1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

giáo án lịch sử cơ bản lớp 10 tập 2

258 500 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 258
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu bài mới Đầu thế kỉ XVI, nhất là sau khi vua Lê Hiến Tông mất, xã hội phong kiến Đại Việt mất dần cảnh thịnh trị, kinh tế sa sút, nhân dân đói khổ, các thế lực phong kiến tran

Trang 2

Từ năm học 2007 – 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành sách giáo khoa (SGK) Lịch sử 10 mới theo chương trình cải cách Nhằm hỗ

trợ cho việc dạy – học môn Lịch sử 10 theo chương trình mới, chúng tôi cho ra

mắt bạn đọc cuốn Thiết kế bμi giảng Lịch sử 10, tập 1, 2 Sách giới thiệu cách

thiết kế bài giảng Lịch sử 11 theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học nhằm

phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh (HS)

Về Nội dung : Sách bám sát nội dung sách giáo khoa Lịch sử 10 chương trình

cái cách gồm 40 bài Ngoài ra sách có mở rộng, bổ sung thêm một số nội dung

liên quan đến bài học bằng nhiều hoạt động nhằm cung cấp thêm tư liệu để các

thầy, cô giáo tham khảo vận dụng tuỳ theo đối tượng học sinh từng địa phương

Về phương pháp dạy – học : Sách được triển khai theo hướng tích cực hóa

hoạt động của học sinh, lấy cơ sở của mỗi hoạt động là những việc làm của học

sinh dưới sự hướng dẫn, gợi mở của thầy, cô giáo Sách cũng đưa ra nhiều hình

thức hoạt động hấp dẫn, phù hợp với đặc điểm môn học, đảm bảo tính chân thực

và khoa học giúp các em lĩnh hội kiến thức lịch sử một cách có chất lượng nhất,

nhớ bài và thuộc bài ngay trên lớp Đồng thời sách còn chỉ rõ hoạt động cụ thể

của giáo viên và học sinh trong một tiến trình Dạy – học, coi đây là hai hoạt

động cùng nhau trong đó cả giáo viên (GV) và học sinh đều là chủ thể

Chúng tôi hi vọng cuốn sách này sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các

thầy, cô giáo dạy môn Lịch sử 10 trong việc nâng cao hiệu quả bài giảng của

mình và rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và bạn

đọc gần xa để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn

tác giả Lời nói đầu

Trang 3

Phần hai

Lịch sử việt nam từ nguồn gốc

đến giữa thế kỉ XIX (tiếp theo)

Chương III

Việt nam từ thế kỉ xvi đến thế kỉ xviii

Bài 21 những biến đổi của nhμ nước phong kiến

Trong các thế kỉ xvi – xviii

A Mục tiêu bμi học

• Bồi dưỡng cho HS ý thức xây dựng và bảo vệ đất nước thống nhất

• Bồi dưỡng cho các em tinh thần và ý thức cộng đồng dân tộc

3 Kĩ năng

Trang 4

• Rèn luyện cho HS kĩ năng nhận định, phân tích, tổng hợp so sánh các sự kiện lịch sử

2 Kiểm tra bài cũ

+ Em hãy trình bày tóm lược về sự phát triển giáo dục qua các thời Đinh, Tiền

Lê, Lý, Trần, Hồ và Lê sơ

+ Em hãy nêu những thành tựu văn học, nghệ thuật ở các thế kỉ XI – XV

3 Giới thiệu bài mới

Đầu thế kỉ XVI, nhất là sau khi vua Lê Hiến Tông mất, xã hội phong kiến Đại Việt mất dần cảnh thịnh trị, kinh tế sa sút, nhân dân đói khổ, các thế lực phong kiến tranh giành quyền lực đã dẫn tới sự sụp đổ của triều Lê sơ, nhà Mạc lên thay thế nhà Lê sơ chưa được bao lâu thì xảy ra cuộc chiến tranh Nam – Bắc Triều và tiếp đó là chiến tranh Trịnh – Nguyễn, dẫn đến tình trạng đất nước bị chia cắt, hai chính quyền ở Đàng Trong và Đàng Ngoài hình thành và tồn tại cho đến cuối thế

kỉ XVIII Hôm nay chúng ta tìm hiểu những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII

1 Sự sụp đổ của triều

Lê sơ Nhà Mạc được thành lập

a) Sự sụp đổ của triều Lê sơ

+ Sau khi vua Lê Hiến Tông chết, các vua kế tiếp là Lê Uy Mục và Lê

Trang 5

quan tâm đến việc triều chính, chỉ lo ăn chơi sa

đoạ

– Quan lại, địa chủ nhân cơ hội đó hoành hành, sách nhiễu quần chúng, chấp chiếm ruộng đất của dân

– Nhân dân đói khổ đã

nổi dậy đấu tranh ở nhiều nơi

– Các thế lực phong kiến nổi dậy tranh chấp quyền hành, trong các thế lực phong kiến nổi dậy, mạnh hơn cả là thế lực của Quốc công Thái phó Mạc Đăng Dung

Tương Dực không lo việc triều chính, chỉ lo ăn chơi sa đoạ

+ Địa chủ, quan lại cướp

đoạt ruộng đất của dân + Nhân dân đói khổ, nổi dậy nhiều nơi

+ Các thế lực phong kiến tranh chấp quyền hành, trong các thế lực đó, nổi trội là thế lực của Mạc

Đăng Dung

– Sau khi dẹp yên các thế lực phong kiến đối lập và nhận thấy sự bất lực và suy sụp của nhà

Lê, năm 1527 Mạc Đăng Dung bắt vua Lê nhường ngôi và lập nên nhà Mạc

+ Sau khi dẹp yên các thế lực phong kiến đối lập, năm 1527 Mạc Đăng Dung bắt vua Lê nhường ngôi và lập nên nhà Mạc

GV minh hoạ thêm

– Năm 1504 vua Lê Hiến Tông chết, Lê Uy Mục lên thay (1505 – 1509) sao nhãng việc triều chính chỉ lo ăn chơi sa đoạ, khi uống rượu say thì giết chết cả cung nữ, tính tình hung hãn đến nỗi một viên sứ thần Trung Quốc gọi y là “vua quỷ”

– Năm 1509 Lê Uy Mục bị giết, Lê Tương Dực lên thay (1509 – 1516) lại càng

sa đoạ hơn Sứ thần Trung Quốc đã nhận xét “nhà vua tính hiếu dâm như tướng lợn”, người đời gọi là – “vua lợn”

Trang 6

+ Những năm đầu thống trị, nhà Mạc đã thực hiện – Xây dựng chính quyền theo kiểu của nhà Lê sơ

– Tổ chức thi cử để tuyển chọn quan lại

– Cố gắng giải quyết vấn

đề ruộng đất để ổn định xã hội

– Về quân sự : Nhà Mạc xây dựng đạo quân thường trực mạnh để đối phó với mọi tình huống xảy ra, sau đó nhà Mạc suy thoái dần

– Giữa lúc đó, nhà Mạc phải chịu sức ép từ 2 phía :

• ở phía Nam, một số cựu thần nhà Lê tập hợp lực lượng chống đối

• ở phía Bắc, vua Minh cho quân tiến sát biên giới, phao tin sẽ đánh nước ta

• Trong hoàn cảnh đó, nhà Mạc đã dâng sổ sách cho nhà Minh, chịu thần phục nhà Minh

→ Triều đình nhà Mạc

b) Sự thành lập của nhà Mạc

+ Mạc Đăng Dung lập ra nhà Mạc (1527)

