1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp

103 1,4K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua du lịch sinh thái Đồng Tháp đã có những bước tiến nhất định và hướng tới sự phát triển ngày càng hoàn thiện hơn nữa cả về mở rộng quy mô, cơ sở vật chất kỹ thuật, các

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, bài viết này là thành công mà tôi có được sau thời gian dài học tập

và nghiên cứu Đây là đề tài nghiên cứu về phát triển Du lịch sinh thái của tỉnh Đồng Tháp

và là đề tài nghiên cứu kết hợp Du lịch sinh thái của một Vườn quốc gia, một khu căn cứ cách mạng và một hệ thống rừng tràm sản xuất

Trong quá trình viết tôi có tham khảo tư liệu từ các thế hệ đi trước Nhưng tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu riêng của tôi

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trải qua hơn 02 năm học tập và nghiên cứu đề tài Để hoàn thiện được luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến phòng Sau đại học – Trường Đại học sư phạm Thành

phố Hồ Chí Minh, đồng thời gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Khoa Địa Lý đã giúp tôi trong việc

giới thiệu nguồn tài liệu và liên hệ công tác tại các điểm tham quan nghiên cứu

Lời tri ân sâu sắc xin được gửi đến Tiến sĩ Trần Văn Thông, Khoa Địa Lý Trường Đại

học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình làm bài nghiên

cứu này

Xin được gửi đến các cấp, các ngành và các anh chị trong các cơ quan của Tỉnh uỷ Đồng Tháp bao gồm: Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thu thập thông tin

Xin được cảm ơn Ban quản lý các Khu du lịch sinh thái: Vườn quốc gia Tràm Chim, Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, Khu căn cứ Xẻo Quýt đã cung cấp nhiều tư liệu quý giá trong quá trình tôi nghiên cứu tại đây

Xin được gửi lời cảm ơn đến cha mẹ, các anh chị đã giúp đỡ tôi rất nhiều về tinh thần

và vật chất để tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này

Xin được tri ân và thành tâm cảm tạ

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Minh Nguyện

Trang 5

MỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

M ỤC LỤC 3

DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT 6

M Ở ĐẦU 7

1 Lý do ch ọn đề tài 7

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 M ục đích nghiên cứu 9

4 Nhi ệm vụ nghiên cứu 9

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 9

6 Nh ững đóng góp của đề tài 11

7 B ố cục của luận văn 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 13

1.1 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái 13

1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái 13

1.1.2 Định nghĩa du lịch sinh thái 14

1.1.3 Đặc điểm của du lịch sinh thái 14

1.1.4 Các nguyên tắc của du lịch sinh thái 16

1.1.5 Các yêu cầu cơ bản của du lịch sinh thái 18

1.2 Khái ni ệm về du khách du lịch sinh thái 21

1.2.1 Định nghĩa khách du lịch sinh thái 21

1.2.2 Phân loại du khách du lịch sinh thái 21

1.3 Khái ni ệm về tài nguyên du lịch sinh thái 21

1.3.1 Định nghĩa 21

1.3.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch sinh thái 22

1.4 Khái ni ệm về quy hoạch du lịch sinh thái 24

1.4.1 Định nghĩa 24

1.4.2 Phân loại đối tượng quy hoạch du lịch sinh thái 24

1.5 Ti ềm năng và thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam 28

1.5.1 Tiềm năng tài nguyên du lịch sinh thái ở Việt Nam 28

1.5.2 Thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam 32

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Trang 6

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Đồng Tháp 36

2.1.1 Vị trí địa lý 36

2.1.2 Các đơn vị hành chính 36

2.1.3 Đặc điểm tự nhiên 38

2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội 42

2.1.5 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn 2006 – 2011 47

2.2 M ột số điểm du lịch sinh thái điển hình của tỉnh Đồng Tháp 57

2.2.1 Vườn quốc gia Tràm Chim 57

2.2.2 Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng 59

2.2.3 Khu căn cứ di tích Xẻo Quýt 61

2.2.4 Một số điểm tài nguyên du lịch sinh thái khác 62

2.3 Th ực trạng phát triển du lịch sinh thái 63

2.3.1 Loại hình du lịch sinh thái hiện đang khai thác 63

2.3.2 Thực trạng sản phẩm du lịch sinh thái 65

2.3.3 Thị trường du khách du lịch sinh thái 67

2.3.4 Lao động trong lĩnh vực du lịch sinh thái 70

2.3.5 Doanh thu du lịch sinh thái 72

2.3.6 Thực trạng bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái 74

2.4 Nh ững thành tựu và khó khăn trong việc phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Tháp 75

2.4.1 Những thành tựu đạt được 75

2.4.2 Những khó khăn hạn chế 76

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TỈNH ĐỒNG THÁP ĐẾN NĂM 2020 79

3.1 Cơ sở xây dựng định hướng phát triển du lịch sinh tháicủa tỉnh Đồng Tháp 79

3.1.1 Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 79

3.1.2 Định hướng phát triển du lịch vùng ĐBSCL giai đoạn 2020 80

3.1.3 Định hướng phát triển du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp 81

3.2 Các định hướng phát triển cụ thể 82

3.2.1 Định hướng phát triển sản phẩm du lịch sinh thái 82

3.2.2 Định hướng đầu tư phát triển du lịch sinh thái 83

3.2.3 Định hướng đào tạo nhân lực du lịch sinh thái 84

3.2.4 Định hướng quảng cáo và tiếp thị du lịch sinh thái 84

3.2.5 Định hướng về tổ chức không gian du lịch sinh thái 85

Trang 7

3.2.6 Định hướng về bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái 86

3.3 Các gi ải pháp phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Tháp 87

3.3.1 Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch sinh thái 87

3.3.2 Giải pháp tăng cường nguồn vốn và hiệu quả đầu tư 87

3.3.3 Giải pháp đào tạo và tuyển dụng nguồn nhân lực du lịch sinh thái có chất lượng88 3.3.4 Giải pháp quảng cáo và tiếp thị du lịch sinh thái 89

3.3.5 Giải pháp tổ chức không gian du lịch sinh thái 89

3.3.6 Giải pháp bảo tồn tài nguyên Du lịch sinh thái 90

3.4 Ki ến nghị 91

3.4.1 Kiến nghị với Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp 91

3.4.2 Kiến nghị với Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch tỉnh Đồng Tháp 92

3.4.3 Kiến nghị với các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái 93

K ẾT LUẬN 94

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 98

Trang 8

KDLST : Khu du lịch sinh thái

Khu BTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên

QL : Quốc lộ

TNDL : Tài nguyên du lịch

TNDLST : Tài nguyên du lịch sinh thái

TNHHMTV : Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

UBND : Uỷ ban nhân dân

VQG : Vườn quốc gia

Sở VH – TT&DL : Sở Văn hoá – Thể Thao và Du lịch

Trang 9

MỞ ĐẦU

Ngày nay, trên toàn Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì du lịch đã và đang là

một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội – văn hóa Và du lịch cũng là ngành đang

có bước chuyển mạnh mẽ trong cơ cấu nền kinh tế nước ta Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người về vui chơi giải trí cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng, loại hình du lịch và những sản phẩm du lịch kèm theo

Tuy chỉ mới phát triển trong hơn hai thập kỉ vừa qua nhưng loại hình du lịch sinh thái (DLST) ngày càng thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của khách hàng DLST sẽ mang lại cho du khách sự gần gũi với thiên nhiên để hòa mình vào đó mà con người có thể quên đi cuộc

sống bộn bề ngoài xã hôi Bên cạnh sự hưởng thụ không khí mát lành, những gì thân thuộc

gần gũi từ thiên nhiên mang lại thì DLST cũng còn hướng con người đến trách nhiệm bảo

vệ giư gìn và phát triển hơn nữa những gì thiên nhiên đang có DLST không chỉ dừng lại ở giá trị tinh thần cho du khách mà nó còn đóng góp giá trị kinh tế không hề nhỏ trong cơ cấu

nền kinh tế so với các loại hình du lịch truyền thống khác

Nằm trong hệ thống nguồn tài nguyên DLST quốc gia, Đồng Tháp lại là tỉnh được thiên nhiên ưu ái hơn bởi vùng đất này có sự hiền hòa của vạn vật để tạo cho chính mình

những tiềm năng du lịch có giá trị kinh tế lơn Đến với Đồng Tháp không chỉ có hoa sen của Tháp Mười, mà ngày nay còn có cả vườn Quốc gia Tràm Chim, khu căn cứ Xẻo Quýt, khu

du lịch sinh thái Gáo Giồng “lá phổi xanh” của Đồng Tháp Mười…,tất cả đủ để tạo nên thương hiệu du lịch cho Đồng Tháp để ngày càng thu hút nhiều hơn nữa lượng khách du

lịch về với mình

Nhận thức được tầm quan trọng và giá trị kinh tế của DLST đối với sự phát triển của

tỉnh nhà Việc nghiên cứu tiềm năng phát triển loại hình du lịch này là vấn đề mang tính cấp thiết nhằm đi đến hướng phát triển toàn diện hơn nữa cơ cấu nền kinh tế của tỉnh Không chỉ

dừng lại ở việc tìm ra những tiềm năng đã có, mà bên cạnh đó phải nhìn nhận tình hình phát triển thực tế để đưa ra được những đinh hướng cụ thể nhằm phát triển hơn nữa tiềm năng kinh tế này góp phần phát triển kinh tế Đồng Tháp nói riêng và Việt Nam nói chung là vấn

