Bên cạnh những tên tuổi có thành tựu ở thể loại trường ca như Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trọng Tạo… nhà thơ Hữu Thỉnh với các bản trường ca Đường tới th
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ TUYỀN
TRUỜNG CA HỮU THỈNH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.24
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Nguời huớng dẫn khoa học: TS Hoàng Điệp
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôi trong quá trình nghiên cứu Những số liệu thống kê hoàn toàn do tôi tự nghiên cứu Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình
Tác giả luận văn
Trang 3Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Khoa sau đại học trường Đại học
sư phạm Thái nguyên, cùng bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, người thân đã động viên, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Thái Nguyên, ngày 8 tháng 6 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tuyền
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
2.1 Những ý kiến đánh giá về thơ Hữu Thỉnh 1
2.2 Những ý kiến đánh giá về trường ca Hữu Thỉnh 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 6
NỘI DUNG 8
Chương 1: TRƯỜNG CA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ TRƯỜNG CA HỮU THỈNH 8
1.1 Một số vấn đề lí luận về thể loại trường ca 8
1.1.1 Khái niệm trường ca 8
1.1.2 Một số ý kiến về trường ca Việt Nam hiện đại 10
1.1.3 Các chặng đường phát triển của trường ca Việt Nam 12
1.1.4 Đặc trưng thể loại của trường ca Việt Nam hiện đại 15
1.2 Hữu Thỉnh với thể loại trường ca 20
1.2.1 Hành trình sáng tạo thơ Hữu Thỉnh 20
Trang 51.2.2 Quan niệm về thơ của Hữu Thỉnh 22
1.2.3 Thành tựu trường ca của Hữu Thỉnh 26
Chương 2 TRƯỜNG CA HỮU THỈNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 30
2.1 Những vấn đề của lịch sử, dân tộc và thời đại 30
2.1.1 Cuộc hành trình vĩ đại giành tự do, độc lập của dân tộc 30
2.1.2 Con người – góc khuất của chiến tranh 37
2.2 Hình tượng nhân vật trung tâm 46
2.2.1 Hình tượng người lính 46
2.2.2 Hình tượng người phụ nữ 50
2.2.3 Hình tuợng nhân dân……….56
Chương 3 TRƯỜNG CA HỮU THỈNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC 62
3.1 Cấu trúc tổng hợp 62
3.1.1 Kết cấu hòa kết giữa tự sự và trữ tình 62
3.1.2 Sự hòa kết giữa các thể thơ 69
3.2 Phức hợp về ngôn ngữ, giọng điệu 77
3.2.1 Phức hợp về ngôn ngữ 77
3.2.2 Phức hợp về giọng điệu 81
PHẦN KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Hữu Thỉnh là nhà thơ ra đời và trưởng thành trong kháng chiến
chống Mỹ cứu nước Sáng tác của ông khá liền mạch và tiêu biểu cho quá trình vận động của thi ca cách mạng Việt Nam Trong suốt chặng đường hơn 30 năm sáng tác, Hữu Thỉnh đá có nhiều đóng góp đáng kể cho nền thơ ca dân tộc Với
5 tập thơ và 3 trường ca đầy đặn cùng một loạt những giải thưởng, Hữu Thỉnh
tạo dựng cho mình tiếng vang lớn trên thi đàn Thơ của ông đã đến được với
trái tim người đọc, thấm sâu vào đời sống xã hội, được trích giảng trong nhà
trường và không ít bài được phổ nhạc
1.2 Hữu Thỉnh là một trong những người có đóng góp nhiều và chiếm
một vị trí quan trọng đối với thể loại trường ca Bên cạnh những tên tuổi có thành tựu ở thể loại trường ca như Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trọng Tạo… nhà thơ Hữu Thỉnh với các bản trường
ca Đường tới thành phố, Sức bền của đất, Trường ca biển đã được ghi nhận là
một trong những gương mặt tiêu biểu và đóng góp một tiếng nói quan trọng trong dàn đồng ca chung của thế hệ Qua sự sàng lọc của thời gian, trường ca
Hữu Thỉnh vẫn tìm được chỗ đứng trong lòng độc giả và lọt vào “con mắt xanh” của những nhà nghiên cứu Nó như “miền đất hứa” ẩn chứa bao điều
cần chúng ta khám phá
1.3 Với mong muốn tìm hiểu những độc đáo cũng như đóng góp của
trường ca Hữu Thỉnh về phương diện nội dung và nghệ thuật dưới góc độ thể
loại, chúng tôi chọn Trường ca Hữu Thỉnh nhìn từ góc độ thể loại làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn của mình
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những ý kiến đánh giá về thơ Hữu Thỉnh
Ngay từ những ngày đầu mới cầm bút giọng thơ Hữu Thỉnh đã sớm
Trang 7thu hút được sự quan tâm của bạn đọc và giới phê bình văn học
Có rất nhiều các ý kiến khác nhau đánh giá về thơ của Hữu Thỉnh Trong
cuốn “Vọng từ con chữ - tiểu luận phê bình”, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp có những khám phá tinh tế và sắc sảo về tập thơ “Thư mùa đông” của Hữu Thỉnh Tác giả cho rằng: “Nét độc đáo nhất trong cái nhìn nghệ thuật của “Thư mùa đông” nói riêng và thơ Hữu Thỉnh nói chung là: quan tâm đến thân phận, không ngừng suy tư về nhân thế là sợi dây nhất quán chảy suốt đường thơ Hữu Thỉnh Hữu Thỉnh chạm vào vẻ đẹp tinh túy của thi ca bằng nhiều câu thơ tài hoa, tinh tế” [14]
Trên báo Bình Định ngày 24/4/2006 có đăng bài viết của nhà báo Trần Đăng nhận xét về tập thơ Thương lượng với thời gian như sau: “Trong thế hệ thơ chống Mĩ, Hữu Thỉnh là nhà thơ đã tạo dựng được giọng riêng Cho đến tập thơ này dù có róng riết hơn hay quặn thắt hơn, ông vẫn giữ được cái giọng riêng ấy Thơ ông neo lại trong lòng người đọc nhiều chục năm qua là nhờ ở cái cách tư duy không lẫn với ai này Nói ra cái điều ai cũng nghĩ, ai cũng biết nhưng không phải ai cũng viết thành thơ như Hữu Thỉnh được ” [12]
Lưu Khánh Thơ trong bài viết “Hữu Thỉnh – một phong cách thơ sáng tạo” đã phát hiện ra ảnh hưởng của chất liệu văn hóa dân gian đến thơ Hữu Thỉnh, cùng những tìm tòi, sáng tạo của nhà thơ: “Hữu Thỉnh tiếp thu truyền thống dân tộc không những chỉ là ở những cách nói, cách ví von, so sánh, mà còn ở cách tư duy, liên tưởng độc đáo, ở một âm hưởng xa xôi khó nhận biết đó là nguyên nhân khiến cho Hữu Thỉnh có những câu thơ đa nghĩa, có tính hàm ẩn cao, mới lạ trong cách diễn đạt, bất ngờ trong cảm xúc” [58,tr 410] Cuối cùng tác giả rút ra kết luận khá xác đáng về phong cách thơ Hữu Thỉnh: “Đằm thắm, hồn hậu, nghiêng về phía rợp mát Cái trầm lắng yêu thương lấn át cái ồn ào sôi sục” [58, tr 421]
Chưa hết còn rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu nhắc đến Hữu Thỉnh như
là một giọng thơ tiêu biểu trong đội ngũ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ Điều
Trang 8đó cũng là tiền đề dẫn đến thành công trên con đường sáng tạo nghệ thuật của
ông Nhà phê bình Trần Mạnh Hảo trong bài “Thư mùa đông của Hữu Thỉnh” đăng trên “ Tạp chí văn nghệ quân đội” năm 1996 phát hiện ra “sự thành công của Hữu Thỉnh là nói ít cảm nhiều theo truyền thống thi pháp trung đông “ý tại ngôn ngoại”… cảm xúc của ông không hề biết chừng mực thường như nước vỡ bờ tràn cả ra ngoài trang giấy, tràn vào lòng, vào mắt người đọc Song chữ nghĩa của ông lại khá chừng mực” Đặc biệt bài viết còn phát hiện
ra chất dân dã, sự đan xen giữa những nét hồn nhiên với những suy ngẫm đầy tính triết lí cùng nỗi cô đơn đau buồn chất chứa trong tập thơ
Còn nhiều các ý kiên nghiên cứu, đánh giá về các tập thơ của Hữu Thỉnh nhưng trong bài viết này, chúng tôi tập trung thống kê nhiều hơn những
ý kiến, đánh giá về trường ca Hữu Thỉnh ở cả phương diện nội dung, cảm xúc
và hình thức nghệ thuật
2.2 Những ý kiến đánh giá về trường ca Hữu Thỉnh
Trường ca là một thể loại đã góp phần làm nên tên tuổi Hữu Thỉnh Tác
giả Hoàng Điệp trong bài viết “ Hữu Thỉnh với thể loại trường ca” đã khẳng định “Hữu Thỉnh là một trong những người có đóng góp nhiều và chiếm vị trí quan trong với thể loại trường ca” Tác giả khẳng định chắc chắn trường ca của
