Hoạt động du lịch có tác động tích cực đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác nhau như sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp, công nghiệp gỗ, dệt, thuỷ s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
NGHIÊN CỨU DU LỊCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã ngành : 60.31.10
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN MẬU DŨNG
HÀ NỘI – 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc nghiên cứu đã được cảm ơn và các thông tin chỉ dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 27 tháng 06 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều
cơ quan, nhiều tổ chức và cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tất cả tập thể và các
cá nhân đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu vừa qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Mậu Dũng và Bộ môn Kinh tế tài nguyên môi trường đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội, các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & PTNT và Viện đào tạo sau Đại học, những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các làng nghề tỉnh Bắc Ninh như làng nghề đúc đồng Đại Bái, gốm Phù Lãng, mây tre đan Xuân Lai, làng tranh dân gian Đông Hồ…;phòng nghiệp vụ du lịch - Sở VH TT DL tỉnh Bắc Ninh, đã cung cấp tư liệu, tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 27 tháng 06 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.1.1 Đối tượng cung cấp thông tin 2
1.3.1.2 Đối tượng khảo sát 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Tổng quan về du lịch và tài nguyên du lịch 4
2.1.1.1 Khái niệm du lịch 4
2.1.1.2 Ý nghĩa kinh tế - xã hội của du lịch: 5
2.1.1.3 Khái quát về tài nguyên du lịch, tài nguyên DLLN 6
2.1.1.4 Nội dung khai thác, quản lý, phát triển TNDL 8
2.1.1.5 Phát triển TNDL gắn liền với khai thác và quản lý TNDL 11
2.1.2 Tổng quan du lịch làng nghề 13
2.1.3 Các hoạt động phát triển du lịch làng nghề 19
2.1.3.1 Ban hành các chính sách phát triển DLLN 19
2.1.3.2 Hoạt động thống kê, đánh giá tài nguyên du lịch làng nghề 20
2.1.2.2 Hoạt động quảng cáo, xúc tiến DLLN 20
2.1.2.3 Hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ phát triển DLLN 23
2.1.2.4 Hoạt động xây dựng CSHT, cải tạo TNDL 25
2.1.2.5 Hoạt động liên kết, phát triển mạng lưới DLLN: 26
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch làng nghề 26
2.2 Cơ sở thực tiễn khai thác và phát triển du lịch làng nghề 29
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển DLLN ở các nước trên thế giới: 29
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển DLLN ở Việt Nam 31
2.2.2.1 Các chính sách phát triển DLLN 32
Trang 52.2.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch làng nghề ở một số địa phương 34
PHẦN THỨ III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 40
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội tỉnh Bắc Ninh 40
3.1.1.1 Vị trí địa lý kinh tế và địa hình 40
3.1.1.2 Khí hậu, thủy văn 43
3.1.1.3 Dân số và lao động: 43
3.2 Phương pháp nghiên cứu 45
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 45
3.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu 45
3.2.3.1 Tài liệu thứ cấp: 45
3.2.3.2 Tài liệu sơ cấp: 45
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 46
3.2.4.1 Phương pháp thống kê mô tả 46
3.2.4.2 Phương pháp so sánh 46
3.2.5 Phương pháp chuyên gia 46
PHẦN THỨ TƯ: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 Khái quát tình hình phát triển du lịch làng nghề tỉnh Bắc Ninh 47
4.1.1 Khái quát tài nguyên du lịch làng nghề tỉnh Bắc Ninh 47
4.1.1.1 Văn hóa, lễ hội ở các làng nghề: 47
4.1.1.2 Di tích thắng cảnh làng nghề 53
4.1.2 Kết quả phát triển du lịch làng nghề tỉnh Bắc Ninh 57
4.1.2.1 Số lượng làng nghề phát triển dịch vụ du lịch 57
4.1.2.2 Số lượng khách du lịch làng nghề 64
4.1.2.3 Doanh thu du lịch làng nghề 69
4.2 Thực trạng các hoạt động phát triển du lịch làng nghề tỉnh Bắc Ninh 72
4.2.1 Ban hành các chính sách nhằm phát triển du lịch làng nghề 72
4.2.2 Hoạt động thống kê, đánh giá tài nguyên du lịch 75
4.2.3 Hoạt động phát triển tour du lịch làng nghề 75
4.2.4 Hoạt động quảng cáo, xúc tiến DLLN 77
4.2.5 Hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ phát triển DLLN 83
4.2.6 Hoạt động xây dựng CSHT và bảo tồn, phát triển tài nguyên du lịch 87
Trang 64.2.7 Hoạt động liên kết, phát triển mạng lưới DLLN 96
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển DLLN Bắc Ninh 96
4.3.1 Chính sách phát triển du lịch làng nghề của Nhà nước, của tỉnh 96
4.3.2 Chất lượng tài nguyên du lịch làng nghề 98
4.3.2.1 Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch làng nghề 98
4.3.2.2 Sự thích nghi của khí hậu: 98
4.3.2.3 Sự đặc sắc, độc đáo của sản phẩm: 99
4.3.2.4 Môi trường ở các làng nghề 99
4.3.3 Nguồn vốn triển khai thực hiện các hoạt động phát triển du lịch 101
4.3.4 Đội ngũ cán bộ, nhân viên phục vụ du lịch làng nghề 103
4.3.5 Vị trí và khả năng tiếp cận 42
4.4 Các vấn đề đặt ra trong phát triển DLLN và một số giải pháp phát triển DLLN tỉnh Bắc Ninh 2
4.4.1 Các vấn đề đặt ra trong phát triển DLLN 2
4.4.1.1 Sự mai một của các làng nghề truyền thống: 2
4.4.1.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch còn yếu kém 4
4.4.1.3 Nguồn nhân lực cho du lịch làng nghề gần như không có 4
4.4.1.4 Ô nhiễm môi trường và giữ gìn vệ sinh cảnh quan môi trường ở làng nghề 5
4.4.1.5 Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch làng nghề chưa đồng bộ 5
4.4.2 Một số giải pháp đề xuất để phát triển DLLN tỉnh Bắc Ninh 6
4.4.2.1 Phục hồi, gìn giữ các nghề truyền thống, văn hóa truyền thống ở các làng nghề; Giới thiệu sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm .6
4.4.2.2 Thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng làng nghề, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch Giữ gìn vệ sinh môi trường ở làng nghề 7
4.4.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá 8
4.4.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch ở các làng nghề 9
4.4.2.5 Có quy hoạch tổng thể phát triển du lịch làng nghề 10
PHẦNTHỨ NĂM: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 11
5.1 Kết luận: 11
5.2 Khuyến nghị 12
PHỤ LỤC 15
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Dân số tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2008 – 2010 44
Bảng 3.2: Lao động đang làm việc theo khu vực kinh tế của Bắc Ninh giai đoạn 2008 - 2010 44
Bảng 4.1: Số lượng làng nghề phân bố theo thành phần kinh tế ở Bắc Ninh 58
từ 2009 - 2011 58
Bảng 4.2: Sản phẩm chủ yếu của một số làng nghề tỉnh Bắc Ninh 61
Bảng 4.3: Số lượng làng nghề phát triển dịch vụ du lịch phân theo huyện từ năm 2009-2011 .62
Bảng 4.4: Số lượng khách du lịch đến làng nghề Bắc Ninh từ 2009-2011 66
Bảng 4.5: Một số chính sách nhằm khuyến khích, góp phần phát triển DLLN 72
ở Bắc Ninh 72
Bảng 4.6: Một số tour du lịch về làng nghề Bắc Ninh 76
Bảng 4.7: Đánh giá của du khách về chương trình tour đến các làng nghề Bắc Ninh 76
Bảng 4.8: Các hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại của sở VH-TT-DL Bắc Ninh giai đoạn từ 2009-2011 79
Bảng 4.9: Bảng tổng hợp kinh phí quảng bá du lịch (2002 - 2011) 80
Bảng 4.10: Nguồn thông tin biết tới các làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh của du khách.81 Bảng 4.11: Đánh giá của du khách về hướng dẫn viên du lịch 86
Bảng 4.12: Hệ thống giao thông ở một số làng nghề 87
Bảng 4.13: Cơ sở vật chất kỹ thuật làng nghề đúc đồng Đại Bái 89
Bảng 4.14: Cơ sở vật chất kỹ thuật làng nghề mây tre đan Xuân Lai 89
Bảng 4.15: Cơ sở vật chất kỹ thuật làng nghề gốm Phù Lãng 90
Bảng 4.16: Đánh giá về sự phù hợp của việc phát triển du lịch làng nghề: 98
Bảng 4.17: Đánh giá sự độc đáo của sản phẩm ở các làng nghề 99
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Biểu đồ 1: Tăng t rưởng lượng khách du lịch đến từ Bắc Ninh 65 Biểu đồ 2: Tăng trưởng doanh thu du lịch của tỉnh Bắc Ninh 70 Biểu đồ 3: Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch đến Bắc Ninh 2002-2011 71
Trang 10PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch làng nghề (DLLN) hiện nay đã và đang bắt đầu phát triển ở Việt Nam DLLN đang được Nhà nước khuyến khích phát triển vì đã góp phần khôi phục và gìn giữ được những làng nghề truyền thống của cha ông DLLN cũng tạo điều kiện giới thiệu quảng cáo, mở rộng thị trường và tiêu thụ sản phẩm cho người lao động thủ công, nâng cao mức sống thu nhập của cộng đồng dân cư
Bắc Ninh là vùng đất văn hiến, có bề dầy truyền thống văn hóa và thường được ví von là “vương quốc” của lễ hội dân gian, đặc biệt Bắc Ninh có di sản văn hóa của nhân loại là dân ca Quan họ Bắc Ninh Không những vậy, Bắc Ninh còn là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng cả nước như làng tranh Đông Hồ, làng đồng Đại Bái, làng gốm Phù Lãng, làng gỗ Đồng Kỵ Ðây là tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của du khách và các hãng lữ hành trong
