1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

114 1,2K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 1 Bảng 2.1: Thống kê các làng nghề đã được công nhận trên địa bàn tỉnh phân theo địa bàn huyện, thị xã, thành phố Bảng 2.3: Số liệu lao động làm nghề trong số lao

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ THỊ HƯỜNG

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2012

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ VÀ TIỀM NĂNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ Ở NINH BÌNH 11

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ 11

1.1.1 Một số vấn đề về làng nghề và du lịch làng nghề 11

1.1.1.1 Khái niệm làng nghề 11

1.1.1.2 Phân loại làng nghề 13

1.1.1.3 Khái niệm du lịch làng nghề 15

1.1.2 Phát triển du lịch gắn với bảo tồn các giá trị văn hóa làng nghề 17

1.1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát triển du lịch làng nghề 20

1.2 TIỀM NĂNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ Ở NINH BÌNH 21

1.2.1 Khái quát về tỉnh Ninh Bình 21

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên 21

1.2.1.2 Điều kiện xã hội, nhân văn 24

1.2.2 Tài nguyên du lịch làng nghề 27

1.2.2.1 Tổng quan về làng nghề tại Ninh Bình 27

1.2.2.2 Một số làng nghề có khả năng phát triển du lịch 29

Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 37

2.1 THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ 37

2.1.1.Khái quát chung 37

2.1.2 Thực trạng sản xuất kinh doanh 40

2.1.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng làng nghề 43

2.2 THỰC TRẠNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ 45

2.2.1 Công tác tổ chức quản lý du lịch tại các làng nghề 45

2.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 47

2.2.3 Số lượng khách và cơ cấu khách du lịch làng nghề 51

2.2.4 Các hình thức của hoạt động du lịch làng nghề 54

2.2.5 Hệ thống sản phẩm du lịch của các làng nghề 57

2.2.6 Vai trò của du lịch làng nghề Ninh Bình trong phát triển kinh tế - xã hội 61

Trang 3

2.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

LÀNG NGHỀ Ở NINH BÌNH HIỆN NAY 62

2.3.1 Khả năng quản lý hoạt động du lịch của các làng nghề 62

2.3.2 Khả năng liên kết giữa các làng nghề ở Ninh Bình và các công ty du lịch 64

2.3.3 Một số vấn đề khác 71

Tiểu kết chương 2 73

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TẠI NINH BÌNH 75

3.1 MỘT SỐ THÔNG TIN DỰ BÁO 75

3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ CỦA TỈNH NINH BÌNH 77

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở NINH BÌNH 79

3.3.1 Hoạt động quản lý du lịch 79

3.3.2 Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 81

3.3.3 Xây dựng hệ thống sản phẩm làng nghề phục vụ du lịch 84

3.3.4 Xây dựng các chương trình du lịch làng nghề 90

3.3.5 Xây dựng bản đồ du lịch làng nghề tại Ninh Bình 94

3.3.6 Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ du lịch làng nghề 97

3.3.7 Bảo vệ cảnh quan môi trường làng nghề 98

3.3.8 Gìn giữ phát triển các giá trị văn hóa của làng nghề 99

3.3.9 Mô hình gắn kết giữa làng nghề và các công ty du lịch 100

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 106

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

1

Bảng 2.1: Thống kê các làng nghề đã được công nhận trên

địa bàn tỉnh phân theo địa bàn huyện, thị xã, thành phố

Bảng 2.3: Số liệu lao động làm nghề trong số lao động làng

4

Bảng 2.4: Số liệu giá trị sản xuất của nghề trên tổng giá trị

sản xuất chung của làng nghề Ninh Bình giai đoạn

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Làng nghề thủ công truyền thống với các bí quyết nghề nghiệp riêng là sản phẩm độc đáo của nền văn hóa Viê ̣t Nam - Một dân tộc đã có bề dầy lịch

sử hàng ngàn năm với nề n văn hóa lấy cô ̣ng đồng làng làm đơn vị tổ chức xã

hô ̣i cơ bản Các làng nghề truyền thống đã tạo ra rất nhiều sản phẩm không chỉ đơn thuần là trao đổi thương mại mà còn có mặt giá trị về văn hóa và lịch

sử Đội ngũ nghệ nhân , hê ̣ thống bí quyết và quy trình công nghệ tạo ra các sản phẩm được lưu truyền cùng với toàn bô ̣ cảnh qua n

Nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, do đặc thù hoạt động theo mùa vụ nên đã tạo ra khoảng thời gian nông nhàn cho những người nông dân Do nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cần có các vật dụng cho nên những người nông dân

đã sử dụng thời gian nông nhàn của mình để làm ra các sản phẩm Lúc đầu, việc này chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của chính bản thân họ Sau đó, chúng được đem đi trao đổi, buôn bán Dần dần, hoạt động trao đổi tăng và có nhiều trường hợp đưa lại nguồn lợi nhiều hơn so với nghề làm nông nghiệp Việc sản xuất sản phẩm dần được phát triển và chuyên môn hóa và từ đây xuất hiện những làng có thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ trọng cao hơn nghề nông nghiệp Thu nhập của nông dân đồng thời là thợ thủ công của những làng này trội hơn so với nông dân ở những làng thuần nông Tuy nhiên, không phải vì vậy mà người thợ thủ công thoát ly khỏi nghề làm nông nghiệp Những sản phẩm nông nghiệp luôn là sự đảm bảo, ổn định cần thiết cho họ

Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh

mẽ đến cuộc sống của đại bộ phận người dân ở các làng nghề truyền thống

Áp lực về sự thay đổi hình thức, mẫu mã, số lượng cùng với doanh thu sản phẩm mang lại không đáp ứng được nhiều nhu cầu cơ bản trong đời sống xã hội; trong khi đó các sản phẩm cùng loại được sản xuất bằng máy móc, các nguyên liệu nhân tạo, ngoại nhập khiến cho thị phần của các sản phẩm thủ công truyền thống giảm mạnh Nhiều giá trị văn hóa của làng nghề dần bị mai

Trang 7

một, bí quyết nghề nghiệp bị thất truyền cùng với sự ra đi của các nghệ nhân lớn tuổi Những ý nghĩa văn hóa truyền thống của mỗi sản phẩm không được các thế hệ sau tiếp thu và phát huy một cách đúng mực dẫn đến mất bản sắc nghề Thậm chí còn có xu hướng thương mại hóa, chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận làm cho giá trị văn hóa của sản phẩm thủ công truyền thống bị suy giảm, thương hiệu của làng nghề bị phai mờ

Bảo tồn làng nghề thủ công truyền thống đặt ra yêu cầu bảo lưu và giải quyết hài hòa các loại nguồn vốn để làng nghề có thể tiếp tục phát triển bền vững Và một trong những giải pháp để đảm bảo yêu cầu này là gắn việc phát triển làng nghề với phát triển du lịch để tạo sức hấp dẫn riêng đối với du khách

Nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Ninh Bình với đại đa số cư dân nông thôn, là tỉnh có mạng lưới giao thông tương đối thuận lợi nên các ngành nghề nông thôn, làng nghề ở Ninh Bình cũng có những giá trị đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà và giúp giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống cho người dân trong thời gian nông nhàn đồng thời gìn giữ được các giá trị văn hóa truyền thống Điển hình là làng nghề thêu ren Ninh Hải, làng nghề chiếu cói Kim Sơn, chạm khắc đá Ninh Vân Tại đây, nhiều hộ gắn bó với nghề như một công việc mang lại thu nhập chính trong gia đình

Các làng nghề tại Ninh Bình có nhiều tiềm năng có thể phát triển phục vụ trong một chương trình du lịch để du khách được tìm hiểu những nét văn hóa của người dân bản địa, tham gia vào những công đoạn tạo sản phẩm Tuy nhiên, việc phát triển du lịch làng nghề còn gặp nhiều khó khăn hạn chế về khâu tiếp thị, trình độ, kinh nghiệm của hướng dẫn viên, ban quản lý làng nghề cùng nhiều yếu tố khác chi phối; và thực tế hiện nay cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu vấn đề này trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Trang 8

Thực trạng trên chính là lý do để tác giả xác định việc “Nghiên cứu,

phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” làm đề tài cho

luận văn thạc sỹ của mình Qua đề tài này, chúng tôi muốn tìm ra những giải pháp tốt hơn cho việc phát triển làng nghề tại Ninh Bình, thông qua các hình thức xây dựng, tổ chức các tuyến du lịch gắn với làng nghề; phát triển thêm những làng nghề mới có triển vọng trên cơ sở phù hợp với điều kiện của từng địa phương góp phần thu hút du khách, đem lại hiệu quả kinh tế và lưu giữ được những giá trị văn hóa của làng nghề

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Làng nghề truyền thống luôn là một trong những đề tài hấp dẫn đối với nhiều nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về làng nghề với các đề tài như vai trò của làng nghề trong việc phát triển kinh tế xã hội, sự biến đổi của các làng nghề trong giai đoạn mới Hay các công trình nghiên cứu tổng quát về làng nghề truyền thống Việt Nam

như “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của tác giả Bùi Văn Vượng

nêu lên một cách khái quát về các làng nghề truyền thống của Việt Nam;

“Phát huy nghề và làng nghề truyền thống” tác giả của Phạm Thị Thảo, Viện Văn hóa Dân tộc, 2007; “Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội” của hai

tác giả Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo

Việc nghiên cứu quan điểm phát triển du lịch làng nghề mới, có một số

công trình như “Phát triển du lịch làng nghề nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà

Tây” của Phạm Quốc Sử “Làng nghề du lịch Hà Nội và vùng phụ cận” của

Lưu Duy Dần (Trưởng ban), Nguyễn Hữu Chính, Bạch Hồng Ân

Vấn đề phát triển các làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cũng đã được nhiều tỉnh và địa phương quan tâm, có thể kể đến một số bài

viết, hội thảo có liên quan đến vấn đề này như: Hội thảo “Bảo tồn và phát

triển làng nghề Hà Nội” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối

hợp với UBND TP Hà Nội tổ chức ngày 17/9/2012 trong khuôn khổ Lễ hội Làng nghề, Phố nghề diễn ra ở Hà Nội, các đại biểu đã tập trung bàn về các