đề cấp thiết cần có sự nhìn nhận một cách nghiêm túc và khoa học

1 Lý do chọn đề tài

Mặc dù chỉ mới phát triển trong những năm gần đây nhưng ngành du lịch sinh thái đã

và đang nhận sự quan tâm của toàn xã hội rất nhiều so với các loại hình du lịch khác bởi

Trang 10

trách nhiệm về con người, thiên nhiên và môi trường Du lịch sinh thái đã và đang trở hướng phát triển quan trọng trong hệ thống du lịch Việt Nam nói chung và Đồng Tháp nói riêng đang có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái góp phần tăng trưởng kinh tế

Trong những năm qua du lịch sinh thái Đồng Tháp đã có những bước tiến nhất định và hướng tới sự phát triển ngày càng hoàn thiện hơn nữa cả về mở rộng quy mô, cơ sở vật chất

kỹ thuật, các chỉ tiêu cơ bản về khách, doanh thu,…Tuy nhiên, thực trạng phát triển du lịch

của tỉnh Đồng Tháp còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của mình Sự phát triển đó còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, chưa khai thác hiệu quả các tiềm năng tài nguyên

du lịch địa phương và tạo ra các sản phẩm du lịch đặc sắc, còn bất cập trong quản lý, sử

dụng, khai thác các di tích lịch sử - văn hóa, cảnh quan, môi trường

Xuất phát từ thực tế trên, việc tiến hành nghiên cứu những tài nguyên du lịch để phát triển du lịch sinh thái, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là vấn đề cấp thiết Vì vậy, người viết lựa chọ đề tài “ Phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Tháp”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Du lịch sinh thái đã và đang là vấn đề nghiên cứu phát triển mạnh mẽ của ngành du

lịch tỉnh Đồng Tháp với các đề án, luận án và bài nghiên cứu của các cá nhân, tập thể và cả

những công ty du lịch Trong lịch sử các đề tài đã nghiên cứu về du lịch sinh thái chúng ta

có thể nhận thấy một điểm chung ở đây là sự nghiên cứu riêng lẻ về từng địa điểm, hoặc nghiên cứu chung về sự phát triển du lịch của tỉnh Đồng Tháp

Ví dụ như bài viết “ Tiềm năng, thực trạng, và định hướng phát triển du lịch sinh thái

Vườn quốc gia Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp” (tác giả Nguyễn Trọng Nhân, Đại học Sư

phạm Hà Nội - luận án thạc sĩ Địa Lý, 2008); đây là đề tài nghiên cứu về du lịch sinh thái

của tỉnh Đồng Tháp nhưng chỉ dừng lại ở việc điều tra nghiên cứu tại Vườn quốc gia Tràm Chim

Một nội dung nhỏ trong bài nghiên cứu với đề tài “ Định hướng phát triển loại hình du

l ịch sinh thái “Mùa nước nổi” ở các tỉnh vùng Đồng Tháp Mười đến năm 2020” (tác giả

Trần Văn Của, Đại học Cửu Long – khoá luận tốt nghiệp cử nhân Quản trị kinh doanh, 2007) Trong đề tài này, người viết tìm hiểu về du lịch sinh thái tỉnh Đồng Tháp nhưng lại

chỉ giới hạn ở việc đánh giá loại hình du lịch này trong mùa nước nổi

Trang 11

Các bài viết về tiềm năng du lịch sinh thái của Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp cũng dừng lại ở việc giới thiệu về tiềm năng du lịch tự nhiên, du lịch nhân văn

mà không đi sâu vào nghiên cứu một điểm, tuyến du lịch cụ thể

Dựa trên những kết quả của các đề tài đã nghiên cứu, tác giả tiến hành thu thập thông tin, tham khảo các bài viết đã được công bố và đi sâu tìm hiểu ngoài thực tế, để nhận thấy

rằng Du lịch sinh thái của Đồng Tháp không chỉ có ở Tràm Chim mà nó còn có ở rừng tràm Gáo Giồng hay khu căn cứ Xẻo Quýt Độc đáo hơn là cả sự kết hợp giữa du lịch tham quan

với du lịch sinh thái, du lịch văn hoá lịch sử với du lịch sinh thái, du lịch làng nghề truyền

thống với du lịch sinh thái, Từ đó, tác giả đã đi đến việc nghiên cứu về sự “Phát triển du

lịch sinh thái tỉnh Đồng Tháp” định hướng đến năm 2020 để làm đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở vận dụng lí luận và thực tiễn, luận văn thực hiện nhiệm vụ tìm hiểu tiềm năng du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, thu thập và phân tích thực trạng phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay từ đó đề xuất ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy phát triển ngành du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được nhiệm vụ, mục tiêu mà đề tài đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết

một số nhiệm vụ sau đây:

- Tổng quan cơ sở lí luận, thực tiễn phát triển du lịch sinh thái để vận dụng vào địa bàn

tỉnh Đồng Tháp

- Kiểm kê, đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái và phân tích thực trạng phát triển ngành du lịch này trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

- Đề xuất giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch sinh thái Đồng Tháp ngày càng đạt

hiệu quả cao và hướng tới phát triển bền vững trong xu thế hội nhập và phát triển

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

a Quan điểm hệ thống

Trang 12

Đây là quan điểm được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu du lịch Theo quan điểm này thì mỗi đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống được cấu thành bởi nhiêu

yếu tố và có quan hệ mật thiết với nhau Khi nghiên cứu một đối tượng thì phải đặt nó trong

mối quan hệ tương tác với các đối tượng khác trong hệ thống cao hơn và cả ở các phân vị

thấp hơn Với ý nghĩa đó thì khi nghiên cứu vấn đề về du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp thì xét về mặt lãnh thổ nó có mối quan hệ trong hệ thống lãnh thổ du lịch của vùng đồng bằng sông Cửu Long; xét về khía cạnh ngành thì nó là một bộ phận của ngành

của du lịch trong hệ thống kinh tế - xã hội của toàn tỉnh

b Quan điểm tổng hợp

Xuất phát từ quan điểm du lịch sinh thái cũng là ngành được tạo thành bởi các thành tố như: tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại gắn bó với nhau Do đó, khi đánh giá về nguồn tài nguyên này thì tát nhiên phải được xem xét một cách tổng hợp kể

cả tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên và nhân văn Từ qaun điểm tổng hợp này ta có thể nhìn nhận, đánh giá các đối tượng du lịch một cách đồng bộ, hình thành nên những khu du

lịch sinh thái hoạt động một cách hiệu quả về các mặt kinh tế - xã hội và môi trường

c Quan điểm lãnh thổ

Quan điểm này nhận định rằng các đối tượng nghiên cứu được phân bố trên phạm vi không gian lãnh thổ nhất định và có đặc điểm riêng Xem xét các hoạt động du lịch trong

mối quan hệ với đặc điểm lãnh thổ nhằm khái quát đặc trưng trên từng địa bàn nghiên cứu

để mang lại hiệu quả tổ chức kinh doanh du lịch, cần tìm ra sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ, từ đó tạo ra được các sản phẩm du lịch sinh thái đặc trưng, khai thác thế mạnh mà

tỉnh đang có để phát huy một cách tối đa nhằm hạn chế mức thấp nhất những khó khăn sẽ

gặp phải

d Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Đồng Tháp luôn gắn liền với địa danh Đồng Tháp Mười với cảnh quan và sinh thái có nhiều nét đặc sắc Đến với Đồng Tháp Mười hay Đồng Tháp ta sẽ gặp ở đó những cánh

rừng tràm bạt ngàn, những hồ sen, đầm súng, những vườn cò, sân chim mênh mông hoang

sơ mà không phải ở đâu cũng có Đặc biệt với Đồng Tháp nổi tiếng với vườn quốc gia Tràm Chim thuộc hệ sinh thái Đồng Tháp Mười đang được nhiều tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế

giới quan tâm Tràm Chim còn được coi là khu Ramsar thứ 2000 của thế giới và thứ 4 của

Việt Nam Bên cạnh đó, Đồng Tháp con nổi tiếng hơn với các khu sinh thái tự nhiên khác như: rừng tràm Gáo Giồng, khu căn cứ Xẻo Quýt hay đây còn là nơi mà thân sinh Bác Hồ

Trang 13

sinh sống và mất,…Với đầy đủ các nguồn tài nguyên tự nhiên, nhân văn đặc sắc như vậy, Đồng Tháp có đầy đủ điều kiện để đưa du lịch nói chung và hướng tới phát triển hơn nữa du

lịch sinh thái thành một ngành kinh tế quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước

e Quan điểm phát triển bền vững

Quan điểm này đòi hỏi sự phát triển phải được bền vững về cả 3 mặt gồm: kinh tế, xã

hội và môi trường Theo đó, việc khai thác nguồn tài nguyên, tổ chức các hoạt động du lịch đạt hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải quan tâm đến lợi ích của cộng đồng dân cư bản địa Cần có

những biện pháp tổ chức, quản lí chặt chẽ để ngăn ngừa những hình ảnh tiêu cực đến môi trường tự nhiên, và văn hóa – xã hội của địa bàn tỉnh từ hoạt động du lịch

5.2 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thu thập, xử lí số liệu, tài liệu

