Báo cáo thực tập địa chất cấu tạo
Trang 1Báo cáo thực tập Địa chất cấu tạo
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:Nhóm 5 - Đội I
1.TRẦN THANH HẢI 1: Nguyễn Văn Thanh-NT
2 HẠ VĂN HẢI 2: Bùi Văn Tường
4 PHẠM NGUYÊN PHƯƠNG 3: Nguyễn Tiến Đức
Nhằm mục đích đào tạo chuyên môn Địa chất cho sinh viên Theo quyết định số:
3968/QD.MĐC - ĐH SDH của Bộ GD&ĐT Trường Đại học Mỏ Địa chất: ngày
14/11/2007 đã cho phép sinh viên lớp Địa Chất B - K50 đi thực tập môn học Địa chất cấutạo và đo vẽ bản đồ Địa chất tại khu vực thành phố Lạng Sơn từ ngày 31/12/2007 đến ngày 16/02/2008
Thị xã Lạng Sơn là một vùng thực tập rất điển hình và đa dạng cho sinh viên địa chất, đặcbiệt là sv ngành địa chất TKTDKS đi thực tập Với cấu trúc địa chất phong phú, các hiện tượng địa chất nội ngoại sinh rất rõ ràng, nên đi Lạng Sơn là rất phù hợp với mục đích của nhà trường và khoa địa chất đề ra
Đợt thực tập ngoài thực địa nhằm mục đích củng cố các kiến thức đã học từ giáo trình môn học; Địa chất Đại cương, Địa chất cấu tạo, Thạch Học, Lịch sử địa chất… Qua việc vận dụng lý luận thực tế, tìm tòi sáng tạo trong thực tập và làm tổng kết lý luận Đợt thực tập giúp sinh viên làm quen với những công việc sau này, giúp sinh viên hình dung và định hướng được công việc sẽ làm trong tương lai
Để đạt được mục đích và kết quả cao trong đợt thực tập sinh viên phải tuân thủ những yêu cầu đặt ra trong đợt thực tập, phải đảm bảo thực tập đúng nội dung, đúng quy chế thực tập do nhà trường đề ra như: Đảm bảo lộ trình, tuân thủ quy định lao động, đảm bảo việc thu thập mẫu, ghi chép đầy đủ cá nhân, bảo quản tài liệu thực tập và các nhu cầu sinh hoạt
Yêu cầu chuyên môn có 3 phần lớn:
+ Phải nhận biết, nghiên cứu và xác định các cấu tạo địa chất theo các tuyến lộ trình cũngnhư trong vùng nghiên cứu
+ Bước đầu làm quen với công việc đo vẽ bản đồ địa chất
+ Tăng khả năng nhận biết đất đá, sử dụng bản đồ địa hình, địa bàn địa chất, búa và các dụng cụ khác trong khi thực tập
Trong đợt thực tập chúng tôi đã vận dụng các phương pháp phân tích cấu trúc địa chất như; các phương pháp địa mạo, viễn thám, môi trường… Nhằm phát hiện và làm rõ các cấu trúc nằm dưới sâu hoặc bị che khuất bởi đất phong hóa và trầm tích Đệ Tứ
Đợt thực tập này gồm 2 phần lớn : phần thực địa và phần trong phòng, diễn ra trong 6 tuần từ tuần 21 đến tuần 27 tức là từ 31/12/2007 đến 16/02/2008 và được chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Từ ngày 30/12/2007 đến ngày 03/01/2008 Đây là thời gian chuẩn bị dụng
cụ học tập, tư trang, tài liệu địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ địa chất và các điều kiện về vật chất để tiến hành thực tập Giai đoạn này được thực hiện ở nhà và một phần ở Lạng
Trang 2- Giai đoạn 2: Sau giai đoạn chuẩn bị đó là giai đoạn thực địa Giai đoạn này chúng tôI thực hiện tại khu vực TP Lạng Sơn gồm những lộ trình có sự hướng dẫn của thầy giáo và những lộ trình độc lập
- Giai đoạn 3: Giai đọan trong phòng, giai đọan này chúng tôI làm một phần ở Lạng Sơn
và phần lớn tại Hà Nội Đâyy là giai đọan làm báo cáo tổng kết, sơ đồ địa chất, địa mạo, kiến tạo, vẽ mặt cắt địa chất và bảo vệ kết quả thực tập
Lớp Địa Chất B- K50 gồm 25 thành viên được chia ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 5 thành viên, trong đó chúng tôI thuộc nhóm 5 đội I và bao gồm các thành viên sau:
1: Nguyễn Văn Thanh - (Nhóm trưởng)
2: Bùi Văn Tường
Báo cáo gồm 10 chương:
Chương 1: Mở đầu: Giới thiệu mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của đợt thực tập, cơ cấu đoànthực tập, quá trình thực tập và những điểm chúng nhất về báo cáo của đợt thực tập này.Chương 2: Đặc điểm địa lý - kinh tế - nhân văn vùng thành phố Lạng Sơn Giới thiệu khái quát về địa lý, kinh tế - nhân văn và các hoạt động khác của vùng thực tập
Chương 3: Lịch sử nghiên cứu địa chất vùng thành phố Lạng Sơn: Giới thiệu sơ lược quá trình nghiên cứu địa chất của vùng
Chương 4: Địa tầng Giới thiệu và mô tả địa tầng trong vùng nghiên cứu
Chương 5: Kiến tạo Chương này trình bày những điểm vấn về cơ bản nhất về phân vùng kiến tạo, mô tả các nếp uốn, các đứt gãy và khe nứt trong vùng nghiên cứu
Chương 6: Địa mạo Trình bày những điểm chung nhất về địa mạo thực tập và mối liên quan của chúng với cấu trúc địa chất, với khoáng sản, với địa chất công trình - địa chất thuỷ văn – TKTD khoáng sản và môi trường
Chương 7: Địa chất thuỷ văn và Địa chất công trình Giới thiệu các phức hệ, các tầng
Trang 3nước dưới đất, đồng thời giới thiệu một số vấn đề chính về địa chất công trình của vùng nghiên cứu.
