Gần đây có một số công trình nghiên cứu của các thạc sĩ và các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về văn hóa Bắc Ninh cho phục vụ phát triển du lịch như học viên Lê Thị Minh Quế học viên cao họ
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ TRUNG THU
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VĂN HÓA TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2013
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ TRUNG THU
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VĂN HÓA TỈNH BẮC NINH
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Du lịch (Chương trình đào tạo thí điểm)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS.NGUYỄN PHẠM HÙNG
Hà Nội, 2013
Trang 33
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………
1 Lý do chọn đề tài……… 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 10
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.……… 10
5 Phương pháp nghiên cứu……… 11
6 Cấu trúc của luận văn……… 11
7 Đóng góp của luận văn……… 11
Chương 1: ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC NINH……….…… 12
1.1 Tài nguyên du lịch……… 12
1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên… 12
1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn……… 18
1.1.2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể……… 18
1.1.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể……… 23
1.2 Điều kiện về hạ tầng xã hội……….……… 29
1.2.1 Giao thông……… 29
1.2.2 Hệ thống điện……… 31
1.2.3 Hệ thống cấp, thoát nước……… 32
1.2.4 Hệ thống thông tin liên lạc……… 33
1.3 Điều kiện cơ chế, chính sách phát triển về phát triển du lịch 33
1.4 Đánh giá chung ……… 38
1.4.1 Thuận lợi……… ……… 38
1.4.2 Khó khăn……… ……… 40
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1……… ……… 41
Trang 44
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC
NINH……… 42
2.1 Thực trạng về thị trường khách du lịch Bắc Ninh……… 42
2.1.1 Lượng khách du lịch……… 42
2.1.1.1 Khách quốc tế……… 44
2.1.1.2 Khách nội địa……… 46
2.1.2 Phân tích đặc điểm nguồn khách đến với Bắc Ninh……… 47
2.1.2.1 Thành phần, độ tuổi, giới tính……… 47
2.1.2.2 Quốc tịch……… 48
2.1.2.3 Mức độ chi tiêu……… 49
2.1.2.4 Thời gian lưu trú……… 50
2.1.3 Phân tích nhu cầu của khách……… 50
2.1.3.1 Du lịch tín ngưỡng tâm linh……… 50
2.1.3.2 Tham quan……… 52
2.1.3.3 Nghỉ dưỡng……… 53
2.1.3.4 Thưởng thức nghệ thuật……… 54
2.2 Thực trạng về khai thác các giá trị văn hóa phục vụ du lịch… 55
2.2.1 Khai thác quan họ phục vụ du lịch….……… 55
2.2.2 Khai thác làng nghề truyền thống phục vụ du lịch……… 62
2.2.3 Khai thác các giá trị của lễ hội truyền thống phục vụ du lịch…… 72
2.2.4 Khai thác giá trị các di tích lịch sử và những ngôi chùa cổ phục vụ du lịch văn hóa, du lịch hành hương và du lịch tâm linh tại Bắc Ninh……… 77
2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch văn hóa tỉnh…… 78
2.3.1 Hệ thống lưu trú ……… ……… 79
2.3.2 Hệ thống các dịch vụ khác (vui chơi giải trí, mua sắm…)…… 81
2.4 Nhân lực phục vụ cho du lịch văn hóa tỉnh……… 81
Trang 55
2.5 Tổ chức, quản lý và quy hoạch du lịch văn hóa tỉnh……… 83
2.5.1 Hiện trạng đầu tư phát triển khu, điểm du lịch……… 83
2.5.2 Các dự án đầu tư khác liên quan đến du lịch……… 87
2.6 Tuyên truyền, quảng bá cho du lịch văn hóa tỉnh……… 87
2.7 Tác động của du lịch đến các di sản văn hóa……… 90
2.7.1 Tác động tích cực……… 90
2.7.2 Tác động tiêu cực……… 93
2.8 Đánh giá chung hiện trạng phát triển du lịch văn hóa………… 102
2.8.1 Ưu điểm……… 102
2.8.2 Tồn tại, hạn chế……… 103
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2……… 105
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC NINH……… ……… ……… 106
3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp……… 106
3.1.1 Định hướng phát triển theo ngành……… 106
3.1.1.1 Định hướng phát triển thị trường……… 106
3.1.1.2 Định hướng phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù……… 106
3.1.2 Định hướng phát triển theo không gian, lãnh thổ……… 108
3.2 Những giải pháp phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh…… 110
3.2.1 Giải pháp cho thị trường du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh………… 110
3.2.1.1 Thị trường khách du lịch quốc tế……… 111
3.2.1.2 Thị trường khách du lịch nội địa……… 133
3.2.2 Giải pháp về xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa và sản phẩm du lịch đặc thù……… 114
3.2.3 Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa… 119 3.2.2.1 Về cơ sở lưu trú……… 120
3.2.2.2 Cơ sở vui chơi giải trí du lịch……… 121
Trang 66
3.2.4 Giải pháp về phát triển nhân lực trong du lịch văn hóa………… 121
3.2.5 Giải pháp về tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hóa……… 122
3.2.5.1 Các cơ quan quản lý nhà nước về phát triển du lịch văn hóa…… 122
3.2.5.2 Các cơ sở, đơn vị du lịch……… 126
3.2.5.3 Chính quyền địa phương……… 127
3.2.6 Giải pháp về xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa……… 128
3.2.7 Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa và tài nguyên du lịch văn hóa……… 130
3.2.7.1 Giải pháp vĩ mô… ……… 130
3.2.7.2 Giải pháp vi mô……….……… 131
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3……… ……… 132
KẾT LUẬN……… … 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………… 136
Trang 77
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 ASEAN Association of Southeast Asia Nations (Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á)
6 FDI Foreign Direct Investment (Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài)
9 ITDR Institute For Tourism Development Reseach (Viện Nghiên
cứu Phát triển Du li ̣ch )
10 MICE Meeting Incentive Conference Event (Loại hình du lịch kết
hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên)
11 ODA Official Development Assistance (Quỹ hỗ trợ Châu Á)
17 UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc)
Trang 87 Bảng 2.6 Cơ cấu thị trường khách du lịch nội địa đến
10 Bảng 2.9 Phân loại cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Bắc
11 Bảng 2.10 Lao động trong ngành du lịch tỉnh Bắc
Trang 9mở ra một xu hướng mới trong mối quan hệ giữa người với người, giữa các quốc gia với nhau, xu hướng hội nhập, hợp tác, phát triển Du lịch chính là cầu nối giúp thế giới tiến lại gần nhau hơn và cũng là thước đo chất lượng cuộc sống của mỗi con người
Trong những năm gần đây, thị trường châu Á đã và đang trở thành một thị trường hấp dẫn thu hút các quốc gia của các châu lục khác Đây là vùng đất còn nhiều điều cần được khám phá, đặc biệt là yếu tố văn hóa Trong dòng chảy này, Việt Nam với những di sản văn hóa có một vai trò hết sức quan trọng
Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa đa dạng trong thống nhất Ở đó có
