Qua công tác thống kê cho thấy lượng khách du lịch đến các LNTT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hàng năm có khoảng 15.000 - 20.000 lượt khách, chỉ chiếm tỷ trọng 0,3 - 0,4% tổng lượt khách đế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Hải
HÀ NỘI – 2014
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 9
1.1 Khái niệm 9
1.1.1 Làng nghề truyền thống 9
1.1.2 Du lịch làng nghề truyền thống 10
1.2 Các điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống 10
1.2.1 Nhu cầu của du khách 10
1.2.2 Tài nguyên du lịch làng nghề 12
1.2.3 Nguồn nhân lực 13
1.2.4 Chính sách phát triển du lịch làng nghề truyền thống 13
1.2.5 Cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật 15
1.2.6 Vốn cho phát triển du lịch 15
1.3 Ý nghĩa của việc phát triển du lịch làng nghề truyền thống 16
1.4 Khái quát về du lịch làng nghề ở Việt Nam 18
1.4.1 Làng nghề Việt Nam 18
1.4.2 Tình hình phát triển du lịch làng nghề ở Việt Nam 19
1.4.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch làng nghề truyền thống 22
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỈNH BẮC NINH 30
2.1 Khái quát về du lịch Bắc Ninh 30
2.1.1 Giới thiệu chung 30
2.1.2 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh 32
Trang 42.2 Điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh 38
2.2.1 Nhu cầu của du khách 38
2.2.2 Tài nguyên du lịch 39
2.2.3 Nguồn nhân lực 48
2.2.5 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch làng nghề truyền thống 50
2.2.6 Hoạt động xúc tiến phát triển du lịch làng nghề truyền thống 53
2.2.7 Đánh giá chung 53
2.3 Thực trạng du lịch làng nghề ở làng gốm Phù Lãng và làng tranh dân gian Đông Hồ 55
2.3.1 Lý do lựa chọn 55
2.3.2 Khách du lịch 56
2.3.3 Sản phẩm du lịch 59
2.3.4 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 63
2.3.5 Doanh thu du lịch 67
2.4 Tác động của hoạt động du lịch làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh 68
2.4.1 Tác động tới chất lượng cuộc sống 68
2.4.2 Tác động tới việc bảo tồn giá trị của làng nghề 70
2.4.3 Tác động tới môi trường trong khu vực 70
Tiểu kết chương 2 72
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CÁC LÀNG NGHỀ CỦA TỈNH BẮC NINH 74
3.1 Định hướng phát triển 74
3.1.1 Cơ sở định hướng 74
3.1.2 Các định hướng chính 74
3.2 Giải pháp phát triển 75
Trang 53.2.1 Giải pháp về quy hoạch 75
3.2.2.Giải pháp về thị trường 76
3.2.3 Giải pháp về sản phẩm và liên kết các tuyến du lịch 78
3.2.4 Giải pháp về đầu tư vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật 80
3.2.5 Giải pháp về hỗ trợ cộng đồng địa phương 84
3.2.6 Giải pháp về bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề 86
3.2.7 Giải pháp về bảo vệ tài nguyên môi trường 87
3.2.8 Giải pháp về xúc tiến, quảng bá 89
3.3 Một số kiến nghị 90
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC i
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Lượng khách du lịch đến Bắc Ninh giai đoạn 2006 - 2013 34
Bảng 2.2: Số lượng các làng nghề tỉnh Bắc Ninh - năm 2013 40
Bảng 2.3: Cơ cấu ngành nghề ở làng nghề tỉnh Bắc Ninh - 2013 41
Bảng 2.4: Lao động trong ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh (2007 - 2013) 48
Bảng 2.5: Mức độ tham gia các hoạt động du lịch làng nghề truyền thống 49
Bảng 2.6: Tỉ lệ cơ sở sản xuất tại làng nghề nhận được sự hỗ trợ trong 50
Bảng 2.7: Số lượng cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Bắc Ninh (2006 - 2013) 52
Bảng 2.8: Lượng khách du lịch đến Phù Lãng và Đông Hồ giai đoạn 2009-2013 56
Bảng 2.9: Hình thức đi du lịch của khách khi đến làng nghề 58
Bảng 2.10: Số lần khách đến làng nghề 59
Bảng 2.11: Điểm hấp dẫn du khách khi đến với làng nghề 61
Bảng 2.12: Tình hình tiêu dùng các loại hình dịch vụ du lịch của LN gốm Phù Lãng và tranh Đông Hồ 66
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh phân theo thị trường (Giai
đoạn 2006 - 2013 ) 35
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh phân theo mục đích chuyến đi (Giai đoạn 2006 - 2013) 35
Biểu đồ 2.3: Doanh thu du lịch tỉnh Bắc Ninh 37
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu doanh thu du lịch 37
Biểu đồ 2.5: Nhu cầu của du khách khi đến với làng nghề truyền thống 38
Biểu đồ 2.6: Lượng khách du lịch đến Phù Lãng và Đông Hồ giai đoạn 2009-2013 57
Biểu đồ 2.7: Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách về sản phẩm làng nghề 61
Biểu đồ 2.8 : Doanh thu từ sản phẩm làng nghề giai đoạn 2008 – 2013 67
Hình 2.1: Sơ đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh 31
Hình 2.2: Phân bố các làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh 44
Hình 3.3: Bản đồ các tuyến du lịch tỉnh Bắc Ninh 78
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa CSSX Cơ sở sản xuất
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của du lịch toàn cầu và những xu hướng du lịch mới xuất hiện trong thời gian gần đây đã và đang thúc đẩy cạnh tranh mạnh mẽ giữa các quốc gia trên thế giới Trong bối cảnh chung, Du lịch Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ và tăng trưởng liên tục, đóng góp đáng kể cho phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội nước ta, khẳng định chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong công cuộc đổi mới, CNH - HĐH đất nước
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, LNTT đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc mỗi quốc gia Mỗi LN như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thể thay thế; một cách giới thiệu sinh động về đất nước và con người của mỗi vùng miền, địa phương Phát triển du lịch LN chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch LN không chỉ thể hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá của dân tộc Đó
là những lợi ích lâu dài không thể tính được trong ngày một ngày hai
Trong những năm gần đây, loại hình du lịch LNTT ở Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng Đi dọc chiều dài đất nước,
du khách gần như có thể dừng chân ở bất cứ địa phương nào để tìm hiểu về LNTT Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng hơn
3000 LN thủ công, thuộc 11 nhóm nghề chính là sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá, kim khí Trong đó tỉnh Bắc Ninh là địa phương tập trung nhiều LNTT đặc sắc như: làng đúc đồng Đại Bái, làng gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, làng tranh dân gian Đông Hồ, làng mây tre hun Xuân Lai, làng gốm Phù Lãng… LN ở Bắc Ninh có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay, được phân bố
Trang 10rộng khắp trên địa bàn tỉnh và hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế chủ yếu Lợi thế của phần lớn các LN ở Bắc Ninh là nằm trên trục giao thông thuận lợi, cả đường
bộ lẫn đường sông nên thuận tiện để xây dựng các chương trình du lịch
Bước vào thời kỳ đổi mới, hoạt động LN đã đóng góp cho xã hội một lượng hàng hoá khá phong phú, giải quyết việc làm và tăng thêm thu nhập cho cư dân nông thôn, và một phần không nhỏ thu nhập có được là từ nguồn tiêu dùng của khách du lịch Tuy nhiên, dưới góc độ quản lý việc khai thác lợi thế của LN cho việc phát triển du lịch của địa phương được xem là chưa hiệu quả và mang tính tự phát, chưa hình thành cách làm chuyên nghiệp Qua công tác thống kê cho thấy lượng khách du lịch đến các LNTT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hàng năm có khoảng 15.000 - 20.000 lượt khách, chỉ chiếm tỷ trọng 0,3 - 0,4% tổng lượt khách đến Bắc Ninh, đồng nghĩa với việc khai thác thế mạnh làng nghề truyền thống cho hoạt động
du lịch còn chưa được coi trọng Bởi vậy, vấn đề đi tìm các biện pháp để du lịch LN thực sự phát huy tiềm năng và hiệu quả, đóng góp ngày một lớn và bền vững hơn cho mục tiêu phát triển du lịch cũng như phát triển kinh tế, xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa… được coi là nhiệm vụ hết sức cấp thiết, nhất là trong giai đoạn Việt Nam đang từng bước hội nhập toàn diện cùng với châu lục và thế giới
Xuất phát từ những lý do trên, để đánh giá đúng thực trạng và đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm khai thác tốt các thế mạnh của làng nghề vào việc phát triển