Hữu Thỉnh chính là một dấu ấn nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Khi đề cập đến Hữu Thỉnh với tư cách là một tác giả có phong cách nghệ thuật riêng và độc đáo, bằng cái nhìn tin tưởng, nhà phê bình Mai Hương đã
nhận xét về ngòi bút Hữu Thỉnh khi viết Đường tới thành phố như sau: “ Đây quả là một cuộc hành trình vĩ đại nhưng cực kì gian nan Song ngòi bút của Hữu Thỉnh thật tỉnh táo, khỏe khoắn, không một chút cường điệu, dễ dãi khi viết về bước đường gian nan ấy Người chiến sĩ là hình ảnh trung tâm và xuyên suốt của trường ca Sự từng trải của người viết đã giúp anh nhận chân dung người chiến sĩ chân thực và sống Những trang viết của Hữu Thỉnh do đó có sức chinh phục” [27]
Trang 9Cũng nhận xét về Đường tới thành phố, nhưng nhà phê bình Thiếu Mai trong bài viết “ Hữu Thỉnh trên đường tới thành phố”, đăng trên báo Văn nghệ Quân đội ( số 3 – 1980) lại nhìn nhận ở phương diện khác, đó là phương diện cảm xúc “Cảm xúc dạt dào, phong phú và mạnh mẽ là chỗ mạnh của Hữu Thỉnh…trong lòng cuộc chiến đấu chống Mĩ vĩ đại của nhân dân, Hữu Thỉnh thường nghĩ đến những vấn đề lớn lao của đất nước, của thời đại Anh khao khát thơ mình phản ánh và lí giải được những điều đó…Thành công chủ yếu nhất của Hữu Thỉnh cũng chính là thể hiện vừa sâu vừa tinh, vừa khái quát, vừa tỉ mỉ chi li những tình cảm, những suy ngẫm của người chiến sĩ trong cuộc chiến đấu chống Mĩ Cái vững của ngòi bút Hữu Thỉnh…miêu tả trực diện những tổn thất mà tác phẩm không chim xuống không khí bi đát, trái lại vẫn thấy được xu thế tiến lên của cuộc chiến đấu… Hữu Thỉnh rất chú ý đến từng câu, từng chữ Anh không bằng lòng với lối nói sáo mòn” [42]
Trong bài viết “Mấy ghi nhận về thơ người lính của Hữu Thỉnh”đăng trên diễn đàn văn nghệ quân đội Việt Nam tháng 6 năm 2011, tác giả Trường Lưu khẳng định chắc chắn : “Xuyên suốt các tập thơ của anh, là một con người luôn tìm đến cái lõi của hiện thực…tài năng của Hữu Thỉnh có lẽ trước hết ở
sự hòa điệu trong tiếng nói tri kỉ và tri âm với thân phận người lính” [39]
Trong bài viết “Từ những người đi tới biển tới Đường tới thành phố”, đăng trên báo Văn nghệ ( số 4- 1997), nhà thơ Tế Hanh nhận ra chất hiện thực mạnh mẽ trong “Đường tới thành phố” là “Thơ từ cuộc đời chiến đấu mà ra là máu thịt chứ không phải giấy mực” [24]
Các nhà nghiên cứu không chỉ bình phẩm ở phương diện nội dung, cảm xúc mà ở hình thức nghệ thuật trong trường ca Hữu Thỉnh cũng có những nhận xét vô cùng tinh tế và sâu sắc
Thiếu Mai đã chỉ ra chất dân gian đặc sắc trong trường ca Hữu Thỉnh:
“Thấp thoáng đằng sau câu thơ của Hữu Thỉnh dáng dấp của ca dao, nhưng rõ ràng thơ anh không rập khuôn theo ca dao, không bị ca dao lấn át” [42] Nhìn
Trang 10chung tác giả đã nhận thấy được chất dân gian trong trường ca “Đường tới thành phố” nhưng chưa co sự phân tích sâu sắc, cặn kẽ những đặc điểm ấy
Cùng hướng tiếp cận như Thiếu Mai và Mai Hương khi đọc “Trường ca biển”, Hữu Đạt cho rằng “ Thơ Hữu Thỉnh có nhiều cái mới mà không xa cái truyền thống, thậm chí có khi tái tạo lại cái đó có từ trong truyền thống mà vẫn
có dấu hiệu riêng về phong cách của mình” Tác giả thấy được trường ca này là
một sáng tạo về hình tượng và ngôn ngữ thơ ca Bài viết đã bước đầu chỉ ra những cách tân nghệ thuật trên cơ sở truyền thống trong thơ Hữu Thỉnh
Nguyễn Đăng Điệp thì nhận thấy những thay đổi trong cấu trúc thơ,
dòng thơ, tứ thơ của Hữu Thỉnh để tạo nên sự mới mẻ trong thơ ông: “ Mô hình câu thơ, sự vật hiện tượng đem ra để so sánh thường nhỏ bé, tương quan sự xuất hiện của những con số, tứ nằm ngay trong đơn vị câu”, giọng điệu thì trầm lắng suy tư và cuối cùng tác giả nhận xét:“ xuất phát từ nền móng văn học dân gian nhưng…đã xử lí chất liệu truyền thống bằng cái nhìn hiện đại nhằm tạo nên những đột phá về thi pháp thể loại”
Lưu Khánh Thơ khi đánh giá về Hữu Thỉnh đã khẳng định đó là một
phong cách thơ sáng tạo bởi: “Đường tới thành phố đã hội tụ và kết tinh những điểm mạnh của ngòi bút Hữu Thỉnh, anh đã dồn vào trường ca này những tình cảm lớn lao, những câu thơ tài hoa xúc động nhất”[58]
Ngoài ra còn rất nhiều các bài viết của các tác giả khác như: Nguyễn Duy Bắc; Trắc Bách Diệp; Hà Minh Đức; Hoàng Điệp; Vu Gia; Nguyễn Trọng Tạo; Phan Diễm Phương; Đa số cac bài viết mới chỉ dừng ở việc đanh g một bài thơ, một tập thơ, một trường ca hay một phẩm chât nào đó trong hồn thơ Hữu Thỉnh
Ngoài cac bài ngắn, những năm gần đây thơ Hữu Thỉnh đã được chọn làm tài nghiên c cua một số chuyên luận, luận văn
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Lựa chọn đề tài này, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là: Đặc trưng thể loại trong các sáng tác trường ca của Hữu Thỉnh cả ở phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích một cách có hệ thống những sáng tác trường ca của Hữu Thỉnh để khái quát nội dung tư tưởng thẩm mĩ và hình thức nghệ thuật thể loại
5 Phương pháp nghiên cứu
- Thống kê – phân loại
- Phân tích – tổng hợp
- Đối chiếu – so sánh
- Thi pháp thể loại
6 Đóng góp của luận văn
Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu trường ca Hữu Thỉnh, luận văn chỉ ra những đặc trưng cơ bản dưới góc độ thể loại trong trường ca Hữu Thỉnh Qua
đó nhằm khẳng định những đóng góp nổi bật về mặt thể loại trường ca trong thơ ca Việt Nam hiện đại của tác giả Luận văn còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho những độc giả quan tâm, yêu thích thơ Hữu Thỉnh và cho việc giảng dạy thơ Việt Nam hiện đại trong nhà trường
7 Cấu trúc của luận văn
Trang 12Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và phần Tư liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Trường ca Việt Nam hiện đại và trường ca Hữu Thỉnh
Chương 2: Trường ca Hữu Thỉnh nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3: Trường ca Hữu Thỉnh nhìn từ phương diện hình thức
Trang 13
NỘI DUNG Chương 1 TRƯỜNG CA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ TRƯỜNG CA HỮU THỈNH
1.1 Một số vấn đề lí luận về thể loại trường ca
1.1.1 Khái niệm trường ca
Khái niệm trường ca có nguồn gốc từ văn học phương Tây “trường
ca là thuật ngữ văn học dịch từ chữ pòeme của Liên Xô” [23], đã bắt đầu xuất
hiện ở Việt Nam từ những năm 50 của thế kỉ XX, dùng để gọi tên những sáng tác dân gian có tính chất sử thi và có độ dài như Đam San, Xinh Nhã Theo cách gọi này thì trường ca đồng nhất với sử thi, anh hùng ca(Iliats, Ôđixê, Ramyana, Mahabharata ) hoặc các khan củaTây Nguyên Đồng thời cũng để chỉ các sáng tác thơ có dung lượng lớn phản ánh những
biến cố lớn trong lịch sử dân tộc như: Ngọn giáo búp đa của Ngô Văn Phú (1977), Ba-zan khát của Thu Bồn (1977), Những người đi tới biển của Thanh Thảo ( 1977), Sông núi trên vai của Anh Ngọc (1977), Đường tới thành phố
của Hữu Thỉnh (1979)…
Việc xác định ranh giới và cho ra đời một khái niệm trường ca là tương đối khó Trong nhiều năm qua các nhà nghiên cứu lí luận phê bình văn học, thậm chí chính các tác giả trường ca đã rất chú ý đi tìm một định nghĩa để có thể nói rõ được bản chất cũng như những thuộc tính căn bản nhất giúp phân định trường ca với các loại thơ trường thiên khác
Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra khái niệm: “Trường ca là tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Trường ca cũng được dùng để gọi các tác phẩm sử thi thời cổ và trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả” [23]
Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học cho rằng “Trường ca có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc sườn truyện trữ tình Chúng được soạn bằng cách xâu chuỗi các bài hát sử thi và truyện kể hoặc bằng nới
Trang 14rộng một vài truyền thuyết dân gian (Ahoyler) hoặc bằng cách cải biên các cốt truyện cổ xưa trong tiến trình tồn tại của sáng tác dân gian Trường ca với tư cách một thể loại tổng hợp, trữ tình – tự sự, hoành tráng cho phép kết hợp những chấn động lớn, những cảm xúc trầm sâu và những quan niệm về lịch sử vẫn là một thể loại hiệu năng của thơ ca thế giới” [4]
Bên cạnh ý kiến của các nhà nghiên cứu phê bình văn học không thể không nhắc đến quan niệm của chính những người trực tiếp sáng tác nên các tác phẩm trường ca Các nhà thơ Võ Văn Trực, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Mạnh Hảo, Bùi Văn Phú, Nguyễn Khắc Phục, Trần Vũ Mại, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu…từ những góc nhìn riêng,
từ thực tế sáng tác của mình, mỗi người đem đến một cách quan niệm mới về thể loại trường ca Mặc dù có sự khác nhau trong việc xác định ranh giới, nội hàm khái niệm trường ca, nhưng có thể thấy các nhà phê bình văn học và các
tác giả trường ca đều thống nhất ở điểm chung khi cho rằng “Trường ca là những tác phẩm có tầm cỡ , tầm vóc lớn lao cả về hình thức lẫn nội dung Nó
có sức ôm chứa nhiều vấn đề lớn, về nhiều chủ đề tư tưởng, về độ rộng của không gian và độ dài của tời gian Trường ca có tính tự sự, tính trữ tình, yếu
tố suy nghĩ chính luận”
Trong các kết quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi nhận thấy
quan niệm về trường ca của tác giả Đào Thị Bình (“Thể trường ca trong văn học Việt Nam từ 1945 đến cuối thế kỉ XX” – LATS, 2008) là khá thuyết phục:“Trường ca thường là các tác phẩm trữ tình có dung lượng lớn hoặc vừa,
có khả năng tổng hợp và phát huy những ưu thế nổi trội của cả ba loại hình: trữ tình, tự sự và kịch Với kiểu kết cấu và phát triển theo hướng đan xen nhiều kiểu kết cấu hoặc kết cấu phức hợp, trường ca có thể bao quát và miêu tả những mảng hiện thực lớn ở cả bề rộng lẫn chiều sâu Ngôn ngữ, giọng điệu phong phú, đa dạng, giàu chất trí tuệ, vừa mang âm hưởng hào hùng của sử thi vừa thấm đẫm hơi thở của cuộc sống”
Trang 151.1.2 Một số ý kiến về trường ca Việt Nam hiện đại
Như một quy luật trong đời sống văn học, trên con đường vận động và phát triển của văn học Việt Nam, từ sự manh nha cho đến việc hình thành thể loại trường ca đã đánh dấu sự đổi mới quan trọng trong hệ thống thể loại Trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại ra đời bắt nguồn từ nhu cầu tổng kết, nhận diện lịch sử dân tộc một cách sâu sắc Đồng thời, đó cũng là minh chứng cho ý thức, trách nhiệm và tình cảm được thôi thúc từ trong trái tim của
người nghệ sỹ: “Còn tôi viết trường, cũng như nhiều nhà thơ khác viết trường
vì trong một thời kỳ nào đó, trước những đề tài nào đó, và nghe được thôi thúc nào đó từ bên trong khiến người làm thơ nổi hứng viết trường ca” [46, tr 250] Nhà thơ Hữu Thỉnh trong bài viết “Sự chuẩn bị của người viết trẻ” (Báo Văn nghệ, số thứ bảy, ngày 12/12/1981) đã thổ lộ: “ Phản ánh cuộc chiến tranh đó vừa là trách nhiệm, vừa là niềm say mê của mỗi chúng tôi, cũng là nơi thử sức lâu dài của mỗi người” [66] Với những sự thôi thúc đó, giai đoạn sau năm 1975,
các bản trường ca chủ yếu viết về đề tài chiến tranh và lịch sử Chính vì vậy, rất nhiều trường ca viết về cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam đã thu hút sự chú ý và quan tâm của bạn đọc, các nhà nghiên cứu Vào đầu những năm 80, đã diễn ra một cách sôi nổi nhiều cuộc hội thảo về trường ca
Về vấn đề định nghĩa trường ca có rất nhiều ý kiến khác nhau Có thể lược qua những bài viết tiêu biểu như : Nhiều tác giả nêu ra vấn đề tên gọi
trường ca nhưng cuối cùng đều thừa nhận như một thực tế và xem “mỗi tác phẩm là một cách định nghĩa của tác giả về chính thể loại đó” (Hữu Thỉnh); Tác giả Từ Sơn lại cho rằng: “Các tác phẩm dài hơi nên gọi là truyện thơ” Về khái niệm “Trường ca” Lại Nguyên Ân lại cho rằng: “Trường ca là một hiện tượng giao thoa giữa tự sự và trữ tình” (Bàn góp về trường ca) Tác giả Đỗ Văn Khang lại khẳng định “trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại chỉ có ý nghĩa mỹ học đầy đủ khi có tên gọi là trường ca sử thi hiện đại” [30]
Trang 16Các ý kiến trên đã phần nào làm sáng rõ hơn về định nghĩa trường ca nói chung và trường ca hiện đại nói riêng Trong các ý kiến về định nghĩa trường
ca, chúng tôi tâm đắc với ý kiến của Đỗ Văn Khang khi ông cho rằng: “trường
ca trong văn học Việt Nam hiện đại chỉ có ý nghĩa mỹ học đầy đủ khi có tên gọi
là trường ca sử thi hiện đại” Đây là ý kiến xác đáng về trường ca hiện đại
Về đặc trưng thể loại, có nhiều bài viết đã nghiên cứu một cách khá công phu Các tác giả thường dựa vào sự so sánh giữa trường ca với thơ dài, trường
ca với truyện thơ để nói lên đặc trưng của thể loại như: Trần Ngọc Vương, Mã Giang Lân, Vũ Đức Phúc, Mai Bá Ấn Trong các bài viết này đáng chú ý nhất
là ý kiến của tác giả Mai Bá Ấn Theo tác giả giữa trường ca và thơ dài cũng cần có sự khu biệt để nhận thức đầy đủ đặc trưng của từng thể loại Xu hướng
“trường ca hóa” các tác phẩm thơ dài sẽ hạ thấp vai trò của trường ca, xóa
nhòa những yếu tố đặc trưng phân biệt nó với các thể loại khác
Ngoài các bài viết được đăng tải trên báo chí, trong một số công trình nghiên cứu cũng xuất hiện một số bài viết về trường ca Sớm nhất, có lẽ là bài viết của Lại Nguyên Ân, đầu tiên được đăng trên báo, sau được tập hợp trong
cuốn Văn học và phê bình Trong đó, bài viết “Mấy suy nghĩ về trường ca”
được viết trước 30 tháng 4 năm 1975 là bài viết công phu; ngoài việc ghi nhận những thử nghiệm về trường ca, tác giả đã phân biệt rõ trường ca với các thể tài khác, nêu lên những đặc trưng cốt yếu của trường ca, các hình thức trường ca
được viết trong thời gian đó Có thể nói rằng, với cuốn “Văn học và phê bình”,
Lại Nguyên Ân đã dành mối quan tâm lớn nhất cho thể loại trường ca Những nhận xét đưa ra tuy vẫn dè dặt nhưng lại vô cùng quan trọng đối với phê bình
và sáng tác văn học thời điểm ấy
Sau này, khi PGS.TS Vũ Văn Sỹ đề cập đến trường ca, ông đặc biệt chú
ý đến vai trò của thể loại trong hệ thống thơ Việt Nam hiện đại Trong bài
“Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện” đại tác giả đã luận giải
Trang 17một cách hợp lí về sự phát triển của thể loại này Đặc biệt, năm 1999 Hoàng
Ngọc Hiến đã xuất bản giáo trình Năm bài giảng về thể loại và một trong số những vấn đề được ông đưa ra là “Mấy vấn đề đặc trưng thể loại và thi pháp của trường ca” Đây là lần đầu tiên thể loại trường ca mới ở Việt Nam được
đưa vào giáo trình Có thể nói Hoàng Ngọc Hiến là người dành nhiều tâm sức cho việc nghiên cứu trường ca Từ các bản dịch, các bài giới thiệu về trường ca của Maicôpxki, các lí thuyết về thể loại của Nga, ông đã khái quát nên những
đặc điểm cơ bản của trường ca hiện đại như: nội dung lớn, cảm hứng lớn, mối tương quan giữa tự sự và trữ tình Về những nghiên cứu mang tính trường
qui, chúng tôi thấy trường ca ít nhiều đã được quan tâm, tuy số lượng các công trình vẫn còn ít và chủ yếu là đề cập đến một vài khía cạnh, một vài tác giả viết trường ca Từ luận văn thạc sĩ trở lên, có thể kể đến một số công trình như:
Chất sử thi trong trường ca hiện đại 1954 – 1985 của Lê Thị Hồng Liên (Luận văn thạc sĩ Đại học sư phạm Huế - 2001); Thể trường ca trong văn học Việt Nam từ 1945 đến đầu thế kỉ XXI của Đào Thị Bình (Luận án tiến sĩ, 2008); Đặc điểm trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo của Mai Bá