sự giao lưu và tiếp biến giữa các nền văn hóa, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á với nền văn minh lúa nước Điều này được thể hiện rất rõ qua những yếu tố văn hóa bản địa và ngoại lai Có được đặc điểm này một phần là nhờ vào vị trí của đất nước ta – cửa ngõ Đông Nam Á, gần với Trung Quốc, phần khác phụ thuộc vào yếu tố con người thông minh, sáng tạo và sẵn sàng đón nhận những yếu tố văn hóa khác
Trước sự đa dạng độc đáo trong văn hóa Việt Nam, một loại hình du lịch mới đã ra đời, gắn liền với đời sống cư dân Việt và giải quyết được nhu cầu khám phá, tìm hiểu của khách nước ngoài nói riêng và khách du lịch nói chung, đó là loại hình du lịch văn hóa Đối với các nước đang phát triển trong
đó có Việt Nam, du lịch văn hóa được xem như là sản phẩm đặc thù, có thế
Trang 10Căn cứ vào thực trạng và tính cấp bách của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề
tài “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh” nhằm tìm ra
những định hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch văn hóa của tỉnh trong thời gian tới
Tác giả G Dumoutier với nghiên cứu về Hội Đền Gióng vùng Kinh Bắc xưa, hay trong cuốn “Bắc Ninh thổ tạp ký” ở thư viện Thông tin Khoa học Xã
Trang 1111
hội cũng có ghi chép về di tích lịch sử, hội hè, nghề thủ công và thổ sản dưới dạng địa chí Ngoài ra, sách cũng nêu lên hàng trăm bản hương ước của làng Việt ở vùng đất Kinh Bắc xưa, trong đó có ghi chép về hội hè, đình đám nhưng chủ yếu là hội làng và các lễ nghi thần thánh
Sau Cách mạng tháng Tám, vấn đề nghiên cứu về văn hóa Bắc Ninh không nhiều và tập trung chủ yếu vào dân ca Quan họ như năm 1969 có
nghiên cứu về Anh hùng làng Gióng của Cao Huy Đỉnh, Toan Ánh cũng cho
ra mắt cuốn sách “Hội hè đình đám” do nhà xuất bản Nam Chi phát hành vào các năm 1969, 1974 Năm 1972, trong cuốn “Một số vấn đề dân ca Quan họ” tác giả Lê Thị Nhâm Tuyết cũng có bài “Mấy ý kiến về vấn đề tìm hiểu dân ca
quan họ Bắc Ninh” Năm 1981, Tô Nguyễn – Trịnh Nguyễn có viết cuốn “Hà Bắc – Kinh Bắc” nội dung nói về lễ hội ở Hà Bắc Năm 1982, cuốn “địa chí
Hà Bắc” của tác giả Trần Linh Quý đã được xuất bản
Gần đây có một số công trình nghiên cứu của các thạc sĩ và các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về văn hóa Bắc Ninh cho phục vụ phát triển du lịch như học viên Lê Thị Minh Quế (học viên cao học du lịch khóa 4 – Khoa du lịch học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Hà
Nội) có viết luận văn tốt nghiệp với đề tài “Khai thác di sản văn hóa quan họ
Bắc Ninh phục vụ phát triển Du lịch”, học viên Đỗ Hải Yến (học viên cao
học du lịch khóa 5 – Khoa du lịch học, trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội) với đề tài tốt nghiệp “Bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa của các lễ hội ở Bắc Ninh phục vụ phát triển Du lịch”
hay học viên Vũ Thị Thúy (học viên cao học du lịch khóa 5 – Khoa du lịch học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Hà
Nội) viết đề tài “Nghiên cứu phát triển Du lịch làng gốm Phù Lãng ở Bắc
Ninh”vvv…Tuy nhiên các công trình đó chỉ tập trung vào vấn đề sưu tầm và
bảo tồn các giá trị văn hóa hoặc có chăng chỉ nghiên cứu một khía cạnh nào
Trang 1212
đó của văn hóa để phục vụ phát triển du lịch còn việc nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa của tỉnh Bắc Ninh nhằm bảo tồn và phục vụ phát triển du lịch thì chưa có một công trình nào được công bố Chính vì lẽ đó, tác giả đã chọn
đề tài của mình theo hướng nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa ở Bắc Ninh nhằm phục vụ phát triển du lịch
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
● Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh
● Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả luận văn đi vào phân tích các điều kiện để phát triển du lịch văn hóa tỉnh, nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch văn hóa của Tỉnh Từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa, cũng như bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch của Tỉnh
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
● Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn các điều kiện phát triển du lịch văn hóa;hiện trạng hoạt động du lịch văn hóa; Các tổ chức, quản lý, cơ sở vật
chất, sản phẩm du lịch văn hóa
● Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thực tế hoạt động du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi về thời gian: Số liệu, tài liệu thu thập tính từ thời điểm năm
2001 đến nay Các định hướng phát triển du lịch văn hóa của tỉnh và các giải pháp được đưa ra nhằm thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa
Trang 1313
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả thực hiện các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu
- Phương pháp thống kê, phân loại, so sánh
- Phương pháp khảo sát thực địa
Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du
lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh
7 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa giá trị tài nguyên du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh
- Qua khảo sát thực tế về hoạt động du lịch văn hóa của tỉnh từ đó đánh
giá điểm mạnh, điểm yếu của du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch
văn hóa tỉnh Bắc Ninh
Trang 1414
Chương 1: ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VĂN HÓA TỈNH BẮC NINH
1.1 Tài nguyên du lịch
1.1.1 Tài nguyên du lịch
Vị trí địa lý: Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội,
trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời Bắc Ninh có tọa độ là 21000' - 21005' Bắc, 105045' - 106015' Đông Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có các hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như quốc lộ 1A nối
Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn; Đường cao tốc 18 nối sân bay Quốc tế Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long; Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng; Trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc; Mạng đường thủy sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình rất thuận lợi nối Bắc Ninh với hệ thống cảng sông và cảng biển của vùng tạo cho Bắc Ninh
là địa bàn mở gắn với phát triển của thủ đô Hà Nội, theo định hướng xây dựng các thành phố vệ tinh và sự phân bố công nghiệp của Hà Nội Đây là những yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu của Bắc Ninh với bên ngoài
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh của cả nước, tạo cho Bắc Ninh nhiều lợi thế về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Là cửa ngõ phía Đông Bắc và là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung
du miền núi phía Bắc và trên hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long và có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng
Trang 1515
