Một số biện pháp giúp học sinh đọc hiểu các bài thơ mới trong chương trình ngữ văn 11Một số biện pháp giúp học sinh đọc hiểu các bài thơ mới trong chương trình ngữ văn 11Một số biện pháp giúp học sinh đọc hiểu các bài thơ mới trong chương trình ngữ văn 11Một số biện pháp giúp học sinh đọc hiểu các bài thơ mới trong chương trình ngữ văn 11Một số biện pháp giúp học sinh đọc hiểu các bài thơ mới trong chương trình ngữ văn 11
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ DAO TAO QUANG NAM TRUONG THPT LE QUY DON
SANG KIEN - KINH NGHIEM
Dé tai: MOT SO BIEN PHAP GIÚP HỌC SINH DOC -HIEU CAC BAI THO MOI TRONG CHUONG TRINH NGU VAN 11
Tác giả: Ngô Thị Miễn Tô: Ngữ văn
Tam Ky, tháng Š năm 2014
Trang 2I DAT VAN DE
1 Lido chon dé tai:
Môn Ngữ văn là một môn học đặc thù Thú tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói:
“Cái quan trọng nhất trong giảng dạy nói chung và trong dạy văn nói riêng là rèn huyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp tìm tòi, phương pháp vận dụng kiến thức của mình ” (Trích Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 28, tháng 11 - 1973) Lời nói súc tích trên đây gợi cho người dạy phải
có một phương pháp giảng dạy tiên tiến để thực hiện mục tiêu đào tạo con người mới: “Dạy văn là dạy cách sống, học văn là học làm người ”
Từ lâu nay, yêu cầu của bài dạy đã được quyết định rõ ràng: kiến thức, kĩ năng,
thái độ Ba mặt này liên quan mật thiết với nhau Vậy làm sao để học sinh có được
ba yếu tô đó? Giáo viên được xem là kiến trúc sư trí tuệ, kiến trúc sư tâm hồn của học sinh Giáo viên là người chủ đạo, người truyền thụ kiến thức, người hướng dẫn, gợi ý để học sinh tìm hiểu, phân tích tác phẩm, nhưng nhiều khi phải khuyến khích các em tinh than phản biện, tìm tòi, phát hiện những cái hay, cái đẹp của tác phâm Trong chương trình Ngữ văn của cấp THPT, Thơ Mới đưa vào chương trình lớp L1 ban cơ bản không nhiêu Đối với học sinh, từ việc cảm thụ các tác phâm thơ trung đại tới cảm thụ Thơ Mới là cả một vấn đề không dễ đàng Thơ Mới là một hiện tượng văn học phong phú nhưng khá phức tạp Hình tượng nhân vật trữ tỉnh ở Thơ Mới hoàn toàn khác biệt ở thơ trung đại Vậy làm sao để học sinh cảm thụ được Thơ Mới dễ dàng? Làm sao đề mỗi giờ dạy và học thêm sinh động? Với tinh thần tìm tòi đổi mới phương pháp giảng dạy, tôi đã đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực đọc -hiều cho học sinh qua các bài Thơ Mới trong chương trình Ngữ văn 11 (qua một số bài thơ: [ôi vàng, Tràng giang, Đây thôn LT Dạ) mà bản thân nhận thấy đem lại hiệu quả
2 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh lớp 11C6 —Nam học 2012-2013 -Trường THPT Lê Quý Đôn
- Học sinh lớp 11C4 -Năm học 2013 -2014 -Trường THPT Lê Quý Đôn
3 Pham vi nghiên cúu:
- Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đọc —hiéu cho hoc sinh: Doc —hiéu tiéu dan, Doc —cam thụ; So sánh trong doc —hiéu
- Ở đây tôi chỉ minh họa qua 3 bai tho: Vi vang (Xuan Diéu), Trang giang (Huy Can), Day thon Vi Da (Han Mac Tw).