Chương 8: Khoáng sản: Trình bày các khoáng sản chính và khả năng sử dụng chúng trong kinh tế và đời sống ở vùng đã thực tập
Chương 9: Lịch sử phát triển địa chất vùng thành phố Lạng Sơn Căn cứ vào các thành tạo địa chất, hiện tượng địa chất để đánh giá và phân tích lịch sử phát triển địa chất của vùng
Chương 10: Kết luận: Trình bày các kết quả thu được sau đợt thực tập, nêu tóm tắt các vấn đề cần khắc phục và phương hướng phát triển Báo cáo được hoàn thành là kết quả của sự đoàn kết và cố gắng của các thành viên trong nhóm, dưới sự hướng dẫn của các thầy giáo trong đoàn thực tập
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: Trường Đại học Mỏ - Địa chất, khoa Địa chất, bộ mộ Địa chất, các thầy giáo hướng dẫn thực tập và chính quyền, nhân dân thành phố Lạng Sơn, những cá nhân tập thể đã tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành đợt thực tập này
2.1.2.1 Địa hình đồi núi
Đồi núi chiếm diện tích khá lớn trong vùng nghiên cứu, phân bố xung quanh thành phố Lạng Sơn Đặc điểm địa hình ở đây là không có núi cao, hầu hết là đồi núi thấp, phân bố thành từng dải liên tục hoặc ở dạng các đồi núi riêng biệt Độ cao phổ biến từ 280 đên 800m Đỉnh núi cao nhất ở phía Tây Bắc có độ cao 800m.Các đồi có vòm rộng, sườn thoải, độ dốc thay đổi từ 150 đến 450 Các núi thường có đỉnh sườn dốc từ 35 đến
Trang 4600.Cấu tạo nên địa hình này là các đá trầm tích lục nguyên, lục nguyên cacbonát và mangan phun trào Phần lớn bề mặt đồi núi bị phong hóa với mức độ khác nhau Một số nơi vở phong hóa dày, sườn dốc mạnh dễ gây ra tai biến địa chất như: trượt lở, sạt sườn, chảy bùi, lũ quét…
2.1.2.2 Địa hình núi đá vôi
Địa hình núi đá vôi là một trong những đặc trưng của địa hình của khu vực thành phố Lạng Sơn Núi đá vôi ở đây không cao hoặc nằm đơn lẻ dạng núi sót
Độ cao tuyệt đối phần lớn các núi là 300 Mức độ phân cắt hay độ chênh cao giữa các đỉnh núi và địa hình xung quanh không quá 200m.Vì vậy theo phân loại núi thì địa hình này chưa đạt tiêu chuẩn, nhưng nếu dùng từ đồi thì không thuận tiện Do vậy, dùng thuật ngữ núi cao cho địa hình nêu trên Các núi đá vôi tập trung ở khu vực Tam Thanh, Nhị Thanh Các núi đá vôi ở đây có dạng tháp, sườn dốc, đỉnh lởm chởm tai mèo, răng cưa sắc nhọn như ở khu vực Đông Kinh Trong khối đá vôi phát triển nhiều hang động Một
số nơi hang động có cảnh quan đẹp như ở Tam Thanh, Nhị Thanh, động Chùa Tiên.2.1.2.3 Địa hình đồng bằng và thung lũng
Địa hình đồng bằng và thung lũng phân bố ở phía Nam và một số nơi xung quanh thành phố Lạng Sơn Về nguồn địa hình này được tạo thành do các quá trình ngoại sinh như: quá trình hoà tan, bóc mòn và tích tụ
Thung lũng lớn nhất là thung lũng thành phố Lạng Sơn, ngoài ra còn xuất hiện thung lũng
ở khu vực Mai Pha, dọc suối Na Sa, suối Ki Ket và thung lũng Nà Chuông Do địa hình bằng phẳng nên ở trung tâm thành phố giao thông khá thuận tiện, là nơi tập trung dân cư, kinh tế phát triển
2.1.2.4 Sông suối
Các sông suối phân bố ở phần phía Nam thành phố Lạng Sơn và một số nơi khác trong vùng Sông Kỳ Cùng chảy qua thành phố theo hướng từ Đông sang Tây
Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ dãy núi Mẫu Sơn ở phía Đông, chảy theo hướng Đông Nam
- Tây Bắc đến vùng nghiên cứu sông uốn lượn rồi chảy theo các phương khác nhau đến Thất Khê, sông chảy vào sông Bằng Giang (Trung Quốc) Trong phạm vi vùng nghiên cứu Sông Kỳ Cùng có chiều dài khoảng 15 km, chảy qua các đất đá và các địa tầng khác nhau, chịu ảnh hưởng của các cấu trúc khe nứt, đứt gãy, nên hướng dòng chảy thay đổi, chiều rộng và chiều sâu lòng sông khác nhau Đoạn chảy qua thành phố Lạng Sơn với địahình tương đối bằng phẳng, phân bố đá hoà tan nên dòng được mở rộng khoảng 60-80m,
có nơi đến gần 100m Dòng sông uốn khúc, nước chảy chậm, bờ sông là nơi tích tụ phù
sa của sông Kỳ Cùng, có nơi là đá vôi hoặc đá trầm tích lục nguyên Lưu lượng của sông thay đổi từ 4,48m3/s về mùa khô, đến 7396m3/s về mùa mưa
Trong vùng nghiên cứu có ba con suối là các suối Na Sa, suối Lau Li và suối Ki Ket Cácsuối có chiều rộng từ 1m đến 20m Suối có nhiều nước vào mùa mưa và ít nước và mùa khô
2.1.3 Khí hậu
Vùng thành phố Lạng Sơn nằm trong phạm vi của đới khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, lượng mưa trung bình thay đổi từ 1700 mm đến 1800mm Trong mùa mưa xuất hiện những trận lũ bất thương làm cho nhân dân thành phố và công tác nghiên cứu địa chất gặp không ít khó khăn Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa ít
từ 100mm đến 200mm Nhiệt độ trung bình từ 10-200C, cá biệt có ngày đến dưới 00C, cóhiện tượng tuyết rơi trên đỉnh nùi Mẫu Sơn Trong mùa khô có nhiều đợt gió mùa Đông
Trang 5Bắc kèm theo mưa phùn Tuy nhiên về mùa này cơ bản về thời tiết khô ráo phù hợp với công tác nghiên cứu khảo sát địa chất.
- Quốc lộ 1A: Hà Nội - Lạng Sơn
- Quốc lộ 1B: Lạng Sơn -Thái Nguyên
- Quốc lộ 4A: Lạng Sơn - Cao Bằng
- Quốc lộ 4B: Lạng Sơn - Quảng Ninh
Đặc biệt là tuyến đường Hà Nội - Lạng Sơn đã được nâng cấp, mở rộng rút ngắn thời gian đi lại giữa hai thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông giữa các khu vựcnói trên Ngoài đường quốc lộ, trong vùng còn có các tuyến đường liên huyện từ thành phố đi các nơi trong tỉnh
2.2.2 Công nghiệp
Nhìn chung công nghiệp trong vùng chưa phát triển không có nhiều công trường và các công sở công nghiệp có quy mô lớn và hiện đại Khu cực thành phố chưa thu hút được nhiều các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư sản xuất tại nơi đây Các cơ sở lớn nhất là Công ty Vật liệu Xây dựng Lạng Sơn
Việc xây dựng còn nhiều bất cập gây không ít khó khăn cho quy hoạch phát triển và đảm bảo môi trường cần được các cấp chính quyền quan tâm hơn
2.2.3 Nông nghiệp
Nông nghiệp của vùng phát triển chưa cao, một phần do điều kiện địa hình khí hậu khôngthuận lợi cho khai trồn các loại cây công nghiệp và phần cơ bản khác là phương thức canh tác còn lạc hậu Tuy nhiên, địa hình khí hậu thuận lợi cho việc trồng cây hoa màu vàrau có chất lượng cao Sản phẩm rau quả ở đây được ưa chuộng tại địa phương và các vùng xung quanh Trong những năm gần đây nông nghiệp và lâm nghiệp đã được chú ý hơn nên diện tích đồi núi trọc đã giảm đáng kể đồng thời nạn phá rừng đã cơ bản được hạn chế
2.2.4 Thương nghiệp
Trong những năm gần đây chính sách mở cửa Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thương nghiệp Giao lưu hàng hóa giữa Lạng Sơn với Trung Quốc lưu thông hàng hóa tập trung tại các khu vực Kỳ Lừa, Đông Kinh, Tân Thanh, Đồng Đăng Hàng năm lưu lượng hàng hóa qua biên giới là rất lớn
Tuy nhiên, ở khu vực này buôn lậu hàng hóa qua biên giới rất khó khăn được giải quyết gây không ít khó khăn cho đời sống, kinh tế ở nơi này
2.3 Đặc điểm nhân văn
2.3.1 Dân số, dân cư
Thành phố Lạng Sơn là trung tâm kinh tế, văn hoá giáo dục của tỉnh Lạng Sơn Hiện tại thành phố có hơn 5 vạn dân, chủ yếu là người Kinh, bên cạnh đó là người Tày, người Dao, người Nùng Tuy có nhiều dân tộc khác nhau cư trú trên cùng địa bàn, nhưng hầu hết đồng bào có tính đoàn kết xây dựng Điều này đã được chứng minh qua những năm
Trang 6chiến tranh và xây dựng đất nước.