và ngoài nước
Hiện nay Bắc Ninh có 62 làng nghề, trong đó có 31 làng nghề truyền thống chiếm 1/10 tổng số làng nghề truyền thống của cả nước (Sở VHTTDL Bắc Ninh, 2012) Hầu hết các làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử phát triển lâu dài, thậm chí đã tìm thấy dấu tích làng nghề từ những thế kỷ trước công nguyên Ở thiên niên kỷ sau công nguyên, đã hình thành những trung tâm làng nghề bao quanh thủ phủ Luy Lâu
- Long Biên Làng nghề thủ công ở đây thật sự phong phú, đa dạng từ việc chế biến nông sản, thực phẩm làm các món ăn đặc sản, sản xuất các vật dụng gia đình, chế biến tạo công cụ sản xuất nông nghiệp, đến làm các mặt hàng mỹ nghệ, các sản phẩm phục vụ cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, sinh hoạt lễ hội, các sản phẩm nghệ thuật, làm các nghề xây dựng nhà cửa, đình, chùa, đền miếu
Bắc Ninh còn có 1 vị trí địa lý rất thuận lợi để phát triển kinh tế văn hóa xã hội là cạnh thủ đô Hà Nội và nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm của miền Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh) Thêm nữa, nét văn hóa, trong đời sống sinh
Trang 11hoạt hàng ngày của người dân địa phương có thể được coi như là đại diện cho nét văn hóa của người Việt vùng đồng bằng bắc bộ Tất cả những thuận lợi trên tạo cho Bắc Ninh có một lợi thế hết sức to lớn trong phát triển du lịch nói chung và du lịch làng nghề nói riêng
Tuy nhiên, đối lập với những lợi thế hiện có thì sức thu hút của sản phẩm du lịch làng nghề đối với khách du lịch vẫn còn nhiều hạn chế Khách du lịch trong nước và quốc tế đến các làng nghề còn khiêm tốn Do đó, việc nghiên cứu và khảo sát hiện trạng phát triển DLLN để đưa ra định hướng phát triển hợp lý, thu hút khách
du lịch là một điều rất cần thiết trong chiến lược phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh Vậy, hiện trạng DLLN ở Bắc Ninh hiện nay như thế nào, phát triển ra sao? Các yếu
tố ảnh hưởng đến phát triển DLLN là gì? Nghiên cứu những vấn đề đó sẽ đưa ra được định hướng phát triển du lịch nói chung và DLLN nói riêng ở tỉnh Bắc Ninh
Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu phát
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển DLLN
- Đánh giá thực trạng các hoạt động phát triển DLLN tỉnh Bắc Ninh
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến DLLN tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển DLLN tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
1.3.1.1 Đối tượng cung cấp thông tin
- Khách du lịch tới thăm quan các làng nghề
Trang 121.3.1.2 Đối tượng khảo sát
- Ngành du lịch nói chung và DLLN nói riêng ở tỉnh Bắc Ninh
- Các nghề và làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
DLLN ở các làng nghề truyền thống tiêu biểu của tỉnh
được thu thập từ năm 2009-2011
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 10/2011-10/2012
truyền thống tiêu biểu: Làng gốm Phù Lãng, làng tranh tre Xuân Lai, làng đúc đồng Đại Bái và một số làng nghề khác có khách du lịch tới thăm quan
Trang 13PHẦN THỨ HAI TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Tổng quan về du lịch và tài nguyên du lịch
2.1.1.1 Khái niệm du lịch
Khái niệm về du lịch theo quan điểm rộng rãi hiện nay được Hội nghị quốc
tế về thống kê du lịch ở Ottawa-Canada tháng 6 năm 1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong khoảng thời gian đã được tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của vùng tới thăm” (Nguyễn Cao Thường, Tô Đăng Hải, 1995)
chuyển động của con người trên một khoảng cách nơi xuất phát và nơi đến, thời gian và mục đích chuyến đi Vì vậy, thuật ngữ du lịch là chuyển động của con người
đã được Tổ chức Du lịch thế giới và các nước Mỹ, Anh, Canada, Úc, chấp thuận [Nguyễn Cao Thường, Tô Đăng Hải (1995)] Nhưng điều này gây ra những khó khăn về thông tin thống kê cho các học giả khi sử dụng để phát triển cơ sở dữ liệu,
mô tả hiện tượng du lịch và phân tích nó
Ở Việt Nam, khái niệm du lịch đã được đưa ra tại khoản 1 điều 4 Luật Du lịch năm 2005 quy định: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan , tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định” Bản chất của du lịch là “ngành kinh tế dịch vụ”, đây là một quan niệm mới
nó có ý nghĩa về nhận thức, về quản lý, về tổ chức hoạt động Dịch vụ du lịch là một loại hình dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu cho khách hàng du lịch trong suốt thời gian đi du lịch Du lịch một mặt mang ý nghĩa thông thường việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi giải trí.Mặt khác, du lịch là hoạt động gắn chặt với kết quả kinh tế, sản xuất, tiêu thụ do chính nó tạo ra Dịch vụ du lịch là giữa “sản xuất” và “tiêu thụ” được thực hiện ở cùng một thời điểm ”sản xuất” không phải lưu
Trang 14kho nên sản phẩm của du lịch vừa có đặc điểm chung của dịch vụ vừa có đặc điểm riêng so với dịch vụ sản xuất, dịch vụ khoa học kỹ thuật, dịch vụ đời sống khác [Nguyễn Cao Thường, Tô Đăng Hải (1995)]
2.1.1.2 Ý nghĩa kinh tế - xã hội của du lịch:
+ Về kinh tế: Du lịch có tác động tích cực đến nền kinh tế thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch, góp phần làm sống động kinh tế ở nơi du lịch, từ đó kích thích tăng cường huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào chu chuyển Hoạt động du lịch có tác động tích cực đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác nhau như sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp, công nghiệp gỗ, dệt, thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ Ngoài ra du lịch phát triển còn tác động đến sự phát triển của y tế, văn hoá, thương mại, bưu chính viễn thông, ngân hàng, giao thông vận tải góp phần khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, tăng thu nhập quốc dân
Hoạt động du lịch quốc tế là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước, đồng thời du lịch quốc tế phát triển, nhờ đó xuất khẩu tại chỗ được một số mặt hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ và các sản phẩm lương thực thực phẩm của ngành nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ sản Nhiều nứơc trên thế giới có nền kinh tế phụ thuộc phần lớn vào du lịch
cho nền kinh tế của quốc gia, đồng thời phát triển du lịch nông thôn tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
sự phát triển của nhiều ngành, nhiều địa phương
thu nhập cho ngừơi lao động và dân địa phương Thông thường tài nguyên du lịch
tự nhiên, nhân văn thường tập trung nhiều ở vùng nông thôn, vùng núi xa xôi, vùng ven biển hay những vùng nguyên sơ khác Khi có kế hoạch khai thác tiềm năng tài nguyên để phát triển du lịch, cần thiết phải đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, điện nước, bưu chính viễn thông, nhờ phát triển du lịch sẽ góp phần làm thay đổi bộ mặt vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn và làm giãn dân từ các khu dân cư tập trung từ các đô thị ra các vùng du lịch
Trang 15Phát triển du lịch quốc tế là phương tiện quảng bá hữu hiệu cho đất nước làm
du lịch và mở rộng củng cố mối quan hệ kinh tế đầu tư quốc tế Du lịch nội địa phát triển tạo điều kiện để tái sản xuất sức lao động Thông qua du lịch, con người mở mang thêm kiến thức, đáp ứng được lòng ham hiểu biết, góp phần hình thành những ứơc mơ sáng tạo mới
cuộc giao tiếp giữa khách du lịch và người bản xứ hiểu biết lẫn nhau về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, đạo đức lối sống, chế độ xã hội
dân nâng cao truyền thống dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
lịch nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục nâng cao hiểu biết của du khách về môi trường tự nhiên, qua đó tạo ý thức tham gia của khách du lịch vào vịêc bảo tồn, góp phần bảo vệ và phát triển bản sắc văn hoá
hoá làng quê để hấp dẫn thu hút khách, vì vậy nó có ý nghĩa rất lớn
phương vào các hoạt động như làm vai trò hướng dẫn viên cho khách, làm việc tại các nhà nghỉ phục vụ du khách, sản xuất cung ứng về thực phẩm phục vụ các nhu cầu khách, sản xuất các hàng lưu niệm bán cho khách thông qua đó tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
và văn hoá làng quê, bởi quyền lợi của cộng đồng gắn liền với du lịch và họ là người chủ thực sự bảo vệ các giá trị tự nhiên và văn hoá mà dựa vào đó du lịch nông thôn phát triển
2.1.1.3 Khái quát về tài nguyên du lịch, tài nguyên DLLN
- Khái niệm tài nguyên du lịch
Tài nguyên là một trong những yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế và đời sống con người Hiểu theo nghĩa rộng tài nguyên là bao gồm tất cả các nguồn lực, năng lượng và thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà
Trang 16con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và cho sự phát triển của mình [Phạm Trung Lương (2000)]