Trang 34 Phương pháp nghiên cứu:
- Đọc, nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp kiểm tra
Định hướng giảng Thơ Mới nói chung được thể hiện qua:
+ Sự đổi mới về thi pháp
+ Sự cảm thụ cái “tôi”
Thơ Mới biểu hiện một cuộc cách mạng của tư duy thơ Thơ Mới ra đời mang
theo một “cái tôi” cá nhân, nhu cầu về giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã, tự do
cá nhân Thơ Mới là thể loại thơ chiếm vị trí quan trọng trong chương trình sách giáo khoa lớp 11 cơ bản -tập 2 Việc cảm thụ tác phẩm luôn là một yêu cầu hàng đầu giúp các em nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm, thấm thấu được các giá trị Chân, Thiện, Mỹ của cuộc sống văn chương, bồi đắp nâng cao tâm hồn Trong Thơ Mới có những màu sắc trong sáng, êm nhẹ, những bức tranh thiên nhiên tràn nhựa sống, vui tươi khi con người cá nhân tim về với thực tại, với đời, với con nguoi, voi tuôi trẻ, với quê hương đất nước: Bức tranh xứ Huế đẹp, tinh khôi trong “Đây thôn
Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tủ), bức tranh mùa xuân với vẻ đẹp của màu sắc, âm thanh tràn đầy nhựa sống trong bài thơ “Vội vàng”của (Xuân Diệu) Vì vậy, nâng cao năng luc doc —hiéu cho hoc sinh qua các bài Thơ Mới trong chương trình Ngữ văn nhằm góp phần không nhỏ trong việc làm cho môn văn thật sự là một môn học hứng thú với học sinh và giáo viên; làm giờ dạy đọc -hiều tác phẩm thơ sinh động và cuốn hút hơn, phát huy cao độ tính tích cực sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập
- Thực tiễn về năng lực đọc -hiểu của học sinh: Năng lực này vốn đĩ đã được
rèn luyện từ các cấp Tiêu Học đến THCS Tuy nhiên, thực tế cho thấy: học sinh ít tìm tòi và suy nghĩ, ít so sánh đối chiếu làm cho thao tác tư duy văn học trở nên cằn cỗi, ít sự nhạy bén Do đó nâng cao năng lực đọc -hiều vừa phát triển tư duy cho
Trang 4hoc sinh, vira tao nén niém say mê học văn, vừa củng cố kiến thức đã biết và khắc
sâu kiến thức mới
- Mặt khác, đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay đã đặt ra vấn đề không chỉ là phương pháp chung chung mà chính là đi vào các thao tác giảng dạy cụ thê để đem lại hiệu quả thực sự, không phải chạy theo thành tích mà là đào tạo những con người
có tư duy và năng lực nhạy bén, thông minh Cho nên nâng cao năng lực đọc -hiều trong giảng dạy văn học là một việc làm cân thiết
3 Nội dung nghiên cứu:
3.1 Tác dụng của việc đọc -hiểu:
Việc gây dựng, nuôi dưỡng cảm xúc của giáo viên và học sinh được thực hiện
ngay từ khi giáo viên cùng học sinh đọc bài thơ Thâm nhập bài thơ tốt là bí quyết thành công trước tiên của bài giảng văn “Đọc thơ” khác với “đọc chữ” Thâm nhập bài thơ nghĩa là phải thực sự cảm được cái hay, cải đẹp của thì phẩm, phải sống cùng với tâm trạng tác giả Nhà thơ đã bằng tất cả sự say mê, rung động của mình
để sáng tao tác phẩm thì người cảm thụ và giảng dạy nó cũng phải có sự thông cảm thích đáng trước sự say mê, rung động đó Thâm nhập bài thơ là phải qua ngôn ngữ,
điều đó, đòi hỏi mỗi giáo viên phải thâm nhập tác phẩm nhiều lần Phải làm sao khi học sinh tiếp xúc với văn bản thơ trữ tình, thì điều đầu tiên là phải đọc đúng tỉnh thần của nó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Phải làm cho học sinh thấy được trong bài văn này người ta nói như vậy, nội dung là như vậy nên có cách diễn tả như vậy, và do là cái hay phải thầy” Như vậy, đòi hỏi học sinh phải đọc kĩ ở nhà trước khi tới lớp