Ấn (Luận án tiến sĩ, 2008)
1.1.3 Các chặng đường phát triển của trường ca Việt Nam
Trường ca xuất hiện lẻ tẻ trong thời kì kháng chiến chống Pháp, khởi sắc
từ những năm 60, phát triển mạnh những năm 70 và nở rộ sau những năm chiến tranh, bắt đầu lắng xuống khi bước vào thời kì đổi mới rồi xuất hiện trở lại vào những năm 90 của thể kỉ 20 và đầu thế kỉ 21
Giai đoạn mở đầu của thể loại trường ca trong văn học Việt Nam có thể lấy mốc từ những năm 45 cho đến 1965 Ở chặng đường mở đầu này đội ngũ sáng tác không nhiều, số lượng các trường ca cũng tương đối ít ỏi, sự phân định giữa thể loại trường ca với thể loại thơ dài cũng chưa thật rạch ròi Có thể kể
đến các tác giả tiêu biểu như: Xuân Diệu với Ngọn Quốc kì và hội nghị non sông, Khương Hữu Dụng với Từ đêm mười chín (1948), Hà Thanh Đẩu với
Trang 18Việt Nam hùng sử ca (1949), Phùng Quán với Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo ( 1954), Văn Cao với Những người đi trên cửa biển (1956), Thu Bồn với Bài ca chim chơ-rao (1963) Về cơ bản, các trường ca trên đã phản ánh được
một số sự kiện, nhân vật tiêu biểu trong thời kì kháng chiến chống Pháp, chống
Mĩ Đó là những anh du kích, những chiến sĩ cách mạng…Tuy nhiên tầm khái quát và chất lượng nghệ thuật của các trường ca này chưa cao
Giai đoạn từ 1965 đến 1985, trường ca bước vào thời kì phát triển mạnh
mẽ và trở thành hiện tượng văn học đáng chú ý trong những năm kháng chiến chống Mĩ và sau giải phóng Đề tài chủ yếu trong trường ca giai đoạn này là đề tài chiến tramh Dưới các góc nhìn khác nhau, các tác giả trường ca đã đem đến cho thể loại này sự phong phú về nội dung, sức khái quát của thể loại và một hình thức, kết cấu tương đối hoàn chỉnh cho thể loại trường ca
Mười năm đầu của giai đoạn thứ hai này (1965 – 1975) chính là thời kì
khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Đội ngũ sáng tác
chính là những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu Họ được tôi luyện và trưởng thành trong không khí sôi nổi của thời đại Có thể kể đến một số tên tuổi tiêu biểu như : Lê Anh Xuân, Vương Anh, Phạm Ngà, Thái Quang, Viễn Phương, Nguyễn Khoa Điềm… Họ đã kịp có mặt và tiếp nối truyền thống của lớp đàn anh trước Sự bổ sung lực lượng này làm cho đội ngũ sáng tác trường
ca giai đoạn này đông đảo hơn, số lượng các trường ca cũng nhiều hơn, phong phú hơn đáp ứng được nhiệm vụ phản ánh hiện thực rộng lớn của giai đoạn cách mạng mới đồng thời làm thay đổi diện mạo thơ ca nói chung và trường ca nói riêng Đa số các trường ca giai đoạn này thể hiện rõ ý thức về bản chất, cấu trúc của thể loại trường ca Có thể kể đến một số trường ca tiêu biểu như
Những anh hùng Đồng Tháp, Mặt đường khát vọng, Kể chuyện ăn cốm giữa sân…
Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn được giải phóng, các nhà thơ đã tích
tụ đủ những điều kiện cần thiết để nhận thức rõ về giá trị bản thân, về sự lớn
Trang 19lao vĩ đại của dân tộc, về niềm vui chiến thắng và cả những mất mát đau thương Từ những nền tảng đó, những bản trường ca ra đời Số lượng và chất lượng những bản trường ca viết sau chiến tranh đã có bước tiến rõ rệt Khuynh hướng chung của các bản trường ca là muốn tổng kết, khái quát về chiến tranh thông qua sự trải nghiệm của bản thân mỗi nhà thơ Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, hàng loạt các trường ca có dung lượng lớn, phong phú về nội dung, sâu sắc về tư tưởng, nhuần nhuyễn về nghệ thuật thể hiện đã lần lượt “trình
làng” Có thể kể đến một số trường ca tiêu biểu như Những người đi tới biển của Thanh Thảo (1976), Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh (1977), Sông núi trên vai của Anh Ngọc (1977) và năm 1983 xuất bản tiếp Điệp khúc vô danh, Nguyễn Đức Mậu với Trường ca sư đoàn(1978), Nguyễn Trọng Tạo với Con đường của những vì sao(1978), Trần Mạnh Hảo với Mặt trời trong lòng đất
Võ Văn Trực với Hành khúc mùa xuân (1980)…
Từ sau năm 1985 đến nay, đất nước bước vào thời kì đổi mới, đội ngũ các tác giả viết trường ca được bổ sung không nhiều, số lượng các tác phẩm cũng thưa thớt hơn trước, song vẫn có những trường ca tương đối đặc sắc Có thể kể một vài gương mặt tiêu biểu như Vương Trọng, Thanh Thảo, Trần Anh Thái, Thi Hoàng, Hoàng Trần Cương…Nội dung phản ánh của trường ca đã được mở rộng trở nên phong phú và đa dạng hơn Bên cạnh chủ đề chiến tranh và những
Trang 20hậu quả của nó, các trường ca còn đồng thời chú ý đến các vấn đề thường nhật của cuộc sống Khuynh hướng triết luận, mở rộng trường liên tưởng, tính ẩn dụ, giọng điệu cắt nghĩa, biện giải và xây dựng các biểu tượng mang tính biểu trưng cao… là những đặc điểm nổi bật của trường ca giai đoạn này
Trường ca Việt Nam hiện đại đã có một con đường phát triển riêng cùng với các thể loại khác trong lòng nền văn học dân tộc Từ hiện thực đau thương của đất nước trong chiến tranh, qua bước chuyển tiếp của thời kì sau giải phóng, bước một bước dài đến cuộc sống của con người hiện đại, trường ca đã mang trong mình sức mạnh của hiện thực, sự nâng đỡ của cảm xúc dạt dào, sôi nổi của những nhà thơ trẻ sống, chiêm nghiệm qua hiện thực chiến tranh cũng như những xô bồ của cuộc sống thị trường thời kì đổi mới Vì thế trường ca vừa có sức khái quát, ôm chứa một hiện thực rộng lớn đồng thời vẫn thấm đẫm cảm xúc của người viết, qua từng thời kì mà có sự hoàn thiện dần và đạt đến sự chín muồi của một thể loại hoàn chỉnh
1.1.4 Đặc trưng thể loại của trường ca Việt Nam hiện đại
1.1.4.1 Về nội dung
Đặc trưng thể loại về phuơng diện nội dung đầu tiên mà truờng ca Việt
Nam hiện đại đề cập đến là chiến tranh và người lính
Lịch sử chiến tranh liên miên đã để lại dấu ấn không thể phai mờ trong tâm thức cộng đồng người Việt Văn học với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, là nơi tái diễn một cách chân thực nhất tâm thức ấy Trường ca nói chung
và trường ca hiện đại Việt Nam nói riêng, chiến tranh luôn là đề tài chính, là mấu chốt cho những trải nghiệm được tự sự Trường ca hiện đại mô tả chủ yếu cuộc đấu tranh của dân tộc đối với kẻ thù ngọai xâm để đạt mục đích cao cả: thoát khỏi ách ngoại xâm, nhằm thiết lập một cộng đồng dân tộc mới, với nội dung giai cấp mới theo lí tưởng cách mạng với cảm hứng chủ đạo là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng
Trang 21Có thể khẳng định, thơ ca chống Mỹ cứu nước nói chung và trường ca nói riêng đều khắc họa người lính (bộ binh, thiết giáp, đặc công,… và cả những người du kích, cán bộ địch vận, giao liên, thông tin liên lạc…) bằng những nét
vẽ rất bình thường, vô cùng bình thường nữa là khác Đây cũng là tứ thơ chung
của cả thời đại
Thiếu Mai đã nhận định về cây bút trẻ Thanh Thảo của thời chống Mỹ:
“trong tấm lòng người chiến sĩ, có một khoảng rộng nhất, sâu nhất dành cho quê
hương - hậu phương lớn” Trong Những người đi tới biển, người chiến sĩ bộ binh
của Thanh Thảo già dặn trong cách nghĩ, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, hiểm nguy vì sự sống còn của đất nước Các anh không có quyền lựa chọn nơi và thời điểm để được sinh ra nhưng lại được quyền chọn mảnh đất mà mình sẽ cống hiến tuổi trẻ và xương máu - nếu muốn được làm người đúng nghĩa khi Tổ quốc
cần: “Người ta không thể chọn để được sinh ra/ Nhưng chúng tôi đã chọn cánh rừng phút giây năm tháng ấy/ Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/ (Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc) Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi
Tổ quốc” Người chiến sĩ ấy, lúc bấy giờ có tuổi đời còn quá trẻ nhưng những
câu thơ lại mang tính chính luận triết lý già dặn như chân lý của một dân tộc đang chìm đắm trong khói lửa chiến tranh Lời thơ của anh cũng chính là lời tuyên thệ của cả một đội quân điệp điệp trùng trùng đang rùng rùng ra trận, của những con người vô cùng dũng cảm, không sợ bất cứ kẻ thù nào nhưng lại cực
kỳ nhân hậu, thủy chung Giữa bao nhiêu sự hy sinh mất mát đến cháy lòng cháy
dạ thì họ vẫn lạc quan để sống và để hy vọng về một ngày mai chiến thắng
Các nhà thơ trường ca thời chống Mỹ đã xây dựng hình ảnh người lính đúng như hiện thực vốn có: hết lòng yêu nước thương dân, biết hy sinh tình cảm riêng tư để kiên cường đánh giặc trong tư thế đàng hoàng, đĩnh đạc và rất
lạc quan Trường ca vốn không chỉ nói về người lính mà còn qua họ nói về cả
một thế hệ tự ý thức sâu sắc về mình, về lịch sử và nhân dân Đó là sự tự nhận thức đạt đến độ sâu trong thơ chống Mĩ
Trang 22Nội dung quan trọng tiếp theo mà truờng ca phản ánh là đất nước và số phận con người
Trong lịch sử văn học, cảm hứng về đất nước vẫn luôn là một trong những cảm hứng lớn nhất của mỗi giai đoạn Và trường ca hiện đại cũng đã thể hiện rất rõ nội dung ấy Đất nước trong đời thường và đất nước trong văn học được kết tinh từ tất cả những mảnh ghép cuộc sống Các tác giả trường ca giai đoạn kháng chiến chống Mỹ từ sự thôi thúc của trái tim mình đều dồn mọi tâm lực cho sự miêu tả, ngợi ca và dựng nên hình tượng đất nước:
“Dân tộc tôi khi đứng dậy làm người
Mồ hôi vã một trời sao trên đất”
(Những người đi tới biển- Thanh Thảo)
Truyền thống dân tộc đã tạo nên những anh hùng, tạo nên sức mạnh tiềm tàng mà quật cường để dân tộc có thể chiến thắng giặc ngoại xâm Đó là đất nước của những người con gái, con trai chưa bao giờ biết sống lùi bước:
Đất nước của những người con gái, con trai Đẹp như hoa hồng cứng hơn sắt thép
Xa nhau không hề rơi nước mắt Nước mắt để giành cho ngày gặp mặt (Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi- Nam Hà)
Trong cảm nhận của các tác giả trường ca, đất nước còn được tạo nên bởi những cuộc đời bình dị mà cao đẹp Họ là những người còn sống và cả những người đã mất Tất cả đều là những anh hùng của nhân dân Đặc biệt, trong hầu hết các bản trường ca, hình ảnh người mẹ được các tác giả tập trung khắc họa một cách đậm nét Mẹ chính là ngọn nguồn của tất cả, mẹ sinh ra những anh hùng và truyền thuyết từ xa xưa:
Chính mẹ đẻ ra anh hùng và truyền thuyết
Trang 23Từ túp lều lợp lá lợp tranh
(Những người đi tới biển- Thanh Thảo)
Gắn với đất nước là số phận con người Có thể nói trường ca hiện đại thường xoáy sâu vào số phận con người, đặt con người vào mối tương quan với hoàn cảnh, thời gian và không gian tồn tại Trường ca trước 1975 chủ yếu đề cập đến những con người mang tính tập thể, sống bằng lí tưởng mà ít đời sống nội tâm Song một điểm nhấn trong trường ca hiện đại sau 1975 là đã đề cập đến những số phận riêng mà những số phận ấy phải chịu ảnh hưởng sâu sắc của chiến tranh Các số phận con người đời tư nhiều đau khổ, trái ngang đã được các trường ca sau 1975 đề cập đến như một minh chứng hùng hồn về tội ác của giặc Mỹ
Biết bao người đã không tìm được hạnh phúc vì chiến tranh, để sự nuối tiếc khổ đau cho cả cuộc đời:
Chết-hy sinh cho tổ quốc- Hùng ơi Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất
Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng (Nấm mộ và cây trầm - Nguyễn Đức Mậu)
Và nỗi lòng se sắt một người mẹ trong trường ca Đất nước hình tia chớp
của Trần Mạnh Hảo:
Mỗi bận chiến trường tin báo tử
Mẹ lại hoài thai bằng nỗi đau dài
(Đất nước hình tia chớp- Trần Mạnh Hảo)
Con người đã chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, nhưng đồng thời trong chiến tranh con người cũng đã thể hiện sức mạnh kì diệu Họ không chỉ
Trang 24vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt đau thương của đất nước mà còn chiến thắng chính bản thân mình, chiến thắng số phận nhiều lúc không tránh khỏi hẩm hiu Song, dù ơphải chịu những mất mát lớn lao, con người vẫn chịu đựng vì sự vĩnh hằng của Tổ quốc
1.1.4.2 Về hình thức
Trên bình diện thi pháp thể loại, trường ca là hệ quả tất yếu của quá trình thơ trữ tình mở rộng chức năng xã hội- thẩm mĩ của yếu tố tự sự trong kết cấu tác phẩm Vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ, có cốt truyện vẫn là mô hình quen thuộc cho các nhà thơ khi họ tìm đến thể trường ca Có thể
tình và chính luận “Các trường ca dạng này thường được chia thành nhiều chương, khúc mà mỗi chương có thể được đặt tên Mạch liên kết của các chương là mạch triển khi của chủ đề mang tính chính luận trữ tình” [46]
xuống mặt trời và Ngày đang mở sáng –
Trong quá trình vận động của thể loại, vào những năm sau 1975, kết cấu trường ca theo cố truyện, sự kiện và tuyến thời gian ngày càng lỏng lẻo; kết cấu
Trang 25lấy tư tưởng – cảm xúc trữ tình làm chỗ dựa ngày càng được các nhà thơ vận dụng trong sáng t
,
: “
) : “ tôi trung thành với khát vọng trên đường tìm kiếm cõi thẳm sâu chân thực trong chính bản thân mình…”
-)
Nói chung ở mỗi tác phẩm cụ thể, tùy theo sự nổi bật của sự kiện hay mạch nguồn cảm xúc mà mỗi tác giả lựa chọn một kiểu kết cấu hay phối hợp đan xen nhiều kiểu kết cấu khác nhau trong lòng một tác phẩm, từ đó đem lại hiệu quả nghệ thuật cao nhất Càng về sau các tác giả càng chú ý sử dụng đan xen nhiều kiểu kết cấu, nhiều giọng điệu, nhiều phương thức thể hiện trong một chỉnh thể nhất quán đã tạo nên quy mô đồ sộ, hoành tráng cho trường ca, mặt khác đây cũng là đặc trưng của nó Nhờ sự đa dạng của hình thức kết cấu đã đem lại cho trường ca sự phát triển vượt trội so với nhiều kiểu kết cấu của các tác phẩm thơ ca thông thường khác
1.2 Hữu Thỉnh với thể loại trường ca
1.2.1 Hành trình sáng tạo thơ Hữu Thỉnh
Thơ Hữu Thỉnh những năm chống Mỹ và thời kì hậu chiến
Thơ Hữu Thỉnh bám sát hiện thực cuộc sống và phản ánh trung thành những sự kiện lớn lao của đất nước, phản ánh tinh thần chiến đấu dũng cảm,
Trang 26hi sinh quên mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Ông cũng như nhiều nhà thơ khác luôn ý thức sâu sắc về vị trí, vai trò của thế hệ mình :
Không có sách chúng tôi làm ra sách Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình
(Đường tới thành phố)
Bằng con mắt của trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận, Hữu Thỉnh miêu tả chiến tranh với cái nhìn từ trong chiến hào, những câu thơ bật lên
từ đời sống hiện thực, từ cuộc chiến tranh vừa âm thầm, vừa quyết liệt, dữ
dội và vô cùng nóng bỏng Mảng thơ viết về chiến tranh gồm tập thơ Tiếng hát trong rừng (bài viết sớm nhất vào năm 1968, bài muộn nhất vào năm1982), trường ca Sức bền của đất viết xong vào dịp tết Ất Mão (1975), trường ca Đường tới thành phố viết từ tháng 8/1977 hoàn thành tháng 4/1978 Cảm
hứng chủ đạo là cảm hứng về đất nước , nhân dân, về cuộc chiến đấu chống
hương từ giọt gianh đến chiếc chõng tre, cái dây phơi… Đó là tình quê hương, làng xóm, tình quân dân, đó là hình ảnh người mẹ, người vợ, người chị… tất cả đều hiện lên rất đỗi thân quen và cũng vô cùng xúc động
Mang đặc điểm của một hồn thơ hồn hậu, giầu suy tưởng thơ viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh có kết hợp nhuần nhị giữa giọng chính luận với giọng trữ tình đằm thắm Chính điều này đã mang đến cho người đọc những nét đặc sắc, vừa quen vừa lạ Dường như Hữu Thỉnh đang nói hộ những điều sâu kín trong tâm Đó chính là những yếu tố góp phần tạo nên sự thành công của Hữu Thỉnh