du lịch Với mong muốn thúc đẩy du lịch Bắc Ninh phát triển hơn nữa, đồng thời góp phần phát huy giá trị văn hóa truyền thống tỉnh Bắc Ninh, tác giả đã lựa chọn
đề tài: “ Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh”
làm nội dung nghiên cứu
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Liên quan đến LN và du lịch LN thời gian qua đã có những công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau Học viên đã tìm hiểu một số công trình khoa học của các nhà khoa học để có thể vận dụng những kết quả khoa học đã đạt được vào lĩnh vực nghiên cứu của luận văn, cụ thể là:
Thứ nhất là những nghiên cứu về LN và sự phát triển LN, gồm có:
Trang 11- “Làng nghề truyền thống Việt Nam” [21], tác giả Phạm Côn Sơn
- “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH- HĐH” [31] của tác giả Trần Minh Yến
- “Phát triển cụm công nghiệp nông thôn từ làng nghề truyền thống” [2] của tác giả Đào Thế Anh
- “Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” [1] tác giả Bạch Thị Lan Anh
- “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng Sông Hồng”[7], tác giả Nguyễn Trí Dĩnh (chủ biên)
- “Một số vấn đề bảo tồn và phát triển làng nghề”[17] của tác giả Liên Minh
- “Thực trạng và những giải pháp nhằm phát triển làng nghề tỉnh BắcNinh” [16], Kỷ yếu hội thảo khoa học của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
- ''Cho vay vốn để hỗ trợ các làng nghề truyền thống một hướng đi đúng góp phần đẩy mạnh CNH- HĐH nông thôn Bắc Ninh''[28], tác giả Nguyễn Thế Thư
- “Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003.Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp” [6] của tác giả Nguyễn Như Chung
Kết quả nghiên cứu của nhóm công trình khoa học này đã cung cấp một hệ thống lý luận khoa học về LNTT của Việt Nam Đồng thời, đã hệ thống hóa được nhiều bài học kinh nghiệm quan trọng và thiết thực trong quá trình khôi phục và phát triển các LNTT, góp phần đưa sự nghiệp CNH - HĐH nông thôn phù hợp với
xu hướng phát triển của thời đại
Thứ hai là những nghiên cứu về du lịch LNTT, bao gồm:
- “Làng nghề du lịch Việt Nam” [5] của GS-TS Hoàng Văn Châu
- “Tìm hướng phát triển cho du lịch làng nghề Việt Nam” [29], Trang tin Ban quản
lý di tích khu tưởng niệm các vua nhà Mạc
- ''Mỗi làng một sản phẩm, là giải pháp để phát triển du lịch bền vững - kinh nghiệm
từ các nước và Việt Nam'' [8], tác giả Vũ Văn Đông
Trang 12- ''Du lịch làng nghề ở Đồng bằng sông Cửu Long - Một lợi thế văn hóa để phát triển du lịch''[19], tác giả Nguyễn Phước Quý Quang
- “Phát triển làng nghề, ngành nghề gắn với du lịch” [15], tác giả An Vân Khanh
- “Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn và sự tham gia của các công ty du lịch lữ hành vào việc phát triển du lịch nông thôn ở Việt Nam” [10] của tác giả Nguyễn Xuân Hoản và Đào Thế Anh
- ''Tiềm năng phát triển làng nghề du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế'' [4], tác giả Nguyễn Thị Ngọc Cẩm
- “Khai thác làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong các chương trình du lịch của tỉnh” [25], chuyên đề của Phòng Nghiệp vụ Du lịch tỉnh Bắc Ninh 2013
Kết quả của nhóm công trình khoa học này có ý nghĩa về mặt thực tiễn quan trọng đối với xu thế phát triển ngành du lịch gắn liền với LNTT ở Việt Nam Kết quả này đã đưa ra được nhiều hướng mở cho quá trình phát triển ngành du lịch nói chung, đồng thời gìn giữ và phát huy bản sắc và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế nói riêng
Đánh giá chung:
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã có nhiều cách tiếp cận và giải quyết vấn đề dưới những góc độ khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu các LNTT nhằm phục
vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thì có ít công trình nghiên cứu chuyên sâu Đó
là lý do học viên chọn đề tài “ Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh” làm nội dung nghiên cứu
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch LN tỉnh Bắc Ninh Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm khai thác tốt các thế mạnh của LN cho phát triển du lịch, tạo ra những động lực thu hút mạnh mẽ lượng khách du lịch và đưa về nguồn thu cao hơn từ du lịch cho địa phương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Từ mục tiêu trên, nhiệm vụ của đề tài cần giải quyết những vấn đề sau:
Trang 13- Tổng quan cơ sở lí luận về du lịch LNTT
- Khảo sát, đánh giá tiềm năng phát triển du lịch tại các LNTT của tỉnh Bắc Ninh
- Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại một số LNTT tỉnh Bắc Ninh và những tác động của du lịch tới kinh tế-xã hội và môi trường của khu vực
- Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch tại một số điểm nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Bắc Ninh và cụ thể hóa ở làng nghề gốm Phù Lãng và làng nghề tranh Đông Hồ
- Phạm vi khoa học:
+ Phân tích cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn về LNTT và du lịch LNTT
+ Phân tích tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch LNTT tỉnh Bắc Ninh
+ Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tại các LNTT của Bắc Ninh
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm lãnh thổ
Bất cứ đối tượng địa lí KT - XH nào cũng gắn liền với một lãnh thổ nhất định,
do đó quan điểm lãnh thổ là quan điểm đặc thù của ngành Địa lí Hoạt động du lịch cũng vậy, nó có sự khác biệt rõ rệt giữa các địa phương về tốc độ, quy mô, chức năng, hiện trạng phát triển,…và tác động tới sự phát triển KT - XH từng địa phương Quan điểm này được vận dụng vào đề tài thông qua việc đánh giá những tiềm năng cho phát triển du lịch, lợi thế so sánh và hạn chế của địa phương trong phát triển du lịch của cả nước
dưới sự tác động của việc phát triển du lịch LNTT
Trang 145.1.3 Quan điểm lịch sử
Khi nghiên cứu một đối tượng địa lí, phải chú ý tới sự hình thành, phát triển của đối tượng đó trong quá khứ; như vậy mới hiểu được bản chất của sự vật hiện tượng đó ở hiện tại và lí giải được nguồn gốc của chúng Vận dụng quan điểm này vào đề tài cần xem xét quá trình phát triển của du lịch LNTT cũng như những tác động của nó tới đời sống KT- XH, văn hóa ở khu vực nghiên cứu trong những năm gần đây
5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm phát triển bền vững xuất hiện từ cuối thế kỷ XX và trở thành một nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu, một quan điểm trong tiến trình phát triển của các quốc gia trên thế giới nhằm khắc phục những hạn chế của quá trình phát triển trước
đó Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ mai sau trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường Đề tài vận dụng quan điểm này nhằm đưa ra những giải pháp phát triển du lịch bền vững tại các LNTT tỉnh Bắc Ninh
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau một cách có chọn lọc để đảm bảo tính đa dạng và chính xác của thông tin; đồng thời phân tích xử lí các số liệu thu thập được nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài
5.2.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu địa bàn Xuất phát từ bản đồ hành chính, các kết quả nghiên cứu lại được thể hiện thông qua các bản đồ, biểu đồ mới để phản ánh các đặc điểm không gian - thời gian của các thành phần Bao gồm: bản đồ hành chính tỉnh, bản đồ du lịch tỉnh
Trang 155.2.3 Phương pháp thực địa
Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã đi thực tế khảo sát, quan sát thực địa trên địa bàn nghiên cứu Qua kết quả điều tra thực tế đối chiếu lại một số nhận định, kịp thời điều chỉnh hướng nghiên cứu khi cần thiết Học viên đã tiến hành điều tra khảo sát làm 3 đợt, đợt 1-tiến hành vào dịp tháng giêng (sau tết Nguyên Đán), đợt 2-vào tháng 3, đợt 3- vào tháng 6
5.2.4 Phương pháp điều tra xã hội học
Trên cơ sở xây dựng bảng hỏi có nội dung hợp lí, tác giả đã khảo sát lấy ý kiến của cộng đồng địa phương, khách du lịch và doanh nghiệp du lịch trên địa bàn nghiên cứu Bảng hỏi được sử dụng để thu thập thông tin định lượng chung về sự biến đổi mức sống, thu nhập, cơ cấu lao động nghề nghiệp…ở một số địa bàn tại khu vực Việc chọn hộ điều tra được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, đảm bảo tính khách quan Cụ thể, đối với khách du lịch, ở mỗi LN được điều tra khảo sát, học viên đã tiến hành với 50 phiếu; đối với địa phương, học viên khảo sát với 15 phiếu (bao gồm các gia đình nghệ nhân LN và một số lao động tại LN)
