1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.2.1 Mục tiêu c u Phân tích thực trạng phát triển ngành du lịch Bến Tre, khảo sát nhu cầu thực tế của khách du lịch làm cơ sở để phân tích khả năng phát triển
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
HO INH T V QUẢN TRỊ INH DO NH
NGUYỄN THỊ I N N MSSV: 4115470
PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG V GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH L NG NGHỀ
T á 12 – 2014
Trang 3i
LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự cố gắng của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ từ nhiều cá nhân lẫn tập thể, qua đây em xin gởi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến họ Trước hết là sự chỉ dẫn nhiệt tình của cô Nguyễn Thị Tú Trinh người trực tiếp hướng dẫn đề tài này, cô không những cố vấn về mặt lý thuyết mà còn luôn động viên thúc đẩy giúp em thêm
nỗ lực, cố gắng Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn và lòng quý mến đối với tất
cả các thầy, cô trường đại học Cần Thơ đặc biệt là các thầy cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, đã tận tụy chỉ dạy, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu về chuyên môn cũng như các kỹ năng cần thiết suốt 3 năm qua Xin gởi lời cám ơn chân đến cô Võ Hồng Phượng đã cố vấn học tập và chỉ dạy nhiều kinh nghiệm sống bổ ích cho em Qua đây em cũng xin cảm ơn các vị khách du lịch đáng mến đã hợp tác, trả lời phỏng vấn để bài nghiên cứu này được tiến hành thuận lợi Cảm ơn các cô, chú, anh, chị nhân viên, hướng dẫn viên trong các khu du lịch đã tạo điều kiện cho em tiếp cận khách du lịch Cảm
ơn đến cô, chú, anh, chị trong Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch tỉnh Bến Tre đã cung cấp số liệu thứ cấp quan trọng cho đề tài Cảm ơn những người bạn đã luôn động viên, hỏi thăm cho em thêm nghị lực trong suốt quá trình viết bài luận văn này Cảm ơn gia đình đã luôn là nơi nương tựa vững chắc, là suối nguồn tươi mát cho em tìm về mỗi khi chông gai vất vả Em thực sự nhớ ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi trong thời gian vừa qua rất nhiều
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện
Trang 4ii
TR NG C M T
Tôi xin cam kết luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chƣa đƣợc dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Không gian nghiên cứu 2
1.3.2 Thời gian nghiên cứu 3
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.1.1 Các khái niệm cơ bản trong du lịch 6
2.1.2 Khái niệm liên quan đến làng nghề 10
2.1.3 Mô hình phát triển làng nghề kết hợp du lịch 11
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 13
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 15
2.2.3 Khái quát phương pháp phân tích số liệu 15
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẾN TRE 19
3.1 TỔNG QUAN TỈNH BẾN TRE 19
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 19
3.1.2 Kinh tế - xã hội 21
3.2 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BẾN TRE 22
3.2.1 Tài nguyên du lịch 22
3.2.2 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch 26
3.2.3 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 29
Trang 6iv
3.2.4 Đầu tư phát triển du lịch 30
3.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TỈNH BẾN TRE 31
3.3.1 Thực trạng tổ chức du lịch và sản phẩm du lịch tại Bến Tre 31
3.3.2 Kết quả đạt được 32
3.3.3 Những mặt hạn chế 38
3.4 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BẾN TRE TRONG THỜI GIAN TỚI 39
CHƯƠNG 4 MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TỈNH BẾN TRE 41
4.1 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ BẾN TRE 41
4.2 THÔNG TIN CHUNG CỦA DU KHÁCH VÀ CHUYẾN ĐI 45
4.2.1 Thông tin chung của du khách được phỏng vấn 45
4.2.2 Thông tin về chuyến du lịch của du khách 48
4.3 ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH VỀ DỊCH VỤ DU LỊCH Ở BẾN TRE 53
4.4 CÁC ĐÁNH GIÁ, CẢM NHẬN CỦA DU KHÁCH LIÊN QUAN LÀNG NGHỀ 55
4.4.1 Đánh giá nhu cầu của du khách trong tương lai 55
4.4.2 Động cơ lựa chọn du lịch làng nghề của du khách 56
4.4.3 Đánh giá của du khách về nét hấp dẫn của làng nghề 57
4.4.4 Mô hình du lịch làng nghề ở Bến Tre 59
CHƯƠNG 5 GIẢI PHÁP 63
5.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 63
5.2 GIẢI PHÁP 64
5.2.1 Giải pháp về sản phẩm 64
5.2.2 Giải pháp quảng bá thương hiệu 65
5.2.3 Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực 65
5.2.4 Giải pháp bảo vệ môi trường 66
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
6.1 KẾT LUẬN 67
6.2 KIẾN NGHỊ 68
Trang 7v
6.2.1 Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 68
6.2.2 Đối với Chính quyền địa phương 69
6.2.3 Đối với công ty kinh doanh du lịch 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 1 74
PHỤ LỤC 2 77
PHỤ LỤC 3 80
Trang 8vi
D NH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Cơ cấu khách du lịch Bến Tre qua các năm 2011 - 2013 14
Bảng 3.1 Di tích lịch sử cách mạng tỉnh Bến Tre 24
Bảng 3.2 Di tích tưởng nhớ danh nhân tỉnh Bến Tre 25
Bảng 3.3 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch của tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011 – 2013 27
Bảng 3.4 Lực lượng lao động trong ngành du lịch tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011- 2013 30
Bảng 3.5 Lượng khách du lịch đến Bến Tre giai đoạn 2011 – 2013, 6 tháng đầu năm 2014 33
Bảng 3.6 Doanh thu ngành du lịch Bến Tre giai đoạn 2011 – 2013 36
Bảng 3.7 Hệ thống làng nghề tiểu thủ công nghiệp tại Bến Tre 42
Bảng 4.1 Tóm tắt thông tin chung của khách du lịch được phỏng vấn 47
Bảng 4.2 Mục đích chính khách du lịch của khách du lịch đến Bến Tre 48
Bảng 4.3 Người đi cùng và hình thức đi du lịch của du khách 50
Bảng 4.4 Nguồn thông tin đi du lịch của du khách nội địa và quốc tế 51
Bảng 4.5 Đánh giá chung của du khách về điểm du lịch Bến Tre 53
Bảng 4.6 Đánh giá của du khách về độ hấp dẫn của sản phẩm và số tiền mua sản phẩm làng nghề 58
Bảng 4.7 Sự khác biệt trong hành vi mua sản phẩm làng nghề của du khách quốc tế và nội địa 58
Bảng 4.8 Sự khác biệt về đánh giá sản phẩm và số tiền trung bình mua sản phẩm của làng nghề của du khách quốc tế và nội địa 59
Bảng 4.9 Sự khác biệt giữa nam và nữ đối với đánh giá sản phẩm, số tiền trung bình mua sản phẩm 59
Trang 9vii
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Mô hình 5A của sản phẩm du lịch 9
Hình 3.1 Bản đồ tỉnh Bến Tre 20
Hình 3.2 Lượng khách du lịch đến Bến Tre giai đoạn 2011 – 2014 35
Hình 4.1 Thu nhập của khách du lịch nội địa đến Bến Tre 47
Hình 4.2 Thu nhập của khách du lịch quốc tế đến Bến Tre 48
Hình 4.3 Số lần đi du lịch Bến Tre của khách du lịch 49
Hình 4.4 Thời điểm đi du lịch của du khách được phỏng vấn 50
Hình 4.5 Số ngày tham quan của du khách đến Bến Tre 52
Hình 4.6 Loại hình lưu trú của khách du lịch đến Bến Tre 53
Hình 4.7 Tỷ lệ du khách đã tham quan làng nghề và dự định trong tương lai 56 Hình 4.8 Mục đích đến tham quan làng nghề của khách du lịch 56
Hình 4.9 Đánh giá độ hấp dẫn của sản phẩm làng nghề của du khách 57
Trang 10TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
UBND : Ủy Ban Nhân Dân
Trang 111
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Du lịch không những là ngành công nghiệp không khói thân thiện với môi trường mà còn là ngành kinh tế hàng đầu mang lại nhiều lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội, được Đảng và nhà nước xác định là ngành công nghiệp mũi nhọn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước (Chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam 2020, tầm nhìn 2030) Theo định hướng thị trường và phát
triển sản phẩm trong “Quy hoach tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn 2030” là ưu tiên chú trọng xây dựng các sản phẩm du lịch
đặc sắc phát huy giá trị văn hóa Việt Nam có sức cạnh tranh cao làm nền tảng cho các sản phẩm du lịch đặc trưng như du lịch sinh thái, văn hóa và lịch sử