Phương pháp này cho phép người viết kế thừa, tích lũy thành tựu của quá khứ Đây là phương pháp được sử dụng hầu như thường xuyên trong suốt đề tài, bao gồm hai giai đoạn thu thập và xử lí tài liệu Nguồn tài liệu sử dụng bao gồm các dạng: tài liệu chuyên khảo, văn bản pháp luật, nghị quyết, nghị định, số liệu thống kê từ các cơ quan ban ngành liên quan, một số luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu của các tác giả đi trước, một số trang tạp trí, báo điện tử

b Phương pháp thực địa

Đây là phương pháp mà nguời viết sẽ có cái nhìn trực quan, xác thực và toàn diện về

vấn đề để từ đó tránh đưa ra các kết luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tiễn Đồng thời, qua phương pháp thực địa thì người viết con có cơ hội so sánh, kiểm tra được độ chính xác của các tài liệu thu thập từ sách vở, tài liệu Quá trình thực hiện đề tài này đòi hỏi người viết

phải có nhiều đợt thực địa đến các điểm du lịch sinh thái đã định sẵn Đồng thời qua đó sẽ

trực tiếp thu thập thông tin, kiến thức không có trên sách vở từ người dân bản địa, các cơ quan ban ngành

Trang 14

Kế thừa, bổ sung và cập nhật những vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch sinh thái

Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, hiện trạng phát triển ngành du lịch từ giai đoạn 2006 đến nay Từ đó tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển ngành kinh tế này trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Đưa ra một số đinh hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Tháp đinh hướng bền vững đến năm 2020

7 Bố cục của luận văn

- Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch sinh thái

- Chường 2 : Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2006 – 2011

- Chương 3 : Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI

1.1 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái

1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái

và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể

ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: “ Hoạt động du lịch là tổng hoà hàng loạt quan

hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định là cơ sở, lấy chủ thể du

lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện”

Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong những hình

thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc

Nhìn từ góc độ kinh tế: “ Du lịch là một ngành kinh tế, du lịch có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa

bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác

Khái niệm về DLST:

DLST là loại hình du lịch có xu thế phát triển nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới

và ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, bởi đây là loại hình du lịch thiên nhiên, môi trường và phát triển cộng đồng ngoài ra, sự phát triển của DLST, các tiềm năng

tự nhiên và văn hoá bản địa và đang mang lại những lợi ích kinh tế to lớn góp phần tích cực vào sự phát triển du lịch nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung

Ở Việt Nam, trong lần hội thảo về “ Xây dựng chiến lược phát triển DLSTở Việt Nam” từ ngày 7/9/1999 đến ngày 9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa về DLST: “DLST là loại

Trang 16

hình du lịch thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường có đóng góp cho nỗ

lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

1.1.2 Định nghĩa du lịch sinh thái

Sinh thái (ecologi) thuật ngữ này bắt nguồn từ chữ Hi Lạp (eco có nghĩa là nhà ở, nơi ở; logos là khoa học) sinh thái là khoa học nghiên cứu về nơi cư trú của sinh vật

Định nghĩa của Haeckel đề xướng năm 1868, sinh thái học là khoa học về mối quan hệ

tổng hoà giữa sinh vật với tất cả môi trường vô cơ và hữu cơ

Cho đến nay, rất nhiều định nghĩa về DLST, bởi vì đây là một khái niệm tương đối

mới và được hiểu khác nhau, xuất phát từ các góc độ nghiên cứu của các cá nhân Thuật ngữ DLST eco-tourism bắt nguồn từ cụm từ ecologically Responsyble Tourism, có nghĩa là DLST có trách nhiệm và DLST hiểu theo đúng nghĩa của nó bao gồm hai bộ phận: bộ phận sinh thái tự nhiên (ecology natural) và bộ phận sinh thái nhân văn (human ecology)

Hội DLST Thế Giới (1992): DLST là sự du hành có mục đích đến các khu vực tự nhiên để hiểu biết về lịch sử tự nhiên và văn hoá môi trường không làm biến đổi tính hoàn

chỉnh về du lịch sinh thái đồng thời tạo cơ hội phát triển du lịch kinh tế và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương

Theo định nghĩa của Việt Nam:

DLST là loại du lịch dựa vào thiên nhiên, văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường

có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia của cộng đồng địa phương

Qua đó ta thấy, DLST là loại hình du lịch gắn với thiên nhiên không làm biến đổi hệ sinh thái, gắn liền với ý thức bảo vệ môi trường và sự an bình của cộng đồng địa phương

Và DLST luôn mang tính bền vững, một phần thu nhập của hoạt động du lịch sẽ được tái đầu tư trực tiếp và việc bảo vệ các đối tượng du lịch cũng như nâng cao được mức sống của

cộng đồng địa phương thông qua sự tham gia một cách có tổ chức của họ

1.1.3 Đặc điểm của du lịch sinh thái

Tính đa ngành:

Tính đa ngành được thể hiện ở đối tượng được khai thác để phục vụ du lịch (sự hấp

dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị văn hoá, lịch sử, văn hoá cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo, ) thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế

Trang 17

khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nước, nông

chất của khí hậu) hoặc loại hình du lịch cuối tuần, vui chơi giải trí (theo tính chất công việc

của những người hưởng thụ sản phẩm du lịch)

Tính chi phí:

Biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch là hưởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không phải

mục tiêu kiếm tiền

Trang 18

- Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học

Hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững

- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: cộng đồng địa phương chính là chủ

sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương mình Phát triển DLST hướng con người đến các vùng tự nhiên hoang sơ, có giá trị cao về đa dạng sinh học, điều này đặt ra

một yêu cầu cấp bách là cần phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó,

bởi vì hơn ai hết, chính người dân địa phương tại đây hiểu rõ hết các nguồn tài nguyên của mình Sự tham gia của cộng đồng địa phương có giá trị to lớn trong việc giáo dục khách bảo

vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng cao hơn nữa nhận

thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng

1.1.4 Các nguyên tắc của du lịch sinh thái

1.1.4.1.Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao sự hiểu biết về môi trường qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn

Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái, tạo ra sự khác biệt giữa du lịch sinh thái với các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác Khi khách

du lịch rời khỏi nơi mình tham quan sẽ có cái nhìn mới, có được sự hiểu biết cao hơn về môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hoá bản địa Với những hiểu

biết đó, thái độ cư xử của khách du lịch sẽ thay đổi, được thay thế bằng sự tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển về giá trị tự nhiên, khu vực và sinh thái

1.1.4.2 Nguyên t ắc hoà nhập

Nguyên tắc hoà nhập là nguyên tắc mà người tham gia du lịch phải có sự hoà nhập tự nguyện vào môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá xã hội theo đúng nghĩa của nó Có nghĩa là, khi tham gia vào hoạt động của du lịch sinh thái thì du khách phải chấp nhận sự

hạn chế của nó hơn là cải tạo, biến đổi nó theo ý muốn của mình Đồng thời cũng cần phải

biết đó là những kinh nghiệm để hoà đồng, để tăng cường sự hiểu biết, sự thông cảm, có thái độ tích cực và trách nhiệm hơn là đi tìm một cảm giác mới lạ hay thoả mãn những sở thích nhất thời

1.1.4.3 Nguyên t ắc quy mô

Là nguyên tắc mà khi tham gia du lịch sinh thái không phá huỷ môi trường và làm tổn

hại cuộc sống sinh vật cũng như cư dân của môi trường đó Do đó, khi khai thác chúng ta

Trang 19

cần chú ý đến những yếu tố để bảo vệ tính bền vững của môi trường đến những giá trị nhỏ

nhất

Bất cứ tại một điểm du lịch nhất định cũng đòi hỏi một sự giới hạn cụ thể về số lượng

về lượng khách tham quan nhằm đảm bảo cho sự tổn hại đến môi trường, sự sống của những sinh vật tồn tại ở đó Khi lượng khí thải cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng tái tạo của hệ sinh thái, đồng thời khi lượng khách đông thì nó sẽ không kiểm soát được những hành vi tiêu cực

dù là có ý thức hay vô ý huỷ hoại đến môi trường

1.1.4.4 Khai thác tài nguyên và s ử dụng một cách hợp lý

Bố cục và tỉ lệ giữa diện tích sử dụng và diện tích tự nhiên phải hết sức hợp lý, ngay cả

kiến trúc, cấu trúc, vật liệu các trang thiết bị của các công trình xây dựng cũng phải hợp lý

với cảnh quan thiên nhiên, đó là điều ý nghĩa và cần thiết cho việc bảo vệ môi trường và mỹ quan quang cảnh

1.1.4.5 Tránh s ử dụng tài nguyên một cách quá mức và làm ô nhiễm tới môi trường

Đây là nguyên tắc nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, làm giảm sức ép do việc khai thác quá mức đặc biệt là các khu vực nhạy cảm như vườn quốc gia, các khu vực bảo tồn tự nhiên, hạn chế sự lan truyền ô nhiễm cục bộ trong khu vực Tối ưu hoá việc khai thác và sử

dụng tài nguyên hợp lý và kéo dài thêm được vòng đời sản phẩm du lịch

1.1.4.6 B ảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái

Cũng giống như các hoạt động du lịch khác thì DLST tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Vì thế, DLST luôn coi việc bảo vệ môi trường và tự nhiên

Vì thế DLST luôn coi việc bảo vệ môi trường là nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần tuân thủ vì:

- Bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu của hoạt động DLST

- Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và cá hệ sinh thái điển hình, sự

xuống cấp của môi trường, sự suy thoái hệ sinh thái đồng nghĩa với việc đi xuống của hoạt động sinh thái Với nguyên tắc này, mọi hoạt động của du lịch sinh thái sẽ được quản lý chặt

chẽ để giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường, và một phần của hoạt động du

lịch sẽ được đầu tư vào hoạt động bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển của hệ sinh thái

1.1.4.7 B ảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng

Nguyên tắc này được xem là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động du lịch sinh trái,

bởi các giá trị văn hoá bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tác rời các giá trị môi

Trang 20

trường xã hội đối với hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hay thay đổi tập tục sinh hoạt, văn hoá truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác động nào đó sẽ làm mất

đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và làm thay đổi hệ sinh thái đó Và hậu

quả của quá trình này là làm thay đổi và tác động trực tiếp đến DLST Chính vì thế mà việc phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của DLST

1.1.4.8 T ạo ra nhiều cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho kinh tế cộng đồng

Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướng tới của việc phát triển DLST, bởi vì:

- Nếu như các hoạt động du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và tất cả các lợi nhuận từ hoạt động du lịch đều thuộc về công ty điều hành thì DLST ngược lại sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận của mình từ việc hoạt động du lịch cho việc cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương

- DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương, như đảm nhận vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉ cho khách, cung ứng các nhu cầu

về thực phẩm, hàng lưu niệm cho khách,…Từ đó tạo ra nhiều công ăn việc làm và tăng thêm thu nhập cho người dân địa phương Điều này sẽ giúp cho cuộc sống của người dân địa phương ít bị phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời họ cũng cảm nhận được lợi ích từ việc tham gia bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST Chính người dân sẽ là những người chủ thực sự của các tài nguyên du lịch và họ luôn trung thành với các giá trị tự nhiên và văn hoá bản địa nơi diễn ra hoạt động DLST

1.1.5 Các yêu cầu cơ bản của du lịch sinh thái

Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (agri-cultural ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology)

- Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu

tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như : đất, nước, địa hình, khí hậu đó là các hệ sinh thái (eco-systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều

Trang 21

loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại Hộ nghị thượng đỉnh Rio de Jannero về môi trường)

Như vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung Điều này giải thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt ở các vườn quốc gia, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình du lịch sinh thái phát triển ở những vùng nông thôn hoặc các trang trại điển hình

Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái ở 2 điểm:

• Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho khách du lịch sinh thái, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch sinh thái, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên.Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò

là một người phiên dịch giỏi

• Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có được người điều hành có nguyên tắc Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết

gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi Ngược lại, các nhà điều hành du lịch sinh thái phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và du khách Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó du lịch sinh thái cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa” Khái niệm “ sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm

Trang 22

- Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa khách du lịch

mà khu vực có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về không gian đối với mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của họ

- Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá-xã hội, kinh tế-xã hội của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập

- Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu du lịch có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực quản lý (lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý ) của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường và xã hội

Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, vì vậy khó có thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm

Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là “quan niệm” về sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau (ví dụ giữa các nước châu Á và châu Âu, giữa các nước phát triển và đang phát triển ) Rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó mà có các quyết định về quản lý Điều này cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng khách/thị trường khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ Du lịch sinh thái không thể đáp ứng được các nhu cầu của tất cả cũng như mọi loại khách

- Yêu cầu thứ tư là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của khách du lịch Việc thoả mãn mong muốn này của khách du lịch sinh thái về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch sinh thái Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm

Du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững Điều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trưởng liên tục về du lịch Đây là điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt Nam bắt đầu lo lắng về tốc độ tăng trưởng của du lịch

Trang 23

1.2 Khái niệm về du khách du lịch sinh thái

1.2.1 Định nghĩa khách du lịch sinh thái

Khách DLST là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm

- Khách DLST thích hoạt động ngoài thiên nhiên và có kinh nghiệm

- Thường có thời gian du lịch dài hơn và mức chi tiêu cao hơn so với khách ít quan tâm đến thiên nhiên

- Họ không đòi hỏi thức ăn hoặc nhà nghỉ cao cấp, đầy đủ tiện nghi mặc dù học có khả năng chi trả, điều này phản ánh nhận thức của họ rằng “cơ sở vật chất mà họ sử dụng ít ảnh hưởng nhất đến môi trường tự nhiên”

1.2.2 Phân loại du khách du lịch sinh thái

1.2.2.1 Du khách du l ịch sinh thái cảm giác mạnh

Thành phần đa số là thanh niên đi du lịch, cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ, tổ chức độc

lập, ăn uống có tính địa phương, cơ sở lưu trú đơn giản, thích thể thao và du lịch mạo hiểm

1.2.2.2 Du khách du l ịch sinh thái an nhàn

Du khách có lứa tuổi trung niên và cao niên, đi du lịch theo nhóm, ở khách sạn hạng

sang, ăn uống ở nhà hang sang trọng, ưa thích du lịch thiên nhiên và săn bắn

1.2.2.3 Du khách du l ịch sinh thái đặc biệt

Bao gồm những du khách có lứa tuổi từ trẻ đến già, đi du lịch cá nhân, đi tuor đặc biệt, thích di chuyển, thích tự nấu ăn và thu thập kiến thức khoa học

1.3 Khái niệm về tài nguyên du lịch sinh thái

Trang 24

Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền

với các nhân tố về con người và xã hội

Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch

Tài nguyên du lịch là dạng cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du

lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du

lịch (Pháp lệnh Di lịch Việt Nam, 1995)

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử, văn hoá, công trình lao động sáng tạo văn hoá của con người và các giá trị nhân văn khác cụ thể được

sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm

du lịch, tuyến du lịch và đô thị du lịch (Luật Du lịch Việt Nam, 2005)

Là loại hình du lịch phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, tài nguyên du

lịch sinh thái (TNDLST) là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá

trị tự nhiên thể hiện là một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hoá bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó

Như vậy, ta có thể hiểu rằng: TNDLST là 1 bộ phận quan trong của tài nguyên du lịch

nó bao gồm các khía cạnh giá trị tự nhiên thể hiện trong hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa được tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó

Tuy nhiên không phải mọi gía trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là TNDLST mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiiên các giá trị văn hóa bản địa

gắn với mục đích phát triển du lịch nói chung và DLST nói riêng thì nó được xem là TNDLST

1.3.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch sinh thái

1.3.2.1 Tài nguyên du l ịch sinh thái phong phú và đa dạng

TNDLST phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và có sức hấp

dẫn

Là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch, chủ yếu được hình thành từ tự nhiên mà bản thân tự nhiên lại rất phong phú và đa dạng vì thế TNDLST cũng có đặc điểm này

Trang 25

Có nhiều hệ sinh thái đặc biệt, nơi sinh trưởng, tồn tại và phát triển nhiều loại sinh vật đặc hữu quí hiếm, thậm chí có những loài tưởng chừng đã bị tuyệt chủng, được xem là

những TNDLST đặc sắc, có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch

1.3.2.2 Tài nguyên du l ịch sinh thái thường rất nhạy cảm với các yếu tố tác động

Do đặc điểm của các hệ sinh thái là các thành phần tự nhiên có trong một hệ sinh thái quan hệ rất chặt chẽ với nhau để tạo ra nét độc đáo riêng của hệ sinh thái, vì thế bất cứ một thành phần nào thay đổi dù chỉ là thay đổi nhỏ cũng ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống Trong trường hợp có những thay đổi lớn có thể dẫn đến hậu quả phá vỡ sự cân bằng tự nhiên vốn

có và dẫn đến sự phá huỷ toàn bộ hệ sinh thái

Có thể nói rằng sự thay đổi tính chất của một số thành phần tự nhiên, sự suy giảm hay

mất đi của một số loài sinh vật cấu thành nên hệ sinh thái nào đó dưới tác động của con người sẽ là nguyên nhân thay đổi, thậm chí mất đi hệ sinh thái đó và kết quả là TNDLST sẽ

bị ảnh hưởng ở từng mức độ khác nhau

1.3.2.3 Tài nguyên du l ịch sinh thái có thời gian khai thác khác nhau

Do lệ thuộc vào quy luật diễn biến của khí hậu, của mùa di cư, sinh sản của các loài sinh vật, đặc biệt là các loài đặc hữu quí hiếm Để có thể khai thác hiệu quả TNDLST thì các nhà quản lý, tổ chức điều hành cần có những nghiên cứu cụ thể về tính mùa vụ của các loài tài nguyên để làm căn cứ đưa ra các giải pháp thích hợp nhất

1.3.2.4 Tài nguyên du l ịch sinh thái thường nằm cách xa các khu dân cư và được khai thác t ại chổ để tạo ra sản phẩm du lịch

TNDLST nằm xa khu dân cư, đô thị nên chúng mới có thể tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay, nếu không, chính sự phát triển của nền kinh tế xã hội kéo theo việc con người khai thác phục vụ cho những nhu cầu, lợi ích cá nhân sẽ làm cho các nguồn tài nguyên này suy

giảm,bị biến đổi, thậm chí không còn sự tồn tại để phát triển

Khác với nhiều loại tài nguyên khác, sau khi được khai thác có thể chế biến, vận chuyển

đi nơi khác để chế biến nhằm tạo ra sản phẩm rồi lại đưa đến nơi tiêu thụ; nhưng tài nguyên

du lịch nói chung và TNDLST nói riêng thường được khai thác tại chỗ nhằm tạo ra các sản

phẩm để thoả mãn nhu cầu của du khách tham quan

Trong một số trường hợp thực tế thì cũng có thể tạo ra những vườn thực vật, những công viên với nhiều loại sinh vật đặc hữu trong môi trường nhân tạo để du khách tham quan Tuy nhiên, các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm DLST đích thực, chúng được tạo ra để

