Trước tình hình ấy, để khắc phục các khó khăn đã nêu, nhằm đáp ứng yêucầu của việc dạy và học phần văn bản nghị luận chương trình Ngữ văn 11 được tốt, trong sáng kiến kinh nghiệm: Một số
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Văn nghị luận trong trường trung học phổ thông (THPT) thật sự là mộtmảng khó dạy đối với giáo viên, ít gây hứng thú cho học sinh Hơn nữa nhữngtác phẩm tuyển chọn đưa vào sách giáo khoa là những đỉnh cao nổi tiếng cổ,kim, đã được thời gian sàng lọc
Thực tế việc dạy văn nghị luận gặp nhiều khó khăn bởi các lí do sau:
Mục đích của văn bản nghị luận: phát ngôn cho một tư tưởng, một quan
điểm, một chủ trương, một lập trường nhất định Vì thế nội dung thường là cácvấn đề có tính chất thời sự, chính trị, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức tương đối rộng với tầm hiểu biết của học sinh Mặt khác văn nghị luận thườngkhô khan, ít phù hợp với tâm lí và nhận thức của học sinh, ít tính văn chươngkhó đi vào cảm xúc của người đọc
Hình thức: thường sử dụng hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, đa
dạng về phương thức biểu hiện và các phương tiện nghệ thuật
Xu thế hội nhập quốc tế hiện nay đang đặt mỗi cá nhân trước nhiều tháchthức nhất là các vấn đề chính trị xã hội Việc tiếp nhận các văn bản nghị luậntrong nhà trường góp phần không nhỏ vào việc hình thành hệ thống quan điểm,
tư tưởng cho thế hệ trẻ trong việc xử lí các vấn đề đặt ra của cuộc sống mộtcách đúng đắn Trong khi đó, những văn bản nghị luận lại được giảng dạy với tưcách là tác phẩm văn học Vì thế cái khó của người dạy là vừa đảm bảo tínhkhách quan của tác phẩm vừa truyền lại những rung cảm văn bản với tư cách làmột sáng tạo nghệ thuật
Trước tình hình ấy, để khắc phục các khó khăn đã nêu, nhằm đáp ứng yêucầu của việc dạy và học phần văn bản nghị luận chương trình Ngữ văn 11 được
tốt, trong sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn 11 nhìn từ thể loại , tôi sẽ trình
bày hướng tiếp cận theo thể loại; tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng táctác phẩm; hướng triển khai một số bài trên lớp, sao cho giáo viên chủ động tronggiờ dạy và học sinh dễ dàng lĩnh hội tác phẩm
Qua đề tài này, tôi mong muốn những vấn đề được tiếp cận sẽ góp nhữngkinh nghiệm nhỏ với đồng nghiệp trong việc giảng dạy phần văn bản nghị luận,
để giúp học sinh cảm thụ tốt hơn đồng thời đảm bảo được trọng tâm bài học.Qua đó người giáo viên có thể tự tin thiết kế bài giảng và học sinh có thể tiếpthu tốt Đó là lí do tôi chọn đề tài này
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Thông qua đề tài nghiên cứu, giúp cho học sinh nhận thức được tầm quantrọng của văn bản nghị luận, hiểu biết được các vấn đề chính trị, xã hội văn hóa Đồng thời nhằm xây dựng cho học sinh thái độ đúng đắn, tiến bộ về các vấn đềchính trị xã hội, văn hóa hướng tới việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạyhọc các bài văn bản nghị luận trong chương trình ngữ văn THPT
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Nội dung các bài văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn 11
- Hoạt động dạy học các bài văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn 11
Trang 21.4 Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau, như:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu các cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài
+ Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa lớp 11 chương trình
cơ bản, tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng và các tài liệu của nhiều tác giả khác