Những tài nguyên có thể được sử dụng cho phát triển du lịch đều đựơc xem
là tài nguyên du lịch Các học giả Trung Quốc cho rằng ”tất cả các nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của du khách được ngành du lịch tận dụng và từ đó sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội thì đều được gọi là tài nguyên du lịch” [Nguyễn Cao Thường,
Tô Đăng Hải (1995)]
lịch là: “cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hoá, công
trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được
sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch; là các yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [Nguyễn Cao Thường, Tô
- Tài nguyên du lịch làng nghề: Từ khái niệm về tài nguyên du lịch, chúng ta có thể hiểu về tài nguyên du lịch làng nghề: thuộc tài nguyên du lịch nhân văn, gồm các truyền thống văn hóa ở các làng nghề, các di tích lịch sử ở các làng nghề; công trình lao động sáng tạo của con người ở các làng nghề chính là các nghề truyền thống có thể xây dựng thành các sản phẩm du lịch
Trang 172.1.1.4 Nội dung khai thác, quản lý, phát triển TNDL
* Nội dung khai thác TNDL:
Khai thác TNDL thực chất là việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổ chức và
sử dụng có hiệu quả các giá trị của các tài nguyên phục vụ vào mục đích phát triển
du lịch bền vững không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ
mai sau Quá trình khai thác tài nguyên phát triển du lịch phải được định hướng và
quản lý theo phương châm kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai
góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch, nhằm đạt tới mục đích bảo tồn, tái tạo và phát triển
được tài nguyên tự nhiên, giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hoá dân tộc
Điều cốt lõi là khai thác TNDL nói chung TNDL trên địa bàn nông thôn nói
riêng là đảm bảo cân bằng giữa cung và cầu, giữa hiện tại và tương lai, giữa số
lượng và chất lượng, giữa khai thác và bảo vệ phát triển nguồn TNDL, giữa yêu cầu
phát triển và khả năng quản lý, giữa hoạt động du lịch về thời gian và không gian,
giữa chi phí và lợi ích (Phạm Văn Luân, 2006)
Quản lý TNDL bao gồm kiểm kê tài nguyên, đánh giá xếp loại tài nguyên,
nghiên cứu các biến động của tài nguyên do các tác động khác nhau, cung cấp thông
tin cần thiết có định hướng cho người sử dụng để khai thác có hiệu quả tiềm năng
tài nguyên phục vụ phát triển du lịch Để đảm bảo việc khai thác có hiệu quả và đạt
được các mục đích trên đòi hỏi phải có sự quản lý Hoạt động quản lý TNDL không
thể hiểu theo nghĩa bảo vệ nghiêm ngặt, tránh mọi tác động đến tài nguyên mà cần
thực hiện sao cho việc khai thác để xây dựng các sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế cao,
tránh những tổn thất, lãng phí Mặt khác hoạt động quản lý sao cho tài nguyên
không chỉ bảo vệ mà còn không ngừng được tôn tạo và phát triển cho mục tiêu sử
dụng lâu dài qua nhiều thế hệ Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với du lịch, một
ngành có tính chất xã hội hóa cao Vì vậy, quản lý khai thác tài nguyên có ý nghĩa
quan trọng đối với sự phát triển bền vững của ngành kinh tế nói chung và du lịch
nói riêng Một cơ chế quản lý khai thác phù hợp sẽ có ý nghĩa thúc đẩy tích cực cho
hoạt động kinh doanh du lịch Chức năng quản lý và quản lý TNDL được xác định
theo quản lý ngành và quản lý lãnh thổ (Nguyễn Văn Lưu, 1999)
Deleted: Page Break
Trang 18+ Quản lý theo ngành:
Đề xuất ra các chủ trươn, chính sách khai thác TNDL; xây dựng kế hoạch khai thác TNDL, đề xuất các nhiệm vụ đầu tư, tôn tạo tài nguyên và giám sát thực hiện; quản lý quy hoạch và đầu tư xây dựng các công trình theo quy hoạch như quy hoạch không gian, kiến trúc, cảnh quan, vị trí tiêu chuẩn, cấp hạng, quy mô các công trình; quản lý đầu tư bảo tồn các nguồn TNDL; quản lý các nguồn tài chính trong khai thác sử dụng các nguồn TNDL
đảm phương hướng phát triển của ngành theo chiến lược chung, nhằm nâng cap hiệu lực quản lý
Quản lý theo lãnh thổ do chính quyền địa phương các cấp quản lý có nhiệm
vụ xây dựng quy hoạch và kế hoạch quản lý khai thác TNDL trên địa bàn lãnh thổ, không phân biệt kinh tế trung ương và kinh tế địa phương; xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng cho kinh doanh và đời sống dân cư sống trên lãnh thổ; tổ chức điều hòa phối hợp sự hợp tác, liên kết liên doanh giữa các đơn vị kinh tế - văn hóa xã hội trên lãnh thổ nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên trên lãnh thổ
* Nội dung phát triển TNDL
khai thác và sử dụng phục vụ cho mục đích phát triển du lịch sao cho không những không làm giảm giá trị vốn có của nó mà phải làm tăng giá trị của tài nguyên phục
vụ cho mục đích phát triển du lịch hiện tại và tương lai Nên mọi hoạt động của phát triển tài nguyên du lịch phải đảm bảo phát triển bền vững Việc phát triển tài nguyên bền vững là vấn đề sống còn trong phát triển du lịch, bởi vì du lịch là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt, sự phát triển của du lịch có mối liên hệ mật thiết với tài nguyên và môi trường du lịch Trên thực tế điều này đang trở lên cấp thiết và được nhấn mạnh đến việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn TNDL trong quá trình phát triển du lịch, bởi hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng du lịch đang đứng trước xu thế phát triển rất mạnh mẽ Sự lựa chọn bắt buộc là phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn TNDL, nhằm bảo tồn tái
Trang 19tạo và phát triển được tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hoá dân tộc Vì vậy, phát triển TNDL luôn gắn liền với việc khai thác, quản lý TNDL Nếu khai thác tài nguyên hợp lý, tài nguyên được phục hồi tái tạo, chất lượng môi trường du lịch tăng, tăng sự hấp dẫn du lịch, khu du lịch Ngược lại khai thác không đồng bộ, không có biện pháp phục hồi tái tạo tài nguyên sẽ dẫn đến việc phá vỡ cân bằng sinh thái của khu vực, gây nên sự giảm sút chất lượng môi trường dẫn đến sự suy giảm sức hút du lịch Do vậy, TNDL phải được bảo vệ, tôn tạo và phải được khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững, không để xảy ra tình trạng xâm phạm trái phép Hoạt động quản lý giám sát phải đảm bảo sao cho việc khai thác TNDL không vượt quá ngưỡng tự phục hồi, tái tạo của TNDL, không làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường du lịch và sức hấp dẫn du lịch tại các điểm, khu du lịch Hoạt động đầu tư tôn tạo và phát triển tài nguyên (ví dụ trồng thêm rừng, thả thêm các động vật quý hiếm, bảo tồn tôn tạo các công trình văn hoá phi vật thể có giá trị tham quan du lịch ở làng, xã ) Phát triển du lịch bền vững phải gắn liền với phát triển tài nguyên môi trường bền vững nhằm đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ mai sau
Như vậy phát triển TNDL bền vững đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 yếu tố: quản lý, khai thác sử dụng và tôn tạo phát triển trên nguyên tắc chung của phát triển du lịch bền vững Phát triển TNDL bền vững sẽ đảm bảo các dạng TNDL đựơc sử dụng trong khả năng tự phục hội của tài nguyên cả về
số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất, góp phần tích cực cho phát triển du lịch bền vững, không làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt động phát triển khác (Nguyễn Cao Thường, Tô Đăng Hải, 1995)
Hiện nay du lịch bền vững đang đứng trước thử thách là cần phát triển các sản phẩm du lịch có chất lượng, có khả năng thu hút cao song không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên và văn hoá bản địa, thậm chí còn phải có trách nhiệm bảo tồn và phát triển chúng Tổ chức Du lịch thế giới đã xác định: ”các sản phẩm du lịch bền vững là các sản phẩm được xây dựng phù hợp với môi trường, cộng đồng
Trang 20và các nền văn hoá, nhờ đó sẽ mang lại lợi ích chắc chắn chứ không phải là hiểm hoạ cho phát triển du lịch” (Nguyễn Cao Thường, Tô Đăng Hải, 1995)
Nơi có TNDL thường liên quan đến người dân trong vùng, nên việc duy trì phát triển TNDL bền vững cần phải đảm bảo các yêu cầu: bảo tồn các giá trị tài nguyên; đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân; tài nguyên đựơc phát triển hiệu quả và bền vững
đồng địa phương trong khai thác, quản lý và phát triển tài nguyên nơi họ sinh sống Các chính sách phải rõ ràng cho địa phương nơi phát triển du lịch đảm bảo hỗ trợ cho cộng đồng địa phương, nâng cao đời sống của nhân dân địa phương, tạo việc làm cho con em địa phương Mặt khác phải cân bằng hài hoà về lợi ích giữa doanh nghiệp ngành du lịch, khách du lịch và cộng đồng địa phương, lợi nhuận thu đựơc
từ du lịch cần phải cân đối phân phối lợi ích cho cộng đồng và dành một phần cho ngân sách địa phương
Trọng tâm của phát triển du lịch là phải phát triển tài nguyên du lịch bền vững
và đảm bảo cho sự công bằng các mục tiêu về kinh té, văn hoá-xã hội và tự nhiên