Thành phố Bắc Ninh chỉ cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 45 km, cách Hải Phòng 110 km Vị trí địa kinh tế liền kề với thủ đô Hà Nội, trung tâm kinh tế lớn, một thị trường rộng lớn hàng thứ hai trong cả nước, có sức cuốn hút toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, giá trị lịch sử văn hoá, đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước Hà Nội sẽ là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh về nông - lâm - thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ Bắc Ninh cũng là địa bàn
mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố vệ tinh, là mạng lưới gia công cho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Với vị trí địa kinh tế thuận lợi sẽ là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong những tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy quá trình đô thị hoá của tỉnh Bắc Ninh Xét trên khía cạnh cấu trúc hệ thống đô thị và các điểm dân cư của tỉnh thì các đô thị Bắc Ninh sẽ dễ trở thành một hệ thống hoà nhập trong vùng ảnh hưởng của thủ đô Hà Nội và có vị trí tương tác nhất định với hệ thống đô thị chung toàn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Điều kiện tự nhiên:
Địa hình: Địa hình tỉnh Bắc Ninh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc
chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3 – 7m, địa hình đồi núi sót có độ cao phổ biến 40 – 50m so với mực nước biển Diện tích đồi núi chiếm tỉ lệ rất nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Địa hình đồng bằng đã giúp hình thành nên những làng quê trù phú, thanh bình, đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ với những nét đậm đà bản
Trang 1616
sắc dân tộc Việt Địa hình này ở Bắc Ninh là nơi tập trung với mật độ dày đặc các di tích lịch sử văn hóa, các làng nghề truyền thống và các loại hình văn hóa dân gian đặc sắc, có giá trị hấp dẫn khách du lịch cả trong nước và quốc
tế
Địa hình đồi núi ở Bắc Ninh mặc dù chiếm tỷ lệ rất nhỏ và không tạo nên được những cảnh quan đặc sắc nhưng cũng làm giảm đi sự đơn điệu của địa hình đồng bằng Bên cạnh đó, một số khu vực có địa hình này còn là nơi hình thành các di tích lịch sử có giá trị như các chùa, đền mang ý nghĩa tâm linh quan trọng đối với người dân nơi đây Địa hình còn có điều kiện thuận lợi
để hình thành nên các khu vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng cuối tuần phục vụ khách du lịch nội địa từ thủ đô và các tỉnh thành lân cận
Khí hậu: Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông
lạnh Nhiệt độ trung bình năm 23,30C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,90C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,80C (tháng 1) Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,10
C
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1.400 – 1.600mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm
Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530 – 1.776 giờ, trong đó tháng có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng là tháng 1
Trên địa bàn tỉnh có 2 hướng gió chính: gió Đông Bắc và gió Đông Nam Gió Đông Bắc hoạt động từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Trong mùa gió Đông Bắc hoạt động, thời tiết đầu mùa thường hanh khô, cuối mùa ẩm ướt với mưa phùn đặc trưng cho mùa xuân ở miền Bắc Việt Nam Gió Đông Nam hoạt động từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm, gây mưa rào Thời gian gió Đông Nam thổi cũng là thời gian thường có bão ở khu vực
Trang 17Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu của Bắc Ninh thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động du lịch Khoảng thời gian có bão và mùa mưa phùn có ảnh hưởng đến một số hoạt động du lịch nhưng ảnh hưởng không lớn vì tính khắc nghiệt của các hiện tượng thời tiết này đã giảm bớt rất nhiều ở vùng đồng bằng Bắc Bộ trong đó có Bắc Ninh
Sông ngòi: Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống sông ngòi khá dày đặc Trên
địa bàn tỉnh có 3 hệ thống sông chính chảy qua gồm: sông Thái Bình, sông Cầu và sông Đuống
Sông Thái Bình có tổng chiều dài 93km, trong đó có đoạn chảy qua địa phận tỉnh Bắc Ninh dài 17km
Sông Cầu có tổng chiều dài 290km, trong đó có đoạn chảy qua địa phận Bắc Ninh dài 70km Đây là con sông có ý nghĩa quan trọng nhất trong phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Ninh
Sông Đuống có tổng chiều dài 65km, trong đó đoạn chảy qua địa phận tỉnh Bắc Ninh dài 42km
Trang 1818
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh còn có một số con sông nhỏ chảy qua như sông Cà Lồ, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cẩm Giàng, sông Dâu, sông Đông Côi…và nhiều ngòi lạch
Sông ngòi ở Bắc Ninh có vai trò là nguồn cung cấp nước và tiêu úng cho sản xuất nông nghiệp còn là tuyến giao thông đường thủy quan trọng của địa phương và các tỉnh lân cận
Bên cạnh đó, các sông này, đặc biệt là sông Thái Bình, sông Cầu và sông Đuống là sông chảy qua những làng mạc trù phú, có lịch sử phát triển lâu đời Hay nói cách khác, làng mạc, các khu quần cư của người Việt trên địa bàn Bắc Ninh đã hình thành dọc bờ các con sông này, cư dân nơi đây dựa vào sông và gắn bó với sông không chỉ qua các hoạt động phát triển kinh tế mà còn trong đời sống tinh thần Các di tích lịch sử văn hóa có giá trị ở Bắc Ninh hình thành cùng làng mạc dọc sông; các truyền thuyết dân gian, những làn điệu dân ca trữ tình hình thành nơi đây…tất cả tạo nên một bức tranh sinh động về làng quê Việt, là nguồn tài nguyên có giá trị khai thác hình thành các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước như sản phẩm du lịch làng quê, sản phẩm du lịch sông nước
Có thể nói, hệ thống sông ngòi là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị nhất ở Bắc Ninh không chỉ vì hệ thống này với vai trò giao thông, với tiềm năng hình thành và khai thác các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước như sản phẩm du lịch làng quê, sản phẩm du lịch sông nước
Tài nguyên du lịch tự nhiên của Bắc Ninh không nhiều do đặc điểm tự nhiên của tỉnh là địa hình đơn điệu, không có biển, không có rừng Các điều kiện tự nhiên ở đây có giá trị gắn kết với các giá trị văn hóa để tạo nên sức hấp dẫn riêng đối với du khách, ít có khả năng khai thác một cách độc lập để hình thành nên các sản phẩm du lịch riêng
Trang 1919
Ngoài tài nguyên du lịch sông nước dựa vào hệ thống sông ngòi đã đề cập ở trên, trên địa bàn tỉnh còn có cụm đồi thấp thuộc huyện Gia Bình có điều kiện thuận lợi để đầu tư khu vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần
Hệ động, thực vật: Nếu như Việt Nam được biết đến như là một trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú thì Bắc Ninh cũng đóng góp nhiều hệ sinh thái động, thực vật khá đa dạng Tuy
là một tỉnh có diện tích nhỏ của cả nước song Bắc Ninh cũng có một hệ sinh thái rừng, với tổng diện tích khoảng hơn 660 ha, phân bố chủ yếu ở các huyện Quế Võ, Tiên Du Tổng trữ lượng gỗ khoảng hơn 3.200m3, bao gồm rừng phòng hộ hơn 360m3, rừng đặc dụng gần 2.920m3 Đặc biệt có nhiều khu vực