Trang 9

giải pháp phát triển bền vững làng nghề, trong đó có vai trò của ngành Du lịch; Bài viết “Ý Yên (Nam Định) phát triển làng nghề gắn với bảo tồn di sản

văn hóa” Báo Nam Định ngày 27/02/2011

Về các làng nghề tại Ninh Bình, mới chỉ có những đề tài tiếp cận dưới

góc độ kinh tế - xã hội của làng nghề, như đề tài “Nghề thủ công truyền thống

chạm khắc đá ở xã Ninh Vân - Hoa Lư Ninh Bình từ 1986 đến 2003” (Luận

văn Th.S Khoa học Lịch sử) của Phạm Thị Loan Các công trình nói trên cung cấp rất nhiều thông tin, kiến thức để phục vụ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề tại Ninh Bình

3 Nhiệm vụ, mục tiêu nghiên cứu

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để hoàn thiện đề tài cần thực hiện những

nhiệm vụ cụ thể sau:

+ Nghiên cứu diện mạo và phân loại làng nghề tại Ninh Bình

+ Phân tích các tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch làng nghề của Ninh Bình

+ Từ thực trạng và những vấn đề đặt ra đề xuất một số giải pháp cho sự phát triển du lịch làng nghề ở Ninh Bình

- Mục tiêu nghiên cứu:

+ Khai thác, phát triển một lợi thế của tỉnh Ninh Bình đó là làng nghề nhằm nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của địa phương

+ Tìm ra một hướng đi ưu thế nhất cho các làng nghề trong xu thế hội nhập và phát triển

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu các làng nghề có tiềm

năng khai thác phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

- Phạm vi:

+ Phạm vi không gian: Các làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình + Phạm vi thời gian: Các làng nghề đang tồn tại, trong đó chủ yếu là

giai đoạn từ 2005- 2011

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu thực địa: Phương pháp tiến hành nghiên

cứu qua việc đi thực tế tại các làng nghề đó để đánh giá tiềm năng, hiện trạng khai thác phục vụ du lịch Phương pháp này giúp thu thập số liệu và có những đánh giá khách quan

- Phương pháp thống kê: Là phương pháp tổng hợp các số liệu của các hiện

tượng để tiến hành phân tích, so sánh nhằm làm rõ những vấn đề thuộc bản chất của hiện tượng nghiên cứu Qua các số liệu thống kê, ta có thể thấy được tính quy luật của các hiện tượng và rút ra được nhận xét và kết luận đúng đắn

- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin:

+ Thu thập thông tin thứ cấp (thu thập và nghiên cứu tài liệu có sẵn):

Thông qua các tài liệu văn bản, sách báo, tạp chí, sổ sách, báo cáo, website và

tư liệu do địa phương cung cấp có liên quan đến đề tài

+ Thu thập thông tin sơ cấp (khảo sát điều tra): Thông qua việc tham

quan, khảo sát điều tra, phỏng vấn trực tiếp ở các cơ sở sản xuất

+ Thông qua các thông tin sơ cấp và thứ cấp, tác giả tiến hành phân tích tổng hợp các số liệu làm cơ sở đánh giá tiềm năng phục vụ phát triển hoạt động du lịch

Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp như:

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn

6 Đóng góp của luận văn

- Đánh giá đúng thực tiễn giá trị tài nguyên và thực trạng phát triển của các làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

- Đề xuất một hướng đi có lợi nhất cho các làng nghề, đó là khai thác phát triển gắn với phát triển du lịch bền vững

- Công trình sẽ là tài liệu tham khảo cho chính quyền địa phương trong việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội của tỉnh

Trang 11

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung của đề tài bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch làng nghề và tiềm năng du lịch

làng nghề ở tỉnh Ninh Bình

Chương 2: Thực trạng du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Chương 3: Giải pháp góp phần phát triển du lịch làng nghề trên địa

bàn tỉnh Ninh Bình

Trang 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ VÀ TIỀM NĂNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ Ở NINH BÌNH

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ

1.1.1 Một số vấn đề về làng nghề và du lịch làng nghề

1.1.1.1 Khái niệm làng nghề

Cho tới nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về “làng nghề”

Theo cố giáo sư Trần Quốc Vượng, các làng nghề như: Bát Tràng (Hà Nội);

Phù Lãng, Đa Hội, Đồng Kỵ (Bắc Ninh); Vạn Phúc, Chàng Sơn (Hà Nội)… là làng ấy, tuy có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi (nuôi lợn, gà, vịt…) cũng có một số nghề phụ khác (đan lát, làm giấy, trạm khắc…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm và có một quy trình công nghệ nhất định, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này có tính mỹ nghệ cao đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị, thủ công và tiến tới mở rộng ra thị trường nước ngoài [11, tr 16]

Một số các quan niệm khác nhau về làng nghề như sau:

- Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong

làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu

- Quan niệm thứ hai: Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công,

nhưng không nhất thiết toàn bộ dân làng đều làm nghề thủ công Người thợ thủ công nhiều khi cũng làm nghề nông, nhưng do yêu cầu chuyên môn hóa

họ chủ yếu sản xuất hàng thủ công ngay tại làng

- Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy

tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội

và có cùng tổ nghề

Trang 13

- Quan niệm thứ tư: Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành

nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông Trong đó phải có từ 35- 40% lao động trở lên chuyên làm nghề thủ công, thu nhập từ nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập của họ và giá trị của nghề phải chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương [8, tr.6 ]

Có thể thấy khái niệm làng nghề là một danh từ ghép bao gồm hai yếu

tố là làng và nghề, trong đó:

Làng là một khối dân cư ở nông thôn lập thành một đơn vị có đời sống

riêng về nhiều mặt, là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến Làng là

kiểu tổ chức dân cư đặc trưng, là nơi quần tụ sinh sống của những người có cùng quan hệ huyết thống, có địa vực không gian sinh sống nhất định và có phong tục tập quán riêng

Phần lớn các làng xưa kia đều là nơi sản xuất nông nghiệp, sau này do đòi hỏi của nhu cầu cuộc sống một số nghề phi nông nghiệp xuất hiện Lúc đầu mới là các nghề thủ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong địa bàn như đan lát, thêu ren, gốm, nghề mộc… sau đó các ngành nghề được

mở rộng sang cả lĩnh vực dịch vụ, và xuất hiện các làng làm nghề buôn bán Trong các làng nghề này có các hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề vào thời gian nông nhàn, hoặc có các hộ chuyên sản xuất nghề và tách ra khỏi nông nghiệp dần dần trở thành nguồn thu nhập chính và chiếm ưu thế Như

vậy, yếu tố nghề trong làng nghề là công việc chuyên môn được làm theo sự

phân công của xã hội Bao gồm tất cả các nghề tạo ra thu nhập, tạo ra việc làm và là những nghề phi nông nghiệp, chủ yếu là các làng nghề thủ công

Làng nghề có thể hiểu đơn giản là làng của các cư dân nông thôn làm

nghề nông có thêm một hoặc một số nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông chủ yếu là các nghề sản xuất thủ công như dệt, đan lát, xây dựng, mộc, chạm khắc, gốm sứ…

Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành

bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định,

Trang 14

trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa

Theo Quyết định số 1329/2005/QĐ-UB ngày 04/7/2005 của UBND tỉnh Ninh Bình quy định về tiêu chuẩn, trình tự và thủ tục xét công nhận làng

nghề tỉnh Ninh Bình thì khái niệm làng nghề được hiểu như sau: Làng nghề là

một cộng đồng dân cư sinh sống trong một làng (thôn hoặc tương đương thôn) có hoạt động ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại các hộ gia đình hoặc các cơ sở sản xuất trong làng; có sử dụng nguồn lực trong và ngoài địa phương phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của người dân trong làng

Có thể nói rằng làng nghề là một môi trường văn hóa - kinh tế - xã hội

có hoạt động nghề với công nghệ truyền thống lâu đời Nơi đó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền đời này sang đời khác, chung đúc ở các thế hệ nghệ nhân tài năng, với những sản phẩm có bản sắc riêng của mình, có tính tiêu biểu và độc đáo cho cả một vùng miền hay một dân tộc Các làng nghề thu nhập từ thủ công ngày càng phát triển và từng bước chiếm phần lớn kinh tế của các hộ dân Với bí quyết và kỹ thuật riêng, mỗi làng nghề thổi hồn cho sản phẩm mà mình sản xuất và tạo ra nét đặc trưng để phân biệt sản phẩm của làng nghề này với làng nghề khác

1.1.1.2 Phân loại làng nghề

Dựa trên các tiêu chí khác nhau, ta có thể phân loại làng nghề và có những tên gọi làng nghề khác nhau Trong đó có một số cách phổ biến sau:

Trang 15

Thứ nhất, dựa vào thời gian hình thành nghề ta có thể chia ra làng nghề

bao gồm có làng nghề mới với nghề mới được du nhập hoặc phát triển trong điều kiện kinh tế phát triển đặc biệt trong thời kỳ đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường và làng nghề truyền thống với các nghề đã tồn tại từ lâu đời trong lịch sử và tồn tại đến ngày nay Có những làng nghề truyền thống đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm hay hàng nghìn năm

Thứ hai, dựa vào nhóm ngành nghề sản xuất có thể phân thành một số

nhóm nghề lớn sau:

- Nhóm nghề thủ công mỹ nghệ: nghề gốm, nghề chạm khắc đá, nghề đúc đồng, nghề rèn, nghề dệt, nghề đóng thuyền, nghề kim hoàn, nghề dệt chiếu, nghề may mặc, nghề thêu - ren, nghề làm tranh dân gian, nghề in, nghề khảm trai, nghề làm trống, nghề sơn mài, nghề mây tre đan, nghề gốm …

