1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội

105 985 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cần giúp sinh viên tiếp xúc sớm hơn với hoạt động tư vấn hướng nghiệp.Khi sinh viên mới vào trường cần có những buổi tư vấn nhằm cung cấp thêmcác thông tin về nghề nghiệp cùng với các kỹ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ & PTNT

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam ðoan, toàn bộ số liệu cũng nhý kết quả nghiên cứu củaluận vãn là trung thực và chýa ðýợc sử dụng ðể bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam ðoan, mọi sự giúp ðỡ cho việc thực hiện ðề tài này ðềuðýợc cảm õn, các thông tin trích dẫn trong luận vãn ðều ðýợc chỉ rõ ràngnguồn gốc

Hà Nội, ngày 2 tháng 6 nãm 2014

Sinh viên

Bùi Hữu Hanh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy cô giáo trong khoa Kinh tế

và Phát triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đặc biệt là thầy côtrong bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, những người đã truyền đạt chotôi những kiến thức bổ ích và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiệnkhóa luận này

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên CN Trần ThịNhý Ngọc, đã dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôitrong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin được trân trọng cảm ơn Trung tâm hướng nghiệp và tư vấn việclàm, các bạn sinh viên trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội đã cung cấp cho tôinhững thông tin cần thiết và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thựchiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè

đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệtcảm ơn gia đình bác Lê Thị Lan đã luôn động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôitrong suốt quá trình nghiên cứu và viết bài để tôi hoàn thiện bài báo cáo này

Tuy nhiên, do thời gian có hạn, đề tài chắc chắn không tránh khỏinhững hạn chế và thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp củacác thầy cô giáo cũng như toàn thể bạn đọc

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày 2 tháng 6 năm 2014

Sinh viên

Bùi Hữu Hanh

Trang 4

TÓM TẮT

Hiện nay, hiện tượng sinh viên ra trường phải chịu cảnh thất nghiệp hayphải làm việc không đúng với chuyên môn là khá phổ biến, họ cảm thấy khókhăn trong việc đáp ứng các yêu cầu mà công việc cần, đồng thời không cảmthấy hứng thú và gắn bó với nghề nghiệp mình đã chọn Chính vì vậy mà côngtác tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên cần được phát triển Để tư vấn hướngnghiệp cho sinh viên đạt được hiệu quả thì cần phải biết được nhu cầu tư vấnhướng nghiệp của sinh viên

Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội là một trong những trường đại học đầutiên của Việt Nam và có số lượng sinh viên rất lớn.Công tác tư vấn hướngnghiệp cho sinh viên được nhà trường rất quan tâm, tuy nhiên việc triển khaicác công tác để tiến hành tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên vẫn còn gặp nhiềukhó khăn Một trong những khó khăn đó là chưa nắm rõ được nhu cầu tư vấnhướng nghiệp của sinh viên Vì thế, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên trường ĐH Nông

nghiệp Hà Nội”

Mục tiêu mà đề tài hướng tới là trên cơ sở phân tích thực trạng về nhucầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội, pháthiện những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đó và đề xuất một số giải pháp nângcao hiệu quả hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên

Để tiến hành nghiên cứu đề tài, đề tài tiến hành thu thập thông tin từ 90sinh viên, 10 giảng viên và 4 cán bộ thuộc trung tâm tư vấn Sau khi được xử lýbằng phần mềm SPSS, thông tin về nội dung sinh viên được phân loại so sánhtheo giới tính, theo khóa và theo khối ngành

Qua quá trình nghiên cứu thực tế cho thấy: 77,8% sinh viên có sự quantâm tới tư vấn hướng nghiệp Điều này phản ánh sinh viên đã nhận thức đượctầm quan trọng của tư vấn hướng nghiệp trong việc điều chỉnh và định hướng

Trang 5

trong việc chọn nghề nghiệp tương lai của mình Tuy nhiên sự hiểu biết củasinh viên về nghề nghiệp thì rất mơ hồ và không đầy đủ với 73,3% sinh viênđược điều tra lựa chọn đáp án hiểu biết rất ít về nghề Có sự khác nhau về nhucầu tư vấn hướng nghiệp giữa giới, giữa các khóa, giữa các khối ngành.Nguyên nhân chính của thực trạng trên là do sinh viên chưa chịu tìm kiếmthông tin và đã tìm hiểu thông tin về nghề nghiệp từ các nguồn không chínhthống và bài bản Đối tượng ảnh hưởng nhiều tới sự lựa chọn nghề của sinhviên là gia đình và các phương tiện thông tin đại chúng Những khó khăn sinhviên gặp phải khi chọn nghề là: Nghề phù hợp với sở thích nhưng không phùhợp với năng lực bản thân, nghề phù hợp với sở thích và năng lực nhưng thunhập thấp, nghề phù hợp với sở thích và năng lực nhưng khả năng có việc thấp.