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Trao đổi tổng kết kinh nghiệm dạy học.+ Thực nghiệm sư phạm: Nhằm xác định hiệu quả của nội dung đề xuất
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Văn nghị luận là một thể văn ra đời từ rất lâu, có giá trị to lớn trong trongđời sống xã hội đặc biệt trong thời kì dựng nước và giữ nước Xét theo nội dung
luận bàn, người ta phân văn nghị luận làm hai thể: văn chính luận ( luận bàn về
các vấn đề chính trị xã hội, triết học, đạo đức), văn phê bình văn học.[1] Về văn
chính luận có thể điểm lại các tác phẩm như Chiếu dời đô (1010) của Lí Công Uẩn, Hịch tướng sĩ (1285) của Trần Quốc Tuấn cho đến Đại cáo bình Ngô (1428) của Nguyễn Trãi; từ Tựa Trích diễm thi tập (1479) của Hoàng Đức Lương, Chiếu cầu hiền (1788) của Ngô Thì Nhậm đến bản điều trần Xin lập khoa luật (1867) của Nguyễn Trường Tộ, Chiếu Cần Vương (1885) Văn phê bình văn học có Một thời đại trong thi ca của tác giả Hoài Thanh Có thể nói
trong suốt thời kì lịch sử dân tộc, văn nghị luận là một thể văn phản ánh rõ nhấttinh thần, tư tưởng, ý chí và khát vọng của cả một dân tộc Do đó văn nghị luậnngày càng phát triển mạnh mẽ và đa dạng hơn
Văn nghị luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng
lí lẽ và lập luận nên hệ thống các luận điểm hết sức chặt chẽ và luận cứ phải xác
đáng.[2] Vì vậy khi dạy loại văn bản này, người dạy phải khai thác hệ thống
luận điểm, luận cứ và cách lập luận của văn bản
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Để tìm hiểu mức độ hiểu biết của các em học sinh về văn bản nghị luận,
tôi đã sử dụng phiếu khảo sát Với câu hỏi: Em có cảm nhận như thế nào khi học những văn bản nghị luận? Kết quả thu được như sau: có 75% học sinh trả
lời: Văn bản nghị luận có ý nghĩa nhưng dài, khô khan, khó tiếp cận hơn các thểloại khác 15% học sinh trả lời có thích học nhưng chưa thật hiểu 10% học sinhtrả lời không thích học
Kết quả trên cho thấy, đa số học sinh không thích học văn bản thuộc thểloại văn nghị luận Tuy nhiên có đến 75% học sinh nhận ra ý nghĩa của văn bảnnghị luận nghĩa là lí do các em không thích học các văn bản này là do chưa thực
sự hứng thú với giờ học mà thôi Từ thực trạng trên và từ thực tế giảng dạy củabản thân của đồng nghiệp, tôi nhân thấy trong dạy và học văn bản nghị luậnchương trình ngữ văn 11 còn tồn tại những mặt sau:
Về phía giáo viên: chỉ chú ý đến nội dung của văn bản nhiều hơn mà bỏ
qua yếu tố nghệ thuật Do đó bài học nghiêng về cung cấp thông tin
Trang 3Về phía học sinh: ít hứng thú, nghiêng về tìm hiểu thông tin hơn là việc
biểu lộ cảm xúc
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1.Bản thống kê những tác phẩm nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 11
1 Chiếu Cầu hiền (của Ngô Thì
Căn cứ vào nội dung của văn nghị luận ta có thể phân loại như sau:
Nhóm 1: các tác phẩm nghị luận chính trị - xã hội - đạo đức gồm: Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm), Xin lập khoa luật (Trích Tế cấp bát điều của Nguyễn Trường Tộ), Tiếng mẹ đẻ, nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh), Về luân lí xã hội ở nước ta (Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây của Phan Châu Trinh), Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ăng ghen).
Nhóm 2: tác phẩm thuộc lĩnh vực phê bình văn học Một thời đại trong thi ca
(Hoài Thanh)
Qua việc thống kê và phân loại trên, ta sẽ có cái nhìn tổng quát về văn bảnnghị luận chương trình Ngữ văn 11, từ đó đề ra những phương pháp, biện phápdạy một cách hợp lí