Trang 27Thơ Hữu Thỉnh thời kì đổi mới
Sang một chặng đường bước phát triển mới của đất nước, thơ Hữu Thỉnh lại mang đến cho bạn đọc một nguồn cảm hứng và phong cách sáng tạo mới Gần mười lăm năm tìm đoạn đường phát triển tiếp theo cho thơ
mình để cùng một lúc ông đã cho ra mắt hai tập thơ“Trường ca Biển” và
“Thư mùa đông” và tiếp theo là tập thơ “Thương lượng với thời gian”đã
đánh dấu và khẳng định thơ Hữu Thỉnh trong nền thơ đương đại Việt Nam
Những sáng tác của Hữu Thỉnh trong thời kỳ này đã thể hiện cách nhìn nhận đánh giá cuộc đời với những suy ngẫm của một con người đang trăn trở trước cuộc sống đầy những thử thách khó khăn trong cái tôi trữ tình của Hữu Thỉnh
Thơ Hữu thỉnh thời kỳ này phản chiếu cuộc sống thường nhật, trở về cuộc sống đời thường những nhìn nhận về tình đời, về lẽ sống, về thân phận
cá nhân trong cõi nhân gian đôi lúc phải tìm về nương tựa vào những giá
trị truyền thống Với một loạt các bài: Nghe tiếng cuốc kêu, Hạnh phúc, Tự thú, Người bộ hành lặng lẽ, Năm tháng trên vai…đã thể hiện cái tôi của nhà
thơ luôn trăn trở, nghĩ suy, tự vấn về nhân tình thế thái và về bản thân Hữu Thỉnh luôn thường đặt ra nhiều câu hỏi, nhiều giả thiết để tự mình chất vấn, ngẫm ngợi và nhiều khi bỏ ngỏ để bạn đọc cùng suy ngẫm
Trong những sáng tác của thời kỳ trước đề tài tình yêu cũng được Hữu Thỉnh đề cập đến nhưng đó mới chỉ là những hình ảnh thấp thoáng, xen
kẽ chưa có những tứ thơ trọn vẹn về đề tài này Thời kỳ này Hữu Thỉnh đã
có những tứ thơ riêng, những bài thơ tình trọn vẹn cũng đem đến những rung
động trong sâu thẳm tâm hồn nhà thơ: Thơ viết ở biển,…
1.2.2 Quan niệm về thơ của Hữu Thỉnh
Nói “quan niệm thơ Hữu Thỉnh” là đề cập đến những yếu tố xã hội
được chuyển hóa vào tư duy nghệ thuật để trở thành quan niệm văn chương Nếu Bằng Việt quan niệm sáng tác thơ ca là quá trình đi từ ngoại cảnh
Trang 28đến nội tâm, từ cuộc sống khách quan đến cuộc sống chủ quan, là sự va chạm với hiện thực sắc cạnh tác động đến tâm hồn và cuối cùng là sự tư duy trí tuệ Thì Hữu Thỉnh lại có những quan niệm cụ thể hơn:
Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình
Khi đọc thơ ông người ta nhận thấy ngay quan điểm của một nhà chiến sĩ làm thơ là để ghi lại cuộc đời chiến đấu của mình cũng là của chính dân tộc
Ông cho rằng “ chiến tranh là một hiện tượng xã hội đột xuất Ở đó lịch sử chảy xiết hơn Phản ánh cuộc chiến tranh đó vừa là trách nhiệm vừa là niềm say mê của mỗi chúng tôi Chiến tranh ra bài thi nhập môn cũng là nơi thử thách lâu dài của mỗi người Sự gắn bó tự thân với cuộc chiến đấu, sống hết mình trong thử thách hi sinh là cử chỉ đầu tiên của một người cầm bút trung thực Thơ ca của thế hệ chống Mĩ là tiếng nói sống động và tự tin của những người trong cuộc Người ta bắt gặp khá nhiều sự nhân danh nhưng mọi sự nhân danh đều tìm được sự cảm thông của người đọc vì nó được đảm bảo bằng chỗ đứng của người viết Thơ ở đây được đảm bảo bằng máu” Không có trang
nhật kí nào có thể vừa ngắn gọn lại vừa đầy đủ chân thực hơn những dòng thơ của người chiến sĩ vừa trực tiếp cầm súng tham gia chiến đấu lại vừa cầm bút
ghi lại những khoảnh khắc diễn ra trong cuộc đời mình ở thời điểm đặc biệt ấy:
Gạo chỉ mang đủ mười ngày còn dành mang súng Còn mang thuốc
Còn mang nhau Mang bao nhiêu tai biến dọc đường
(Đường tới thành phố)
Câu thơ thật chân thực chứng minh rất rõ quan niệm thơ ca của Hữu
Thỉnh Nhà thơ “ghi lấy cuộc đời mình”, ghi lại những hình ảnh, những màu
sắc, những thanh âm đa dạng cua cuộc đời Cũng chính vì t người đọc dễ dàng nhận thây thơ ông là tâm gương phản anh chân xac cuộc đời thưc đó Hữu Thỉnh đóng vai trò như một họa sĩ ghi chép lại b tranh cuộc sống,
Trang 29nhưng không phải bằng màu sắc mà bằng ngôn từ
Thơ phải là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn mình
Cuộc kháng chiến chống Mỹ vô cùng ác liệt mà cũng vô cùng oanh liệt Chân giá trị của dân tộc và của mỗi người được đem ra thử thách, khe khắt và chân xác Là người trực tiếp cầm súng, Hữu Thỉnh có điều kiện thấm thía điều
đó hơn ai hết Anh đồng thời nhận ra cội nguồn sức mạnh tinh thần của người lính mà đôi khi bản thân họ cũng không thể ngờ tới Một trong những nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và làm nên sức mạnh của quân đội cách mạng thời ấy là
thi ca Hữu Thỉnh sớm tỏ tường:
Chúng tôi sưởi trên những câu thơ ấy
Cứ thế qua đi nhiều mùa mưa
(Đường tới thành phố) Trong chiến tranh, hoàn cảnh đôi khi bắt họ phải lựa chọn giữa đạn và sách, họ đã chọn đạn Nhưng như thế không có nghĩa là người lính đoạn tuyệt
với sách vở, thi ca “Không có sách chúng tôi làm ra sách” Không thể mang
Thơ hãy đến góp một vài que củi Cho em nhận ra anh, đồng đội nhận ra mình (Đường tới thành phố)
Trang 30Sức mạnh của thơ ca giống như sức nóng của lửa đem lại hơi ấm cho
mỗi người lính đi qua chặng đường hành quân đầy mưa gió “Chúng tôi sưởi
ấm trên những câu thơ ấy Cứ thế đi qua nhiều mùa mưa” Ngọn lửa thơ ca
người lính dùng để sưởi ấm tâm hồn mình chính là ngọn lửa được duy trì từ nhiều thế hệ Chính sự chuẩn bị của những thế hệ nhà thơ đi trước đã tạo nên một tài sản chung mà thơ trẻ may mắn được thừa hưởng Sự thành công của mỗi nhà thơ, trước hết phải từ sự cố gắng nỗ lực chủ quan của chính nhà thơ
đó Nhưng mặt khác, là thế hệ đi sau các nhà thơ luôn có sự kế thừa từ những
thế hệ đi trước Điều đó không tạo nên sự “lặp lại” mà tạo nên sự phong phú,
đa dạng cho thơ ca và bản lĩnh của mỗi nhà thơ
Thơ là kinh nghiệm sống được chắt lọc
Hữu Thỉnh ít khi lớn tiêng tuyên ngôn v thơ Với ông đơn giản là một nhà thơ thì hãy c viêt đi! Quan niệm thơ thâm thía nhât sẽ được rút ra từ chính
những thành công và cả những thât bại Vì th Hữu Thỉnh cho rằng : điều kiện làm nên những vần thơ hay chính là kinh nghiệm, điêu quyêt định là khả năng biên những kinh nghiệm đời sống thành thơ Ông đã từng chia sẻ: “Tôi thấy rằng, con người ta không từng trải với cuộc đời khó mà viết hay Thơ sẽ rất nhạt nếu đời người cầm bút không trải qua những thăng trầm, thách thức, cam go Theo tôi, kinh nghiệm cá nhân của người cầm bút là đặc biệt quan trọng Phải có những kinh nghiệm từ chính số phận mình, sống đến đáy các sự kiện của đời mình mới mong có cái gì riêng, viết cái gì riêng Nhà thơ không thể tựa vào ai khác ngoài chính mình, cũng như không thể tựa vào kinh nghiệm đám đông mà viết” [66]
Bên cạnh đó Hữu Thỉnh còn dồn tâm huyết để cho ra mắt bạn đọc cuốn
tiểu luận phê bình văn học – Lý do của hy vọng Đây có thể coi là đứa con
tinh thần của nhà thơ, nó là những đánh giá, thẩm bình về văn chương Hơn thế nó còn chứa đựng những ý kiến quí báu về nghề thơ Chúng tôi rất tâm
đắc với một số quan điểm của ông trong cuốn tiểu luận này, như các bài: Góp
Trang 31thêm vài ý nghĩ về thơ, đây là những quan điểm của nhà thơ về thơ Nhà thơ
đã lí giải, cắt nghĩa thơ là gì rồi đi đến kết luận: mỗi bài thơ là một định
nghĩa về thơ Hay bài viết Thơ là nơi trú ngụ của tâm hồn thể hiện niềm vui
rất riêng tư của nhà thơ khi những đứa con tinh thần của mình được bạn đọc tin yêu và quý mến
1.2.3 Thành tựu trường ca của Hữu Thỉnh
Trường ca chính là một trong những thể loại mũi nhọn của Hữu Thỉnh
Nhà thơ Hữu Thỉnh sở hữu ba bộ Trường ca: Sức bền của đất - 1975, Đường tới thành phố - 1979, Trường ca biển – 1994 Dường như với thể loại dài hơi