Những sinh viên trình độ học vấn giỏi có nhu cầu tư vấn hướng nghiệp íthơn so với những sinh viên có trình độ học vấn trung bình, kém Những sinhviên có thu nhập thêm có nhu cầu tư vấn cao hơn so với những sinh viên không

có thu nhập thêm Những sinh viên có sức khỏe tốt có nhu cầu tư vấn cao hơn

so với những sinh viên có sức khỏe bình thường

Cần giúp sinh viên tiếp xúc sớm hơn với hoạt động tư vấn hướng nghiệp.Khi sinh viên mới vào trường cần có những buổi tư vấn nhằm cung cấp thêmcác thông tin về nghề nghiệp cùng với các kỹ năng, phẩm chất mà nghề yêucầu nhằm giúp sinh viên hiểu và định hướng được nghề nghiệp trong tương laicủa mình Duy trì các hoạt động tư vấn đào tạo Tổ chức thêm nhiều buổi tọađàm với doanh nghiệp nhằm giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các yêu cầu củanghề Tiếp tục tổ chức chương trình “Ngày hội việc làm” theo định kỳ nhằmgiúp sinh viên có cơ hội tiếp cận với doanh nghiệp hơn, biết được những thôngtin, kỹ năng nghề nghiệp cần và những yêu cầu của nhà tuyển dụng Nâng caonhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của công tác tư vấn hướng nghiệpđối với bản thân mỗi sinh viên Nâng cao vai trò của gia đình và thầy cô trongcông tác tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh mục các ký hiệu, ký tự viết tắt viii

Danh mục bảng ix

Danh mục biểu đồ xi

I MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CỦA SINH VIÊN 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Tư vấn hướng nghiệp 4

2.1.2 Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên 13

2.2 Cơ sở thực tiễn 26

2.2.1 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp trên thế giới 26

2.2.2 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở Việt Nam 28

2.2.3 Bài học kinh nghiệm 29

Trang 7

III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31

3.1.1 Thông tin chung về trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội 31

3.1.2 Hoạt động đào tạo của trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội 32

3.1.3 Hoạt động nghiên cứu khoa học 34

3.2 Phương pháp nghiên cứu 36

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 37

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 38

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38

Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

4.1 Thực trạng nhu cầu tư vấn hướng nghiệpcủa sinh viên trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội 40

4.1.1 Đặc điểm lựa chọn nghề của sinh viên 40

4.1.2 Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên theo giới tính 53

4.1.3 Nhu cầu hướng nghiệp của sinh viên theo khóa 56

4.1.4 Nhu cầu hướng nghiệp của sinh viên theo khối ngành 58

4.1.5 Những lý dosinh viên không tìm đến các đơn vị tư vấn hướng nghiệp .61

4.1.6 Mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ tư vấn hướng nghiệp 62

4.2 Thực trạng hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội 62

4.2.1 Nhận thức và hiểu biết của giảng viên và cán bộ về tầm quan trọng của việc tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên 62

4.2.2 Hoạt động tư vấn của trung tâm hướng nghiệp và tư vấn việc làm .63

4.2.3 Đánh giá của sinh viên về các hoạt động tư vấn hướng nghiệp 69

Trang 8

4.3 Yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên

70

4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên tại trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội 77

4.4.1 Đối với nhà nước 77

4.4.2 Đối với nhà trường 77

4.4.3 Đối với trung tâm hướng nghiệp và tư vấn việc làm 78

4.4.4 Đối với giảng viên 79

4.4.5 Đối với gia đình 79

4.4.6 Đối với sinh viên 80

V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

5.1 Kết luận 81

5.2 Kiến nghị 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, KÝ TỰ VIẾT TẮT

4 CTCT & CTSV Công tác chính trị và công tác sinh viên

6 GD & ĐT Giáo dục và đào tạo

7 NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Thời điểm lựa chọn nghề của sinh viên 40

Bảng 4.2 Dự định nghề nghiệp trong tương lai của sinh viên 41

Bảng 4.3 Nhóm nghề định chọn của sinh viên 43

Bảng 4.4 Những cơ sở sinh viên dựa vào khi chọn nghề 45

Bảng 4.5 Sự cần thiết của việc chuẩn bị trước phẩm chất và kỹ năng của nghề trong tương lai 47

Bảng 4.6 Các đối tượng ảnh hướng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên 48

Bảng 4.7 Các nguồn tư vấn hướng nghiệp mà sinh viên tìm đến 50

Bảng 4.8 Những khó khăn khi chọn nghề của sinh viên 52

Bảng 4.9 Sự khác biệt trong mức độ hiểu biết về những yêu cầu của công việc sẽ làm giữa hai giới 54

Bảng 4.10 Sự khác biệt về mức độ quan tâm đến tư vấn hướng nghiệp giữa hai giới 54

Bảng 4.11 Sự khác biệt về các nội dung mà sinh viênquan tâm cần được tư vấn giữa hai giới 55

Bảng 4.12 Sự khác biệt về mức độ hiểu biết về những yêu cầu của công việc sẽ làm của sinh viên giữa các khóa 56

Bảng 4.13 Sự khác biệt mức độ quan tâm đến tư vấn hướng nghiệp giữa các khóa 57

Bảng 4.14 Sự khác biệt về các nội dung mà sinh viên quan tâm cần được tư vấn giữa các khóa 58