+ Về chính trị : – Nhà Mạc xây dựng chính quyền theo kiểu của nhà Lê sơ

– Thường xuyên tổ chức thi cử để tuyển chọn quan lại

+ Kinh tế : – Cố gắng giải quyết vấn

đề ruộng đất

+ Quân sự : xây dựng quân đội mạnh để bảo vệ quốc gia

→ Nhà Mạc tìm mọi cách để ổn định tình hình

+ Nhưng sau đó, nhà Mạc chịu sức ép từ 2 phía :

– Các cựu thần nhà Lê chống đối và quân Minh

đe doạ xâm lược, nhà Mạc đã dâng sổ sách, chịu thần phục nhà Minh, khiến cho nhân dân mất lòng tin với nhà Mạc

Trang 7

không được lòng dân

GV minh hoạ thêm :

Mạc Đăng Dung người làng Cổ Trai (Nghi Dương, Hải Phòng), lúc nhỏ làm nghề đánh cá, nhờ có sức khoẻ và võ giỏi mà thi đỗ lực sĩ Sau đó ông được phong giữ chức trấn thủ Sơn Nam Sau khi đánh bại các phe phái phong kiến đối lập, được vua Lê tín nhiệm thăng lên chức Thái phó, tước Quốc công, tiếp đó với tước An Hưng Vương, Mạc Đăng Dung đã phế bỏ nhà Lê

– Năm 1540, Mạc Đăng Dung đã run sợ trước hoạ xâm lược của nhà Minh, ông

đã cùng với 40 viên quan lên tận cửa Nam Quan nộp sổ sách và cắt 5 động ở

Đông Bắc vốn đã được sáp nhập vào Đại Việt thời Lê sơ để trả lại nhà Minh và nhà Minh đã phong chức An Nam đô thống sứ cho Mạc Đăng Dung

GV giới thiệu hình 42 Di tích thành nhà Mạc ở Lạng Sơn với HS

GV tổng kết :

+ Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ của nhà Lê sơ :

– Vua quan ăn chơi sa đoạ, không lo triều chính, nhân dân đói khổ nổi dậy khắp nơi, các phe phái phong kiến tranh chấp quyền lực → Triều đình rối ren và dẫn

đến sụp đổ

+ Đánh giá nhà Mạc

– có một số biện pháp để ổn định tình hình đất nước, nhưng lại run sợ trước hoạ ngoại xâm, dẫn đến đầu hàng nhà Minh Cho nên nhà Mạc bị mất lòng tin đối với nhân dân → khủng hoảng và sụp đổ

Trang 8

XVI – XVIII, đất nước

bị chia cắt như thế nào ?

đối với nhà Mạc, một số quan lại cũ của nhà Lê không chấp nhận chính quyền nhà Mạc, đứng

đầu là Nguyễn Kim Họ

đã nêu danh nghĩa “Phù

Lê, diệt Mạc”, nổi dậy ở vùng Thanh Hoá, sử cũ gọi đó là Nam triều để phân biệt với Bắc triều của nhà Mạc

+ Chiến tranh Nam – Bắc triều đã bùng nổ, kéo dài đến cuối thế kỉ XVI

+ Triều Mạc bị lật đổ,

đất nước bước đầu được thống nhất trở lại

hàng nhà Minh, một số quan lại cũ của nhà Lê

đứng đầu là Nguyễn Kim

đã nổi dậy ở Thanh Hoá với danh nghĩa “Phù Lê, diệt Mạc”

+ Chiến tranh Nam – Bắc triều bùng nổ đến cuối thế kỉ XVI

+ Cuối cùng nhà Mạc (Bắc triều) sụp đổ, Nam triều thắng thế, đất nước bước đầu thống nhất trở lại

– Đầu năm 1532, Nguyễn Kim đã tôn một người con của Lê Chiêu Tông tên là Ninh lên làm vua, nhiều cựu thần nhà Lê hưởng ứng Một triều đình mới của nhà

Lê được hình thành ở Thanh Hoá, sử cũ gọi là Nam triều

– Năm 1545 Nam triều làm chủ một vùng từ Thanh Hoá vào Nam, nhưng cũng năm này, Nguyễn Kim bị một hàng tướng nhà Mạc giết chết, quyền lực của Nam triều rơi vào tay Trịnh Kiểm (con rể của Nguyễn Kim)

Trang 9

bộ binh quyền, người con thứ của Nguyễn Kim

là Nguyễn Hoàng xin

được vào trấn thủ đất Thuận Hoá Đất Thuận Hoá trở thành nơi dấy nghiệp của họ Nguyễn

+ Sau khi thế lực của họ Nguyễn mạnh lên, chiến tranh Trịnh Nguyễn đã

kéo dài từ 1627 đến 1672 không phân thắng bại

b) Chiến tranh Trịnh – Nguyễn

* Nguyên nhân : + Năm 1545, Nguyễn Kim chết, quyền lực rơi vào tay Trịnh Kiểm, họ Trịnh tìm cách diệt thế lực nhà Nguyễn để độc quyền thống trị

+ Nguyễn Hoàng đã vào Thuận Hoá gây dựng thế lực nhà Nguyễn

→ Hai thế lực : Trịnh – Nguyễn tìm cách tiêu diệt lẫn nhau

* Diễn biến : – Chiến tranh Trịnh – Nguyễn kéo dài từ 1627 Hai bên phải giảng hoà

với nhau, lấy sông Gianh làm giới tuyến, đất nước

bị chia làm hai : Đàng Ngoài và Đàng Trong với

2 chính quyền riêng biệt

+ Tình trạng đất nước bị chia cắt kéo dài đến cuối thế kỉ XVIII, gây hậu quả hết sức nặng nề với

đất nước

đến 1672, không phân thắng bại

– Cuối cùng 2 bên phải giảng hoà, lấy sông Gianh làm ranh giới, đất nước bị chia cắt : Đàng Ngoài, Đàng Trong cho

đến cuối thế kỉ XVIII

Trang 10

GV minh hoạ thêm

Sau khi Trịnh Kiểm nắm quyền hành Nam triều, để trừ hậu hoạ, Trịnh Kiểm đã giết Nguyễn Uông (con trai cả của Nguyễn Kim) Người con trai thứ của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng xin với Trịnh Kiểm (anh rể) được vào trấn thủ

đất Thuận Hoá

– Năm 1558, Nguyễn Hoàng bắt đầu vào xây dựng cơ nghiệp của nhà Nguyễn ở Thuận Hoá

– Năm 1627, lấy cớ họ Nguyễn không chịu nộp thuế, họ Trịnh đem quân đánh Thuận Hoá Chiến tranh Trịnh – Nguyễn bắt đầu

Trong gần nửa thế kỉ, hai bên đánh nhau 7 lần vào các năm : 1627, 1630, 1643,

1648, 1655 – 1660 và 1672, không phân thắng bại Cuối cùng, 2 bên phải giảng hoà, lấy sông Gianh làm ranh giới Đàng Trong và Đàng Ngoài (GV dùng bản đồ Việt Nam chỉ ranh giới sông Gianh cho HS nhận biết vị trí)

Cuối cùng GV tổng kết thảo luận

+ Nguyên nhân của sự chia cắt đất nước là các thế lực phong kiến tranh giành quyền lực lẫn nhau, khi chế độ phong kiến Lê sơ sụp đổ

– Điều này phản ánh sự suy thoái của chế độ quân chủ chuyên chế

3 Nhà nước phong kiến

ở Đàng Ngoài

+ Từ cuối thế kỉ XVI, nhà nước phong kiến Nam triều chuyển về

Trang 11

dựng lại hoàn chỉnh với danh nghĩa thống trị đất nước do vua Lê đứng

đầu, nhưng quyền hành của vua Lê không còn như trước, vị thế của vua

Lê chỉ còn trên danh nghĩa, mọi quyền hành

đều nằm trong tay người chỉ huy quân đội họ Trịnh, về sau được phong vương (nhân dân quen gọi là chúa)