- Nhóm nghề công cụ sản xuất, vũ khí: nghề làm cày, bừa; nghề làm cung, súng, nỏ…

- Nhóm nghề làm thuốc và chế biến thực phẩm: nghề thuốc nam, nghề nấu rượu, nghề làm nước mắm, nghề làm cốm, nghề làm bún, nghề giò - chả, nghề làm bánh - mứt - kẹo…

Thứ ba, phân cấp theo mức độ phát triển, một cách khái quát có thể

chia các làng nghề thành bốn loại như sau:

- Những làng nghề có cấp độ phát triển mạnh và có sự lan tỏa sang các vùng lân cận

Trang 16

1.1.1.3 Khái niệm du lịch làng nghề

Làng nghề được xem như một dạng tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao hàm trong nó cả những giá trị vật thể và phi vật thể Nhận thức được tiềm năng phát triển du lịch tại các làng nghề sẽ góp phần gia tăng tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Đồng thời, phát triển du lịch làng nghề giúp gia tăng thêm cơ hội cho các cơ sở sản xuất kinh doanh tại làng nghề trong hoạt động giới thiệu, quảng bá và bán sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống, nhằm góp phần nâng cao đời sống sinh hoạt của người dân sản xuất kinh doanh tại các làng nghề

Tính đến thời điểm này, du lịch làng nghề vẫn là một khái niệm mới Thông thường, du lịch làng nghề được xếp vào nhóm các loại hình du lịch phân theo theo tài nguyên môi trường [ 17, tr 67, 68]

Du lịch làng nghề có thể hiểu đơn giản là hoạt động du lịch diễn ra tại

các làng nghề nông thôn, du khách có thể tham quan thưởng thức các giá trị văn hóa, giá trị cảnh quan môi trường xung quanh làng nghề

Theo TS Phạm Quốc Sử, “du lịch làng nghề là một loại hình du lịch

sinh thái nhân văn được tiến hành tại các làng nghề tiêu biểu, mà ở đó còn lưu giữ tương đối nguyên vẹn những di sản văn hóa làng xã truyền thống (di tích lịch sử văn hóa, phong tục, lễ hội…) đặc biệt là truyền thống công nghệ

cổ, thông qua những nghệ nhân tài giỏi Đến với mỗi làng nghề, du khách sẽ được khám phá và thẩm nhận những giá trị văn hóa vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa độc đáo mang tính đặc thù địa phương Ngoài sự chứng kiến tận mắt những thao tác công nghệ do các thợ thủ công thực hiện, du khách có thể tìm hiểu sâu thêm về truyền thống công nghệ ở các nghệ nhân, có thể mua đồ lưu niệm là những sản phẩm công nghệ với giá cả phải chăng, có thể tìm kiếm cơ hội đầu tư, hợp tác kinh doanh (nếu du khách là thương gia), đồng thời đó cũng là dịp để du khách lấy lại sự cân bằng về tinh thần sau những bức xúc căng thẳng do nếp sống công nghiệp và cuộc sống đô thị gây ra Thông qua

Trang 17

chuyến viếng thăm làng nghề, du khách sẽ thu lượm được nhiều nhất những giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống (bởi tính điển hình của làng nghề), và

có thể hiểu biết sâu sắc hơn về đất nước con người Việt Nam” [11, tr.19]

Làng nghề nhìn từ góc độ du lịch có các khía cạnh cần lưu ý như sau:

Thứ nhất: Làng nghề mang tính chất nông thôn Các làng nghề thường

nằm ở các vùng nông thôn, vùng ngoại ô hoặc có nguồn gốc nông thôn

Thứ hai: Nét nổi trội của làng nghề là tài nguyên nhân văn với những

tinh hoa công nghệ truyền thống, những di tích lịch sử - văn hóa (ví dụ: miếu thờ tổ nghề, đình ), phong tục tập quán, lễ hội Những tài nguyên nhân văn này thường mang sắc thái đặc thù bởi truyền thống công nghệ của ngôi làng đó

Thứ ba: Làng nghề cũng được coi như một cảnh quan du lịch mà du

khách khi tới đó được thưởng thức những yếu tố tự nhiên và nhân tạo cấu trúc nên làng nghề đó

Thứ tư: Làng nghề cũng giống như một môi trường sinh thái khi nó

nằm hoàn toàn trong một kiến trúc nông thôn với những đặc thù về cảnh quan

tự nhiên, môi trường, cách thức sinh hoạt của dân làng

Như vậy, hoạt động du lịch làng nghề vừa có tính chất của du lịch thôn quê, vừa có tính chất của du lịch văn hóa đồng thời lại có cả những yếu tố của

du lịch sinh thái

Tóm lại, du lịch làng nghề hay cụ thể hơn là du lịch làng nghề truyền

thống là loại hình du lịch diễn ra tại các làng nghề còn đang hoạt động sản xuất các sản phẩm truyền thống nhằm mục tiêu tìm hiểu, chiêm ngưỡng, thưởng thức về các giá trị văn hóa, cảnh quan làng nghề và quá trình sản xuất sản phẩm truyền thống với kỹ nghệ sản xuất đặc trưng Là một hoạt động kinh doanh tại các làng nghề có lợi ích về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết của khách

du lịch về lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề góp phần tăng thêm tình yêu quê hương đất nước; mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho địa phương

và giữ gìn các giá trị văn hóa trong làng nghề

Trang 18

Phát triển du lịch làng nghề là khai thác các giá trị văn hóa vật thể

và phi vật thể, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ do lao động làng nghề làm

ra, như là một đối tượng tài nguyên du lịch phục vụ cho việc tìm hiểu văn hóa, tham quan, vui chơi, giải trí Du lịch làng nghề góp phần thúc đẩy sự phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng các làng nghề, đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, bến cảng các công trình công cộng như viễn thông,

y tế Du lịch làng nghề phát triển góp phần quảng bá các sản phẩm làng nghề, thị trường sản phẩm được mở rộng sẽ nâng cao thu nhập của cư dân làng nghề, mang lại lợi ích kinh tế không nhỏ cho làng nghề và cho địa phương có làng nghề

1.1.2 Phát triển du lịch gắn với bảo tồn các giá trị văn hóa làng nghề

Nghề thủ công truyền thống được duy trì và phát triển chủ yếu ở các làng nghề, bởi các làng nghề thủ công truyền thống là những làng làm nghề thủ công

có truyền thống nghề về kỹ thuật, nghệ thuật, tổ chức sản xuất kinh doanh, truyền nghề và bảo lưu bí quyết nghề từ nhiều thế hệ gia tộc, phường thợ Những làng nghề truyền thống nảy sinh, phát triển trên nền lịch sử văn minh và văn hóa dân tộc, và chính nó góp phần tạo nên nền văn hóa, văn minh ấy

Sản phẩm thủ công của các làng nghề chứa ẩn những giá trị văn hóa hết sức

to lớn [22, Tr 37 – 43] Trong sản phẩm thủ công, văn hóa tinh thần kết tinh trong văn hóa vật thể Ví dụ, những hình tượng rồng, phượng, hoa văn trang trí trên trống đồng, cửu đỉnh, men màu trên đồ gốm sứ… trước hết là văn hóa vật thể, nhưng chúng lại hàm chứa các quan niệm tư tưởng triết học phương Đông, triết lý

về trời - đất - con người, quan niệm về tôn giáo và thần quyền Sản phẩm thủ công truyền thống Việt Nam bao giờ cũng phản ánh sâu sắc tư tưởng, tình cảm và quan niệm thẩm mỹ, bản sắc văn hóa của dân tộc

Một đặc thù khác, rất quan trọng của hàng thủ công truyền thống, đó là tính

cá biệt, tính riêng mang phong cách của mỗi nghệ nhân và nét đặc trưng địa phương tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng Chẳng hạn, mỗi làng nghề dùng

Trang 19

những chất liệu khác nhau, riêng biệt, những nét riêng đó lại có sự thay đổi theo thời gian lịch sử

Hàng thủ công là loại sản phẩm nghệ thuật, kết tinh từ nhứng thành tựu kỹ thuật - công nghệ truyền thống, phương pháp thủ công tinh xảo, với đầu óc sáng tạo nghệ thuật Mô hình có thể biểu diễn như sau:

Phương pháp thủ công tinh xảo + Sự sáng tạo nghệ thuật

=> Hàng thủ công mỹ nghệ

Những yếu tố văn hóa đậm nét của hàng thủ công truyền thống đã tạo nên một vị trí quan trọng của các sản phẩm này trên thị trường trong nước và quốc tế Ngoài ra, các sản phẩm thủ công truyền thống còn mang lại giá trị kinh tế cho người thợ thủ công, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của cư dân địa phương

Như vậy, việc khôi phục, bảo tồn các làng nghề truyền thống từ lâu đời đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền là một yêu cầu quan trọng hiện nay Đối với những làng nghề đang trong quá trình suy vong và có khả năng mất

đi, xác định bảo tồn là chính, coi đó là tài sản văn hóa quốc gia; tiến hành điều tra, xác định và xây dựng dự án để duy trì một vài hộ hoặc nhóm, nghệ nhân hoạt động trình diễn nghề nhằm phục vụ yêu cầu du lịch, văn hóa Thực hiện quy hoạch và xây dựng các tuyến, điểm du lịch gắn với làng nghề trong cả nước và ở từng địa phương; đánh giá tình hình khai thác, tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, hiện trạng, kiến trúc và cơ sở hạ tầng

Khi gắn kết các làng nghề với hoạt động du lịch, không thể chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt là nguồn lợi kinh tế, khai thác cạn kiệt các sản phẩm văn hóa, mà bỏ qua việc khai thác kết hợp với tái đầu tư cho hoạt động bảo tồn và cho bản thân các làng nghề Nguyên tắc này liên quan tới khâu tổ chức quản lý, khai thác sản xuất và lưu thông các sản phẩm du lịch Tại các làng nghề cần hình thành tổ chức bộ máy chuyên trách quản lý bảo tồn và phát huy các giá trị của các làng nghề