có các hệ sinh thái tự nhiên như các hệ thống đầm, ao, hồ, sông ngòi khá dày đặc có vai trò cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, đồng thời còn tạo ra các mặt thoáng có tác dụng điều hòa không khí
Ở Bắc Ninh cũng có các nguồn gen quý là gà Hồ, gà Đông Cảo, gà ri là những giống gà quý của miền Bắc và khu bảo tồn sinh thái vườn cò Đông Xuyên (Yên Phong) Song do tác động của phát triển công nghiệp, quy hoạch
đô thị nên những hệ sinh thái tự nhiên này đang dần bị suy giảm Diện tích các khu vực có các hệ sinh thái quan trọng dần bị thu hẹp Nhiều vùng nước
bị lấp đầy để lấy mặt bằng sản xuất, xây dựng nhà ở Số loài và số lượng cá thể của các loại thực, động vật hoang dã có nguy cơ diệt vong, các nguồn gen hoang dã đang trên đà suy thoái nhanh
Chẳng hạn như giống gà Hồ hiện chỉ còn khoảng 200 con tương đối thuần chủng đang được nuôi ở thôn Lạc Thổ (thị trấn Hồ, Thuận Thành) Còn giống gà Đông Cảo, gà ri hầu như không còn tồn tại Vườn cò Đông Xuyên cũng đang bị suy giảm nghiêm trọng do tình trạng săn bắn bừa bãi
Mặc dù được cho là có nhiều loài quý hiếm cần bảo vệ nhưng Bắc Ninh
hệ động thực vật so với các vùng khác vẫn được đánh giá là ít tài nguyên và
Trang 2020
các biện pháp bảo tồn đang không có hiệu quả như đã nói ở trên Ngoài ra Bắc Ninh là một tỉnh có tốc độ đô thị hóa nhanh, chính vì thế diện tích đất cho công tác bảo tồn này càng ngày bị thu hẹp dần, nếu không có phương án cụ thể trong tương lai gần Bắc Ninh sẽ trở thành một tỉnh nghèo tài nguyên về hệ động thực vật
1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
1.2.2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể của tỉnh Bắc Ninh
Di tích lịch sử văn hóa: Với đặc điểm nổi bật là một trong những địa
phương mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Ninh có hệ thống tài nguyên nhân văn rất đa dạng và phong phú Trong đó, có giá trị nhất về mặt văn hóa, lịch sử và phát triển du lịch phải kể
đến hệ thống di tích lịch sử, văn hóa mà tiêu biểu là các đình, chùa
Toàn tỉnh có khoảng 1.259 điểm di tích Trong đó, tính đến 31/12/2011,
có 428 điểm di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng (gồm 191 di tích được công nhận là di tích cấp quốc gia và 237 di tích được công nhận di tích cấp địa phương)
Bảng 1.1: Phân bố di tích được công nhận cấp quốc gia và địa phương trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Tính đến 31/12/2011)
TT Huyện, thị xã,
thành phố
Diện tích (Km 2 )
Số được công nhận
Cấp di tích, mật độ Quốc
gia
Mật độ (di tích/km 2 )
Địa phương
Mật độ (di tích/km 2 )
Trang 2121
Trong tổng số 482 di tích được xếp hạng thì đình, chùa, đền là những loại hình chiếm số lượng đại đa số
Các di tích có giá trị tiêu biểu gồm:
1 Lăng và đền thờ Kinh Dương Vương – xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành (thờ Nam Bang Thủy Tổ - Kinh Dương Vương là cha của Lạc Long Quân, ông nội các Vua Hùng)
2 Lăng và đền thờ Cao Lỗ Vương – xã Cao Đức, huyện Gia Bình (thờ tướng quân Cao Lỗ thời An Dương Vương có công chế nỏ thần – Ông được coi
6 Đền Vua Bà – xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh (thờ thủy tổ Quan họ)
7 Đền Cô Mễ - phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh (thờ Bà Chúa Kho)
8 Đền thờ Lê Văn Thịnh – xã Đông Cứu, huyện Gia Bình (thờ Thái sư Lê Văn Thịnh – Thủ khoa về khoa cử đầu tiên ở Việt Nam)
9 Chùa Đại Bi – xã Thái Bảo, huyện Gia Bình (nơi trụ trì của Thiền sư Huyền Quang, một trong ba vị tam tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử)
10 Chùa Phật Tích – xã Phật Tích, huyện Tiên Du (đại danh lam cổ tự thời Lý
và là một trong những trung tâm Phật giáo cổ của Việt Nam)
11 Chùa Bút Tháp – xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành (Di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo)
Trang 2222
12 Chùa Tiêu – xã Hương Giang, thị xã Từ Sơn (nơi trụ trì của thiền sư Lý Vạn Hạnh có công nuôi, dạy Lý Công Uẩn – vị Vua khởi nghiệp nhà Lý thế kỷ XI)
13 Chùa Dâu – xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành (trung tâm Phật giáo đầu tiên của Việt Nam, có từ thế kỷ thứ II sau công nguyên)
14 Chùa Dạm – xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh (thờ Phật và bà Tấm – Nguyên phi Ỷ Lan Khởi dựng vào thế kỷ XI)
15 Chùa Bách Môn – xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du (công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo thời Lê)
16 Chùa Tổ - xã Hà Mãn huyện Thuận Thành (thờ Phật và Tổ Mẫu Man Nương sinh ra Tứ Pháp)
17 Chùa Khai Nghiêm – xã Vọng Nguyệt, huyện Yên Phong (nơi còn tấm bia
đá “Khai Nghiêm” có từ thế kỷ XIII)
18 Văn Miếu Bắc Ninh – Khu 10 phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh (nơi tôn thờ trên 600 vị Đại khoa xứ Kinh Bắc)
19 Đình Diềm – xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh (Ngôi đình có giá trị nghệ thuật kiến trúc gỗ và bức cửa võng độc đáo đứng hàng thứ 3 ở vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc)
20 Đình làng Đình Bảng – phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn (ngôi đình có nghệ thuật gỗ quy mô lớn, độc đáo đứng hàng thứ 2 ở vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc, hiện nay đình còn khá nguyên vẹn)
21 Thành cổ Luy Lâu – xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành (thành cổ thứ
2 của Việt Nam sau thành Cổ Loa)
22 Thành cổ Bắc Ninh – thành phố Bắc Ninh (là thành cổ quân sự, xây dựng năm 1802 theo đồ án hình lục giác)
Trang 2323
23 Bến Bình Than – xã Cao Đức, huyện Gia Bình (địa điểm hội nghị Bình Than, nơi các Vương Hầu nhà Trần họp bàn kế sách đánh giặc Nguyên lần thứ 2 năm 1285)
24 Bến Như Nguyệt – xã Tam Giang, huyện Yên Phong (nằm trong hệ thống phòng tuyến sông Như Nguyệt trong cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược năm 1077)
25 Khu di tích lưu niệm đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Tổng Bí thư Đảng CSVN thời kỳ 1938 – 1940 – xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn
26 Khu di tích lưu niệm gia đình đồng chí Ngô Gia Tự - Người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của Đảng ta – xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn.
Di sản văn hóa Tranh Đông Hồ: Tranh Đông Hồ hay tên đầy đủ là tranh
in từ bản khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới Thơ Tú Xương về tranh Đông Hồ ngày Tết có câu:
“Đì đoẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Om sòm trên vách bức tranh gà…”
Đặc điểm in ấn: Tranh được in hoàn toàn bằng tay với các bản màu; mỗi màu
dùng một bản, và bản nét (màu đen) in sau cùng Nhờ cách in này, tranh được
"sản xuất" với số lượng lớn và không đòi hỏi kỹ năng cầu kỳ nhiều Tuy
nhiên vì in trên ván gỗ một cách thủ công, nên tranh bị hạn chế về mặt kích thước, thông thường các tờ tranh không lớn quá 50 cm mỗi chiều