Do đó phát triển sản phẩm du lịch làng nghề ở miền nông thôn sẽ phát huy các yếu tố văn hóa dân tộc thấm đẫm ở miền quê Việt Nam Mặt khác, thời gian qua do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên sức mua của thị trường giảm sút, buôn bán ế ẩm dẫn tới nhiều hộ gia đình phải đóng cửa sản xuất và tìm kiếm việc làm khác Cùng với đó là khoa học công nghệ phát triển liên tục tạo
ra nhiều sản phẩm giá thành thấp, sức cạnh tranh cao khiến cho một số làng nghề truyền thống ở miền nông thôn bị mai một dần Trong khi đó phát triển
du lịch tham quan làng nghề có thể mang lợi ích cho cộng đồng nghèo ở địa phương thông qua các dịch vụ du lịch và bảo tồn giá trị của làng nghề Du lịch làng nghề cũng là cách giới thiệu sinh động hấp dẫn về đất nước, con người của mỗi vùng miền, địa phương đồng thời góp phần đa dạng điểm đến trong các tour du lịch trong khi ngành du lịch đang lo lắng thiếu điểm đến
Nằm trong vùng du lịch Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Bến Tre - một vùng đất phù sa dù chỉ mới được khai phá, phát triển trên 300 năm nhưng
đã tạo dựng, phát triển và bảo tồn nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng trong
và ngoài nước như: làng nghề cây giống hoa kiểng Cái Mơn (Chợ Lách), làng nghề làm kẹo dừa ở Mỏ Cày, làng nghề đúc lu Hòa Lợi (Thạnh Phú), làng nghề nấu rượu, đan đát ở Phú Lễ (Ba Tri), làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc (Giồng Trôm), Mỗi làng nghề đều ẩn chứa một nét độc đáo riêng gắn liền với truyền thống lịch sử, hệ thống di tích và nét văn hóa cộng đồng riêng tại vùng đó làm nên sức hấp dẫn đối với du khách thập phương Thời gian qua cũng có một số tour du lịch sinh thái, văn hóa có kết hợp đưa khách đến tham quan làng nghề và bước đầu thu hút được du khách Tuy nhiên, sự phát triển du lịch làng nghề nhìn chung vẫn là chỉ quan tâm đến
số lượng chưa lo đến chất lượng, dựa trên lợi thế vốn có mà chưa đầu tư sâu
Trang 122
sắc cũng như có quy hoạch cụ thể về định hướng phát triển lâu dài Chưa tạo được sự liên kết, hỗ trợ từ phía doanh nghiệp kinh doanh du lịch, người dân địa phương và chính quyền trong việc tạo ra sản phẩm du lịch Nhiều làng nghề khác có tiềm năng phát triển du lịch nhưng còn bị bỏ ngõ chưa được khai thác nên kinh tế còn kém phát triển Từ những nguyên nhân trên mà đề tài
“P â tíc tiềm ă v iải p áp p át triể du ịc ề tỉ Bế Tre” đã được thực hiện nhằm đánh giá đúng tiềm năng và tìm ra giải pháp
phát triển cho mô hình du lịch làng nghề tại tỉnh Bến Tre
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu c u
Phân tích thực trạng phát triển ngành du lịch Bến Tre, khảo sát nhu cầu thực tế của khách du lịch làm cơ sở để phân tích khả năng phát triển của du lịch làng nghề cộng với phân tích các khó khăn mà làng nghề gặp phải khi phát triển du lịch qua đó sẽ đưa ra các giải pháp cho sự phát triển loại hình du lịch trên, góp phần nâng cao đời sống kinh tế, xã hội cho người dân địa phương
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: phân tích thực trạng hoạt động của ngành du lịch Bến Tre
giai đoạn 2011 – 2013 và sơ lược hoạt động 6 tháng đầu năm 2014
Mục tiêu 2: phân tích đặc điểm, hành vi của khách du lịch đến Bến Tre,
đánh giá của du khách về dịch vụ du lịch ở Bến Tre Tìm hiểu nhu cầu, cảm nhận của du khách trong nước và quốc tế đối với tham quan du lịch làng nghề tại Bến Tre
Mục tiêu 3: đưa ra một số giải pháp phát triển mô hình du lịch tham
quan làng nghề ở tỉnh Bến Tre, nhằm khai thác những lợi thế vốn có đồng thời khắc phục những khó khăn tồn tại
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 ô ia iê cứu
Tỉnh Bến Tre gồm 8 huyện và thành phố Bến Tre, trong đó các làng nghề thì phân bố rải rác đều khắp các huyện trong tỉnh nhưng khai thác cho phát triển du lịch thì chưa nhiều nên đề tài chọn một số huyện để nghiên cứu điển hình Trong tỉnh có 2 huyện phát triển du lịch mạnh nhất và có nhiều điểm du lịch là huyện Chợ Lách và huyện Châu Thành và TP Bến Tre – trung tâm du lịch của tỉnh sẽ được chọn để nghiên cứu trực tiếp Các làng nghề trên các
Trang 133
huyện còn lại sẽ được nghiên cứu dựa trên thông tin truyền miệng và thông tin thứ cấp từ Sở VHTTDL tỉnh Bến Tre cung cấp
1.3.2 Thời ia iê cứu
Đề tài được thực hiện từ ngày 11/9/2014 đến tháng 12/2014
Thời gian thu thập số liệu sơ cấp là tháng 10/2014 Thời gian này ít làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu vì đối với ngành du lịch Bến Tre có đặc thù
là hoạt động quanh năm, ít bị ảnh hưởng của tính thời vụ
Số liệu thứ cấp được tổng hợp trong 3 năm gần nhất với thời gian thực hiện đề tài tức là từ năm 2011 đến năm 2013 và 6 tháng đầu năm 2014, để có thể phân tích sâu vào thực tế làm cơ sở nêu lên thực trạng tổng quan ngành du lịch Bến Tre
1.3.3 Đối tượ iê cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng phát triển của du lịch tham quan làng nghề tại Bến Tre và nghiên cứu những khó khăn nhằm đưa ra giải pháp giúp nâng cao hiệu quả khai thác của loại hình du lịch này trên địa bàn tỉnh Bến Tre
1.4 LƯỢC HẢO T I LIỆU
Đến nay đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về làng nghề chủ yếu là phát triển làng nghề kết hợp du lịch, khả năng của mô hình làng nghề phát triển thành khu thương mại mua sắm du lịch, khả năng phát triển du lịch làng nghề gắn với một loại hình du lịch khác
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tri Nam Khang, đề tài “Giải pháp phát
triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tỉnh Hậu Giang” Đề tài đã sử
dụng nhiều phương pháp để phân tích cụ thể về hiệu quả hoạt động của hộ, lợi ích từ việc kết hợp phát triển làng nghề với du lịch Phương pháp phân tích hồi qui được áp dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của làng nghề, kết quả cho thấy các nhân tố tác động đến thu nhập của nông
hộ là số năm đi học, số lao động mà họ thuê mướn và loại hình làng nghề mà
họ tham gia Qua kết quả phân tích ngân sách từng phần (PBA – Partial Budget Analysis) đã chỉ ra rằng các hộ làng nghề có kết hợp du lịch sẽ có kết quả cao hơn so với hộ làng nghề truyền thống Và qua phương pháp phân tích tổng chi phí du hành (ZTCM – Zone Travel Cost Methods) cũng cho thấy thặng dư mà du lịch đem lại cho làng nghề là rất lớn Kết hợp phát triển làng nghề với du lịch sẽ tạo ra nhiều giá trị về hữu hình và lợi ích vô hình thông qua việc quảng bá có hiệu quả hình ảnh, thương hiệu sản phẩm làng nghề và nhiều lợi ích từ truyền miệng Qua các kết quả trên tác giả rút ra kết luận mô
Trang 144
hình phát triển làng nghề kết hợp du lịch ở Hậu Giang hoàn toàn có cơ sở phát triển thành công trong tương lai và đem lại hiệu quả tài chính cao hơn
Nghiên cứu của tác giả Mai Văn Nam đề tài “Xây dựng mô hình phát
triển làng nghề kết hợp du lịch tỉnh Bạc Liêu” Đề tài đã đánh giá được các
nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng sản xuất kinh doanh của các làng nghề tại Bạc Liêu Đồng thời cũng nghiên cứu được tiềm năng du lịch và nhu cầu đối với du lịch làng nghề tại đây từ đó đề xuất giải pháp phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và phát triển du lịch địa phương Một nghiên cứu
khác cũng của tác giả Mai Văn Nam“Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển
làng nghề kết hợp du lịch ở ĐBSCL”, được tiến hành ở địa bàn 2 tỉnh Bạc
Liêu và Hậu Giang Phương pháp phân tích nhân tố được sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến điểm du lịch phát triển du lịch làng nghề Kết quả nghiên cứu cho thấy có 2 nhóm nhân tố lớn ảnh hưởng đến phát triển làng nghề kết hợp du lịch, đó là các yếu tố liên quan đến nhận định của du khách về địa điểm du lịch và các yếu tố liên quan đến hoạt động kinh doanh của các hộ làng nghề Nhóm các yếu tố thuộc về cảm nhận của du khách như: sự lôi cuốn của điểm du lịch, cơ sở vật chất, mức độ an toàn, sự bền vững trong tương lai của điểm du lịch và quy mô của các điểm du lịch Trong đó, mức độ an toàn