Trang 20

Trong hoạt động bảo tồn thường có nhiều cấp độ khác nhau nguyên trạng, trùng tu, phục hồi, tái tạo Bảo tồn nguyên trạng đề cao những giá trị nguyên bản trong lưu giữ và phục hồi làng nghề; bảo tồn không nguyên trạng ghi nhận những giá trị đổi thay của làng nghề, theo hai hướng kế thừa và phát triển Mô hình “bảo tồn phát triển” đang là xu hướng được lựa chọn trong điều kiện hiện nay, gắn với chủ trương tạo sức sống, sinh khí mới cho làng nghề, gắn làng nghề với hoạt động du lịch nhằm khai thác tiềm năng Tuy nhiên, đây là xu hướng gây nên nhiều tranh cãi, nhiều ý kiến trái chiều trong việc trùng tu, phục dựng, quản lý và khai thác làng nghề

Khai thác và phát huy làng nghề, văn hóa phải được coi là một nguồn tài nguyên tạo nền móng cho hoạt động du lịch phát triển bền vững Chính vì vậy, bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề phải gắn với phát triển du lịch bền vững, vừa bảo đảm lợi ích kinh tế - xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống

Việc phát triển du lịch luôn luôn phải đi đôi với việc bảo tồn các giá trị văn hóa Trong loại hình du lịch làng nghề cũng vậy, muốn phát triển du lịch làng nghề cũng đòi hỏi phải gắn với việc bảo tồn các giá trị văn hóa làng nghề bao gồm các giá trị cảnh quan môi trường, các giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của làng nghề Giao lưu là một trong những thuộc tính cơ bản của văn hóa và được biểu hiện sinh động trong các giá trị văn hóa trong làng nghề mà du lịch đã, đang và sẽ góp phần không nhỏ để thực hiện sự kết nối

Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc bảo tồn di sản văn hóa làng nghề bằng nguồn thu từ các hoạt động Nhưng sự bùng nổ số lượng khách tham quan, sự phát triển các dịch vụ thiếu kiểm soát, sự buôn bán trái phép đồ cổ, sự mai một truyền thống do giao lưu, tiếp xúc… lại là mối nguy cơ đối với các giá trị văn hóa làng nghề Bởi vậy, việc bảo tồn, khôi phục, gìn giữ những tài sản quý báu đó vừa là nhu cầu tự thân, vừa là yêu cầu bắt buộc đối với hoạt động du lịch

Trang 21

Quan điểm của ngành du lịch là trong bảo tồn nên tuân thủ triệt để các quy định quốc tế và trong nước, tránh tác động nhiều vào di tích và cố gắng duy trì, bảo quản nguyên trạng di tích như khi phát hiện là tốt nhất Đặc biệt ngày nay, khách du lịch quốc tế và ngay cả trong nước có trình độ văn hóa cao nên thường quan tâm nhiều hơn đến giá trị xác thực của làng nghề

Tóm lại, đối với các làng nghề hiện nay, việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các làng nghề cần được quan tâm đúng mức Phát triển du lịch là yêu cầu tự nhiên nhằm phát huy giá trị các làng nghề Tuy nhiên phát triển du lịch cần tuân thủ những nguyên tắc về bảo tồn Việc nghiên cứu phát triển những sản phẩm du lịch mới tại các khu vực có làng nghề là cần thiết nhằm làm tăng thêm giá trị cho các làng nghề, làm đa dạng hóa các hoạt động du lịch tại những nơi này, có thể mang lại lợi ích nhiều mặt cho bản thân làng nghề và cho cộng đồng dân cư

1.1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát triển du lịch làng nghề

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp và có sự liên kết chặt chẽ với các lĩnh vực khác Du lịch làng nghề có vai trò đối với sự phát triển kinh tế xã hội Nhờ có hoạt động du lịch, các giá trị văn hóa làng nghề thực sự đã trở thành những sản phẩm có giá trị kinh tế khi có sự tham gia của hoạt động du lịch Vai trò của du lịch làng nghề góp phần vào giữ gìn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa làng nghề, đồng thời nâng cao ý thức của người dân đến việc bảo tồn các giá trị văn hóa đi đôi với việc giữ gìn bảo vệ môi trường, hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch

Du lịch làng nghề phát triển tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người thợ thủ công, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Thông qua du lịch làng nghề, những giá trị văn hóa làng nghề thực sự

đã trở thành những sản phẩm giá trị kinh tế để làm giàu cho quốc gia Các giá trị văn hóa bản địa được giữ gìn, khôi phục và phát huy tạo ra thu nhập lớn cho đất nước Địa phương có hoạt động du lịch làng nghề phát triển sẽ đem lại

Trang 22

diện mạo mới về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật thông qua việc đầu tư đồng bộ để phục vụ khách du lịch tới tham quan và mua sản phẩm làng nghề

Thông qua việc tham quan tại các di tích lịch sử tại làng nghề, các sản phẩm làng nghề, quy trình tạo sản phẩm… du lịch làng nghề góp phần giáo dục tinh thần, ý thức duy trì, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng nghề Việc đưa du khách tham quan làng nghề, tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm làng nghề giúp du khách hiểu biết hơn các giá trị của sản phẩm nghề và tạo nên sức hấp dẫn trong chương trình du lịch làng nghề

1.2 TIỀM NĂNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ Ở NINH BÌNH

1.2.1 Khái quát về tỉnh Ninh Bình

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý:

Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng,

có tọa độ 19º 50’ đến 20º 27’ vĩ độ Bắc, 105º 32’ đến 106º 27’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp hai tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Thanh Hóa và biển Đông, phía Đông giáp tỉnh Nam Định Ninh Bình có diện tích tự nhiên hơn 1.400 km², với bờ biển dài hơn 15km

Trang 23

Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Bình (Nguồn: Website tỉnh Ninh Bình)

(nguồn: website Sở Văn hóa thể thao và du lịch Ninh Bình)

Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh

tế và văn hóa giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng núi rừng Tây Bắc của Tổ quốc Trên địa bàn tỉnh có quốc lộ 1A, quốc lộ 10; 12A; 12B và đường sắt Bắc - Nam chạy qua, cùng hệ thống sông ngòi dày đặc như: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn, sông Vạc, Sông Vân tạo thành mạng lưới giao thông thủy, bộ rất thuận tiện cho giao lưu phát triển kinh tế - xã hội trong và ngoài tỉnh

- Địa hình:

Trang 24

Địa hình Ninh Bình phân chia thành ba vùng đồi núi, đồng bằng và ven biển tương đối rõ nét, mỗi vùng có tiềm năng và thế mạnh riêng, song ba vùng có thể bổ sung hỗ trợ nhau để phát triển nền kinh tế hàng hóa toàn diện

cả cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thủy, hải sản, công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm Cùng với tiềm năng về công, nông, lâm nghiệp, Ninh Bình còn có thế mạnh phát triển đa dạng các loại hình du lịch Ninh Bình có nhiều danh lam thắng cảnh

và di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng như: cố đô Hoa Lư (tại xã Trường Yên - Hoa Lư) - là kinh đô của Nhà nước phong kiến tập quyền giai đoạn sơ kỳ ở Việt Nam; khu du lịch Tam Cốc - Bích Động (tại xã Ninh Hải - Hoa Lư) đã

được tặng chữ: “Nam thiên đệ nhị động” hay “Vịnh Hạ Long cạn”; Vườn

Quốc gia Cúc Phương (thuộc huyện Nho Quan) với diện tích rừng nguyên sinh khoảng 22.000ha, có nhiều động thực vật quý hiếm, có cây Chò ngàn năm tuổi, có động Người xưa; khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, động Vân Trình, nước nóng Kênh Gà, khu hang động Tràng An, nhà thờ đá Phát Diệm, khu du lịch sinh thái hồ Đồng Chương, khu phòng tuyến Biện Sơn - Tam

Điệp rất hấp dẫn khách du lịch

- Khí hậu:

Là một tỉnh phía Bắc có khí hậu nhiệt đới, gió mùa, với nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,2º C; có chế độ mưa được chia làm 2 mùa rõ rệt (mùa mưa diễn ra vào mùa hạ tập trung đến trên 85% lượng mưa trong năm, mùa khô lượng mưa thấp chiếm khoảng 15%) với lượng mưa trung bình năm trên 1.800mm, phân bố không đều trong năm nhưng phân bố khá đều trên toàn bộ diện tích; có thời gian triều lên ngắn (khoảng 8 giờ) và chiều xuống dài (khoảng 16 giờ) với biên độ triều trung bình từ 1,6m đến 1,7m Nhìn chung, khí hậu và chế độ thủy văn tương đối thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội

- Tài nguyên sinh vật:

Ninh Bình có sinh thái rừng đặc sắc, như: vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, rừng đặc dụng núi đá Hoa

Trang 25

Lư và rừng ngập mặn ven biển Nơi lưu giữ sự đa dạng sinh học cao, với các loài động thực vật đặc hữu như voọc quần đùi trắng ở Vườn quốc gia Cúc Phương được ghi vào sách đỏ Đây là điều kiện rất thuận lợi để phát triển nghiên cứu về gen, các giống loài sinh học, phát triển đa dạng dịch vụ du lịch sinh thái rừng

- Tài nguyên nước:

Hệ thống sông ngòi ở Ninh Bình bao gồm hệ thống sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Bôi, sông Ân, sông Vạc, sông Lạng, sông Vân Sàng