Giấy in và màu sắc: Trong bài thơ “Bên kia Sông Đuống”, Hoàng Cầm viết:
“Tranh Đông Hồ, gà lợn nét tươi trong, Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…”
(Trích: Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm)
Trang 2424
Ngoài các đặc điểm về đường nét và bố cục, nét dân gian của tranh Đông
Hồ còn nằm ở màu sắc và chất liệu giấy in Giấy in tranh Đông Hồ được gọi
là giấy điệp, người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn
- hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn,
hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp
tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng,
có thể pha thêm màu khác vào hồ trong quá trình làm giấy điệp Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như đen (than xoan hay than lá tre), xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe), đỏ (sỏi son, gỗ vang), v.v Đây
là những màu khá cơ bản, không pha trộn và vì số lượng màu tương ứng với
số bản khắc gỗ, nên thường thường tranh Đông Hồ chỉ dùng tới 4 màu mà thôi
Nội dung tranh gồm có 5 thể loại:
Tranh thờ: bộ ngũ sự
Tranh lịch sử: Hai Bà Trưng, Bà Triệu
Truyện tranh: Thánh Gióng, Truyện Kiều, Thạch Sanh
Phổ biến nhất là chúc tụng; ví như tranh Vinh hoa - Phú quý, Nghi xuân, Gà đàn (xem thêm Bảy bức tranh gà)
Tranh sinh hoạt: Đánh ghen, Chăn trâu, Thổi sáo, Nhà nông, Đám cưới
Chuột, Hái dừa Với các tranh có phần chữ Hán đi kèm thì ý nghĩa sáng tỏ hơn bao giờ hết Ví dụ như tranh Nhân nghĩa vẽ hình em bé ôm cóc có chú thích chữ "nhân nghĩa" ấy chính là lời cầu chúc cho các cháu bé được tặng tranh có được cái Nhân, cái Nghĩa như con cóc tía trong truyện cổ: mình mẩy tuy có thể xấu xí, bé nhỏ song dám lên kiện cả ông trời để đòi mưa cho dân làng Chính vì vậy tranh vẽ hình em bé ôm con cóc một cách trìu mến Không
Trang 251.1.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể của tỉnh Bắc Ninh
Di sản văn hóa phi vật thể “dân ca Quan họ Bắc Ninh”: Dân ca quan
họ Bắc Ninh là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, nguồn gốc ở vùng văn hóa Bắc Ninh Loại hình dân ca này chủ yếu phát triển mạnh ở vùng ven sông Cầu Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam Mỗi một bài quan họ đều có một giai điệu riêng Cho đến nay, có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký âm Các bài quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan
họ đã được khám phá Kho ghi âm hàng nghìn bài quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang
Ngày 30 tháng 09 năm 2009, tại kỳ họp thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 02 tháng 10 năm 2009), Dân ca Quan họ Bắc Ninh cùng với Ca trù được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản văn
Trang 26Định dạng vị trí địa lý miền quan họ: Theo kết quả điều tra và kiểm kê, năm 1962 có 72 nghệ nhân, trong đó có 50 người từng hát quan họ trước tháng 8 năm 1945, năm 1972 trong 27 làng quan họ ở Bắc Ninh còn gần 100 nghệ nhân đã tham gia sinh hoạt quan họ những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế
kỉ XX, năm 2003, riêng tỉnh Bắc Ninh có 59 nghệ nhân, có 6 nghệ nhân đề nghị phong danh hiệu báu vật nhân văn sống, nhưng nay 2 người đã chết, 4 người còn lại là Nguyễn Văn Thị, Ngô Thị Nhi,Vũ Thị Trịch, Nguyễn Thị Nguyên Năm 2008, theo kết quả kiểm kê 49 làng quan họ cổ có 1417 nghệ nhân và những người thực hành quan họ có độ tuổi từ 12 đến 98
Đến đầu thế kỉ XX, Dân ca quan họ Bắc Ninh được thực hành ở 49 làng
mà cộng đồng xác định là làng quan họ cổ, 44 làng hiện nay thuộc tỉnh Bắc Ninh: Bái Uyên, Duệ Đông, Hạ Giang, Hoài Thị, Hoài trung, Lũng Giang, Lũng Sơn, Ngang Nội, Vân Khám (huyện Tiên Du); Tam Sơn, Tiêu (huyện
Từ Sơn); Đông Mai, Đông Yên (huyện Yên Phong); Bồ Sơn, Châm Khê, Cổ
Mễ, Dương Ô, Đẩu Hàn, Điều Thôn, Đông Xá, Đỗ Xá, Hòa Đình, Hữu Chấp, Khà Lễ, Khúc Toại, Ném Đoài, Ném Sơn, Ném Tiền, Niềm Xá, Phúc Sơn, Thanh Sơn, Thị Chung, Thị Cầu, Thọ Ninh, Thượng Đồng, Trà Xuyên, Vệ An,Viêm Xá, Xuân Ái, Xuân Đồng, Xuân Ô, Xuân Viên, Y Na, Yên Mẫn (thành phố Bắc Ninh) Chỉ có 05 làng thuộc tỉnh Bắc Giang: Giá Sơn, Hữu Nghi, Nội Ninh, Mai Vũ, Sen Hồ (huyện Việt Yên)
Trang 2727
Ngoài ra ở 13 làng: Đình Cả, Đông Long, Khả Lý Thượng, Núi Hiếu, Mật Ninh, Quang Biểu, Tam Tầng, Thần Chúc, Tiên Lát Hạ, Tiên Lát Thượng, Thổ Hà, Trung Đồng, Vân Cốc (huyện Việt Yên) của tỉnh Bắc Giang, Dân ca quan họ Bắc Ninh cũng được thực hành Đây là những làng nằm trong vùng lan tỏa của di sản này
Đặc thù của quan họ: Dân ca quan họ Bắc Ninh là hát đối đáp nam nữ Hiện nay vẫn chưa có câu trả lời cuối cùng về thời điểm ra đời của dân ca quan họ trong lịch sử Đối chiếu lời của các bài quan họ trong sự phát triển của Tiếng Việt, có thể nghĩ rằng dân ca quan họ phát triển đến đỉnh cao vào giữa thế kỉ XVIII, Chủ nhân của quan họ là những người nông dân Việt (Kinh), chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước
Mỗi làng quan họ đều có lễ hội riêng, Quan họ tồn tại song hành cùng lễ hội làng, nơi mà người dân thờ thành hoàng, nữ thần, một đôi trường hợp là tín ngưỡng phồn thực
Trong số các lễ hội làng quan họ, hội Lim (thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) mở vào 13 tháng giêng âm lịch, là hội lớn nhất Những lễ hội này là những tài nguyên du lịch văn hóa đặc sắc của tỉnh giúp cho việc xây dựng sản phẩm du lịch thêm phong phú và hấp dẫn hơn
Lễ hội truyền thống tiêu biểu: Lễ hội truyền thống là đối tượng du lịch
văn hóa tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh Tính đến nay, trong số hơn 600 lễ hội lớn nhỏ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng hơn 40 lễ hội quan trọng, được duy trì tổ chức hàng năm Trong đó có 10 lễ hội có ý nghĩa đặc biệt và có tầm
Trang 287 Lễ hội Đền Đô – Đình Bảng, thị xã Từ Sơn để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ - 15/03 năm Canh Tuất 1010 và tưởng niệm các vị vua nhà Lý
8 Lễ hội Thập Đình của 10 xã thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình tổ chức từ ngày 05 – 09/02 âm lịch để kỷ niệm trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Doãn Công (Cao Doãn Công)
9 Lễ hội Đền Cao Lỗ Vương tổ chức vào ngày 10/03 ở làng Tiểu Than (làng Dựng) xã Vạn Ninh và làng Đại Than (làng Lớ) xã Cao Đức, huyện Gia Bình
10 Lễ hội chùa Dâu tổ chức vào ngày 08/04 hàng năm với ý nghĩa quan trọng nhất của hội Dâu là cầu cho mưa thuận gió hòa, ước vọng ngàn đời của cư dân nông nghiệp
Nhiều di tích lịch sử văn hóa trên đia bàn tỉnh Bắc Ninh, trong đó phần lớn là các đình, đền là nơi thờ các vị danh nhân tiền bối có công với đất nước, với địa phương, các vị trạng nguyên khoa bảng đã làm rạng danh quê hương, đất nước, tạo dựng truyền thống học tập cho quê hương ngày nay Các lễ hội
Trang 2929