2.3.2 Các giải pháp cụ thể để tổ chức thực hiện.
Giải pháp 1: Hướng tiếp cận theo đặc trưng thể loại
* Khái niệm: Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phánđoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó ( chính trị, xã hội, văn họcnghệ thuật, triết học, đạo đức ) Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giảiđáp, làm sáng tỏ Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác
bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm
và niềm tin của mình Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng,tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ cảu suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của
lập luận.[1]
* Chức năng: Văn bản nghị luận có ba chức năng cơ bản sau: Chức nănggiao tiếp lí trí (hay còn gọi là chức năng thông báo nhằm cung cấp thông tin,kiến thức mới) và chức năng thuyết phục ( chứng minh và tác động)
Trang 4Tác phẩm Chức năng
Chiếu cầu hiền
(Ngô Thì Nhậm)
- Vai trò củangười hiền tài vớiđất nước
- Chủ trương,chiến lược củavua Quang Trungtrong việc tập hợpngười hiền tài
- Nghệ thuật chínhluận của ngườiviết
- Tư tưởng đúngđắn và nhân cáchcủa vua QuangTrung Từ đó yêumến, kính trọn đốivới nhân vật lịch
sử kiệt xuất củadân tộc
- Thái độ đúng vềvai trò của ngườihiền trong côngcuộc xây dựng đấtnước
- Nêu vai trò củangười hiền tàitrong sách LuậnNgữ
- Cách ứng xửcủa các sí phuBắc Hà trong tìnhthế suy vi
- Thực trạng củađất nước và tâmnguyện của vuaQuang Trung lúcbấy giờ
Xin lập khoa
Luật (Nguyễn
Trường Tộ)
- Tầm quan trọngcủa luật pháp đốivới việc đảm bảo
và phát triển củanhà nước phápquyền
- Nghệ thuật lậpluận chặt chẽ,chứng cứ xácthực, lời lẽ mềmdẻo
- Tư tưởng tiến bộ
và tầm nhìn xatrông rộng của tácgiả
- Luật bao gồm kỉcương, uy quyền,chính lệnh
- Việc thực hànhluật pháp ở cácnước phươngTây
- Nho học truyềnthống không tôntrọng luật phápchỉ nói suôngtrên trang giấy
Về luân lí xã hội
nước ta (Phan
Châu Trinh)
- Tinh thần yêunước và tư tưởngtiến bộ của tác giảkhi kêu gọi xâydựng nền luân lí
xã hội ở nước ta
- Nghệ thuật viếtvăn chính luận
- Sống và làm việctheo luân lí
- Tinh thần đoànkết, đấu tranh
- Nước ta chưa cóluân lí xã hội.Một tiếng bè bạnkhông thể thaycho luân lí được
- Bên châu Âu,bên Pháp có tinhthần đoàn thê,biết đấu tranh đểđòi lại công bằng
- Nguyên nhâncủa việc nước tachưa có luân lí xãhội
Tiếng mẹ đẻ
nguồn giải
phóng các dân
- Vai trò củaTiếng Việt nhưmột vũ khí hữu
- Yêu mến, giữgìn và phát huy sựtrong sáng của
- Thói học đòi tâyhóa của người AnNam khi thích
Trang 5tộc bị áp bức
(Nguyễn An
Ninh)
hiệu và quan trọnggóp phần giảiphóng các dân tộc
bị áp bức
- Nghệ thuật chínhluận sắc sảo
tiếng Việt bặp bẹ năm ba
tiếng Tây
- Nhận định tiếngnước mình khôngnghèo nàn
Ba cống hiến vĩ
đại của Các Mác
(Ăng-Ghen)
- Ba cống hiến vĩđại của Các Mácđối với lịch sửnhân loại
- Nghệ thuật lậpluận của tác giả
- Biết ơn, trântrọng những thànhquả cách mạng màcác bậc tiền bối đãtạo ra
- Những đónggóp to lớn củaCác Mác khiếnông trở thành nhà
tư tưởng vĩ đạinhất trong sốnhững nhà tưtưởng hiện đại:+ Tìm ra quy luậtphát triển củalịch sử loàingười
+ Tìm ra quy luậtgái trị thặng dư.+ Phải gắn lí luậnvới thực tiễn
- Nghệ thuật lậpluận khoa họcchặt chẽ, thấu đáo,cách diễn đạt tàihoa, tinh tế, giàucảm xúc của tácgiả
- Có ý thức tíchlũy về Thơ mớiphục vụ cho việchọc tập môn học
- Yêu mến, trântrọng tài năng,tâm huyết của cácnhà thơ mới
- Khó khăn trongviệc xác định tinhthần thơ mới
- Khái niệm cáitôi trong thơ mới;
lí do xuất hiện,
sự đón nhận củacông chúng vớicái tôi; tinh thầncủa cái tôi; giảipháp của các nhàThơ mới
* Đặc trưng: Văn bản nghị luận có ba đặc trưng:
- Tính bình giá công khai: Người nói, người viết bao giờ cũng bộc lộ công khai,
rõ ràng trực tiếp quan điểm, thái độ của mình trước một vấn đề nào đó Đây làđặc trưng thể hiện sự khác biệt giữa các văn bản nghị luận với văn bản nghệthuật Nếu văn chương là bình giá gián tiếp, khoa học là tránh sự thể hiện nhữngyếu tố cảm tính, chủ quan thì các văn bản nghị luận ( chính luận) bao giờ cũngbộc lộ trực tiếp quan điểm, thái độ của mình về một vấn đề thời sự của xã hội
- Tính lập luận chặt chẽ: Để bày tỏ chính kiến, giải thích, thuyết phục và động
viên mọi người tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thời sự nóng hổi củađất nước
Trang 6- Tính truyền cảm: Thông qua sự diễn đạt hùng hồn, sinh động có sức hấp dẫn
và đạt hiệu quả cao, thuyết phục người đọc bằng cả lí trí và đạo đức Đặc trưngnày khiến cho các văn bản nghị luận gần với ngôn ngữ nghệ thuật Trong vănbản chính luận cũng sử dụng các biện pháp tu từ nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ
Giải pháp 2: Tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm
Tác phẩm văn học bao giờ cũng mang trên mình dấu ấn của một thời kìlịch sử nhất định Vì vậy, việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tácbao giờ cũng là một yêu cầu có tính nguyên tắc Dạy - học tác phẩm văn nghịluận, việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác là việc vô cùng quantrọng Vì đây là những điều rất xa lạ với học sinh Sự phụ thuộc của tác phẩmvăn học vào hoàn cảnh lịch sử rất khó giải thích cho học sinh nếu như không gắnliền với những điểm phân tích, đánh giá chung với hoàn cảnh cuộc sống và hoạtđộng sáng tác của nhà văn Có như thế mới giúp học sinh có điều kiện tìm hiểusâu tác phẩm
Khi dạy bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm giáo viên và học sinh phải
nắm rõ hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ để thấy được vì sao vua Quang Trung lại
giao cho Ngô Thì Nhậm viết Chiếu cầu hiền Đó là nội chiến diễn ra liên miên
giữa Đàng trong và Đàng ngoài, để lại trong dân Bắc Hà suy nghĩ rằng: Nam vàBắc là hai triều đại khác nhau Khi Chúa Trịnh lấn át quyền vua Lê, Với danhnghĩa “Phù Lê, diệt Trịnh”, năm 1766, Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc, dẹp chúaTrịnh, ổn định triều cương đổ nát của Bắc Hà Tháng 12/1788, Nguyễn Huệ lênngôi Hoàng đế, hành quân thần tốc ra Bắc tiêu diệt 20 vạn quân Thanh, do LêChiêu Thống rước về, dẹp yên thù trong giặc ngoài thống nhất đất nước Triềuđình nhà Tây Sơn mới được thành lập Nhiều nhà nho đã sáng suốt ủng hộ, trong
đó có Ngô Thì Nhậm Nhưng phần đông trí thức lại là người Bắc Hà vì tư tưởngNho giáo bảo thủ không nhận thấy tính chất chính nghĩa và sứ mệnh lịch sử củaphong trào Tây Sơn, nên bất hợp tác, thậm chí là chống lại Tây Sơn Tình hình
đó đặt ra một yêu cầu chiến lược là cần thuyết phục trí thức Bắc Hà hiểu đúngnhững nhiệm vụ xây dựng đất nước mà triều đình Tây Sơn đang tiến hành, đểthuyết phục họ ra cộng tác, phục vụ cho triều đại mới Vì vậy mà vào khoảng
1788, Vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm soạn thảo bài chiếu để tìmđược người hiền tài ra giúp nước
Xin lập khoa luật của Nguyễn Trường Tộ được viết trong bối cảnh nước
ta những năm đầu thế kỉ XX Đó là sự kiện thực dân Pháp xâm lược và đã ảnhhưởng rất lớn đến mọi tầng lớp xã hội Nền kinh tế cũng chịu nhiều ảnh hưởng:nông nghiệp sa sút, nạn mất mùa, đói kém xảy ra liên miên, công thương nghiệp
bị đình đốn Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta đấu tranhchống Pháp quyết liệt trong đó có phong trào đấu tranh của các sĩ phu dưới ngọn