Đề thâm nhập bài thơ tốt học sinh cần nắm phần tiểu dẫn của mỗi văn bản
Nắm rõ phần tiểu dẫn như là chiếc chìa khóa mở ra để giúp các em hiểu được văn bản.Chẳng hạn như: Đề khai thác phần Tiểu dan trong bai “V6i vàng”, giáo viên tập trung một số nét cơ bản:
- Thứ nhất: Xuân Diệu là trí thức Tây học, ảnh hướng tư tưởng và văn hóa Pháp một cách có hệ thống trên ghé nhà trường Mặt khác, do xuất thân từ một gia đình nhà nho nên ở Xuân Diệu có tiếp thu nền văn hóa truyền thống Vì thế, ở nhà thơ có sự kết hợp hai yếu tố cổ điển và hiện đại trong tư tướng và thẩm mỹ Tuy nhiên, ảnh hưởng của tir trởng phương Tây mạnh hơn
- Thứ hai về phong cách sáng tác của Xuân Diệu: Xuân Diệu là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới "(Hoài Thanh); ông đã đem dén cho thơ ca đương thời một sức sông mới, một nguôn cảm xúc mới, thể hiện quan niệm sống mới mẻ, cùng với những cách tân nghệ thuật sáng tạo Để minh chứng cho điều đó, GV không chỉ nhắc lại kiến thức trong SGK mà cần làm rõ cho HS thấy được qua một số sáng tác của Xuân Diệu, điều đó không chỉ thê hiện trong bài '“Vội vàng” GV liên hệ các bài:
Trang 5Giục giã, Xa cách, Đây mùa thu tới Như vậy, HS sẽ dễ dàng thấy được cái mới,
tư tưởng của Xuân Diệu Đồng thời sẽ tạo cảm xúc cho các em có hứng thú khi vào tìm hiểu văn bản
Hay, nỗi buồn của Hàn Mặc Tử trong bài Đây /hôn L7 Dạ, học sinh sẽ khó mà tiếp nhận được nỗi buồn của Hàn Mặc Tử nếu như chúng ta không đề cập tới hoàn cảnh
mà Mặc Tử nhận được tắm thiệp hỏi thăm của Kim Cúc, người con gai mà thị nhân
đem lòng yêu đơn phương Mặc Tử đã nhận được bức thiếp hỏi thăm trong khi sự
mac cam dau don của căn bệnh vô phương cứu chữa nên cảnh vật trong cách nhìn
của thi nhân ngày cứ mờ dần đi và rơi vào ảo ảnh xa rời tầm tay của con người đau thương đến tột cùng đó
Từ đó ta thấy được: Dạy học phần tiểu dẫn cần đảm bảo các yêu cầu: đúng kiến thức, ngắn gọn, trọng tâm, ấn tượng Căn cứ vào diễn biến của giờ học, giáo viên hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh kiến thức Hơn thế nữa, giáo viên cùng học trò khơi những rung cảm đầu tiên Có như thế các em mới có hứng thú chuyên tiếp vào doc —hiéu văn bản Theo tôi, khi giáo viên yêu cầu học sinh cung cấp những nội
dung chính ở phần tiểu dẫn không nên cho học sinh cam sách hoặc đọc lại từ đầu
đến cuối như trong sách đã cung cấp Nếu làm như vậy, vô tình đã tạo cho học sinh tính lười biếng về nhà không đọc trước bài Mục Tiểu dẫn tôi yêu cầu học sinh đọc
kĩ ở nhà, trong tiết giảng tôi yêu cầu học sinh nêu những vấn đề cơ bản thông qua các câu hỏi như:
? Hãy tóm tắt những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà thơ Xuân Diệu?
? Trình bày những hiểu biết của em về bài thơ “Vội vàng”?
? Nhan đề bài thơ “Tràng giang” gợi cho em những suy nghĩ gì?
? Em hãy trình bày vài nét về tác giả Hàn Mặc Tứ ?
? Kể tên một vài tác phẩm văn chương của Hàn Mặc Tử mà em biết?
? Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” ra đời trong hoàn cảnh nao?