tổ chức tại các đền, đình này hàng năm cũng là dịp để tưởng nhớ và tôn vinh các vị danh nhân này Các đối tượng này nếu khai thác tốt sẽ trở thành những sản phẩm du lịch giáo dục lịch sử và truyền thống hấp dẫn, có hiệu quả cao
Các làng nghề thủ công truyền thống: Bắc Ninh từ xa xưa đã nổi tiếng
là nơi có nhiều nghề thủ công với hơn 60 làng nghề khác nhau như làng nghề làm tranh, làm giấy rèn, đúc đồng, khảm trai, chạm khắc, dệt, sơn mài… Các nghề này không những làm giàu cho người dân Kinh Bắc mà còn góp phần quan trọng hình thành nên hình ảnh của những người “con gái Kinh Bắc” mà khi nhắc đến là người ta hình dung ra những người con gái xinh đẹp, đảm
đang, tháo vát, khéo léo và hát hay
Nhiều nghề truyền thống ở Bắc Ninh hiện nay đã mai một do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, xã hội, một số nghề còn tồn tại nhưng quy mô nhỏ, chỉ góp phần cải thiện kinh tế gia đình Làng nghề thủ công truyền thống là một trong những địa điểm thu hút khách du lịch nhưng không phải làng nghề nào cũng có thể tổ chức đưa khách đến Nhiều nghề nếu được gìn giữ, khôi phục
sẽ góp phần phát triển kinh tế của cả làng, xã và một số nghề còn có khả năng khai thác để phục vụ nhu cầu hiểu biết, tham quan của khách du lịch như nghề khảm trai, sơn mài, làm tranh, mây tre đan, dệt, gỗ mỹ nghệ, đồ đồng mỹ nghệ
Trên thực tế, những nghề có thể khai thác phục vụ khách du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh không còn làng nghề mà chỉ còn một đến một vài gia đình giữ được nghề Vì vậy rất khó khăn để xây dựng các sản phẩm du lịch phục
vụ du khách Hiện nay, một số gia đình còn giữ được nghề truyền thống như nghề tranh ở Đông Hồ, nghề làm gốm ở Phù Lãng, mặc dù quy mô nhỏ nhưng
do tính chất độc đáo của nghề và sản phẩm nên vẫn tạo dựng được thương hiệu với khách du lịch Nếu các nghề này được khôi phục thành làng như khởi thủy thì giá trị đối với du lịch sẽ rất lớn Công nghệ in tranh bằng bản khắc gỗ
Trang 3030
như tranh Đông Hồ chỉ còn một loại tranh Hàng Trống – Hà Nội nhưng mẫu
mã và phương thức, nguyên liệu khác biệt nên về cơ bản, làng tranh Đông Hồ không có sự trùng lặp về sản phẩm Nghề làm gốm ở Phù Lãng có khó khăn hơn do có nét tương đồng về sản phẩm với làng gốm Bát Tràng ở Hà Nội và làng gốm Đông Triều ở Quảng Ninh, thêm vào đó, 3 làng gốm này đều nằm trên hoặc gần trục đường quan trọng đón khách du lịch nên có sự cạnh tranh trong khai thác hoặc phục vụ du lịch Tuy nhiên, nếu có định hướng rõ ràng
để phát huy những nét độc đáo, khác biệt của sản phẩm gốm thì sẽ tiếp tục khẳng định tên tuổi trong lĩnh vực du lịch và mang lại hiệu quả cao cho người làm nghề
Nhìn chung, tài nguyên du lịch của Bắc Ninh khá phong phú và có giá trị, đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn với 7 nét đặc trưng văn hóa tiêu biểu là: quê hương của dân ca Quan họ - Di sản văn hóa thế giới; văn hóa tâm linh; lịch sử văn hiến; lễ hội; khoa bảng; làng nghề và kiến trúc Đây là những giá trị nền tảng cho du lịch Bắc Ninh phát triển
Văn hóa ẩm thực: Mảnh đất Bắc Ninh là cái nôi văn hoá xứ Kinh Bắc
với những làng Việt cổ, những lễ hội truyền thống và những làn điệu dân ca quan họ Ẩm thực nơi đây cũng vì thế mà mang phong vị riêng đậm đà, hấp dẫn và quyến rũ như chính cái duyên của người Quan họ Chính vì thế khi nói đến văn hóa ẩm thực món ăn không chỉ đơn thuần là nói đến các món ăn đặc sản nổi tiếng như: bánh phu thê Đình Bảng, bánh khúc làng Diềm hay gà Đông Cảo hoặc món gà Hồ ngon nổi tiếng mà khi nói đến văn hóa ẩm thực Bắc Ninh nhất thiết phải đề cập đến không gian của làng quê Kinh Bắc với phong tục cổ của người Việt Trong mỗi bữa tiệc liên hoan hay những hội hè, đình đám đều không thể thiếu những liền anh liền chị, trong chiếc áo mớ ba
mớ bảy ngân nga làn điệu quan họ “Miếng trầu là đầu câu chuyện” Làn
điệu mời trầu của anh hai, chị ba quan họ đón chào bạn ngay khi bạn tham gia
Trang 3131
các buổi tiệc tại đây Ngoài ra, trong các lễ hội văn hóa dày đặc của miền quê Kinh Bắc không thể thiếu được các món ăn truyền thống để phục vụ người tham dự như một món quà thể hiện sự hiếu khách khi bạn đến với vùng quê giàu truyền thống này
1.2 Điều kiện về hạ tầng xã hội
Cơ sở hạ tầng là đòn bẩy thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước Đối với ngành du lịch, cơ sở hạ tầng là yếu tố cơ sở nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng du lịch, nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch Trong kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật quan trọng nhất là mạng lưới phương tiện giao thông vận tải, hệ thống cung cấp điện năng, cấp thoát nước và thông
tin liên lạc trong đó có mạng lưới giao thông được đặt lên hàng đầu
thuộc loại cao so với bình quân cả nước, trong đó:
Có 3 tuyến quốc gia gồm Quốc lộ 1 (AH1) đoạn qua Bắc Ninh dài 19km, Quốc lộ 18 đoạn qua Bắc Ninh dài 26,2km và Quốc lộ 38 đoạn qua Bắc Ninh dài 23km và đường cao tốc Bắc Ninh – Nội Bài đoạn chạy qua Bắc Ninh dài 17km Các tuyến quốc lộ qua Bắc Ninh là các tuyến quan trọng nối thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và Đông Bắc của đất nước Đặc biệt,
Trang 3232
tuyến giao thông Quốc lộ 1 và Quốc lộ 18 có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng của tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh có 12 tuyến đường tỉnh lộ gồm các tuyến TL 270, 271, 272,
280, 281, 282, 283, 284, 286, 291, 295, 295B với tổng chiều dài khoảng 290km Đường huyện lộ và đường nội thị có tổng chiều dài 514km Đường trục xã có diều dài 755km Đường thôn xóm có chiều dài 2.329km
Nhìn tổng thể, hệ thống giao thông của tỉnh Bắc Ninh có một số đặc điểm cơ bản sau:
Về mạng lưới: Được hình thành từ nhiều năm trước đây nhưng cơ bản
là khá hợp lý về quy hoạch mạng lưới chung, đảm bảo cho xe ô tô đi từ tỉnh đến các xã, các thôn trong toàn tỉnh và liên hoàn với mạng lưới giao thông quốc gia Liên hệ với đường sắt và đường sông cũng có các tuyến đường bộ được nối với các cảng, ga và bến bãi ven sông
Về tình trạng kỹ thuật đường bộ: Trừ các tuyến quốc lộ, còn lại các
tuyến đường địa phương nhìn chung chưa tốt, nền đường, mặt đường hẹp Tỉnh lộ chủ yếu mới đạt tiêu chuẩn đường cấp 5 đồng bằng (nền rộng 6,5m, mặt rộng 3,5m), còn các tuyến đường xã, đường trong thôn xóm chỉ đạt cấp
B, cấp A nông thôn (nền rộng 4-5m, mặt rộng 3m) Hiện tại chỉ có các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và một số tuyến đường huyện được trải nhựa, còn lại đa số vẫn là đường đất hoặc cấp phối các loại, tuy nhiên hầu hết các tuyến đường nội thôn, xóm hầu như đã được gạch hóa hoặc bê tông hóa Các tuyến đường nội khu công nghiệp đến nay cơ bản được xây dựng đảm bảo quy hoạch và tải trọng cao
Về đường sông: Bắc Ninh có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu dài
70km, sông Đuống dài 42km và sông Thái Bình dài 17km Cả 3 con sông này đều có khả năng cho các phương tiện thủy có tải trọng 200 – 400 tấn đi qua,
Trang 3333