và mức độ bền vững của điểm du lịch là 2 yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất lên cảm nhận chung của du khách Nhóm các yếu tố thuộc về làng nghề như: khả năng tài chính của nông hộ, cơ sở hạ tầng tại địa phương, điều kiện sản xuất và khả năng hiểu biết của các làng nghề là các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển của làng nghề kết hợp du lịch trên địa bàn nghiên cứu
Trong một nghiên cứu khác của Lâm Văn Toàn đề tài “Phân tích tiềm
năng và giải pháp phát triển du lịch làng nghề truyền truyền thống gắn với văn hóa lễ hội tỉnh Tiền Giang” tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích
nhân tố để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch đến Tiền Giang kết hợp với phân tích tần số và trị trung bình để thống kê các nhu cầu, sở thích của du khách Sau đó tác giả kết hợp với phân tích tiềm năng
du lịch làng nghề để từ đó xây dựng mô hình du lịch làng nghề gắn kết với văn hóa lễ hội trong tỉnh và đưa ra giải pháp phát triển mô hình Theo tác giả lợi ích từ mô hình này cũng đem lại rất nhiều như: đa dạng tour tuyến du lịch, tạo nét đặc thù cho du lịch tỉnh nhà, khai thác tiềm năng hiện có và quan trọng nhất là mang lại hiệu quả kinh tế cao cho hộ sản xuất và người dân địa phương
Trong một nghiên cứu của Erik Cohen về “Touristic ribbon craft village
development in Thailand” cho rằng một số làng nghề ở Thái Lan trở thành
điểm du lịch hấp dẫn đã góp phần thúc đẩy ngành thủ công phát triển không
Trang 15Qua các nghiên cứu trên ta thấy mô hình du lịch làng nghề đem lại nhiều lợi ích không những về kinh tế mà còn nhiều ý nghĩa khác Đồng bằng sông Cửu Long là một địa phương có nhiều làng nghề, sản phẩm làm ra mang đậm nét văn hóa sông nước là một trong những tài nguyên quan trọng có thể khai thác tạo thành sản phẩm du lịch đặc trưng Đối với Bến Tre một tỉnh có nhiều tiềm năng du lịch cần được đánh thức thì chưa có nghiên cứu cụ thể về loại hình du lịch này, đây là mô hình du lịch nhằm khai thác các giá trị đặc trưng
và nhằm phát triển bền vững làng nghề
Trang 16Xem xét du lịch như một hiện tượng xã hội, nhân văn mà tổ chức du lịch thế giới (United Nations World Tourism Organizition – UNWTO) đã đưa ra
định nghĩa như sau: “du lịch bao gồm những hoạt động của những người đi
đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình trong thời hạn không qua một năm liên tục để vui chơi, vì công việc hay vì mục đích khác không vì mục đích kiếm tiền ở nơi mà họ đến”
Theo Điều 4, Luật du lịch Việt Nam (2005) thì “du lịch là hoạt động của
con người ngoài nơi cơ trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Tại Hội nghị Liên hợp quốc tế về du lịch ở Roma năm 1963 đã đưa ra
định nghĩa về du lịch theo một phạm trù về kinh tế như sau: “Du lịch là tổng
hòa các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”
Nhìn chung, người ta chưa có thể đưa ra một khái niệm thống nhất về du lịch là do tính chất 2 mặt của nó Một mặt, du lịch mang khái niệm thông thường như một hiện tượng đi lại của con người đến một nơi khác với nơi ở của mình với mục đích nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí Mặt khác, du lịch được
Trang 177
nhìn nhận dưới góc độ kinh tế là một ngành dịch vụ mang tính tổng hợp cao nhằm phục vụ và thỏa mãn những nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển của du khách
Do đó có thể khái quát hoạt động du lịch như sau:
Là một hiện tượng kinh tế xã hội
Có sự di chuyển của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của
họ đến một nơi khác
Họ phải tiêu thụ các giá trị về kinh tế - văn hóa – xã hội tại nơi đến
Chuyến đi đó không nhằm mục đích kiếm tiền, mục đích chính trị Phân loại du lịch theo môi trường tài nguyên du lịch:
(1) Du lịch sinh thái (Ecotourism) Đây là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững
(2) Du lịch văn hóa (Cultural tourism) Theo Luật du lịch Việt Nam: “Du
lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” Du lịch văn hóa là quá trình tổ chức và quản lý hoạt động du lịch với
mục đích tạo ra những sản phẩm du lịch, những hình thức hoạt động được xác định và tăng cường các sức hấp dẫn du khách bằng các đặc sản văn hóa của địa phương, của các cộng đồng cư dân tại chỗ Chính những di sản văn hóa - lịch sử, những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống cùng môi trường văn hóa và cách ứng xử của cộng đồng là một phần quan trọng của sản phẩm
du lịch và được nhìn nhận là tài nguyên du lịch có giá trị bên cạnh những tài nguyên du lịch khác
Du lịch văn hóa gồm các loại hình:
- Du lịch lễ hội
- Du lịch làng nghề
- Du lịch tham quan, nghiên cứu
- Du lịch tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng
- Du lịch làng bản
2.1.1.2 Sản phẩm du lịch
Điều 4, chương I, Luật Du lịch Việt Nam (2005) giải thích:“sản phẩm du
lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến đi du lịch” Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho
khách du lịch được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao
Trang 18nghi, cơ sở vật chất trog khu du lịch, các món ăn thức uống ở nhà hàng
- Sả p ẩm du ịc vô ì : điều kiện ở nơi nghỉ mát, chất lượng
phục vụ của công ty vận chuyển, lời giới thiệu của hướng dẫn viên
Theo Dương Văn Sáu (năm 2011) thì sản phẩm du lịch thường mang những đặc trưng văn hóa cao và nó thể hiện khả năng nắm bắt, kết hợp dựa vào những tiềm năng, nguồn lực sẳn có mà tạo dựng những giá trị mới của cá nhân hay tổ chức kinh doanh du lịch
Cơ cấu của sản phẩm du lịch liên quan đến nhiều ngành nghề, phong phú
và đa dạng nhưng nhìn chung gồm các thành phần chính sau:
+T p ầ tạo ực út: đó là sản phẩm hấp dẫn du khách tạo ra mục
đích của khách du lịch tại điểm đến gồm các tài nguyên du lịch như cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di sản văn hóa để thỏa mãn nhu cầu tham quan, thưởng thức của du khách
+ Điều kiệ vật c ất p át triể du ịc : là cơ sở du lịch các sản phẩm
phục vụ nhu cầu thiết yếu của du khách bao gồm hệ thống cơ sở lưu trú, dịch
vụ vui chơi, phương tiện vận chuyển, thông tin liên lạc
+ Dịc vụ bổ su : những sản phẩm phục vụ nhu cầu phát sinh trong
quá trình đi du lịch như: giặt là, massage, spa, mua quà lưu niệm, cà phê, phòng tập gym,…
Như vậy, có thể nói làng nghề vừa là sản phẩm du lịch đặc trưng khi làng nghề đó có khả năng hấp dẫn du khách, vừa là sản phẩm bổ sung khi tạo ra những mặt hàng lưu niệm cho du khách
Mô hình 5A của sản phẩm du lịch để làm cho sản phẩm phục vụ tốt du khách phải đạt 5 yếu tố sau:
- Attractions: những nét hấp dẫn, thu hút du khách
- Access: khả năng tiếp cận đến điểm du lịch như cơ sở hạ tầng giao
thông, kết nối thông tin liên lạc, viễn thông
- Accommodation: phương tiện lưu trú như khách sạn, nhà nghỉ, khu du
lịch, nhà dân, bungalow
Sản phẩm du lịch = tài nguyên du lịch + dịch vụ và hàng hóa du lịch
Trang 199
- Amenities: các dịch vụ bổ trợ làm cho điểm du lịch trở nên tiện nghi
hơn đối với du khách như bưu điện, bệnh viện, ngân hàng
- Activities: các hoạt động tại điểm đến, giúp chuyến đi thú vị hơn
Hình 2.1 Mô hình 5A của sản phẩm du lịch
2.1.1.3 Khách du lịch
Theo Điều 10, chương I, Pháp lệnh Du lịch Việt Nam: “Khách du lịch là
người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập tại nơi đến”
Phân loại khách du lịch theo thời gian tham quan như sau:
- ác du ịc (Tourist): là khách viếng thăm (visitor) lưu trú tại
một quốc gia hay một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ lại qua đêm tại đó với mục đích tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, tham gia hội nghị, tôn giáo, công tác, thể thao, học tập
- ác t am qua (Excursionist): còn gọi là khách thăm viếng 1
ngày (day visitor) là khách thăm viếng một nơi nào đó dưới 23 giờ và không nghỉ lại qua đêm