dễ dàng phát hiện các đất đá và đặc điểm địa chất
3.1 Giai đoạn trước 1945
Việt Nam nằm dưới sự cai trị của thực dân Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến trước năm 1945,
do đó việc nghiên cứu địa chất vùng cơ bản là do các nhà Địa chất người Pháp tiến hành với mục đích phục vụ cho chính quyền ở đây
Năm 1945, Bausset đã có công trình nghiên cứu vùng Đông Bắc Việt Nam Ông gọi các
đá trầm tích sét két, bột kết, có hóa đá chân rìu ở Lạng Sơn là đá phiến đới sông Hiến.Năm 1926, Epatte đã nghiên cứu đá phun trào ở Bắc Bộ và xếp các trầm tích ở Lạng Sơn vào tuổi Trias
3.2 Giai đoạn 1945 - 1954
Trong thời kỳ do chiến tranh nên việc nghiên cứu địa chất ở nước ta nói chung và ở Lạng Sơn nói riêng chưa tiến hành được nhiều
3.3 Giai đoạn 1954 đến nay
Trong giai đoạn này miền Bắc Việt Nam đã trở lại hoà bình và bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế Việc thăm dò khoáng sản là một trong những nhu cầu quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô, Việt nam đã thành lập bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam với tỷ lệ 1:500.000
Năm 1965 A.E.Dopjicop cùng các nhà Địa chất Việt Nam đã phân chia các đá vùng thành phố Lạng Sơn thành các phân vị địa tầng sau:
- Điệp Lạng Sơn (Tiils)
- Điệp Sông Hiến (T2ash)
- Hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms)
Năm 1962, Bùi Phú Mỹ, Gazenco và một số nhà Địa chất đã xếp Bauxit vùng Đồng Đăngvào tuổi Trias Trong công trình nghiên cứu trùng lỗ Paleozoi thượng của Nguyễn Văn Liêm năm 1966, ông đã xếp Bauxit ở khu vực này vào Điệp Đồng Đăng (P3đđ) và xếp đávôi khu vực Tam Thanh, Nhị Thanh vào hệ tầng Bắc Sơn (C-P2bs)
Năm 1972 Trần Văn Trị và một số nhà Địa chất khác đã thành lập bản đồ địa chất miền
Trang 7Bắc Việt Nam với tỷ lệ 1: 1.000.000 Trong đó đá phun trào ryolit ở khu vực thành phố Lạng Sơn được xếp vào bậc Anizi, trầm tích có hóa đá chân rìu, chân đầu nằm trên đá phun trào xếp vào bậc Lađini.
Từ đầu năm 1969 đến nay các thầy giáo và sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất đã khảo sát khu vực này với mục đích đào tạo và nghiên cứu khoa học, phục vụ đời sống kinh tế quốc phòng đã làm rõ cấu trúc địa chất khu vực cùng những vấn đề liên quan, trong đó có địa chất được phân chia từ trẻ đến già như sau:
+ Thống trên, hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms)
+ Thống giữa, hệ tầng Nà Khuất (T2lnk); hệ tầng Sông Hiến (T2ash)
+ Thống dưới, hệ tầng Kỳ Cùng (T1okc); hệ tầng Lạng Sơn (T1ils)
Giới Paleozoi (PZ)
- Hệ Pecmi
+ Thống trên, hệ tầng Đồng Đăng (P3đđ)
- Hệ Cacbonm, hệ Pecmi thống giữa, hệ tầng Bắc Sơn (C-P2bs)
Các công việc này đã góp phần đào tạo đội ngũ kỹ sư địa chất công trình phục vục cho các ngành kinh tế của nước ta
CHƯƠNG IV
ĐỊA TẦNG
Trong tài liệu bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1965, khu vực thành phố Lạng Sơn là nơi giao nhau của ba đới tướng cấu trúc: đới sông Hiến từ Nà Pàn về phía Tây Bắc, đới An Châu từ Nà Chuông về phía Đông Nam, đới Hạ Lang từ Lộc Bình về phía Đông Bắc
Khu vực nghiên cứu gồm các địa tầng có tuổi từ già đến trẻ được phân chia như sau:
v Giới Paleozoi (PZ)
- Hệ Cacbon - hệ Pecmi, thống giữa - Hệ tầng Bắc Sơn (C-P2bs)
- Hệ Pecmi, thống trên - Hệ tầng Đồng Đăng (P3đđ)
v Giới Mezozoi (MZ)
- Hệ Triat thống dưới - bậc Indi - hệ tầng Lạng Sơn (T1ils)
- Hệ Triat thống dưới - bậc Olenec - hệ thầng Kỳ Cùng (T1okc)
- Hệ Triat thống dưới - bậc Anizi - hệ tầng Khôn Làng (T1akl)
- Hệ Triat thống dưới - bậc Lanizi - hệ tầng Nà Khuất (T2lnk)
- Hệ Triat thống trên - bậc Cacni - hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms)
- Hệ Jura thống trên - bậc Kreta - hệ tầng Tam Lung (J3-Ktl)
v Giới Mezozoi - Giới Kainozoi (MZ - KZ)
- Hệ Kreta thống trên - hệ Paleozoi - Hệ tầng Tam Danh (K3-Etd)
Trang 8hệ tầng Bắc Sơn, sau đó xa dần là hệ tầng Đồng Đăng, Lạng Sơn, Kỳ Cùng, Khôn Làng,
Nà Khuất và Mẫu Sơn
4.1 Giới Paleozoi (PZ)
4.1.1 Hệ cacbon - hệ Pecmi thống dưới, giữa - hệ tầng Bắc Sơn (C-p2bs)
Hệ tầng Bắc Sơn được nhà Địa chất người Pháp Sauriu đã nghiên cứu và đặt ra năm
1956 Năm 1965 nhà Địa chất người Liên Xô A.E.Dopjcov trong loại bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 do ông chủ biên đã xác định các đá vôi ở vùng Bắc Sơn và ở thành phố Lạng Sơn có tuổi Cacbon trung - Pecmi sớm (C-P1bs)
Năm 1977, Trần Văn Trị và một số tác giả khác xếp các đá vôi nói trên vào loạt Bắc Sơn
Sự phân bố của thành tạo này khá rộng Ở khu vực thành phố Lạng Sơn loại hệ tầng Bắc Sơn chiếm phần lớn diện tích thành phố, kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, rộngnhất ở khu vực thành phố và kéo dài ở đầu Tây Bắc và Đông Nam
Nghiên cứu mặt cắt hệ tầng Bắc Sơn từ Đông Kinh qua Nhị Thanh, Tam Thanh và ở khu vực Cò Lèng, Việt Thắng cũng như một số nơi lân cận, thấy rõ:
+ Phần dưới chủ yếu là đá vôi dạng khối, màu xanh xám, xám sáng, kết tinh yếu, khá đồng nhất
+ Phần trên là đá vôi màu xám sáng, xám đen, cấu tạo phân lớp vừa đến dày
+ Trong đá vôi vó hệ tầng có nhiều hóa đá trùng lỗ, san hô, tay cuộn Các hóa đá điển hình là: Verbeekina Verbecki Misellina Compretsa, Fusulinellbocki…
Về dạng nằm và cấu trúc của các đá của hệ tầng Bắc Sơn thấy rõ ở phần dưới cùng của cột địa tầng Trong vùng nghiên cứu chưa thấy hệ tầng nào có tuổi già hơn hệ tầng Bắc Sơn Các lớp đá vôi ở đây thường nằm nghiêng và nghiêng thoải trong cấu tạo nếp uốn ngắn có vòm rộng, cánh thoải, dạng vung, dạng chảo