5.2.5 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiến hành trao đổi thông tin, tham khảo
ý kiến của các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực địa lí, lịch sử, du lịch, văn hóa -
xã hội, môi trường…và một số lãnh đạo các cấp có liên quan Cụ thể, học viên đã trao đổi với các nghệ nhân của LN gốm Phù Lãng, nghệ nhân làng tranh Đông Hồ, các vị lãnh đạo thôn, xã của LN khảo sát và một số công chức thuộc Sở VH-TT và
DL, Sở Công thương Bắc Ninh
5.2.6 Phương pháp kế thừa
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tiếp thu những kết quả của các nghiên cứu liên quan đến du lịch LN Việt Nam và du lịch LN Bắc Ninh Trên cơ sở những thành công đạt được và những mặt còn hạn chế của các nghiên cứu trước đó
để làm cơ sở định hướng cho tác giả thực hiện đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 16- Ý nghĩa khoa học : Đề tài là sự tiếp nối, kế thừa trong việc nghiên cứu, tìm hiểu
việc phát triển du lịch LN nhằm góp phần bảo tồn, phát huy, phát triển các giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống của nước ta nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng
có tiềm năng phát triển du lịch LNTT
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về làng nghề truyền thống và du lịch
Trang 17- Làng nghề truyền thống
Cũng theo tác giả Mai Thế Hởn, LNTT là những làng có tuyệt đại đa số bộ phận dân số làm nghề cổ truyền Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm Trong làng sản xuất mang tính tập trung,
có nhiều nghệ nhân tài hoa và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt nhân để phát triển nghề Cùng với thời gian, các LN thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó Sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh xảo, nổi tiếng và đậm nét văn hóa dân tộc [11, tr.13-15]
Theo tác giả, để xác định một LN là LNTT thì cần có những tiêu chí sau: + Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở LN đạt từ 50% trở lên so với tổng
Trang 181.1.2 Du lịch làng nghề truyền thống
Nhìn chung, khái niệm du lịch LNTT vẫn còn khá mới mẻ ở nước ta Du lịch LNTT thuộc loại hình du lịch văn hóa đang thu hút sự quan tâm của nhiều du khách trong và ngoài nước Bởi LNTT là nơi chứa đựng kho tàng kinh nghiệm kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công truyền thống Đó chính là phần văn hóa phi vật thể Ngoài ra, LNTT còn có các giá trị văn hóa vật thể như: đình, chùa, các di tích có liên quan trực tiếp đến LN, các sản phẩm thủ công
Theo TS.Trần Nhạn trong “Du lịch và kinh doanh du lịch” thì “du lịch văn hóa
là loại hình du lịch mà khách du lịch muốn thẩm nhận bề dày lịch sử, di tích văn hóa, những phong tục tập quán còn hiện diện… bao gồm hệ thống đình, chùa, lễ hội, các phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, giao tiếp” [20, tr.15]
Từ đó, ta có thể hiểu du lịch LNTT như sau:du lịch LNTT là loại hình du lịch văn hóa mà du khách muốn thẩm nhận các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có liên quan mật thiết đến một LNTT của dân tộc
Nghiên cứu phát triển du lịch LNTT là nhằm chỉ ra những điều kiện và yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch LNTT, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy du lịch LNTT phát triển
1.2 Các điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống
1.2.1 Nhu cầu của du khách
Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch là nhu cầu (hay còn gọi là động cơ) của du khách Thông thường du khách đi du lịch
vì các lý do như có kỳ nghỉ, thăm bạn bè người thân, đi tìm hiểu học tập, kinh doanh hay lý do thể thao Đối với các nhà kinh doanh du lịch, việc nắm được lý do
đi du lịch của du khách là vô cùng quan trọng Có nắm được nhu cầu thì mới có thể đưa ra những sản phẩm có khả thi tiêu thụ nhanh Động cơ đi du lịch của du khách
có thể chia làm các nhóm khác nhau: động cơ đáp ứng nhu cầu tự nhiên như nghỉ ngơi, thể thao và các nhu cầu có liên quan đến sức khỏe con người; các động cơ văn hóa (nguyện vọng của du khách muốn được tìm hiểu, học hỏi về thiên nhiên, nghệ
Trang 19thuật, tôn giáo truyền thống…của vùng đến du lịch); động cơ giao tiếp (thăm thân, nhu cầu muốn được làm quen ) [27, tr.57-76]
Các nhân tố tự thân chính làm cho nhu cầu du lịch tăng là thời gian rỗi, thu nhập và trình độ dân trí Con người không thể đi du lịch nếu không có thời gian rỗi
Do vậy, thời gian rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để có thể tham gia vào hoạt động du lịch Hiện nay, nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng tăng lên do thời gian rỗi gia tăng khiến cho ngành du lịch cũng từ đó càng thêm phát triển Khi
đi du lịch, khách du lịch luôn là người tiêu dùng nhiều loại hình dịch vụ và hàng hóa Để có thể đi du lịch và tiêu dùng du lịch, du khách phải có phương tiện vật chất đầy đủ, nghĩa là họ phải có khả năng thanh toán cho các nhu cầu du lịch Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch thành thực tế Sự phát triển của du lịch còn phụ thuộc vào trình độ văn hóa của cộng đồng Nếu trình độ văn hóa của cộng đồng được nâng cao, nhu cầu đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt [27, tr.95-102] Như bất kì các ngành sản xuất, sản xuất của các LNTT phục vụ du lịch cũng phải tuân theo quy luật cung cầu của thị trường Vì vậy sự phát triển của nó trước hết phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường Cần khẳng định rằng những sản phẩm thủ công truyền thống dù được yêu mến đến đâu nhưng nếu không có thị trường, không có nhu cầu về sản phẩm đó thì ngành nghề truyền thống cũng như các LNTT không thể phát triển được
Dân cư thành thị và du khách nói chung là họ có mức sống cao, có “lối sống thành thị” Do đó họ có nhu cầu du lịch cao và đòi hỏi các dịch vụ hết sức đa dạng
Vì vậy, số lượng dân cư thành thị và du khách không những có ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu thụ những sản phẩm thủ công truyền thống mà còn là nảy sinh và phong phú thêm các dịch vụ khác ở làng nghề
Theo khảo sát thực tế khách du lịch ở một số LNTT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cho thấy, khách du lịch khi đến với LNTT thường với mục đích là tìm về với các giá trị văn hóa truyền thống: muốn tìm hiểu cách sáng tạo và mua sản phẩm thủ công đặc trưng của mỗi LN, tìm hiểu về các vị tổ nghề, làm quen với các nghệ nhân, muốn được tự tay tham gia vào quá trình sản xuất để được trải nghiệm Hay
Trang 20muốn tìm hiểu những phong tục tập quán, các di tích lịch sử, đền thờ, miếu mạo … của mỗi làng nghề vừa có nét chung của văn hóa dân tộc, vừa có nét riêng độc đáo gắn với quá trình và đặc trưng sản xuất của LN Ngoài ra, còn có đối tượng du khách đến với LNTT vì mục đích học tập, nghiên cứu do nhu cầu kết hợp học tập lý thuyết với tìm hiểu thực tiễn, học đi đôi với hành Khách đến LNTT khá đa dạng, nhưng chiếm tỷ lệ cao là du khách từ các tỉnh thành và các trung tâm đô thị phát triển như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh Khách thường đến đông hơn vào những ngày cuối tuần, các dịp nghỉ lễ tết hay vào những dịp lễ hội của LN
1.2.2 Tài nguyên du lịch làng nghề
Theo tác giả Nguyễn Minh Tuệ, tài nguyên du lịch được chia làm 2 nhóm là tài nguyên du lịch tự nhiên (bao gồm: địa hình, khí hậu, nguồn nước, động thực vật) và tài nguyên du lịch nhân văn (bao gồm: các di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc, các lễ hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hóa - thể thao) Đối với hoạt động du lịch, LNTT được xem là một loại tài nguyên du lịch nhân văn Mỗi LNTT là một môi trường văn hóa, kt - xh và công nghệ truyền thống lâu đời có khả năng thu hút khách du lịch, làm phong phú thêm tài nguyên du lịch, phong phú thêm các hoạt động du lịch để hấp dẫn du khách góp phần vào mục tiêu phát triển chung Có thể nói rằng, du lịch LNTT sẽ là địa chỉ lý tưởng để du khách tham quan tìm hiểu các giá trị văn hóa, các phong tục tập quán, lễ hội, chiêm ngưỡng và mua sắm những sản phẩm thủ công truyền thống