Đối với bài nghiên cứu này thuật ngữ khách du lịch dùng để chỉ những người ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình đến một nơi khách trong thời gian ít hơn 12 tháng liên tục với mục đích chính của chuyến đi là tham quan, giải trí hay các mục đích khác ngoài tiến hành các hoạt động để đem lại thu nhập và kiếm sống Kể cả khách đi du lịch trong ngày và khách đi trên 24 giờ có nghỉ lại qua đêm đều được gọi chung là khách du lịch
Khách du lịch được phân thành 2 nhóm là:
- ác ội địa (Domestic visitors): là khách đi du lịch đến một nơi
khác nơi cư trú thường xuyên của mình trong phạm vi quốc gia với mục đích
Attractions
Access
Accommodation Amenities
Activities
Trang 2010
tham quan, thăm thân nhân, tham dự hội nghị, đi công tác, chữa bệnh, nghỉ ngơi, hành hương,
- ác quốc tế (I ter atio a visitors): là khách đi du lịch ra khỏi
phạm vi lãnh thổ nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích tham quan, thăm thân nhân, tham dự hội nghị, đi công tác, chữa bệnh, nghỉ ngơi, hành
hương,
2.1.2 ái iệm iê qua đến ề
Theo tiến sĩ Phạm Côn Sơn (2004) trong cuốn “Làng nghề truyền thống
Việt Nam” thì làng nghề được định nghĩa như sau: “Làng nghề là một đơn vị
hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có
tổ chức, kỷ cương tập quán theo nghĩa rộng Làng nghề không chỉ là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần
để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương” Hay làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn,
ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một
xã, thị trấn có các hoạt động hành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều sản phẩm khác nhau tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập và thu nhập từ nghề đó chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương
Làng nghề thường có các đặc điểm sau:
(1) Tồn tại ở nông thôn gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp Các làng nghề xuất hiện trong từng làng, xã ở nông thôn sau đó các nghề thủ công nghiệp được tách dần ra nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau nên người thợ thủ công trước hết là một nông dân
(2) Đa số làng nghề hình thành trên cơ sở nguồn nguyên vật liệu sẳn có
và tại chỗ, và có ít một số nguyên liệu phải nhập như chỉ thêu, thuốc nhuộm (3) Công cụ, dụng cụ dùng trong làng nghề truyền thống thường rất thô
sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chính Giai đoạn trước, công nghệ kỹ thuật chưa phát triển nên hầu hết các công đoạn là thủ công nhưng ngày nay
đã có ứng dụng khoa học công nghệ vào quy trình sản xuất
(4) Sản phẩm được tạo ra thường mang tính địa phương, tại chỗ, quy
mô nhỏ nhưng có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Sản phẩm vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ do đó nó vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng vừa là vật trang trí Vì đặc điểm này mà sản phẩm làng nghề đã
Trang 21sử dụng cao Đặc biệt nước ta có khá nhiều sản phẩm từ làng nghề có thương hiệu trên trường quốc tế như: lụa Vạn Phúc, tranh Đông Hồ, cây kiểng Cái Mơn, gốm Bát Tràng, (Phạm Xuân Hậu, Trịnh Văn Anh, 2012) Như vậy làng nghề có các vai trò quan trọng đối với nông thôn như sau: giải quyết việc làm cho người dân lao động ở nông thôn, tăng tỷ trọng giá trị hàng hóa xuất khẩu (Phạm Xuân Hậu, Trịnh Văn Anh 2012), thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lượng lượng lao động, nâng cao mức sống và hạn chế di dân
tự do (Nguyễn Tri Nam Khang, 2012), đồng thời góp phần bảo tồn các giá trị truyền thống của dân tộc (Nguyễn Phước Quý Quang, 2013)
Xét theo góc độ thời gian thì có làng nghề truyền thống và làng nghề mới Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử trên 50 năm và tối thiểu trên 30% số hộ trong làng nghề tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn, giá trị sản xuất từ ngành nghề đó chiếm tỷ trọng 50% trở lên trong tổng thu nhập của làng nghề Ngoài ra, làng nghề còn phải đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường và an toàn lao động, chấp hành tốt các chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước cũng như địa phương Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự lan tỏa của làng nghề truyền thống hay tiếp thu những nghề mới trong những năm gần đây đặc biệt trong thời kỳ đổi mới Làng nghề có ý nghĩa đặc biệt đối với phát triển kinh tế nông thôn, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực có làng nghề thấp hơn khoảng 3 lần so với tỷ lệ hộ nghèo bình quân trong cả nước (Mai Văn Nam, 2013)
Trong đề tài này nghiên cứu cả làng nghề truyền thống và làng nghề mới
vì đối với Bến Tre thì du lịch làng nghề tuy mới hay cũ đều có khả năng thu hút khách du lịch nếu biết được nhu cầu của khách hàng Những làng nghề thủ công mỹ nghệ từ dừa tuy mới hình thành gần đây nhưng cho thấy một sức lan tỏa đặc biệt, có ý nghĩa đối với phát triển du lịch rất đáng trân trọng
Trang 2212
văn hóa là loại hình du lịch mà du khách muốn thẩm nhận bề dày lịch sử, di tích văn hóa, phong tục tạp quán còn hiện diện Bao gồm hệ thống đình, chùa, nhà thờ, lễ hội, các phong tục tạp quán về ăn, ở, mặc, giao tiếp” Đối với làng
nghề giá trị văn hóa được biểu hiện ở chỗ đó là nơi chứa đựng kho tàng kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất, chế tác trong việc tạo ra sản phẩm thủ công Từ đó
ta có thể hiểu du lịch làng nghề như là một loại hình du lịch văn hóa mà du khách được tìm hiểu, chiêm ngưỡng, thưởng thức các giá trị văn hóa liên quan đến một làng nghề nào đó Khi tham gia tour du lịch làng nghề, du khách sẽ được dịp khám phá, tìm hiểu quy trình kỹ thuật của nghề truyền thống, thâm nhập cuộc sống cộng đồng với những phong tục, tập quán và các nghi thức Phường, hội riêng của các làng nghề truyền thống…
Hiện nay, trong xu hướng hiện đại con người quay lại với những giá trị truyền thống và du lịch tham quan làng nghề ngày càng thu hút sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước nên loại hình du lịch về miền nông thôn dân
dã qua các làng nghề dần lấy lại ưu thế so với những loại hình du lịch hiện đại khác Cũng theo Phạm Xuân Hậu (2004) từ lâu làng nghề truyền thống là nơi cung cấp cho du khách nhiều sản phẩm độc đáo với nhiều ý nghĩa như: làm vật
kỷ niệm, phục vụ vui chơi, giải trí, ăn uống, sinh hoạt, truyền bá nghề nghiệp Trong thời gian tới, du lịch làng nghề cũng là xu hướng phát triển của ngành dịch vụ du lịch nhằm đa dạng sản phẩm du lịch đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề truyền thống tại địa phương, tạo ra nhiều lợi ích về mặt
xã hội cho người dân
Lợi ích của việc kết hợp hoạt động du lịch và làng nghề ngoài những giá trị hữu hình từ thặng dư kinh tế còn có những giá trị vô hình thông qua việc quảng bá hình ảnh, thương hiệu sản phẩm làng nghề và các lợi ích truyền miệng khác (Nguyễn Tri Nam Khang, 2012) và bảo tồn các giá trị văn hóa ngàn đời của ông cha ta thông qua việc giới thiệu cho du khách tiếp cận với sản phẩm văn hóa đặc trưng mỗi vùng miền (Nguyễn Phước Quý Quang, 2013) Vai trò quan trọng của du lịch đối với sự phát triển của làng nghề thể hiện như sau:
(1) Tạo thêm công ăn việc làm cho người dân địa phương, tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân
(2) Tạo cơ hội thu hút đầu tư cho các làng nghề, góp phần khôi phục và phát triển nghề thủ công có nguy cơ bị mai một trong thời kỳ công nghiệp hóa (3) Tạo cơ hội xuất khẩu hàng thủ công truyền thống tại chỗ
(4) Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ nông nghiệp sang lĩnh vực dịch vụ
Trang 2313
Như vậy du lịch và làng nghề có mối quan hệ chặt chẽ, phát triển cung nhau sẽ tạo tác động kép Một mặt, làng nghề là tài nguyên thu hút khách du lịch, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch Mặt khác, du lịch giúp làng nghề hoạt động có hiệu quả, tăng cường tiêu thụ sản phẩm tại chỗ và quảng bá hình ảnh cho làng nghề Phát triển du lịch làng nghề không chỉ tăng cường sức mua
mà còn tăng uy tín của quốc gia trên thị trường quốc tế (Erik Cohen, 1995)