Căn cứ vào các hóa đá, vị trí địa tầng, căn cứ vào cấu trúc địa chất, liên hệ so với các vùng lân cận xếp các đá vôi ở trên vào hệ tầng Bắc Sơn, tuổi Cacbon đến Pecmi trung.Quan hệ phía dưới của hệ tầng Bắc Sơn với hệ tầng già hơn chưa quan sát được Một số nơi ở Cao Bằng và miền Bắc nước ta thấy chúng phủ bất chỉnh hợp lên các đá già hơn Phía trên các đá này bị các trầm tích của hệ tầng Đồng Đăng phủ bất chỉnh hợp lên.Nghiên cứu các mặt cắt khoan tìm kiếm Bauxit ở khu vực phía Tây Tam Thanh thấy Bauxit ở đây ở dạng vỉa nằm trong các tập đá vôi nằm nghiêng, phía dưới là hệ tầng Bắc Sơn, phía trên được cho là hệ tầng Đồng Đăng, nhưng không rõ tính chất riêng biệt của chúng
Trên mặt cắt này Bauxit có nguồn gốc trầm tích thực thụ, được thành tạo trong mặt cắt liên tục từ dưới lên trên Như vậy có thể xếp ba tập trên vào một hệ tầng: hệ tầng Bắc Sơn
Từ kết quả nghiên cứu trong các lỗ khoan, ta thấy Bauxit ở khu vực thành phố Lạng Sơn khả năng có ba loại:
+ Bauxit dạng vỉa có tuổi đầu Pecmi giữa
+ Bauxit dạng vỉa có tuổi Pecmi muộn như ở Bản Lóng
+ Bauxit được hình thành do phóng hóa làm giàu thứ sinh các lớp xét giàu nhôm và silic như ở Tam Lung, Bản Pịt, Chi Mạc và Bản Lóng…
Như vậy quy mô hệ tầng Bắc Sơn có thể từ Cacbon kéo dài từ Pecmi trung, còn hệ tầng Đồng Đăng thực thụ có tuổi Pecmi muộn (P3) và chuyển tiếp dần lên Trias sớm Trên cơ
sở đã nêu có thể xếp đá vôi Quán Lóng, đá vôi ở Nam Mai Pha vào hệ tầng Bắc Sơn Bauxit Quán Lóng và Bauxit ở Tam Lung xếp vào hệ tầng Đồng Đăng
Chiều dày của hệ tầng Bắc Sơn trên 1000m
Trang 94.1.2 Hệ Pecmi thống trên – hệ tầng Đồng Đăng (P3dđ)
Năm 1956, nhà Địa chất người Pháp F.Sauriu đã nghiên cứu trầm tích silíc, Bauxit đá vôi
ở Lạng Sơn và xác định chúng có tuổi Pecmi sớm Sau đó năm 1962, một số nhà Địa chấtLiên Xô cũ như Gazenco, Trepotaricov và nhà Địa chất Việt Nam Bùi Phú Mỹ đã nghiên cứu trâm tích lục nguyên, silic, Bauxit, đá vôi ở Lạng Sơn và xếp chúng vào Trias sớm.Năm 1966, Nguyễn Văn Liêm đã nghiên cứu trầm tích silic, Bauxit và đá vôi nói trên và xếp chúng vào hệ tầng Đồng Đăng, tuổi Pecmi muộn (P2)
Từ năm 1969 đến nay, các thầy giáo của bộ môn Địa chất cảu Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội đã nghiên cứu các trầm tích Đồng Đăng phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đã xếp các thành tạo nói trên vào hệ tầng Đồng Đăng tuổi Pecmi muộn (P3)
ở khu vực thành phố Lạng Sơn trầm tích của hệ tầng Đồng Đăng tạo thành các dải không rộng dạng viễn quanh trầm tích và hệ tầng Bắc Sơn
ở phía Tây Nam trầm tích hệ tầng Đồng Đăng mở rộng ở khu vực Chùa Tiên, chủ yếu là các thành tạo lục nguyên và sét than
ở một số nơi khác trầm tích này độc lập và bị bao quanh là các trầm tích trẻ hơn như ở khu vực Quán Lóng, gần UBND xã Quang Lạc
Mặt cắt trầm tích hệ tầng Đồng Đăng quan sát tốt ở khu vực Quán Lóng, Phai Lây, Cao Lộc, Kéo Tàu… Từ dưới lên trên, hệ tầng Đồng Đăng gồm các phần:
+ Phần dưới gồm cuội kết, cát kết, sét kết, đá silic có chứa hóa đá fusullina… các lớp cấu tạo phân lớp mỏng đến vừa Các trầm tích này thường đóng vai trò nhân nếp lồi như ở Quán Lóng, Chùa Tiên…
+ Phần giữa chủ yếu là đá vôi màu xám sáng, xám đen, đá vôi dăm kết, vôi silic Phần lớn chúng có cấu tạo phân lớp dày, cấu tạo khối
+ Phần trên là silic, đá vôi phân lớp mỏng có nhiều tạp chất sét, sét kết, đá silic dạng khối,các bột sét kết silic
Các trầm tích nói trên bị chính các hoạt động đứt gãy, bóc mòn yếu tác động trong quá trình trầm tích nên tạo ra hiện tượng mất lớp, mất vỉa, vát vỉa hoặc vỉa và các lớp dôc, dốc mạnh điều này rõ nét ở nơi các trầm tích Pecmi – Trias và gần đá vôi hệ tầng Bắc Sơn
Về thành phần của trầm tích hệ tầng Đồng Đăng có một số điểm đặc trưng là:
+ Tập dưới cùng và trên cùng đều là trầm tích lục nguyên, cát kết, bột kết, sét kết
+ Phần trên của tập dưới và có các lớp Bauxit
+ Phần trên cùng có đá silic và đá vôi
Sự có mặt của các trầm tích trên phản ánh quá trình thay đổi môi trường trầm tích và điềukiện cổ địa lý tương đá trong quá trình thành tạo Ban đầu mới hạ vọng, trầm tích ven bờ, môi trường pH thấp Sau đó biển tiến mạch hơn, đáy trầm tích sâu hơn, nhiệt độ nóng ẩm hơn, trầm tích các thành tạo cácbonat Cuối Pecmi muộn có hiện tượng biển lùi, đáy biển nông dần, trầm tích các sản phẩm cơ học vụn thô lẫn silic
Về cấu trúc, phần lớn hệ tầng Đồng Đăng nằm ở dưới dạng cánh các phức nếp lồi các đá già hơn thuộc hệ tầng Bắc Sơn Một số nơi chúng phát triển hoàn chỉnh cấu tạo nếp lồi, nếp lõm với biên độ đứng không lớn
Trên cơ sở tuổi của các đá có ở tầng này trong khu vực thành phố Lạng Sơn, xem xét các khu vực xung quanh và căn cứ vào các thành tạo già hơn và trẻ hơn, xếp các đá trên vào
hệ tầng Đồng Đăng, tuổi Pecmi muộn (P3)
Quan hệ phía dưới là quan hệ bất chỉnh hợp trên đá vôi hệ tầng Bắc Sơn Đây là bất chỉnhhợp khá lớn, gặp ở nhiều nơi trong vùng và miền Bắc
Trang 10Quan hệ phía trên là quan hệ chỉnh hợp, được các đá cát kết, bột kết, sét kết, sét vôi, sét than của hệ tầng Lạng Sơn phủ chỉnh hợp lên trên Các vết lộ ở khu cực nhà hàng Hoàng
Di, Cao Lộc và Mai pha đã xác định điều đó
Xác định được đúng các quan hệ địa tầng nhờ đó mà giải quyết các mấu chốt vấn đề cấu trúc thành phố Lạng Sơn Trước đây nhiều chỗ của vùng được vẽ dưới dạng quan hệ kiến tạo, chủ yếu là đứt gãy nghịch, mặt trượt thường nghiêng về phía tầng Bắc Sơn Trong đó
hệ tầng Bắc Sơn nâng lên, hệ tầng Đồng Đăng hạ xuống
Hiện nay các nghiên cứu trong vùng cho thấy cơ bản quan hệ giữa hệ tầng Đồng Đăng vàLạng Sơn là quan hệ chỉnh hợp địa tầng Điều này có ý nghĩa to lớn trong nghiên cứu cấutrúc, khoáng sản, môi sinh, môi trường và quy hoạch thành phố Chiều dày hạ tầng 100-200m
4.2 Giới Mezozoi (MZ)
4.2.1 Hệ Trias thống dưới, bậc Indi – hệ tầng Lạng Sơn (T1ils)
