1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo thực tập địa chất cấu tạo TẠI thành phố Lạng Sơn

55 808 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 95,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phụ lục Chương 1: Khái quát chung : Giới thiệu mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của đợt thực tập, cơ cấu đoàn thực tập, quá trình thực tập và những điểm chúng nhất về báo cáo của đợt thực tập này. Chương 2: Đặc điểm địa lýkinh tế nhân văn vùng thành phố Lạng Sơn: Giới thiệu khái quát về địa lý, kinh tế nhân văn và các hoạt động khác của vùng thực tập. Chương 3: Lịch sử nghiên cứu địa chất vùng thành phố Lạng Sơn: Giới thiệu sơlược quá trình nghiên cứu địa chất của vùng. Chương 4: Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc địa chất và đo vẽ bản đồ địa chất. Chương 5: Địa tầng: Giới thiệu và mô tả địa tầng trong vùng nghiên cứu. Chương 6: Kiến tạo: Chương này trình bày những điểm vấn về cơ bản nhất về phân vùng kiến tạo, mô tả các nếp uốn, các đứt gãy và khe nứt trong vùng nghiên cứu. Chương 7: Địa mạo: Trình bày những điểm chung nhất về địa mạo thực tập và mối liên quan của chúng với cấu trúc địa chất, với khoáng sản, với địa chất công trình địa chất thuỷ văn – TKTD khoáng sản và môi trường. Chương 8: Địa chất thuỷ văn và Địa chất công trình: Giới thiệu các phức hệ, các tầng nước dưới đất, đồng thời giới thiệu một số vấn đề chính về địa chất công trình của vùng nghiên cứu. Chương 9: Khoáng sản: Trình bày các khoáng sản chính và khả năng sử dụng chúng trong kinh tế và đời sống ở vùng đã thực tập. Chương 10: Lịch sử phát triển địa chất vùng thành phố Lạng Sơn. Căn cứ vào các thành tạo địa chất, hiện tượng địa chất để đánh giá và phân tích lịch sử phát triển địa chất của vùng. Chương 11: Kết luận: Trình bày các kết quả thu được sau đợt thực tập, nêu tóm tắt các vấn đề cần khắc phục và phương hướng phát triển.

Trang 1

Lời nói đầu

Việt Nam có diện tích không lớn, nhưng tài nguyên địa chất và khoáng sản rấtphong phú, đa dạng, là một trong những nguồn lực rất quang trọng của đất nước

Là một trường đi đầu trong công tác đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu cho cácngành nghiên cứu địa chất, tìm kiếm, thăm dò, khai thác các tài nguyên địa chất vàkhoáng sản, trường Đại học Mỏ - Địa chất nhiều năm liền là một tập thể tiên tiếnxuất sắc, nhân được nhiều bằng khen từ chính phủ Hằng năm trường Mỏ - Địachất luôn tổ chức những đợt công tác tập huấn nâng cao tay nghề, kiến thức chocác giáo viên, cũng như nhiều đợt thực tập địa chất cho các sinh viên Vừa qua nhằm mục đích đào tạo chuyên môn Địa chất cho sinh viên Theo quyếtđịnh số: 3968/QD.MĐC - ĐH SDH của Bộ GD&ĐT Trường Đại học Mỏ - Địachất: ngày 05/12/2011 đã cho phép sinh viên lớp Địa vật lý - K54 đi thực tập mônhọc Địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ Địa chất tại khu vực thành phố Lạng Sơn từngày 06/12/2011 đến ngày 18/12/2011

Hi vọng với cuốn báo cáo kết quả thực tập địa chất này sẽ mang đến cái nhìn chitiết hơn về những công việc địa chất mà đoàn thực tập của chúng tôi thu đượctrong 12 ngày làm việc ở thành phố Lạng Sơn

Để hoàn thành cuốn báo cáo này, tập thể tác giả đã nhận sự quan tâm, tạo điềukiện của Nhà trường, cũng như sự chỉ đạo, hướng dẫn, động viên tận tình của cácthầy trong bộ môn Địa chất Nhân dịp này xin được tỏ lòng biết ơn những sự giúp

đỡ quý báu đó

Trong thời gian ngắn, quá trình biên soạn còn có những hạn chế, thiếu sót nhấtdịnh, rất mong nhận được sự đóng góp xây dựng của bạn đọc Xin trân trọng giới thiệu cuốn tài liệu với các độc giả

Trang 2

Phụ lục

Chương 1: Khái quát chung : Giới thiệu mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của đợt thực

tập, cơ cấu đoàn thực tập, quá trình thực tập và những điểm chúng nhất về báo cáo của đợt thực tập này

Chương 2: Đặc điểm địa lý-kinh tế -nhân văn vùng thành phố Lạng Sơn: Giới thiệu

khái quát về địa lý, kinh tế - nhân văn và các hoạt động khác của vùng thực tập

Chương 3: Lịch sử nghiên cứu địa chất vùng thành phố Lạng Sơn: Giới thiệu sơ

lược quá trình nghiên cứu địa chất của vùng

Chương 4: Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc địa chất và đo vẽ bản đồ địa chất

Chương 5: Địa tầng: Giới thiệu và mô tả địa tầng trong vùng nghiên cứu.

Chương 6: Kiến tạo: Chương này trình bày những điểm vấn về cơ bản nhất về

phân vùng kiến tạo, mô tả các nếp uốn, các đứt gãy và khe nứt trong vùng nghiên cứu

Chương 7: Địa mạo: Trình bày những điểm chung nhất về địa mạo thực tập và mối

liên quan của chúng với cấu trúc địa chất, với khoáng sản, với địa chất công trình - địa chất thuỷ văn – TKTD khoáng sản và môi trường

Chương 8: Địa chất thuỷ văn và Địa chất công trình: Giới thiệu các phức hệ, các

tầng nước dưới đất, đồng thời giới thiệu một số vấn đề chính về địa chất công trìnhcủa vùng nghiên cứu

Chương 9: Khoáng sản: Trình bày các khoáng sản chính và khả năng sử dụng

chúng trong kinh tế và đời sống ở vùng đã thực tập

Chương 10: Lịch sử phát triển địa chất vùng thành phố Lạng Sơn Căn cứ vào các

thành tạo địa chất, hiện tượng địa chất để đánh giá và phân tích lịch sử phát triển địa chất của vùng

Chương 11: Kết luận: Trình bày các kết quả thu được sau đợt thực tập, nêu tóm tắt

các vấn đề cần khắc phục và phương hướng phát triển

Trang 3

Chương 1 : Khái Quát Chung

Thị xã Lạng Sơn là một vùng thực tập rất điển hình và đa dạng cho sinh viên địachất, đặc biệt là sinh viên các ngành địa chất công trình, thủy văn, địa vật lý đi thựctập Với cấu trúc địa chất phong phú, các hiện tượng địa chất nội ngoại sinh rất rõràng, nên nhiều năm liền nhà trường luôn chọn Lạng Sơn là địa điểm thực tập mônhọc địa chất cấu tạo