+ ở Trung ương hình thành 2 bộ phận là triều

đình và phủ chúa

Thăng Long do vua Lê

đứng đầu, nhưng vua chỉ

là bù nhìn, quyền lực tập trung vào Phủ chúa Trịnh

+ Phủ chúa Trịnh bao gồm 1 số quan văn và quan võ cao cấp cùng với Chúa bàn bạc quyết định các chủ trương, chính sách lớn của nhà nước

– Triều đình đứng đầu là vua Lê được tổ chức như

cũ nhưng quyền hành bị thu hẹp

– Phủ chúa gồm một số quan văn và quan võ cao cấp cùng với chúa bàn bạc và quyết định các chủ trương, chính sách lớn của nhà nước và trực tiếp chỉ đạo thực hiện

Về sau chúa Trịnh đặt thêm 6 phiên để chỉ đạo hoạt động của các bộ

– Sau đó chúa Trịnh đặt thêm 6 phiên để chỉ đạo hoạt động của 6 bộ, giúp phủ chúa cai trị nước – Đàng Ngoài được chia

thành 12 trấn, có Trấn thủ đứng đầu, làm việc với sự giúp đỡ của 2 ti

Dưới trấn là các phủ,

+ ở địa phương – Chính quyền chia thành 12 trấn Dưới trấn

là các phủ, huyện, châu, xã

Trang 12

huyện, châu, xã

+ Về tuyển chọn quan lại – Nhà nước Lê – Trịnh tiếp tục tuyển chọn quan lại như thời Lê sơ

+ Tuyển chọn quan lại chủ yếu theo chế độ khoa cử (thời Lê sơ)

+ Luật pháp : Bộ Quốc

triều hình luật thời Hồng

Đức vẫn tiếp tục sử dụng, có bổ sung chút ít

+ Luật pháp : – Tiếp tục sử dụng bộ luật Hồng Đức (có bổ sung chút ít)

+ Về quân đội : được tổ chức chặt chẽ, gồm có : – Quân thường trực,

được tuyển chọn chủ yếu

từ 2 phủ của Thanh Hoá

và một số huyện của Nghệ An, được gọi là quân Tam phủ Đạo quân này được nhiều ưu đãi,

được cấp nhiều ruộng

đất, gọi là ưu binh

– Ngoại binh được tuyển

từ 4 trấn xung quanh kinh thành

+ Quân đội được tổ chức chặt chẽ gồm có

– Quân chính quy hay còn gọi là quân Tam phủ, được nhiều ưu đãi

→ ưu binh

– Ngoại binh (được tuyển từ 4 trấn xung quanh kinh thành)

+ Quan lại thời Lê – Trịnh không được cấp ruộng đất như trước

Sau đó, do khó khăn về tài chính, nhà nước còn

đặt chế độ cho dân nộp tiền để làm quan

+ Quan lại thời Lê – Trịnh không được cấp ruộng đất (lộc điền) như trước

Trang 13

trình bày vấn đề này

Sơ đồ bộ máy chính quyền Lê – Trịnh

Sau khi trình bày sơ đồ

này, GV đặt câu hỏi :

– Bộ máy nhà nước thời

Lê – Trịnh khác với bộ máy nhà nước các triều

Triều đình nhà Lê

(chỉ còn là danh nghĩa)

Phủ chúa Trịnh (nắm thực quyền)

6 phiên (chỉ đạo 6 bộ) : Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công

Các phủ (Tri phủ)

Quan

12 trấn (Trấn thủ + 2 ti : Hiến ti và Thừa ti)

Các Huyện, Châu (Tri huyện, Tri châu)

Các xã

(Xã trưởng)Quan

văn

Trang 14

đại trước đó là : Quyền lực không tập trung vào tay vua (chuyên chế), vua Lê không có thực quyền quyền lực chủ yếu tập trung vào phủ chúa Trịnh, còn bộ máy chính quyền địa phương thì

cũng gần giống bộ máy chính quyền thời Lê sơ

→ Tóm lại : ở thời kì này, quyền lực nhà nước tập trung vào tay chúa Trịnh, vua Lê chỉ còn trên danh nghĩa Chính quyền địa phương gần như cũ

GV giới thiệu với HS

ổn định, chúa Trịnh đã

thương lượng với nhà Thanh, một số vùng biên giới đã được trả lại

+ Đối ngoại : – Đối với nhà Thanh nhìn chung là quan hệ hoà hiếu

4 Chính quyền ở Đàng Trong

+ Từ thế kỉ XVII, nhất là sau chiến tranh Trịnh – Nguyễn, các chúa Nguyễn

Trang 15

mở rộng vào phía Nam (từ Nam Quảng Bình đến Nam Bộ ngày nay)

+ Các chúa Nguuyễn nối tiếp nhau xây dựng chính quyền riêng của mình, nơi đóng của Phủ chúa

được gọi là Chính dinh

tìm mọi cách mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam

– Cả Đàng Trong chia thành 12 dinh

• Mỗi dinh đều có 2 → 3

ti để trông coi mọi việc nhưng chủ yếu lo việc thuế khoá và hộ khẩu, dưới dinh là phủ, huyện, châu, xã hay phường, thuộc

– Từ thế kỉ XVII, Phú Xuân (Huế) trở thành trung tâm của Đàng Trong, Chúa Nguyễn còn thành lập các cơ quan trực thuộc chuyên về thu thuế

+ Chính quyền Đàng Trong đứng đầu là Chúa Nguyễn

– Cả Đàng Trong chia thành 12 dinh, dưới dinh

Trang 16

Bộ máy chính quyền Đμng Trong

GV giải thích thêm :

– Sở dĩ các chúa Nguyễn ở Đàng Trong mở rộng lãnh thổ về phía Nam là vì với

ý đồ tách Đàng Trong khỏi sự thống trị của nhà Lê – Trịnh Cho nên từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Nguyên → Nguyễn Phúc Tần… Họ phòng thủ đất Thuận Quảng để chống lại các cuộc tấn công của quân Trịnh (phía Bắc)

và tìm cách mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam (Champa và Chân Lạp) Năm

1757 tất cả vùng đất của Thuỷ Chân Lạp thuộc quyền của chúa Nguyễn

sự cai quản của chúa

+ ở Đàng Trong chưa có chính quyền Trung ương, chỉ có chính quyền địa

Chúa Nguyễn

12 dinh (Trấn thủ)

Phủ (Tri phủ)

Huyện (Tri huyện)

Tổng (Chánh tổng)

Xã (hay phường, thuộc) (xã trưởng cai quản)

Trang 17

câu này) Nguyễn chưa có chính

+ Quân đội Đàng Trong

là quân đội thường trực, tuyển theo nghĩa vụ

đã có sự thay đổi Với sự kiện này, Đại Việt đứng trước nguy cơ bị chia

+ Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát quyết định xưng vương, thành lập triều đình trung ương Nhưng bộ máy chính quyền chưa hoàn chỉnh

+ Đến giữa thế kỉ XVIII chính quyền Đàng Trong

và Đàng Ngoài đều lâm vào tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng

Trang 18

thành 2 nước Nhưng, cho đến cuối thế kỉ XVIII chính quyền Đàng Trong vẫn chưa hoàn chỉnh

– Từ giữa thế kỉ XVIII, chính quyền Đàng Trong

và Đàng Ngoài đều lâm vào tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng

5 Củng cố

HS trả lời những câu hỏi cuối bài :

– Em cho biết nguyên nhân sụp đổ của triều Lê sơ

– Em hãy đánh giá vai trò của vương triều nhà Mạc (GV gợi ý để HS trả lời câu hỏi này)

– Nguyên nhân của các cuộc chiến tranh phong kiến : Nam – Bắc triều, Trịnh – Nguyễn là gì ?