Điệp Lạng Sơn do A.E.Dovjieov xác lập cho các trầm tích lục nguyên chứa hóa đá chân rìu tuổi Trias sớm vào năm 1965 Đến năm 1977 Đoàn Kỳ Thuỷ tách điệp này ra thành hệtầng Lạng Sơn (T1ils) và hệ tầng Kỳ Cùng (T1oks) Trên cơ sở khác nhau về thành phần thạch học, cấu trúc lớp, các tầng, các hóa đá và điều kiện thành tạo trầm tích
Phạm vi lộ ra của hệ tầng Lạng Sơn khoảng 9km2, phân bố ven khu vực trung tâm thành phố Lạng Sơn Dải phía Tây kéo dài khoảng 3,5 km, dải phía Đông kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dài 8km
Mặt cắt quan sát tốt của hệ tầng này là từ Đông Kinh đi Bản Lỏng (dọc quốc lộ 1A) và theo tuyến lộ trình Đông Kinh – Nà Pàn Mặt cắt gồm hai phần:
+ Phần dưới chủ yếu gồm các trầm tích lục nguyên như cát kết, bột kết, sét kết có cấu tạo phân nhịp điển hình, đôi nơi gặp đá vôi màu xám xanh
+ Phần trên: Cát kết, bột kết, sét kết có mãu xám lục, màu vàng
Các lớp của hệ tầng này có mặt lớp rõ ràng, có cấu tạo phân lớp gợn sóng, xiên chéo songsong đặc trưng cho cấu tạo trầm tích biển nông
Hóa đá đặc trưng của hệ tầng này là hóa đá chân rìu, chân đầu Đây là hóa đá định tầng dùng để xác định tuổi cho hệ tầng Lạng Sơn
Quan hệ dưới với hệ tầng Đồng Đăng là quan hệ chỉnh hợp Quan hệ trên với hệ tầng Kỳ Cùng cũng là quan hệ chỉnh hợp Bề dày của hệ tầng là 800-100m
4.2.2 Hệ Trias thống dưới – Bậc Olenec – hệ tầng Kỳ Cùng (T1okc)
Trước đây hệ tầng này là phần trên của hệ tầng Lạng Sơn Hiện nay, Kỳ Cùng đã tách ra thành một hệ tầng riêng Hệ tầng Kỳ Cùng phân thành hai dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam
Dải thứ nhất nằm ở phía Tây thành phố dài khoảng 6km, dải thứ hai nằm ở phía Đông thành phố, dài khoảng 2,5km
Các đất đá thuộc hệ tầng này được quan sát rõ nhất là ở khu cực Nà Pàn, Nà Chuông và phía Đông Mai Pha Mặt cắt của hệ tầng được chia làm ba phần
+ Phần dưới: gồm bột sét kết, cát kết có cấu tạo phân lớp mỏng, xen kẽ là các lớp sét vôi mỏng
+ Phần giữa: đá vôi phân lớp mỏng, có màu xám xanh, xám đen Trong thành phần có nhiều sét, quan sát ở đây có các mạch canxit, bề mặt bị phong hóa rạn nứt dạng dăm, dạng que…
Hóa đá có trong hệ tầng này là Nordophicerassp
Do hóa đá có trong tầng mà xác định tuổi của hệ tầng này, là hệ tầng độc lập với hệ tầng
Trang 11Lạng Sơn.
Quan hệ trên của hệ tầng là quan hệ chỉnh hợp và bất chỉnh hợp với hệ tầng Khôn Làng Quan hệ dưới nằm chỉnh hợp lên trên hệ tầng Lạng Sơn Hệ tầng có chiều dày khoảng 200m
4.2.3 Hệ Trias – thống giữa – bậc Aniz – hệ tầng Khôn Làng (T2akl)
Nhà Địa chất Pháp E.Patte đã xếp phun trào ở Bắc Bộ vào hệ Trias Năm 1992 các tác giảcủa cục Địa chất xếp hệ tầng này vào một đơn vị riêng gọi là hệ tầng Khôn Làng
Cấu trúc của hệ tầng này có hai phần rõ rệt:
+ Phần dưới: chủ yếu là ryolit, tuf, tufit có cấu tạo khối Đá có màu lục, xám xanh, xanh
lá cây tuỳ thuộc vào hàm lượng sắt và độ sâu thành tạo, đá khá rắn chắc
Một số nơi ryolit xuyên cắt các đá phần dưới của hệ tầng Kỳ Cùng và hệ tầng Lạng Sơn, chúng trẻ hơn các đá nêu trên
+ Phần trên của hệ tầng chủ yếu là cát, bột, sét kết, chuyển tiếp dần lện hệ tầng nà Khuất Một số lớp của hệ tầng Nà Khuất có hóa đá xác định tuổi lađini
Màu sắc phụ thuộc vào điều kiện thành tạo Trong môi trường khử (biển), điều kiện khí hậu bình thường, mát mẻ, chúng thường có màu xanh Tuy nhiên trong điều kiện thiếu oxi, môi trường khử khô nóng, giàu các vật chất tro, tuf… chúng có màu tím nâu như ở khu vực Phai Lây đi Phai Luông
Các đá phan trào của hệ tầng Khôn Làng phủ chỉnh hợp trên sét, bột kết hạ tầng Kỳ Cùng(Khu Nà Pàn) Trong đó phun trào thấy cát, bột, sét kết hệ tầng Kỳ Cùng bị ryolit bao quanh Vì vậy các đá nói trên trẻ hơn hệ tầng Kỳ Cùng, xếp vào tuổi Olene, đầu Anizi.Như thế hệ tầng Khôn Làng được thành tạo trong khoảng thời gian từ cuối Trias sớm đến đầu Trias trung, ứng với kỳ Anizin (T2a) Chiều dày của hệ tầng khoảng 450m
4.2.4 Hệ Trias – thống giữa – bậc Ladizi – Hệ tầng Nà Khuất (T2lnk)
Năm 1965, Dovjicov thành lập hệ tầng này đặc trưng cho các trầm tích ở khu vực Nà Khuất
Năm 1977, Trần Văn Trị xếp các trầm tích trên vào tuổi Ladizi
Năm 1984, Trần Đăng Tuyết xếp các trầm tích nói trên vào hệ tầng Nà Khuất
Hiện nay tập thể các thầy giáo bộ môn Địa chất gọi trầm tích đã nêu là hệ tầng Nà Khuất
Hệ tầng có diện lộ khá lớn ở phía Đông Bắc - Đông Nam vùng nghiên cứu gồm các đá cát, bột, sét kết có màu vàng, xám xanh, màu tím gan gà đặc trưng Mặt cắt nghiên cứu rõcủa hệ tầng này là tuyến Đông Kinh – Lộc Bình và tuyến Pò Lèo – Bản Cằm:
+ Phần dưới là các lớp cát kết, bột kết, sét kết màu xám lục, xám xanh ghi, màu vàng.+ Phần trên là các lớp cát sét, bột kết, sét kết phân nhịp có màu vàng, xám vàng, nâu vàng, tím gan gà
+ Phần trên cùng là các lớp cát kết, bột kết, sét kết màu đỏ nâu
Các trầm tích hệ tầng Nà Khuất nằm chuyển tiếp dần lên các trầm tích lục nguyên trào của hệ tầng Khôn Làng Dọc tuyến lộ Phai Lây – Phai Luông và một số nơi khác, phía trên các trầm tích này chuyển dần sang các trầm tích của hệ tầng Mẫu Sơn
Tuy nhiên một số nơi do bào mòn cục bộ hoặc đứt gãy thấy các đá hệ tầng Mẫu Sơn phủ bất chỉnh hợp lên phía trên các đá của hệ tầng Nà Khuất
Cơ sở xác định tuổi của hệ tầng Nà Khuất là các hóa đá chân rìu và chân đầu ở một số nơinhư Phai Luông, Nà Chuông… Căn cứ vào các hóa đá này, xếp các trầm tích nói trên vào
kỳ Ladizi Chiều dài của hệ tầng từ 550-1200m
4.2.5 Hệ Trias – thống trên – Bậc Cacni – Hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms)
Điệp Mẫu Sơn do A.E.Dovjicov xác lập năm 1965 cho các trầm tích lục nguyên có màu
Trang 12nâu đỏ ở Đồng Bằng Bắc Bộ.