Mô hình du lịch làng nghề kết hợp du lịch đã được áp dụng nhiều nơi và thu được kết quả đáng khích lệ, đây không phải là mô hình mới xuất hiện tuy nhiên việc áp dụng nó thì còn rất mới mẻ và yêu cầu cao về công tác quản lý
và triển khai (Nguyễn Tri Nam Khang, 2012) Theo Ando Katsuhiro – chuyên gia phát triển du lịch JICA thì nghề truyền thống phong phú, đời sống con người sinh động là tài nguyên du lịch vô cùng hấp dẫn ở nông thôn Việt Nam
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 P ươ p áp t u t ập số liệu
2.2.2.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các số liệu, tài liệu của các cơ quan chức năng du lịch như: Sở Văn hóa Thể thao & Du lịch tỉnh Bến Tre, Sở Công Thương Bến Tre, Tổng cục Du lịch Việt Nam, Tổng cục thống kê
mỹ nghệ từ dừa, khu du lịch thầy Ngon (xã Sơn Định, huyện Chợ Lách) gần với làng nghề cây giống, hoa kiểng
Đề tài lựa chọn phương pháp chọn mẫu phi xác xuất theo kiểu thuận tiện Phương pháp thường được sử dụng trong các nghiên cứu thăm dò thử nghiệm,
để tiết kiệm thời gian và chi phí (Lưu Thanh Đức Hải, 2007) Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là tính đại diện không cao do mẫu có thể sai lệch với tổng thể Để khắc phục điều này tác giả đã thu mẫu tại các điểm du lịch khác nhau vào các thời điểm khác nhau trong ngày do đó đã góp phần tạo
sự đa dạng, nâng cao tính đại diện cho mẫu Cỡ mẫu được xác định như sau:
Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến cỡ mẫu
Trang 24
Z MOE
p p
96)96.1()1.0(
25
Cơ cấu mẫu theo từng nhóm khách đƣợc xác định căn cứ vào lƣợng khách du lịch đến Bến Tre trong 3 năm 2011 – 2013 Theo bảng 2.1, lƣợt khách quốc tế dao động khoảng 43%, khách nội địa khoảng 57% Nhƣ vậy đề tài thu mẫu theo cơ cấu trên với số lƣợng chẵn là 50 mẫu khách quốc tế và 70 mẫu khách nội địa
Bảng 2.1 Cơ cấu khách du lịch Bến Tre qua các năm 2011 - 2013
Lƣợt khách
Cơ cấu (%)
Lƣợt khách
Cơ cấu (%)
Lƣợt khách
Cơ cấu (%) Khách quốc tế 261.009 42,8 300.500 43,4 341.800 42,7 Khách nội địa 349.012 57,2 392.500 56,6 458.600 57,3 Tổng 610.021 100,0 693.000 100,0 800.400 100,0
Nguồn Sở Văn hóa Thể thao & Du lịch Bến Tre
Trang 2515
Đối tượng phỏng vấn của đề tài là khách đi du lịch đến Bến Tre (kể cả khách quốc tế và khách nội địa) Đối với khách du lịch quốc tế chỉ phỏng vấn được du khách nói tiếng Anh, đây là điểm hạn chế của đề tài nhưng nhìn chung khách nói được tiếng Anh chiếm tỷ lệ cao trong tổng số du khách nước ngoài đến Bến Tre Du khách được chọn làm mẫu trong đề tài gồm những khách đã và đang đi du lịch làng nghề tại Bến Tre và cũng như những du khách chỉ đang đi du lịch tại Bến Tre Mục đích của việc phỏng vấn của du khách đến Bến Tre không phân biệt đã đi du lịch làng nghề hay chưa nhằm khảo sát nhu cầu và ý kiến của họ về loại hình này cũng như thấy được sự hài lòng chung của họ về các dịch vụ du lịch tại Bến Tre Từ đó làm cơ sở cho việc đề ra giải pháp thu hút khách du lịch và phát triển loại hình du lịch này
Để phỏng vấn được cả hai nhóm du khách này tác giả không chỉ thu mẫu trực tiếp tại điểm làng nghề có phục vụ khách du lịch mà còn đến các điểm du lịch đông khách du lịch khác trong tỉnh Bến Tre
2.2.2 P ươ p áp p â tíc số liệu
- Mục tiêu 1: sử dụng số liệu thứ cấp kết hợp phương pháp so sánh số
tuyệt đối, số tương đối để khái quát cho cái nhìn tổng quan về kết quả đạt được của ngành du lịch tỉnh Bến Tre
- Mục tiêu 2: sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần số, số
trung bình để phân tích đặc điểm cũng như đánh giá chung của du khách về du lịch Bến Tre, phương pháp cross-tab để phân tích các nhận xét, đánh giá theo từng nhóm khách Ngoài ra, phương pháp kiểm định T- Test được thực hiện để
so sánh trị trung bình của các đánh giá, mức chi tiêu khác nhau của các nhóm
du khách
- Mục tiêu 3: sử dụng kết quả các mục tiêu trước kết hợp phỏng vấn sâu
du khách để đề xuất các giải pháp phát triển du lịch làng nghề truyền thống nhằm hỗ trợ khai thác sản phẩm du lịch của Bến Tre
2.2.3 ái quát p ươ p áp p â tíc số liệu
2.2.3.1 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích kinh tế bằng việc xem xét một chỉ tiêu phân tích dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở còn gọi là chỉ tiêu gốc Mục đích của so sánh để phân tích thực trạng hoạt động du lịch qua việc so sánh đối chiếu số liệu thứ cấp, tìm ra sự chênh lệch, biến động của lượng khách, doanh thu ngành du lịch qua các năm
P ươ p áp so sá số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị
số của kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu Phương pháp này phản ánh quy
Trang 2616
mô của chỉ tiêu nghiên cứu thể hiện bằng con số tuyệt đối kèm theo đại lượng nên ta sẽ thấy rõ sự biến động về quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc
Trong đó: y là chỉ tiêu kỳ phân tích
y0 là chỉ tiêu kỳ gốc
P ươ p áp so sá số tươ đối: là kết quả của phép chia giữa
trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu Phương pháp này phản ánh tốc độ tăng trưởng và xu hướng biến động của các chỉ tiêu thông qua so sánh tốc độ tăng trưởng giữa các năm So sánh tốc độ tăng trưởng giữa các chỉ tiêu
để tìm ra nguyên nhân (Mai Văn Nam, 2008)
Công thức: (2.2)
Trong đó: y là chỉ tiêu kỳ phân tích
y0 là chỉ tiêu kỳ gốc
2.2.3.2 Phương pháp thống kê mô tả (Descriptive statistics)
Là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả, tóm tắt, trình bày, tính toán và các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu thông qua biểu diễn số liệu thành đồ thị hoặc bảng số liệu tóm tắt bao gồm: giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất, lớn nhất, phân tích tần số xuất hiện của các đối tượng nghiên cứu
- Phân tích tần số (Frequency): thực hiện theo phương pháp này ta có
bảng phân phối tần số là bảng tóm tắt dữ liệu được xếp thành từng tổ khác nhau, dựa trên các tần số xuất hiện của đối tượng để so sánh tỷ lệ, phản ánh số liệu Phương pháp này để thống kê các đặc điểm thuộc về nhân khẩu học cũng như thói quen, hành vi đi du lịch hiện tại của du khách
- Giá trị trung bình (Mean): bằng tổng giá trị các biến quan sát chia cho
số biến quan sát Phương pháp này để biết được đánh giá của du khách về các dịch vụ du lịch ở Bến Tre cũng như tính được mức độ hấp dẫn trung bình của các điểm du lịch đối với khách du lịch
Thang đo Likert: là một trong những hình thức đo lường được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu kinh tế xã hội do Rennis Likert giới thiệu Trong đó một chuỗi các phát biểu liên quan đến thái độ trong câu hỏi được nêu
ra và người trả lời sẽ chọn một trong các câu trả lời đó Đây là dạng thang đo lường về mức độ đồng ý hay không đồng ý với các mục được đề nghị Thang
đo có thể chia mức 3, 5 hay 7 mức độ Trong bài nghiên cứu này tác giả sử
Trang 2717
dụng thang đo Likert 5 mức độ để đo lường đánh giá của du khách về dịch vụ
du lịch ở Bến Tre với ý nghĩa như sau:
Ý nghĩa của từng giá trị trung bình của thang đo khoảng (Interval Scale) Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum )/n
- Độ lệch chuẩn (Standard deviation- SD): là trung bình giữa bình
phương các độ lệch giữa các biến và trung bình của biến đó Đại lượng này dùng để đo mức độ biến động dữ liệu mà trong đề tài là độ biến động của các đánh giá của khách du lịch đến Bến Tre
2.2.3.3 Phương pháp phân tích Cross – tabulation (bảng chéo)
Là một kỹ thuật thống kê mô tả hai hay ba biến cùng lúc vào bảng kết quả phản ánh sự kết hợp hai hay nhiều biến có số lượng hạn chế trong phân loại hoặc trong giá trị phân biệt
Kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi trong Marketing thương mại vì: (1) kết quả có thể giải thích và hiểu một cách dễ dàng với những nhà quản lý không có chuyên môn thống kê, (2) chuỗi phân tích cung cấp những kết luận sâu hơn trong các trường hợp phức tạp, (3) có thể làm giảm bớt vấn đề của các
ô (cells) và tiến hành đơn giản