Đợt thực tập ngoài thực địa này ngoài mục đích củng cố các kiến thức đã học từgiáo trình môn học; Địa chất Đại cương, Địa chất cấu tạo, Thạch Học, Lịch sử địachất… còn giúp sinh viên vận dụng lý luận thực tế, tìm tòi sáng tạo và tổng kết lýluận Qua đó giúp sinh viên hình dung và định hướng được công việc sẽ làm trongtương lai

Để đạt được mục đích và kết quả cao trong đợt thực tập sinh viên phải tuân thủnhững yêu cầu đặt ra trong đợt thực tập, phải đảm bảo thực tập đúng nội dung,đúng quy chế thực tập do nhà trường đề ra như: Đảm bảo lộ trình, tuân thủ quyđịnh lao động, đảm bảo việc thu thập mẫu, ghi chép đầy đủ cá nhân, bảo quản tàiliệu thực tập và các nhu cầu sinh hoạt

Yêu cầu cần đạt được trong đợt thực tập này:

+ Phải nhận biết, nghiên cứu và xác định các cấu tạo địa chất theo các tuyến lộ trình cũng như trong vùng nghiên cứu

+ Bước đầu làm quen với công việc đo vẽ bản đồ địa chất

+ Tăng khả năng nhận biết đất đá, sử dụng bản đồ địa hình, địa bàn địa chất, búa

và các dụng cụ khác trong khi thực tập

Trong đợt thực tập chúng tôi đã vận dụng các phương pháp phân tích cấu trúc địachất như; các phương pháp địa mạo, viễn thám, môi trường… Nhằm phát hiện vàlàm rõ các cấu trúc nằm dưới sâu hoặc bị che khuất bởi đất phong hóa và trầm tích

Đệ Tứ

Trang 4

Đợt thực tập này gồm 2 phần lớn : phần thực địa và phần trong phòng, diễn ra

trong 6 tuần từ tuần 18 đến tuần 22 tức là từ 06/12/2011 đến 06/01/2012 và được

sơ đồ địa chất, địa mạo, kiến tạo, vẽ mặt cắt địa chất và bảo vệ kết quả thực tập

Dưới sự hướng dẫn và chỉ bảo của các thầy:

1 PGS TS Hạ Văn Hải

2 Bùi Vinh Hậu

3 Nguyễn Trường Tài

Trang 5

tình của các thầy cô giáo, chúng tôi đã hoàn thành báo cáo thực tập địa chấtcấu tạo và đo bản vẽ đồ địa chất vùng thành phố Lạng Sơn.Nhân dịp này chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: Trường Đại học

Mỏ - Địa chất, khoa Địa chất, bộ mộ Địa chất, các thầy giáo hướng dẫn thựctập và chính quyền, nhân dân thành phố Lạng Sơn, những cá nhân tập thể đãtạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành đợt thực tập này

Trang 6

-Đồi núi chiếm diện tích khá lớn trong vùng nghiên cứu, phân bố xung quanh thànhphố Lạng Sơn Đặc điểm địa hình ở đây là không có núi cao, hầu hết là đồi núithấp, phân bố thành từng dải liên tục hoặc ở dạng các đồi núi riêng biệt Độ cao

Trang 7

đồi có vòm rộng, sườn thoải, độ dốc thay đổi từ 150 đến 450 Các núi thường cóđỉnh sườn dốc từ 35 đến 600.Cấu tạo nên địa hình này là các đá trầm tích lụcnguyên, lục nguyên cacbonát và mangan phun trào Phần lớn bề mặt đồi núi bịphong hóa với mức độ khác nhau Một số nơi vở phong hóa dày, sườn dốc mạnh

dễ gây ra tai biến địa chất như: trượt lở, sạt sườn, chảy bùi, lũ quét…

Địa hình núi đá vôi là một trong những đặc trưng của địa hình của khu vực thànhphố Lạng Sơn Núi đá vôi ở đây không cao hoặc nằm đơn lẻ dạng núi sót

Độ cao tuyệt đối phần lớn các núi là 300 Mức độ phân cắt hay độ chênh cao giữacác đỉnh núi và địa hình xung quanh không quá 200m.Vì vậy theo phân loại núi thìđịa hình này chưa đạt tiêu chuẩn, nhưng nếu dùng từ đồi thì không thuận tiện Dovậy, dùng thuật ngữ núi cao cho địa hình nêu trên Các núi đá vôi tập trung ở khuvực Tam Thanh, Nhị Thanh Các núi đá vôi ở đây có dạng tháp, sườn dốc, đỉnhlởm chởm tai mèo, răng cưa sắc nhọn như ở khu vực Đông Kinh Trong khối đávôi phát triển nhiều hang động Một số nơi hang động có cảnh quan đẹp như ởTam Thanh, Nhị Thanh, động Chùa Tiên

c) Địa hình đồng bằng và thung lũng

Địa hình đồng bằng và thung lũng phân bố ở phía Nam và một số nơi xung quanhthành phố Lạng Sơn Về nguồn địa hình này được tạo thành do các quá trình ngoạisinh như: quá trình hoà tan, bóc mòn và tích tụ.Thung lũng lớn nhất là thung lũng thành phố Lạng Sơn, ngoài ra còn xuất hiệnthung lũng ở khu vực Mai Pha, dọc suối Na Sa, suối Ki Ket và thung lũng NàChuông Do địa hình bằng phẳng nên ở trung tâm thành phố giao thông khá thuậntiện, là nơi tập trung dân cư, kinh tế phát triển.d) Sông suối

Các sông suối phân bố ở phần phía Nam thành phố Lạng Sơn và một số nơi kháctrong vùng Sông Kỳ Cùng chảy qua thành phố theo hướng từ Đông sang Tây.Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ dãy núi Mẫu Sơn ở phía Đông, chảy theo hướng ĐôngNam - Tây Bắc đến vùng nghiên cứu sông uốn lượn rồi chảy theo các phương khácnhau đến Thất Khê, sông chảy vào sông Bằng Giang (Trung Quốc) Trong phạm vi

Trang 8

hướng dòng chảy thay đổi, chiều rộng và chiều sâu lòng sông khác nhau Đoạnchảy qua thành phố Lạng Sơn với địa hình tương đối bằng phẳng, phân bố đá hoàtan nên dòng được mở rộng khoảng 60-80m, có nơi đến gần 100m Dòng sông uốnkhúc, nước chảy chậm, bờ sông là nơi tích tụ phù sa của sông Kỳ Cùng, có nơi là

đá vôi hoặc đá trầm tích lục nguyên Lưu lượng của sông thay đổi từ 4,48m3/s vềmùa khô, đến 7396m3/s về mùa mưa