Tài nguyên nước mặt khá dồi dào, thuận lợi cho việc tưới, phát triển sản xuất nông nghiệp và dịch vụ giao thông vận tải thủy Nguồn nước ngầm chủ yếu thuộc địa bàn huyện Nho Quan và thị xã Tam Điệp Đặc biệt nước khoáng Ninh Bình chất lượng tốt, tập trung chủ yếu ở Cúc Phương (Nho Quan) và Kênh Gà (Gia Viễn) có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và du lịch với trữ lượng lớn Đặc biệt nước khoáng Kênh Gà có độ mặn, thường xuyên ở

độ nóng 53–54độ C Nước khoáng Cúc Phương có thành phần Magiêbicarbonat cao, sử dụng chế phẩm nước giải khát và chữa bệnh

1.2.1.2 Điều kiện xã hội, nhân văn

- Điều kiện dân cư:

Với quy mô dân số năm 2009 là gần 900 nghìn người So với dân số khu vực đồng bằng Sông Hồng, dân số tỉnh Ninh Bình chiếm 5,6% và bằng 1,2% dân số cả nước Trên địa bàn tỉnh có 2 dân tộc chính là dân tộc Kinh và dân tộc Mường Dân tộc Kinh chiếm 98%, dân tộc Mường chiếm khoảng 2% Mật độ dân số của tỉnh (khoảng 675 người/km2) thấp hơn mật độ trung bình của vùng, dự kiến dưới 1 triệu người đến 2020 và đang nằm trong “thời kỳ dân số vàng”, là lợi thế không nhỏ để cung cấp nguồn lao động, thuận lợi trong quản lý và không gây sức ép lớn đối với phát triển kinh tế

- Điều kiện kinh tế - xã hội:

Các hoạt động văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân ổn định và nhiều mặt được cải thiện Công tác quốc phòng được tăng cường, an

Trang 26

ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Đời sống nhân dân ổn định và ngày càng được cải thiện nhiều mặt

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản cũng còn nhiều khó khăn, thách thức Song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành kịp thời của Tỉnh uỷ - HĐND - UBND tỉnh; cùng với sự quyết tâm của các cấp, các ngành; sự đoàn kết, nỗ lực của các tầng lớp nhân dân, sự năng động của các thành phần kinh tế nên kinh tế

- xã hội của tỉnh đã đạt được những kết quả tích cực về sản xuất công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp và các ngành dịch vụ như du lịch, bảo hiểm, y tế

- Tài nguyên nhân văn:

* Di tích lịch sử - văn hóa:

Với lịch sử hàng ngàn năm, Ninh Bình không chỉ nổi tiếng với các danh lam thắng cảnh đẹp hấp dẫn, Ninh Bình còn được biết đến với rất nhiều các di tích lịch sử - văn hóa và tôn giáo Trong số đó phải kể đến các điểm du lịch văn hóa như: Khu di tích cố đô Hoa Lư, nhà thờ đá Phát Diệm, chùa Bích Động, đền Thái Vi, đền thờ Trương Hán Siêu, chùa Địch Lộng và đặc biệt

là công trình kiến trúc - tôn giáo đồ sộ chùa Bái Đính

* Lễ hội:

Cũng giống như bao làng quê khác của đất Việt, cứ mỗi độ Tết đến xuân về, sau những ngày lao động vất vả, mệt nhọc, sau những lo toan của cuộc sống thường ngày, những người dân quê hương Ninh Bình lại nô nức, tưng bừng đi trẩy hội Nét sinh hoạt văn hóa mang đậm phong tục tập quán của người dân Ninh Bình là lễ hội, là dịp để đất trời và con người được cùng giao hòa, là dịp tế lễ các vị thần linh, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cầu cho quốc thái, dân an, là dịp tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, các vị thành hoàng làng đã có công dựng làng, lập ấp, dạy nghề mang lại cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho dân làng Đây cũng là dịp để những trai tài gái sắc cùng tham gia các trò chơi, thi thố tài năng như thi thư pháp, thi hát, thi kéo co, đấu vật, nấu cơm, làm bánh Du khách một lần đến với Ninh Bình sẽ cảm nhận được cái tinh túy, cái độc đáo riêng ẩn

Trang 27

hiện trong không khí huyền diệu của các lễ hội truyền thống ở vùng đất giàu tiềm năng du lịch này Một số lễ hội tiêu biểu như lễ hội Trường Yên,

lễ hội đền Thái Vi, lễ hội chùa Địch Lộng, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội Báo

bản Nộn Khê, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ

* Làng nghề:

Nói đến truyền thống văn hóa đất cố đô, không thể không nhắc đến nét truyền thống văn hóa nghìn năm tuổi, nơi tích tụ một bề dày truyền thống phong hóa đặc sắc và phổ biến, cả về văn hóa và kinh tế Với địa hình là

“Miền Bắc Việt Nam thu nhỏ”, là cơ sở và điều kiện để hình thành, phát triển

cả một hệ thống “Địa kinh tế” và “Địa văn hóa” từ lâu đời, tạo nên một vị

thế địa lý quan trọng và đặc biệt Từ đó, nghề truyền thống ở Ninh Bình đã hình thành, lưu tồn cùng với các thế hệ qua nhiều thế kỷ Nghề thủ công có từ thời cổ xưa, kết hợp với nghề nông, sớm hình thành nên một hình thái kinh tế

mà trong đó lao động sản xuất vừa chuyên vừa không chuyên sao cho bảo đảm đời sống của cư dân trong tỉnh

Một số làng nghề tiêu biểu như: làng nghề chạm khắc đá Ninh Vân (huyện Hoa Lư), làng nghề thêu ren Ninh Hải (huyện Hoa Lư), làng nghề mỹ nghệ cói Kim Sơn

* Các loại hình nghệ thuật truyền thống:

Ninh Bình là một tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng Bắc bộ, nơi chứa đựng nhiều giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống của miền Bắc Trong đó tiêu biểu phải nhắc đến là nghệ thuật chèo và hát ca trù

Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam Chèo phát triển mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ Loại hình sân khấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc Chèo mang tính quần chúng và được coi là một loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình Người nghệ sỹ chèo thường

sử dụng một số nhạc cụ đệm cho câu hát như đàn nguyệt, đàn nhị, trống, đàn tam thập lục, tiêu… Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) là đất tổ của sân khấu chèo,

Trang 28

người sáng lập là bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh vào thế kỷ X, sau phát triển rộng ra đồng bằng Bắc Bộ Địa bàn phố biến từ Nghệ - Tĩnh trở ra Hiện nay, chèo là một trong những loại hình nghệ thuật được tỉnh Ninh Bình quan tâm giữ gìn và phát huy

Hát ca trù hay hát ả đào là một bộ môn nghệ thuật truyền thống ở phía Bắc Việt Nam kết hợp giữa hát cùng với những tiết tấu âm nhạc dân tộc như trống, phách, đàn đáy Trong đó có sự kết hợp biểu diễn của người hát và biểu diễn của nhạc công sử dụng một số nhạc cụ dân tộc Ca trù thịnh hành từ thế

kỷ 15, từng là một loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và học giả yêu thích Ngày 01/10/ 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28/9 đến ngày 02/10/2009), ca trù đã được công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp Hiện nay, Ninh Bình có các câu lạc bộ ca trù như: câu lạc bộ ca trù đền thờ Nguyễn Công Trứ, câu lạc bộ ca trù Cố Viên Lầu

* Ẩm thực:

Ở Ninh Bình, cứ mỗi vùng miền trên dải đất này lại có những món ăn đặc sản riêng không chỉ hợp khẩu vị với người dân sở tại mà còn làm cho nhiều du khách cả trong nước và quốc tế đến đây thưởng thức đều thích thú

Ăn uống là sinh hoạt vật chất, ăn uống còn là văn hóa tinh thần, là “nét ăn nết

ở” của con người Góp phần làm nên nền văn hóa của Ninh Bình là văn hóa

ẩm thực phong phú, đa dạng được chế biến từ các sản vật mà thiên nhiên ban tặng và con người làm ra, hội thành ý ăn, nết ở của người dân và tạo nên những đặc sản nơi đây Một số món ẩm thực có thể kể đến là tái dê ở Hoa Lư, rượu Kim Sơn, cơm cháy, nem chua Yên Mạc, mắm tép Gia Viễn…

1.2.2 Tài nguyên du lịch làng nghề

1.2.2.1 Tổng quan về làng nghề tại Ninh Bình

Qua kết quả khảo sát sơ bộ, Ninh Bình hiện bản còn lưu tồn và phát triển các nghề truyền thống, với trên 40 nghề khác nhau, trong đó có gần 36

Trang 29

làng nghề tiêu biểu Đó là những làng mà ở đó số lao động, kể cả những người ngoài độ tuổi lao động tham gia làm nghề, số các hộ gia đình có người làm nghề chiếm một tỷ lệ nhất định và mức thu nhập từ nghề truyền thống chiếm tỷ trọng lớn so với tổng thu nhập kinh tế của cả làng nói chung và của mỗi hộ gia đình nói riêng Có những làng nghề truyền thống đã tồn tại 600 -