2.1.1.5 Phát triển TNDL gắn liền với khai thác và quản lý TNDL
Khai thác, quản lý và phát triển là quá trình tất yếu luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu khi khai thác tài nguyên một cách hợp lý đồng thời kết hợp với
sự quản lý tốt thì tài nguyên phát triển lâu dài, bền vững và làm tăng giá trị của tài nguyên phục vụ mục tiêu phát triển du lịch
- Trong quá trình khai thác tài nguyên để xây dựng các sản phẩm du lịch cần
sự quản lý tránh sự tổn thất và lãng phí sẽ đem lại lợi ích nhiều mặt cho xã hội Vì vậy, giữa khai thác và quản lý phải luôn thống nhất, cần tránh sự khai thác, quản lý chồng chéo, giữa ngành với ngành và giữa ngành với địa phương
- Khai thác tài nguyên có cơ chế chính sách quản lý phù hợp thì tài nguyên sẽ được bảo vệ, tôn tạo và phát triển cho các thế hệ sau
Quản lý, khai thác tài nguyên không chỉ bảo vệ tài nguyên mà còn giúp cho các tài nguyên không ngừng được tôn tạo và phát triển cho mục tiêu sử dụng lâu dài qua nhiều thế hệ Như vậy, quản lý, khai thác và phát triển tài nguyên luôn có mối
Trang 21quan hệ chặt chẽ với nhau theo hướng thuận nghịch, đó là: khai thác tài nguyên muốn đạt hiệu quả không chỉ khai thác đúng hướng mà đi đôi với nó có cơ chế quản
lý phù hợp mới có ý nghĩa thúc đẩy tích cực cho việc khai thác hiệu quả và tài nguyên phát triển bền vững, ngược lại nếu khai thác tràn lan, thiếu sự quản lý hoặc buông lỏng quản lý thì không hiệu quả về kinh tế và tài nguyên không được bảo tồn phát triển Hoặc khai thác có thể là đúng hướng nhưng cơ chế quản lý không phù hợp thì sẽ tạo lực cản của sự phát triển
lý tốt nguồn tài nguyên, phát triển du lịch đúng hướng, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn cảnh quan môi trường, lành mạnh quan hệ xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia, góp phần vào chiến lược phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam (Vũ Tuấn Cảnh, 1999)
kinh tế xã hội nông thôn có mối quan hệ biện chứng Tác động này biểu hiện rõ hơn trong mối quan hệ giữa việc bảo vệ và phát huy các giá trị thiên nhiên, giá trị văn hóa Phát triển du lịch nói chung và du lịch làng nghề nói riêng tác động trực tiếp và gián tiếp đến phát triển của các làng nghề, đó là doanh thu từ du lịch dịch vụ được
sử dụng trong mọi hoạt động kinh tế xã hội ở nông thôn, khôi phục các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, kéo theo sự phát triển của các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực còn có những tác động tiêu cực do phát triển du lịch mang lại đến các làng nghề Nguyên nhân chính của những tác động tiêu cực là do quản lý khai thác tài nguyên chưa chặt chẽ, chưa thống nhất Do vậy, cần quản lý khai thác tài nguyên hợp lý Nếu khai thác phù hợp với khả năng lợi thế, tài nguyên sẽ tác động tích cực đến nền kinh tế xã hội nói chung và của các làng nghề nói riêng Nếu quản lý khai thác không phù hợp, không thống nhất sẽ có những tác động ngược lại
Trang 22Như vậy, có thể thấy, làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thông, được tạo nên bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhấy định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống từ nguồn thu chủ yếu từ nghề thủ công, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa
Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát triển theo yêu cầu phân công lao động và chuyên môn hóa, nhắm đáp ứng nhu cầu phát triển của nông thôn Các làng nghề truyền thống cũng chịu sự tác động mạnh
mẽ của nền nông nghiệp và nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của văn hóa lúa nước, và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ, tự cấp tự túc
Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng có đại đa số người chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó Tiêu chí để xem một cách cụ thể đối với làng nghề điển hình là: Số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề chiếm từ 40 – 50%; thu nhập từ nghề thủ công chiếm > 50% tổng giá trị sản lượng của làng (Bùi Văn Vượng, 2002)
Tuy nhiên, những tiêu chí này chỉ có ý nghĩa tương đối về mặt định lượng Hiện nay, mỗi làng nghề có sự khác nhau về quuy trình công nghệ, tính chất sản
Trang 23phẩm và số người tham gia vào quy trình sản xuất Do vậy, sự phát triển của các làng nghề thường khác nhau và có sự biến động khác nhau trong từng thời kỳ Hiện nay, khái niệm làng nghề đã được mở rộng hơn, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ và sự phân công lao động Khái niệm làng nghề không chỉ bó hẹp ở những làng chỉ có các hộ chuyên làm nghề thủ công Điều này
có thể được hiểu ở hai góc độ: Thứ nhất: Công nghệ sản xuất không hoàn toàn là công nghệ thủ công như trước đây, mà ở nhiều làng nghề đã có áp dụng công nghệ
cơ khí và bán cơ khí Thứ hai: trong các làng nghề, khi sản xuất phát triển ở mức
độ cao hơn thì sẽ làm nảy sinh sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhằm phục
vụ cho nó do vậy, sẽ xuất hiện nhiều người chuyên làm dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ và các cơ sở chuyên làm nghề thủ công Từ
đó, hình thành những làng nghề mới với mô hình kết hợp nhiều nghề, điển hình là
mô hình kết hợp Nông – công – thương – dịch vụ
Như vậy, khái niệm làng nghề có thể hiểu là những làng nông nghiệp có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông
* Làng nghề thủ công truyền thống:
Khái niệm làng nghề thủ công truyền thống được khái quát dựa trên hai khái niệm nghề thủ công truyền thống và làng nghề Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ,
có cùng tổ nghề và các thành viên luôn có ý thức tuân thủ những chế ước xã hội và gia tộc Sự liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phường nghề, trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển nghề nghiệp đã hình thành ngay trên đơn vị cư trú, làng xóm truyền thống của họ
Trong khái niệm trên, làng nghề thủ công chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp Tuy nhiên, trong đà phát triển kinh tế hiện nay thì khu vực dịch vụ lại đóng vai trò quan trọng và trở thành lĩnh vực chiếm ưu thế về mặt tỷ trọng ở hầu hết các
Trang 24nước có nền kinh tế phát triển Chính vì vậy, nghề buôn bán dịch vụ ở nông thôn cũng được xếp vào các làng nghề Do đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng khu vực làng nghề
sẽ có làng một nghề, làng nhiều nghề, có làng truyền thống, làng nghề mới
Qua nghiên cứu thực tế và tìm hiểu về làng nghề, chúng ta có thể đưa ra một
số khái niệm như sau:
- Làng một nghề là làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, các nghề khác chỉ có ở một vài hộ hoặc không đáng kể
- Làng nhiều nghề là những làng nghề xuất hiện và tồn tại nhiều nghề, có tỷ trọng các nghề chiếm ưu thế gần tương đương nhau
- Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch
sử và tồn tại cho đến ngày nay, như làng gốm Bát Tràng, làng gỗ Đồng Kỵ (Bắc Ninh)
- Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường
Như vậy, làng nghề thủ công truyển thống là một kiểu làng nghề truyền thống, thường có nhiều người dân làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề lâu đời theo kiểu cha truyền con nối
Hiện nay, trên cả nước có khoảng hơn 300 làng nghề thủ công truyền thống,
nó phát triển và phân bố rộng khắp các địa phương Có sự phân bố này là nhằm khai thác và phát huy các thế mạnh đặc thù của từng vùng, miền để từ đó góp phần đa dạng hóa những sản phẩm và tạo ra những giá trị độc đáo riêng Do vậy, chúng có những đặc trưng và vai trò nhất định
b Du lịch làng nghề
hiểu thông thường về “du lịch làng nghề”rằng đó là một loại hình du lịch thuộc nhóm các loại hình được phân loại theo môi trường tài nguyên Vấn đề đặt ra là làng nghề thuộc loại môi trường tài nguyên du lịch nào Việc làm rõ vấn đề này giúp ta xác định du lịch làng nghề thuộc loại hình du lịch nào
Trang 25Theo Phạm Quốc Sử (2007), làng nghề nhìn từ góc độ du lịch có mấy điểm cần được lưu ý:
- Thứ nhất, làng nghề thuộc khu vực nông thôn/ thôn quê (hiển nhiên là như vậy)
- Thứ hai, nét nổi trội của làng nghề là tài nguyên nhân văn (hay văn hoá) với
những tinh hoa công nghệ truyền thống (thể hiện ở thao tác của nghệ nhân, ở các sản phẩm thủ công được chế tác tinh khéo…), những di tích lịch sử văn hoá như miếu thờ tổ nghề, đình, chùa, đền…(do có điều kiện kinh tế nên thường được xây dựng với quy mô lớn), những cảnh quan hài hoà giữa vẻ đẹp tự nhiên và nhân văn (cánh đồng, con đê, dòng sông, những cây cổ thụ,…), những phong tục, tập quán, sinh hoạt lễ hội…Điều đáng nói là tài nguyên nhân văn làng nghề thường mang sắc thái đặc thù bởi truyền thống công nghệ mà làng đang nắm giữ Bởi thế, khác với những chuyến du khảo đồng quê thông thường, đến với mỗi làng nghề, du khách có thể phát hiện thêm những điều mới mẻ trên hành trình du lịch của mình
- Thứ ba, đến với làng nghề cũng là đến với một cảnh quan thiên nhiên như
