nhưng chưa huy động được Khi chính sách tài chính tín dụng của Chính phủ và các ngân hàng chưa thực sự gây được niềm tin đối với những người có vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư thì nhiều DNNVV đã tiếp xúc trực tiếp với người dân (người thân, bạn bè) và huy động được vốn để kinh doanh, hoặc bản thân chính người có tiền đứng ra đầu tư kinh doanh, thành lập doanh nghiệp Dưới khía cạnh đó, DNNVV có vai trò to lớn trong việc huy động vốn để phát triển kinh tế

- DNNVV giúp nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả hơn: Trong quá trình kinh doanh, nhiều DNNVV có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn kinh doanh một cách hiệu quả hơn như làm đại lý và vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, cung cấp những bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp lớn (công nghiệp hỗ trợ) hoặc thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị

Trang 28

18

trường mà doanh nghiệp lớn khó có thể với tới để phân phối các sản phẩm của doanh nghiệp lớn Bên cạnh đó, khi số DNNVV tăng lên sẽ kéo theo sự gia tăng nhanh chóng số lượng các sản phẩm và dịch vụ mới trong nền kinh tế Nhờ hoạt động với quy mô nhỏ và vừa, các DNNVV có ưu thế là chuyển hướng kinh doanh nhanh từ những ngành nghề kém hiệu quả sang các ngành khác hiệu quả hơn, thỏa mãn nhu cầu linh hoạt của dân cư Chính sự phát triển đó của các DNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh, tính linh hoạt và giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế

- DNNVV góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Việc phát triển các DNNVV sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế Trước tiên, đó là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng nhờ sự phát triển của các khu vực nông thôn thông qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh Các doanh nghiệp được phân bổ đều hơn về lãnh thổ ở cả vùng nông thôn, đô thị, miền núi, đồng bằng Bên cạnh đó,

sự phát triển mạnh các DNNVV còn có tác dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự tăng mạnh của các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh và việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước Sự phát triển các DNNVV cũng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo Việc phát triển các DNNVV còn có tác dụng duy trì và thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề truyền thống và sản xuất ra các sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc, khai thác thế mạnh của đất nước và từng địa phương

- DNNVV góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế: Các DNNVV hình thành và phát triển trong những ngành nghề khác nhau luôn

có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối liên kết với các doanh nghiệp lớn như trên vừa đề cập Mối quan hệ giữa DNNVV với các doanh nghiệp lớn cũng chính là nguyên nhân thành công của nền kinh tế Nhật Bản trong nhiều thập kỷ qua Do đó, khi các DNNVV Việt Nam phát triển sẽ góp phần tăng cường các

Trang 29

19

mối quan hệ liên kết hỗ trợ lẫn nhau giữa các DNNVV và giữa DNNVV với các doanh nghiệp lớn Nhờ đó mà các rủi ro kinh doanh sẽ được chia sẻ và góp phần tăng hiệu quả kinh tế xã hội chung

- DNNVV tạo cơ sở để hình thành các doanh nghiệp lớn: Kinh nghiệm phát triển kinh tế ở nhiều nước cho thấy hiện nay phần lớn các công ty và tập đoàn kinh tế đa quốc gia đều trưởng thành từ các DNNVV Với cách xem xét

đó, DNNVV chính là nguồn tích lũy ban đầu và là “lồng ấp” cho các doanh nghiệp lớn Hầu hết các cơ sở kinh tế dân doanh ở nước ta và Hà Nội khi mới ra đời do thiếu kinh nghiệm và chưa thật hiểu biết về thị trường nên họ thường lựa chọn quy mô kinh doanh vừa và nhỏ để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh Sau một thời gian tích lũy thêm vốn, kinh nghiệm và khẳng định được vị thế của mình trên thị trường, họ mới tiến hành mở rộng kinh doanh và phát triển với quy mô lớn hơn

Ngoài ra, DNNVV còn là nơi đào tạo nghề và trau dồi kinh nghiệm cho các cán bộ quản lý của các doanh nghiệp lớn vì người lao động thường có xu hướng chỉ làm trong các DNNVV một thời gian, sau khi có đủ kinh nghiệm và khả năng họ sẽ chuyển sang các doanh nghiệp lớn để làm việc, hưởng thu nhập cao hơn Nhờ thế, doanh nghiệp lớn tiết kiệm được nhiều chi phí đào tạo khi tuyển được các nhân viên có tay nghề từ các DNNVV chuyển sang Như vậy có thể DNNVV còn là nơi đào tạo lao động cho các doanh nghiệp lớn