Trong vùng nghiên cứu có ba con suối là các suối Na Sa, suối Lau Li và suối KiKét Các suối có chiều rộng từ 1m đến 20m Suối có nhiều nước vào mùa mưa và ítnước và mùa khô

3) Khí hậu

Vùng thành phố Lạng Sơn nằm trong phạm vi của đới khí hậu nhiệt đới gió mùa.Một năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 5đến tháng 9, lượng mưa trung bình thay đổi từ 1700 mm đến 1800mm Trong mùamưa xuất hiện những trận lũ bất thương làm cho nhân dân thành phố và công tácnghiên cứu địa chất gặp không ít khó khăn Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng

4 năm sau, lượng mưa ít từ 100mm đến 200mm Nhiệt độ trung bình từ 10-20oC,

cá biệt có ngày đến dưới 0oC, có hiện tượng tuyết rơi trên đỉnh nùi Mẫu Sơn Trongmùa khô có nhiều đợt gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa phùn Tuy nhiên về mùanày cơ bản về thời tiết khô ráo phù hợp với công tác nghiên cứu khảo sát địa chất

II/ Đặc điểm kinh tế

1/ Giao thông

Nhìn chung điều kiện giao thông của thành phố Lạng Sơn khá phát triển bao gồmcác tuyết đường sắt, đường bộ và đường không.a) Đường sắt

-Tuyến đường sắt chặt từ Hà Nội qua Bắc Ninh, Bắc Giang lên Lạng Sơn và nốivới đường sắt Trung Quốc

b) Đường bộ

- Quốc lộ 1A: Hà Nội - Lạng Sơn

Trang 9

- Quốc lộ 4A: Lạng Sơn - Cao Bằng

- Quốc lộ 4B: Lạng Sơn - Quảng Ninh

Đặc biệt là tuyến đường Hà Nội - Lạng Sơn đã được nâng cấp, mở rộng rút ngắnthời gian đi lại giữa hai thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông giữacác khu vực nói trên Ngoài đường quốc lộ, trong vùng còn có các tuyến đườngliên huyện từ thành phố đi các nơi trong tỉnh.2/ Công nghiệp

Nhìn chung công nghiệp trong vùng chưa phát triển không có nhiều công trường

và các công sở công nghiệp có quy mô lớn và hiện đại Khu cực thành phố chưathu hút được nhiều các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư sản xuất tạinơi đây Các cơ sở lớn nhất là Công ty Vật liệu Xây dựng Lạng Sơn.Việc xây dựng còn nhiều bất cập gây không ít khó khăn cho quy hoạch phát triển

và đảm bảo môi trường cần được các cấp chính quyền quan tâm hơn

3/ Nông nghiệp

Nông nghiệp của vùng phát triển chưa cao, một phần do điều kiện địa hình khí hậukhông thuận lợi cho khai trồn các loại cây công nghiệp và phần cơ bản khác làphương thức canh tác còn lạc hậu Tuy nhiên, địa hình khí hậu thuận lợi cho việctrồng cây hoa màu và rau có chất lượng cao Sản phẩm rau quả ở đây được ưachuộng tại địa phương và các vùng xung quanh Trong những năm gần đây nôngnghiệp và lâm nghiệp đã được chú ý hơn nên diện tích đồi núi trọc đã giảm đáng kểđồng thời nạn phá rừng đã cơ bản được hạn chế.4/ Thương nghiệp

Trong những năm gần đây chính sách mở cửa Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợicho việc phát triển kinh tế thương nghiệp Giao lưu hàng hóa giữa Lạng Sơn vớiTrung Quốc lưu thông hàng hóa tập trung tại các khu vực Kỳ Lừa, Đông Kinh, TânThanh, Đồng Đăng Hàng năm lưu lượng hàng hóa qua biên giới là rất lớn.Tuy nhiên, ở khu vực này buôn lậu hàng hóa qua biên giới rất phổ biến và khókiểm soát gây không ít khó khăn cho đời sống, kinh tế cho địa phương

Trang 10

Thành phố Lạng Sơn là trung tâm kinh tế, văn hoá giáo dục của tỉnh Lạng Sơn.Hiện tại thành phố có hơn 5 vạn dân, chủ yếu là người Kinh, bên cạnh đó là ngườiTày, người Dao, người Nùng Tuy có nhiều dân tộc khác nhau cư trú trên cùng địabàn, nhưng hầu hết đồng bào có tính đoàn kết xây dựng Điều này đã được chứngminh qua những năm chiến tranh và xây dựng đất nước.2/ Văn hoá

Phần lớn trình độ văn hóa của người dân thành phố Lạng Sơn và vùng lân cận ởmức trung bình Tuy nhiên trong vùng có khá nhiều trẻ em thất học đặc biệt là con

em dân tộc ít người

Vùng nghiên cứu là một trong những khu vực có nhiều danh lam thắng cảnh nổitiếng như: Thành Nhà Mạc - Động Tam Thanh, Nhị Thanh, chù Tam Thanh, cửaNhị Thanh, Chùa Tiên Hàng năm lượng khách du lịch đến Lạng Sơn là khá đông.Trên cơ sở đặc điểm địa lý - kinh tế - nhân văn, chúng tôi thấy rằng vùng thànhphố Lạng Sơn rất thuận lợi cho việc thực tập nghiên cứu địa chất Nơi này có nhiềuđồi núi thấp cây cao và thưa dễ dàng phát hiện các đất đá và đặc điểm địa chất

Trang 11

và kết quả theo thời gian, có thể chia lịch sử nghiên cứu địa chất vùng thành phốLạng Sơn thành 3 giai đoạn.

I Giai đoạn trước năm 1945

Việt Nam nằm dưới sự cai trị của thực dân Pháp từ cuối thế kỷ XIX đếntrước năm 1945, do đó việc nghiên cứu địa chất vùng cơ bản là do các nhà Địa chấtngười Pháp tiến hành với mục đích phục vụ cho chính quyền ở đây

Năm 1942, Baurret đã có công trình nghiên cứu vùng Đông Bắc ViệtNam.Ông gọi các đá trầm tích sét két, bột kết, có hóa đá chân rìu ở Lạng Sơn là đáphiến đới sông Hiến

Năm 1926, Patte đã nghiên cứu đá phun trào ở Bắc Bộ và xếp các trầm tích

ở Lạng Sơn vào tuổi Trias

II Giai đoạn 1945 – 1954

Trong thời kỳ do chiến tranh nên việc nghiên cứu địa chất ở nước ta nóichung và ở Lạng Sơn nói riêng chưa tiến hành được nhiều

III Giai đoạn 1954 đến nay

Trong giai đoạn này miền Bắc Việt Nam đã trở lại hoà bình và bắt tay vàocông cuộc xây dựng và phát triển kinh tế Việc thăm dò khoáng sản là một trongnhững nhu cầu quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhờ sự giúp đỡ của Liên

Trang 12

Năm 1965 A.E.Dovjicop cùng các nhà Địa chất Việt Nam đã phân chia các

đá vùng thành phố Lạng Sơn thành các phân vị địa tầng sau:

tầng Bắc Sơn (C – P2 bs).