Trang 26

thoả mãn nhu cầu của du lịch đại chúng, đặc biệt ở các đô thị lớn dân cư đông đúc có nhu

cầu nhưng không phải ai cũng có thể đến với các khu vực tự nhiên

1.3.2.5 Tài nguyên du l ịch sinh thái có khả năng tự tái tạo và sử dụng lâu dài

Điều này dựa trên khả năng tự phục hồi, tái tạo của tự nhiên Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy rằng có nhiều TNDLST đặc hữu quí hiếm hoàn toàn có thể mất đi do tai biến hoặc

do các tác động từ con người

Vấn đề đặt ra là chúng ta cần nắm những qui luật của tự nhiên, lường trước những tác động của con người đến với tự nhiên nói chung và của TNDLST nói riêng để có những định hướng, giải pháp cụ thể để khai thác hợp lý, có hiệu quả, không ngừng bảo vệ, tồn tại và phát triển các nguồn tài nguyên vô giá đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch

1.4 Khái niệm về quy hoạch du lịch sinh thái

1.4.1 Định nghĩa

Quy hoạch DLST là việc phân chia các đơn vị không gian lãnh thổ trong phạm vi một khu vực có hệ sinh thái đặc trưng, thường là một khu có cảnh quan sinh thái đặc thù như các khu bảo tồn tự nhiên hay vườn quốc gia sao cho vừa phù hợp với chức năng môi trường và điều kiện tự nhiên vốn có của nó Và đồng thời, vừa tổ chức được hoạt động DLST, bảo vệ

và tôn tạo hệ sinh thái trên mỗi đơn vị ấy một cách hiệu quả nhất

1.4.2 Phân loại đối tượng quy hoạch du lịch sinh thái

1.4.2.1 Vườn quốc gia

Vườn quốc gia là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy định pháp luật

của chính quyền sở tại Vườn quốc gia được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp

bởi con người Vườn quốc gia thường được thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo

có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động - thực

vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của con người Các vườn quốc gia là một khu vực được bảo vệ loại II theo quy định của IUCN Vườn quốc gia lớn nhất thế giới là Vườn quốc gia Đông Bắc đảo Greenland được thành lập năm 1974

Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) thì vườn quốc gia là:

Khu vực tự nhiên của vùng đất hoặc vùng biển, được chọn để:

Trang 27

- Bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và tương lai,

- Loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiện đối với các mục đích của việc chọn lựa khu vực,

- Chuẩn bị cơ sở cho các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và thăm quan, tất

cả các cơ hội đó phải có tính tương thích về văn hóa và môi trường

Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, thay thế cho Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm

2001 về Quy chế quản lý rừng thì vườn quốc gia là một dạng rừng đặc dụng, được xác định trên các tiêu chí sau:

• Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo,

có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp

• Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái

• Vườn quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn

1.4.2.2 Khu b ảo tồn tự nhiên

Khu bảo tồn thiên nhiên là vùng đất hay vùng biển đặc biệt được dành để bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với việc bảo vệ các tài nguyên văn hoá và được quản lí bằng pháp luật hoặc các phương thức hữu hiệu khác Theo nghĩa hẹp, khu bảo tồn thiên nhiên còn gọi là khu dự trữ tự nhiên và khu bảo toàn loài sinh cảnh, là vùng đất tự nhiên được thành lập nhằm mục đích đảm bảo diễn thếtự nhiên

Mục đích của các khu bảo tồn thiên nhiên là:

• Nghiên cứu khoa học;

• Bảo vệ các vùng hoang dã;

• Bảo vệ sự đa dạng loài và gen;

• Duy trì các lợi ích về môi trường từ thiên nhiên;

• Bảo vệ các cảnh quan đặc biệt về thiên nhiên và văn hoá;

Trang 28

• Sử dụng cho du lịch và giải trí;

• Giáo dục;

• Sử dụng hợp lí các tài nguyên từ các hệ sinh thái tự nhiên;

• Duy trì các biểu trưng văn hoá và truyền thống

Khu bảo tồn thiên nhiên là những khu được bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ dành cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và quan trắc môi trường Các khu bảo tồn thiên nhiên này cho phép gìn giữ các quần thể của các loài cũng như các quá trình của hệ sinh thái không hoặc ít bị nhiễu loạn

1.4.2.3 Các khu r ừng lịch sử - văn hóa – môi trường

Là khu vực gồm một hay nhiều cảnh quan có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu có giá trị văn hóa-lịch sử nhằm phục vụ các hoạt động văn hóa, du lịch hoặc để nghiên cứu, bao gồm:

• Khu vực có các thắng cảnh trên đất liền, ven biển hay hải đảo

• Khu vực có di tích lịch sử-văn hóa đã được xếp hạng

sắc

1.4.3 Các nguyên t ắc quy hoạch điểm và khu du lịch sinh thái

Nguyên tắc quy hoạch điểm du lịch và khu du lịch sinh thái tiến hành dựa trên việc phân loại các điểm du lịch Theo “Quy hoạch Du lịch: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”

của TS Trần Văn Thông, NXB Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh, 2006 thì phân loại điểm du lịch sẽ được chia làm hai loại là:

- Khu du lịch thiên nhiên: là khu du lịch lấy phong cảnh thiên nhiên làm chính, qua quy hoạch trở thành nơi cho các hoạt động du lịch như du ngoạn, thưởng thức, nghỉ ngơi và điều dưỡng, săn bắn Khu du lịch thiên nhiên được qui hoạch thành các điểm du lịch nhỏ bao gồm: khu du lịch núi rừng; khu du lịch ven biển; khu du lịch thiên nhiên như sông, hồ, nước, thảo nguyên, sa mạc; khu du lịch thiên nhiên tổng hợp và khu bảo tồn thiên nhiên

- Khu du lịch nhân văn: là khu du lịch lấy cảnh quan nhăn văn làm chính Nó bao gồm: khu du lịch cảnh quan thành phố như phố cổ, lâm viên, đô thị hiện đại; khu du lịch phong

tục tập quán ở các vùng miền; khu du lịch tôn giáo; khu du lịch thánh địa cách mạng

Trang 29

Từ sự phân loại đó, chúng ta sẽ đưa ra được những nguyên tắc đúng đắn nhất cho quy

hoạch du lịch để phát triển du lịch một cách toàn diện nhất cho du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng

Các nguyên tắc quy hoạch cụ thể:

1.4.3.1 Nguyên t ắc thị trường

Ngành Du lịch có mức độ thị trường rất cao, quy hoạch khai thác với các điểm du lịch

và khu du lịch sinh thái phải tiến hành theo qui luật thị trường

Quy hoạch du lịch phải căn cứ vào nhu cầu của thị trường nguồn khách (hiện tại và

tiềm năng) Trước khi quy hoạch cần tiến hành điều tra thị trường một cách tỉ mỉ, tìm hiểu đầy đủ, nội dung, qui mô, kết cấu, sở thích, xu hướng phát triển của thị trường nguồn khách, tìm thị trường mục tiêu để định vị điểm du lịch, xác định phương hướng chủ yếu,thứ tự phát triển và nội dung du lịch của công tác quy hoạch du lịch

1.4.3.2 Nguyên t ắc hiệu quả và lợi ích

Trong quy hoạch du lịch phải chú ý phát huy hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường

sinh thái

1.4.3.3 Nguyên t ắc sắc thái đặc biệt

Sắc thái đặc biệt là linh hồn của khu du lịch, qui hoạch du lịch làm nổi bật sắc thái đặc

Quy hoạch điểm du lịch phải quán triệt nguyên tắc toàn cục.Trước hết phải phục tùng

và phục vụ qui hoạch đất đai khu vực.Yêu cầu cụ thể cho nguyên tắc toàn cục trong quy

Trang 30

- Phối hợp ăn khớp giữa xây dựng điểm du lịch với xây dựng hệ thống thành phố, thị

trấn của khu vực (nơi tập trung đông khách)

- Quy hoạch du lịch phải kết hợp với phòng chống thiên tai tại khu vực

1.5 Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam

1.5.1 Tiềm năng tài nguyên du lịch sinh thái ở Việt Nam

1.5.1.1 Đa dạng sinh thái ở Việt Nam

Với 134 khu rừng đặc dụng với, trong đó có 31 VQG, 69 khu BTTN và 34 khu rừng văn hoá, lịch sử nên Việt Nam có lợi thế hơn nhiều nước trong khu vực trong việc phát triển

du lịch sinh thái

Hệ sinh thái ở Việt Nam bao gồm 12 loại điển hình: hệ sinh thái rừng nhiệt đới, hệ sinh thái rừng rậm gió mùa ẩm thường xanh trên núi đá vôi, hệ sinh thái rừng khô hạn, hệ sinh thái núi cao, hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái đầm lầy,hệ sinh thái đầm phá, hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái ngập mặnven biển, hệsinh thái biển - đảo, hệ sinh thái cát ven

biển, hệ sinh thái nôngnghiệp

Với 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc và 225 loài ở vùng biển phía Nam Bên cạnh 60 vạn ha đất cát ven biển, trong đó có 77.000 ha hệ sinh thái cát đỏ

tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận và tổng diện tích đất ngập mặn của nước ta có khoảng

từ 7 – 10 triệu ha nhiều hệ sinh thái điển hình có giá trị cao về khoa học và du lịch với ĐồngTháp Mười là vùng ngập nước tiêu biểu cho khu vực Đông Nam Á Hệ thốngrừng đặc

dụng và rừng ngập mặn Việt Nam thuộc loại rừng giàu có về tính đadạng sinh học với 12.000 loài thực vật (1.200 loài đặc hữu), 15.575 loài độngvật (172 loài đặc hữu) Với tiềm năng phong phú và đa dạng, nên ngay từ thờigian đầu của quá trình đổi mới đất nước, việc phát triển du lịch sinh thái ở ViệtNam đã được coi trọng