Tài nguyên du lịch LNTT bao gồm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống, các di tích lịch sử - văn hóa gắn với hoạt động sản xuất của làng nghề; hệ thống đình, chùa; truyền thống văn hoá, lễ hội, phong tục tập quán của dân cư làng nghề (yếu tố này ảnh hưởng lớn đến tính đặc thù, tính nhân văn của sản
phẩm [13, tr.43-56]) Sản phẩm du lịch của làng nghề được cụ thể hóa thành sản
phẩm thủ công mỹ nghệ theo hướng thỏa mãn nhu cầu của du khách Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của LNTT đều là sản phẩm của phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân Vì thế các sản phẩm thủ công truyền thống vừa mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc vừa mang tính đặc thù riêng của
Trang 21mỗi làng nghề Tuy nhiên để tăng tính hấp dẫn nhằm thu hút khách du lịch đến với LNTT thì các sản phẩm của làng nghề cần phải phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của du khách về mẫu mã, kích thước, trọng lượng, độ bền, sự an toàn…
1.2.3 Nguồn nhân lực
Nghệ nhân và đội ngũ thợ làng nghề là yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển du lịch LNTT Tài năng của các nghệ nhân, thợ cả đã tạo nên những sản phẩm làng nghề tinh xảo và độc đáo Chính người nghệ nhân, người thợ cả đã giữ cho LNTT tồn tại, đã đào tạo những người thợ mà trước hết là con cháu của họ, rồi đến những người trong làng và từ đời này qua đời khác kế tiếp nhau Để đến ngày nay
có những nghề và những LNTT nổi tiếng với những sản phẩm có một không hai, tạo nên tính hấp dẫn cho du khách Khả năng cạnh tranh, sức sống của sản phẩm làng nghề chủ yếu phụ thuộc vào tài hoa, kinh nghiệm tay nghề của nghệ nhân, thợ
cả Vì vậy, phát triển du lịch LNTT tùy thuộc rất nhiều vào việc xây dựng đội ngũ các nghệ nhân của các làng nghề và truyền nghề cho những người lao động trẻ tuổi Đội ngũ lao động tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch có vai trò quan trọng thúc đẩy du lịch LNTT phát triển Bởi họ chính là những người cung cấp các loại hình và sản phẩm cho du khách như hướng dẫn, phục vụ ăn uống, vận chuyển, Những trải nghiệm của du khách tại làng nghề phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ do người dân địa phương cung cấp Vì vậy, kỹ năng làm du lịch của người dân làng nghề (kỹ năng phát triển sản phẩm, kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng chăm sóc khách hàng, kỹ năng quản lý…) có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển du lịch LNTT
1.2.4 Chính sách phát triển du lịch làng nghề truyền thống
Trong suốt quá trình cách mạng kể từ khi giành được độc lập năm 1945 đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và đã sớm đề ra nhiệm vụ phát triển “tiểu công nghiệp hiện đại, thủ công nghiệp tinh xảo” Nhiệm vụ này được quán triệt xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật về quản lý kinh tế của Nhà nước từ Trung ương tới địa phương, nhờ đó các ngành nghề thủ công truyền thống đã được giữ gìn và ngày càng phát triển
Trang 22Luật Di sản văn hoá ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Nghị định của Chính phủ số 92/2002/NĐ-CP “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hoá đã xác định nghề thủ công truyền thống là Di sản văn hoá phi vật thể và đề ra nhiệm vụ khuyến khích việc duy trì, phục hồi và phát triển nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu
Ngày 24/11/2000 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg
“Về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn”, sau này được thay thế bởi Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 “Về phát triển ngành nghề nông thôn” trong đó nêu rõ nhiệm vụ “bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống”; đồng thời tại Thông tư 116 /2006/TT-BNN ngày 18 tháng12 năm 2006, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã làm rõ khái niệm về nghề truyền thống “là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy
cơ bị mai một, thất truyền” Liên bộ Bộ Nông nghiệp, Bộ Lao động-TBXH, Bộ Văn hóa thông tin cũng ra Thông tư Số 41/2002/TTLT/BNN-BLĐTBXH-BVHTT, ngày
30 tháng 05 năm 2002 “Hướng dẫn tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận danh hiệu và một số chính sách đối với nghệ nhân” trong đó xác định đối tượng phong danh hiệu nghệ nhân là “Công dân Việt Nam làm việc trong các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam”
Cũng thời gian này, Chính phủ ban hành Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 09.6.2004 “Về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn” trong đó xác định việc xây dựng kết cấu hạ tầng cho làng nghề được hưởng chính sách khuyến công của nhà nước và một trong những hoạt động cơ bản của khuyến công là truyền nghề
và phát triển nghề
Bộ Công nghiệp đã ban hành Thông tư số 01/2007/TT-BCN ngày 11 tháng 01 năm 2007 về việc hướng dẫn tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú Theo hướng dẫn của Bộ Công nghiệp thì nghệ nhân là người trung thành với Tổ quốc Việt Nam XHCN; có phẩm chất đạo đức tốt, tận tuỵ với nghề, gương mẫu, thực sự là tấm gương sáng cho mọi người và
Trang 23đồng nghiệp noi theo; có nhiều thành tích trong việc giữ gìn, truyền nghề, dạy nghề, sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ; là người thợ giỏi xuất sắc được đồng nghiệp thừa nhận, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp điêu luyện,
có thâm niên trong nghề, đã sáng tác thiết kế ra những sản phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao đã trực tiếp làm ra những tác phẩm có giá trị kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật, đạt được các giải thưởng cao tại các hội chợ triển lãm quốc gia hoặc quốc tế
Nội dung hợp tác liên kết trong đầu tư và phát triển du lịch làng nghề giữa các tỉnh, thành phố cần dựa trên những căn cứ pháp lý theo quy định Luật Du lịch đã được nêu tại điều 4, 7, 24, 26 và điều 27
1.2.5 Cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật
Hệ thống giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc, cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí…có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển du lịch ở các LNTT Trong công cuộc CNH-HĐH, sự phát triển của các LNTT chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hệ thống cung cấp điện nước, tiến bộ công nghệ thiết bị, máy móc hiện đại để đổi mới công nghệ cổ truyền nhằm tăng năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm và làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Ngoài ra, sự hoạt động của các LNTT trong nền kinh tế thị trường còn chịu tác động mạnh của yếu tố thông tin nói chung, bưu chính viễn thông nói riêng Nó giúp nắm bắt kịp thời, nhanh chóng, chính xác những thông tin về thị trường, giá cả, mẫu mã, quy cách sản phẩm … để
từ đó có những ứng xử thích hợp đáp ứng nhu cầu thị trường nói chung và thị trường du lịch nói riêng
Trong nền kinh tế thị trường, không chỉ có kinh nghiệm cổ truyền mà phải có khoa học công nghệ hiện đại Kết hợp các yếu tố truyền thống với khoa học công nghệ hiện đại để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, được người tiêu dùng trong xã hội hiện đại chấp nhận và tăng tính hấp dẫn cho du khách
1.2.6 Vốn cho phát triển du lịch
Vốn là yếu tố, là điều kiện quan trọng đối với bất kì quá trình sản xuất kinh doanh nào, do đó, sự phát triển du lịch LNTT cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng
Trang 24của nhân tố vốn Nhu cầu vốn để mở rộng quy mô sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm thủ công truyền thống là đòi hỏi cấp thiết, các hộ sản xuất kinh doanh phải có số lượng vốn khá lớn để đầu tư cải tiến công nghệ, có như vậy mới tăng được năng suất lao động, tăng chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Mặt khác vốn còn ảnh hưởng tới khả năng cung ứng và nâng cao chất lượng cơ
sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và các loại hình phục vụ du lịch để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Một LNTT dù có nổi tiếng nhờ vào sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo nhưng hệ thống cơ sở vật chất và dịch vụ (giao thông, cơ sở lưu trú,
ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí…) chưa đáp ứng nhu cầu của du khách thì khả năng thu hút và lưu giữ khách du lịch sẽ bị hạn chế rất nhiều
1.3 Ý nghĩa của việc phát triển du lịch làng nghề truyền thống
Việc phát triển du lịch LNTT có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển KT
Hệ thống các LNTT với các đặc điểm đặc trưng riêng có ngày càng cung cấp
và đáp ứng nhu cầu du lịch nhân văn của khách du lịch nhiều hơn Điều này đã biến các LNTT trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn, góp phần làm phong phú thêm tài nguyên du lịch cho địa phương
Trang 25LNTT thường có quy mô sản xuất nhỏ, sử dụng bí quyết và công nghệ sản xuất truyền thống là chủ yếu nên phù hợp với khả năng huy động vốn và các điều kiện vật chất của các hộ gia đình, các chủ thể sản xuất kinh doanh Đây được xem là
là lợi thế để các LNTT phục vụ du lịch huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, cải thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, góp phần phát triển du lịch của địa phương
-Phát triển du lịch LNTT góp phần tăng nhu cầu và đa dạng hóa các sản phẩm
du lịch cho địa phương
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch Mỗi sản phẩm của LNTT phục vụ du lịch là
sự kết hợp của văn hóa nghệ thuật và tinh thần Tuy nhiên, sự phát triển của LNTT phục vụ du lịch cũng chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường Hoạt động sản xuất và kinh doanh ở đây đã nhạy bén hơn với cơ chế thị trường trong việc cải tiến mẫu mã, chất lượng và linh hoạt thay đổi hướng sản xuất Vì vậy, sản phẩm của LNTT phục vụ du lịch phát triển phong phú cả hình thức vật thể (sản phẩm thủ công
mỹ nghệ) và phi vật thể (các loại hình dịch vụ du lịch) Điều này góp phần làm đa dạng hóa sản phẩm du lịch của địa phương, đáp ứng nhu cầu của du khách
Du lịch LNTT đã góp phần tạo nên những điểm đến du lịch mới, hấp dẫn du khách hơn; đồng thời mở rộng sự liên kết, hợp tác trong phát triển du lịch ở địa phương, và với các công ty du lịch lữ hành để thực hiện tour du lich LNTT cho khách du lịch
-Phát triển du lịch LNTT góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại
Việc phát triển du lịch LNTT không chỉ thúc đẩy hoạt động sản xuất của LN phát triển mà còn kéo theo sự phát triển của nhiều loại hình dịch vụ khác như lưu trú, hướng dẫn, ăn uống, vận chuyển…để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Điều này đồng nghĩa với việc tạo nhiều việc làm hơn, không chỉ thu hút lao động ở làng nghề mà còn thu hút được nhiều lao động từ các địa phương khác đến Qua đó, người lao động địa phương có việc làm ổn định, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 26Sự phát triển du lịch LNTT yêu cầu phải có cơ sở hạ tầng - kỹ thuật phát triển để đáp ứng nhu cầu của du khách Đồng thời khi du lịch LNTT phát triển tạo một nguồn thu nhập cho người dân và địa phương làng nghề Từ đó kích thích sự đầu tư phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật Thêm nữa, khi phát triển du lịch làng nghề người dân địa phương có điều kiện mở rộng sự hiểu biết và nâng cao dân trí thông qua việc tiếp xúc với khách du lịch và thông qua việc họ làm du lịch Vì thế,
có thể nói rằng phát triển du lịch LNTT góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại; thu dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn
- Phát triển du lịch LNTT góp phần gìn giữ, bảo tồn giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc
Lịch sử LNTT gắn liền với lịch sử phát triển văn hóa của dân tộc Việt Nam,
nó vừa là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hóa ấy, vừa là sự biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc Việt Nam Những phong tục tập quán, các di tích lịch sử, đền thờ, miếu mạo … của mỗi làng nghề vừa có nét chung của văn hóa dân tộc, vừa
có nét riêng độc đáo Sản phẩm của LNTT vừa là sự kết tinh các giá trị văn hóa của dân tộc vừa mang nét đặc sắc riêng biệt mà các thế hệ cha ông ta đã truyền lại cho thế hệ con cháu đời sau Với những đặc điểm đặc biệt ấy sản phẩm thủ công của LN không còn là hàng hóa đơn thuần mà đã trở thành sản phẩm văn hóa với tính nghệ thuật cao Thông qua hoạt động du lịch, các sản phẩm của mỗi LNTT đến được với
du khách Từ đó sản phẩm của LNTT được quảng bá rộng rãi và được nhiều người biết đến hơn Chính vì vậy, phát triển du lịch LNTT góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc
1.4 Khái quát về du lịch làng nghề ở Việt Nam
1.4.1 Làng nghề Việt Nam
Theo thống kê của Hiệp hội LN Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng hơn
3000 LN thủ công, thuộc 11 nhóm nghề chính là sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá, kim khí Trong đó có 400 LNTT với 53 nhóm nghề làm ra khoảng 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau Nhiều sản phẩm nghề có lịch sử phát triển hàng năm, hàng nghìn năm [29]
Trang 27LN Việt Nam mang tính tập tục truyền thống, đặc sắc, có tính kinh tế bền vững, mang đến nhu cầu việc làm tại chỗ và những lợi ích thiết thực cho các cộng đồng cư dân nhỏ lẻ trên mọi miền đất nước (chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố
và vùng nông thôn), đồng thời góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của toàn xã hội Các LN thủ công, LNTT, hay làng nghề cổ truyền có mặt khắp nơi trên đất nước ta, và thường được gọi chung là làng nghề Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được các LN Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây Các LN thường tập trung chủ yếu ở các vùng châu thổ sông lớn như châu thổ sông Hồng, tại Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định
Cùng với sự phát triển của đất nước, có rất nhiều LN cũng phát triển mạnh
và có những sản phẩm, những thương hiệu nổi tiếng, có sức hấp dẫn rất lớn như: làng gốm Bát Tràng, làng gốm Phù Lãng, làng gỗ Đồng Kỵ, làng tranh Đông
Hồ, làng chiếu Nga Sơn, làng đá Non Nước, làng vàng bạc Châu Khê, làng chạm bạc Đồng Xâm, làng lụa Vạn Phúc, làng gốm xứ Bình Dương…
Trong công cuộc CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn, các LN không chỉ sản xuất, kinh doanh, mà còn là nơi tổ chức sinh hoạt cộng đồng, mang sắc thái văn hóa riêng biệt, có đặc trưng của từng làng theo ngành nghề truyền thống lâu đời, là nét độc đáo góp phần mở rộng phát triển các loại hình du lịch ở nước ta Cho nên, đánh thức và phát triển du lịch LN là hướng đi hữu hiệu nhằm đưa sản phẩm làng nghề vào thị trường, nâng cao thu nhập đời sống cho các nghệ nhân tâm huyết với nghề
1.4.2 Tình hình phát triển du lịch làng nghề ở Việt Nam
Nguồn tài nguyên du lịch LNTT đang được khai thác tích cực ở khía cạnh là điểm đến đặc trưng của Việt Nam Tuy nhiên chức năng sản xuất hàng hoá phục vụ
du lịch thì vẫn còn chưa được khai thác một cách thực sự hiệu quả
Ở nước ta, mặc dù có chủ trương từ cấp quản lý gắn LN với phát triển du lịch như: Cụm LN mây tre đan ở Chương Mỹ, khảm trai Chuyên Mỹ, thêu Quất Động, nón làng Chuông, sơn mài Hạ Thái Các LN này dù có định hướng phát triển du lịch
Trang 28từ những năm 2003 - 2004, có tên trong sản phẩm tuor của các hãng lữ hành, song các tuor đến đây vẫn chưa có biến chuyển tích cực, lượng khách rất ít
Như trên đã nói, hiện cả nước có khoảng 3.000 LN; trong đó có 400 LNTT với
53 nhóm nghề làm ra khoảng 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau; trong đó nhiều sản phẩm nghề có lịch sử phát triển hàng trăm năm, hàng nghìn năm Tiềm năng là vậy nhưng ít khách đến LN dù có khá nhiều chương trình tuor giới thiệu Ông Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho rằng, tại các LN này chưa có những điều kiện để trình diễn, dịch vụ phục vụ khách tham quan nghèo nàn
Sự tham gia của cộng đồng và phát triển du lịch chưa cao, bởi họ chưa nhận thức được giá trị của du lịch đem lại Một LN được coi là phát triển du lịch khi thu nhập