700 năm Với hầu hết các nghề truyền thống thì sự liên kết các cá thể là thành viên trong mỗi họ giáp, mỗi thôn làng gắn bó mật thiết Các nghề truyền

thống thường để lại dấu ấn văn hóa đặc trưng, trong đó có “văn hóa tâm

linh”, “văn hóa nghệ thuật” Có những sản phẩm đặc sắc được chế tác thủ

công ở Ninh Bình (như sản phẩm cói, thêu ren, chạm khắc đá mỹ nghệ ) Hiện nay còn rất ít nghệ nhân có kết hợp tài tình sự tinh luyện, óc sáng tạo và yếu tố bí truyền Các sản phẩm từ nghề truyền thống ở Ninh Bình đã và đang đáp ứng nhu cầu ngày càng nhiều trên thị trường trong và ngoài nước Do vậy, doanh thu từ các nghề truyền thống tăng lên rõ rệt hàng năm, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu nhập kinh tế của nhiều địa phương Phát triển các

nghề truyền thống cũng chính là “một định hướng công nghiệp hóa”, là tiền đề

quan trọng quá trình xã hội hóa du lịch làng nghề ngày nay của tỉnh Ninh Bình

Hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp dưới hình thức các làng nghề trên địa bàn nông thôn Ninh Bình được phát triển từ lâu đời và cho đến ngày nay vẫn trở thành hình thức lao động chính của nhiều vùng nông thôn trong tỉnh, tiêu biểu như các làng nghề sản xuất các sản phẩm cói, thêu ren, chế tác đá mỹ nghệ, mây tre đan, mộc dân dụng, gốm mỹ nghệ trên địa bàn các huyện Kim Sơn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh, Gia Viễn và TP Ninh Bình Các sản phẩm của làng nghề ngày càng đa dạng và phong phú, được thị trường trong và ngoài nước yêu thích, đem lại giá trị kinh tế cao đặc biệt là giá trị xuất khẩu, đóng góp không nhỏ vào GDP của tỉnh Hiện nay, các làng nghề trên địa bàn tỉnh đang thu hút số lượng lớn lao động nông thôn, góp phần giải quyết việc làm cho người dân đồng thời tăng thêm thu nhập góp phần nâng cao mức sống người lao động Việc phát triển và mở rộng các làng

Trang 30

nghề đang là hướng quan tâm của tỉnh Ninh Bình Trong đó có một số làng nghề có tiềm năng để phát triển du lịch như: Làng nghề chế biến cói ở Kim Sơn gắn với khu du lịch quần thể di tích nhà thờ Phát Diệm; Làng nghề chế tác đá mỹ nghệ Xuân Vũ - Ninh Vân nằm trong quần thể du lịch Tràng An; Làng nghề thêu ren Văn Lâm - Ninh Hải gắn với khu du lịch Tam Cốc - Bích Động Riêng làng nghề thêu ren Văn Lâm đã được học viện châu Á phối hợp với Tổng cục du lịch Việt Nam (giờ là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) lựa

chọn đưa vào dự án “Nghiên cứu khả thi phát triển du lịch gắn với sản xuất

tiểu thủ công nghiệp dọc theo hành lang Đông Tây”

Các làng nghề ở Ninh Bình cũng như của cả nước có đặc điểm thường nằm gần trung tâm hoặc gần các đô thị lớn, các trục giao thông đường bộ, đường sông do đó rất thuận lợi cho việc xây dựng các tour tuyến du lịch Các làng nghề sẽ là điểm dừng chân thú vị thu hút du khách tham quan cảnh quan môi trường, văn hóa của làng nghề, tìm hiểu các giá trị văn hóa và có thể trực tiếp tham gia vào một số công đoạn sản xuất ra sản phẩm, mua các sản phẩm lưu niệm từ làng nghề Việc phát triển làng nghề gắn với hoạt động du lịch góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, những nghệ nhân, thợ thủ công ở các cơ sở nghề yên tâm với nghề đồng thời cũng góp phần bảo tồn

và lưu giữ các giá trị văn hóa của làng nghề Những đơn vị đưa khách đến làng nghề cũng có những quan tâm đóng góp xây dựng với cộng đồng làng nghề, trả lương cho lao động, đồng thời cũng tạo nên một hệ thống dịch vụ, bán hàng lưu niệm, bán sản phẩm cho du khách tăng thu nhập người dân trong vùng

1.2.2.2 Một số làng nghề có khả năng phát triển du lịch

Ninh Bình nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, nơi có rất nhiều điểm du lịch và cũng là nơi tập trung nhiều làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như: làng nghề chế biến cói Kim Sơn, làng nghề sản xuất rượu thủ công Lai Thành - Kim Sơn gắn với khu du lịch nhà thờ đá Phát Diệm; làng nghề mộc Phúc Lộc - phường Ninh Phong, TP Ninh Bình, làng nghề chế tác

đá mỹ nghệ Ninh Vân nằm trong quần thể khu du lịch Tràng An; làng nghề

Trang 31

thêu Văn Lâm - Ninh Hải gắn với khu du lịch Tam Cốc - Bích Động Đây là những làng nghề truyền thống đã xuất hiện từ lâu đời, thu hút nhiều lao động Sản phẩm đa dạng, phong phú và tinh tế, mang tính nghệ thuật cao chính là tiềm năng, lợi thế để phát triển làng nghề du lịch

Theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình giai đoạn 2007 -

2015 và tầm nhìn đến năm 2020 xác định các làng nghề sau nằm trên tuyến

du lịch ở Ninh Bình:

+ Làng nghề thêu ren Ninh Hải - Hoa Lư

+ Làng nghề chạm khắc đá Ninh Vân - Hoa Lư

+ Làng nghề chiếu cói Kim Sơn

+ Làng nghề mộc Ninh Phong - TP Ninh Bình

+ Làng nghề rượu Lai Thành - Kim Sơn

Làng nghề thêu truyền thống thôn Văn Lâm - xã Ninh Hải - Hoa Lư

Ninh Hải là một xã miền núi của huyện Hoa Lư, cách trung tâm huyện

về phía tây nam khoảng 15km, với phong cảnh thiên nhiên kỳ phú của quần thể khu du lịch Tam Cốc - Bích Động Ninh Hải có nền kinh tế đan xen giữa nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ du lịch, trong đó nông nghiệp chiếm 20-30%, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ du lịch chiếm 70-75%

Tương truyền, năm 1285, khi vua Trần Thái Tông tròn 40 tuổi nhường ngôi cho con lên làm Thái Thượng Hoàng đã về vùng núi Vũ Lâm tu hành (xã Ninh Hải) Bà Trần Thị Dung là vợ Thái sư Trần Thủ Độ theo triều đình nhà Trần về đây, đã truyền dạy cho dân nghề thêu ren

Hiện nay, gia đình nào ở Ninh Hải cũng có nhiều loại khung thêu Bằng những sợi chỉ mong manh đủ màu sắc, cùng với những tấm vải rộng, hẹp nhiều kích cỡ với đôi bàn tay khéo léo, bộ óc giàu trí sáng tạo, người Văn Lâm đã thả hồn vào chỉ, vào vải để tạo nên những sản phẩm mang hồn thiêng của con người, non nước một vùng quê Sản phẩm thêu ren bao gồm: ga trải giường, gối, khăn bàn, rèm cửa, tranh ảnh…

Trang 32

Các công đoạn của nghề thêu ren bao gồm: chuẩn bị nguyên liệu, tạo mẫu, pha và in màu, thêu, giặt là, kiểm tra đóng gói và cuối cùng là tiêu thụ Các công đoạn trên hiện nay đều thực hiện bằng lao động thủ công Để thêu ren hoa văn cho một sản phẩm cao cấp, người ta phải đếm tính kỹ mỗi sợi vải

để sao cho cân đối, hài hòa Mũi kim, đường chỉ phải sao cho chính xác và tinh tế

Nghề thêu đã được người dân Văn Lâm lưu giữ và truyền từ đời này sang đời khác, vượt qua bao thăng trầm của lịch sử Những sản phẩm thêu ren ở Văn Lâm từ xa xưa vốn đã hàm chứa những giá trị nghệ thuật rất cao

Làng nghề chế tác đá mỹ nghệ xã Ninh Vân - huyện Hoa Lư

Nghề chạm khắc đá Ninh Vân là nghề cổ truyền nổi tiếng không chỉ trong tỉnh mà trong phạm vi cả nước Từ những hòn đá xù xì, thô ráp, qua bàn tay khéo léo của người thợ đã trở thành những sản phẩm nghệ thuật hoàn hảo Sản phẩm đá bao gồm các loại tượng, chim, thú, bể cảnh, bia, chậu hoa, bàn, ghế, sập, hương án, ngai, cầu, cổng, ngưỡng cửa, xà nhà… Tất cả đều được chạm khắc tinh tế, sống động, đường nét tao nhã, uyển chuyển, mềm mại nhờ bàn tay khéo léo của các nghệ nhân

Công cụ điêu khắc đá chủ yếu là búa, đục, thước đo Ngày nay với công nghệ hiện đại các công cụ tự động sử dụng năng lượng như mài, khoan giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức

Quy trình sản xuất đá mỹ nghệ thường trải qua các công đoạn sau:

- Xử lý nguyên liệu thô: cưa đá thành những khối nhỏ, tùy vào mục đích sử dụng và mặt cắt của đá mà cưa phù hợp

Trang 33

+ Làm sạch phôi bằng nước và đánh nhám: Việc làm sạch này nhằm loại bỏ các họa tiết thừa, lộ rõ các họa tiết bề mặt và làm sạch sản phẩm để chuẩn bị cho giai đoạn nhuộm màu hoặc đánh xi

+ Làm màu - đánh xi - làm bóng và hoàn thiện sản phẩm:

- Sau khi tạo phôi, dùng nước rửa sạch phôi và chỉnh sửa các họa tiết thừa, người thợ bắt đầu tiến hành công đoạn sơn màu cho đá

- Tùy vào mục đích sản xất mà phôi đá được nhuộm, vẽ màu, đánh xi

và hoàn thiện thành các sản phẩm đá tinh tế và sâu lắng

Nghề chạm khắc đá ở Ninh Vân tồn tại đã bao đời theo lối gia truyền là chủ yếu Với tài năng và sự say mê lao động của người thợ, mỗi khối đá vô tri

ấy được chạm khắc thành những sản phẩm đá mỹ nghệ tinh xảo

Làng nghề mộc truyền thống Phúc Lộc - phường Ninh Phong

Làng Phúc Lộc, phường Ninh Phong, nay thuộc thành phố Ninh Bình Phúc Lộc nằm ở phía đông nam thành phố Làng có chiều dài 3km, rộng chừng 2km, gồm 5 xóm: Xóm Trại, (giáp với phường Bích Đào), Xóm Ngoài,