Hiện nay ngành du lịch Việt Nam đang gấp rút hoàn thiện công tác điều tracơ bản quy

hoạch những vùng tiềm năng như Ba Bể, Cát Bà, Cúc Phương, NamCát Tiên, Yok đôn, Côn Đảo, Bình Châu-Phước Bửu Tổ chức không gian hoạt động du lịch sinh thái trong các khu

bảo tồn ởViệt Nam sẽ được phân thành 7 cụm vùng tiêu biểu:

- Không gian du lịch sinhthái vùng núi và ven biều Đông Bắc bao gồm một phần các

tỉnh Lạng Sơn, CaoBằng, Bắc Cạn, Bắc Thái; các hệ sinh thái điển hình và có giá trị cao được chọnkhu vực này là khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên ( Lạng Sơn); rừngvăn

Trang 31

hoá lịch sử Pắc Bó; Trùng Khánh( Cao Bằng); VQG Ba Bể ( BắcCạn); hồ núi Cốc( Bắc Thái) và hệ sinh thái rừng ngập mặn Quảng Ninh, HảiPhòng

- Không gian hoạt động của du lịch sinh thái vùng núi Tây Bắc và HoàngLiên Sơn chủ

yếu phần phía Tây của 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu với vùng sinhthái núi cao Phanxiphăng và Khu bảo tồn Mường Nhé- nơi đang tồn tại 38loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ như Voi, Bò tót, Gấu chó, Hổ, Sói đỏ

Sapa Du lịch sinh thái Đồng Bằng Sông Hồng với không gian chủ yếu thuộc cáctỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Thanh Hoá Các khubảo tồn thiên nhiên điển hình được chọn cho vùng này là Tam Đảo, CúcPhương, Ba Vì, Xuân Thuỷ ( khu bảo

vệ vùng đất ngập nước (Ramsan) đầu tiên ởViệt Nam)

- Không gian du lịch sinh thái vùng Bắc Trung Bộ bao gồm phần phía TâyNam Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và phía Đông NamThừa Thiên Huế So

với các nước trong khu vực Đông Nam Á, đây là địa bànđược đánh giá cao nhất về tính đa

dạng sinh học với Khu bảo tồn thiên nhiênPhong Nha-Kẻ Bàng được xếp vào loại lớn trên

thế giới và nhiều khu rừngnguyên sinh có giá trị phía tây của Tây Nguyên, một phần bắc Lâm Đồng kéo dài đến tỉnhKhánh Hoà thuộc không gian du lịch sinh thái vùng Nam Trung

Bộ và Tâynguyên các hệ sinh thái điển hình của vùng nay bao gồm rừng khộp ở Yok đôn,đất ngập nước Hồ Lắc, hệ sinh thái Ngọc Linh, Biodup-Núi Bà; hệ sinh thái san hô Nha Trang

- Vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Tây nguyên cực Nam Trung Bộ xuống đồng bằng Nam Bộ với không gian du lịch sinh thái bao trùm khu vực Vườnquốc gia Nam Cát Tiên (Lâm Đồng-Bình Dương, Đồng Nai), Côn Đảo, BìnhChâu-Phước Bửu( Bà Rịa-Vũng Tàu),

Biển Lạc-Núi Ông( Bình Thuận)

- Dựa vào hai hệ sinh thái là đất ngập mặn và rừng ngập mặn thuộc các tỉnhdọc sông

Mê Kông đến Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, không gian du lịch vùngnày sẽ tập trung chủ

yếu vào rừng ngập mặn Cà Mau, Tràm Chim Đồng Tháp,Cù lao sông Tiền, sông Hậu và Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc

1.5.1.2 Đa dạng sinh học ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia ven biển, có vị trí địa lý - chính trị quan trọng tronggiao lưu

quốc tế Biển và thềm lục địa có vai trò quan trọng phát triển kinh tế xãhội, bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia Vì vậy, phát huy lợi thế một quốc giacó biển, kết hợp với phát triển kinh tế với an ninh - quốc phòng đã trở thànhchiến lược lâu dài của đất nước ta

Trang 32

Phát triển du lịch biển góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngànhkinh tế khác:

Du lịch biển là ngành kinh tế có tính liên ngành Vì vậy, sự pháttriển của du lịch biển sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều ngành trong mối quanhệ tương hỗ Đồng thời, tạo cơ hội phát triển mới, làm tăng nguồn thu cho quốcgia và cải thiện cán cân thanh toán, góp phần đẩy

mạnh phát triển nền kinh tếbiển, đa dạng hóa nền kinh tế cho suốt dọcvùng duyên hải và hải đảo của 29tỉnh, thành phố, là cửa ngõ có sức lôi kéo và thúc đẩy các vùng khác pháttriển

Thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước

Tại Việt Nam du lịch biển có vai trò đặc thù và chiếm vị trí quan trọngtrong chiến lược phát triển du lịch của cả nước Chiến lược phát triển Du lịchViệt Nam đến năm 2010 và quy

hoạch tổng thể phát triển Du lịch Vịêt Nam đếnnăm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định 7 khu vực trọngđiểm ưu tiên phát triển du lịch, trong số đó đã có tới 5 khu

vực là thuộc vùngven biển Mặc dù cho đến nay, nhiều tiềm năng du lịch biển đặc sắc, đặc

biệt làhệ thống đảo ven bờ, chưa được đầu tư khai thác một cách tương xứng, tuynhiên ở khu vực ven biển đã tập trung khoảng 70% các khu điểm du lịch trongcả nước, hàng năm thu hút khoảng 60-80% lượng khách du lịch Điều này đãkhẳng định vai trò của du lịch biển đối với sự phát triển chung của Du lịch ViệtNam

Cùng với sự phát triển chung của du lịch cả nước, du lịch biển Việt Nam đãchuyển

biến ngày một mạnh mẽ với những bước tiến quan trọng cả về lượng vàchất Đã có sự phát triển đáng kể về sản phẩm du lịch Cơ sở hạ tầng và cơ sởvật chất kỹ thuật phục vụ cho du

lịch được cải thiện một bước Hoạt động dulịch biển chiếm tỷ trọng lớn ( năm 2000 chiếm 63% GDP du lịch của cả nước),đóng góp không nhỏ cho sự phát triển chung của toàn ngành

Du lịch Việt Nam và kinh tế - xã hội vùng biển

1.5.1.3 Các khu d ự trữ sinh quyển Thế Giới ở Việt Nam

Tho UNESCO thì hiện nay nước ta có 08 khu dự trữ sinh quyển của Thế giới ở Việt Nam – đóng vai trò là những khu bảo tồn thiên nhiên có hệ động thực vật độc đáo, phong phú và đa dạng cả sinh thái bờ biển hoặc trên bờ nhằm bảo tồn sinh học 08 khu dự trữ sinh quyển bao gồm:

- Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ - hay còn gọi là rừng Sác

- Khu dự trữ sinh quyển Vườn quốc gia Cát Tiên

- Khu dự trữ sinh quyển Quần đảo Cát Bà

- Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng

- Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang

Trang 33

- Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An

- Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau

- Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm

Không chỉ phong phú trên phương diện hệ sinh thái, thiên nhiên còn bancho các khu

dự trữ sinh quyển này sự đa dạng sinh học cao về các loài đặc hữu, có khoảng 1.200 loàilà loài đặc hữu trong tổng số 12.000 loài thực vật ở Việt Nam

Trong số 15.575 loài động vật có 172 loài đặc hữu trong số đó có 14 loài là thú.Đặc

biệt sự kiện gây chú ý nhất trong giới bảo tồn thế giới là phát hiện 3 loài thúlớn ở Việt Nam: Sao la(1992), Mang lớn(1994), Mang Trường Sơn(1997).Khoảng 58% số loài thực vật và 73% số loài động vật quý hiếm, đặc hữu củaViệt Nam tập trung trong các khu bảo tồn thiên nhiên Tuy nhiên các loài thú lớncủa Việt Nam khó tiếp cận hơn các loài của châu Phi, và đôi khi sự tiếp cận làkhông thể chấp nhận được vì các loài vật này bản thân chúng đang có nguy cơtuyệt chủng cần được bảo vệ và chúng sống trong các hệ sinh thái tương đốimong manh Tình trạng này có thể được khắc phục nếu có quy hoạch thích hợp

Sự phong phú về hệ sinh thái ở Việt Nam sở dĩ có được là nhờ sự đa dạngvề địa hình

của đất nước Sự đa dạng về địa hình kết hợp với sự phong phú về hệsinh thái đã cho ra đời

những sản phẩm, địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn Hấpdẫn nhất phải kể đến rừng mưa nhiệt đới Vườn quốc gia Cúc Phương, Cát Bà, BaBể, Bạch Mã và khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha – Kẻ Bàng, Hoàng Liên Sơn Nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên phân bố dọc theo 3.260 kmbờ biển với hệ động thực vật còn khá phong phú và nhiều bãi

tắm lý tưởng nhưTrà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Xuân Thuỷ, Sầm Sơn, Lăng Sô, Bình Châu, PhướcBửu Các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên vùng đảo và quần đảo cũnglà địa điểm du lịch sinh thái nổi tiếng Nơi đây ngoài hệ sinh thái trên cạn còn cóhệ sinh thái trên

biển với các rạn san hô có thành phần loài phong phú Chúng tacó thể tổ chức du lịch lặn, xem hệ động thực vật biển phong phú trong các rạnsan hô ở khu vực đảo Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc và các đảo thuộc khu vựcNha Trang, Khánh Hoà