Chú ý đến điều kiện là phân phối Chi bình phương cho phép kiểm định mối quan hệ giữa các biến Giả thuyết như sau:
H0: không có mối quan hệ giữa các biến
H1: có mối quan hệ giữa các biến
Giá trị kiểm định χ2 trong kết quả phân tích cung cấp giá trị P-value Nếu giá trị này nhỏ hơn hoặc bằng α (mức ý nghĩa của nghiên cứu) thì kiểm định
có ý nghĩa, bác bỏ giả thuyết H0 nghĩa là các biến có liên hệ nhau
Bảng crosstab 2 biến còn được gọi là bảng tiếp liên (Contigency table), mỗi ô chứa đựng sự kết hợp phân loại của hai biến
Trang 2818
Việc phân tích các biến theo cột hay hàng là tùy thuộc vào việc biến đó được xem như biến độc lập hay biến phụ thuộc Thông thường khi xử lý xếp biến theo cột là biến độc lập, biến theo hàng là biến phụ thuộc
2.2.3.4 Phương pháp kiểm định T (Independent Sample T – Test)
Phương pháp này nhằm kiểm định biến định tính về giả thuyết trung bình hai tổng thể độc lập để tìm sự khác biệt với một biến định lượng Trong đó biến định tính có 2 hình thức thể hiện (ví dụ như giới tính là nam và nữ) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95% hay Sig <0,05
Kiểm tra kiểm định Levene's ở bảng Independent Samples Test Nếu kiểm định này có sig < 0,05 thì phương sai giữa 2 lựa chọn của biến định tính
ở trên khác nhau, ta sẽ sử dụng kết quả kiểm định T ở phần Equal variances not assumed Nếu sig của kiểm định này > 0,05 thì phương sai giữa 2 lựa chọn của biến định tính ở trên không khác nhau, ta sẽ sử dụng kết quả kiểm định T ở phần Equal variances assumed Nếu giá trị sig của kiểm định T ở phần > 0,05 thì kết luận kiểm định T không có sự khác biệt, còn Sig < 0,05 thì kết luận có sự khác biệt giữa các nhóm của biến định tính
Trang 2919
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG V THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH TỈNH B N TRE
Chương này sẽ giới thiệu sơ lược về tỉnh Bến Tre, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội Phân tích các tiềm năng du lịch về tự nhiên và nhân văn, các điều kiện khác để phát triển du lịch và phân tích một cách tổng quan về tình hình hoạt động của ngành du lịch thông qua thống kê và phân tích về lượng khách, thu nhập từ du lịch Đồng thời chương này cũng giới thiệu một số định hướng phát triển du lịch Bến Tre trong thời gian tới
Nhìn từ trên cao xuống Bến Tre như một chiếc quạt xinh đẹp mà đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, các nhánh sông lớn như nan quạt xòe ra phía Đông Phía Bắc giáp Tiền Giang có ranh giới chung là sông Tiền, phía Nam và Tây giáp Trà Vinh, Vĩnh Long với ranh giới là sông Cổ Chiên, phía Đông giáp biển Đông Bốn con sông chính đã chia cắt và bao bọc Bến Tre thành 3 dãy cù lao: cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa phù sa màu mỡ
Diện tích tự nhiên Bến Tre là 2.357 km2, chiếm 5,8% diện tích vùng ĐBSCL Bến Tre hiện nay gồm 8 huyện (Châu Thành, Bình Đại, Ba Tri, Giồng Trôm, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách) và 1 thành phố với dân số 1,387 triệu người Mật độ dân số trung bình 588 người/km2 (số liệu năm 2013, Trung tâm xúc tiến đầu tư thương mại tỉnh Bến Tre)
Địa hình Bến Tre bằng phẳng, độ cao trung bình từ 1 đến 2m so với mặt nước biển, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ chênh lệch tối đa là 3,5m Bến Tre có 4 nhóm đất chính là nhóm đất cát, nhóm đất phù sa, nhóm đất phèn và nhóm đất mặn Trong đó, nhóm đất mặn chiếm diện tích lớn nhất trong các loại đất của tỉnh 43,11%, nhóm đất phù sa chiếm 26,9%, nhóm đất phèn chiếm khoảng 6,74% và nhóm đất cát chủ yếu là loại đất giồng chiếm
Trang 3020
diện tích thấp nhất 6,4% diện tích toàn tỉnh Do đặc điểm địa hình tự nhiên nên lãnh thổ tỉnh được chia thành 3 vùng sinh thái: nước ngọt, nước lợ, nước mặn lại chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa nhiệt đới nên các loài động thực vật ở Bến Tre rất phong phú mang đặc trưng của miền địa lý động vật, thực vật miền Tây Nam Bộ
Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao & Du lịch Bến Tre
Hình 3.1 Bản đồ tỉnh Bến Tre
3.1.1.2 Khí hậu thủy văn
Bến Tre nằm trong vùng khí hậu gió mùa cận xích đạo nhưng lại không nằm trong ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nền nhiệt độ cao, ít biến động Trong năm không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 200C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối trong ngày khoảng 35,80C và thấp nhất 17,60C Tổng số giờ nắng trung bình 8 – 9 giờ/ngày Lượng mưa phân thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa
từ tháng 5 – 11 và mùa nắng từ tháng 12 – 4 Lượng mưa trung bình từ 1.210 – 1.500mm/năm và giảm dần theo hướng Đông, trong đó mùa khô lượng mưa chỉ khoảng 2 – 6% tổng lượng mưa cả năm Như vậy tất cả các yếu tố khí hậu của Bến Tre như nhiệt đ, độ ẩm, lượng mưa đều phù hợp với các chuyến du lịch diễn ra quanh năm
Bến Tre có một mạng lưới sông ngòi chằng chịt với tổng chiều dài xấp xỉ 6.000 km,trong đó có các sông chính là: sông Cổ Chiên dài 82km, sông Hàm Luông dài 71km, sông Ba Lai dài 59km, sông Mỹ Tho dài 83km Bến Tre có hàng trăm sông rạch, trong đó có hơn 60 con sông, kênh, rạch rộng từ 50 – 100m Đáng chú ý như: sông Bến Tre, rạch Cái Mơn, rạch Mỏ Cày, kênh Mỏ Cày – Thom, rạch Ba Tri, kênh Chẹt Sậy – An Hóa Trung bình cứ đi dọc theo các con sông chính 1 đến 2km là có các con rạch hay kênh Hệ thống sông ngòi ở Bến Tre có ý nghĩa về giao thông đường thủy, nguồn thủy sản phong phú, nước tưới cho cây trồng ít gặp khó khăn, tuy nhiên cũng gây trở ngại
Trang 31Toàn tỉnh hiện có trên 2.886 doanh nghiệp và hơn 44.000 hộ kinh doanh
cá thể đăng ký hoạt động trên các lĩnh vực Bến Tre đã hình thành khu công nghiệp Giao Long và khu công nghiệp An Hiệp đưa vào hoạt động thu hút nhiều dự án đầu tư vào tỉnh Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp phát triển khá
ổn định, thương mại- du lịch phong phú, đa dạng ngày càng sôi động, tạo tiền
đề cho bước đột phá tăng trưởng kinh tế của địa phương trong thời gian tới.Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2013 ước đạt 6,72% mặc dù không đạt chỉ tiêu đề ra, nhưng cả ba khu vực của nền kinh tế đều có sự tăng trưởng (khu vực I tăng 0,93%, khu vực II tăng 15,65%, khu vực III tăng 7,97%) Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 28,4 triệu đồng, tăng 10% so với năm 2012 Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (TTCN) giữ mức tăng trưởng cao nhất trong ba khu vực kinh tế, với giá trị sản xuất tăng 20,1% so với năm 2012, trong đó khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao nhất (58,7%) Đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp được ưu tiên thực hiện, đến nay đã cơ bản lấp đầy các khu, cụm công nghiệp hiện có và đang kêu
Trang 3222
gọi đầu tư hạ tầng các khu, cụm đã được phê duyệt Các làng nghề tiếp tục duy trì hoạt động, nhất là làng nghề tiểu thủ công nghiệp đã góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống người lao động nông thôn Hoạt động xúc tiến đầu tư đạt khá, với 24 dự án được chấp thuận chủ trương, tổng vốn đăng ký khoảng 72,4 triệu USD và 1.917,54 tỷ đồng, trong đó có 1 dự án FDI có quy mô vốn lên đến 50 triệu USD
3.2 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU IỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH B N TRE
Điều kiện phát triển du lịch đó là tiềm năng du lịch và khả năng đón tiếp khách của một vùng, địa phương Tiềm năng du lịch thể hiện ở tài nguyên du lịch tự nhiên (vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, động thực vật) và tài nguyên du lịch nhân văn (công trình kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật) Khả năng đón tiếp khách thể hiện ở các yếu tố điều kiện như hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng, khả năng nghiệp vụ của nhân viên phục vụ, trình độ quản lý,
3.2.1 T i uyê du ịch