Năm 1977 Trần Văn Trọ xếp các trầm tích nói trên vào hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms)
Phạm vi phân bố của hệ tầng khoảng 7km2 chủ yếu ở khu vực Đông bắc của vùng thực tập
Mặt cắt quan sát tốt nhất dọc tuyến lộ trình cầu Nà Mừng đi Lộc Bình và Pò Lèo qua bản Nậm Dần đến Bản Cằm Trầm tích của hệ tầng gồm các phần sau:
+ Phần dưới chủ yếu là dăm, cuội, sạn kết, cát kết có màu nâu đỏ phân lớp dày
+ Phần giữa chủ yếu là bột kết, sét kết màu đỏ, tím nâu
+ Phần trên là cuội sạn kết, cát kết màu đỏ
Trong vùng nghiên cứu, trầm tích này thường nằm ở cấu trúc phức nếp lõm, ứng với địa hình đảo ngược như ở khu vực Nam Bản Nậm Dần, Đông Bắc Nà Chuông và một số nơi khác
Phía dưới là các trầm tích của hệ tầng Nà Khuất chuyển tiếp dần lên hệ tầng Mẫu Sơn Quan hệ phía trên thấy ở một số nơi ngoài vùng nghiên cứu là quan hệ bất chỉnh hợp với trầm tích Jura, Kreta
Chiều dài của hệ tầng khoảng 500m
4.2.6 Hệ tầng Tam Lung (J3-Ktl)
Hệ tầng Tam Lung do Nguyễn Kinh Quốc thành lập năm 1992 Hệ tầng phân bố ở phía Tây Bắc vùng nghiên cứu thuộc khu vực xã Hoàng Đồng Các đá cơ bản là: cuội kết, sạn kết, cát kết, bột kết, ryolit porphyry và tur của chúng
ở khu vực Hoàng Đồng, bên trái đường Lạng Sơn - Đồng Đăng gần Đồng én đã khoan thăm dò cấu trúc hệ tầng này Cột địa tầng lỗ khoan cho thấy các đá chính như đã nêu Căn cứ vào quan hệ của hệ tầng với các đá già hơn và trẻ hơn, căn cứ vào đặc điểm địa chất khu vực (khu vực Tú Lệ, Đông Nam Bộ, Lạng Sơn…) căn cứ vào tuổi tuệt đối của các đá mangan, xếp các thành tạo đã nêu vào tuổi Jura muộn - Kreta
Tổng chiều dài của hệ tầng là 350-380m
4.3 Giới Mezozoi - Giới Kainozoi (MZ - KZ)
4.3.1 Hệ Kreta - Hệ Paleogen - Hệ tầng Tam Danh (K3-Etd)
Hệ tầng Tam Danh do Nguyễn Kinh Quốc xác lập năm 1992 Trong khu vực nghiên cứu,
hệ tầng phân bố ở khu vực phía Bắc và Tây Bắc xã Hoàng Đồng
Các đá chủ yếu của hệ tầng là: bazan, varyolit, andezit, andezito bazan, sạn kết lẫn tro núilửa, cát kết tufogen, sạn kết tufogen Các đá của hệ tầng nằm bất chỉnh hợp trên hệ tần Tam Lung
Chiều dày của hệ tần khoảng 150-200m
4.4 Giới Kainozoi (KZ)
4.4.1 Hệ Neogen- Thống - Hệ tần Na Dương (N1nd)
Hệ tầng này do A.E Dovjicov xác lập năm 1965
Năm 1977 Trần Văn Trị, Trần Đình Nhân, Trịnh Danh và một số tác giả khác xác lập hệ tầng này
Trong vùng nghiên cứu hệ tầng phân bố ở phía Đông kéo dài từ phía Đông Phai Lây qua Hợp Thành đến phía Tây Bắc Cầu Nà Mừng Chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến 1km
Mặt cắt quan sát ở khu vực Hợp Thành, từ Cao Lộc đến Pò Lèo.Có thể thấy thành tạo của
hệ tầng gồm hai phần rõ rệt:
+ Phần dưới chủ yếu là cát kết hạt nhỏ, bột kết, sét kết có các dải sét than, limonit… Trong các lớp trầm tích đã nêu thấy rõ cấu tạo phân lớp xiên chéo Căn cứ vào chiều dày
Trang 13ổn định và dạng mặt lớp song song, có thể thấy phân bố tương đối rộng Đặc điểm này cho thấy phần dưới được thành tạo vào đầu giai đoạn hạ võng trầm tích khá trên phạm vi rộng.