* Khía cạnh xã hội

- DNNVV giúp tạo việc làm cho người lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, nhất là ở khu vực đô thị: Đặc điểm chung của các DNNVV là ít vốn

và hoạt động chủ yếu trong các ngành sử dụng nhiều lao động Do đó, DNNVV

ở tất cả các nước có thể tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn người lao động Ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển, DNNVV là khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất cho nền kinh tế Khi các DNNVV phát triển sẽ tạo nhiều cơ hội tăng việc làm, thu hút lao động và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế, qua đó góp phần giải quyết các vấn đề xã hội mang lại lợi ích cho cộng

Trang 30

20

đồng dân cư kể cả người thất nghiệp, phụ nữ và người tàn tật Với tính chất sản xuất nhỏ, chi phí để tạo ra một chỗ làm việc thấp, các DNNVV Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra và tăng thêm việc làm cho nền kinh tế, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và ổn định xã hội bằng cách thu hút nhiều lao động với chi phí thấp và chủ yếu bằng vốn của dân

- DNNVV giúp nâng cao thu nhập của dân cư, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo: Nước ta còn là một nước nông nghiệp, năng suất của nền sản xuất xã hội cũng như thu nhập của dân cư thấp Thu nhập của người dân nông thôn chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp thuần nông Việc phát triển các DNNVV ở thành thị cũng như ở nông thôn là một trong các biện pháp cơ bản góp phần tăng nhanh thu nhập của các tầng lớp dân cư Thông qua việc phát triển các DNNVV, lao động ở nông thôn sẽ được thu hút vào các doanh nghiệp nhờ đó mà thu nhập của dân cư được đa dạng hóa và nâng cao Cuộc sống của người dân nông thôn sẽ ổn định hơn và mức sống của người dân được nâng cao, góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng mức

độ công bằng trong nền kinh tế Hơn nữa, do có tính năng động và linh hoạt, khi các DNNVV phát triển sẽ tạo điều kiện phát huy lợi thế của mỗi vùng, phát triển các ngành nghề và các khu công nghiệp, tạo điều kiện giảm bớt khoảng cách giữa các vùng trên toàn quốc, xóa bỏ mức chênh lệch về thu nhập rất lớn giữa các vùng dân cư

- DNNVV góp phần vào quá trình xã hội hóa các lĩnh vực, nhất là xã hội hóa các dịch vụ công ích ở đô thị: Sự tham gia của các DNNVV làm tăng tính cạnh tranh trong cung ứng các dịch vụ công ích, qua đó thúc đẩy nhanh quá trình

xã hội hóa các lĩnh vực này, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước, tăng hiệu quả

xã hội

- DNNVV giúp tạo điều kiện phát triển các tài năng kinh doanh: Ngoài các vai trò như đã nói ở trên, các DNNVV ở nước ta nói chung và Hà Nội nói riêng còn có vai trò trong việc phát triển các tài năng kinh doanh Trong nhiều năm qua, đội ngũ cán bộ kinh doanh đã gắn nhiều với cơ chế bao cấp, chưa có

Trang 31

21

kinh nghiệm làm việc trong nền kinh tế thị trường Sự phát triển của các DNNVV có tác dụng đào tạo, chọn lọc và thử thách đội ngũ doanh nhân Sự ra đời của các DNNVV làm xuất hiện rất nhiều tài năng trong kinh doanh, đó là các doanh nhân thành đạt biết cách làm giàu cho bản thân mình và xã hội Bằng

sự tôn vinh những doanh nhân giỏi, kinh nghiệm quản lý của họ sẽ được nhân ra

và truyền bá tới nhiều cá nhân trong xã hội dưới nhiều kênh thông tin khác nhau, qua đó sẽ tạo ra nhiều tài năng mới cho đất nước Với ý nghĩa như vậy, DNNVV có vai trò không nhỏ trong việc đào tạo lớp doanh nhân mới ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới

1.2.1.4 Phát triển DNNVV

Theo quan điểm siêu hìnhthì phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp

Phép biện chứng duy vật cho rằng: Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực

và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật Một khái niệm khác về khái niệm phát triển được hiểu như sau:

- Nội hàm: Tạo ra cái mới hoặc hoàn thiện, làm thay đổi về căn bản cái đã có

để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn Cái mới, cái được hoàn thiện (tức phát triển) có thể

có hai khía cạnh chính: Phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng

- Ngoại diên: Là tất cả các hoạt động tìm kiếm

Như vậy, phát triển chỉ sự trưởng thành, lớn hơn về chất và về lượng Nói cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai

Từ các khái niệm trên có thể hiểu phát triển DNNVV là khái quát sự vận

động theo chiều hướng tiến lên trong quá trình phát triển kinh tế xã hội theo xu hướng CNH-HĐH của DNNVV

Trang 32

22

Do đó, khái niệm phát triển DNNVV bao gồm: Sự tăng thêm về khối lượng DNNVV, sự chuyển dịch về cơ cấu ngành nghề của DNNVV; sự chuyển dịch về quy mô doanh nghiệp theo hướng tích cực, sự đóng góp của DNNVV vào tăng trưởng kinh tế - xã hội

Tiêu chí đánh giá phát triển DNNVV gồm: (1) Phát triển theo chiều sâu hay phát triển về chất lượng nhằm tạo ra các DNNVV có sự thay đổi về chất, các doanh nghiệp có giá trị gia tăng cao; (2) Phát triển theo chiều rộng hay phát triển

về số lượng DNNVV là việc gia tăng về số lượng các DNNVV

Khi xem xét hoặc đánh giá mức độ phát triển DNNVV tại một thời điểm hay một giai đoạn của cả nước; của từng địa phương hoặc so sánh sự phát triển DNNVV giữa các quốc gia thường phải căn cứ vào các chỉ tiêu cụ thể như:

- Các chỉ tiêu về số lượng doanh nghiệp: tổng số DNNVV hiện có qua các năm hoặc các thời kỳ; số DNNVV thành lập mới; số DNNVV tạm ngừng hoạt động; số DNNVV họat động trở lại và số DNNVV giải thể, phá sản

- Các chỉ tiêu về cơ cấu doanh nghiệp: Số lượng và tỷ trọng DNNVV trong từng ngành (theo bảng phân ngành kinh tế quốc dân: công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ, giao thông-vận tải…hoặc các ngành cấp 2 như: cơ khí, chế tạo, khai thác khoáng sản, du lịch, bán buôn, bán lẻ, y tế, giáo dục đào tạo…); số lượng và tỷ trọng DNNVV trong từng lĩnh vực như: lĩnh vực sáng tạo, lĩnh vực chế tác, lĩnh vực phụ trợ…

Các chỉ tiêu này nếu được bảo đảm một cách hài hòa và cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực, tức là bảo đảm số lượng các DNNVV trong các ngành, lĩnh vực phát triển một cách hợp lý thì nền kinh tế phát triển cân đối, hài hòa, khai thác được thế mạnh và lợi thế so sánh Các ngành, các lĩnh vực và các DN hỗ trợ được cho nhau và hạn chế, hoặc tránh được sự lệ thuộc vào nước ngoài Nếu ngược lại thì nền kinh tế không khai thác được thế mạnh, bị lệ thuộc, hoặc thậm chí rơi vào tình trạng khó khăn, suy thoái hoặc khủng hoảng khi thị trường ngoài nước có những biến động lớn

Trang 33

23

Như vậy có thể thấy rằng tại một thời điểm hay một giai đoạn nào đó, hoặc một địa phương cụ thể, tuy số lượng DNNVV phát triển nhanh nhưng về cơ cấu

DN không hợp lý thì cũng không thể bảo đảm cho nền kinh tế phát triển cân đối

và bền vững, do vậy chiến lược hay kế hoạch phát triển DNNVV cũng không được coi là phát triển có hiệu quả

- Các chỉ tiêu về chất lượng của DNNVV: Gồm các chỉ tiêu như quy mô doanh nghiệp (vốn đăng ký kinh doanh, số lao động sử dụng bình quân, tổng doanh thu hàng năm, công suất thiết kế, công suất huy động…), thu nhập bình quân của người lao động, thu nhập doanh nghiệp sau thuế, thuế phải nộp; các chỉ tiêu phản ảnh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (như: thị phần trong từng thị trường cụ thể, tỷ lệ sản phẩm, dịch vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước; sản lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu; giá bán sản phẩm, dịch vụ…) Các chỉ tiêu về chất lượng của DNNVV được nâng cao, quy mô doanh nghiệp ngày càng lớn, thu nhập của doanh nghiệp và người lao động ngày càng tăng, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng được nâng cao sẽ cho thấy môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp được bảo đảm thuận lợi, điều đó chứng tỏ chiến lược hay kế hoạch phát trển DNNVV là có hiệu quả Nếu ngược lại là không hiệu quả Khi đó các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét và điều chỉnh các chính sách cho phù hợp, bảo đảm môi trường kinh doanh thuận lợi để các DNNVV phát triển có hiệu quả