– Vẽ sơ đồ về tổ chức chính quyền Đàng Ngoài, Đàng Trong và so sánh nhận xét

Bài 22 tình hình kinh tế ở các thế kỉ xvi – xviii

A Mục tiêu bμi học

1 Kiến thức

• HS cần nắm được những kiến thức cơ bản sau :

+ Từ thế kỉ XVI → XVIII, tình hình đất nước có nhiều biến động nhưng kinh

tế có nhiều biểu hiện phát triển

+ Diện tích canh tác được mở rộng, đặc biệt là Đàng Trong các chúa Nguyễn rất chú ý đến khai hoang, mở rộng lãnh thổ, tạo nên một vựa thóc lớn, góp phần quan trọng để ổn định xã hội

Trang 19

+ Kinh tế hàng hoá đã phát triển mạnh mẽ do nhiều nguyên nhân khách quan

và chủ quan khác nhau, nhưng nó đã tạo điều kiện cho sự hình thành và phồn vinh của một số đô thị

+ Nửa sau thế kỉ XVIII, nền kinh tế Đàng Trong và Đàng Ngoài suy thoái, nhưng sự phát triển của kinh tế hàng hoá ở các thế kỉ trước đã ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội

2 Tư tưởng

• Giáo dục cho HS có sự nhìn nhận đúng đắn và tính chất 2 mặt của kinh tế thị trường, từ đó biết định hướng cho những tác động tích cực của mình đối với sự phát triển của xã hội

• Bồi dưỡng cho các em nhận thức rõ những hạn chế của tư tưởng phong kiến

2 Kiểm tra bài cũ

+ Em cho biết nguyên nhân dẫn đến sự suy sụp của triều Lê sơ

+ Em hãy đánh giá vai trò của vương triều nhà Mạc đối với lịch sử

+ Em hãy nêu nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các cuộc chiến tranh phong kiến : Nam – Bắc triều, Trịnh – Nguyễn

3 Giới thiệu bài mới

– Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, đất nước ta có nhiều biến động, nhưng do những tác nhân chủ quan và khách quan, nền kinh tế vẫn tiếp tục phát triển, đặc biệt đã xuất hiện những nhân tố mới là kinh tế hàng hoá phát triển tạo điều kiện

Trang 20

thuận lợi cho sự hình thành và phát triển các đô thị Hôm nay chúng ta tìm hiểu về tình hình kinh tế nước ta ở các thế kỉ XVI – XVIII

– Từ cuối thế kỉ XV đến

đầu thế kỉ XVI

• Ruộng đất ngày càng tập trung vào tay địa chủ, quan lại

• Nhà nước không chú ý quan tâm đến sản xuất như trước

• Đói kém, mất mùa liên tiếp xảy ra

• Cuộc sống của nhân dân rất cơ cực, cho nên, nông dân đã nổi dậy đấu tranh

1 Tình hình nông nghiệp ở các thế kỉ XVI – XVIII

a) Thời kì từ thế kỉ XVI

+ Ruộng đất tập trung vào tay địa chủ quan lại + Nhà nước ít chú ý đến sản xuất

+ Đói kém mất mùa liên tiếp xảy ra

→ Nông dân đói khổ, họ

đã nổi dậy đấu tranh

+ Nông nghiệp nước ta sau một thời gian bị tàn phá đã dần dần ổn định trở lại vào nửa sau thế kỉ XVII

– ở Đàng Ngoài, nhân dân tiếp tục mở rộng diện tích canh tác

+ Đàng Trong – Các chúa Nguyễn khuyến khích nhân dân khai hoang cho nên diện

b) Giai đoạn từ nửa sau

+ Từ nửa sau thế kỉ XVII, sản xuất nông nghiệp nước ta dần dần

ổn định trở lại

+ Nhân dân cả 2 miền

đều tích cực khai hoang

mở rộng diện tích canh tác

+ Đê điều được bồi đắp

Trang 21

tích canh tác của cả nước tăng lên nhanh chóng

– Nhân dân ra sức tăng gia sản xuất

• Kĩ thuật canh tác đã

được chú ý : “nước, phân, cần, giống” để tăng năng suất Đặc biệt, ở Nam Bộ lúa gạo sản xuất trong những điều kiện thuận lợi, thóc gạo bán ở thị trường nhiều hơn, đời sống nhân dân ổn định

và ngày càng được nâng cao

– Nghề trồng vườn khá

phát triển với nhiều loại cây ăn quả ngon : dừa, xoài, dứa…

• Nhìn chung, giai đoạn này ruộng đất ngày càng tập trung vào tay giai cấp

địa chủ phong kiến

+ Mương máng được nạo vét

+ Tạo nhiều giống lúa mới

+ Kĩ thuật canh tác được chú ý

+ Trồng thêm hoa màu

và cây công nghiệp

→ Thóc gạo sản xuất nhiều hơn, đời sống nhân dân được ổn định và nâng cao

Trang 22

nghiệp trong thời kì này

(thế kỉ XVI – XVIII)

điểm của mình GV tổng kết thảo luận

GV tổng kết :

Trong thời kì này :

+ Thế kỉ XVI → giữa XVII nhà nước ít quan tâm đến sản xuất, nhân dân đói khổ

– Từ nửa cuối thế kỉ XVII chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài đều chú ý

đến sản xuất : Khai hoang, thuỷ lợi, kĩ thuật cấy trồng, tạo ra nhiều giống mới, năng suất lao động tăng lên, đời sống của nhân dân ổn định và cải thiện

Tuy vậy : Ruộng đất tập trung ngày càng nhiều vào địa chủ, nông dân sẽ mất đất nhiều hơn Đó là hạn chế lớn của sản xuất nông nghiệp thời kì này

Trang 23

+ Nhiều nghề thủ công mới ra đời : nghề khắc in bản gỗ, nghề làm đường trắng, làm đồng hồ, làm tranh sơn mài

+ Số làng nghề thủ công

cổ truyền tăng lên : dệt lụa, hình các loại, làm gốm sứ, làm giấy…

– ở các làng này, cư dân vẫn làm ruộng, tuy nhiên một số thợ giỏi họ đã rời làng, ra đô thị, lập các phường vừa sản xuất vừa bán hàng

+ Ngành khai thác mỏ cũng phát triển ở cả 2 miền

2 Sự phát triển của thủ công nghiệp

+ Nhiều nghề thủ công

cổ truyền : làm gốm, dệt vải, rèn sắt… phát triển với trình độ cao

+ Nhiều nghề thủ công mới ra đời : nghề khắc in bản gỗ, làm đồng hồ, làm tranh sơn mài… + Số làng nghề thủ công

cổ truyền tăng lên + Một số thợ giỏi đã rời làng ra thành thị lập phường sản xuất và bán hàng