cờ Cần Vương Ngoài triều đình Huế mê muội , bọn địa chủ hám danh, hám lợithì vẫn còn đông các trí thức phong kiến ý thức được trách nhiệm của mình vớidân với nước Trong đó có Nguyễn Trường Tộ - một nhà nho lỗi lạc đã cónhững hành động thiết thực để góp phần canh tân đất nước
Khi dạy bài Về luân lí xã hội ở nước ta của Phan Châu Trinh mà không
nói đến tình hình đất nước ta những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thì sẽ
Trang 7không hiểu được mục đích tác giả viết tác phẩm Đó là nước ta lâm vào tìnhtrạng trì trệ, yếu kém mọi mặt Thực dân Pháp đã đặt ra chính sách ngu dân, đầuđộc dân ta bằng rượu cồn, thuốc phiện Chúng xây nhà tù nhiều hơn trườnghọc Chính vì vậy mà dân ta nghèo nàn, lạc hậu Trong bối cảnh đó, nhiềungười con ưu tú của dân tộc đã có tư tưởng tiến bộ nhằm canh tân đất nước nhưPhan Bội Châu, Phan Châu Trinh họ đã sử dụng văn chương để tuyên truyền,phổ biến chủ trương, đường lối cách mạng Với tinh thần yêu nước nồng nàn
Phan Châu Trinh đã viết bài Đạo đức và luân lí Đông Tây Bài viết được cụ
trình bày vào đêm 19/11/1925 tại nhà Hội Thanh niên Sài Gòn
Tiếng mẹ đẻ nguồn giả phóng các dân tộc bị áp bức của Nguyễn An Ninh
là câu chuyện về nước ta những năm đầu thế kỉ XX Phần lớn đội ngũ trí thứcViệt Nam xuất thân từ nhà trường Tây học Họ được học ở trường Tây nên íthay nhiều họ đều chịu ảnh hưởng của tư tưởng nô dịch, sùng bái phương Tây.Những kẻ học hành không đến nơi đến chốn, tư tưởng không đủ sâu sắc hoặcthiếu tình cảm với dân tộc đã mang một tư tưởng rất đáng phê phán: coi trọngphương Tây mà coi thường dân tộc mình Trong hoàn cảnh ấy, nhà báo Nguyễn
An Ninh đã viết bài báo này để đánh thức những kẻ đang có những hiểu biếtnông cạn về văn hóa, chỉ ra cho họ thấy sai lầm của mình Từ đó giúp họ có ýthức rõ hơn trách nhiệm đối với dân tộc, cụ thể là trách nhiệm bảo vệ gìn giữ vàphát triển ngôn ngữ dân tộc Bởi tiếng nói là linh hồn, là tinh hoa của văn hóadân tộc
Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác là bài chính luận được viết trong hoàn
cảnh đặc biệt gắn với một sự kiện đặc biệt và gắn với những con người đặc biệt
chứ không phải là những hình tượng hư cấu Văn bản Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác là bài điếu văn của Ăng-ghen đọc tại lễ tang của Các Mác khi vị lãnh
tụ kiệt xuất của phong trào vô sản thế giới qua đời vào ngày 14-03-1883, trong
đó ông đánh giá cao ba cống hiến của Các Mác và biểu lộ tình cảm tiếc thươngcủa những người cộng sản trước tổn thất to lớn không gì bù đắp được này Bàiphát biểu ngắn gọn, súc tích, bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ lôgic của Ăng-Ghen có giá trị tôn vinh tài năng và tên tuổi của nhà cách mạng vĩ đại thế giới:Các Mác
Vào những năm 30 của thế kỉ XX, phong trào Thơ mới đã có những đónggóp đáng kể vào sự phát triển của nền văn học trước Cách mạng tháng Tám Cácthi sĩ của thuở ấy đã đem đến cho bạn đọc một tiếng nói mới, phản ánh trungthực tâm trạng của một lớp thanh niên tiểu tư sản trong cuộc sống có nhiều đaubuồn, trăn trở và đôi khi bế tắc trước hiện trạng của đất nước thời bấy giờ Với
sự đổi mới mạnh mẽ của hình thức nghệ thuật, Thơ mới đã thực sự thu hút được
sự chú ý của khá đông bạn đọc yêu thơ Đó cũng là một đóng góp có ý nghĩavào sự phát triển của thể loại và chứng minh khả năng biểu đạt phong phú củatác phẩm Ngay lúc bấy giờ, hai tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân đã sớm nhận
ra giá trị ấy và đã kịp sưu tầm, giới thiệu các thành tựu của phong trào Thơ mới
qua tác phẩm Thi nhân Việt Nam và đã cho xuất bản vào đầu năm 1942 Một thời đại trong thi ca là bài tiểu luận mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam , tổng kết
một cách sâu sắc phong trào Thơ mới
Trang 8Giải pháp 3: Bám sát nội dung và hình thức văn bản để triển khai.