1.2.2.Trợ giúp phát triển DNNVV của Nhà nước

1.2.2.1.Khái niệm và đặc điểm

Khái niệm: Trợ giúp phát triển DNNVV của Nhà nước là những công cụ và

biện pháp của Nhà nước nhằm trợ giúp để khuyến khích các DNNVV tiến hành sản xuất - kinh doanh, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội

Đặc điểm: Các chính sách trợ giúp phát triển DNNVV có đặc điểm cơ bản là

được thể hiện thông qua hình thức ban hành các văn bản, quy phạm pháp luật của các cấp có thẩm quyền như Chính phủ, các Bộ, Uỷ ban nhân dân Tỉnh/Thành phố…trong đó có nêu rõ các mục tiêu trợ giúp và các giải pháp thực hiện việc trợ

Trang 34

24

giúp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Các chính sách trợ giúp cho các DNNVV thường được xem xét và đánh giá ở nhiều khía cạnh khác nhau, có thể theo các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Có những chính sách trợ giúp có tác động gián tiếp tới quá trình phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa, chẳng hạn như: chính sách ưu đãi về mặt bằng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp; chính sách ưu đãi về vay vốn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; chính sách ưu đãi về đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; các chính sách ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa…

- Có những chính sách trợ giúp có tác động trực tiếp tới quá trình phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa, chẳng hạn như: chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư vào các khu công nghệ cao, vườn ươm doanh nghiệp; chính sách

hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa triển khai các đề tài khoa học…

Trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trọng trong việc phát triển

và duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như khả năng cạnh tranh cùa sản phẩm và dịch vụ do doanh nghiệp làm ra Trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống luật và thực thi nhiều chính sáchtrợ giúp cho các DNNVV nhằm tạo điều kiện khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện các chính sách và hiệu lực thi hành những luật này còn thấp, văn bản hướng dẫn thi hành luật còn chưa cụ thể Đặc biệt, nhiều chính sách đã được ban hành nhưng thông tin và tính phổ biến còn thấp, thực hiện chưa có hiệu quả Do vậy, vấn đề thực thi nhanh và có hiệu quả các chính sách trợ giúp cho DNNVV là thực sự cần thiết nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho các DNNVV

1.2.2.2 Vai trò và sự cần thiết phải trợ giúp phát triển các DNNVV

Trên thế giới, hệ thống DNNVV đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, hệ thống doanh nghiệp này vẫn còn nhiều khó khăn trong quá trình phát triển như: quy mô nhỏ, thiếu vốn và khó tiếp cận nguồn vốn, trình độ công nghệ lạc hậu, khả năng quản

Trang 35

25

trị doanh nghiệp yếu, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, thiếu mặt bằng để phát triển sản xuất kinh doanh, đại bộ phận chưa quan tâm đến xây dựng thương hiệu, khó liên kết để tạo thế mạnh chung…Chính vì vậy, trong những thập niên gần đây, hệ thống doanh nghiệp này đang là mục tiêu trọng tâm của các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế của các quốc gia Nhiều chương và chính sách đã được chính phủ các nước triển khai thực hiện để thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV Các chính sách và chương trình trợ giúp được thực hiện thông qua các hoạt động của nhà nước nhằm giúp hệ thống DNNVV khắc phục những hạn chế, tồn tại của mình trong quá trình phát triển

Như vậy, vai trò của công tác trợ giúp DNNVV là hết sức quan trọng nhằm giảm thiểu những bất lợi kể trên của DNNVV, giúp các DNNVV phát triển, gia tăng việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Việc trợ giúp cho các DNNVV phát triển không chỉ có lợi cho doanh nghiệp mà còn có lợi cho cả nhà nước và xã hội, đó là những lợi ích cơ bản sau:

- Trợ giúp cho các DNNVV là cách thức để nuôi dưỡng những nguồn thu cho ngân sách Nhà nước;

- Trợ giúp cho các DNNVV phát triển nhằm gia tăng số lượng và chất lượng các DNNVV, góp phần giải quyết những vấn đề xã hội như tạo việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách, cải thiện môi trường đầu tư, huy động được nguồn lực trong dân cư…Ngoài ra, chính sách trợ giúp phát triển DNNVV chủ yếu để giải quyết các vấn đề sau:

- Tình trạng thiếu vốn và khó tiếp cận các nguồn vốn của DNNVV;

- Tăng cường khả năng tiếp cận thị trường;

- Sự yếu kém về trình độ quản trị doanh nghiệp, công nghệ;

- Máy móc thiết bị kém hiệu quả;

- Năng suất lao động thấp;

- Mức độ giá trị gia tăng thấp;

- Mức vốn trung bình cho mỗi lao động thấp…

Trang 36

26

1.2.2.3 Mục tiêu trợ giúp phát triển DNNVVV của Nhà nước

Trợ giúp DNNVV nhằm mục tiêu phát triển DNNVV cả về số lượng và chất lượng, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội, giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập, thực hiện các chính sách xã hội, cải thiện môi trường đầu tư

Ngoài ra, trợ giúp DNNVV còn nhằm mục tiêu tăng cường khả năng cạnh tranh cho các DNNVV bằng cách hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa khắc phục những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng và thông tin

1.2.2.4.Nguyên tắc trợ giúp DNNVV của Nhà nước

Với những đóng góp của DNNVV trong việc tạo thêm công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, từ đó giảm các tệ nạn xã hội là rất quan trọng và mang lại lợi ích rất lớn về mặt xã hội Do vậy, Nhà nước cần phải có những chính sách, biện pháp hỗ trợ sự phát triển bền vững của khối doanh nghiệp này Tuy nhiên,

hỗ trợ DNNVV phải phù hợp với thông lệ quốc tế và không vi phạm các cam kết quốc tế, đồng thời khi thiết kế, xây dựng các biện pháp hỗ trợ vẫn phải đảm bảo nâng cao và cải thiện khả năng cạnh tranh của DNNVV, tránh tình trạng để DNNVV ỷ lại vào các chính sách hỗ trợ, mà không tự lực cánh sinh, chủ động hội nhập với môi trường kinh doanh rộng lớn hơn Chính sách hỗ trợ DNNVV phải dựa trên các nguyên tắc sau:

- Thứ nhất, hỗ trợ DNNVV phát triển là chiến lược lâu dài, nhất quán và

xuyên suốt trong chương trình hành động của Chính phủ, là nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế của quốc gia;

- Thứ hai, Nhà nước tạo môi trường về pháp luật và các cơ chế, chính sách

thuận lợi cho DNNVV thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh, đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước;

- Thứ ba, hỗ trợ DNNVV đảm bảo công khai, minh bạch, theo nhu cầu của

doanh nghiệp và phù hợp với điều kiện nguồn lực của quốc gia;

Trang 37

27

- Thứ tư, khuyến khích và tạo điều kiện để khu vực tư nhân tham gia ngày

càng cao vào công tác hỗ trợ DNNVV Tùy vào điều kiện thực tế, công tác hỗ trợ DNNVV được chuyển giao từng bước từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân thực hiện, theo định hướng thị trường;

- Thứ năm, các DNNVV được bình đẳng tiếp cận các chính sách và tham

gia các chương trình hỗ trợ của Chính phủ;

- Thứ sáu, các chính sách, chương trình hỗ trợ DNNVV không mâu thuẫn với

các chính sách, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp của các ngành Chính sách hỗ trợ DNNVV góp phần bổ sung, hỗ trợ thực hiện các chính sách phát triển ngành

- Thứ bảy, việc hỗ trợ các DNNVV dựa trên nguyên tắc tự hỗ trợ: Có nghĩa

là các DNNVV phải tăng cường sức mạnh và khả năng của mình dựa trên những

hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức khác Nói cách khác, hỗ trợ phải đạt hiệu quả cao và nhằm mục đích tăng cường năng lực cho các DNNVV

1.2.2.4 Nội dung trợ giúp DNNVV của Nhà nước

Nhằm khuyến khíchphát triển các DNNVV thực hiện vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, Nhà nước đã thực hiện các chính sách nhằm trợ giúp phát triển DNNVV trong các lĩnh vực như: tài chính, tín dụng, đổi mới nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật; phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh; xúc tiến mở rộng thị trường; thông tin và tư vấn…Các chính sách này được quy định khá đầy đủ trong các văn bản pháp lý về trợ giúp phát triển DNNVV