Năm 1972 Trần Văn Trị và một số nhà Địa chất khác đã thành lập bản đồ địachất miền Bắc Việt Nam với tỷ lệ 1: 1.000.000 Trong đó đá phun trào ryolit ở khuvực thành phố Lạng Sơn được xếp vào bậc Anizi, trầm tích có hóa đá chân rìu,chân đầu nằm trên đá phun trào xếp vào bậc Lađini

Từ đầu năm 1969 đến nay các thầy giáo và sinh viên Trường Đại học Mỏ Địa chất đã khảo sát khu vực này với mục đích đào tạo và nghiên cứu khoa học,phục vụ đời sống kinh tế quốc phòng đã làm rõ cấu trúc địa chất khu vực cùngnhững vấn đề liên quan, trong đó có địa chất được phân chia từ trẻ đến già như sau:

+ Thống trên, hệ tầng Mẫu Sơn (T3 c ms)

+ Thống giữa, hệ tầng Nà Khuất (T2 l nk); hệ tầng Sông Hiến (T1 a kl)

+ Thống dưới, hệ tầng Kỳ Cùng (T o kc); hệ tầng Lạng Sơn (T ls)

Trang 13

- Hệ Pecmithống trên - hệ tầng Đồng Đăng (P3 dd)

- Hệ Cacbon, hệ Pecmi thống giữa - hệ tầng Bắc Sơn (C – P2 bs)

Các công việc này đã góp phần đào tạo đội ngũ kỹ sư địa chất công trìnhphục vục cho các ngành kinh tế của nước ta

Trang 14

A Tổng hợp các tài liệu

I Chuẩn bị các tài liệu có trước

Đây là bước công tác quan trọng để thu thập tài liệu địa hình, địa chất, môitrường có trước với vùng công tác

II Chuẩn bị tài liệu mới

Như tài liệu ảnh chụp từ vệ tinh, từ máy bay, từ xa, các tài liệu địa chất vật

lý, khoan thăm dò, phân tích mẫu

III Xây dựng tài liệu tổng hợp

Trên cơ sở các tài liệu nói trên tổng hợp như: tài liệu địa hình, địa chất, môitrường, kiến tạo, khoáng sản, địa chất công trình, địa chất thủy văn

B Triển khai thực địa

I Lộ trình bao quát vùng

Tiến hành lộ trình nhằm bao quát toàn vùng, nhằm tạo cơ sở dữ liệu lập các

lộ trình thực địa

II Vạch các hành trình thực địa

Trang 15

Từ tài liệu tổng hợp, tài liệu lộ trình bao quát, tài liệu điều kiện địa lý tự nhiên vạchcác lộ trình thực địa theo các chuyên môn

C Tổng kết công tác nghiên cứu cấu trúc và đo vẽ địa chất

I Tổng hợp các tài liệu có trước với các tài liệu thực địa thành lập các bản đồ tài

liệu thực tế, bản đồ địa chất, kiến tạo, diện mạo, địa chất khoáng sản, địa chất thủyvăn, địa chất công trình, địa chất môi trường và các tài liệu khác

II Chi tiết hóa tài liệu viễn thám kết hợp với các tài liệu địa lý, khoan khai đào,

phân tích mẫu

III Phân tích các diện tích, các khu vực, các đơn nguyên địa chất đến địa chất

công trình trên cơ sở các tài liệu địa chất

Trong khi tiến hành các công tác nói trên, vận dụng hiệu quả các phươngpháp trong nghiên cứu cấu trúc địa chất và đo vẽ bản đồ địa chất như sau: Lộ trìnhthực địa, theo dõi các công trình khoan và khai đào, phân tích mẫu Đặc biệt trongthời đại khoa học kỹ thuật phát triển chú ý áp dụng các phương pháp phân tích viễnthám, kiến tạo vật lý, địa vật lý và một số phương pháp hiện đại khác để kết quảcông tác đạt được tốt hơn

Trang 16

-Giới Paleozoi (Pz)

+ Hệ Cacbon- hệ Pecmi, thống giữa- Hệ tầng Bắc Sơn (C – P2 bs)

+ Hệ Pecmi, thống trên- Hệ tầng Đồng Đăng (P3 dd)

-Giới Mezozoi (MZ)

+ Hệ Triat thống dưới- bậc Indi- Hệ tầng Lạng Sơn (T1 ls)

+ Hệ Triat thống dưới- bậc Olenec- Hệ tầng Kỳ Cùng (T1 o kc)

+ Hệ Triat thống dưới- bậc Anizi- Hệ tầng Khôn Làng (T1 a kl)

+ Hệ Triat thống dưới- bậc Lanizi- Hệ tầng Nà Khuất (T2 l nk)

+ Hệ Triat thống trên - bậc Cacni- Hệ tầng Mẫu Sơn (T3 c ms)

+ Hệ Jura thống trên- bậc Kreta- Hệ tầng Tam Lung (J3 – K1 tl)

- Giới Mezozoi- Giới Kainozoi (MZ - KZ)

+ Hệ Kreta thống trên- hệ Paleozoi- Hệ tầng Tam Danh (K3 – E td)

Trang 17

4 1 Giới Paleozoi ( PZ )

4.1.1 Hệ cacbon - hệ Pecmi thống dưới, giữa - hệ tầng Bắc Sơn (C – P2 bs)

Hệ tầng Bắc Sơn được nhà Địa chất người Pháp Sauriu đã nghiên cứu và đặt ra năm 1956 Năm 1965 nhà Địa chất người Liên Xô A.E.Dopjcov trong loại bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 do ông chủ biên đã xác định các đá vôi ở vùng Bắc Sơn và ở thành phố Lạng Sơn có tuổi Cacbon trung - Pecmi sớm (C-P1bs) Năm 1977, Trần Văn Trị và một số tác giả khác xếp các đá vôi nói trên vào loạt Bắc Sơn Sự phân bố của thành tạo này khá rộng Ở khu vực thành phố Lạng Sơn loại hệ tầng Bắc Sơn chiếm phần lớn diện tích thành phố, kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, rộng nhất ở khu vực thành phố và kéo dài ở đầu TâyBắc và Đông Nam

Nghiên cứu mặt cắt hệ tầng Bắc Sơn từ Đông Kinh qua Nhị Thanh, Tam Thanh và

ở khu vực Cò Lèng, Việt Thắng cũng như một số nơi lân cận, thấy rõ:

+ Phần dưới chủ yếu là đá vôi dạng khối, màu xanh xám, xám sáng, kết tinh

yếu, khá đồng nhất

+ Phần trên là đá vôi màu xám sáng, xám đen, cấu tạo phân lớp vừa đến dày

+ Trong đá vôi có hệ tầng có nhiều hóa đá trùng lỗ, san hô, tay cuộn Các hóa đáđiển hình là: Verbeekina Verbecki Misellina Compretsa, Fusulinellbocki…

Về dạng nằm và cấu trúc của các đá của hệ tầng Bắc Sơn thấy rõ ở phần dưới cùngcủa cột địa tàng Trong vùng nghiên cứu chưa thấy hệ tầng nào có tuổi già hơn hệtầng Bắc Sơn Các lớp đá vôi ở đây nằm nghiêng và nghiêng thoải trong cấu tạonếp uốn ngắn có vòm rộng, cánh thoải, dạng vung, dạng chảo Căn cứ vào các hóa

đá, vị trí địa tầng, căn cứ vào cấu trúc địa chất, liên hệ so với vùng lân cận xếp các

đá vôi ở trên hệ tầng Bắc Sơn, tuổi Cacbon đến Pecmi trung Quan hệ phía dướicủa hệ tầng Bắc Sơn với hệ tầng già hơn chưa quan sát được Một số nơi ở CaoBằng và miền Bắc nước ta thấy chúng phủ bất chỉnh hợp trên các đá già hơn Phíatrên các đá này bị các trầm tích của hệ tầng Đồng Đăng phủ bất chỉnh hợp lên.Nghiên cứu các mặt cắt khoan tìm kiếm Bauxit ở khu vực phía Tây Tam Thanhthấy Bauxit ở đây ở dạng vỉa nằm trong các tập đá vôi nằm nghiêng, phía dưới là

hệ tầng

Trang 18

Bắc Sơn, phía trên là hệ tầng Đồng Đăng, nhưng không rõ tính chất riêng biệt củachúng Trên mặt cắt này Bauxit có nguồn gốc trầm tích thực thụ, được thành tạotrong mặt cắt liên tục từ dưới lên trên Như vậy có thể xếp ba tập trên vào một hệtầng: hệ tầng Bắc Sơn Từ kết quả nghiên cứu trong các lỗ khoan, ta thấy Bauxit ởkhu vực thành phố Lạng sơn khả năng có ba loại:

+Bauxit dạng vỉa có tuổi đầu Pecmi giữa

+ Bauxít dạng vỉa có tuổi Pecmi muộn như ở Bản Lỏng

+ Bauxit được hình thành do phong hóa làm giàu thứ sinh các lớp sét giàu nhôm

và silic như ở Tam Lung, Bản Pịt, Chi Mạc và Bản Lỏng…

Như vậy quy mô hệ tầng Bắc Sơn có thể từ Cacbon kéo dài đến Pecmi trung, còn

hệ tầng Đồng Đăng thực thụ có tuổi Pecmi muộn (P3) và chuyển tiếp dần lên Triatsớm Trên cơ sở đã nêu có thể xếp đá vôi Quán Lóng, đá vôi ở Nam Mai Pha vào

hệ tầng Bắc Sơn Bauxit Quán Lóng và Bauxit ở tam Lung xếp vào hệ tầng ĐồngĐăng Chiều dày của hệ tầng Bắc Sơn trên 1000m

4.1.2 Hệ Pecmi thống trên – Hệ tầng Đồng Đăng ( P3 dd)

Năm 1956, nhà Địa chất người Pháp F.Sauriu đã nghiên cứu trầm tích silíc, Bauxit

đá vôi ở Lạng Sơn và xác định chúng có tuổi Pecmi sớm Sau đó năm 1962, một sốnhà Địa chất Liên Xô cũ như Gazenco, Trepotaricov và nhà Địa chất Việt Nam BùiPhú Mỹ đã nghiên cứu trâm tích lục nguyên, silic, Bauxit, đá vôi ở Lạng Sơn vàxếp chúng vào Trias sớm Năm 1966, Nguyễn Văn Liêm đã nghiên cứu trầm tíchsilic, Bauxit và đá vôi nói trên và xếp chúng vào hệ tầng Đồng Đăng, tuổi Pecmimuộn (P2) Từ năm 1969 đến nay, các thầy giáo của bộ môn Địa chất trường Đạihọc Mỏ Địa Chất Hà Nội đã nghiên cứu các trầm tích Đồng Đăng phục vụ chogiảng dạy, nghiên cứu khoa học, đã xếp các thành tạo trên vào hệ tầng Đồng Đăngtuổi Pecmi muộn (P3) ở khu vực thành phố Lạng Sơn trầm tích của hệ tầng ĐồngĐăng tạo thành các dải không rộng dạng viễn quanh trầm tích và hệ tầng Bắc Sơn

ở phía Tây Nam trầm tích hệ tầng Đồng Đăng mở rộng ở khu vực Chùa Tiên, chủyếu là các thành tạo lục nguyên sét và sét than ở một số nơi khác trầm tích này độc lập và bị bao quanh là các trầm tích trẻ hơn như ở khu vực QuánLóng gần UBND xã Quang Lạc

Trang 19

Mặt cắt trầm tích hệ tầng Đồng Đăng quan sát tốt ở khu vực Quán Lóng, Phai Lây,Cao Lộc, Kéo Tấu… Từ dưới lên trên, hệ tầng Đồng Đăng gồm các phần:

+ Phần dưới gồm cuội kết, cát kết, sét kết, đá silic có chứa hóa đá fusullina… các lớp cấu tạo phân lớp mỏng đến vừa Các trầm tích này thường đóng vai trò nhân nếp lồi như ở Quán Lóng, Chùa Tiên…

+Phần giữa chủ yếu là đá vôi màu xám sáng, xám đen, đá vôi dăm kết, vôi silic Phần lớn chúng có cấu tạo phân lớp dày, cấu tạo khối

+ Phần trên là silic, đá vôi phân lớp mỏng có nhiều tạp chất sét, sét kết, đá silicdạng khối, các bột sét kết silic

Các trầm tích nói trên bị chính các hoạt động đứt gãy, bóc mòn yếu tác động trongquá trình trầm tích nên tạo ra hiện tượng mất lớp, mất vỉa, vát vỉa hoặc vỉa và cáclớp dôc, dốc mạnh điều này rõ nét ở nơi các trầm tích Pecmi – Trias và gần đá vôicủa hệ tầng Bắc Sơn

Về thành phần trầm tích hệ tầng Đồng Đăng có một số đặc điểm chung là: + Tập dưới cùng và trên cùng đều là trầm tích lục nguyên, cát kết, bột kết, sét kết.+ Phần trên là tập dưới của Bauxit