bến nước, dòng sông (các làng nghề truyền thống thường nằm ven sông, tuyến giao thông chủ yếu của cư dân vùng sông nước), bờ bãi, núi đồi (các làng trung du)…
- Thứ tư, đối với những người sống ở đô thị hiện đại, đến với làng nghề cũng
là đến với một môi trường sinh thái, mà ở đó cuộc sống được cảm nhận như chậm lại, tâm hồn trở nên thư thái hơn Khung cảnh và nhịp sống thôn quê giúp cho du khách “cân bằng” lại trạng tái tinh thần của mình
Nếu phân tích làng nghề từ những khía cạnh trên, thì du lịch làng nghề thể hiện tính chất của ít nhất ba loại hình du lịch:
- Du lịch nông thôn (hay đồng quê, thôn quê)
- Du lịch văn hoá
- Du lịch sinh thái (Phạm Quốc Sử, 2007)
Riêng đối với du lịch sinh thái, mặc dù đã có ý kiến cho rằng đó không phải
là một loại hình du lịch, mà là một quan điểm phát triển du lịch nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng xấu của hiện tượng này đến môi trường tự nhiên (Phạm Quốc Sử, 2007, tr65) Song theo tôi, du lịch sinh thái vừa có thể hiểu là một quan điểm phát triển du lịch (như ý kiến nêu trên), vừa có thể sử dụng để gọi tên
Trang 26một loại hình du lịch như cách hiểu thông thường Điều cần nói là tính chất du lịch sinh thái ở du lịch làng nghề không hoàn toàn đậm chất tự nhiên (như ở rừng núi, hải đảo…), mà lại đậm chất nhân văn (hay trội chất nhân văn, văn hoá) Do đó, có thể xếp du lịch làng nghề thuộc vào loại hình du lịch sinh thái nhân văn, nhằm mục đích nhấn mạnh hơn tính chất nhân văn/văn hoá của loại hình du lịch này (Phạm Quốc Sử, 2003, tr61-77) Tuy nhiên, với du lịch làng nghề (hay du lịch sinh thái nhân văn làng nghề), quan điểm phát triển du lịch nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng xấu của hiện tượng này đến môi trường tự nhiên (như đã dẫn trên) cũng hoàn toàn đúng và cần thiết phải được quán triệt trong toàn bộ quá trình khai thác du lịch
Như vậy, theo chúng tôi, du lịch làng nghề là một loại hình du lịch sinh thái nhân văn được tiến hành tại các làng nghề tiêu biểu, mà ở đó còn lưu giữ tương đối nguyên vẹn những di sản văn hoá làng xã truyền thống (di tích lịch sử văn hoá, phong tục, lễ hội…), đặc biệt là truyền thống công nghệ cổ, thông qua những nghệ nhân tài giỏi Đến với mỗi làng nghề, du khách sẽ được khám phá và thẩm nhận những giá trị văn hoá vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa độc đáo, vừa mang tính đặc thù địa phương Ngoài sự chứng kiến tận mắt những thao tác công nghề do các thợ thủ công thực hiện, du khách có thể được tìm hiểu sâu thêm về truyền thống công nghệ ở các nghệ nhân, có thể mua đồ lưu niệm là những sản phẩm công nghệ với giá cả phải chăng, có thể tìm kiếm cơ hội đầu tư, hợp tác kinh doanh (nếu là du khách thương gia), đồng thời đó cũng là dịp để du khách lấy lại sự cân bằng về tinh thần sau những bức xúc, căng thẳng do nếp sống công nghiệp và cuộc sống đô thị gây ra Thông qua chuyến viếng thăm làng nghề, du khách sẽ thu lượm được nhiều nhất những giá trị văn hoá Việt Nam và truyền thống (bởi tính điển hình của làng nghề), và có thể hiểu sâu sắc hơn về đất nước và con người Việt Nam
***
Du lịch làng nghề là loại hình du lịch đặc thù của phương Đông:
Trước khi khẳng định du lịch làng nghề là một đặc thù của phương Đông, mà cụ thể hơn là của Châu Á, chúng ta buộc phải tìm hiểu kỹ hơn về làng
Trang 27Làng (village), hay cộng động làng (village community), thường được giới nghiên cứu gọi bằng thuật ngữ khoa học là công xã nông thôn Thực chất, làng chỉ
là hình thức tổ chức xã hội cộng đồng theo địa vực ở nông thôn còn chứa đựng nhiều tàn cư của chế độ công xã Điều đó có nghĩa là Làng không chỉ chứa đựng những yếu tố công xã, mà còn có những yếu tố khác, đặc biệt là yếu tố tư hữu vốn
đã nảy sinh từ rất sớm (như các tài sản tư hữu mà mỗi gia đình thành viên công xã đều có, đó là nhà cửa, ao vườn…) Quy luật tất yếu của sự phát triển đó là chế độ công xã từng bước giải thể, còn tất yếu của sự phát triển đó là chế độ công xã từng bước giải thể, còn yếu tố tư hữu (đặc biệt là chế độ ruộng đất tư) ngày càng chiếm
ưu thế Vấn đề là chỗ, ở đâu mà tàn dư của chế độ công xã (của công xã nông thôn) còn đậm nét thì ở đó đời sống cộng đồng còn bền chặt, và làng xã nông thôn sẽ nổi lên như những mảng chính trong bức tranh toàn cảnh xã hội nơi đó
xã nông thôn Nhờ thành quả nghiên cứu của các ông, chúng ta biết được rằng chế
độ công xã ở phương Tây bị giải thể sớm và triệt để hơn rất nhiều so với chế độ công xã ở phương Đông, còn chế độ công xã ở phương Đông thì ngược lại, giải thể muộn hơn rất nhiều và không triệt để
Do vậy, phương Tây hiện đại về cơ bản đã không còn làng Quá trình đô thị hoá mạnh mẽ đã thủ tiêu gần như toàn bộ cơ cấu tổ chức xã hội cộng đồng này Làng không còn, thì đương nhiên làng nghề cũng không tồn tại, do vậy cũng không thể có loại hình du lịch làng nghề
Thế nhưng, cũng cần phải hiểu rằng, nếu ở phương Tây, làng còn tồn tại thì cũng sẽ không có làng nghề Lý do là ở phương Tây, các hoạt động thủ công không phát triển ở làng
Ở các nước phương Đông, chế độ công xã tồn tại khá bền vững Sự tồn tại chế độ sở hữu ruộng đất công chính là nguyên nhân làm cho chế độ công xã được bảo lưu dai dẳng, ngay cả trong trường hợp tư nhân và những tác động của nền kinh
tế hàng hoá-tấn công mạnh vào nó (sở hữu công xã)
những lề thói trong quan hệ ứng xử, những tập tục cố hữu mang tính cộng
Trang 28đồng…trong thế đan cài và cạnh tranh (không phân thắng bại) với những yếu tố tư hữu đã tạo ra cho làng xã phương Đông một cơ cấu rất bền chặt, đậm chất nông nghiệp, giàu tính cộng đồng và với một sức sống trường cửu cho đến tận hôm nay Điều cuối cùng cần phải lý giải đó là tại sao ở các nước phương Đông, châu Á, nhất là ở Việt Nam-một quốc gia nông nghiệp lúa nước điển hình, các nghề thủ công lại tập trung ở làng Trên thực tế, ở Việt Nam cho đến nay, sản xuất làng nghề (thủ công nghiệp làng xã) vẫn hoàn toàn chiếm ưu thế so với thủ công nghiệp thành thị
một khối vĩ đại, chiếm ưu thế tuyệt đối so với thành thị Chức năng chính của nông thôn là sản xuất nông nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu lương thực, thực phẩm và các nông phẩm khác cho toàn xã hội Điều đó cũng có nghĩa là những hoạt động kinh tế còn lại (thủ công nghiệp, công nghiệp, buôn bán, trao đổi hàng hoá) nhằm đáp ứng nhu cầu cho toàn xã hội phải do thành thị đảm nhiệm Thế nhưng, các đô thị cổ châu Á đã không hoàn toàn đảm đương được vai trò công-thương của nó Vai trò công-thương của các đô thị cổ Đông Nam Á, đặc biệt là đô thị cổ Việt Nam còn yếu kém hơn Một khi thành thị chỉ đảm nhận được một phần nhỏ vai trò công-thương, thì phần còn lại cho các làng nghề (và làng buôn) gánh vác Bởi thế, có nhà nghiên cứu đã cho rằng làng nghề (ở nước ta) là biểu hiện của sự “hoà tan” thành thị vào nông thôn (Phan Đại Doãn) Chính sự đảm nhận thêm vai trò công-thương đã khiến cho các làng nghề và làng buôn trở thành những chiếc van đóng-mở của khối nông thôn vĩ đại; khiến cho làng xã càng trở thành những chiếc van đóng-mở của khối nông thôn vĩ đại; khiến cho làng xã càng trở nên bền vững Chính vì lẽ đó mà làng nghề đã nổi lên như một hiện tượng đặc thù và độc đáo của Việt Nam nói riêng
và châu Á, phương Đông nói chung
hoạt động du lịch diễn ra tại các làng nghề cũng mang tính đặc thù Phải chăng, đây
là một thế mạnh của du lịch Việt Nam và các quốc gia cùng châu lục
2.1.3 Các hoạt động phát triển du lịch làng nghề
2.1.3.1 Ban hành các chính sách phát triển DLLN
Trang 29Ban hành các chính sách du lịch làng nghề thông thoáng, phù hợp sẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển du lịch, đồng thời hướng sự phát triển của
du lịch phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng, phù
hợp với những đặc điểm và điều kiện cụ thể của các làng nghề
2.1.3.2 Hoạt động thống kê, đánh giá tài nguyên du lịch làng nghề
Đánh giá tài nguyên nhằm xác định thực trạng tài nguyên và xem xét các yếu
tố liên quan đến sức hút của tài nguyên du lịch làng nghề, sự thuận lợi hay ít thuận lợi trong quá trình phát triển du lịch làng nghề Phát triển du lịch trước hết phải xác định được sức hút của tài nguyên Muốn biết điểm du lịch đó có sức hút du lịch hay không thì cần phải xác định được các yếu tố cơ bản tạo nên sứt hút du lịch tại điểm
du lịch đó Các yếu tố liên quan đến sức hút du lịch phải được xác định ở từng góc
độ ảnh hưởng khác nhau khi tiến hành khai thác phát triển du lịch, bao gồm các yếu
tố sau:
- Đánh giá độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch:
Đánh giá qua các chỉ tiêu: vẻ đẹp của phong cảnh, sự phù hợp của tài nguyên, sự thích nghi của khí hậu, sự độc đáo của tài nguyên du lịch
- Đánh giá môi trường ở các làng nghề:
Đánh giá về tình trạng môi trường ở làng nghề, có bị ô nhiễm, phù hợp với việc phát triển du lịch hay không?