này mới đủ sức chuyển tải tiếng thơ nhiều thế sự, triết luận nhưng không sa vào triết lý của Hữu Thỉnh Với tài năng, kinh nghiệm và sự từng trải của mình ông
đã viết nên những bản trường ca xuất sắc Mặc dù để có được những thành công đó không phải là dễ dàng Chính nhà thơ đã tâm sự về kinh nghiệm viết
trường ca của mình“Trường ca là thể loại dài hơi Cái khó nhất là làm sao trong mấy ngàn câu thơ anh phải viết thế nào để bạn đọc không chán Tất nhiên đòi hỏi câu thơ nào cũng hay thì khó lắm Vậy nên người viết trường ca phải thông minh, phải biết cấu trúc tác phẩm làm sao cho tốt Nghệ thuật viết trường ca cũng giống như nghệ thuật trồng bóng mát trên đường Khi người ta
đi được một đoạn xem chừng đã thấm mệt thì anh phải trồng nơi đó một bóng râm để cho người ta nghỉ ngơi, thư giãn Có nghĩa là nhà thơ phải bố trí những câu thơ hay trong tác phẩm của mình một cách nào đó để người đọc luôn thấy hứng thú, hấp dẫn” [66]
Trường ca đầu tay của Hữu Thỉnh là Sức bền của đất Tác giả đã tâm sự
“Trường ca này tôi viết sau phút đón giao thừa Tết Ất Mão 1975, tại một tiểu đoàn xe tăng, Lữ đoàn xe tăng 273 anh hùng Lúc đó, tiểu đoàn đang trong tư thế tấn công giải phóng thị xã Công Tum trong chiến dịch Tây Nguyên 1975 Tôi viết một mạch hết đêm giao thừa, cả ngày mồng một và đến quá nửa đêm hôm ấy thì xong Tôi chép nó trong sổ tay và mãi đến khi kết thúc chiến tranh
Trang 32(30/4/1975) mới giở ra xem lại và gửi cuộc thi thơ 1975- 1976 của Tuần báo
văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam May mắn thay, Sức bền của đất và Chuyến
đò đêm giáp ranh đã vinh dự được trao giải A của cuộc thi này” [66] Qua lời
giải thích trên, ta thấy Sức bền của đất được viết rất nhanh Với 5 chương
(không có tựa đề ở mỗi chương), tất cả có 530 câu thơ, chương 2 dài nhất (251 câu) mà chỉ viết một ngày, một đêm, thêm nửa đêm nữa là xong (Tất nhiên sau này, trước khi in sách ông có sửa chữa và viết thêm), nhưng như thế cũng có thể nói rằng, thơ đã chưng cất sẵn trong ông như đập nước đang trữ nước và chỉ
chờ khơi một cái là tuôn trào Trường ca Sức bền của đất được đọng lại trong
tâm trí người đọc bởi những tâm sự, suy nghĩ, những trải nghiệm sâu sắc của chính tác giả Hữu Thỉnh đã viết về cuộc sống, cuộc chiến đấu, viết về quê hương, viết về mẹ… bằng một chất liệu rất riêng, rất giản dị, gần gũi trong cuộc sống thường nhật
Trường ca Đường tới thành phố ra đời, thực sự khẳng định được vị trí
và tài năng của chính tác giả trong sự nghiệp sáng tác Sau 1975, Tổng cục Chính trị chủ trương mời các nhà văn chống Mỹ tham gia lớp bồi dưỡng viết văn ở Đà Lạt để tập trung sáng tác những tác phẩm đã thai nghén trong chiến
tranh Và trường ca Đường tới thành phố ra đời năm 1979- một tác phẩm mà ông đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết như chính ông chia sẻ“Khi viết
“Đường tới thành phố” tôi đọc trường ca của các tác giả như Nguyễn Đình Thi, Thu Bồn, Thanh Thảo để suy ngẫm về cách viết, cách bố cục Tôi mở lại các nhật ký chiến tranh của mình để có thêm tư liệu, khơi gợi những cảm hứng chân thực về cuộc chiến Tôi mất cả một tập thơ lẻ gồm 22 bài đã viết trong chiến tranh để “chèn” vào trường ca Có những bài thơ tôi chỉ “nhặt” được một câu phù hợp với mạch cảm hứng của trường ca Ví dụ câu: “Sông ơi sông nếu ta phải ra đi/ Bậc thấp xuống cho em ra gánh nước” trong “Đường tới thành phố” là lấy từ một bài thơ lẻ khác đưa vào.” “Nếu ở một số trường ca truyền thống thường có cốt truyện thì Đường tới thành phố sẽ không có cốt
Trang 33truyện Ở đây cái tôi trữ tình tác giả trên nền sự kiện chính là chiến dịch Thành phố Hồ Chí Minh sẽ là trọng tâm của trường ca[67] Trường ca Đường tới thành phố đã khái quát được toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
của cả dân tộc Những cảm nhận, suy nghĩ, trải nghiệm cá nhân được nâng cao trong nhận thức cộng đồng đã tạo nên đặc sắc của sáng tác Hữu Thỉnh Cái tôi trữ tình trong trường ca chính là chủ thể trữ tình mang sắc thái cộng đồng, thể
hiện tính lý tưởng cao đẹp của cộng đồng Chính trường ca Đường tới thành phố đã đưa Hữu Thỉnh lĩnh giải thưởng Hội Nhà văn VN lần thứ nhất năm
1980 Nhà văn Nguyễn Quang Lập khi viết về bạn văn Hữu Thỉnh dành cho
ông nhiều lời khen ngợi, trong đó khẳng định tập trường ca này: “Đọc thơ anh trước đó, bài nào cũng thích, đặc biệt bài “Chuyến đò đêm giáp ranh”, đọc lần thứ hai là thuộc liền Năm 1978 – 1980, có hai trường ca mình thích mê man, cho đến bây giờ vẫn thích, đó là trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo và Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh”
Sau trường ca “Đường tới thành phố” được dư luận bạn đọc và đồng
nghiệp đánh giá cao, Hữu Thỉnh tiếp tục âm thầm đi vào cuộc chuẩn bị cho một
trường ca mới Đó là Trường ca biển khởi sự từ 1981 Không biết có phải từ suy nghĩ khi Văn Cao có Những người trên cửa biển, Thanh Thảo có Những người đi tới biển, Hữu Thỉnh tự đặt cho mình phần tự hoàn thiện cho vệt trường
ca Việt Nam hướng về biển là viết thẳng một trường ca về biển Và Trường ca biển đã hoàn thành sau 13 năm vắt kiệt mình trong sáng tạo của Hữu Thỉnh
(1981-1994) Tiếng thơ quen thuộc đã thành thương hiệu của Hữu Thỉnh vẫn là thi sĩ của lính Nhiều đoạn đối thoại ảo giữa Biển và người lính đầy triết lý hằn sâu niềm tin, lý tưởng của anh bộ đội Cụ Hồ Trong một lần được trao đổi về thi pháp, cấu trúc và cảm hứng khi viết hai trường ca này, ông cho biết khi viết
xong Đường tới thành phố, chính là lúc chủ đề của Trường ca biển được ấp ủ
Những khúc trường ca này có thể hiểu đấy chính là những khúc vĩ thanh của
Đường tới thành phố, bởi nó vẫn tiếp cái mạch ngầm và tiếp tục đi trong cuộc
Trang 34hành trình lớn của người lính Đấy là hành trình giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và giữ vững nền độc lập dân tộc Giữ nước trong thời bình người lính vẫn còn đổ máu Lẽ hy sinh ấy có từ ngàn xưa Những vấn đề của người
lính biển đảo hôm nay, Trường ca biển đề cập, là tìm kiếm phác hoạ cho được
một chân dung lính đảo hoàn toàn mới Vào những năm cuối thập kỷ bảy mươi tuy đất nước hoà bình, Nam Bắc sum họp một nhà, nhưng chúng ta vẫn phải đối mặt với tiếng súng ở hai đầu biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam Từng tấc đất, từng cột mốc biên cương, hải đảo đang lâm nguy và người lính đảo canh giữ biển trời Tổ quốc, trong một tinh thần quyết chiến cam go hơn, phức tạp hơn Đánh đuổi giặc ngoại xâm, kẻ thù ở đầu mũi súng Nhưng giữ nước trong thời bình, kẻ thù đôi khi ẩn nấp ở dưới cái bóng của mỗi người, ở
ngay chính trong lòng mỗi người, thật khó ngờ tới Ở Trường ca biển còn là
những day dứt, suy tư, dự cảm về cuộc sống, về thân phận con người trên tinh
thần nhân văn cao cả Trường ca Biển – một trong hai tác phẩm đề cử Giải
thưởng Hồ Chí Minh của Hữu Thỉnh là một đứa con thai nghén, ấp ủ rất lâu
của nhà thơ Trường ca biển đã đoạt giải xuất sắc Bộ Quốc phòng Trường ca
Hữu Thỉnh có sức chứa lớn trong một sắc thái hoành tráng, khái quát mảng sống lớn, tâm trạng, suy tưởng lớn về nhân dân, về đất nước thông qua sự đào
sâu khám phá từ chính bản thân nhà thơ
Trang 35Chương 2 TRƯỜNG CA HỮU THỈNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
2.1 Những vấn đề của lịch sử, dân tộc và thời đại
2.1.1 Cuộc hành trình vĩ đại giành tự do, độc lập của dân tộc