Ba phần tư diện tích lãnh thổ của Việt Nam là đồi núi với nhiều đỉnh núicao có khí hậu mát mẻ rất thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng mùa hè Những địađiểm nổi tiếng như Sa Pa, Tam Đảo, BaVì, Bạch Mã, Bà Nà - Núi Chúa đã đượcngười Pháp khai thác cách đây nửa

thế kỷ và hiện còn lưu giữ nhiều tàn tích củacác biệt thự cũ Từ các trung tâm nghỉ dưỡng này ta có thể thiết kế các đườngmòn thiên nhiên với cự ly từ 2 –3 km để kết hợp du lịch sinh thái với các loạihình du lịch khác Sông, suối, thác, ghềnh, hồ tự nhiên và nhân tạo trong các

Trang 34

khubảo tồn thiên nhiên ở các vùng núi rất thuận lợi cho việc phát triển loại hình dulịch mạo

hiểm và du lịch thể thao dưới nước

1.5.2 Th ực trạng phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam

Nhìn chung DLST ở Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có của

nó Hoạt động DLST chủ yếu mang tính tự phát, chưa có sản phẩm và thị trường mục tiêu, chưa có đầu tư cho công việc xúc tiến và phát triển công nghệ phục vụ Xét về mặt nội dung

và cách thức tổ chức thì hoạt động du lịch này ở VN chủ yếu là ở các khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia Tuy nhiên cho đến nay thì hoạt động này vẫn chỉ là hình thức tự phát và chưa đóng góp vào tổng giá trị của ngành du lịch là bao nhiêu Để từ đó chúng ta

nhận được một số vấn đề còn tồn tại trong sự phát triển của nó:

Tiềm năng phát triển DLST rất lớn nhưng hiện trạng phát triển chưa tương xứng với

tiềm năng của Việt Nam Các hoạt động du lịch chỉ dừng ở mức độ mang tính tự phát và

dựa vào thiên nhiên là chủ yếu Nhận thức về DLST của các đối tượng liên quan còn hạn

chế bao gồm cả khái niệm và các loại hình hoạt động Công tác quy hoạch phát triển DLST chưa được triển khai rộng rãi là một trong những trở ngại lớn cho sự phát triển của loại hình

du lịch này Vấn đề về công tác quy hoạchphát triển DLST trên thực tế chưa được triển khai

rộng rãi đã tạo nên một trở ngại lớn cho việc đầu tư phát triển của nó Việc triển khai còn

gặp nhiều khó khăn dẫn đến việc phát triển hạn chế, cơ sở hạ tầng nghèo nàn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, các khu bảo tồn thiên nhiên còn thiếu những phương tiện cung cấp thông tin giáo dục, diễn giải môi trường, đội ngũ lao động chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi sự chuyên nghiệp, công tác quảng bá hầu như chưa thật sự được triển khai Công tác tổ chức quản lý và điều hành hoạt động của DLST còn chồng chéo lên nhau và nhiều bất cập Chưa có cơ quan chuyên trách nào của Chính phủ về DLST của cả

Việt Nam và Thế Giới

1.5.2.1 Nh ững thành tựu đạt được

Tuy có tiềm năng to lớn, nhưng du lịch sinh thái trong phạm vi cả nước nói chung và trong các khu bảo tồn nói riêng còn đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển Các hoạt động đa số mang tính tự phát, chưa có sản phẩm và đối tượng phục vụ rõ ràng, chưa có sự đầu tư quảng bá, nghiên cứu thị trường và công nghệ phuc vụ cho du lịch sinh thái, chưa có

sự quan tâm, quản lý chặt chẽ của các cấp các ngành do vậy mà thực tế là sự đa dạng sinh

học đang bị de doạ

Trang 35

Theo ước tính ở Việt Nam có hơn 12.000 loài cây, 275 loài động vật có vú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài động vật lưỡng cư, 2.470 loài cá và hơn5.500 loài côn trùng,

với ước tính hơn 10% đang mắc các bệnh đặc trưng ở các loài động vật có vú, chim và cá Điều đáng buồn là hơn 28% thuộc động vật có vú, 10% loài chim và 21% loài động vật lưỡng cư và loài bò sát được liệt kê là đang ở tình trạng hết sức nguy hiểm Một nguyên nhân to lớn là môi trường sống bị mất đi do nạn phá rừng

Đối với các di sản vật thể, đặc biệt là các di sản có giá trị toàn cầu nổi bật thì sự bùng

nổ số lượng khách thăm quan đã và đang trở thành mối nguy cơ đe doạ việc bảo vệ các di

sản này Sự có mặt quá đông du khách trong một thời điểm ở một di sản đã tạo nên những tác động cơ học, hoá học đã cùng với các yếu tố khí hậu nhiệt đới gây nên những sự huỷ

hoại đối với các di sản và các động sản phụ thuộc như các vật dụng trang trí, vật dụng thờ tự

Sự phát triển các dịch vụ du lịch thiếu sự kiểm soát và sự bùng nổ số lượng du khách còn tác động mạnh mẽ đến cảnh quan văn hoá và môi trường sinh thái tại các khu du lịch như: khắc tên lên các vách đá, các bộ phận di tích, xả rác bừa bãi…

Du lịch tạo nên sự tiếp xúc giữa các bộ phận dân cư xuất thân từ các nền văn hoá khác nhau, tín ngưỡng khác nhau Do không được thông tin đầy đủ và thiếu những quy định chặt

chẽ, cụ thể nên nhiều du khách đã ăn mặc, ứng xử tuỳ tiện ở những nơi được coi là tôn nghiêm – đặc biệt là những di tích có ý nghĩa tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân sở tại, gây nên sự bất hoà thậm chí là sự xung đột về mặt tâm lý và tinh thần

Trong số 31 vườn quốc gia thì Cúc Phương, Bạch Mã, Cát Tiên đã tổ chức hoạt động

du lịch sinh thái khá hơn Cụ thể 3 vườn này đã xây dựng được một số tuyến du lịch sinh thái, một số tuyến đường mòn thiên nhiên, một số hướng dẫn viên là kiểm lâm được đào tạo,

bồi dưỡng kiến thức về du lịch sinh thái Các vườn còn lại cũng tổ chức hoạt động thăm quan du lịch nhưng chưa có bài bản và định hướng rõ ràng

Theo số liệu thống kê đến năm 2010, trên phạm vi toàn quốc có trên 235.000phòng

khách sạn tập trung tới trên 70% ở các đô thị du lịch Nếu chỉ tính đến tácđộng của các thiết

bị điều hoà nhiệt độ dùng trong hệ thống khách sạn du lịch thìlượng khí CFCs (loại khí thải chính ảnh hưởng tới tầng ozon của khí quyển) thảira cũng có tác động không nhỏ đến môi trường

Đến năm 2003, đã thống kê được trên 7.000 phương tiện vận chuyển kháchdu lịch ( chưa kể các phương tiện tư nhân) Vào mùa du lịch, đặc biệt vào các ngày lễ hội, ngày nghỉ

Trang 36

cuối tuần, lượng xe du lịch tập trung chuyên chở kháchđến các trung tâm đô thị du lịch gây tình trạng ách tắc giao thông và làm tăngđáng kể lượng khí thải CO2 vào môi trường không khí

Hoạt động vận chuyển khách, vui chơi giải trí trên biển bằng các phươngtiện động cơ cũng góp phần làm ô nhiễm dầu vùng nước ven bờ, tăng khả năngsự cố tràn dầu do va chạm

giữa các phương tiện Kết quả nghiên cứu về ô nhiễmdầu nước biển ở một số khu du lịch

biển lớn như Hạ Long, Nha Trang, VũngTàu cho thấy ở nhiều khu vực chỉ số này đã vượt tiêu chuẩn cho phép là 0.03mg/ lít Mặc dù hiện nay , nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do khaithác vận chuyển dầu, tuy nhiên hoạt động vận chuyển khách với số lượng tàuthuyền trung bình trên 300 chuyến/ngày tham quan vịnh Hạ Long, trên 100chuyến/ngày thăm vịnh Nha Trang và các hoạt động vui chơi giải trí khác bằngcanô, motor nước đã góp

phần không nhỏ vào tình trạng ô nhiễm trên.Ảnh hưởng đến cảnh quan tự nhiên: Do thiếu cân nhắc trong quy hoạch vàthực hiện quy hoạch du lịch, nhiều cảnh quan đặc sắc, hệ sinh thái nhạy cảm,đặc biệt ở vùng ven biển, hải đảo và ở các khu bảo tồn tự nhiên, vườn quốc giabị thay đổi hoặc suy giảm cùng với việc phát triển các khu du lịch mới Điềunày có thể

nhận thấy qua sự phát triển các khu du lịch trên đảo Cát Bà, khuHùng Thắng, đảo Tuần Châu ( Hạ Long)

Đa dạng sinh học bị đe doạ do nhiều loài sinh vật, trong đó có cả những loàisinh vật hoang dã quý hiếm như san hô, đồi mồi bị săn bắt phục vụ nhu cầu ẩmthực, đồ lưu niệm, buôn bán mẫu vật của khách du lịch Ngoài ra chu trình sống (di trú, kiếm ăn, mùa giao

phối, sinh sản) của động vật hoang dã ở các khu bảo tồnthiên nhiên, vườn quốc gia cũng bị tác động do lượng khách tập trung đông

mới mẻ cả về khái niệm, tổ chức hoạt động, quy hoạch, chính sách đầu tư khai thác Vấn đề

phổ cập kiến thức du lịch sinh thái chưa được các ngành liên quan quan tâm đúng mức Hầu

hết nhân dân Việt Nam chưa có khái niệm về du lịch sinh thái

Một nguyên nhân quan trọng nữa là do lực lượng quản lý tại các khu vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên thiếu cả về số lượng lẫn kiến thức chuyên môn về bảo tồn cũng như