+ Khai thác mỏ phát triển

• ở Đàng Ngoài, một số người Hoa đã xin thầu khai thác mỏ, đồng thời một số người Việt giàu

có cũng xin thầu khai thác mỏ

→ Lượng kim loại bán

ra thị trường và phục vụ nhà nước ngày càng lớn

Trang 24

hơn

Như vậy : thế mạnh của nghề thủ công thời kì

này là : nhiều sản phẩm hấp dẫn, có trình độ kĩ thuật cao : lụa là, gấm vóc, đồ gốm… được người tiêu dùng, đặc biệt

là thương nhân nước ngoài rất ưa thích

→ Như vậy thế mạnh của nghề thủ công thời kì này là nhiều sản phẩm hấp dẫn, có trình độ kĩ thuật cao ra đời

có vai trò quan trọng : – Nhiều sản phẩm tiêu dùng với chất lượng cao

ra đời

– Đáp ứng được nhu cầu trao đổi hàng hoá trong

và ngoài nước

– Thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển

+ Sự phát triển của làng

nghề thủ công cổ truyền

đã tạo ra nhiều sản phẩm tiêu dùng chất lượng cao – Đáp ứng được nhu cầu trao đổi hàng hoá trong

và ngoài nước

– Thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển

– Chợ làng, chợ huyện, chợ phủ mọc lên khắp nơi (theo phiên)

– Đã xuất hiện nhiều làng buôn, trung tâm buôn bán

– Việc buôn bán giữa các vùng, đặc biệt là buôn

3 Sự phát triển của thương nghiệp

a) Nội thương

+ Thế kỉ XVI – XVII buôn bán phát triển mạnh ở miền xuôi

– Các chợ làng, chợ huyện, chợ phủ (theo phiên) ra đời và phát triển – Nhiều làng buôn và trung tâm buôn bán lớn

ra đời

Trang 25

các nước châu á : Trung

Quốc, Nhật Bản… cũng

hoạt động mạnh hơn, cho

nên đã hình thành giao

lưu buôn bán quốc tế

giữa Đại Việt và thế giới,

kinh tế công thương

nghiệp nước ta cũng

bước sang giai đoạn mới

bán giữa miền ngược và miền xuôi tăng lên

– Nhà nước lập nhiều trạm thu thuế ở đường lớn, ngã ba bến sông

– Thế kỉ XVIII, nhiều nhà buôn đã chở thóc gạo từ Gia Định ra miền Trung để bán

– Buôn bán giữa các vùng miền đã phát triển

Sau đó, GV yêu cầu HS

do chính sách mở cửa của chính quyền Trịnh, Nguyễn và giao lưu buôn bán lớn trên thế giới

• Thuyền buôn của các nước đến nước ta ngày càng nhiều : Trung Hoa, Nhật Bản, Giava, Xiêm,

Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp

Họ mua về : tơ lụa,

đường, đồ gốm, các loại nông, lâm sản quý

– Nhiều thương nhân nước ngoài : Nhật, Trung Quốc, Hà Lan, Anh, Pháp đã xin lập phố xá

và cửa hàng để buôn bán lâu dài

b) Ngoại thương

+ Phát triển nhanh chóng

do chính sách mở cửa của chính quyền Trịnh, Nguyễn và giao lưu buôn bán quốc tế

+ Nhiều thương nhân và tàu bè nước ngoài đã đến Việt Nam buôn bán và xin lập thương điếm : Trung Quốc, Nhật, Hà Lan, Anh, Pháp…

– Ngoại thương chỉ phát triển đến giữa thế kỉ XVIII thì suy yếu dần,

do chế độ thuế khoá, phức tạp, quan lại khám

+ Nhưng ngoại thương chỉ phát triển đến giữa thế kỉ XVIII thì suy yếu dần, do chế độ thuế khoá

và khám xét phức tạp,

Trang 26

xét phiền phức phiền nhiễu

thảo luận : nhớ lại kiến

thức cũ và suy luận vấn

đề mới)

Trả lời

HS thảo luận theo nhóm, sau đó các nhóm trình bày ý kiến của nhóm trước lớp, sau đó GV tổng kết

GV tổng kết thảo luận

– Thế kỉ thứ XV – XVI, trên thế giới có sự kiện quan trọng trong giao lưu quốc

tế Đó là những cuộc phát kiến địa lí, loài người đã tìm ra những vùng đất mới (châu Mĩ) giao lưu Âu – á được nối liền, các thương nhân châu Âu giàu lên nhanh chóng → tích luỹ tư bản ban đầu → tiền đề để CNTB ra đời

– Sự phát triển ngoại thương có tác dụng làm cho kinh tế hàng hoá nước ta phát triển

– Tạo điều kiện cho kinh tế nước ta tiếp cận với kinh tế thế giới và phương thức sản xuất mới để đi lên

Sau đó GV giới thiệu với HS hình 45 : Thương cảng Hội An (tranh vẽ cuối thế kỉ XVIII) nói lên sự buôn bán sầm uất của Hội An

Nếu liên hệ được đĩa CD của VTV2 về vấn đề này chiếu cho HS xem thì bài sẽ sinh động hơn

GV dẫn dắt :

– Sự phát triển của kinh

tế hàng hoá trong xã hội

Đại Việt thế kỉ XVI –

XVIII đã ảnh hưởng lớn

đến sự phát triển của xã

Trả lời

+ So sự phát triển của kinh tế hàng hoá đã làm cho các đô thị nước ta

được hình thành và hứng khởi

4 Sự hưng khởi của các

đô thị

a) Nguyên nhân

+ Do sự phát triển của kinh tế hàng hoá

+ Thế kỉ XVI → XVIII,

Trang 27

hôi, đặc biệt là nó đã tạo

nước

– Đặc biệt là khu dân cư

Nam Thăng Long được phát triển với tên Kẻ Chợ gồm 36 phố phường và

8 chợ

– Phố Hiến : (phía Nam thị xã Hưng Yên hiện nay) ra đời và phát triển phồn thịnh Cho nên nhân dân ta đã nói rõ sự sầm uất của Phố Hiến lúc đó

đã có tới 2000 nóc nhà

+ Hội An, thành phố cảng lớn nhất Đàng Trong (Quảng Nam ngày nay), phát triển chủ yếu

ở các thế kỉ XVII – XVIII Đó là hải cảng

đẹp nhất, thương nhân ngoại quốc thường lui tới

để buôn bán… nó có 2 thị trấn, một của người Trung Quốc và một của người Nhật Bản

+ Thanh Hà là đô thị mới hình thành trên bờ sông Hương, gần Phú Xuân (Huế) do các thương nhân Trung Hoà thành lập, được sự đồng ý của các chúa Nguyễn buôn

các đô thị nước ta được hình thành và phát triển

b) Sự hưng khởi của các

đô thị

+ Kẻ Chợ (Thăng Long) gồm 36 phố phường và 8 chợ, buôn bán sầm uất + Phố Hiến (thị xã Hưng Yên) ra đời và phát triển phồn thịnh

+ Hội An, thành phố cảng lớn nhất Đàng Trong (Quảng Nam) thương nhân nước ngoài thường lui tới buôn bán + Thanh Hà (gần Phú Xuân) – Huế ngày nay, buôn bán tấp nập

→ Đến đầu thế kỉ XIX các đô thị suy tàn dần (trừ Thăng Long)

Trang 28

bán, nơi đây rất sầm uất

+ Ngoài các đô thị lớn còn có những trung tâm buôn bán nhỏ hơn, phồn vinh một thời gian

Tuy vậy, vào đầu thế kỉ XIX, các đô thị suy tàn dần (trừ Thăng Long) do nhiều nguyên nhân khác nhau

GV minh hoạ thêm

+ Kẻ Chợ (còn gọi là Kinh kì) – Thăng Long, vốn là đô thị nổi tiếng từ thế kỉ

XI, từ thời Lê sơ đã có 36 phố phường Ngoài ra còn có một số chợ : chợ Cửa

Đông, Cửa Nam, Đình Ngang, Đông Mác… Dân các phường chủ yếu từ nông thôn ra, họp nhau thành phường cùng hành nghề : dân làng gốm Bát Tràng lập ra phường Hàng Bát, dân chạm bạc ở làng Châu Khê (Hải Dương) lập nên phố Hàng Bạc…