Như vậy, học sinh chỉ cần đọc qua mục Tiểu dẫn ở nhà cỡ 2 lần, tức là các em trả lời được các câu hỏi điều này đồng nghĩa với việc kiểm tra sự đọc hiểu của các
em ĐỀ tránh trường hợp học sinh không đọc bài ở nhà, khi kiểm tra bài cũ tôi yêu
cầu học sinh trả lời một số câu hỏi liên quan đến bài mới Ví dụ: Em thay bài thơ có
gì hay? Nội dung của bài thơ? Cảm nhận chung của em về bài thơ? Sau đó, tôi sẽ cho điểm các em (7điểm bài cũ, 3 điểm bài mới) Như vậy đòi hỏi học sinh phải đọc trước ở nhà mới trả lời được câu hỏi và chính điều đó rèn luyện cho học sinh cách
cảm thụ ban đầu khi chuẩn bị bài ở nhà Tránh trường hợp, tới giờ giảng mới đọc thi
mức cảm thụ của học sinh không cao
3.2 Định hướng đọc -hiéu:
a Doc dién cam:
Trang 6Trước khi giảng bài, tơi yêu cầu một học sinh đọc văn bản Sau khi học sinh đọc xong, tơi nhận xét cách đọc của học sinh, sau đĩ tơi đọc lại đề học sinh theo dõi, cảm nhận Việc đọc truyền cảm cũng giúp ích cho việc truyền đạt về nội dung và nghệ thuật bài thơ nhất là khi bắt gặp những từ ngữ hay, những câu thơ hay, đoạn thơ giàu nhạc điệu Chăng hạn trong bài “Vội vàng” (Xuân Diệu), ở 4 câu thơ đầu nhịp thơ gap, manh nhằm thể hiện một ước muốn chiếm lĩnh thiên nhiên đất trời, muốn ngăn bước đi của tạo hĩa Những câu thơ tiếp theo như những tiếng reo vui của Xuân Diệu đứng trước cảnh xuân, cảnh trời tràn sức sống, thi nhân như ngấu nghiền lấy những hình ảnh đang độ xuân thì Nhưng tới câu thơ “Tĩi sung sướng Nhưng vội vàng mội nửa”, giọng điệu chững lại, như gấy đơi, thám đượm sự hụt hãng, u buơn khi thi nhân cảm thức được sự ra đi của tuổi xuân và sự vĩnh hằng của thiên nhiên đất trời
Ở bài “Tràng giang” giáo viên thé hiện làm sao cho nỗi buơn của Huy Cận như lan tỏa ra từng câu chữ, từng hình ảnh: “buồn điệp điệp”, “bến cơ liêu”, “bĩng chiều sa”
Bai tho “Đây thơn Vĩ Dạ”, tơi khuyến khích học sinh ngâm thơ (nhằm phát huy năng khiếu của các em) tạo khơng khí của lớp học
b Đọc -Tìm hiểu từ khĩ:
Khi học sinh đọc xong, tơi cho học sinh lí giải nghĩa của từ ngữ khĩ:
- Như trong bài “Ƒợ vàng” của Xuân Diệu cĩ các từ ngữ khĩ như: Tuần tháng mật: Theo phong tục châu Âu, 30 ngày sau lễ kết hơn gọi là tháng mật của vợ chồng Ở câu thơ này, cụm từ #zẩn tháng mật cịn cĩ nghĩa: mùa xuân hoa nở nhiều, ong bướm
đi hút nhuy hoa dé lay mat Ca hai nghĩa đều nĩi lên ý vui sống mãnh liệt Hay cụm
từ yến anh: là chỉ chim yến chim oanh, con trống con mái luơn quần quýt nhau, thường được so sánh với sự thắm thiết trong tình yêu nam nữ, vợ chồng
- Hay trong bài “7ràng giang” của Huy Cận, ta cần cho học sinh hiểu khái niệm này
là sơng dài, cũng là sơng lớn; Vấn chợ chiêu: là chợ cuối chiều, người đã về gần hết;
Cơ liêu: là trợ trọ, vắng vẻ
- Trong bai “Ddy thén Vi Da” cua Han Mac Tử, ta can cho hoc sinh thay được Thơn
L7 ở đây là thơn Vĩ Dạ nằm ở ngoại vi thành phố Huế, cĩ phong cảnh vườn tược rất
xinh xan, nén tho; Mat chit dién: la mat vuơng như chữ điền, một kiểu khuơn mặt
phúc hậu; Nhân ảnh: là hình người, bĩng người
3.3 Sử dụng thao tác so sánh trong đọc -hiểu văn bản
a Về thao tác so sánh:
So sánh là một thao tác của tư duy Trong quá trình nhận thức thế giới khách quan, kĩ năng so sánh bao giờ cũng phát hiện cái mới, cái khác biệt Đối với việc cảm thụ văn chương, so sánh thường hướng vào hai mục đích chính:
Trang 7- Chi ra những nét riêng, nét độc đáo, sáng tạo nhằm phát hiện những vẻ đẹp văn chương, những đóng góp cụ thể của nhà văn Có làm được như vậy thì sự cảm thụ moi day du hon
- Phat hién ra nhitng quy luat chung giữa các tác phẩm, các tác giả hoặc các giai đoạn văn học
b Yêu cầu sử dụng thao tác so sánh trong đọc hiểu các tác phẩm Thơ Mới: b1 Nắm được một số đặc điểm của Thơ Mới: Đề có cơ sở giảng dạy phần thơ
mới, giáo viên đưa ra một số đặc điểm cơ bản của thơ mới:
- Tho Moi là một cuộc cách mạng về hình thức nghệ thuật, giải phóng thơ ca khỏi những ràng buộc nghiêm ngặt đã trở thành lỗi thời của thơ ca trung đại Nói như Hoài Thanh “Thơ mới là sản phâm của khát vọng thành thật”, nó đặt cái tôi cá nhân
và tính chú quan vào trung tâm của thơ ca, nó cho phép biểu đạt mọi cung bậc của cảm xúc và suy tư của cá nhân Thơ Mới là “Một bước tông hợp những giá trị văn hóa Đông Tây, truyền thống và hiện đại” (Phan Cự Đệ)
- Thơ Mới biếu hiện một cuộc cách mạn ø của tir duy thơ: đặt cải tôi cá nhân ở trung
tâm cảm thụ thế giới Trong Thơ Mới, có sự giao hòa giữa thế giới nội cảm của chủ
thể trữ tình với thế giới ngoại cảnh, có sự nới rộng những biên độ của sự cảm thụ thế
giới bằng việc kết hợp các giác quan một cách kì lạ:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp (Huy Cận — Tràng giang)
- Thơ Mới là tiếng lòng của một tâm hôn rộng mở với thể giới, một tâm hồn được cởi bỏ mọi ràng buộc Từ góc độ loại hình, Thơ Mới thuộc loại thơ trữ tình, thường lay thién nhién va tinh yéu lam dé tai phan anh, no déi lap voi tho ca tuyén truyén
cô động, thơ ca mang màu sắc chính luận Chính vì Vậy, yếu tố chi phối sự vận động của một văn bản thơ là mạch cảm xúc, là đời sống nội tâm của chủ thể trữ tình b2 Nắm được phương pháp so sánh:
Như chúng ta đã biết về thao tác so sánh, có 2 cấp độ đề so sánh: So sánh tương phản là cách so sánh đề tìm ra điểm khác nhau; So sánh tương đồng là cách
so sánh để tìm ra những điểm giống nhau Đề làm được điều này, học sinh cần có kĩ năng
- Kĩ năng so sánh có thể thực hiện trên nhiều cấp độ Nhỏ thì cách dùng từ, hình anh, hình tượng Lớn hơn thì là để tài, tác phẩm, tư tưởng, phong cách, thời kì, những đặc điểm của nền văn học
- Kĩ năng so sánh còn mài sắc năng lực tư duy và năng lực cảm thụ hướng đến việc phát hiện những vẻ đẹp độc đáo không lặp lại của văn chương Muốn phát huy được khả năng này người học phải:
+ Có vốn kiến thức phong phú về văn chương Chính bề dày hiểu biết sẽ đem lại hai khả năng: vừa có nguyên liệu để so sánh, vừa tạo được những tiền đề để mở rộng kĩ năng so sánh
Trang 8+ Bên cạnh vốn kiến thức là nền tảng, cần có tư duy sắc sảo và trường liên tưởng nhạy bén
+ Trong khi phân tích, bình giá cần luôn luôn có ý thức so sánh, có nghĩa là so sánh phải trở thành một “phản xạ” thường trực trong tư duy
c Minh họa một số nội dung so sánh
Dé giúp học sinh tiếp thu Thơ Mới, trong khi giảng giáo viên sứ dụng thao tác lập luận so sánh giúp học sinh thấy được sự khác nhau giữa thơ cũ và Thơ Mới; So sánh giữa Thơ Mới và Thơ Mới Ở đây tôi chủ yếu minh họa qua 3 bài tho: Vi vang (Xuân Diệu), 7ràng giang (Huy Cận), Đây thôn L Dạ (Hàn Mac Tt)
cl So sánh giữa Thơ cũ và Thơ Mới