riêng sông Cầu còn 10km thượng nguồn vào mùa khô chỉ có khả năng cho thuyền 50 tấn đi qua
Trên mạng lưới đường sông của Bắc Ninh hiện tại có 3 cảng lớn là:
Cảng Đáp Cầu (do Cục đường sông quản lý): có bãi chứa 2ha, trước đây
lượng hàng lưu thông qua là 200.000 tấn/năm, nay chỉ còn 100.000 tấn/năm chủ yếu là vật liệu xây dựng
Cảng chuyên dùng nhà máy kính Đáp Cầu: có công suất trên 30.000 tấn/năm Cảng chuyên dùng nhà máy kính nổi Quế Võ tại Đáp Cầu: có công suất
35.000 tấn/năm
Ngoài 3 cảng này còn có nhiều bãi xếp dỡ vật liệu khai thác cát chưa được đầu tư xây dựng như: Hồ, Đông Xuyên, Kênh Vàng… hàng năm xếp dỡ một lượng hàng lớn, chủ yếu là vật liệu xây dựng
Về đường sắt: Bắc Ninh có tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn chạy
qua dài gần 20km với 4 ga, chất lượng đường và ga đều đã xuống cấp, khả năng sử dụng khai thác hạn chế, các ga chủ yếu tiếp nhận một số hàng vật liệu xây dựng, phân bón và hàng tiêu dùng, lượng hành khách qua lại ngày càng
có xu hướng giảm Hiện nay, Bắc Ninh đang xây dựng tuyến đường sắt Yên Viên – Hạ Long, đoạn qua Bắc Ninh dài 18km với 2 ga là Nam Sơn và Châu Cầu
Về đường hàng không: Bắc Ninh không có cảng hàng không nhưng
cảng hàng không quốc tế Nội Bài chỉ cách thành phố Bắc Ninh khoảng 40km (tương đương khoảng cách đến trung tâm thành phố Hà Nội) về phía Tây và cách thị xã Từ Sơn 25km với tuyến đường cao tốc Nội Bài – Bắc Ninh hiện đại và thuận lợi cho du khách đến Bắc Ninh bằng đường không
1.2.2 Hệ thống điện
Bắc Ninh có hệ thống điện lưới từ tỉnh về đến huyện, xã và từng thôn xóm được xây dựng đáp ứng nhu cầu điện sinh hoạt cho nhân dân trên địa bàn
Trang 3434
tỉnh Tuy nhiên trước đây mạng lưới điện không đồng bộ, chất lượng kém, không đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, trong đó có du lịch Thời gian qua, ngành điện của tỉnh đã đầu tư 400 tỷ đồng để xây dựng cải tạo hệ thống điện Đến nay toàn tỉnh có 173,4km đường dây 110KV, 465,3km đường dây 35KV, 65,2km đường dây 6 – 10 – 22KV và 2.117km đường dây 0,8KV Nhìn chung hệ thống điện đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về điện
phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
1.2.3 Hệ thống cấp, thoát nước
Cấp nước: Nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trước đây khá
phong phú với trữ lượng đạt hơn 235 ngàn mét khối một ngày đêm Bên cạnh
đó, với mạng lưới sông ngòi dày đặc, Bắc Ninh có trữ lượng nước mặt lớn với hàm lượng khoáng chất đảm bảo khai thác cấp nước sinh hoạt Tuy nhiên thời gian gần đây do việc khai thác nước ngầm phục vụ công nghiệp và đô thị còn thiếu kiểm soát nên ảnh hưởng nhiều đến trữ lượng nước ngầm, đặc biệt vào
mùa khô
Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 7 nhà máy nước với tổng công suất 50.500m3/ngày, cung cấp nước sạch đủ cho thành phố Bắc Ninh, một số cụm dân cư tại các thị trấn Phố Mới, thị xã Từ Sơn, thị trấn Lim, thị trấn Thứa và thị trấn Hồ Bên cạnh đó ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đã triển khai một số dự án cấp nước sinh hoạt tập trung, chủ yếu cho các khu vực dân
cư nông thôn Các khu vực khác hiện tại vẫn dùng nước giếng khoan Vấn đề này cần được cải thiện để một mặt phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt của người dân, nhu cầu nước sản xuất của các doanh nghiệp và mặt khác đảm bảo nhu cầu của khách du lịch
Thoát nước: Hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa có nhà máy xử lý nước thải
sinh hoạt Tỉnh đang đầu tư xây dựng tuyến thu gom và nhà máy xử lý nước thải tại thành phố Bắc Ninh và thị xã Từ Sơn Các đô thị còn lại đang sử dụng
Trang 3535
hệ thống thoát nước chung với nước mưa, chủ yếu sử dụng hệ thống rãnh xây nắp đan, các cống này đều được xây dựng từ lâu nên đã hư hỏng nhiều, không
đảm bảo thoát nước trong mùa mưa
1.2.4 Hệ thống thông tin liên lạc
Cùng chung đặc điểm như phần lớn các địa phương khách trên cả nước, Bắc Ninh có dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển mạnh, đảm bảo liên lạc thông suốt Không những thế, hệ thống thông tin liên lạc của tỉnh vẫn tiếp tục được hiện đại hóa, đã đầu tư thêm 1 tổng đài, 17 trạm truyền dẫn cáp quang đến tất cả các huyện thị, 99 điểm bưu điện văn hóa xã và 149 điểm bưu điện văn hóa thôn, rút ngắn bán kính phục vụ xuống dưới 1km/điểm phục vụ, thấp hơn mức bình quân cả nước Bắc Ninh cũng là một trong những tỉnh đầu tiên trong cả nước xây dựng và đưa vào sử dụng cổng giao tiếp điện tử, bán điện
tử phục vụ cho công tác quản lý và hiện đại hóa dịch vụ thông tin
Nhìn chung, cơ sở hạ tầng ở Bắc Ninh có nhiêu thuận lợi nhưng bên cạnh đó không tránh khỏi những hạn chế Vì vậy trong thời gian tới cần đầu
tư cho thành phần này để đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu của du lịch của tỉnh
1.3 Điều kiện cơ chế, chính sách về phát triển du lịch
Cùng sự nghiệp đổi mới của đấ t nước hơn 20 năm qua , ngành d u li ̣ch đã có nhiều tiến bô ̣ và đa ̣t được những thành tựu đáng ghi nhâ ̣n Những chỉ tiêu về khách , thu nhâ ̣p , tỷ trọng GDP và việc làm đã khẳ ng đi ̣nh vai trò của ngành du li ̣ch trong nền kinh tế quốc dân Không thể phủ nhâ ̣n , ngành du li ̣ch đã góp phần quan tro ̣ng vào tăng trư ởng kinh tế , xoá đói, giảm nghèo , đảm bảo an sinh xã hội , bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá , bảo vệ môi trường v à giữ vững an ninh , quốc phòng
Xu hướng hô ̣i nhâ ̣p , hợp tác, cạnh tranh toàn cầu , giao lưu mở rô ̣ng và tăng cường ứng dụng khoa ho ̣c công nghê ̣ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới và khu v ực đã và đang ta ̣o những cơ hô ̣i đồng t hời cũng là thách thức đối
Trang 36Đánh giá của Viê ̣n Nghiên cứu Phát triển d u lịch (ITDR) về những thành công và hạn chế trong phát tri ển du lịch thời gian qua có th ể rút ra bài học kinh nghiệm định hướng cho giai đoạn tới là : thứ nhất , lấy hiệu quả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường là mục tiêu phát triển tổng thể; thứ hai, chất lươ ̣ng s ản phẩm và thương hiê ̣u là yếu tố quyết đi ̣nh ; thứ ba , doanh nghiê ̣p là đô ̣ng lực chính c ủa quá trình phát triển và thứ tư , phân cấp và liên kết là trọng tâm quản lý
Trong giai đoa ̣n tới , du li ̣ch Viê ̣t Nam tiếp t ục duy trì quan điểm phát triển bền vững v ới mục tiêu phát triển du li ̣ch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và đưa Vi ệt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn và có đẳng cấp trong khu vực Để đạt mục tiêu đó, ngành du lịch cần đặt trọng tâm vào phát triển
du lịch có chất lượng, có thương hiệu , có tính chuyên nghiệp và hiê ̣n đa ̣i trên
cơ sở khai thác tối ưu nguồn lực và lợi thế quốc gia , phát huy tính liên ngành , liên vùng và xã hô ̣i hóa và vai trò đô ̣ng lực của các doanh nghiê ̣p