từ du lịch chiếm ít nhất 25% thu nhập của làng [29]
Cả nước có hàng nghìn LN, nhiều về số lượng, phong phú về loại hình sản xuất, nhưng lại không tạo ra được mấy những sản phẩm đồ lưu niệm đặc trưng của du lịch Việt Nam Các LN “không có sự rạch ròi trong việc sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ Mặt hàng phục vụ tiêu dùng phải khác, mặt hàng phục vụ du lịch phải khác Mỗi mặt hàng mang một chức năng khác nhau nên không thể giống nhau được Trong khi đó, các LN lại quá chú trọng vào thị trường tiêu dùng đồ mỹ nghệ cao cấp mà không quan tâm tới thị trường đồ lưu niệm bình dân khi mà thị trường này đang rất sôi động và mang lại nguồn thu lớn” (Theo ông Nguyễn Hoàng Lưu – Phó Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và LN Hà Nội) Trên thực tế, hàng nằm trên giá bán cho du khách cũng chính là hàng bán ra thị trường tiêu dùng Trong khi đó, nhu cầu của hai thị trường này lại hoàn toàn khác nhau Chẳng hạn, khách Tây Âu rất thích đồ sơn mài, khách Nhật rất thích tranh thêu, khách Mỹ rất thích đồ mỹ nghệ bằng gỗ, tre, rơm… Họ sẵn sàng bỏ nhiều tiền ra mua những tác phẩm nghệ thuật chất lượng Đó là lý do vì sao đồ thủ công mỹ nghệ Việt Nam xuất khẩu rất tốt sang những thị trường này Nhưng khi họ sang Việt Nam với mục đích du lịch, thường là dài ngày, họ không thể mang đi vác lại những món đồ cồng kềnh, dễ vỡ trong suốt cuộc hành trình cho đến khi về nước và càng không thể mang với số lượng lớn về làm quà tặng bạn bè
Trang 29Ở Việt Nam hiện nay, các tour du lịch gắn với LN đều còn mang tính tự phát Bên cạnh đó, thuyết trình viên tại các LN vừa thiếu lại yếu Mặt khác, sản phẩm tại các LN còn sơ sài, nghèo nàn về chủng loại và mẫu mã Cơ sở hạ tầng , giao thông
ở hầu hết các LN còn kém phát triển chưa đáp ứng được nhu cầu của các tour du lịch Ngoài ra, ô nhiễm môi trường tại các LN hiện nay cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển du lịch tại địa phương Theo ông Phạm Trung Lương, Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, mặc dù phát triển du lịch LN được ưu tiên trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, nhưng chúng ta vẫn còn ít kinh nghiệm trong phát triển du lịch gắn với bảo tồn các giá trị LNTT, văn hóa cư dân bản địa và xóa đói, giảm nghèo ở vùng nông thôn Một số tỉnh, thành phố đang triển khai mạnh loại hình du lịch này nhưng hiệu quả còn chưa cao Những LN đã thu hút nhiều du khách chỉ mang tính tự phát Nguyên nhân chính là các ban, ngành liên quan thiếu
sự phối hợp cần thiết trong xây dựng, quy hoạch du lịch LN
Để phát triển LN gắn với du lịch cần phải có sự xã hội hóa, tức Nhà nước đưa
ra các cơ chế chính sách, lập ra quy hoạch hoặc có thể hỗ trợ một phần kinh phí các
dự án trọng điểm, còn lại phải kêu gọi nhà đầu tư và kinh phí từ LN, như vậy mới đưa được dự án thành hiện thực và phát huy hiệu quả Chúng ta phải “đáp ứng” được nhu cầu của du khách Muốn vậy, các cơ sở sản xuất tại LN phải đầu tư nghiên cứu thị trường từng đối tượng khách để sản xuất ra những sản phẩm có mẫu
mã, màu sắc phù hợp Trước mắt là tổ chức bán hàng sản phẩm thủ công truyền tại các điểm du lịch Còn lâu dài, muốn LN trở thành điểm du lịch, chúng ta cần có quy hoạch, đầu tư về hạ tầng giao thông, cơ sở đón tiếp khách, điểm trình diễn; đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá, môi trường làng nghề…
Tóm lại, du lịch LNTT ở nước ta có nhiều lợi thế, tiềm năng để phát triển Trong những năm gần đây, du lịch LNTT đã có bước phát triển đáng ghi nhận, thể hiện những nỗ lực của các cơ quan quản lý ngành du lịch cũng như của các địa phương; ngày càng đóng góp tích cực hơn so với tỷ trọng các loại hình du lịch Tuy nhiên nhìn chung, loại hình du lịch LNTT ở nước ta còn phát triển manh mún, tự phát và chưa xứng tầm với tiềm năng Chính vì thế, vấn đề tìm và ứng dụng các
Trang 30phương hướng, biện pháp nhằm phát triển du lịch LN ở nước ta là một vấn đề lớn, không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý ngành du lịch, mà còn cần sự phối hợp của nhiều ban ngành Theo ý kiến của Thứ trưởng Bộ NN & PTNT Hồ Xuân Hùng thì vấn đề phát triển, quảng bá du lịch LN đã khó, gìn giữ được bản sắc, những nét tinh hoa của LN cũng như môi trường sống của người dân còn khó hơn Nếu chỉ chú trọng tới làm du lịch, làm kinh tế mà quên mất những điều căn bản đó thì sẽ tự làm mất đi một phần di sản văn hóa lớn nhất của mình đó là các LN [29]
1.4.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch làng nghề truyền thống
Du lịch làng nghề của Thái Lan
Việc tổ chức lại các LNTT ở Thái Lan đã tạo ra giá trị nhiều mặt: bảo tồn và nâng cao kỹ năng tay nghề nghệ nhân, gìn giữ văn hóa truyền thống, tạo công ăn việc làm ở nông thôn ngăn chặn làn sóng di cư vào đô thị, tạo ra sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm du lịch
Thái Lan có khoảng 70.000 LN thủ công Để khai thác kỹ năng của các LNTT, tạo ra thêm thu nhập, giải quyết lao động địa phương, từ năm 2001, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện dự án OTOP (One Tambon One Product: mỗi làng nghề một sản phẩm) Đây là chương trình chiến lược từ sáng kiến của Cục xúc tiến xuất khẩu (DEP) thuộc Bộ Thương mại Thái Lan Mỗi LN một sản phẩm không có nghĩa là mỗi làng chỉ có một sản phẩm mà mỗi làng có kỹ năng, văn hóa, truyền thống riêng kết tinh trong sản phẩm trở thành đặc trưng riêng của LN trong sản phẩm Chính phủ hỗ trợ kết nối địa phương với toàn cầu, thông qua việc hỗ trợ tiêu chuẩn hóa sản phẩm, hoàn tất đóng gói, tiếp thị, tổ chức kênh phân phối ở hải ngoại
Ý tưởng „mỗi làng một sản phẩm‟ (One Village One Product Movement) viết tắt
là OVOP được Morihiko Hiramatsu khởi xướng và bắt đầu triển khai ở quận Oita (Nhật Bản) từ năm 1979 Sau đó, một số nước ở Châu Á đã áp dụng mô hình này và được đổi thành OTOP (One Town One Product, hoặc One Tambon One Product), có nghĩa là mỗi thị trấn hay mỗi địa phương một sản phẩm Những sản phẩm này dựa vào nguồn nguyên liệu ở địa phương, cộng với kỹ năng, kỹ xảo
Trang 31được truyền từ đời này sang đời khác của người dân địa phương để làm ra các loại sản phẩm thủ công đặc trưng của từng địa phương như đồ mỹ nghệ, hàng may mặc, đồ gốm, đồ gia dụng, thực phẩm, vv phục vụ người tiêu dùng, khách
du lịch, kể cả xuất khẩu Tùy nơi, hàng hóa mang nhãn hiệu OTOP được chính phủ giảm thuế, hoặc miễn thuế
Trong chương trình một tour du lịch hiện đại, việc đưa du khách đến mua sắm ở những cửa hàng OTOP là việc làm cần thiết Sự phong phú và hấp dẫn của các sản phẩm này đã làm cho du khách không còn thời gian để cân nhắc hầu bao của mình
Thái Lan là nước phát triển OTOP rất thành công Với chính sách khuyến khích và hỗ trợ của cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra, hiện nay ở Thái Lan có khoảng 36.000 mô hình OTOP, mỗi mô hình tập hợp từ 30 đến 3.000 thành viên tham gia Sự phát triển OTOP đã giúp nghề thủ công truyền thống của Thái Lan được duy trì Nó đã giúp cho người dân Thái giải quyết được công ăn việc làm, làm ra nhiều sản phẩm đặc sắc của từng địa phương, góp phần tăng thu nhập cho người dân tham gia và điều quan trọng là giữ được giá trị tri thức truyền thống trong văn hóa lâu đời của họ
Thủ tướng Thaksin cho biết chính phủ Thái Lan sẽ tiếp tục giúp các cộng đồng địa phương nâng cao chất lượng sản phẩm theo chương trình OTOP để có thể tăng doanh thu thông qua việc chỉ thị cho các trường đại học mở các phòng vi-tính tạo phần mềm thiết kế các mẫu sản phẩm OTOP, đồng thời lập ra các trang thông tin nhằm giúp khách hàng nước ngoài có thể đặt mua hàng qua mạng Ngoài ra, chính phủ cũng sẽ giúp tổ chức các chuyến du lịch tới các làng nghề để du khách nước ngoài có thể tận mắt thấy được các sản phẩm OTOP được sản xuất như thế nào Ngoài mục đích phát triển du lịch, một khía cạnh tích cực hơn, mô hình OTOP cần khuyến khích người dân sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn tại chỗ, dựa vào tri trức truyền thống bản địa để làm ra sản phẩm đặc trưng của địa phương mình Ngoài ý nghĩa kinh tế, đây là cách bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên ở địa phương, và giữ gìn tri thức bản địa một cách hiệu quả