Tài nguyên du lịch là yếu tố có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong phát triển du lịch Bến Tre không chỉ có nhiều tài nguyên du lịch sinh thái sông nước miệt vườn mà còn là nơi bảo tồn các tài nguyên du lịch khác như: du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch làng nghề, du lịch vui chơi, giải trí Sự hội đủ tài nguyên du lịch về tự nhiên và nhân văn là cơ hội rất lớn cho sự phát triển du lịch mà không phải nơi nào cũng có như Bến Tre
3.2.1.1 Tài nguyên tự nhiên
Tuy không có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như các thành phố du lịch khác nhưng Bến Tre nổi tiếng là miệt vườn sông nước với hệ thống kênh rạch chằng chịt nhất miền Tây Nam Bộ, các vườn cây ăn trái lớn nhất miền Tây, diện tích vườn dừa lớn nhất cả nước với nhiều loại dừa đặc chủng Ngoài
ra, với bờ biển dài 65km cùng hệ thống sông ngòi chằng chịt đã làm phong phú tài nguyên sinh vật thể hiện ở ba vùng sinh thái: nước ngọt, nước mặn, nước lợ với nhiều loài thực vật như: bần chua, mắm trắng, trâm bầu, ô rô, dừa nước, cùng nhiều loài động vật hoang dã tạo nên cảnh quan hoang sơ của miền Nam Bộ Bên cạnh với hệ thống sông ngòi là những cồn nổi như: cồn Phụng, cồn Quy, cồn Phú Đa, cồn Ốc, cồn Tiên với môi trường sinh thái trong lành, hàng dừa xanh rợp bóng mát đường quê, nguồn lợi thủy hải sản phong phú là tài nguyên quan trọng phục vụ nhu cầu tham quan thưởng thức thiên nhiên của khách du lịch Tại các cù lao, cồn bãi này phù sa màu mỡ cùng với bốn mùa khí hậu ôn hòa, mát mẻ hình có những vườn cây ăn trái quanh năm trĩu quả
Trang 3323
Một số điểm du lịch sinh thái nổi tiếng như:
Cồn Phụng (xã Tân Thạch, huyện Châu Thành) là một cù lao nổi
giữa sông Tiền Cồn Phụng là nơi bảo tồn những công trình kiến trúc độc đáo còn lưu lại của “Đạo Dừa”như: sân Rồng, tháp Hòa Bình (Cửu Trùng Đài), phòng truyền thống giới thiệu hình ảnh và các hoạt động của tiền nhân đất và người Bến Tre Là nơi khách du lịch có thể khám phá, trải nghiệm nét đặc sắc của nghề truyền thống làm kẹo dừa, đặc biệt độc đáo nhất là tận mắt chứng kiến những bàn tay khéo léo, tài hoa cộng với óc thẩm mỹ của người dân đất cồn, đã biến những thứ có giá trị thấp của cây dừa thành hàng trăm mẫu mã sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị trong cuộc sống và mang giá trị nghệ thuật cao, có mặt trên thị trường trong và ngoài tỉnh, đồng thời xuất khẩu
ra nước ngoài Năm 2012, điểm du lịch Cồn Phụng đã có nhiều dịch vụ và tổ chức nhiều hoạt động hấp dẫn, thu hút nhiều du khách trong, ngoài nước đến tham quan và được Hiệp hội Du lịch ĐBSCL bình chọn là “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012”
Cồn Tiên (xã Tiên Long, huyện Châu Thành) Diện tích đất cồn là 7
ha, địa hình là bãi cát đẹp nên nơi đây được mệnh danh là “Vũng Tàu 2” của Việt Nam Hiện tại nơi đây có nhiều vườn cây ăn trái đồng thời đã được đầu tư thành nơi nuôi cá da trơn và trai cánh đen Hàng năm vào ngày mùng 5 tháng
5 âm lịch hàng vạn khách du lịch thường đến đây để tắm, vui chơi và thưởng thức trái cây
Cồn Ốc (xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm) cách thành phố Bến
Tre 10km về phía Đông Với nhiều vườn dừa đặc chủng như dừa xiêm, dừa dứa, dừa dâu, dừa núm, dừa ẻo, Cồn như một đảo dừa xanh nổi trên sông Hàm Luông, cuộc sống tách khỏi cuộc sống ồn ào, tấp nập bên ngoài
Sân chim sinh thái Vàm Hồ hay còn gọi là cù lao Lá diện tích 67 ha
nằm dọc ven sông Ba Lai thuộc địa phận 2 xã Mỹ Hòa và Tân Xuân, huyện Ba Tri Đây là sân chim lớn nhất tỉnh Bến Tre, nơi trú ngụ của hơn nửa triệu các loài chim như cò, vạc, sếu, cúm núm và thảm thực vật phong phú như ổi, chà
là, so đũa, đậu ván, đước đôi, bụp tra, ô rô, muống biển,… Trong năm, thời gian từ tháng 10 đến tháng 4 là mùa chim về, thích hợp nhất cho hoạt động tham quan du lịch
3.2.1.2 Tài nguyên nhân văn
Bến Tre, tuy mới hình thành trên 300 năm nhưng được biết đến là nơi giàu truyền thống văn hóa, anh hùng cách mạng và vùng đất danh nhân Nhắc đến Bến Tre, ai cũng đều biết đến quê hương Đồng Khởi một thời kháng chiến anh dũng, đặc biệt là hình ảnh đội quân tóc dài đã khắc vào trang sử vẻ vang
Trang 3424
của dân tộc Với truyền thống yêu nước ấy đã để lại hệ thống các di tích lịch
sử - văn hóa đa dạng và phong phú chứa đựng nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể
3 Di tích Nhà ông Nguyễn Văn
Cung và Ngã ba cây da đôi
xã Tân Xuân, huyện Ba Tri
4 Di tích căn cứ Quân khu ủy Sài
Gòn - Gia Định xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày Bắc
5 Di tích Đầu cầu tiếp nhận vũ khí
thảm sát 286 người vô tội do thực
dân Pháp tiến hành năm 1947
xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm
8 Di tích Đình Tân Hưng và mộ ông
9 Di tích Đình Tân Ngãi xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày
Bắc
10 Di tích cuộc thảm sát 129 người
dân vô tội của Mỹ - Ngụy
xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc
11 Di tích các trận đánh tại ngã tư
Nam
13 Ngôi nhà Bảo Tàng Bến Tre Phường 3, TP Bến Tre
14 Di tích Đình Tiên Thủy Xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành
Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân (UBND) tỉnh Bến Tre
Bên cạnh đó, Bến Tre từ lâu nổi danh là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi sinh ra của vị tiến sĩ đầu tiên vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh Phan Thanh Giản, Đốc binh Phan Ngọc Tòng, nhà thơ Phan Văn Trị, nữ tướng Nguyễn Thị Định,… Để tưởng nhớ đến các vị ấy người đời sau đã xây dựng các công trình
Trang 351 Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn
Đình Chiểu xã An Đức, huyện Ba Tri
2 Mộ và đền thờ Lãnh binh
Nguyễn Ngọc Thăng xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm
3 Mộ nhà giáo Võ Trường Toản xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri
4 Khu mộ tiến sĩ Phan Thanh Giản xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri
5 Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng
Trôm
6 Khu lưu niệm Đốc binh Phan
7 Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri
8 Nhà bia Trương Vĩnh Ký xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách
9 Khu tưởng niệm nữ tướng
10 Đền thờ kỹ sư Huỳnh Tấn Phát xã Châu Hưng, huyện Bình Đại
11 Đền thờ trung tướng Đồng Văn
Nguồn: UBND tỉnh Bến Tre
Ngoài ra, mảnh đất Bến Tre còn giàu về dân ca với rất nhiều điệu lý khác nhau, là một trong những cái nôi của dân ca Nam Bộ Những làn điệu dân ca ở Bến Tre mang đậm sắc thái vùng sông nước miền Tây, có đủ các làn điệu hát
ru, hò, vè, lý, hát sắc bùa, Hát cải lương và hát bộ là hai loại hình nghệ thuật được người dân yêu thích, ra đời gần như song song với thành lập đình làng Đình làng và nhà cổ ở Bến Tre rất phong phú, khác với đình Bắc Bộ, đình Bến Tre không chỉ là nơi thờ tự, mà còn là chứng tích tố cáo Ngô Đình Diệm lê máy chém khắp miền Nam Đây còn là công trình kiến trúc nghệ thuật
có giá trị tiêu biểu trong giai đoạn lịch sử, các đình còn hiện hữu như: đình Phước Tuy, đình Bình Hòa (huyện Giồng Trôm), đình Phú Lễ (huyện Ba Tri), đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (TP Bến Tre)
Bên cạnh các loại hình kiến trúc trên, Bến Tre còn phong phú với hệ thống kiến trúc của các cơ sở tín ngưỡng - thờ tự của các tôn giáo như: Hội Tôn Cổ Tự (xã Quới Sơn, huyện Châu Thành), nhà thờ cổ Cái Mơn (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách); nhà thờ Cái Bông (xã An Phú Trung, huyện Ba Tri), nhà thờ La Mã (Giồng Trôm), Đình An Hội và chùa Viên Minh, chùa Viên
Trang 3626
Giác (TP Bến Tre), Tòa thánh Cao đài Ban chỉnh (phường 6, TP Bến Tre), kiến trúc Tòa thánh Cao đài Tiên Thiên (xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành), Lăng thờ cá Ông tại xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú… Ngoài ra, tại trung tâm TP Bến Tre có các công trình kiến trúc văn hóa tiêu biểu như: Công viên tượng đài Đồng Khởi; Công viên tượng đài Trần Văn Ơn; Công viên tượng đài “Chiến thắng trên sông” còn gọi là Công viên Hùng Vương Các loại hình di tích hiện hữu trên vùng đất Bến Tre là nguồn thông tin quan trọng để lưu giữ những trang sử vẻ vang của dân tộc, là tài sản tinh thần hết sức quý giá, là niềm tự hào nhân dân Bến Tre cần giữ gìn, tôn tạo và phát huy giá trị, để phục vụ cuộc sống cộng đồng