Trang 37

du lịch sinh thái Mặc dù du lịch là một trong những chức năng, nhiệm vụ của vườn quốc gia Nhưng thực tế các vườn mới chỉ chú trọng đến bảo vệ rừng mà chưa quan tâm tới việc

quản lý rừng bền vững và phát triển du lịch sinh thái Các khu bảo tồn thiên nhiên còn thiếu

những phương tiện cung cấp các thông tin giáo dục, diễn giải môi trường và chưa có được

những hướng dẫn viên du lịch sinh thái chuyên nghiệp, am hiểu đầy đủ, tường tận các tài nguyên du lịch của chính mình

Các điểm du lịch sinh thái chưa được quy hoạch là một trở ngại lớn choviệc phát triển

của nghành du lịch này tại Việt nam Hầu hết các khu bảo tồnthiên nhiên chưa có phân vùng dành cho du lịch sinh thái Không có các nguyêntắc chỉ đạo dựa vào đó các đối tượng biết mình đang tiến hành du lịch sinh tháihay một hình thức du lịch nào khác Sự thiếu tiếp thị

quảng cáo cho du lịch sinh thái cũng là một nguyên nhânquan trọng kìm hãm sự phát triển

của du lịch sinh thái ở Việt Nam Thiếu tiếp thị, quảng cáo, tuyên truyền dẫn đến thiếu nhu

cầu trong thị trường Điều này lại dẫn đến sự thiếu động lực thúc đẩy các cơ quan chức trách

có thẩm quyền và các nhà đầu tư để họ quan tâm hơn đến việc ưu tiên đầu tư cho bảo tồn và

du lịchsinh thái

Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là sự kém phát triển của cơ sở hạ tầng

phục vụ du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng Tuy du lịch sinh thái và các khách

du lịch sinh thái không chú trọng lắm tới sự hiện đại của cơ sở vật chất, nhưng cần có sự

phục vụ tối thiểu để du khách không phải bận lòng mỗi khi cần đến chúng

Nhìn chung nguyên nhân quan trọng nhất gây trở ngại cho việc phát triển du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên lại là thiếu sự phối hợp kếi hợp giữa các cơ quan, các ngành, các cấp trong việc xây dựng các chính sách phát triển và quy hoạch

du lịch Du lịch sinh thái là một ngành du lịch liên quan đến nhiều lĩnh vực, cần phải có sự

kết hợp của nhiều ngành liên quan mới có thể phát triển đựơc cơ sở vật chất, nhưng cần có

sự phục vụ tối thiểu để du khách không phải bận lòng mỗi khi cần đến chúng

Trang 38

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU

Đồng Tháp có đường biên giới quốc gia với Campuchia dài khoảng 50km từ Hồng Ngự đến Tân Hồng, với 4 cửa khẩu (Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước) Hệ thống đường quốc lộ 30, 80, 45 cùng với quốc lộ N1, N2 gắn kết Đồng Tháp với Thành phố

Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực

Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.376km2 chiếm 8,2% diện tích toàn vùng ĐBSCL Dân

số năm 2011 là 1.673.184 người chiếm 9,5% dân số vùng Bên cạnh đó, vị trí địa lí của tỉnh còn đóng vai trò là cửa ngõ giao lưu kinh tế quan trọng trong và ngoài nước:

Quốc lộ 30 (QL) nối liền với QL1A với biên giới Việt Nam – Camphuchia thông thương giữa Tiền Giang, Long An và đặc biệt là với khu kinh tế trọng điểm phía Nam (tp Hồ Chí Minh; Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu); QL80 nối giữa Ql 1A và phà Vàm Cống; QL 54 nằm cặp sông Hậu kéo dài từ phà Vàm Cống đến Trà Vinh

Khu vực biên giới giữa Tân Hồng, Hồng Ngự với Camphuchia

Đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương mại, mở rộng thị trường giao lưu hàng hoá với nước bạn

2.1.2 Các đơn vị hành chính

Tính đến ngày 31 tháng 12, năm 2011, tỉnh Đồng Tháp có 12 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 9 huyện Trong đó có 8 thị trấn, 17 phường và 119

Trang 40

- Phù sa cổ: phân bố dọc theo biên giới Việt Nam – Campuchia, huyện biên giới Tân Hồng chiếm lượng lớn diện tích đất phù sa cổ trong tổng diện tích đất Đồng thời dạng phù

sa cổ này sẽ bị chìm dần vào các lớp phù sa mới Các huyện như Tam Nông và phía bắc huyện Tháp Mười lớp phù sa cổ nằm rất cạn bên trên mặt đất và được sử dụng chủ yếu trong quá trình phát triển sản xuất gạch ngói và gốm sứ bậc thấp

- Phù sa mới: được hình thành trong quá trình biển tiến và lùi với khoảng thời gian

6000 năm trước đây và đến nay Vật liệu trầm tích gồm: các lớp sét xám xanh, xám trắng hoặc nâu và cát Phù sa mới ở đây bao gồm 2 cấu trúc là lớp sét mặn xám xanh nằm phía dưới và lớp trầm tích lợ hoặc ngọt nằm ở phía trên

Nhìn chung, địa hình tỉnh Đồng Tháp bằng phẳng, phù hợp cho việc triển khai các công trình phục vụ sản xuất, phát triển giao thông Tuy nhiên, do địa bàn có nhiều kênh, rạch phải tốn kém nhiều chi phí làm cầu, nền đất yếu đòi hỏi chi phí gia cố nền móng cao, đặc biệt đối với các công trình cao tầng

b Địa hình

Địa hình Đồng Tháp tương đối đơn giản, chủ yếu là địa hình bằng phẳng của vùng đồng bằng Độ cao trung bình so với mực nước biển là 2m Địa hình tỉnh có dạng trũng do 2/3 diện tích nằm trong vùng trũng Đồng Tháp Mười vì thế hàng năm vẫn bị ngập nước sâu tới hàng mét vào mùa nước lũ Vùng bị ngập sâu tập trung ở phái Bắc sông Tiền là các huyện Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông và các huyện còn lại ở phía Nam lãnh thổ bao gồm Hồng Ngự, Cao Lãnh, Sa Đéc, …có địa hình cao nên không bị ảnh hưởng nhiều của nước

lũ Tại những vùng đất bị ngập nước hàng năm được bồi đắp phù sa nên nông nghiệp phát triển, người dân chủ yếu trồng lúa nước; còn ở vùng cao người dân lại sản xuất chủ yếu là hoa màu và cây ăn quả Ngoài ra trên đất Đồng Tháp còn có nhiều cồn cát tự nhiên mà sự hình thành với bao sự tích huyền thoại tạo nên các bãi tắm kì diệu như bãi tắm cồn Bình Thạnh trên sông Tiền, bãi tắm cồn Tiên trên sông Hậu

c Địa mạo

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu đặc trưng khí hậu tỉnh Đồng Tháp năm 2010 - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu đặc trưng khí hậu tỉnh Đồng Tháp năm 2010 (Trang 42)
Bảng 2.3.Tăng trưởng  GDP giai đoạn 2001 – 2010 - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
Bảng 2.3. Tăng trưởng GDP giai đoạn 2001 – 2010 (Trang 47)
Hình thành các tuy ến đường đối ngoại trên các QL 54, QL30, QL80, tỉnh lộ 847. Hệ thống  giao thông đường thuỷ liên kết được các vùng trong tỉnh và xuất hàng hoá ra bên ngoài - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
Hình th ành các tuy ến đường đối ngoại trên các QL 54, QL30, QL80, tỉnh lộ 847. Hệ thống giao thông đường thuỷ liên kết được các vùng trong tỉnh và xuất hàng hoá ra bên ngoài (Trang 52)
Bảng 2.5. Lượng khách du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2006 – 2010 - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
Bảng 2.5. Lượng khách du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 53)
Bảng 2.6. Doanh thu du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2006 - 2010 - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
Bảng 2.6. Doanh thu du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2006 - 2010 (Trang 55)
Bảng 2.8. Nguồn nhân lực du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2006 – 2011 - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
Bảng 2.8. Nguồn nhân lực du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2006 – 2011 (Trang 56)
Bảng 2.7. Thành phần doanh thu du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2000 - 2010 - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
Bảng 2.7. Thành phần doanh thu du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2000 - 2010 (Trang 56)
Bảng 2.9. Khách du lịch Vườn quốc gia Tràm Chim giai đoạn 2006 – 2011 - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
Bảng 2.9. Khách du lịch Vườn quốc gia Tràm Chim giai đoạn 2006 – 2011 (Trang 70)
Bảng 2.10. Khách du lịch đến KDL Gáo Giồng giai đoạn 2006 – 2011 - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
Bảng 2.10. Khách du lịch đến KDL Gáo Giồng giai đoạn 2006 – 2011 (Trang 71)
Bảng 2.12. Doanh thu du lịch tại VQG Tràm Chim 2006 – 2011 - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
Bảng 2.12. Doanh thu du lịch tại VQG Tràm Chim 2006 – 2011 (Trang 74)
Bảng 2.14. Doanh thu du lịch Xẻo Quýt giai đoạn 2006 – 2011 - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
Bảng 2.14. Doanh thu du lịch Xẻo Quýt giai đoạn 2006 – 2011 (Trang 75)
SƠ ĐỒ TUYẾN THAM QUAN  LỘ TRÌNH TUYẾN THAM QUAN  GIÁ VÉ THUÊ PHƯƠNG TIỆN THAM QUAN - phát triển du lịch sinh thái tỉnh đồng tháp
SƠ ĐỒ TUYẾN THAM QUAN LỘ TRÌNH TUYẾN THAM QUAN GIÁ VÉ THUÊ PHƯƠNG TIỆN THAM QUAN (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w