Trang 32 Du lịch làng nghề tại Hà Nội
Đến nay với việc tiếp nhận toàn bộ địa bàn tỉnh Hà Tây - vùng đất được mệnh danh là “đất trăm nghề” - Hà Nội đã trở thành nơi hội tụ của sự tài hoa, khéo léo trong ngành thủ công mỹ nghệ cả nước Những LNTT không chỉ mang lại việc làm cho nhân dân, sản xuất hàng hóa phục vụ xã hội mà còn góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế, thay đổi diện mạo nông thôn, đặc biệt đã và đang trở thành những khu, vùng, điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước
Trong quá trình phát triển LN, từ đòi hỏi thực tiễn, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân được nâng cao, nhiều công trình văn hóa xã hội được xây mới, cải tạo, các di tích lịch sử, văn hóa cũng được quan tâm trùng tu, tạo tiền đề cho hoạt động du lịch LN Hơn nữa, hoạt động sản xuất LN phát triển còn là động lực thúc đẩy phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ, vận tải, thông tin, y tế giáo dục… tác động trở lại, tạo điều kiện phát triển mạnh hơn nghề truyền thống của địa phương
Để phát triển du lịch LN đòi hỏi phải có sự kết nối sâu rộng hơn giữa các làng nghề để khai thác triệt để những tiềm năng còn bỏ ngỏ Đây còn là phương thức nhân lên sức mạnh thương hiệu, góp phần giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển LN trong hội nhập Nhưng trên thực tế, những người lao động trong các làng nghề vốn chưa quen làm du lịch, dịch vụ, nên còn hạn chế trong cung cách phục vụ Do đó, vấn đề cần được quan tâm khi phát triển loại hình du lịch này là cần có định hướng và sự hỗ trợ tích cực từ các cấp, ngành hữu quan Đặc biệt là phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, có giải pháp quản lý chất lượng dịch vụ từ các khâu chuyên chở, phục vụ, đón tiếp, hướng dẫn và điều hành, đồng thời có biện pháp hữu hiệu để loại bỏ các tệ nạn trong khu vực di tích, lễ hội, nhằm tạo cảm giác thoải mái và an toàn cho du khách Bên cạnh đó, xây dựng từng loại hình du lịch phù hợp, tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng khách du lịch
Được biết, thời gian qua, Hà Nội đã đưa vào khai thác tour thăm quan các LN, song nhìn chung khách đi tour này còn quá ít Theo đánh giá, hiện việc phát triển
Trang 33các tour du lịch LN trên địa bàn Thủ Đô còn nhiều khó khăn, nhất là vấn đề cơ sở
hạ tầng, giao thông, phong cách phục vụ thiếu sự chuyên nghiệp…Để hỗ trợ các làng nghề phát triển nhanh, mạnh và bền vững, nhất là khai thác tiềm năng du lịch, dịch vụ, trong năm 2009, Sở Công Thương Hà Nội đã thực hiện nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ phát triển nghề và LN, điển hình như thực hiện đánh giá thực trạng môi trường LN lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy Tổ chức thu thập thông tin về các làng nghề để xuất bản sách và sản xuất phim giới thiệu về tiềm năng phát triển nghề và làng nghề… Đặc biệt, từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia và khuyến công địa phương, Trung tâm Khuyến công Hà Nội đã tổ chức được 45 lớp đào tạo truyền nghề, nhân cấy nghề mây tre đan, thêu ren, sơn mài, dệt khăn, điêu khắc… cho 2.250 học viên, triển khai 7 chương trình lớn tập trung vào công tác truyền nghề, nhân cấy và nâng cao tay nghề, hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các làng nghề, nâng cao kỹ năng quản trị cho các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất…; tổ chức cho doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm LN nhằm quảng bá và xúc tiến đầu tư, liên kết kinh doanh, hợp tác sản xuất giữa các vùng và địa phương, tạo tiền đề quan trọng để các làng nghề bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa ngày càng hiệu quả
Du lich làng nghề tại Thừa Thiên – Huế
Với định hướng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Thừa Thiên Huế đang phấn đấu thực hiện mục tiêu đề ra: đón ba triệu khách vào năm 2015, trong đó có gần 50% khách quốc tế Để đạt mục tiêu trên, vấn đề đặt ra là đẩy mạnh liên doanh, liên kết, tích cực thu hút các nguồn vốn trong nước và ngoài nước để triển khai lồng ghép các tour, tuyến du lịch gây ấn tượng
Mấy năm gần đây, tỉnh quan tâm đến tour du lịch LN, xem đây là loại hình du lịch văn hóa tổng hợp đưa du khách tham quan, thẩm nhận các giá trị văn hóa và mua sắm những hàng hóa đặc trưng của các LNTT
Toàn tỉnh hiện có 88 LN, trong đó có 69 LN thủ công truyền thống có thể xây dựng và phát triển thành các tour du lịch LN với nét đặc trưng riêng như làng gốm
Trang 34Phước Tích, làng thêu Thuận Lộc, làng nón Phú Cam, đúc đồng Phường Đúc, điêu khắc Mỹ Xuyên, đan lát Bao La…
Vào những năm lẻ, Thừa Thiên Huế có festival nghề truyền thống là dịp phô diễn, quảng bá sản phẩm thủ công mỹ nghệ Đây cũng là điểm nhấn để hình thành tour du lịch làng nghề Điểm lại hoạt động khai thác tuyến du lịch LN, thấy rằng công việc hãy còn là sự khởi động ban đầu LN và thế mạnh nghề truyền thống thì
đã quá rõ, nhưng điều đặt ra là chất lượng sản phẩm, đầu ra cho các LN chưa được khơi thông Một vài LN tự mày mò chào bán sản phẩm mang tính tự phát chưa định hình bền vững nên chưa phát huy tốt tiềm năng của mình Chưa có sự kết nối, đó là vấn đề được đặt ra ở nhiều hội nghị, hội thảo LN kết nối với doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành là điều kiện tốt nhằm phát huy thế mạnh của du lịch LN Do vậy, để phát triển được loại hình du lịch này cần có sự góp sức rất nhiều từ các nhà làm chính sách, các cấp chính quyền cùng cư dân LN; mấu chốt vẫn là các doanh nghiệp trong ngành du lịch Khi doanh nghiệp quan tâm đến loại hình du lịch này, nó sẽ là
cơ hội tốt để doanh nghiệp quảng bá hình ảnh của mình đến với du khách
Các nhà quản lý chuyên ngành du lịch cho rằng, tuyến du lịch LN là xu hướng thu hút du khách, nó tạo sự hấp dẫn, mới lạ Rất nhiều du khách đã về tận các làng nón để được tận mắt chứng kiến và tham gia vào các công đoạn của nghề làm nón
Du khách đã thật sự bất ngờ, thích thú khi được người thợ nón lưu tên, ảnh của họ vào chiếc nón bài thơ mang về làm vật kỷ niệm của chuyến du lịch về vùng đất Cố
đô Huế Qua các kỳ festival, tour du lịch “Hương xưa làng cổ” đã làm sống lại một làng nghề gốm cổ của làng quê Phước Tích nằm bên dòng sông Ô Lâu hiền hòa thơ mộng LN Phước Tích còn là một ngôi làng cổ độc đáo, cả làng sống nhờ nghề gốm Bao nhiêu năm khó khăn do nghề gốm trên đường mai một, nay qua tuyến du lịch “Hương xưa làng cổ” Phước Tích đang mở ra cơ hội mới phục hồi LN Tuy nhiên, để phục hồi LN không phải là chuyện ngày một ngày hai LN muốn phát triển cần có sự quy hoạch tổng thể, quy hoạch điểm nhấn, gắn phát triển sản xuất với du lịch và đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, đăng ký bản quyền cho sản phẩm LN Khi các LN đã có thương hiệu trên thị trường sẽ tạo nên
Trang 35sức mạnh giúp giải quyết được một lượng lớn lao động thu nhập thấp ở nông thôn
có việc làm ổn định, tăng thu nhập Đây cũng là hướng đi góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn theo hướng xây dựng hình ảnh nông thôn mới
Phát triển ngành nghề truyền thống, chú ý tour du lịch LN cần có cơ chế chính sách hỗ trợ cho LN bảo tồn và phát triển Đây là vấn đề đặt ra cho nhiều ngành, nhiều cấp Một vài hình ảnh mà Công ty Du lịch Hương Giang, Công ty Lữ hành Hương Giang khi xây dựng tour du lịch sinh thái làng quê đã nối kết được với sự phát triển của nghề truyền thống, nó khơi dậy trong người dân những suy nghĩ mới
về nghề nghiệp của mình
Những thành quả trong hướng phát triển du lịch LN vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như hiệu quả kinh doanh của du lịch vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có; tính bền vững chưa cao, sản phẩm làng nghề còn đơn điệu, chưa mang tính cạnh tranh… Đó là những vấn đề đặt ra cho các nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch suy nghĩ, tìm hướng phát triển để khai thác tốt nhất thế mạnh dịch vụ - du lịch của Thừa Thiên Huế Du lịch LN phải được xem là dự án phát triển trong tầm nhìn chiến lược phát triển du lịch tổng thể của tỉnh để thế mạnh này không chỉ là những nhà hàng, khách sạn, lăng tẩm trên địa bàn thành phố Huế mà nó được mở rộng ra