Xóm Giữa, xóm Trong và xóm Mơ

Phúc Lộc là vùng đất đã có lịch sử từ thời Đinh - Lê Nơi đây có một ngôi chùa thờ Phật gọi là Chùa Mật tự, ở phía cuối làng, gần xóm Mơ Chùa

có kiến trúc đặc sắc, đẹp và cổ kính Ngôi đình làng Phúc Lộc thuộc xóm Trong, tuy có quy mô không lớn nhưng vững chắc, toàn bộ gỗ lim đen bóng, trải bao độ phong sương Đền làng Phúc Lộc cũng đã được dựng từ lâu đời,

để thờ Thành hoàng là ông Tổ nghề mộc…

Phúc Lộc đang đà khởi sắc đi lên, không chỉ bằng nghề nông với năng suất lúa cao vào loại nhất nhì trong tỉnh, mà điều nổi bật chính là nghề mộc -

một tiềm năng lớn đã thức dậy trong cơ chế thị trường

Dân gian địa phương vẫn có quan niệm và phổ biến tin rằng: chính cụ

Tổ nghề mộc của Phúc Lộc rất linh thiêng, đã phù hộ cho con cháu ngày càng làm ăn phát đạt Song cũng không thể không nói đến những điều kiện tiếp thị

Trang 34

rất quan trọng, hiện thực là: Vốn, tay nghề, thị trường trong và ngoài tỉnh,

cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đúng hướng

Phúc Lộc hiện có trên 600 hộ gia đình với tổng số trên 3000 nhân khẩu, trong đó có tới 400 người làm nghề sản xuất đồ mộc và khoảng 200 người lao động phụ Người ngoài tuổi lao động cũng tham gia, từ các cháu độ 9 -10 tuổi cho đến các cụ già tuổi đã ngoại thất thập Như chúng ta thấy, hiện nay hàng đồ mộc sản xuất ở Phúc Lộc đại đa số là hàng thông dụng như giường, tủ, bàn ghế,

sa lông, cửa các loại, chấn song và tay vịn cầu thang bằng gỗ, hàng trang trí nội thất… với chất lượng đảm bảo, mẫu mã phổ biến, giá thành hợp lý Đồng thời, Phúc Lộc cũng có không ít những tay thợ giỏi đã tạo ra những loại đồ gỗ cao cấp, cầu kỳ, sang trọng theo truyền thống như: tủ chè, sập gụ, sập lim, chạm trổ hoa văn các loại… phù hợp với nhu cầu của khách hàng, hoặc tạc tượng, làm các

loại đồ gỗ phục vụ tế tự, lễ hội, tu sửa đền chùa, miếu mạo…

Để giải phóng sức lao động và nâng cao năng suất lao động, hầu hết các

hộ gia đình, các cơ sở sản xuất đồ mộc hiện đều trang bị máy móc hiện đại các loại: máy cưa, bào, khoan, tiện… Thế nhưng, không có máy nào thay thế được đôi bàn tay tài hoa, khéo léo của những nghệ nhân đồ mộc mỹ nghệ

Phúc Lộc đã có truyền thống hàng trăm năm nay

Làng nghề sản xuất, chế biến cói - huyện Kim Sơn

Cây cói xuất hiện ở Kim Sơn mới gần 2 thế kỷ nhưng đã có một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế của huyện Người dân Kim Sơn đã dùng cây cói làm ra các sản phẩm: chiếu, làn, khay, hộp, đĩa, cốc, tách, túi xách, mũ… Đặc biệt, khi nói đến nghề sản xuất, chế biến cói Kim Sơn, phải nói đến nghề dệt chiếu Chiếu Kim Sơn có khá nhiều loại như chiếu trơn, chiếu hoa, chiếu cải… Ngoài ra, chiếu cũng có thể sản xuất các loại kích cỡ khác theo yêu cầu của khách hàng

Dệt chiếu là một quá trình lao động sáng tạo, vất vả, thận trọng từ khâu chọn cói, phơi cói, nhuộm cói, dệt… Trong đó, quan trọng nhất là khâu chọn cói Mỗi lần cắt cói người thợ rất tinh, chọn những cây không non quá cũng

Trang 35

không quá già để khi dệt sợi chiếu có độ mềm vừa phải Kỹ thuật phơi cũng phải chọn thời điểm nắng để phơi sao cho thật khô và trắng Chính vì thế chiếu Kim Sơn luôn có màu vàng mơ, sáng đẹp Khi nhuộm, muốn màu không phai, không dính lên quần áo khi nằm, cói phải được nhúng vào chảo màu đang sôi, chờ cho nước sôi lại lần nữa để màu thấm vào từng sợi cói

Để có một chiếc chiếu bao giờ cũng cần hai người mới hoàn thành được, một người vai trò là dệt, một người là lao cói - người đưa sợi cói vào khung dệt Điểm đặc biệt trong kỹ thuật dệt chiếu của người Kim Sơn còn có

kỹ thuật cải hoa làm cho chiếu đẹp và hấp dẫn người mua, đáp ứng các mục đích sử dụng khác nhau như cưới, lễ muốn vậy người cải hoa phải nhanh, uyển chuyển, mềm mại, mắt phải tinh, tay phải chính xác, thuộc từng nốt cải

để chiếu đan không bị lỗi Bên cạnh đó người lao cói phải nhanh, tạo được sự nhịp nhàng với người dệt Để in hình lên chiếu, người thợ dùng khuôn in trổ, đúc bằng đồng chạm thủng mô tả các hình hoa loa kèn, đường viền kỷ hà, trái đào, các chữ “hạnh phúc gia đình”, “trăm năm hạnh phúc”, hình con bướm, trái đào, năm sản xuất…

Ngoài cách làm chiếu thủ công truyền thống, nhiều hộ dân đã đầu tư máy móc để làm chiếu theo hướng công nghiệp, cho ra sản lượng nhiều hơn, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường

Làng nghề Rượu Lai Thành - Kim Sơn

Làng nghề sản xuất rượu thủ công Lai Thành, Kim Sơn có vị trí cách Nhà thờ đá Phát Diệm Kim Sơn khoảng 3km, nằm trên đoạn đường ra biển (đường 481) Ở Kim Sơn, nếu rượu được nấu từ gạo lứt nếp chiêm gọi là rượu chiêm và rượu được nấu từ gạo lứt nếp vụ mùa thì gọi là rượu mùa Khi nấu rượu thì gạo nếp không cần xay trắng, chỉ cần xay lứt, có nghĩa là lớp cám bọc bên ngoài hột gạo còn y nguyên Ngâm gạo vài tiếng trước khi nấu thành cơm rượu Cơm rượu nấu xong thì dàn ra một cái nia lớn cho nguội khoảng một giờ

Trang 36

Men được giã nhỏ và rắc đều lên trên mặt cơm rượu Sau đó xếp lần lượt từng lớp vào một thúng có bọc lót lá khoai nước sao cho mặt trên lớp này (có men vừa rắc) úp vào mặt dưới lớp kia Đậy kýn thúng bằng lá chuối khô

và không được mở ra để xem, vì rượu sẽ không lên men đều được Men rượu được làm bởi những gia đình có kinh nghiệm lâu đời tại địa phương nên rất thơm và khô Để có men quý người ta cho vào đó một số dược liệu có tác dụng thông khí huyết, diệt khuẩn

Tùy kinh nghiệm mà người đặt rượu sẽ để mấy ngày thì có thể đem ra nấu rượu Nếu đem ra sớm quá thì sẽ được ít rượu, hèm còn ngọt, mà nếu để chậm quá thì cũng hỏng

Dụng cụ để nấu rượu gồm một nồi lớn, không cần vung Bên trên nồi này là một thùng tròn đóng bằng gỗ như cái trống, có đặt máng và ống dẫn rượu ra ngoài, trên cùng thường là một chậu lớn đặt nghiêng Trong chậu này đựng nước thường xuyên được thay để giữ lạnh Hơi rượu bốc lên từ nồi dưới, gặp lạnh ở đáy chậu đựng nước lạnh phía trên, sẽ hóa lỏng mà theo máng chảy ra ngoài rồi được hứng vào chai

Những chai đầu bao giờ độ rượu cũng rất nặng, kể từ chai thứ ba thì gọi

là rượu tăm, còn mấy chai sau gọi là rượu bào Tùy theo người nếm mà quyết định lấy bao nhiêu chai để rồi pha trộn vào nhau mới thành rượu ngon được Đây cũng là bí quyết của từng nhà mà tiếng chuyên môn gọi là “đấu rượu”

Tiểu kết Chương 1

Như vậy, làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công có lịch sử phát triển lâu đời Đây là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống

Du lịch làng nghề là một hoạt động du lịch vừa có tính chất của du lịch thôn quê, vừa có tính chất của du lịch văn hóa đồng thời có cả yếu tố của du lịch sinh thái Hoạt động du lịch diễn ra trong không gian làng nghề thủ công truyền thống vừa có giá trị văn hóa lẫn giá trị kinh tế Đây là hoạt động giúp nâng cao hiểu biết của khách du lịch về lịch sử hình thành và phát triển của

Trang 37

làng nghề góp phần tăng thêm tình yêu quê hương đất nước, tình yêu cuộc sống mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho địa phương

Mặc dù du lịch làng nghề có nhiều ưu điểm nhưng không phải làng nghề thủ công truyền thống nào cũng có thể phát triển loại hình du lịch này

Để phát triển, cần đến một số điều kiện nhất định bao gồm các điều kiện để bản thân làng nghề có thể tồn tại và phát triển lâu dài và các điều kiện cho hoạt động du lịch phát triển

Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Nam của đồng bằng sông Hồng, nơi

có nhiều tài nguyên về du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Trong

đó làng nghề thủ công truyền thống cũng là một tài nguyên quan trọng góp phần phát triển du lịch Ninh Bình có một số làng nghề có tiềm năng phát triển du lịch như làng thêu ren Văn Lâm, làng chế tác đá Ninh Vân, làng chế biến cói Kim Sơn, làng nghề mộc Phúc Lộc - Ninh Phong, làng nghề rượu Kim Sơn Các làng nghề này đều có những vị trí thuận lợi đó là nằm gần kề các khu du lịch lớn của tỉnh, đồng thời cũng lưu giữ những giá trị văn hóa thuận lợi cho việc phát triển làng nghề gắn với du lịch