Tìm hiểu nghiên cứu bất kì một tác phẩm văn học nào, người dạy cũngphải tiến hành trực tiếp trên hai phương diện nội dung và hình thức Đây cũng làcăn cứ khoa học nhất để người tiếp nhận lĩnh hội tác phẩm Theo lí luận vănhọc giữa nội dung và hình thức có mối quan hệ chặt chẽ thống nhất tác động qualại Nếu nội dung tác phẩm cho phép người đọc lí giải câu hỏi: tác phẩm viết vềvấn đề gì, mục đích, ý nghĩa, giá trị thì hình thức giúp người đọc lí giải tácphẩm viết như thế nào, hiệu quả ra sao, tính thẩm mĩ, khả năng rung cảm vàthuyết phục người đọc thế nào? Khi bám sát văn bản cần chỉ ra:
Về nội dung: nắm đề tài, chủ đề, cảm hứng, hình tượng của tác phẩm, các
sự kiện, chi tiết, tình tiết Sau đó xâu chuỗi chúng lại theo những logic nhất địnhgiúp người tiếp nhận lĩnh hội được tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm, lậptrường và giá trị tác phẩm trên nhiều bình diện
Về hình thức: Cần tìm hiểu các hình thức và các phương tiện diễn đạt như
hệ thống ngôn từ, biện pháp nghệ thuật, cách lập luận, nhịp điệu, giọng điệu, kếtcấu Mục đích cuối cùng là chỉ ra tác dụng của chúng trong việc biểu hiện tưtưởng, tình cảm, thái độ của tác giả và sức thuyết phục của tác phẩm
Trong qua trình giảng dạy, giáo viên có thể tiếp cận bài học theo sơ đồsau:
Ý NGHĨA VĂN B ẢN
THỂ LOẠI
Giải pháp 4: Tạo không khí văn chương cho giờ học để giảm bớt tính chất
lí luận khô khan của văn bản nghị luận.
Để tạo không khí văn chương cho bài dạy, giáo viên có thể sử dụng nhiềucách: kể chuyện giai thoại, kể chuyện danh nhân, kể chuyện lịch sử một cách lôicuốn, hấp dẫn, đúng lúc, đúng chỗ kèm theo những lời bình luận sâu sắc, phùhợp với nội dung của bài học Ngoài ra người dạy có thể vận dụng những hiểubiết về văn hóa, nghệ thuật, dùng những câu chuyện, những bài thơ có tính chất
Trang 9triết lí phù hợp với văn bản sẽ khiến cho bài học trở nên nhẹ nhàng, lan tỏa màthấm sâu.