+ Phần trên cùng có đá silic và đá vôi

Sự có mặt của các trầm tích trên phản ánh quá trình thay đổi môi trường trầm tích

và điều kiện cổ địa lý tướng đá trong quá trình thành tạo Ban đâuf mới hạ vọng,trầm tích ven bờ, môi trường pH thấp Sau đó biển tiến mạnh, đáy trầm tích sâuhơn, nhiệt độ nóng ẩm hơn, trầm tích các thành tạo cacbonat Cuối pecmi muộn cónhiện tượng biển lùi đáy biển nông dần, trầm tích các sản phẩm cơ học vụn thô lẫnsilic Về cấu trúc, phần lớn hệ tầng Đồng Đăng nằm ở dưới dạng cánh các phứcnếp lồi các đá già hơn thuộc hệ tầng Bắc Sơn Một số nơi chúng phát triển hoànchỉnh cấu tạo nếp lồi, nếp lõm với biên độ đứng không lớn Trên cơ sở tuổi của các

đá có ở tầng này trong khu vực thành phố Lạng Sơn, xem xét các khu vực xungquanh và căn cứ vào các thành tạo già hơn và trẻ hơn, xếp các đá trên vào hệ tầngĐồng Đăng, tuổi Pecmi muộn (P3) Quan hệ phía dưới là quan hệ bất chỉnh hợptrên đá vôi hệ tầng Bắc Sơn Đây là bất chỉnh hợp khá lớn, gặp ở nhiều nơi trong

Trang 20

vết lộ ở khu cực nhà hàng Hoàng Di, Cao Lộc và Mai Pha đã xác định điều đó Xácđịnh được đúng các quan hệ địa tầng nhờ đó mà giải quyết các mấu chốt vấn đềcấu trúc thành phố Lạng Sơn Trước đây nhiều chỗ của vùng được vẽ dưới dạngkiến tạo, chủ yếu là đứt gãy nghịch, mặt trượt thường nghiêng về phía hệ tầng BắcSơn Trong đó hệ tầng Bắc Sơn nâng lên, hệ tầng Đồng Đăng hạ xuống

Hiện nay các nghiên cứu trong vùng cho thấy cơ bản quan hệ giữa hệ tầng ĐồngĐăng và Lạng Sơn là quan hệ chỉnh hợp địa tầng Điều này có ý nghĩa to lớn trongnghiên cứu cấu trúc, khoáng sản, nội sinh, môi trường và quy hoạch thành phố.Chiều dày hạ tầng 100-200m

4 2 Giới Mezozoi (Mz):

4.2.1 Hệ Trias thống dưới, bậc Indi- hệ tầng Lạng Sơn (T1 i ls)

Điệp Lạng sơn do A.E Dovjikov xác lập cho các trầm tích lục nguyên chứa hóa đáchân rìu tuổi Trias sớm vào năm 1965 Đến năm 1977 Đoàn Kỳ Thủy tách điệpnày ra thành hệ tầng Lạng Sơn (T1ils) và hệ tầng Kỳ Cùng (T1okc) Trên cơ sởkhác nhau về thành phần thạch học, cấu trúc lớp, các tầng, các hóa đá và điều kiệnthành tạo trầm tích Phạm vi lộ ra của hệ tầng Lạng Sơn khoảng 9Km2, phân bốven khu vực trung tâm thành phố Lạng Sơn Dải phía Tây kéo dài khoảng 3,5Km,dải phía Đông kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam dài 8km Mặt cắt quan sáttốt của hệ tầng này là từ Đông Kinh – Nà Pàn Mặt cắt gồm hai phần:

+ Phần dưới chủ yếu gồm trầm tích lục nguyên như cát kết, bột kết, sét kết có cấutạo phân nhịp điển hình, đôi nơi gặp đá vôi màu xám xanh

+ Phần trên: Cát kết, bột kết, sét kết có màu xám lục, màu vàng Các lớp của hệtầng này có mặt lớp rõ ràng, có cấu tạo phân lớp gợn sóng, xiên chéo song songđặc trưng cho cấu tạo trầm tích biển nông Hóa đá đặc trưng của hệ tầng này là hóa

đá chân rìu, chân đầu Đây là hóa đá định tầng dùng để xác định tuổi cho hệ tầngLạng Sơn Quan hệ dưới với hệ tầng Đồng Đăng là quan hệ chỉnh hợp Quan hệtrên với hệ tầng Kỳ Cùng cũng là quan hệ chỉnh hợp Bề dày của hệ tầng là 800-1000m

Trang 21

Trước đây hệ tầng này là phần trên của hệ tầng Lạng sơn Hiện nay, Kỳ Cùng đãtách ra thành một hệ tầng riêng Hệ tầng Kỳ Cùng phân thành hai dải kéo dài theophương Tây Bắc – Đông Nam.

Dải thứ nhất nằm ở phía Tây thành phố dài khoảng 6km, dải thứ hai nằm ở phíaĐông thành phố dài khoảng 2,5km Các đất đá thuộc hệ tầng này quan sát rõ nhất ởkhu vực Nà Pàn, Nà Chuông và phía Đông Mai Pha Mặt cắt của hệ tầng được chialàm ba phần

+ Phần dưới: gồm bột sét kết, cát kết có cấu tạo phân lớp mỏng, xen kẽ là các lớpsét vôi mỏng

+ Phần giữa: đá vôi phân lớp mỏng, có màu xám xanh, xám đen Trong thànhphần có nhiều sét, quan sát ở đây có các mạch canxit, bề mặt bị phong hóa rạn nứtdạng dăm, dạng que Hóa đá có trong hệ tầng này là Nordophicerassp Do hóa đá

có trong tầng mà xác định tuổi của hệ tầng này, là hệ tầng độc lập với hệ tầng LạngSơn Quan hệ trên của hệ tầng là quan hệ chỉnh hợp lên trên hệ tầng Lạng Sơn Hệtầng có chiều dày khoảng 200m

4.2.3 Hệ Trias – thống giữa – bậc Anizi – hệ tầng Khôn Làng (T2 a kl)

Nhà địa chất Pháp E.Patte đã xếp phun trò ở Bắc Bộ vào hệ Trias Năm 1992 cáctác của cục Địa chất xếp hệ tầng này vào một đơn vị riêng gọi là hệ tầng KhônLàng Cấu trúc của hệ tầng này vào đơn vị riêng gọi là hệ tầng Khôn Làng Cấutrúc của hệ tầng này có hai phần rõ rệt:

+ Phần dưới: chủ yếu là ryolit, tuf, tufit có cấu tạo khối Đá có màu xám lục, xámxanh, xanh lá cây tùy thuộc vào hàm lượng sắt và độ sâu thành tạo, đá khá rắnchắc Một số nơi ryolit xuyên cắt các đá phần dưới của hệ tầng Kỳ Cùng và hệ tầngLạng Sơn, chúng trẻ hơn các đá nêu trên

+ Phần trên: chủ yếu là cát, bột, sét kết, chuyển tiếp dần lên hệ tầng Nà Khuất Một số lớp của hệ tầng Nà Khuất có hóa đá xác định tuổi ladini Màu sắc phụthuộc vòa điều kiện thành tạo Trong môi trường khử (biển), điều kiện khí hậu bìnhthường, mát mẻ, chúng thường có màu xanh Tuy nhiên trong điều kiện thiếu Oxi,

Trang 22

chỉnh hợp trên sét, bột kết hệ tầng Kỳ Cùng (Khu Nà Pàn) Trong đó phun tràothấy cát, bột, sét kết hệ tầng Kỳ Cùng, xếp vào tuổi Olene, đầu Anizi Như thế hệtầng Khôn Làng được thành tạo trong khoảng thời gian từ cuối Trias sớm đến đầuTrias trung, ứng với kỳ Anizin (T2a) Chiều dày của hệ tầng khoảng 450m.