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH NINH BÌNH

2.1 THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ

2.1.1.Khái quát chung

Theo Sở Công thương Ninh Bình, tính đến 2011 có 54 làng nghề được UBND tỉnh công nhận đạt danh hiệu làng nghề cấp tỉnh, trong đó 33 làng nghề sản xuất, chế biến cói; 04 làng nghề thêu ren; 05 làng nghề chế tác đá

mỹ nghệ; 02 làng nghề mộc mỹ nghệ; 04 làng nghề mây tre đan; 02 làng nghề bún bánh; 01 làng nghề gốm sứ; 01 làng nghề cốt chăn bông, 02 nghề chẻ tăm hương Các làng nghề sau khi được công nhận hàng năm đều có giá trị sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế

Tuy nhiên, sự phân bố của các làng nghề trên địa bàn tỉnh không đồng đều nhau giữa các địa bàn trên huyện Có những huyện tập trung với mật độ dày đặc như Kim Sơn, và có địa bàn có ít làng nghề như TP Ninh Bình chỉ

có 01 làng nghề và có huyện không có làng nghề nào như TX Tam Điệp

Bảng 2.1: Thống kê các làng nghề đã được công nhận trên địa bàn tỉnh

Phân theo địa bàn huyện, thị xã, thành phố (2006 - 2011)

Trang 39

Bảng 2.2: Số liệu phân bố các làng nghề theo nhóm nghề

( Nguồn: Sở Công thương Ninh Bình năm 2011)

Theo bảng số liệu 2.1, ta thấy huyện Kim Sơn là địa bàn tập trung số lượng làng nghề lớn nhất và số làng nghề chiếm đến 33 làng và chủ yếu là sản xuất nghề chiếu cói Tiếp theo, huyện Yên Khánh có 07 làng, Hoa Lư có

07 làng nghề, Yên Mô 06 làng, Gia Viễn 06 làng, Nho Quan có 04 làng

Các làng nghề ở Ninh Bình có sự phân bố khác nhau ở các huyện thị,

cơ cấu các ngành nghề theo nhóm nghề cũng có sự chênh lệch đáng kể Theo Bảng số liệu thống kê các làng nghề theo nhóm nghề của Sở Công thương Ninh Bình thì trong số 54 làng nghề được tỉnh công nhận thì nhóm làng nghề chế biến cói chiếm tỷ lệ cao nhất, có tới 33 làng nghề chiếm 61% trong tổng

số các nghề Các nghề chế biến cói chủ yếu chỉ tập trung ở huyện Kim Sơn vì đây là nơi tập trung vùng nguyên liệu chính của nghề cói Tiếp sau đó là các nghề chế tác đá mỹ nghệ chiếm 05 làng và tập trung toàn bộ ở địa bàn xã Ninh Vân, huyện

Hoa Lư, nghề thêu ren có 04 làng thì có 02 làng thuộc huyện Gia Viễn,

01 làng ở Nho Quan và 01 làng ở Ninh Hải, Hoa Lư là huyện có quy mô lớn

Trang 40

nhất và nghề mây tre đan là 04 làng và các làng nghề khác như nghề làm bún, bánh, nghề chẻ tăm hương, nghề làm cốt chăn bông

Cơ cấu lao động trong khu vực làng nghề:

Bảng 2.3: Số liệu lao động làm nghề trong số lao động của làng nghề của

(Nguồn: Sở Công thương Ninh Bình, 2011)

Cơ cấu lao động trong khu vực làng nghề của tỉnh thể hiện rất rõ số lao động làm nghề chiếm ưu thế trong tổng số lao động trong các làng nghề Thể hiện qua các năm đều chiếm tỷ lệ lớn từ 70% trở lên trong tổng số lao động

Tỷ lệ lao động làm nghề trong giai đoạn từ 2008 - 2011 có xu hướng tăng lên qua các năm Số lao động hoạt động tại các làng nghề truyền thống được công nhận năm 2008 đạt 26.789 lao động, năm 2009 đạt 29.839 lao động, năm

2010 đạt 31.816 lao động, năm 2011 đạt 31.944 lao động Lao động hoạt động nghề chiếm tỷ lệ bình quân trên 70% so với tổng số lao động của làng

Năm 2008 là 70,61 % thì năm 2011 tỷ lệ này chiếm 83,24% Số lao động làm nghề trong các làng nghề đã tăng lên, chứng tỏ làm ngành nghề nông thôn đang tạo ra sự thu hút cho người lao động Thu nhập cho lao động làm nghề tăng lên, giúp đảm bảo đời sống cho người dân nên người lao động tham gia vào làm nghề nhiều hơn so với các lĩnh vực khác trong cơ cấu kinh

tế của các làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Như vậy ta có thể khẳng định đại đa số lao động trong làng nghề gắn bó với nghề

Thu nhập bình quân người lao động hoạt động nghề tăng khá, năm

2005 đạt 470 nghìn đồng/tháng, năm 2006 đạt 600 nghìn đồng/tháng, năm

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Văn Bài, Bảo tồn giá trị nghề thủ công truyền thống, Tham luận Hội thảo "Bảo tồn bền vững làng nghề Hà Tây - Thực trạng và giải pháp", ngày 2/11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn bền vững làng nghề Hà Tây - Thực trạng và giải pháp
2. Bản chép tay về kỹ thuật thêu và chương trình dạy nghề thêu của nghệ nhân Chu Văn Lượng, thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chép tay về kỹ thuật thêu và chương trình dạy nghề thêu
3. Lã Đăng Bật (2007), Di tích danh thắng Hoa Lư – Ninh Bình, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích danh thắng Hoa Lư – Ninh Bình
Tác giả: Lã Đăng Bật
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2007
4. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, (2008), Giáo trình Kinh tế Du lịch, NXB ĐH Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NXB ĐH Kinh tế Quốc dân
Năm: 2008
5. Nguyễn Thế Giang (1982), Kinh đô cũ Hoa Lư, NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh đô cũ Hoa Lư
Tác giả: Nguyễn Thế Giang
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1982
6. Đinh Văn Hùng, Đặng Công Nga, Lã Đăng Bật... (2007), Ninh Bình – 185 năm lịch sử và phát triển (Ninh Bình - 185 years history and develop- ment). NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ninh Bình – 185 năm lịch sử và phát triển (Ninh Bình - 185 years history and develop-ment)
Tác giả: Đinh Văn Hùng, Đặng Công Nga, Lã Đăng Bật
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội
Năm: 2007
7. Phạm Thị Loan, (2003) Nghề thủ công truyền thống chạm khắc đá ở xã Ninh Vân – Hoa Lư Ninh Bình từ 1986 đến 2003 – luận văn Th.s Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ công truyền thống chạm khắc đá ở xã Ninh Vân – Hoa Lư Ninh Bình từ 1986 đến 2003
8. Nguyễn Hữu Niên (2001), Phát triển kinh tế làng nghề ở tỉnh Bắc Giang thực trạng và giải pháp, luận văn Th.s Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế làng nghề ở tỉnh Bắc Giang thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Hữu Niên
Năm: 2001
9. TS Trần Nhoãn (2005), Tổng quan du lịch, NXB Đại học Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan du lịch
Tác giả: TS Trần Nhoãn
Nhà XB: NXB Đại học Văn hóa
Năm: 2005
11. Phạm Quốc Sử (2007), Phát triển du lịch làng nghề nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà Tây, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch làng nghề nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà Tây
Tác giả: Phạm Quốc Sử
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
16. Phạm Thị Thảo (2007), Phát huy nghề và làng nghề truyền thống, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy nghề và làng nghề truyền thống
Tác giả: Phạm Thị Thảo
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2007
17. Trần Đức Thanh (1998), Nhập môn khoa học du lịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
19. Trương Đình Tưởng (2004), Địa chí Văn hóa dân gian Ninh Bình, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Văn hóa dân gian Ninh Bình
Tác giả: Trương Đình Tưởng
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
25. Trần Minh Yến, Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Khoa học Xã hội.Nguồn Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội. Nguồn Internet
12. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Ninh Bình (2008), Rà soát quy hoạch ngành nghề nông thôn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 1015 Khác
13. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Ninh Bình (2012), Báo cáo kết quả 2 năm thực hiện nghị quyết số 1515 - NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Khác
14. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình (2012), Báo cáo tình hình kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ năm 2002 - 2011 Khác
15. Sở Công thương Ninh Bình (2011), Báo cáo tình hình phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề Khác
18. Tỉnh ủy Ninh Bình (2009), Nghị quyết số 15 - NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Khác
24. UBND xã Ninh Hải (14/3/2012), Báo cáo khái quát chung tình hình kinh tế - xã hội và nghề thêu của xã Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê các làng nghề đã được công nhận trên  địa  bàn  tỉnh  phân  theo  địa  bàn  huyện,  thị  xã,  thành  phố  (2006 - 2011) - Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.1 Thống kê các làng nghề đã được công nhận trên địa bàn tỉnh phân theo địa bàn huyện, thị xã, thành phố (2006 - 2011) (Trang 5)
Bảng 2.1: Thống kê các làng nghề đã được công nhận trên địa bàn tỉnh  Phân theo địa bàn huyện, thị xã, thành phố (2006 - 2011) - Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.1 Thống kê các làng nghề đã được công nhận trên địa bàn tỉnh Phân theo địa bàn huyện, thị xã, thành phố (2006 - 2011) (Trang 38)
Bảng 2.2: Số liệu phân bố các làng nghề theo nhóm nghề   ở Ninh Bình năm 2011 - Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.2 Số liệu phân bố các làng nghề theo nhóm nghề ở Ninh Bình năm 2011 (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w