Đối với phát triển sản phẩm và định hướng thị trường c ần tập trung xây dựng hệ thống s ản phẩm du lịch đặc trưng và ch ất lượng cao trên cơ sở phát huy giá trị tài nguyên du lịch độc đáo, có thế mạnh nổi trội Ưu tiên phát tr iển
du li ̣ch biển ; phát triển du lịch văn hóa làm nền tảng , phát triển du lịch sinh thái, du li ̣ch xanh , du li ̣ch có trách nhiê ̣m ; liên kết phát triển sản phẩm khu vực gắn với các hành lang kinh tế
Trang 3737
Xác định thị trường mục ti êu với phân đoa ̣n thi ̣ trường theo mục đích
du li ̣ch và khả năng thanh toán ; ưu tiên thu hút khách du l ịch có khả năng chi trả cao, có mục đích du lịch thuần tuý , lưu trú dài ngày Phát triển thị trường nội địa chú trọng khách nghỉ dưỡng , giải trí, lễ hội, mua sắm Tâ ̣p trung thu hút thị trường khách quốc tế gần đến từ Đông Bắc Á (Trung Quốc , Nhật Bản, Hàn Quốc ), Đông Nam Á và Thái bình dương (Singapore, Malaysia, Inđônêxia, Thái Lan, Úc); Tăng cường khai thác thi ̣ trường kh ách cao cấp đến từ Tây Âu (Pháp, Đức, Anh, Hà Lan, Ý, Tây Ban Nha, Scandinavia), Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) và Đông Âu (Nga, Ucraina); mở rô ̣ng thi ̣ trường t ừ Trung Đông
Phát triển các thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu điểm đến nổi bật để từng bước tạo dựng hình ảnh, thương hiệu cho Du lịch Việt Nam Trướ c hết, Nhà nước s ẽ tâ ̣p trung hỗ trơ ̣ phát triển các thương hiê ̣u du li ̣ch có tiềm năng như : Saigontourist , Vinpearl Land , Hạ Long, Phú Quốc, Mũi Né, Hội An, Huế, Sapa, Đà La ̣t
Tập trung đẩy mạnh và chuyên nghiê ̣p hóa công tác xúc ti ến quảng bá
du lịch nhằm vào thi ̣ trường mục tiêu theo hướng l ấy điểm đến , sản phẩm du lịch và thương hiệu du lịch làm tiêu điểm Các chương trình , chiến dịch quảng
bá đư ợc triển khai tâ ̣p trung vào các nhóm thi ̣ trường ưu tiên Cơ quan xú c tiến du li ̣ch quốc gia có vai trò chủ đa ̣o trong viê ̣c hoa ̣ch đi ̣nh chương trình xúc tiến quảng bá quốc gia và huy động các tổ chức , doanh nghiê ̣p chủ đô ̣ng tham gia theo cơ chế “cùng mục tiêu , cùng chia sẻ”
Coi trọng phát triển nguồn nhân lực du l ịch đáp ứng yêu cầu về ch ất lượng, hơ ̣p lý v ề cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo để đảm bảo tính chuyên nghiê ̣p , đủ sức cạnh tranh và hội nhập khu vực, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch; tập trung đào ta ̣o nhân lực bâ ̣c cao , đô ̣i ngũ quản
Trang 38Đầu tư phát triển du lịch có trọng tâm , trọng điểm theo đ ịnh hướng ưu tiên; tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực và chất lượng cung ứng du lịch, kết cấu
hạ tầng, xúc tiến quảng bá và xây dựng thương hiệu du lịch Các chương trình
ưu tiên tâ ̣p trung đầu tư như :
(1) Chương trình đầu tư ha ̣ tầng du li ̣ch ;
(2) Chương trình phát triể n nguồn nhân lực du li ̣ch ;
(3) Chương trình xúc tiến quảng bá du li ̣ch ,
(4) Chương trình phát triển s ản phẩm và thương hiê ̣u du li ̣ch ;
(5) Đề án phát triển du lịch biển , đảo và vùng ven biển ;
(6) Đề án phát triển du lịch biên giới ;
(7) Đề án phát triển du lịch cộng đồng , du lịch sinh thái ;
(8) Chương trình ứng phó với biến đổi khí hâ ̣u trong ngành du l ịch, (9) Quy hoạch tổng thể phát triển du li ̣ch cả nước, quy hoa ̣ch phát triển
du lịch theo vù ng và khu du li ̣ch quốc gia ;
(10) Chương trình điều tra , đánh giá, phân loa ̣i và xây dựng cơ sở dữ liê ̣u về tài nguyên du li ̣ch và tài khoản vê ̣ tinh du li ̣ch
Trang 3939
Có thể kể đến một số văn bản pháp quy về phát triển du lịch như: nghị
quyết số 45/CP ngày 22/6/1993 của thủ tướng chính phủ về đổi mới quản lý
và phát triển du lịch, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ
1995 – 2010, luật du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của quốc hội nước CHXHCN Việt Nam…Và năm 2011, tổng cục du lịch Việt Nam đã hoàn
thiện Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020, tầm nhìn
2030
Để hiê ̣n thực hóa những đi ̣nh hướng phát triển nêu trên cần có giải pháp triê ̣t đ ể từ phía Nhà nước , trước hết cần hoàn thiê ̣n cơ chế , chính sách theo hướng khuyến khích phát triển ; tăng cường hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân , phân cấp ma ̣nh về cơ sở , khai thác tốt tính chủ đô ̣ng , năng đô ̣ng của doanh nghiệp v ới vai trò kết nối của hô ̣i nghề nghiê ̣p ; tăng cường kiểm soát chất lượng, bảo vệ và tôn vinh thương hiệu ; huy đô ̣ng tối đa nguồn lực về tài nguyên, tri thức, tài chính trong và ngoài nước , tăng cường hợp tác quốc tế
và ứng dụng khoa học công nghệ , đă ̣c biê ̣t là trong phát triển thương hiê ̣u và xúc tiến quảng bá ; tăng cường năng lực và hiê ̣u quả quản lý ở mỗi cấp và liên ngành, liên vùng ; nâng cao nhâ ̣n thức ; hình thành những tập đoàn, tổng công
ty du li ̣ch đầu tàu, có tiềm lực mạnh
Với những chính sách và chiến lược của Đảng và nhà nước, của ngành
du lịch như vậy đã tạo điều kiện phát triển rất tốt cho ngành du lịch Việt Nam nói chúng và tỉnh Bắc Ninh nói riêng, tỉnh sẽ dựa vào những cơ chế, chính sách đó thực hiện định hướng phát triển trong các lĩnh vực quy hoạch đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống… nhằm phát triển du lịch văn hóa của mình
Trang 4040
1.4 Đánh giá chung
1.4.1 Thuận lợi
Trên cơ sở những phân tích về vị trí, về các điều kiện tự nhiên, tài
nguyên du lịch và hạ tầng xã hội, hạ tầng cơ sở của tỉnh Bắc Ninh cho phát triển du lịch, có thể đưa ra một số nhận định cơ bản sau:
Tỉnh Bắc Ninh có điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch gồm:
Du lịch văn hóa phục vụ nhu cầu khách quốc tế và khách nội địa với các hoạt động chủ yếu là tham dự lễ hội, tham quan các điểm mang tính chất tâm linh như đền, chùa, tìm hiểu lịch sử, văn hóa khoa bảng và giáo dục truyền thống đối với khách nội địa; Tìm hiểu tôn giáo, văn hóa quan họ , nghiên cứu các danh nhân văn hóa và văn hóa khoa bảng, thưởng thức các làn điệu quan
họ, tham quan các di tích lịch sử văn hóa, các công trình kiến trúc nghệ thuật trên địa bàn tỉnh đối với khách quốc tế Các di tích lịch sử quan trọng cần khai thác phục vụ phát triển các loại hình du lịch văn hóa tiêu biểu bao gồm: chùa Phật Tích, đền Đô (đền Lý Bát Đế), đền thủy tổ quan họ làng Diềm, đền bà Chúa Kho, chùa Bút Tháp, chùa Dâu, lăng Kinh Dương Vương, đền Lê Văn Thịnh, đền thờ Huyền Quang, đền thờ Cao Lỗ Vương…Để phát triển được loại hình này, cần phải có những chính sách đầu tư, tôn tạo các di tích lịch sử, nghiên cứu tổ chức các hoạt động dành cho khách du lịch phù hợp với từng đối tượng khách tham quan và từng thời điểm…trong đó đặc biệt chú trọng khai thác kết hợp bảo tồn các giá trị di sản văn hóa phi vật thể của thế giới
“Quan họ Bắc Ninh”
Du lịch vui chơi giải trí cuối tuần và thể thao phục vụ du khách nội địa với các hoạt động chính là tham gia các trò chơi cả hiện đại và dân gian, nghỉ ngơi thư giãn cuối tuần và kết hợp tham quan, mua sắm tại các trung tâm mua sắm Để có được các loại hình này, tỉnh cần đầu tư xây dựng các khu vui chơi