Các lễ hội ở Bến Tre cũng đa dạng và đặc sắc góp phần tạo điểm đến cho
du khách Trong đó, lễ hội dân gian lâu đời nhất và đặc trưng nhất là lễ cúng đình hằng năm Bến Tre hiện có 207 đình trong đó có 3 đình được công nhận
du tích lịch sử cấp quốc gia (Bình Hòa, Phú Lễ, Tân Thạch) Kỳ cúng đình lớn nhất là lễ Kỳ Yên để cầu mưa thuận gió hòa Lễ cúng đình là ngày lễ đặc trưng của sản xuất nông nghiệp và cũng là ngày hội văn hóa của người dân địa phương Lễ hội dân gian đặc trưng thứ hai là lễ cúng Cá Ông ở vùng ven biển các huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú Lễ hội đã tụ tập rất đông bà con ngư dân và thu hút hàng ngàn người đến xem hàng năm, đặc biệt là lễ cúng cá Ông
tổ chức lớn nhất ở xã Bình Thắng (Bình Đại) vào các ngày 15, 16/6 âm lịch Ngoài các lễ hội dân gian còn có các lễ hội khác như:
Lễ hội tôn giáo Hội Tôn Cổ Tự ở Quới Sơn (huyện Châu Thành)
Lễ hội truyền thống văn hóa được tổ chức vào dịp kỷ niệm ngày
sinh của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (ngày 01/7) tại xã An Đức, huyện Ba Tri
Lễ hội truyền thống cách mạng kỷ niệm ngày Bến Tre Đồng Khởi
diễn ra vào 17/1 tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày
Riêng nói đến lễ hội văn hóa có sức thu hút du lịch nhất được tổ
chức lớn nhất và đặc trưng nhất của tỉnh đó là: lễ hội Dừa và ngày hội cây trái ngon an toàn huyện Chợ Lách diễn ra vào tết Đoan Ngọ hằng năm
Trang 3828
Về cơ sở phục vụ du lịch, đáp ứng theo nhu cầu du lịch ngày càng tăng
mà số lượng điểm du lịch, hệ thống nhà hàng lẫn khách sạn ở Bến Tre không ngừng tăng qua các năm Theo báo cáo của Sở VHTTDL Bến Tre tính đến tháng 06/2014, tỉnh có 65 điểm du lịch đạt chuẩn, 57 cơ sở lưu trú cùng 74 cơ
sở ăn uống phục vụ khách du lịch Các cơ sở tăng nhanh về số lượng lẫn quy
mô, nhiều dự án mở rộng quy mô kinh được thực hiện
Năm 2012, điểm du lịch tăng mạnh với tốc độ 10% đến năm 2013 tốc độ tăng trưởng chậm lại còn 5%, nguyên nhân là do các điểm du lịch đã được triển khai hoàn thành chậm tiến độ so với kế hoạch cho nên đến năm 2014 điểm du lịch đã tăng nhanh trở lại, số điểm hoàn thành đưa vào sử dụng là 65 điểm, tăng 7 điểm so với năm 2013 ( tức 12%) Tuy tăng nhanh về số lượng nhưng các điểm du lịch chỉ tập trung nhiều nhất ở huyện Châu Thành (37 điểm), huyện Chợ Lách (13 điểm) và TP Bến Tre (9 điểm) dẫn tới phát triển
du lịch không đồng đều giữa các huyện, một số huyện cơ sở du lịch còn khó khăn như Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại đều chỉ có một điểm du lịch
Hệ thống cơ sở lưu trú cũng không ngừng tăng trưởng, tính đến hết tháng 06/2014, toàn tỉnh có 57 cơ sở lưu trú, tốc độ tăng trưởng rất nhanh năm 2012
là 14,29% Năm 2013 tăng nhanh hơn nữa đạt 16,67%, với nhiều dự án cơ sở lưu trú lớn được triển khai với quy mô mở rộng như khách sạn Dừa (80 phòng tiêu chuẩn 4 sao); khu nghỉ dưỡng Mekong Pearl (11 biệt thự, 9 bungalow (18 phòng) và 1 khách sạn 50 phòng); khách sạn Hàm Long (20 phòng), trạm dừng chân Phú An Khang (20 phòng), trạm dừng chân An Khánh (20 phòng),… Đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng của số phòng cao hơn số khách sạn rất nhiều (32,86% năm 2012) cho thấy quy mô của khách sạn tăng đáng
kể, ngày càng có nhiều khách sạn lớn đáp ứng số lượng đông du khách cùng một lúc Trong đó, khách sạn tăng mạnh ở nhóm 3 sao thể hiện tính chuyên nghiệp, chuyển hóa mạnh mẽ của chất lượng dịch vụ lưu trú tỉnh
Về cơ sở kinh doanh ăn uống tăng chậm hơn cơ sở lưu trú nhưng nhìn chung vẫn đáp ứng được với tốc độ tăng của điểm du lịch Đến hết tháng 06/2014 toàn tỉnh đã có 74 cơ sở kinh doanh ăn uống cho khách du lịch Tốc
độ tăng trưởng giữ mức ổn định (6,45% năm 2012 và 6,06% năm 2013) Bên cạnh đó là sự tăng trưởng về số ghế cũng nhanh hơn cho thấy các nhà hàng, trạm dừng chân mới ngày càng có quy mô lớn hơn trước, đáp ứng được các đoàn khách đông
Trang 3929
3.2.3 Nguồ â ực phục vụ du lịch
Lực lượng lao động là một trong những yếu tố then chốt quyết định sự thành công trong ngành dịch vụ đặc biệt là du lịch Do đó cần đào tạo người lao động có chuyên môn phục vụ cao để nâng cao chất lượng dịch vụ
Trong 3 năm gần đây, lực lượng lao động trong ngành du lịch tỉnh Bến Tre không ngừng gia tăng về số lượng, năm 2012 tăng 3,6% đến năm 2013 tăng nhẹ hơn đạt 2,6% Tuy nhiên đội ngũ lao động có trình độ còn hạn chế, số đông là lao động đào tạo bậc thấp và chưa qua đào tạo chiếm tới 90%, lao động trình độ Cao Đẳng trở lên chỉ chiếm 10% tổng số lao động Thời gian gần đây lực lượng lao động có chuyển biến tốt, tỷ lệ lao động có trình độ Cao đẳng trở lên được cải thiện, năm 2013 cao hơn năm 2012 là 0,1% Do đó, nguồn nhân lực hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mà ngành du lịch đặt ra
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên song phải kể đến là do cơ
sở đào tạo nguồn nhân lực tại địa phương chưa nhiều, toàn tỉnh hiện có 4 trường đào tạo du lịch gồm: trường Cao Đẳng Bến Tre, trường Trung cấp Văn hóa – Nghệ thuật, trường dạy nghề Đồng Khởi, trung tâm dạy nghề thuộc Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Đội ngũ giảng viên chuyên ngành du lịch còn thiếu và yếu về chuyên môn và nghiệp vụ, cơ sở thực hành chưa có Năm 2012, tỉnh cũng đã thực hiện nhiều chương trình nhằm nâng cao trình độ lao động như
mở 16 lớp đào tạo nguồn nhân lực với tổng 577 học viên Đào tạo mới 86% lao động trực tiếp tại các điểm du lịch, đào tạo nghề cho lực lượng trực tiếp kinh doanh du lịch đạt 47% Kết quả là, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo giảm liên tục và tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên đặc biệt là lao động được đào tạo sơ cấp và trung cấp Với những nỗ lực đó kết quả là năm 2012, lao động trình độ Trung cấp, sơ cấp tốc độ tăng trưởng rất cao (44,3%), lao động chưa qua đào tạo giảm được 9,2% Đến năm 2013, do yêu cầu của ngành nên số lao động tăng lên mà chưa kịp thời có chương trình đào tạo mới nên lao động chưa qua đào tạo tăng 1,4%, lao động trình độ sơ cấp, trung cấp tăng nhẹ 4,5%, còn lại là lao động trình độ cao đẳng trở lên cũng tăng 3,5%
Trang 40(%)
Số lượng
Cơ cấu (%)
Số lượng Cơ cấu
du lịch tăng bình quân 20%/năm, lượng khách tăng bình quân 12%/năm, góp phần giải quyết việc làm cho lao động địa phương, nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân Để đạt các chỉ tiêu trên tỉnh đã đầu tư các nhiều khoản mục quan trọng như cơ sở hạ tầng, tôn tạo di tích văn hóa, lịch sử cu thể như sau:
Cơ sở hạ tầng du lịch: được tỉnh đầu tư thuộc chương trình mục
tiêu quốc gia 62 tỷ đồng; trong đó năm 2011 đến 2014 đầu tư 44,6 tỷ đồng, gồm các dự án: hạ tầng du lịch Cồn Phụng (4,6 tỷ đồng), hạ tầng du lịch Cái Mơn (11 tỷ đồng), hạ tầng du lịch Hưng Phong (22 tỷ đồng), hạ tầng du lịch các xã ven sông Tiền (25 tỷ đồng)
Tôn tạo di tích văn hóa-lịch sử: được đầu tư để đẩy mạnh phát
triển loại hình du lịch về nguồn, gồm các khu di tích: bia tưởng niệm Cuộc thảm sát ngày 25/2/1996 (0,583 tỉ đồng), Căn cứ Khu ủy Sài Gòn – Gia Định (14,506 tỉ đồng), di tích Võ Trường Toản (6,960 tỉ đồng), tu bổ di tích Nguyễn Đình Chiểu (1,673 tỉ đồng), tu bổ di tích Đình Bình Hòa (10,711 tỉ đồng), tôn tạo di tích Nhà cổ Huỳnh Phủ (4,5 tỉ đồng), Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị
di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển tại Bến Tre (32,383 tỉ đồng), dự
án du lịch biển cồn Tròn, cồn Hố (Ba Tri), dự án làng du kích kết hợp khu truyền thống Đồng Khởi
Cơ sở kỹ thuật kinh doanh du lịch 26 dự án với tổng vốn đăng ký
4.110 tỷ đồng, thực hiện đến nay 864 tỷ đồng Trong đó, đã hoàn thành 7 dự