– Giáo sĩ Xanh Phan-lơ mô tả : Kẻ Chợ “có thể lớn bằng Pa-ri và dân số cũng bằng… Nó nằm trên một con sông gọi là sông Cái, số thuyền bè nhiều đến nỗi ghé vào bờ rất khó khăn”

Giáo sĩ Marini viết “Các nhà ở Kẻ Chợ đều một tầng… có 62 khu phố mà mỗi khu rộng bằng một thành phố nhỏ của nước ý”…

+ Phổ biến là đô thị mới hình thành, cuối XVI → đầu XVII, Phố Hiến

đã nổi tiếng ở Đàng Ngoài, thương nhân Trung Quốc, Nhật, Hà Lan, Anh, Pháp

đã đến đây buôn bán

+ Hội An, thành phố cảng lớn nhất Đàng Trong

– Năm 1524 thương nhân Bồ Đào Nha đã đến Hội An, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng : Hội An nổi tiếng từ thế kỉ XVI, có thương nhân Nhật Bản đến lập nghiệp rất sớm, rồi đến thương nhân Trung Hoa, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh,

Pháp…

– Theo em, sự hưng khởi

của đô thị nói lên điều

+ Sự hưng khởi của đô

thị đã làm thay đổi bộ

+ Sự hưng khởi của đô thị đã làm thay đổi bộ

Trang 29

– Nhưng sự phát triển của đô thị đương thời chưa đủ sức tạo nên một nếp sống, một nền kinh

tế mới Mặc dù vậy, nó

đã mở ra thời kì phát triển mới của chế độ phong kiến Đại Việt

mặt kinh tế Đại Việt, nó

mở ra thời kì phát triển mới của thế độ phong kiến Đại Việt

5 Củng cố

HS trả lời những câu hỏi cuối bài

+ Em hãy nêu những biểu hiện của sự phát triển của thủ công nghiệp, thương nghiệp nước ta trong các thế kỉ XVI – XVIII

+ Nguyên nhân sự phát triển kinh tế hàng hoá các thế kỉ XVI – XVIII ở nước ta

+ Sự hưng khởi của đô thị thể hiện ra sao ? Sự phát triển của đô thị có ý nghĩa như thế nào đối với kinh tế – xã hội nước ta thời kì đó

6 Bài tập về nhà

Em hãy sưu tầm những câu ca dao về nghề thủ công mà em biết (GV kiểm tra

ở tiết sau)

Bài 23 phong trμo tây sơn vμ sự nghiệp

thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc cuối thế kỉ XVIII

A Mục tiêu bμi học

1 Kiến thức

Trang 30

+ Từ thế kỉ XVI đến XVIII, đất nước ta bị chia cắt thành hai miền Đàng Trong

và Đàng Ngoài, có chính quyền riêng biệt, nhưng cả hai chính quyền này hầu như không có khả năng thống nhất lại đất nước

+ Trước tình trạng khủng hoảng của chế độ phong kiến cả 2 miền, nguy cơ chia cắt ngày càng gia tăng Phong trào Tây Sơn, trong quá trình đánh đổ 2 tập

đoàn phong kiến thống trị đã xoá bỏ tình trạng chia cắt, bước đầu thống nhất lại

đất nước

+ Trong quá trình đấu tranh, phong trào nông dân Tây Sơn còn hoàn thành thắng lợi 2 cuộc kháng chiến chống quân Xiêm và quân Thanh, bảo vệ độc lập dân tộc, góp thêm những chiến công huy hoàng vào sự nghiệp giữ nước của dân tộc

Trang 31

– Em hãy nêu những hiểu biết về sự phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp nước ta trong các thế kỉ XVI – XVIII

– Nguyên nhân của sự phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta (từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII)

– GV dành thời gian kiểm tra việc sưu tầm những câu ca dao về nghề thủ công của HS (bài tập của tiết trước)

3 Giới thiệu bài mới

Cuối thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam, cả Đàng Trong và Đàng Ngoài đã bước vào giai đoạn khủng hoảng và suy tàn Giữa lúc đó, phong trào nông dân Tây Sơn đã bùng nổ với khí thế mạnh mẽ, trong quá trình đấu tranh kiên cường bất khuất, họ đã làm nên hai sự nghiệp lớn là bước đầu thống nhất đất nước,

đánh bại giặc ngoại xâm (Xiêm, Thanh) bảo vệ độc lập dân tộc

đoạn khủng hoảng sâu sắc

I Phong trμo Tây Sơn vμ sự nghiệp thống nhất đất nước cuối thế kỉ XVIII

1 Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam

+ Đàng Ngoài, phong trào nông dân bùng lên rầm rộ, kéo dài trong hơn 10 năm và sau đó

+ Đàng Trong, chúa Nguyễn xưng vương, thành lập triều đình riêng,

đất nước bị chia cắt làm 2

Trang 32

cắt làm 2 miền Nhưng chính quyền mới này lại bước vào suy thoái, nhân dân rất cực khổ

miền Nhưng chính quyền phong kiến Đàng Trong cũng nhanh chóng suy thoái

GV minh hoạ thêm

+ Cuối thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến Đàng Ngoài khủng hoảng nghiêm trọng

do sự chiếm đoạt ruộng đất của địa chủ, thuế khoá nặng nề, quan lại tham nhũng, nhân dân rất đói khổ, làng xóm điêu tàn, kinh tế suy sụp, sức sản xuất bị tàn phá, nông dân phải tha phương cầu thực, họ bị dồn đẩy đến bước đường cùng không còn con đường nào khác là phải vùng lên đấu tranh, giành lấy quyền sống của mình, khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra : điển hình là khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương (1740 – 1751) ở Vĩnh Phúc, Nguyễn Hữu Cầu (1741 – 1751) ở Hải Dương, Hoàng Công Chất (1739 – 1769) ở Sơn Nam, Lê Duy Mật (1738 – 1770) ở Thanh Hoá

Các phong trào này đã lôi cuốn hàng chục vạn nông dân tham gia

+ Đàng Trong

– Cuối thế kỉ XVIII, nạn chấp chiếm ruộng đất hoành hành nghiêm trọng, cộng vào đó là sưu cao, thuế nặng, tham nhũng ghê gớm, nhân dân đói khổ Năm 1752, 1769, 1774 xảy ra những nạn đói lớn, theo giáo sĩ La Báctet “gạo đắt như vàng… xác chết chồng chất lên nhau…” Nông dân nổi dậy đấu tranh nhiều nơi, tiêu biểu là khởi nghĩa của Chàng Lía (Quy Nhơn) nghĩa quân đã đánh giết bọn cường hào, lấy của cải phân phát cho dân nghèo Sau đó, cuộc khởi nghĩa bị

Định do 3 anh em : Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh

đạo

+ Sau nhiều năm chiến

đấu kiên cường, lực lượng khởi nghĩa đã lớn mạnh đánh đổ chính

2 Cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn

+ Năm 1771, cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn

đã bùng nổ ở Bình Định

do 3 anh em : Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo

+ Quân khởi nghĩa đã tiêu diệt chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong và sau đó tiến quân ra Bắc

Trang 33

quyền chúa Nguyễn ở

Đàng Trong, nghĩa quân đã làm chủ được vùng đất từ Quảng Nam trở vào

+ Sau đó nghĩa quân Tây Sơn đã tiến ra Bắc, tiêu diệt chính quyền

Lê – Trịnh (1786 – 1788) thống nhất lại đất nước Sự nghiệp thống nhất đất nước bước đầu