- V6i vang (Xuân Diệu): Thiên nhiên trên mặt đất được tác giả cảm thụ bằng tất cả
các giác quan tươi mới, nhiệt tình, rộng mở trước cuộc đời
+ Cảm nhận về thiên nhiên: Trong thơ cũ, các nhà thơ xưa coi thiên nhiên là trung (âm, là ngọn nguồn ban phát các phâm chất của nó cho con người Thiên nhiên trong Thơ Mới thấm đẫm màu sắc chủ quan của tác giả Nhà thơ phô các giác quan ấy vào
sự vật, chủ quan hóa khách thê Xuân Diệu nhìn thấy, nếm được “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, nhìn thây “Mùi tháng năm đu rớm vị chia phôi ', Xuân Diệu nghe được “Khắp sông nửi vẫn than thẩm tiễn biệt” Quan niệm mĩ học ấy đã giúp Xuân Diệu sáng tạo nên một câu thơ vào loại tuyệt vời của nên thi ca Việt Nam hiện đại: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần `
+ Cảm nhận về thời gian: Xuân Diệu ý thức được sự chảy trôi của thời gian và sự
ngắn ngủi của kiếp người do đó nhà thơ đã đem đến một sự ngậm ngùi thật mới mẻ
ở sự phủ định “Nói làm chỉ rằng xuân vẫn tuần hoàn/Nếu tuổi trẻ chẳng hai lẫn thắm lại ”.Các nhà thơ xưa đều nói tới thời gian chảy trôi nhưng đó là sự cảm thụ mang tính gián tiếp nặng về cách cảm nhận thế giới mang tính chất kinh nghiệm, nhẹ về cảm giác Nó dừng lại ở triết lí nhiều hơn, họ chỉ mới băn khoăn, chưa cảm nhận bằng cảm giác cá nhân Còn Xuân Diệu sống vội vàng, muốn ngau nghién tat
cả, nên thi nhân chạy đua từng giây từng phút với thời gian hiện tại: muốn ôm, muốn riết, muốn say, muốn thâu Tất cả những trạng thái trên déu dién ta trang thai yéu đương được Xuân Diệu cực tả: “Hỡi xuân hông, ta muốn cắn vào ngươi! ” Rõ ràng, quan niệm sống hiện đại này hoàn toàn xa lạ với đời sống khắc kỉ phục lễ của Nho giáo
+ Về bút pháp nghệ thuật của bài thơ: So với thơ ca truyền thống, số câu trong bài thơ không hạn định, chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây Giữa các dòng thơ không
còn bị ràng buộc về quan hệ đối, vần, niêm, luật Bài thơ đã phá vỡ những niêm luật
chặt chế của thơ Đường luật: ví du lặp lại từ “và” hoặc “này đây”, “ta muốn”: này đây ¡ tân tháng mat, Nay day hoa; Nay đây la; Va à non nước, và cây, và cỏ rạng; Ta
muốn ôm, Ïa muốn riết, Ta muôn say, Ta muốn thâu, ta nuốn cắn
Trang 9Biện pháp lặp từ “vả” trong một câu thơ như trên, trong thơ trung đại đã được xem
là vi phạm quy tắc súc tích của ý thơ Nhưng ở đây việc lặp chữ “và” trong một câu thơ đem lại ấn tượng dài, vô tận những cảm xúc ham muốn vô bờ của thi nhân trước tạo vật đang độ sung mãn của mùa xuân Làm mắt cảm giác đăng đối quá chặt chế của thơ truyền thống Công thức đề - thực — luận - kết không còn là bắt buộc
- Ở bài Tràng giang (Huy Cận)
+ Hình ảnh gân gũi đời thường: Văn học trung đại không chấp nhận những thi liệu bình thường không có giá trị thấm mỹ Ở đây, Huy Cận đã đưa cái bình thường
vào thơ Hiện tượng đảo ngữ đã dồn trọng tâm sự thông báo vào từ “C77”, nó gợi cả
một thân phận từ quá khứ, đến hiện tại, tương lai Quá khứ là một cành cây xanh tươi, giờ đây chỉ còn là cành củi khô bập bênh trên sóng nước, tương lai không biết trôi về đâu Cành cúi rất thụ động, nó bị xô dạt Đó chính là sự trôi nỗi của kiếp người cũng mỏng manh đơn độc không biết đi đâu, về đâu “Cứ một cành khô lạc mấy dòng”