+ Phần trên là các lớp cuội sạn kết, cát kết, bột kết, sét kết và các lớp than nâu mỏng Cáclớp nói trên thường ở dạng thấu kính, vát vỉa, thay đổi nhanh về góc dốc, chiều dàu và đường phương Phần lớn chúng nằm dốc về phía Tây Nam, càng gần đứt gãy Cao Bằng - Lộc Bình - Tiên Yên chúng càng dốc hơn Như thế các trầm tích đã nêu thực sự được thành tạo trong các trũng kéo toác dọc theo đứt gãy Cao Bằng - Lộc Bình - Tiên Yên vào cuối Neogen sớm
Các thành tạo nói trên nằm bắt chỉnh hợp địa tầng và kiến tạo trên hệ tầng Khôn Làng,
Nà Khuất, Mẫu Sơn
Chiều dày của hệ tầng khoảng 80-200m
là cuội, mảnh vụn, sạn, cát, cát pha, sét pha, sét than và mùn hữu cơ
Chiều dày của các thành tạo Đệ Tứ nói trên từ vài chục cm đến 20cm
CHƯƠNG V KIẾN TẠO Khu vực thành phố Lạng Sơn là nơi có hoạt động kiến tạo đối mạnh, nhất là trong giai đoạn Paleozoi muộn - Mezozoi và Kainozoi
Một số nhà Địa chất theo thuyết địa máng xếp vùng thành phố Lạng Sơn vào nơi giao nhau của ba đới tướng cấu trúc: đới Sông Hiến, đới Hạ Long và đới An Châu, thuộc miềnhoạt hóa kiến tạo Paleozoi muộn - Mezozoi
Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là công nghệ vũ trụ và các phương pháp địa vật lý trong thời gian gần đây đã đi đến nhận định cấu trúc cơ bản của Trái Đất Trong
đó, phần ngoài cùng là thạch quyển gồm phần trên của Manti và vỏ Trái Đất là các thành tạo cứng có thành phần chủ yếu là các silicat chuyển dịch về các phía khác nhau trên quyển mềm của Manti trên
Do chuyển động quay của Trái Đất, các dòng đối lưu, các tác động va chạm hành tinh và mối quan hệ hấp dẫn giữa các hành tinh mà từng phần của thạch quyển chuyển dịch về các phía khác nhau, trượt trên quyển mềm tạo thành các mảng Quan hệ giữa các mảng cùng với các đột biến về va chạm hành tinh là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hình thành cấu trúc vùng thành phố Lạng Sơn và phần lớn cấu trúc ở nước ta…
Ở đây các đá già nhất có tuổi Cacbon- Pecmi trung Đồng thời có phổ biến các thành tạo lục nguyên, cacbonat, phun trào tuổi Mezozoi - Kainozoi Tuy nhiên về mặt cấu trúc, chưa quan sát thấy hiện tượng hút chìm và các cấu tạo nên tăng trưởng cũng như đặc trưng của các cấu trúc trên
Cấu trúc của khu vực mang tính cấu trúc vùng rift - địa hào cạnh khu vực hoạt động mạnh như Lai Châu - Sơn La - Ninh Bình và liên quan với đột biến chảy vỏ phun trào magma có nguyên nhân là các vụ va chạm hành tinh vào cuối Pecmi muộn đầu Trias sớm Trên cơ sở khoa học đã nêu phân tích cấu trúc và lịch sử hình thành cấu trúc vùng thành phố Lạng Sơn và sát thực tế hơn
Trang 14Theo các tài liệu của thế giới và Việt Nam, thì khu vực thực tế ở Đông Nam của mảnh Đông á Một số tác giả xếp khu vực này vào phần Nam của mảng Dương tử hoặc mảng Việt Trung Một vài tác giả phân chia ra rìa thụ động, rìa tích cực…
Trên cơ sở phân tích các tài liệu đã có căn cứ vào tài liệu thực địa và tổng hợp chúng tôi sắp xếp chương kiến tạo gồm ba phần:
- Các đới kiến tạo
- Các nếp uốn
- Các đứt gãy và khe nứt
5.1 Các đới kiến tạo
Trên bình đồ cấu trúc hiện đại, nước Việt Nam nằm trong mảng Đông á Trong thời gian Paleozoi muộn phần Đông Bắc Việt Nam trong đó có vùng Lạng Sơn là phần mảng lục địa đã nêu
Cuối Pecmi đầu Trias có sự va chạm của mảng Đông Dương với mảng Đông á với các hoạt động tách giãn, phun trào bazan khá mạnh mẽ dọc tuyến sông Đà-Thanh Hoá-Ninh Bình Hiện tượng nói trên đã tác động mạnh đến khu vực Hà Giang - Cao Bằng - Lạng Sơn - Quảng Ninh - Bắc Giang - Thái Nguyên và các vùng lân cận Kết quả đầu tiên là hình thành các đới đứt gãy sâu các địa hào mà khu vực thành phố Lạng Sơn là nơi giao nhau cảu chúng với các phương chính là Tây Bắc - Đông Nam và á kinh tuyến tạo nên cấu trúc lớn dạng chữ nhân hoặc chặc ba
Với cấu trúc đã nêu, phân chia các đơn vị kiến tạo từ lớn đến nhỏ như sau:
+ Mảng Đông á
+ Khu vực Đông Bắc Việt Nam
+ Vùng phát triển và các đứt gãy sâu vòm nhiệt thành phố Lạng Sơn
Trong vùng thành phố Lạng Sơn có các đới kiện tạo:
- Đới trung gian giữa các nhánh đứt gãy sâu
- Đới hạ võng và trầm tích Pecmi muộn - Trias sớm ven các nhánh đứt gãy sâu
- Đới phát triển magma ven các đứt gãy sâu Trias trung
- Đới hạ võng trầm tích ven các đứt gãy sâu Trias trung và Trias muộn
- Đới hạ võng trầm tích kế thừa ven các đứt gãy sâu và phát triển magma dạng vòm nhiệt vào Jura muộn - Poleogen
- Đới tách giãn kiến tạo và hạ võng trầm tích Kainozoi giữa - muộn
Dưới đây chúng toi trình bày những đặc điểm chính của các đới kiến tạo trên
5.1.1 Đới trung gian giữa các nhánh đứt gãy sâu:
Đới có phương kéo dài Tây Bắc - Đông Nam từ Đồng én qua Kỳ Lừa đến Mai Pha bao gồm chủ yếu phân bố trầm tích hệ tầng Bắc Sơn
Các thành tạo chính của đới là đá vôi, đá vôi vi hạt có cấu tạo từ phân lớp vừa đến phân kớp dày với cấu trúc phức nếp uốn mà phần lớn các nếp uốn thành viền có vòm cong cánh cánh thoải, bình đồ có dạng vung, chảo, dạng nếp uốn ngắn
Các thành tạo trầm tích nói trên được hình thành vào Cacbon-Pecmi trung trong điều kiệnmôi trường biển nóng ẩm, trong, ở điều kiện kiến tạo khá bình ổn Quá trình uốn nếp với các trầm tích đã nêu xảy ra vào cuối Pecmi trung đưa diện tích trầm đọng trước đây thànhlục địa hình thành mảng Việt Trung (Dương Tử) trong mảng lớn Đông á
Tất nhiên theo phân tích kiến tạo vào các giai đoạn trước thì còn có các mảng hoặc vi mảng (terrane) ở các vị trí trước và thời gian khác nhau
Trong thời kỳ cuối Paleozoi đầu Mezozoi đới này và phần lớn cấu trúc tương tự ở Việt Nam bị tác động bởi hoạt động va chạm hút chìm, hạ võng của mảng Đông Dương với
Trang 15mảng Việt Trung Trong bối cảnh hoạt động này dẫn đến quá trình hạ võng theo phương Tây Bắc - Đông Nam, biến đổi từ rìa của đới, dần dần tiến đến trung tâm của đới, hình thành miền ven biển, biển nông, trầm tích các thành tạo lục nguyên, cát kết, bột kết, sét kết, sét than, bauxit…và trầm tích sau hơn là silic và đá vôi Đồng én, Hoàng Đồng, Kỳ Lừa, Khôn Sào, Bản Lóng, Mai Pha…là các khu vực đã xuất hiện các hiện tượng hạ võngnhư đã nêu trên.