được hoàn thành

tiêu diệt chính quyền Lê, Trịnh, thống nhất đất nước trở lại

+ Sự nghiệp thống nhất

đất nước bước đầu được hoàn thành

GV minh hoạ thêm :

– Nghĩa quân Tây Sơn giương cao khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho người nghèo” và “đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan” Cho nên nông dân tham gia rất đông

– Mùa thu 1777 nghĩa quân chiếm được phần lớn Phủ Quy Nhơn

– Năm 1777 Nguyễn Nhạc tự xưng Tây Sơn Vương, phong Nguyễn Huệ làm Phụ Chính

– Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế

– 1786 – 1788, Tây Sơn lật đổ chính quyền Lê, Trịnh Như vậy, sau hơn 15 năm khởi nghĩa, Tây Sơn đã đánh đổ 3 tập đoàn phong kiến : Nguyễn, Trịnh, Lê làm chủ cả nước Nhưng năm 1788, thế lực nhà Lê còn lay lắt, trong bước đường cùng, Lê Chiêu Thống đã cầu cứu nhà Thanh Còn ở mặt Nam, lợi dụng sự bất hoà của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, cùng với sự bất lực của Nguyễn Lữ, Nguyễn ánh đã cầu cứu quân Xiêm, một lần nữa bọn đại địa chủ ở đây lại chiếm Gia Định Cho nên sự nghiệp của phong trào Tây Sơn chưa trọn vẹn

II Các cuộc kháng chiến ở cuối thế kỉ XVIII

1 Cuộc kháng chiến chống Xiêm (1785)

+ Đầu những năm 80 của

Trang 34

cháu của chúa Nguyễn

là Nguyễn ánh cùng tàn quân chạy sang Xiêm cầu cứu

– Vua Xiêm đã sai tướng và đem 5 vạn quân thuỷ bộ tiến sang xâm lược nước ta, theo

sự dẫn đường của quân Nguyễn ánh

– Sau khi chiếm được gần nửa đất Gia Định (Nam Bộ ngày nay) quân Xiêm ra sức cướp phá hoành hành và chuẩn bị tấn công vùng

đất còn lại của Tây Sơn cai quản ở Gia Định

+ Được tin đó, vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc đã

cử Nguyễn Huệ vào Gia

Định chống giặc Xiêm

+ Được sự ủng hộ của nhân dân, đầu năm

1785, Nguyễn Huệ đã

đại thắng quân Xiêm ở trận Rạch Gầm – Xoài Mút

+ Nguyễn ánh theo tàn quân Xiêm chạy thoát sống lưu vong ở Xiêm

Miền Nam trở lại bình yên

+ Quân Xiêm đại bại, Nguyễn ánh theo tàn quân Xiêm chạy thoát thân

+ Miền Nam trở lại bình yên

GV gợi ý :

Trang 35

GV minh hoạ thêm

– Sau khi được Nguyễn ánh cầu cứu, cuối tháng 7/1784 vua Xiêm sai 2 tướng : Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 2 vạn thủy binh + 3 vạn bộ binh với 300 chiếc thuyền cùng Nguyễn ánh và Chu Văn Tiếp đánh về Gia Định, quân Xiêm mặc sức hoành hành đốt phá Gia Định Được tin đó, Nguyễn Huệ đem quân vào Gia

Định

– Sáng 19/1/1785, trận quyết chiến giữa quân Xiêm và Tây Sơn đã diễn ra ở Rạch Gầm – Xoài Mút, Nguyễn Huệ đã nhử địch vào trận địa mai phục, đánh cho chúng tan tành, chỉ còn vài ngàn quân chạy bộ về nước Chiến thắng này đã thể hiện thiên tài quân sự kiệt xuất của Nguyễn Huệ và tinh thần chiến đấu ngoan cường của nghĩa quân Tây Sơn

số đại thần chạy lên phía Bắc để cầu cứu nhà Thanh

+ Nhân cơ hội đó, vua Thanh đã sai tướng đem

29 vạn quân và dân công theo sự chỉ dẫn của vua tôi Chiêu Thống kéo vào nước ta với danh nghĩa giúp nhà

Lê đánh Tây Sơn để giành lại chính quyền

2 Kháng chiến chống Thanh (1789)

+ Sau khi bị Tây Sơn đánh bại, vua Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh

+ Nhân cơ hội đó, vua Thanh đã sai tướng đem

29 vạn quân và dân công sang xâm lược nước ta

Trang 36

+ Khi quân Thanh xâm nhập nước ta, nhân dân vô cùng khốn khổ

+ Trước sự tấn công ào

ạt của quân Thanh, lực lượng của Tây Sơn

đóng ở kinh thành tạm rút lui về mạn nam Ninh Bình và Thanh Hoá, rồi cho người vào Phú Xuân cấp báo

+ Được tin đó, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, chỉ huy quân nhanh chóng tiến ra Bắc

– Trên đường đi dừng lại ở Nghệ An và Thanh Hoá

– Đúng đêm 30 tết (25/1/1789) quân ta

được lệnh tấn công với khí thế quyết tâm đánh tan quân Thanh (quyết tâm được thể hiện ở lời hiệu dụ của Quang Trung)

– Sau 5 ngày (bắt đầu từ

30 tết cho đến trưa mồng 5 tết Kỉ Dậu) với

sự tiến quân thần tốc, tinh thần chiến đấu quyết liệt với chiến

+ Trước sự tấn công ào ạt của quân Thanh, lực lượng của Tây Sơn đóng ở kinh thành tạm rút lui về mạn nam Ninh Bình và Thanh Hoá

+ Được tin cấp báo quân Thanh đã xâm nhập Bắc

Hà, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, thần tốc tiến quân ra Bắc

+ Chỉ trong 5 ngày (từ chiều 30 Tết đến trưa mồng 5 Tết Kỉ Dậu, Nguyễn Huệ đã đại phá

29 vạn quân Thanh với chiến thắng oanh liệt Ngọc Hồi – Đống Đa, quân Thanh bị đánh tơi bời, đại quân bị tiêu diệt, tàn quân còn lại cùng Tôn

Sĩ Nghị tháo chạy về nước

Trang 37

thắng vang dội Ngọc Hồi – Đống Đa, Nguyễn Huệ đã đại phá

được 29 vạn quân Thanh, nhân dân rất vui mừng chào đón nghĩa quân Tây Sơn vào Thăng Long (được thể hiện bằng bài thơ của Ngô Ngọc Du)

+ Như vậy phong trào nông dân Tây Sơn đã bước đầu thống nhất lại

đất nước và 2 lần đại phá quân xâm lược Xiêm, Thanh Đó là những trang sử chói ngời của dân tộc, nổi bật lên là công lao to lớn và thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ

Trang 38

GV minh hoạ thêm :

– Tháng 11/1788, quân Thanh ồ ạt kéo vào nước ta, các sĩ phu Bắc Hà quyết

định rút khỏi Thăng Long và cấp báo với Nguyễn Huệ Nhận được tin cấp báo ngày 22/12/1788 (tức ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân) Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung, lập tức tiến quân ra Bắc, chỉ mấy ngày sau

ra tới Nghệ An, Quang Trung dừng lại lấy thêm quân (tổng số 10 vạn)

– Ngày 20 tháng Chạp Mậu Thân (15/1/1789) đại quân Tây Sơn đã tập kết ở phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn chuẩn bị tiến quân ra Bắc (5 cánh quân), Quang Trung trực tiếp chỉ huy cánh quân đánh thẳng vào phía Nam kinh thành Thăng Long

• Kế hoạch tác chiến đã sẵn sàng, vào ngày cuối tháng Chạp năm Mậu Thân, Quang Trung mở tiệc khao quân gọi là ăn tết trước và ông tuyên bố trước binh sĩ