4.2.4 Hệ Trias – thống giữa – bậc Ladizi – hệ tầng Nà Khuất (T2 l nk)

Năm 1965, Dovjikov thành lập hệ tầng này đặc trưng cho các trầm tích ở khu vực

Nà Khuất Năm 1977, Trần Văn Trị xếp các trầm tích trên vào tuổi Ladini Năm

1984, Trần Đăng Tuyết xếp các trầm tích nói trên vào hệ tầng Nà Khuất Hiện naytập thể các thầy cô giáo bộ môn Địa chất gọi trầm tích đã nêu trên vào hệ tầng NàKhuất Hệ tầng có diện lộ khá lớn ở phía Đông Bắc – Đông Nam vùng nghiên cứugồm các đá cát, bột, sét kết có màu vàng, xám xanh, màu tím gan gà đặc trưng.Mặt cắt nghiên cứu rõ của hệ tầng này là tuyến Đông Kinh – Lộc Bình và tuyến PòLèo – Bản Cằm:

+ Phần dưới là các lớp cát kết, bột kết, sét kết màu xám lục, xám xanh ghi, màuvàng

+ Phần trên là các lớp cát sét, bột sét, bột kết, sét kết phân nhịp có màu vàng, xámvàng, nâu vàng, tím gan gà

+ Phần trên cùng là các lớp cát kết, bột kết, sét kết màu đỏ nâu

Các trầm tích hệ tầng Nà Khuất nằm chuyển tiếp dần lên các trầm tích lục nguyênphun trào của hệ tầng Khôn Làng Dọc tuyến lộ Phai Lây – Phai Luông và một sốnơi khác, phía trên các trầm tích này chuyển dần sang các trầm tích của hệ tầngMẫu sơn Tuy nhiên một số nơi do bào mòn cục bộ hoặc đứt gãy thấy các đá hệtầng Mẫu sơn phủ bất chỉnh hợp lên phía trên các đá của hệ tầng Nà Khuất Cở sởxác định tuổi của hệ tầng Nà Khuất là các hóa đá chân rìu và chân đầu ở một số nơinhư PhaiLuông, Nà Chuông Căn cứ vào các hóa đá này, xếp các trầm tích nóitrên vào kỳ Ladini Chiều dài của hệ tầng từ 550-1200m

4.2.5 Hệ Trias – thống trên –Bậc Cacni – Hệ tầng Mẫu Sơn (T3 c ms)

Trang 23

Điệp Mẫu Sơn do A.E.Dovjikov xác lập năm 1965 cho các trầm tích lục nguyên cómàu nâu đỏ ở đồng bằng Bắc Bộ Năm 1977 Trần Văn Trị xếp các trầm tích nóitrên vào hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms).

Phạm vi phân bố của hệ tầng khoảng 7km2 chủ yếu ở khu vực Đông bắc của vùngthực tập Mặt cắt quan sát tốt nhất dọc tuyến lộ trình cầu Nà Mừng đi Lộc Bình và

Pò Lèo qua bản Nậm Dần đến Bản Cằm Trầm tích của hệ tầng gồm các phần sau: + Phần dưới chủ yếu là dăm, cuội, sạn kết, cát kết có màu nâu đỏ phân lớp dày + Phần giữa chủ yếu là bột kết, sét kết màu đỏ, tím nâu

+ Phần trên là cuội sạn kết, cát kết màu đỏ

Trong vùng nghiên cứu, trầm tích này thường nằm ở cấu trúc phức nếp lõm, ứngvới địa hình đảo ngược như ở khu vực Nam bản Nậm Dần, Đông Bắc Nà Chuông

và một số nơi khác

Phía dưới là các trầm tích của hệ tầng Nà Khuất chuyển tiếp lên hệ tầng Mẫu Sơn.Quan hệ phía trên thấy ở một số nơi ngoài vùng nghiên cứu là quan hệ bất chỉnhhợp với trầm tích Jura, Kreta Chiều dài của hệ tầng khoảng 500m

4.2.6 Hệ tầng Tam Lung (J3 – K1 tl)

Hệ tầng Tam Lung do Nguyễn Kinh Quốc thành lập năm 1992 Hệ tầng phân bố ởphía Tây Bắc vùng nghiên cứu thuộc khu vực xaz Hoàng Đồng Các đá cơ bản là:cuội kết, sạn kết, cát kết, bột kết, ryolit porphyr và tuf của chúng Ở khu vựcHoàng Đồng, bên trái đường Lạng Sơn – Đồng Đăng gần Đồng én đã khoan thăm

dò cấu trúc hệ tầng này Cột địa tầng lỗ khoan cho thấy các đá chính như đã nêu.Căn cứ vào quan hệ của hệ tầng với các đá già hơn và trẻ hơn, căn cứ vào đặc điểmđịa chất khu vực (khu vực Tú Lệ, Đông Nam Bộ, Lạng Sơn ) căn cứ vào tuổituyệt đối của các đá mangan, xếp các thành tạo đã nêu vào tuổi Jura muộn – Kreta.Tổng chiều dài của hệ tầng là 350-380m

4 3 Giới Mezozoi – Giới Kainozoi (M Z – K Z )

4.3.1 Hệ Kreta – hệ paleogen – hệ Tam Danh (K3- E td)

Trang 24

đá chủ yếu của hệ tầng là: bazan, varyolit, andezit, andezitobazan, sạn kết lẫn tronúi lửa, cát kết tufogen, sạn kết tufogen.