Tuy nhiên, một số nơi trung tâm vùng nghiên cứu (Nhị Thanh, Pha Vệ…) chưa phát hiện các trầm tích nói trên chứng tỏ ở những vị trí này hiện tượng hạ võng xảy ra sau khu vực nói trên, thậm trí là đột biến, sụt võng đột ngột nên không có điều kiện trầm tích khoáng sản bauxit
Đặc điểm kiến tạo trong đới sau quá trình uốn nếp rõ nhất là các cấu tạo theo phương Đông Bắc - Tây Nam, Tây Bắc - Đông Nam, á kinh tuyến, á vĩ tuyến nhưng chưa gặp cácthể magma phun trào với quy mô lớn, vì vậy có thể xác định rằng đây là đới trung gian giữa các nhánh đứt gãy sâu, trung gian giữa các dải hoạt động mạnh nên hoạt động kiến tạo bình ổn hơn so với xung quanh
Trong số các cấu tạo dạng phá huỷ thuộc giai đoạn trước, đáng kể là đứt gãy Tây Kỳ Lừa,hình thành đới ép đạp vỡ milonit
Sau đó các cấu trúc cơ bản gặp trong các đới này là cấu trúc đứt gãy có quy mô và
phương khác nhau, nhưng chưa gặp đá phun trào
Vì vậy có thể coi đây là đới trung gian nằm ở nơi giao hoà cân bằng tương đối các lực kiến tạo tấc động bởi nhánh đứt gãy sâu
5.1.2 Đới hạ võng và trầm tíc Pecmi muộn - Trias sớm ven các nhánh đứt gãy sâu
Đới này bao gồm các dải phía Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nam và Đông Nam vùng nghiên cứu Các đá cấu thành đới kiến tạo này là trầm tích ven bờ và biển nông như cát kết, bột kết, sét kết, sét than, bauxit, silic thành tạo trong điều kiện hạ võng khu vực ở mức độ trung bình thuộc giai đoạn đầu biển tiến Pecmi muộn - Trias sớm
Các thành tạo nói trên thuộc các hệ tầng: Đồng Đăng, Lạng Sơn, Kỳ cùng, với các
phương chính là Đông Bắc - Tay Nam, Tây Bắc - Đông Nam
Vào cuối Pecmi, tiếp theo quá trình hạ võng chung, một số nơi ven rìa đới thứ nhất xuất hiện các đứt gãy thuận toác căng võng, hạ lún thay đổi thế nằm và góc dốc của trầm tích
hạ tầng Đồng Đăng và hệ tầng Lạng Sơn, sau đó ở một số nơi nói trên có hoạt động dồn
ép, hình thành các đứt gãy trượt nghịch làm các trầm tích đá vôi bị biến dạng khá mạnh.Các uốn nếp trong đới này phần lớn ở dạng nếp lồi nhỏ hoặc dạng nếp uốn ngắn không cócác nếp uốn dạng tuyến
Các biến dạng phá huỷ trong đới thuộc b loại sau:
- Đới thứ nhất là biến dạng phá huỷ liên quan đến phá huỷ ở móng thuộc hệ tầng Bắc Sơn
- Đới thứ hai là biến dạng phá huỷ liên quan với các hoạt động phun trào dồn ép
- Đới thứ ba là đới biến dạng phá huỷ liên quan với quá trình dồn ép bồn trầm tích
Ở các vị trí giao tuyến giữa magma và biến dạng đã xuất hiện các đứt gẫy nghịch như ở phía Nam nhà hàng Hoàng Di, Tây Bắc Bệnh viện Lạng Sơn, Mai Pha…
Ở dạng thứ hai có thể gặp các đới trượt chờm và các nếp uốn đảo, chúc đầu như ở phía Nam và phía Tây Bắc Nà Pàn, bờ trái sông Kỳ Cùng, ở phía Nam Nà Sen, phía Đông MaiPha…
Ở dạng thứ ba hình thành các nếp uốn có góc dốc nhỏ như ở quãng đền thờ Trần Hưng Đạo, Thác Trà, phía Bắc Nà Chuông…nhưng ở phía trên xuất hiện các nếp uốn đảo, chúc
Trang 16đầu, dạng mào gà như ở Đông Bắc Bản Lóng, phía Đông Pò Mơ…
Trên cơ sở phân tích như đã trình bày thấy rằng vào cuối Trias sớm một số nơi trong vùng đã trở thành lục địa có mặt các phun trào magma axit dạng đảo và cung đảo
5.1.3 Đới magma phun trào Trias trung ven nhánh đứt gãy sâu
Trong khu vực nghiên cứu chúng tôi thấy các đới này phân bố các dải ở phía Tây, phía Đông bắc và Đông Nam
Dải phía Tây nó các phương Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam
Dải phía Đông Bắc có các phương Tây Bắc - Đông Nam chuyển thành Đông Bắc - Tây Nam rồi thu hẹp dần và mất hẳn
Những điều trình bày đã xác định rằng phần phía tây có hoạt động magma khá mạnh, trong khi đó ở phần phía Đông và Đông Bắc hoạt động magma cũng tương đối, còn lại phần Đông Nam thì hoạt động trên yếu hẳn, chứng tỏ hoạt động đứt gãy ở hai khu vực nói trên, nhất là đứt gãy thuận - toác là khá mạnh Đồng thời điều kiện môi trường lục địa
và biển đã cho khả năng khác nhau với thành tạo magma phun trào axit
Magma phun trào axit chủ yếu là ryolit, thể hiện là loại magma có lò tương đối nông, liênquan đến hiện tương tách vỏ ở mức đột thật không mạnh mẽ, dung dịch magma xuyên chậm lên vỏ và đồng hoá phần đá già silic và tạo magma phun trào axit
Điều nữa cho thấy, ngoài việc magma nói trên xuyên quan các đá cổ hơn chúng còn phủ chính hợp lên trên cá đá trầm tích ở đây chứng tỏ chúng được lắng đọng ở các trũng sâu cung hoặc giữa cung khi trầm tích biển nông đang được hình thành như ở phía Tây Nam
Nà Pàn
Như vậy sự có mặt của đới magma phun trào đã thể hiện hoạt động kiến tạo magma khá mạnh ở đây nhưng liên quan chủ yếu với các đứt gãy sâu (phần nào giống dạng Bâicn),
và một số nơi khác với magma thuộc đới tách giữa sông Đà
Các biến dạng phá huỷ tương đối hình thành vào các giai đoạn khác nhau nhưng liên quan nhiều đến giai đoạn cuối Trias và giai đoạn Jura - Neogen Chúng chia cắt các đá trong đới, hình thành các dải dập vỡ và bị phong hoá mạnh, phong hó dạng đường
5.1.4 Đới hạ võng trầm tích Trias trung -Trias muộn ven các đứt gãy sâu
Vào giữa Trias hoạt động đứt gãy mạnh lên ở dạng đứt gãy sâu - địa hào hình thành các dải biển phương Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam ở phía Đông Bắc và Đông Nam vùng nghiên cứu
Giới hạn của phạm vi này về phía Đông Bắc có thể là đứt gãy Cao Bằng - Lộc Bình - Tiên Yên, phía Đông Nam là đứt gãy Na Sa - Nà Chuông - Đồng Mỏ - Chi Lăng - Sông Thương, trong đới đứt gãy theo phương này
Quá trình hạ võng hình thành đới biển nông với các trầm tích các - bột kết, sét kết và sét vôi
Tuy nhiên, do quá trình phun trào magma với thời tiết nóng và khô, do hiện tượng chuyểndịch về phía Đông Bắc và Đông Nam nên đã xuất hiện các biển nông dạng vũng vịnh và sau đó là các vũng biên có khí hậu khô nóng
Trong các điều kiện ở trên đã hình thành trầm tích thuộc môi trường oxy hoá với các lớp trầm tích có màu sắc sặc sỡ như tím gan gàn, nâu, nâu đỏ
Trong điều kiệnnhw thế đã hình thành cấu trúc dạng võng địa hoà hệ thống Mẫu Sơn lên
hệ tầng Nà Khuất Trong điều kiện võng sâu phân dị đã hình thành các cấu trúc dạng khốimang tính chất cục bộ rõ rệt
Cấu trúc nếp uốn đặc trưng là phức hệ nếp võng sâu phân dị đã hình thành các cấu trúc dạng khối mang tính chất cục bộ rõ rệt