đến ngày mồng 7 tháng giêng vào Thăng Long sẽ làm lễ hạ nêu mừng chiến thắng”

(chỗ này GV nên dừng lại phân tích thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ)

GV dùng bản đồ giảng về trận đánh Ngọc Hồi – Đống Đa, nên miêu tả rõ trận

Ngọc Hồi (Tham khảo trong cuốn sách : Trương Hữu Quýnh (chủ biên) : Đại

cương Lịch sử Việt Nam, Tập 1, trang 425)

– Em cho biết đặc điểm

của cuộc kháng chiến

chống quân Thanh

GV hướng dẫn HS thảo luận nhóm vấn đề này, sau đó các nhóm trình bày quan điểm của nhóm mình trước lớp

Cuối cùng GV tổng kết thảo luận

GV tổng kết đặc điểm của cuộc kháng chiến chống Thanh của nghĩa quân Tây Sơn là :

– Hành quân thần tốc

– Tiến công mãnh liệt

– Chiến thuật thông minh, sáng tạo (rút khỏi kinh thành Thăng Long lúc giặc mạnh)

Trang 39

– Năm 1778, Nguyễn Nhạc thủ lĩnh của nghĩa quân Tây Sơn tự xưng Hoàng đế thành lập vương triều Tây Sơn, nhưng cuộc khởi nghĩa vẫn tiếp tục

– Cuối năm 1788, trước khi xuất quân lên

đường ra Bắc đại phá

quân Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung, sau ngày chiến thắng ông chính thức xây dựng vương triều mới theo chế độ quân chủ chuyên chế, thống trị từ Thuận Hoá ra Bắc

III Vương triều tây sơn

1 Vương triều Tây Sơn thành lập

+ Sau khi tiêu diệt được lực lượng của các chúa Nguyễn, năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng Hoàng đế thành lập vương triều Tây Sơn, nhưng khởi nghĩa vẫn tiếp tục

+ Cuối năm 1788, trước khi ra Bắc đại phá quân Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung, sau khi thắng lợi trở về, ông chính thức xây dựng vương triều mới theo chế độ quân chủ chuyên chế

– Chính quyền các trấn

được thành lập – Quang Trung ban chiếu kêu gọi nhân dân khôi phục sản xuất

2 Những chính sách của vương triều Quang Trung

a) Đối nội

+ Sau khi thắng lợi, Quang Trung xây dựng vương triều mới, thực hiện một số chính sách mới về kinh tế, chính trị, văn hoá

Trang 40

giáo dục và quân sự

→ Đất nước ổn định thanh bình

+ Đối ngoại

– Quan hệ hoà hảo với nhà Thanh

– Quan hệ tốt đẹp với Lào và Chân Lạp

– Những năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời Triều đình lục

đục và suy yếu dần

Trước sự tấn công của Nguyễn ánh, vương triều Tây Sơn sụp đổ

trị, văn hoá giáo dục,

quân sự làm cho xã hội

3 Đánh giá những chính sách mới của Quang Trung

+ Quang Trung đã đề xướng nhiều chính sách tiến bộ về mọi mặt, đặt nền móng cho chế độ mới

ra đời

+ Nhưng việc Quang Trung qua đời sớm khiến cho những cải cách đó chưa được thực hiện

Ngày đăng: 29/10/2014, 07:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bài mới Hoạt động dạy Hoạt động học Mục tiêu cần đạt GV giới thiệu chân dungLê-nin với HS (Hình 78).Sau đó yêu cầu 1 HS trình bày một số nét tiểu sử của Lê-nin.Trả lời* Một số nét tóm tắt tiểu sử của Lê-nin :– Vla-®i mia I-lÝch U-li-a nốp, tức Lê-nin, sinh ngày 24 – 4 – 1870, trong một gia đình nhà giáo tiến bộ.– Lê-nin giác ngộ cách mạng rất sớm và tham gia hoạt động từ khi còn là học sinh trung học.– Năm 1893, Lê-nin tới Xanh Pê-téc-bua và trở thành người đứng đầu nhóm mác xít ở đây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động dạy Hoạt động học Mục tiêu cần đạt "GV giới thiệu chân dung Lê-nin với HS (Hình 78). Sau đó yêu cầu 1 HS trình bày một số nét tiểu sử của Lê-nin. "Trả lời
1. ổ n định lớp 2. Kiểm tra bài cũ+ Trình bày sự thành lập và hoạt động của Quốc tế thứ nhất trong những năm 60 – 70 của thế kỉ XIX.+ Chứng minh rằng : Công xã Pa-ri là nhà n−ớc kiểu mới.+ Nêu ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của Công xã Pa-ri Khác
2. Kiểm tra bài cũ + Những nét nổi bật của phong trào công nhân quốc tế cuối thế kỉ XIX.+ Trình bày hoàn cảnh ra đời và những hoạt động chủ yếu của Quốc tế thứ hai Khác
3. Giới thiệu bài mới Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, Lê-nin tham gia phong trào công nhân Nga và kiên trì đấu tranh chống hai khuynh hướng cơ hội trong Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga để thành lập Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa (Bôn-sê-vích) Nga.Cuộc cách mạng 1905 - 1907 ở Nga đã giáng một đòn nặng nề vào chế độ Nga hoàng và báo tr−ớc cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ xảy ra. Nó là một cuộc tổng diễn tập tạo nên điểm xuất phát cho cuộc Cách mạng tháng M−ời Nga 1917. Hôm nay chúng ta tìm hiểu bài 40 : Lê-nin và phong trào công nhân Ngađầu thế kỉ XX Khác
1. T×nh h×nh n−íc Nga tr−ớc cách mạng.– Cuối thế kỉ XIX → đầu thế kỉ XX, n−ớc Nga chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa (mặc dù ch−a tiến hành cách mạng t− sản).+ Kinh tế công th−ơng nghiệp phát triển xuất hiện các công ti độc quyền.+ Công nghiệp mở rộng với quy mô lớn → công nhân ngày càng đông.– Về chính trị Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ máy chính quyền Lê – Trịnh - giáo án lịch sử cơ bản lớp 10 tập 2
Sơ đồ b ộ máy chính quyền Lê – Trịnh (Trang 13)
Hình phát triển nông - giáo án lịch sử cơ bản lớp 10 tập 2
Hình ph át triển nông (Trang 20)
Hình giáo dục n−ớc ta - giáo án lịch sử cơ bản lớp 10 tập 2
Hình gi áo dục n−ớc ta (Trang 45)
Hình xã hội Việt Nam - giáo án lịch sử cơ bản lớp 10 tập 2
Hình x ã hội Việt Nam (Trang 68)
Sơ đồ nhμ nước phong kiến hoμn chỉnh thời Lê sơ - giáo án lịch sử cơ bản lớp 10 tập 2
Sơ đồ nh μ nước phong kiến hoμn chỉnh thời Lê sơ (Trang 82)
Sơ đồ bộ máy nhμ nước thời Nguyễn - giáo án lịch sử cơ bản lớp 10 tập 2
Sơ đồ b ộ máy nhμ nước thời Nguyễn (Trang 85)
Hình kinh tế chính trị, xã - giáo án lịch sử cơ bản lớp 10 tập 2
Hình kinh tế chính trị, xã (Trang 120)
Hình 61 (Máy Gienny) - giáo án lịch sử cơ bản lớp 10 tập 2
Hình 61 (Máy Gienny) (Trang 144)
Bảng giá trị hμng xuất khẩu của Đức (1890 – 1900) - giáo án lịch sử cơ bản lớp 10 tập 2
Bảng gi á trị hμng xuất khẩu của Đức (1890 – 1900) (Trang 191)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w