- Đánh giá về vị trí và khả năng tiếp cận:
Vị trí của làng nghề có thuận lợi và dễ dàng cho du khách tiếp cận? Có sự liên kết với các tuyến điểm du lịch khác?
- Đánh giá về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật:
Thực trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật có đáp ứng được yêu cầu trong phát triển du lịch, có khả năng cung ứng được dịch vụ cho du khách?
2.1.2.2 Hoạt động quảng cáo, xúc tiến DLLN
Cũng như bất kỳ ngành sản xuất kinh doanh nào, đối với ngành du lịch nói chung và DLLN nói riêng, hoạt động xúc tiến, quảng bá có ý nghĩa to lớn trong quá trình hoạt động sản xuất của ngành Đặc biệt, hơn thế nữa ngành du lịch làng nghề
Trang 30còn có những đặc điểm riêng như: yếu tố lao động sống trong sản phẩm chiếm phần lớn, sản phẩm dịch vụ du lịch đại đa số là vô hình…
Trong thời điểm hiện nay, cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt thì hoạt động xúc tiến quảng bá cũng có ảnh hưởng đến mức doanh thu của ngành cũng như hiệu quả xã hội của tổ chức kinh doanh du lịch
ta có thể nhận thấy rằng với tư cách là một người tiêu dùng sản phẩm du lịch, khách
du lịch sẽ đứng trước hàng loạt những sự lựa chọn khác nhau về sản phẩm du lịch Chính vì vậy, khách du lịch sẽ phải thực hiện xử lý thông tin sơ cấp thu được từ những sản phẩm du lịch khác nhau để đánh giá, lựa chọn những sản phẩm phù hợp với họ nhất; sau đó, khách du lịch mới tiếp nhận và tiếp tục quá trình quyết định mua Từ đây, ta nhận thấy rằng chất lượng của kênh thông tin đóng vai trò quan trọng như thế nào? Một kênh thông tin tốt phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Chính vì vậy, vấn đề của người làm marketing là phải xem xét các nguồn thông tin và nghiên cứu xem loại thông tin nào là phù hợp với sản phẩm Các nguồn thông tin được khách du lịch khai thác từ nhiều đối tượng Vấn đề ở đây là các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực du lịch phải chủ động gửi được các thông tin tới tận người tiêu dùng Nói rộng hơn, để thực hiện được những mục tiêu của ngành du lịch thì bản thân ngành du lịch phải có những hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch Như vậy, xúc tiến, quảng bá du lịch là gì? Nó bao gồm những nội dung gì và thực hiện nó như thế nào?
* Lý thuyết chung về xúc tiến, quảng bá du lịch
- Xúc tiến du lịch có thể hiểu theo cách đơn giản là xúc tiến bán và những hoạt động thúc đẩy sự giao lưu thông tin giữa bộ phát (người bán) và bộ thu (người mua) nhằm tác động đến thái độ và hành vi của ngươì mua Xúc tiến du lịch là một trong những chiến lược của chiến lược marketing - mix trong marketing dịch vụ
Chiến lược xúc tiến du lịch có thể gọi là chiến lược giao tiếp và xúc tiến bán Hoạt động giao tiếp và xúc tiến hướng vào các mục tiêu như làm tăng sự nổi bật (uy tín, danh tiếng) của dịch vụ, kích thích thử tiêu dùng dịch vụ hiện tại và dịch
vụ mới…
Trang 31Xúc tiến, quảng bá du lịch là nỗ lực từ phía doanh nghiệp, từ phía các cơ quan chức năng, bằng mọi công cụ thông tin ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ nhằm cung cấp thông tin cho khách du lịch tiềm năng về sản phẩm du lịch của doanh nghiệp, của quốc gia Xét ở khía cạnh khác, xúc tiến du lịch còn là những thông điệp gửi tới dân cư sở tại nhằm nâng cao nhận thức của họ trong việc gìn giữ, bảo vệ tài nguyên
du lịch, khơi dậy lòng mến khách đối với khách du lịch là người ngoài địa phương
- Quảng bá du lịch có thể hiểu trên hai khía cạnh
1) Với mục đích văn hoá thuần tuý: quảng bá là hoạt động nhằm giới thiệu
về đất nước, con người, truyền thống dân tộc v.v… tới khách du lịch và đồng thời khơi dậy lòng yêu quê hương đất nước của mọi người
2) Với mục đích kinh tế: quảng bá là hoạt động quảng cáo sản phẩm du lịch tới khách du lịch, thu hút khách du lịch…
-
Về mục tiêu của xúc tiến quảng bá du lịch, DLLN:
- Xúc tiến quảng bá du lịch nhằm góp phần chuyển biến và nâng cao nhận thức của các ngành, địa phương và toàn thể xã hội về du lịch, DLLN, đưa du lịch trở thành sự nghiệp của toàn dân
- Xúc tiến quảng bá du lịch nhằm nâng cao hình ảnh của Việt Nam nói chung
và du lịch làng nghề nói riêng trong khu vực và thế giới
- Xúc tiến quảng bá du lịch nhằm nâng cao số khách du lịch tại Việt Nam, nâng cao số lượng du khách đến với các làng nghề
Trên quan điểm kinh tế, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch có vai trò và tác dụng thuyết phục khách du lịch và thu hút họ đi du lịch tại nơi có dịch vụ du lịch Trên
cơ sở đó, các doanh nghiệp, các nhà cung ứng dịch vụ thoả mãn đầy đủ những nhu cầu của khách từ đó tạo điều kiện cho việc khai thác tốt nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật, lực lượng lao động, làm tăng khối lượng sản phẩm bán ra… đặc biệt là tăng giá trị xuất khẩu tại chỗ, tăng lợi nhuận và đạt hiệu quả kinh tế cao
Trên quan điểm văn hoá - xã hội, xúc tiến quảng cáo tác động theo hai hướng Đối với khách du lịch, hoạt động này góp phần làm cho du khách hiểu hơn
về đất nước, con người, bề dày lịch sử, cảnh quan thiên nhiên, môi trường, văn hóa
Trang 32ở các làng nghề nói riêng và ở Việt Nam nói chung… Từ đó làm tăng thêm mối quan hệ hữu nghị giữa các vùng miến, các dân tộc, các quốc gia Đối với dân địa phương, hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của họ về du lịch, thấy được tầm quan trọng của du lịch từ đó nâng cao lòng mến khách, giữ gìn môi trường sống và cảnh quan thiên nhiên ở các làng nghề
2.1.2.3 Hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ phát triển DLLN
Cũng như bất kỳ một ngành kinh tế nào khác, kinh tế du lịch cũng bao gồm hai nguồn nhân lực chính, đó là nguồn nhân lực hoạt động trực tiếp và nguồn nhân lực hoạt động gián tiếp trong ngành du lịch Trong đó nguồn nhân lực hoạt động trực tiếp giữ vai trò quyết định sự thành công của ngành kinh tế quan trọng này Nguồn nhân lực trực tiếp hoạt động trong ngành du lịch, bao gồm:
- Những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch Đây
là đối tượng đầu tiên phải kể đến trong kinh tế du lịch của một đất nước đang chuyển hướng trên bước đường xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước Nguồn nhân lực này làm việc trong các
cơ quan chuyên ngành của Chính phủ, các Bộ, ngành của Trung ương và địa phương Trước hết phải kể đến các cán bộ chuyên môn thuộc Bộ Văn hóa ,Thể thao
và Du lịch Các cá nhân và tập thể làm việc tại Tổng cục Du lịch, các bộ phận chuyên trách thuộc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Những người trực tiếp đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho ngành du lịch Đây là một bộ phận đông đảo trong các trường đại học, cao đẳng, trung học nghề của ngành Du lịch, các khoa Du lịch trong hệ thống các trường Đại học và cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên toàn quốc Với nhiều qui mô và cấp độ đào tạo khác nhau, các cơ sở đào tạo đang là cơ sở đầu tiên đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực đa dạng, chất lượng cao cho kinh tế du lịch của đất nước
-Những người làm việc trực tiếp trong ngành du lịch: bao gồm toàn bộ cán
bộ công nhân viên ở tất cả các bộ phận khác nhau nằm trong các công ty du lịch, các hãng lữ hành, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên toàn quốc Những
Trang 33người trực tiếp kinh doanh du lịch ở các vị trí khác nhau của ngành kinh tế trọng điểm này của đất nước Toàn bộ những người làm việc ở các vị trí khác nhau trong
5 lĩnh vực kinh doanh du lịch là những người lao động trực tiếp, bao gồm: Những người làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh lữ hành Những người làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh lưu trú Những người làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh vận chuyển khách du lịch Những người làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh các dịch vụ bổ trợ Những người làm việc trong các doanh nghiệp Kinh doanh khu du lịch, đô thị du lịch