So sánh với câu thơ: ““Gác mái ngư ông về viễn phố” thì câu thơ của Huy Cận mới hơn, nỗi buồn thấm thía hơn Dù “gác má?” nhưng con thuyền vẫn có bóng “øgư ông”, nghĩa là vẫn có con người Con thuyền vẫn có bến xác định “viên phổ” còn
câu thơ của Huy Cận cành củi khô trôi vô định Tạo nỗi buồn dư ba và thắm thía của
một con người không hướng đi, buồn ngay trên quê hương mình
+ Về bút pháp nghệ thuật của bài thơ: Bài thơ là sự kết hợp giữa bút pháp cổ
điển và hiện đại Trong cảnh chiều xuống, nỗi cô đơn cứ dâng cao trước vũ trụ vô
cùng và hóa thành nỗi nhớ nhà thăm thẳm:
Lop lop may cao din nui bac
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiêu sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khỏi hoàng hôn cũng nhớ nhà
So sánh với bài “7w hứng” của Đỗ Phú:
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vân tiếp địa âm
(Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa)
Hồn Đường thi và ý vị cổ điển vang hưởng từ từng câu chữ của bài tho va thé hiện
rõ trong hai câu kết:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khỏi hoàng hôn cũng nhớ nhà
Trang 10Như vậy, ý thơ đã gợi rõ nhất, sâu nhất nỗi buồn của Huy Cận Câu thơ gợi tới câu thơ của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc Lâu:
Nhật mộ hương quan hà xử thị
Yên ba giang thượng sứ nhân sẩu
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buôn lòng ai?)
Câu thơ mang âm hưởng Đường thị song ý thơ hiện dai Chinh cam giac “don don” này của chủ thể lãng mạn, chứ không phải nguyên nhân nào khác, đã làm nảy sinh tâm lí “nhớ nhà” Xưa Thôi Hiệu buồn vì cõi tiên mờ mịt, qué nha cach xa Khoi sóng trên sông gợi lên cảnh mo mit va sầu Nay Huy Cận buồn trước không gian hoang vắng, sóng gợn tràng giang, không một chút ấm áp của sự sống Ong nhớ tới nhà, nhớ quê hương -một nguồn ấm áp của cuộc đời Xưa Thôi Hiệu tìm viếng giấc
mơ tiên, chỉ thấy hư vô, lòng khát khao tìm về quê nhà thực tại Nay Huy Cận một mình đối diện với không gian hoang vắng vô tình, dợn lên nỗi khát khao quê nhà ấm
áp Một đàng nhân mạnh ý thức vẻ đời thực, một đàng nhấn mạnh ý thức vẻ tình người
Bài thơ không chống lại thơ Đường luật mà chỉ chống lại sự đối ngẫu trong thơ Đường luật:
Sóng gợn tràng giang buôn điệp điệp
Con thuyền xuÔi mái nước song song
Có lẽ chất thơ của sông nước đã nhập vào câu thơ thế này để phô bày vẻ đẹp của nó Câu thứ nhất tả sóng, câu thứ hai tả những dòng trôi, những luồng nước trên mặt sông Không gian vừa mở ra bê rộng, vừa vươn theo chiều dài Nhờ hai từ láy nguyên
“điệp điệp”, “song song” tạo ra dư ba cho nên lời thơ đã ngừng mà ý hướng và âm hưởng vân còn vang vọng như dội mãi vào vô biên Thật đúng là: Dòng sông lớn mang trong lòng một nỗi buồn lớn
- Với bài Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tủ):
+ Thơ cũ thường hướng đến dat trời, hình ảnh ước lệ để suy nghĩ, để băn khoăn, để giãi bày Thiên nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử không phải là thứ thiên nhiên vay mượn theo bút pháp ước lệ Thôn Vĩ hiện lên thật giản dị mà sao đẹp quá! Đằng tình yêu thiên nhiên của mình, tác giả đã mở ra trước mắt ta một bức tranh thiên nhiên đẹp lộng lẫy Bức tranh xứ Huế với vẻ đẹp trinh nguyên vào buổi sáng mai, tràn đầy
nhựa sống:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quả xanh nhĩ ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điển