Các đá của hệ tầng nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Tam Lung Chiều dày của hệtầng khoảng 150-200m

4 4 Giới Kainozoi (K Z )

4.4.1 Hệ Neogen – thống – hệ tầng Na Dương (N1 nd)

Hệ tầng này do A.E Dovjikov xác lập năm 1965 Năm 1977 Trần Văn Trị, TrầnĐình Nhân, Trịnh Danh và một số tác giả khác xác lập hệ tầng này Trong vùngnghiên cứu hệ tầng phân bố ở phía Đông kéo dài từ phía Đông Phai Lây qua HợpThành đến phía Tây Bắc cầu Nà Mừng Chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến1km Mặt cắt quan sát ở khu Hợp Thành, từ Cao Lộc đến Pò Lèo Có thể thấythành tạo của hệ tầng gồm hai phần rõ rệt:

+ Phần dưới chủ yếu là cát kết hạt nhỏ, bột kết, sét kết có các dải sét than,limonit Trong các lớp trầm tích đã nêu thấy rõ cấu tạo phân lớp chéo Căn cứ vàochiều dày ổn định và dạng mặt lớp song song, có thể thấy phân bố tương đối rộng.Đặc điểm này cho thấy phần dưới được thành tạo vào giai đoạn đầu hạ võng trầmtích khá trên phạm vi rộng

+ Phần trên là các lớp cuội sạn kết, cát kết, bột kết, sét kết và các lớp than nâumỏng Các lớp nói trên thường ở dạng thấu kính, vát vỉa, thay đổi nhanh về gócdốc, chiều dàyvà đường phương Phần lớn chúng nằm dốc về phía Tây Nam, cànggần đứt gãy Cao Bằng – Lộc Bình – Tiên Yên chúng càng dốc hơn Như thế cáctrầm tích đã nêu thực sự được thành tạo trong các trũng kéo toạc dọc theo đứt gãyCao Bằng – Lộc Bình – Tiên Yên vào cuối Neogen sớm

Các thành tạo nói trên nằm bất chỉnh hợp địa tầng và kiến tạo trên hệ tầng KhônLàng, Nà Khuất, Mẫu sơn Chiều dày của hệ tầng khoảng 80-200m

4.4.2 Hệ Đệ Tứ

Trang 25

Các thành tạo Đệ Tứ phân bố chủ yếu dọc theo sông Kỳ Cùng và các suối chínhtrong vùng như suối Na Sa, suối Ky Ket và suối Lauli Các trầm tích của hệ tầngnày là cuội tảng, cuội, cát, dăm, sạn, cát pha, sét pha Các trầm tích nói trên đượcthành tạo từ Pleistoxen trung cho tới nay Bên cạnh các trầm tích chính đã nêu, dọctheo suối, nằm giữa thung lũng thành xtạo các trầm tích hỗn hợp Proluvi (lũ tích),aluvi(bồi tích), hỗn hợp proluvi –aluvi như dọc thung lũng Na Sa, như ở khu vựcBản Cằm, Nà Chuông các thành tạo này chủ yếu là cuội, mảnh vụn, sạn, cát, cátpha, sét pha, sét than và mùn hữu cơ Chiều dày của các thành tạo Đệ Tứ nói trênvài chục cm

Trang 26

Chương 6 : Kiến tạo

va chạm hành tinh mà từng phần của thạch quyển chuyển dịch về các phía khácnhau, chuyển động trên quyển mềm tạo thành các mảng Quan hệ giữa các mảngcùng với các đột biến về va chạm hành tinh là những nguyên nhân cơ bản dẫnđến hình thành cấu trúc vùng Lạng Sơn và phần lớn cấu trúc nước ta

Khu vực có thành tạo đá già nhất có tuổi C- P2 Đồng thời có phổ biến cácthành tạo lục nguyên, carbonat, phun trào có tuổi MZ – KZ Tuy nhiên về mặtcấu trúc chưa quan sát thấy hiện tượng hút chìm và các cấu tạo nêm tăng trưởngcũng như đặc trưng của các cấu trúc nói trên

Mỗi giai đoạn của lịch sử hoạt động kiến tạo hình thành nên các tổ hợp thạchhọc kiến tạo khác nhau đặc trưng cho sự phát triển kiến tạo trong thời kì đó Trên cơ sở phân tích các tài liệu đã có, căn cứ vào tài liệu thực địa và tổng

Trang 27

 Các tổ hợp thạch kiến tạo đặc trưng trong vùng.

 Các khe nứt và đứt gãy trong vùng

 Các uốn nếp trong vùng

Thứ nhất, các tổ hợp thạch kiến tạo:

1 Tổ hợp thạch kiến tạo rìa lục địa thụ động Paleozoi muộn

Hình thành trong giai đoạn C-P2 trong điều kiện kiến tạo khá bình ổn, môitrường nóng, khô Tổ hợp có phương kéo dài TB – ĐN từ Đồng Én qua Kì Lừađến Mai Pha Thành phần trầm tích chủ yếu là đá vôi (đá vôi xám sáng), có cấutạo phân lớp vừa tới dày với cấu trúc phức nếp uốn mà phần lớn nếp uốn thànhviền có vòm cong cánh thoải, trên bình đồ có dạng vung, chảo, dạng uốn nếpngắn

Thành phần thạch học chủ yếu là đá vôi được xếp vào hệ tầng Bắc Sơn

2 Tổ hợp thạch kiến tạo rìa lục địa tích cực Paleozoi muộn – đầu Mesozoi sớm Trong thời kì cuối PZ đầu MZ phần lớn cấu trúc ở Việt Nam bị tác động bởihoạt động va chạm hút chìm ,hạ võng cảu mảng Đông Dương với mảng Việt –Trung Trong bối cảnh hoạt động này dẫn đến quá trình hạ võng theo phương

TB – ĐN, biến đổi từ rìa vào trung tâm, hình thành nên miền ven biển, biểnnông tạo điều kiện hình thành các trầm tích lục nguyên: cát kết, bột kết, sét kết,sét than, bauxit trầm tích sâu hơn là đá vôi và silic Trong khu vực các thànhtạo các thành tạo trầm tích nói trên tạo thành các dải phía ĐB, TB, và ĐN Các

đá là trầm tích ven bờ và biển nông ( sét kết, bột kết, cát kết )thành tạo trongđiều kiện hạ võng ở mức độ trung bình thuộc giai đoạn đầu biển tiến P3 – T1.Các thành tạo nói trên được xếp vào các hệ tầng : Đồng Đăng, Lạng Sơn, KìCùng với các phương chính là ĐB – TN và TB – ĐN Các biến dạng phá hủysau trầm tích như đứt gãy, hạ lún, dồn ép bồn trầm tích, uốn nếp làm thay đổithế nằm của đá

3 Tổ hợp thạch kiến tạo rìa lục địa tích cực giữa và cuối Mesozoi sớm

Vào giữa Trias hoạt động đứt gãy mạnh lên ở dạng đứt gãy sâu – địa hào,hình thành các dải biển phương TB – ĐN và ĐB – TN Dọc theo các đứt gãyxuất hiện magma phun trào Magma phun trào thành phần axit là ryolit, thểhiện là loại magma có lò tương đối nông, lên quan đến hiện tượng tách vỏ ởmức độ không thật mạnh mẽ, dung dịch magma xuyên chậm lên vỏ và đồng

Ngày đăng: 25/07/2017, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w