2.3.2 Giáo án thực nghiệm
Tiết 22 – 23: CHIẾU CẦU HIỀN
(Cầu hiền chiếu - Ngô Thì Nhậm)
I Mục tiêu cần đạt
1.Kiến thức: Giúp học sinh nắm được:
+ Những yếu tố lịch sử của thời đại: khi vua Quang Trung - Nguyễn Huệvừa lên ngôi, để làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong bài chiếu
+ Những quan niệm, những luồng tư tưởng theo lối tư duy triết họcphương Đông thời phong kiến, đã được tác giả vận dụng làm tăng sức thuyếtphục với đối tượng tiếp nhận bài chiếu- là giới trí thức Bắc Hà
- Hiểu được: vấn đề quan trọng trong bài Chiếu cầu hiền:
+ Những tâm nguyện của vua Quang Trung
+ Đối tượng, mục đích, chính sách cầu hiền Từ đó mà đặt ra những yêucầu đối với một bài chiếu nói riêng và văn chính luận Trung đại nói riêng
+ Người chắp bút soạn thảo bài chiếu là một cựu thần của nhà Lê; giờđược giao trọng trách lớn của triều đình Tây Sơn Và không được quên là mìnhđang nói bằng tư tưởng của vua Quang Trung Vì thế nghệ thuật chính luận phảikhéo léo và giàu sức thuyết phục
2 Kĩ năng: Đọc hiểu thể loại chiếu
- Rèn các kỹ năng chuyên môn: Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu thể loại chiếu, kĩnăng quan sát, phân tích, so sánh,
- Rèn các kỹ năng sống:
+ Kĩ năng giao tiếp: Giữa Thầy và trò, giữa HS với sách giáo khoa, giữa
HS với HS (Thông qua hoạt động nhóm )
+ Kĩ năng lắng nghe tích cực: Thông qua các nhiệm vụ giáo viên chuyển
giao và thông qua hoạt động nhóm
3 Thái độ:
Thông qua bài học này giúp học sinh biết cảm phục, trân trọng tài năng,tâm huyết của tác giả đồng thời giáo dục cho học sinh tinh thần trách nhiệm đốivới dân tộc với đất nước
Năng lực nhận biết, phát
hiện và giải quyết vấn đề
- Mục đích vua Quang Trung giao cho Ngô Thìnhậm viết bài chiếu
- Nghệ thuật chính luận của tác giả
Năng lực tư duy - Phát triển tư duy thông qua việc tìm hiểunghệ thuật chính luận của tác giả.
Trang 10Năng lực ngôn ngữ - Diễn đạt, trình bày nội dung dưới nhiều hìnhthức khác nhau tranh luận, thảo luận.Năng lực sử dụng CNTT
- Biết khai thác thông tin trên internet: Soạnthảo trình bày, báo cáo kết quả hoạt động vàbáo cáo sản phẩm học tập
II Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
1 Chuẩn bị của giáo viên
- Giáo án, tài liệu tham khảo
- Máy chiếu, bảng phụ
2 Chuẩn bị của học sinh
- SGK, bài soạn, sưu tầm tư liệu có liên quan
III Tiến trình lên lớp (Tiến trình tổ chức hoạt động học tập)
A Hoạt động khởi động.
- Giáo viên cho học sinh xem video về văn bia Quốc Tử Giám
- Đặt ra cho HS câu hỏi:
+ Hình ảnh trong video gợi cho em nhớ đến tác phẩm nào đã học trong chươngtrình Ngữ văn 10 tập 1?
+ Việc khắc bia ghi tên tiến sĩ nói lên truyền thống gì của người Việt Nam?
- Giáo viên cho học sinh trả lời và dẫn vào bài: Người hiền tài có vai trò quantrọng đối với việc thịnh suy của một quốc gia, dân tộc Vì vậy, xuống chiếu cầuhiền tài cũng là một truyền thống văn hoá - chính trị của phương Đông nóichung và Việt Nam nói riêng Để hiểu rõ hơn về vai trò của người hiền tài cũng
như tâm nguyện của vua Quang Trung, chúng ta cùng tìm hiểu tác phẩm Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm.
B Hoạt động hình thành kiến thức
Hoạt động 1: Tìm hiểu chung về tác giả, tác phâm.
1.Mục tiêu: Giúp học sinh nắm được những nét chung nhất về tác giả, tác phẩm
2 Phương pháp: Đặt câu hỏi, kĩ thuật trình bày
3 Hình thức tổ chức hoạt động: Làm việc cá nhân
4 Phương tiện dạy học; Máy chiếu
Hoạt động giáo viên và học sinh Nội dung
Bước 1: Giao nhiệm vụ