Cũng như sử thi, cơ sở của trường ca là hiện thực vĩ đại của lịch sử và thời đại Trong lịch sử Việt Nam, chính âm ba của những chiến thắng chống ngoại xâm hào hùng trong truyền thống quá khứ của dân tộc, cùng hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và cuộc chiến chống bè lũ diệt chùng ở Campuchia
đã trở thành một mạch nguồn cảm xúc vô tận, và trường ca hiện đại Việt Nam đã
thật sự “bùng nổ” khi đề cập đến những cuộc kháng chiến vĩ đại này
Chiến tranh đồng nghĩa với khó khăn gian khổ, đồng nghĩa với máu lửa,
hi sinh, mồ hôi, nước mắt Đã từng là người lính cầm súng nên Hữu Thỉnh đã từng trải qua mọi khó khăn gian khổ, mọi khốc liệt dữ dội của chiến tranh Trong các sáng tác trường ca của ông, ta như thấy hiện thực chiến tranh dội về
Đó là cuộc sống của người lính với bao khốn khó:
Phơi chiếc khăn sương sớm mai rửa mặt Ngủ nhát gừng giữa hai đợt tấn công Tay thêm chai mỗi bận moi hầm Ném cho nhau những khẩu phần khô khốc
(Sức bền của đất)
Với bao thiếu thốn gian khổ và bao bất trắc tai biến:
Gạo chỉ mang đủ mười ngày còn dành mang súng Còn mang thuốc
Còn mang nhau Mang bao nhiêu tai biến dọc đường
(Đường tới thành phố)
Những năm tháng mưa bom bão đạn, những nhu yếu phẩm vận chuyển
thật khó khăn “Tiểu đoàn thồ chẳng có gì thồ cả”(Đường tới thành phố)
Trang 36Người lính phải thiếu thốn đủ mọi thứ Và cái đói là một hiện thực ghê gớm:
Dù cho ăn chay ăn độn Bứt lấy lá rau như bíu lấy lá buồm Qua sóng gió hiểm nghèo trăm trận đói Cái đói không phải một sớm một chiều mà là hàng “trăm trận đói” tàn
phá và đe dọa con người :
Cứ đói ròng con gái hóa con trai Cảm ơn ngọn rau dựng người ốm dậy Cảm ơn cơn suối cảm ơn bờ khe Con tép chết bom từ bến ngược trôi về Nếu không đói không thể nào vớt được (Đường tới thành phố)
Trong trận chiến tiến vào thành phố biết bao gian khó, người lính không kịp ăn uống phải vội vàng làm nhiệm vụ:
Mồ hôi sũng ướt Đánh và đi Hai tư thế đứng ngồi Gạo còn đấy nhưng không sao nấu kịp
Ăn cầm chừng nửa gói lương khô Uống cầm chừng bình nước má cho Qua thành phố vội vàng lau mặt lấm
(Đường tới thành phố)
Cơm không kịp ăn, nước không kịp uống là vậy Người lính còn phải đối mặt với quân thù trước mặt, ngay cả ở sau lưng:
Có những thằng còn nấp trong bóng tối Thằng sống sót rình bắn anh sau gáy Thằng viện binh gào đại bác tầm xa Báng súng gẫy
Trang 37Lưỡi lê quăm Trong trận giáp lá cà Giặc chạy rồi
Anh dựa vào gốc cây ô môi mà thở
khó khăn gian khổ của người chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ với
bao thiếu thốn: “Trận mùa khô đánh Mỹ/ Quân ta thiếu cơm, thiếu súng, thiếu
cả người”(Bazan khát- Thu Bồn), Nguyễn Trọng Tạo với thiếu thốn và sự hoành hành của bệnh tật nơi rừng thiêng nước độc:“Bao chiến sĩ tựa vào cây khi lên cơn sốt/cánh rừng rung lên nhận cơn sốt về rừng”(Con đường của
những vì sao) thì nhà thơ Hữu Thỉnh cũng không ngần ngại khi viết về những khó khăn gian khổ mà người lính phải chịu Âý là cái khát và cả những trận sốt rừng ghê gớm:
Những cơn khát bậm môi vào bẹ chuối Hiện lên
Những dấu gậy cơn sốt rừng run bắn Hiện lên
Những giọt mồ hôi ròng như nến chảy
(Đường tới thành phố)
Cái đói, bệnh tật rồi cái rét hoành hành:
Mưa tối mặt áo quần dán chặt Trận rét rừng xoắn tím cả làn môi
(Đường tới thành phố)
Trang 38Có thể nói người lính đã phải trải qua tất cả những thiếu thốn về vật chất với cái đó, cái rét, bệnh tât Không một khó khăn gian khổ nào mà họ chưa từng nếm trải ngay cả những hiện thực tướp da, đỏ máu với những tình huống phải lựa chọn sống còn:
Sỏi buốt quá
Bò thì đau mà không bò thì chết
Có những cuộc hành quân “mưa trơn quá chân tuồi ra khỏi dép” Và cả những vết thương theo suốt cuộc đời người lính “hai vết thương vì rừng, ba vết thương vì pháo”
Đó không chỉ còn là nỗi đau thể xác mà còn là nỗi lo lắng đau đớn về tinh thần khi chứng kiến cảnh đất nước bị giày xéo:
Anh đang bò về phía gốc sim Ngực đập dội chuyền sang đất đá Quần áo tướp ra
Một nửa người anh dâm dấp máu Anh đang đau cho đất đá anh yêu
(Đường tới thành phố)
Những khó khăn thiếu thốn vật chất và nỗi đau thể xác dường như không thấm vào đâu, dường như không làm người lính bận tâm mà nỗi đau tinh thần
mới thật đau đớn “Anh đang đau cho đất đá anh yêu” bởi từng tấc đất thiêng
liêng, yêu dấu của quê hương đang bị quân thì giày xéo
Hiện thực chiến tranh gian khổ với những thiếu thốn về vật chất, những nhu yếu phẩm, những cuộc hành quân, cả những trận sốt rừng hoành hành và hơn thế nữa là cả những tổn thất về tinh thần, những hi sinh mất mát mà cả dân tộc đã phải chịu đựng đã được Hữu Thỉnh phản ánh một cách đa chiều và đầy
đủ, sắc nét Nó phần nào đã tái hiện lại được cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc
Trang 39Hiện thực chiến tranh khốc liệt gian khổ, đầy chông gai thử thách, đầy máu lửa và những hi sinh như vậy nhưng không làm cho dân tộc ta khuất phục Dường như chiến tranh, bom đạn là cái nền để vẻ đẹp kiêu hùng bất khuất của con người Việt Nam tỏa sáng Lí tưởng cách mạng , tinh thần quyết tâm đánh giặc và khát vọng hòa bình hạnh phúc đã đưa dân tộc ta đến thắng lợi, đánh bại
mọi dã tâm xâm lược của kẻ thù Trong Thời chúng ta yêu nhau, Trần Mạnh
Hảo đã viết:
Ở giữa anh và em là cái gì cao hơn sự chết
Hơn cả sự sống hai ta là sự sống giống nòi
(Thời chúng ta yêu nhau- Trần Mạnh Hảo)
Trong những trường ca của mình, Hữu Thỉnh đã đi sâu lí giải những điều rất đỗi thiêng liêng hình thành trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam để
làm nên chiến thắng Ấy là lí tưởng cách mạng, là tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, là khát vọng hòa bình hạnh phúc, là tình yêu quê hương dân
tộc, giống nòi, quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc
Kẻ thù độc ác, dã man với âm mưu vô cùng hiểm độc.Thế nhưng quân địch càng độc ác và dã man bao nhiêu thì lại càng thôi thúc hơn nữa lòng căm thù và quyết tâm đánh giặc của dân ta Những khó khăn, thiếu thốn là cái nôi nuôi dưỡng ý chí của dân tộc:
Kẻ thù làm ta thương nhớ nhiều hơn, sôi sục gấp trăm lần Con gái con trai nhớ nhau qua bãi bom tọa độ
Màu mạ xanh thành màu che chở Hang đá không đèn nuôi trí tạo thời cơ (Sức bền của đất)
Những người con Việt Nam ưu tú đã từ giã gia đình, gửi gắm lại quê nhà bao nỗi nhớ niềm thương để lên đường đánh giặc Mọi gian khổ khó khăn
Trang 40họ đều nếm trải và không một phút giây nào quên mối thù canh cánh, quên quyết tâm giết giặc:
Một cọng rau gợi nhớ về xuôi
Củ chuối chát ghi mối thù canh cánh Đêm bên suối sao trời rơi óng ánh Nhắc ta hoài biển đang vỡ dưới kia Con đường tấy lên như một lời thề Đất gọi ta, làng gọi ta, nóng bỏng Vịn vào cây ven đường nhẵn bóng Ngỡ như đồng đội đỡ ta lên
(Sức bền của đất)
Những câu thơ được viết lên bởi tình cảm chân thành, sâu nặng, tha
thiết với “đất” với “làng” Tiếng “đất gọi ta, làng gọi ta, nóng bỏng” sục sôi thúc giục ta quyết tâm hành động Hình ảnh “con đường tấy lên như một lời thề” đầy sức gợi cảm Nó thể hiện niềm nung nấu diệt giặc một cách mãnh liệt
của dân tộc Việt Nam
Trên hành trình Đường tới thành phố, những người lính quyết tâm vượt
qua mọi mưa bom bão đạn để thực hiện sứ mệnh người con của đất mẹ, của Tổ quốc thân yêu:
Đêm nay chúng nó kéo nhau đi gài mìn ven lộ Chúng nó đổ quân lùng giáp vùng ven
Chúng làm sao ngăn được các sư đoàn
Về với đất đã nuôi mình vạm vỡ (Đường tới thành phố)
Cả dân tộc đã chiến đấu kiên trung, bất khuất với một khí thế hào hùng, thần tốc với quyết tâm dành lại từng tấc đất thiêng liêng từ tay kẻ thù:
Đất nước đổ ra đường Tiềm lực lớn những binh đoàn chiến lược