- Những người làm các công việc khác nhau tại các tuyến điểm du lịch Tại các tuyến điểm này, để phục vụ hoạt động du lịch có rất nhiều các công việc khác nhau đòi hỏi nhiều người làm việc trong các dịch vụ có liên quan đến hoạt động du lịch: từ các nhân viên bảo vệ, những người bán và kiểm soát vé, những người cung ứng các dịch vụ lưu niệm, dịch vụ ẩm thực, nghỉ ngơi, giải trí, lưu trú ngắn… đến những người làm công tác điều phối và quản lý giao thông, vệ sinh môi trường, thu gom và xử lý rác thải.v.v…
- Những cá nhân và tổ chức làm công tác nghiên cứu ở các hình thái và cấp
độ khác nhau mà nội dung và kết quả nghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến ngành du lịch: các Viện nghiên cứu phát triển du lịch; các cơ quan kiến trúc, qui hoạch, đầu tư
-Những người hoạt động trong các lĩnh vực thông tin – truyền thông bao gồm các cơ quan báo chí, đài phát thanh, truyền hình, các nhà xuất bản… mà nội dung thông tin đăng tải do họ cung cấp có liên quan, phục vụ hoạt động du lịch
- Những người làm ở các khâu công việc mà có liên quan đến việc xuất nhập cảnh của du khách: các cơ quan ngoại giao, các nhân viên tại các cửa khẩu, các nhân viên an ninh, biên phòng, hải quan, thuế vụ, kiểm dịch.v.v… Tất cả nguồn nhân lực du lịch hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp đều cần phải được đào tạo với các cấp độ và yêu cầu khác nhau Việc đào tạo đóng vai trò quyết định sự phát triển của ngành kinh tế dịch vụ đặc biệt quan trọng này
Ở Việt Nam, hoạt động đào tạo nguồn nhân lực du lịch nói chung và DLLN nói riêng được diễn ra bằng những hình thức sau đây: Đào tạo gián tiếp & Đào tạo
Trang 34trực tiếp Đào tạo gián tiếp thông qua công tác tuyên truyền, quảng bá qua các chương trình thông tin truyền thông của các cơ quan thông tin đại chúng Xuất bản
và cung cấp các ấn phẩm dưới nhiều hình thức khác nhau, các chương trình phát thanh truyền hình để cung cấp phổ biến kiến thức, tuyên truyền đường lối chính sách, pháp luật, nâng cao nhận thức chuyên môn nghiệp vụ; gợi ý và định hướng ý tưởng kinh doanh… Đào tạo trực tiếp nguồn nhân lực du lịch tại các cơ sở đào tạo nghề và việc đào tạo lại, đào tạo bổ sung tại các doanh nghiệp trong ngành du lịch với nhiều hình thức khác nhau như tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn và dài hạn, các lớp tập huấn, bồi dưỡng, bổ túc và cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên môn
2.1.2.4 Hoạt động xây dựng CSHT, cải tạo TNDL
Cơ sở hạ tầng có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh phát triển du lịch Hoạt động xây dựng, cải tạo CSHT, TNDL bao gồm:
- Xây dựng, cải thiện mạng lưới và phương tiện giao thong vận tải: Đây là những yếu tố quan trọng hàng đầu
phụ thuộc chặt chẽ vào giao thong vận tải Một đối tượng có sức hấp dẫn đối với du lịch nhưng không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vận tải Thông qua mạng lưới giao thông thuận lợi, nhanh chóng du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội
Giao thông là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế, tuy nhiên hiện nay đã có một số phương tiện giao thông được sản xuất với mục đích chủ yếu phục vụ du lịch
- Cải thiện hệ thống thông tin liên lạc: Thông tin liên lạc là một bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Nó là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế
thông vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiệm việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện mối giao lưu giũa các vùng trong phạm vi cả nước và quốc tế
- Xây dựng, cải thiện các công trình cung cấp điện, nước: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên…Khi rời khỏi nơi cư trú thường
Trang 35xuyên đến một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn, ở, uống, đi lại…du khách còn có nhu cầu đảm bảo về điện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường Cho nên yếu tố điện, nước cũng là một trong những nhân tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi giải trí của khách
- Xây dựng, cải thiện cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Cơ sở vật chất kỹ thuật
du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch
2.1.2.5 Hoạt động liên kết, phát triển mạng lưới DLLN:
xã hội hóa cao, du lịch làng nghề cũng mang tính chất đó Địa phương muốn phát triển du lịch làng nghề nhất thiết phải có sự kết nối với cơ quan trung ương và địa phương khác để cùng khai thác phát triển các sản phẩm du lịch làng nghề truyền thống của mình
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch làng nghề
Du lịch nói chung và du lịch làng nghề nói riêng có đặc điểm cơ bản là dễ đầu tư khai thác để phát triển đa dạng các loại hình du lịch Tuy nhiên, có những TNDL không có điều kiện trở thành sản phẩm du lịch bởi nhiều nguyên nhân trong quá trình khai thác, quản lý và phát triển nó trở thành sản phẩm du lịch Vì vậy, vấn
đề quan trọng là xác định các yếu tố tác động đến quá trình khai thác, quản lý TNDLLN để tạo thành các sản phẩm du lịch đã được đặt ra
Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch làng ngề:
- Chính sách phát triển du lịch làng nghề của Nhà nước, của tỉnh:
Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển suy vong của các làng nghề hay du lịch làng nghề Làng nghề phát triển là điều kiện cần nhưng chưa đủ để du lịch làng nghề phát triển…
Chính sách du lịch làng nghề thông thoáng, phù hợp sẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển du lịch, đồng thời hướng sự phát triển của du lịch phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng, phù hợp với những đặc điểm và điều kiện cụ thể của các làng nghề Chính sách và chủ trương của Chính phủ tạo thuận lợi cho phát triển du lịch làng nghề, sẽ tạo ra việc làm cho cư dân địa phương và nâng cao đời sống của họ Một cơ chế, chính sách đúng sẽ vừa
Trang 36khuyến khích khai thác được tiềm năng du lịch một cách bền vững vừa bảo đảm đời sống của cư dân địa phương
Du lịch nói chung và DLLN nói riêng chỉ phát triển khi nó có được một cơ chế chính sách hợp lý và pháp luật đồng bộ Đó là nghiên cứu kế hoạch đầu tư và khuyến khích đầu tư, cơ chế xúc tiến quảng bá, cơ chế phối hợp và phân chia một cách hài hòa lợi ích giữa người dân địa phương với các cơ quan quản lý, các công ty
lữ hành, cơ chế mà qua đó hoạt động du lịch tạo điều kiện cho người dân địa phương bảo vệ môi trường, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
- Chất lượng tài nguyên du lịch:
Chất lượng TNDL thể hiện ở một số yếu tố như: độ hấp dẫn của tài nguyên,
sự thích nghi của khí hậu với phát triển du lịch, sự đặc sắc và độc đáo của các sản phẩm làng nghề, môi trường ở làng nghề…)
Tài nguyên du lịch là điều kiện cần để phát triển du lịch, hình thành nên các điểm du lịch Một quốc gia, một vùng dù có nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phát triển cao nhưng nếu không có tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát triển được du lịch
Độ hấp dẫn thể hiện chất lượng của các tài nguyên Nên việc khai thác du lịch nói chung và DLLN nói riêng trước hết phải quan tâm đến độ hấp dẫn của TNDL đó và mức độ hấp dẫn đến đâu, hấp dẫn ở khía cạnh nào để từ đó khai thác, phát triển một cách hiệu quả
Môi trường cũng là yếu tố liên quan đến chất lượng TNDL: Môi trường là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động phát triển du lịch Đây cũng
là yếu tố để nảy sinh trong quá trình khai thác, phát triển du lịch Tài nguyên và môi trường du lịch luôn là các yếu tố song hành thu hút được sự quan tâm trong hoạt động du lịch
- Nguồn vốn triển khai thực hiện các hoạt động phát triển du lịch:
Nguồn vốn cho các hoạt động phát triển du lịch có vai trò quan trọng trong phát triển du lịch Có nguồn vốn mới thực hiện được các hoạt động đầu tư cho du lịch Một số hoạt động đầu tư du lịch như:
Trang 37+ Đầu tư hạ tầng du lịch, nâng cấp hệ thống đường và cầu cảng, tuyến đường
du lịch và tăng nhanh các phương tiện vận chuyển cho phép mau chóng khai thác được các nguồn tài nguyên du lịch mới
+ Đầu tư các dự án phát triển du lịch và dịch vụ; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như cơ sở lưu trú du lịch, mạng lưới cửa hàng ăn uống, các trung tâm vui chơi giải trí…
Các khu du lịch, điểm du lịch cần được đầu tư có trọng điểm để thu hút các dự
án đầu tư khác