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các nước đều chú ý tạo điều kiện hỗ trợ các DNNVV phát triển Xu hướng chung về trợ giúp của Nhà nước dành cho DNNVV tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:

(1)Trợ giúp về tài chính cho các DNNVV:

Vấn đề khó khăn lớn nhất của các DNNVV hiện nay là thiếu vốn trong khi tiếp cận vốn ngân hàng còn gặp rất nhiều rào cản Nguyên nhân tiếp cận vốn tín dụng của các DNNVV còn rất hạn chế, trước hết xuất phát từ chính bản thân các doanh nghiệp Phần lớn các DNNVV thiết lập thủ tục vay vốn của ngân

Trang 38

28

hàng không đúng quy định mà ngân hàng yêu cầu Nhiều doanh nghiệp, tài sản pháp nhân và tài sản cá nhân lẫn lộn, thiếu minh bạch nên ngân hàng rất khó thẩm định, đánh giá về năng lực thực sự của khách hàng Hệ thống sổ sách kế toán, nội dung và phương pháp hạch toán kế toán của doanh nghiệp thường không đầy đủ, chính xác và thiếu minh bạch Một số lớn các DNNVV lập phương án, dự án đầu tư còn mang nặng tính chủ quan hoặc dựa trên kinh nghiệm Nội dung của nhiều phương án, dự án đầu tư được thiết lập sơ sài, thiếu thuyết phục ngân hàng khi xem xét thẩm định cho vay Đây chính là những vấn

đề mà các DNNVV cần lưu ý khắc phục, nếu khắc phục những hạn chế này thì việc vay vốn ngân hàng sẽ dễ dàng hơn Mặt khác, do nguồn lực còn hạn chế nên các quỹ bảo lãnh tín dụng chưa hỗ trợ được nhiều cho các DNNVV tiếp cận được nguồn vốn tín dụng

Chính sách hỗ trợ tài chính là một trong những công cụ rất quan trọng mang tính sống còn của Nhà nước trong việc điều hành & phát triển kinh tế xã hội Trong đó, đặc biệt là chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách đầu

tư, hỗ trợ đầu tư Chính sách hỗ trợ tài chính góp phần giúp cho các DNVVN giải quyết những khó khăn trong quá trình hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh, đứng vững được trong điều kiện hội nhập

Nội dung hỗ tài chính từ phía Nhà nước đối với các DNVVN có thể được thực hiện thông qua các công cụ tài chính vĩ mô của Nhà nước như:

- Xây dựng& sửa đổi các các văn bản luật, nghị định liên qua đến tài chính nhằm tạo điều kiện các doanh nghiệp sử dụng các kênh thu hút vốn khác như phát hành trái phiếu nhằm giảm sự lệ thuộc vào thị trường tín dụng

- Sửa đổi các luật thuế: Luật Thuế xuất nhập khẩu, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp theo hướng giảm bớt các mức thuế, đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi áp dụng Sửa đổi, bổ sung Luật quản lý thuế theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính thuế

Trang 39

29

cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế để phù hợp với thực

tế và với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan

- Sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan nhằm loại bỏ những khó khăn về thủ tục, những bất hợp lý trong lĩnh vực hải quan, đảm bảo tính phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động xuất nhập khẩu

- Ban hành thông tư sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán DNNVV nhằm bổ sung những nội dung, phương pháp hạch toán kế toán mới và sửa đổi những nội dung, phương pháp kế toán chưa phù hợp với thông lệ

- Hoàn thiện mô hình Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV cho phù hợp với tình hình mới nhằm trợ giúp DNNVV tiếp cận nguồn cung tài chính phù hợp với điều kiện của DNNVV

- Thực hiện các chương trình cho vay ưu đãi đối với các DNNVV thuộc lĩnh vực ưu tiên phát triển; cho vay, bảo lãnh và hỗ trợ sau đầu tư đối với các dự

án đầu tư tại vùng khó khăn thuộc danh mục dự án vay tín dụng đầu tư; cho vay

ưu đãi hỗ trợ các dự án nhỏ nhằm tạo thêm việc làm cho người lao động; hỗ trợ lãi suất, giảm thuế;

- Thành lập quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa: Mục tiêu để trợ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp; đổi mới sản phẩm có tính cạnh tranh; phát triển công nghiệp phụ trợ; nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp

(2) Trợ giúp về mặt bằng sản xuất kinh doanh cho các DNNVV:

Mặt bằng sản xuất với các DNNVV luôn là một rào cản cho sự phát triển Hiện nay, để thúc đẩy đầu tư trong nước, Nhà nước thực hiện các chính sách ưu đãi như: giảm hoặc miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất hoặc thuế đất đối với các nhà đầu tư thỏa mãn tiêu chuẩn khuyến khích do Chính phủ đặt ra

Hầu hết các DNNVV đều phải sử dụng nhà cửa, đất vườn làm mặt bằng kinh doanh Mặc dù Luật Đất đai mới được sửa đổi đã có một số thay đổi quan trọng có lợi cho các nhà đầu tư, nhưng tình trạng thiếu đất cho sản xuất cũng như đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn còn phổ biến trong các DNNVV Chính sách hỗ trợ DNNVV về mặt bằng sản xuất tập trung vào những nội dung sau:

Trang 40

30

- Hỗ trợ xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung;

- Hỗ trợ DNNVV di chuyển vào khu/cụm công nghiệp;

- Hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp trong khâu giải phóng mặt bằng và đền bù;

- Miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho doanh nghiệp trong một thời hạn;

Để giúp DNNVV tháo gỡ các khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuất

kinh doanh, Chính phủ và Thành phố cần đẩy mạnh việc quy hoạch các khu

công nghiệp tập trung cho các DNNVV Cần phải xây dựng quy hoạch các khu

công nghiệp rõ ràng và công khai với doanh nghiệp về quy hoạch đó Khi xây dựng chính sách cho các khu vực công nghiệp cũng như xây dựng quy hoạch các khu công nghiệp cho DNNVV cần quan tâm đến các yêu cầu khác nhau của các ngành nghề về quy mô và địa điểm kinh doanh Chính phủ có thể có các biện pháp để kêu gọi doanh nghiệp cùng chung sức xây dựng các khu công nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau như trả trước tiền thuê đất, nhưng nhà nước phải cam kết thực hiện tốt việc giải phóng mặt bằng, tránh lãng phí thời gian và tiền của các doanh nghiệp

Bên cạnh đó, chính phủ cần xóa bỏ các thủ tục hành chính phiền hà trong việc cấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ sở hữu cũng như đơn giản hóa các thủ tục công chứng và đánh giá giá trị công trình để đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu Dựa trên cơ sở các quy hoạch đã có, chính phủ nên có các chính sách khuyến khích DNNVV đầu tư sản xuất ở những vùng ngoại ô, tránh tập trung quá nhiều doanh nghiệp trong thành phố gây ô nhiễm môi trường

(3) Trợ giúp DNNVV đổi mới nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật:

Công nghệ và máy móc thiết bị của các DNNVV thường lạc hậu do chi phí đầu tư công nghệ mới và kỹ thuật hiện đại cao nên thường vượt quá khả năng của các DNNVV với qui mô vốn hạn chế Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, hơn nữa tốc độ đổi mới lại chậm Hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu

Ngày đăng: 13/07/2015, 12:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Bính, 2013. Kinh nghiệm quốc tế về chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV và bài học cho Việt Nam. Tạp chí Phát triển & Hội nhập, số 12 (22) Tháng 9-10, trang 21-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế về chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV và bài học cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thế Bính
Nhà XB: Tạp chí Phát triển & Hội nhập
Năm: 2013
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, 2011.Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2011-2015. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
3. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2009. Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
4. Cục phát triển doanh nghiệp/Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, 2006.Một số vấn đề cơ bản nhằm thực hiện nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ kỹ thuật cho DNNVV trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp Việt Nam.Đề tài cấp Bộ. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản nhằm thực hiện nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ kỹ thuật cho DNNVV trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Cục phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ
Nhà XB: Đề tài cấp Bộ
Năm: 2006
5. Cục phát triển doanh nghiệp/Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, 2010. Báo cáo tổng quan về mô hình phát triển DNNVV tại ba tỉnh: Hà Nội, Bình Thuận và Cần Thơ. Hội thảo về mô hình phát triển DNNVV. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về mô hình phát triển DNNVV tại ba tỉnh: Hà Nội, Bình Thuận và Cần Thơ
Tác giả: Cục phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ
Nhà XB: Hội thảo về mô hình phát triển DNNVV
Năm: 2010
6. Cục phát triển doanh nghiệp/Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, 2012. Báo cáo tình hình trợ giúp phát triển DNNVV năm 2012. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình trợ giúp phát triển DNNVV năm 2012
7. Cục phát triển doanh nghiệp/Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, 2012. Sách trắng về DNNVV 2011. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trắng về DNNVV 2011
Tác giả: Cục phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
9. Phạm Thị Thu Hằng, 2010. “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của Thủ đô Hà Nội”, tham luận tại Hội thảo quốc tế: Phát triển bền vững Thủ đô văn hiến, anh hùng và hòa bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của Thủ đô Hà Nội”
10. Phạm Văn Hồng, 2007. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Luận án tiến sỹ. Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Tác giả: Phạm Văn Hồng
Nhà XB: Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Năm: 2007
11. Lênin, 1976. Toàn tập. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 42, trang 384 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1976
12. Lê Thị Mỹ Linh, 2009. Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế. Luận án tiến sỹ. Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế
Tác giả: Lê Thị Mỹ Linh
Nhà XB: Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Năm: 2009
14. Đỗ Thị Thủy, 2008. Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Luận văn thạc sỹ. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
16. Phạm Thế Tri, 2011. Định hướng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chiến lƣợc phát triển kinh tế tƣ nhân ở Việt Nam. Chuyên mục Kinh tế - Tài chính trong tiến trình Hội nhập, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 9, trang 15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chiến lƣợc phát triển kinh tế tƣ nhân ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Thế Tri
Nhà XB: Tạp chí Phát triển và Hội nhập
Năm: 2011
17. Phạm Quang Trung (Bộ Công thương), 2008. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hà Nội sau khi Việt Nam gia nhập WTO.Đề tài cấp Bộ. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hà Nội sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Tác giả: Phạm Quang Trung
Nhà XB: Bộ Công thương
Năm: 2008
18. . Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa/Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Hà Nội, 2008. Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy sự phát triển các DNNVV trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Đề tài nghiên cứu cấp Thành phố. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy sự phát triển các DNNVV trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Tác giả: Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Hà Nội
Năm: 2008
19. Phan Đăng Tuất và JETRO, 2010. Hội thảo: “Chính sách công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ - Kinh nghiệm của Nhật Bản và những vấn đề của Việt Nam”. Viện Nghiên cứu Chiến lƣợc Chính sách công nghiệp/Bộ Công thương. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo: “Chính sách công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ - Kinh nghiệm của Nhật Bản và những vấn đề của Việt Nam”
Tác giả: Phan Đăng Tuất, JETRO
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Chiến lƣợc Chính sách công nghiệp
Năm: 2010
20. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2012. Quyết định số 6023 về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2011-2015.Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 6023 về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
13. Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Hà Nội, 2013. Báo cáo công tác trợ giúp DNNVV trên địa bàn giai đoạn 208-2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Hình 3.1  Tình hình đăng ký vốn của DNNVV giai đoạn 2010- - Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền Thành phố Hà Nội
1 Hình 3.1 Tình hình đăng ký vốn của DNNVV giai đoạn 2010- (Trang 10)
Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNNVV tại Việt Nam  Quy mô - Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền Thành phố Hà Nội
Bảng 1.1 Tiêu chí xác định DNNVV tại Việt Nam Quy mô (Trang 22)
Hình 3.1. Tình hình đăng ký vốn của DNNVV giai đoạn 2010-2013 - Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền Thành phố Hà Nội
Hình 3.1. Tình hình đăng ký vốn của DNNVV giai đoạn 2010-2013 (Trang 69)
Hình 3.2. Cơ cấu của DNNVV Hà Nội phân theo lĩnh vực - Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền Thành phố Hà Nội
Hình 3.2. Cơ cấu của DNNVV Hà Nội phân theo lĩnh vực (Trang 73)
Bảng 3.7: Quy mô DNNVV tính theo tiêu chí lao động - Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền Thành phố Hà Nội
Bảng 3.7 Quy mô DNNVV tính theo tiêu chí lao động (Trang 75)
Hình 3.3. Thu nhập bình quân của người lao động trong các DNNVV Hà - Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền Thành phố Hà Nội
Hình 3.3. Thu nhập bình quân của người lao động trong các DNNVV Hà (Trang 75)
Bảng 3.8: Khó khăn của DNNVV Hà Nội qua số liệu khảo sát - Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền Thành phố Hà Nội
Bảng 3.8 Khó khăn của DNNVV Hà Nội qua số liệu khảo sát (Trang 78)
Bảng 3.9. Kết quả chương trình hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các  DNNVV trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2013 - Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính quyền Thành phố Hà Nội
Bảng 3.9. Kết quả chương trình hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các DNNVV trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2013 (Trang 92)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w