về các LN, đô thị mới ở các huyện, thị xã; làm phong phú địa chỉ tham quan du lịch, hấp dẫn du khách bốn phương
Du lịch làng nghề tại Quảng Nam
Quảng Nam hiện có 61 LN, đa dạng về quy mô và loại nghề truyền thống Những LN này sau khi khôi phục hoạt động khá tốt còn trở thành những điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước
Làng rau Trà Quế (thôn Trà Quế, xã Cẩm Hà, thành phố Hội An) là một trường hợp điển hình Cũng những công việc hàng ngày như cuốc đất, vun luống, bón phân, gieo hạt, trồng rau… nhưng ngoài thu hoạch sản phẩm, nhà vườn ở đây còn có nguồn thu đáng kể từ du lịch Từ năm 2003, khi tour "Một ngày làm
cư dân phố cổ" ra đời, nhiều du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, đã đến thăm Trà Quế và trực tiếp tham gia việc trồng rau với các nhà vườn "Sau gần 5
Trang 36năm đưa vào khai thác, đến nay đã có hàng ngàn du khách trong và ngoài nước đến thăm làng rau Trà Quế và tỏ ra rất thích thú với điểm du lịch này", giám đốc một công ty du lịch cho biết
Tại làng gốm Thanh Hà, nằm bên bờ sông Thu Bồn, thuộc xã Cẩm Hà, cách phố cổ Hội An khoảng 2km về hướng Tây, người dân nơi đây đã mở ra các dịch vụ như hướng dẫn du khách cách làm gốm từ khâu nhào đất sét, nắn hình thù đến cách nung sao cho có màu bóng đẹp không bị cháy, bị chai Du khách đến đây, ngoài việc tha hồ lựa chọn các sản phẩm lưu niệm bằng gốm độc đáo, còn được tận mắt chứng kiến những thao tác điêu luyện từ những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng nghề này Gốm Thanh Hà được sản xuất hoàn toàn bằng thủ công, sản phẩm chủ yếu là đồ dùng phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, chum, vại, bình hoa, chậu cảnh, Điểm đặc biệt của sản phẩm gốm Thanh Hà là nhẹ hơn so với các sản phẩm cùng loại của những địa phương khác
Làng đúc đồng Phước Kiều cũng vậy, nằm kề bên quốc lộ 1A, thuộc xã Điện Phương huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Đây là một LNTT đã nổi tiếng từ nhiều thế kỷ trước với các sản phẩm bằng đồng phục vụ trong các dịp tế lễ, hội hè như chuông, chiêng, kiểng, mõ, phèng la; các vật dụng thông thường trong đời sống như
lư hương, chân đèn, nồi niêu, xoong chảo, chén bát và cả các loại binh khí cổ như gươm, dao, giáo, mác Ông Trần Văn Quang, cán bộ phụ trách làng nghề thuộc Phòng Công Thương huyện Điện Bàn cho biết, hiện phòng đã tận dụng nguồn quỹ khuyến công của huyện đầu tư mở các lớp đào tạo nghề cho thợ trẻ, nhằm gìn giữ LNTT có từ lâu đời này
Một số LN khác như LN dệt Mã Châu, làng dệt chiếu cói Bàn Thạch cũng khá nổi tiếng Để duy trì được các LN này, ngoài việc gắng giữ nét độc đáo truyền thống của làng nghề mình, người dân và chính quyền địa phương còn phải luôn tạo
ra những sản phẩm mới mẻ, dịch vụ đa dạng để có thể thu hút được du khách
Trang 37Hiện lãnh đạo địa phương và người dân của những LN này đang nỗ lực trong việc tiếp cận với khách du lịch nhằm tạo thêm nguồn thu cho người dân làng nghề, điều mà các LN như làng rau Trà Quế, gốm Thanh Hà đã làm rất hiệu quả
Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Bắc Ninh trong phát triển du lịch LNTT
Trên cơ sở kinh nghiệm của một số địa phương, có thể rút ra một số bài học đối với tỉnh Bắc Ninh trong phát triển du lịch LNTT như sau:
- Phát triển du lịch LNTT phải gắn với xu hướng phát triển du lịch hiện đại Trong chương thình một tour du lịch hiện đại thì việc đưa du khách đến các LNTT
để tham quan, trải nghiệm và mua sắm là cần thiết
- Tôn vinh các nghệ nhân, đồng thời chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở các LNTT theo yêu cầu của thị trường và của việc phát triển du lịch LNTT
- Hướng dẫn và đào tạo cho cư dân ở các LNTT cách thức, kỹ năng làm du lịch [13, tr 59-78]
- Từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm cho từng LNTT phục vụ du lịch theo phương châm “mỗi LN một sản phẩm” [8]
Tiểu kết chương 1
Chương 1 luận văn đã giải quyết được hai vấn đề: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của du lịch làng nghề truyền thống Trong phần cơ sở lý luận, tác giả đã đưa ra những khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu: làng nghề, LNTT và dulịch LNTT Tác giả cũng tập trung vào việc xác định và phân tích ý nghĩa cũng như các điều kiện để phát triển du lịch LNTT để trên cơ sở đó làm nền tảng lý luận cho luận văn Trong phần cơ sở thực tiễn, tác giả đã tổng quan làng nghề, tình hình phát triển
du lịch làng nghề ở Việt Nam; đưa ra những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch LNTT của Thái Lan, Hà Nội, Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam Từ những bài học của các nước và các địa phương để làm cơ sở thực tiễn cho việc triển khai nghiên cứu phát triển du lịch LNTT tại tỉnh Bắc Ninh
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
TỈNH BẮC NINH
2.1 Khái quát về du lịch Bắc Ninh
2.1.1 Giới thiệu chung
- Vị trí địa lý: Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng châu thổ Sông Hồng, nằm trong phạm vi từ 20o 58‟- 21o 16‟B và 105o 54‟-106o 19‟ Đ Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hải Dương, Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, Phía Tây giáp thủ đô Hà Nội Bắc Ninh có vị trí như một trung điểm giao giữa các tỉnh phía Bắc, Đông Bắc với thủ đô Hà Nội, tạo cho Bắc Ninh trở thành một địa bàn
mở, thuận lợi cho việc giao lưu, hợp tác kinh tế
Về mặt hành chính, Bắc Ninh có 1 thành phố trực thuộc tỉnh là Tp Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 6 huyện: Tiên Du, Quế Võ, Yên Phong, Thuận Thành, Gia Bình và Lương Tài
- Địa hình Bắc Ninh khá bằng phẳng, hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam
và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình Đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3-7m so với mực nước biển; một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ Địa hình trung du đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác ở
Tp Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ; các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 60 – 100m, đỉnh cao nhất là núi Bàn Cờ (Tp Bắc Ninh) cao 171m, tiếp đến là núi Bu (huyện Quế Võ) cao 103m, núi Phật Tích (huyện Tiên Du) cao 84m và núi Thiên Thai (huyện Gia Bình) cao 71 m
- Khí hậu: Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm là 24,0˚C, biên độ dao động nhiệt năm là 12,0˚C; lượng mưa trong năm 1500mm, độ ẩm không khí 81%
Trang 39Hình 2.1: Sơ đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh
Trang 40- Dân cư và nguồn lao động:
Năm 2013, dân số Bắc Ninh là 1.079.912 người, mật độ dân số là 1.262 người/km2 (gấp gần 5 lần mật độ bình quân cả nước và là địa phương có mật độ dân số cao thứ 3 trong số 64 tỉnh, thành phố - chỉ thấp hơn mật độ dân số của Hà Nội và của tp Hồ Chí Minh ).Tỷ lệ dân thành thị là 26,15% và tỷ lệ dân nông thôn
là 73,85% ; tỷ lệ nam là 49,25% và tỷ lệ nữ là 50,75% [18]
Nguồn lao động của Bắc Ninh khá dồi dào Số người trong độ tuổi lao động chiếm 64,4% tổng số dân của toàn tỉnh Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên chiếm hơn 88,7% số người trong độ tuổi lao động Trong đó, lao động nữ chiếm hơn 51%
và lao động ở nông thôn chiếm hơn 74,5% [18]
- Cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật: Có thể nói, cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật của Bắc Ninh phát triển tương đối hoàn chỉnh, là một trong những yếu
tố rất thuận lợi hết sức quan trọng cho phát triển KT-XH của tỉnh
- Các điều kiện khác:
Bắc Ninh có môi trường chính trị xã hội khá ổn định Bộ máy Nhà nước của tỉnh cũng được củng cố và đang trong quá trình cải cách hành chính mạnh mẽ từ các thiết chế phân cấp, phân quyền, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức tạo điều kiện thuận lợi cho chỉ đạo thực thi chính sách Nhà nước cũng như hoạch định, xây dựng các chính sách của địa phương
Tóm lại, các điều kiện tự nhiên và KT-XH tỉnh Bắc Ninh có rất nhiều thuận lợi góp phần thúc đẩy sự phát triển KT-XH của tỉnh nói chung và sự phát triển các LN,