- Đội ngũ, cán bộ nhân viên phục vụ DLLN:
Đào tạo nguồn nhân lực du lịch là những hoạt động nhằm tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc của lực lượng lao động đang và sẽ làm việc trực tiếp trong ngành du lịch, bao gồm: lao động thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các đơn vị sự nghiệp trong ngành từ trung ương đến địa phương; lao động trong các doanh nghiệp du lịch gồm đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh, đội ngũ lao động nghiệp vụ trong các khách sạn - nhà hàng, công ty lữ hành, vận chuyển du lịch; lao động làm công tác đào tạo du lịch trong các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học
Vấn đề đặt ra đối với hệ thống đào tạo du lịch cần phải mở rộng tăng cường đào tạo lao động ở các trình độ khác nhau, từ sơ cấp, trung cấp, đến cao đẳng, đại học và sau đại học chuyên về du lịch Ngoài ra, đối với lực lượng lao động gián tiếp phục vụ du lịch thì hệ thống giáo dục quốc dân cũng đáng lưu tâm để tập trung đào tao một lực lượng lao động đông đảo cần được đào tạo về rất nhiều ngành khác nhau: văn hoá, giao thông (đường không, thuỷ, bộ, sắt), môi trường, tài chính, bảo hiểm…
- Vị trí và khả năng tiếp cận:
Vị trí và khả năng tiếp cận có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút khách du lịch Nếu TNDL có vị trí thuận lợi (cạnh trục giao thông và quốc lộ lớn), chất lượng đường tốt, giảm bớt thời gian và chi phí đi lại thì đương nhiên sẽ thu hút được
Trang 38khách du lịch nhiều hơn Có thể nói vị trí tài nguyên cũng là một trong những giá trị
vô hình để thu hút khách, cho nên khi khai thác tài nguyên phát triển du lịch cần quan tâm đến yếu tố vị trí tiếp cận của tài nguyên
2.2 Cơ sở thực tiễn khai thác và phát triển du lịch làng nghề
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển DLLN ở các nước trên thế giới:
Kinh nghiệm khai thác, quản lý DLLN ở Thái Lan:
Việc tổ chức lại các làng nghề truyền thống ở Thái Lan đã tạo ra giá trị nhiều mặt: bảo tồn và nâng cao kỹ năng tay nghề nghệ nhân, gìn giữ văn hóa truyền thống, tạo công ăn việc làm ở nông thôn ngăn chặn làn sóng di cư vào đô thị, tạo ra sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm du lịch
Thái Lan có khoảng 70.000 làng nghề thủ công, nhưng vấn đề về chất lượng sản phẩm như kể trên khiến sản phẩm thiếu sức thuyết phục với thị trường
Để khai thác kỹ năng của các làng nghề truyền thống ở miền bắc Thái Lan, tạo ra thêm thu nhập, giải quyết lao động địa phương, từ năm 2001, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện dự án OTOP (One Tambon One Product: mỗi làng nghề một sản phẩm) Đây là chương trình chiến lược từ sáng kiến của Cục xúc tiến xuất khẩu (DEP) thuộc Bộ Thương mại Thái Lan Mỗi làng nghề một sản phẩm không có nghĩa là mỗi làng chỉ có một sản phẩm mà mỗi làng có kỹ năng, văn hóa, truyền thống riêng kết tinh trong sản phẩm trở thành đặc trưng riêng của làng nghề trong sản phẩm Chính phủ hỗ trợ kết nối địa phương với toàn cầu, thông qua việc hỗ trợ tiêu chuẩn hóa sản phẩm, hoàn tất đóng gói, tiếp thị, tổ chức kênh phân phối ở hải ngoại Thư ký thường trực Bộ Thương mại Thái Lan, Karun Kittisataporn nói:
"Doanh số các sản phẩm OTOP năm 2003 đạt 30,8 tỉ baht, tăng 13% so năm trước
và dự kiến đạt 40 tỉ baht trong năm nay"
Bộ Thương mại Thái Lan sẽ tổ chức hội chợ ở cả trong nước và quốc tế để tiếp thị Lần hội chợ đầu tiên ở Thái Lan tháng 9.2004 đã có 16 quốc gia tham gia Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra tới dự, phát biểu bằng tiếng Anh không cầm giấy
và rất thuộc bài, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Chính phủ nhằm "kết nối các địa phương Thái Lan với toàn cầu" Năm tới, hội chợ sẽ tổ chức ở Trung Quốc
Trang 39Từ việc tham quan các làng nghề Thái Lan, nếu không có sự tham gia hỗ trợ của Chính phủ, thì tiềm năng của các làng nghề Thái Lan sẽ mai một Có sự tham gia của Chính phủ, thì những tiềm năng đó biến thành tiền đếm được
Ý tưởng ‘mỗi làng một sản phẩm’ (One Village One Product Movement) viết tắt là OVOP được Morihiko Hiramatsu khởi xướng và bắt đầu triển khai ở quận Oita (Nhật Bản) từ năm 1979 Sau đó, một số nước ở Châu Á đã áp dụng mô hình này và được đổi thành OTOP (One Town One Product, hoặc One Tambon One Product), có nghĩa là mỗi thị trấn hay mỗi địa phương một sản phẩm
Những sản phẩm này dựa vào nguồn nguyên liệu ở địa phương, cộng với kỹ năng, kỹ xảo được truyền từ đời này sang đời khác của người dân địa phương để làm ra các loại sản phẩm thủ công đặc trưng của từng địa phương như đồ mỹ nghệ, hàng may mặc, đồ gốm, đồ gia dụng, thực phẩm, vv phục vụ người tiêu dùng, khách du lịch, kể cả xuất khẩu Tùy nơi, hàng hóa mang nhãn hiệu OTOP được chính phủ giảm thuế, hoặc miễn thuế
Trong chương trình một tour du lịch hiện đại, việc đưa du khách đến mua sắm ở những cửa hàng OTOP là việc làm cần thiết Sự phong phú và hấp dẫn của các sản phẩm này đã làm cho du khách không còn thời gian để cân nhắc hầu bao của mình
Thái Lan là nước phát triển OTOP rất thành công Với chính sách khuyến khích và hỗ trợ của cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra, hiện nay ở Thái Lan có khoảng 36.000 mô hình OTOP, mỗi mô hình tập hợp từ 30 đến 3.000 thành viên tham gia Sự phát triển OTOP đã giúp nghề thủ công truyền thống của Thái Lan được duy trì Nó đã giúp cho người dân Thái giải quyết được công ăn việc làm, làm
ra nhiều sản phẩm đặc sắc của từng địa phương, góp phần tăng thu nhập cho người dân tham gia và điều quan trọng là giữ được giá trị tri thức truyền thống trong văn hóa lâu đời của họ Ở Trung Quốc mô hình OTOP cũng đã bắt đầu từ năm 1989 Riêng ở Đài Loan đã có khoảng 100 trung tâm OTOP, làm ra trên 1.000 loại sản phẩm
Thủ tướng Thaksin cho biết chính phủ Thái Lan sẽ tiếp tục giúp các cộng đồng địa phương nâng cao chất lượng sản phẩm theo chương trình OTOP để có thể tăng doanh thu thông qua việc chỉ thị cho các trường đại học mở các phòng vi-tính
Trang 40tạo phần mềm thiết kế các mẫu sản phẩm OTOP, đồng thời lập ra các trang thông tin nhằm giúp khách hàng nước ngoài có thể đặt mua hàng qua mạng Ngoài ra, chính phủ cũng sẽ giúp tổ chức các chuyến du lịch tới các làng nghề để du khách nước ngoài có thể tận mắt thấy được các sản phẩm OTOP được sản xuất như thế nào
Ngoài mục đích phát triển du lịch, một khía cạnh tích cực hơn, mô hình OTOP cần khuyến khích người dân sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn tại chỗ, dựa vào tri trức truyền thống bản địa để làm ra sản phẩm đặc trưng của địa phương mình Ngoài ý nghĩa kinh tế, đây là cách bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên ở địa phương, và giữ gìn tri thức bản địa một cách hiệu quả ***
Nắm trong tay nguồn tài nguyên đặc thù là các làng nghề, các quốc gia châu Á tỏ
ra rất có hiệu quả trong việc đưa nguồn tài nguyên vô giá này vào khai thác du lịch Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan…là những quốc gia đạt nhiều thành tựu trong việc khai thác, phát triển loại hình du lịch làng nghề
sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, mà còn được tới các làng nghề-quê hương của những sản phẩm thủ công nổi tiếng thế giới như rượu Mai Đào, gốm sứ Giang Tây, hàng tơ sợi Khai Phong, Lạc Dương, vải lụa Tô Châu Người ta chưa có được các thống kê cụ thể về số lượng du khách đến thăm các làng nghề Trung Quốc, song có một thực tế là ngành du lịch Trung Quốc đã khai thác rất có hiệu quả thế mạnh này Tại Xứ Nguyên, có những làng nghề mà dân địa phương chuyên dùng một loại cỏ
để bện các đồ vật và tạo nên những lâu đài, thành quách thu nhỏ làm đồ lưu niệm bán tại chỗ cho khách du lịch
Tại Nhật Bản, hoạt động sôi nổi của các làng nghề truyền thống đã có sức hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch Năm 1992, có tới 2640 lượt người của 62 quốc gia, trong đó có Trung Quốc, Malaixi, Anh, Pháp…tới thăm các làng nghề truyền thống Nhật Bản [13, tr122] Đó là chưa kể dòng khách nội địa với số lượng rất lớn từ các đô thị hiện đại đến với các làng nghề trong những tour du khảo thôn
dã cuối tuần
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển DLLN ở Việt Nam