Bảng 4.15 Sự khác biệt về mức độ hiểu biết về những yêu cầu của công việc sẽ làm giữa hai khối ngành 59

Trang 11

Bảng 4.16 Sự khác biệt mức độ quan tâm đến tư vấn hướng nghiệp

giữa hai khối ngành 59Bảng 4.17 Sự khác biệt về các nội dung mà sinh viên quan tâm cần

được tư vấn giữa hai khối ngành 60Bảng 4.18 Những lý do sinh viên không tìm đến các đơn vị tư vấn tại

trường đại học Nông nghiệp 61Bảng 4.19 Mức sẵn lòng chi trả cho 1 buổi tư vấn hướng nghiệp của

sinh viên 62Bảng 4.20 Hiểu biết của giảng viên vềcác nội dung tư vấn hướng

nghiệp cho sinh viên 63Bảng 4.21a Kết quả tập huấn kỹ năng mềm, tư vấn, hướng nghiệp cho

sinh viên năm 2012 64Bảng 4.21b Kết quả huấn kỹ năng mềm, tư vấn, hướng nghiệp cho sinh

viên năm 2013 65Bảng 4.21c Kết quả của chương trình “Ngày hội việc làm” năm 2014 66Bảng 4.22 Hoạt động tư vấn của các đối tượng thực hiện tư vấn 68Bảng 4.23 Đánh giá của sinh viên về các hoạt động tư vấn hướng nghiệp

69Bảng 4.25 Mức độ hài lòng của sinh viên về các tổ chức tư vấn 70Bảng 4.25 Những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tư vấn hướng nghiệp

của sinh viên 71Bảng 4.26 Mức độ quan tâm tới tư vấn hướng nghiệp theo sức khỏe 74Bảng 4.27 Mức độ quan tâm tới tư vấn hướng nghiệp theotrình độ học vấn

74Bảng 4.28 Mức độ quan tâm tới tư vấn hướng nghiệp theo điều kiện

kinh tế của sinh viên 75

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Sự hiểu biết của sinh viên với nghề định chọn 42

Trang 13

I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết

Một trong những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời mỗi người, quyếtđịnh thành công hay thất bại trong tương lai là việc lựa chọn nghề nghiệp.Vìthế, lựa chọn cho mình được một nghề phù hợp là vấn đề mà tất cả các bạn trẻ

- đặc biệt là học sinh, sinh viên đều quan tâm Thế hệ trẻ chính là tương laicủa đất nước nên vấn đề lựa chọn nghề nghiệp của họ ảnh hưởng rất nhiềuđến sự phát triển của đất nước Chính vì thế mà vấn đề tư vấn hướng nghiệpđang được xem là một vấn đề nóng hiện nay, được cả xã hội và nhà nướcquan tâm

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, để chọn cho mình một công việc

ổn định và thích hợp để sinh sống là một khó khăn Thực tế, hiện tượng sinhviên ra trường phải chịu cảnh thất nghiệp hay phải làm việc không đúng vớichuyên môn là khá phổ biến, họ cảm thấy khó khăn trong việc đáp ứng cácyêu cầu mà công việc cần, đồng thời không cảm thấy hứng thú và gắn bó vớinghề nghiệp mình đã chọn Điều này không những gây lãng phí về thời gian,tiền bạc, nguồn nhân lực mà còn tạo ra sự phân bố nguồn lực không hợp lýlàm ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của đất nước Như vậy, làm thế nào đểđịnh hướng con đường nghề nghiệp của mình một cách hiệu quả? Rất nhiềubạn sinh viên hiện nay không trả lời được câu hỏi này.Điều đó không còn làngoại lệ đối với sinh viên hiện nay mà là tình trạng chung của rất nhiều sinhviên các trường đại học trong đó có sinh viên ĐH Nông nghiệp Hà Nội

Khi thi vào đại học, một số bạn sinh viên đã được cha mẹ định hướngcông việc trong tương lai, bên cạnh đó cũng có một phần các sinh viên tự địnhhướng nghề nghiệp cho bản thân do sở thích của chính mình Tuy nhiên, đấtnước đang phát triển từng ngày từng giờ nên định hướng nghề nghiệp đó

Trang 14

thường không theo kịp xu hướng phát triển của đất nước Chính vì vậy cơ hộitìm kiếm việc làm của sinh viên bị bó hẹp do thiếu kiến thức và hiểu biết vềcác ngành nghề.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc hướng nghiệp nên tư vấnhướng nghiệp cho sinh viên được nhà trường rất chú trọng Tuy nhiên việc

mở các lớp các khóa tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên hiện nay còn gặpnhiều khó khăn do chưa biết rõ về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viêntrong trường

Như vậy việc nghiên cứu để tìm ra nhu cầu và giải pháp để tư vấnhướng nghiệp cho sinh viên là một vấn đề rất cần thiết với sinh viên ĐH Nôngnghiệp Hà Nội nói riêng và sinh viên các trường nói chung.Vì thế, đề tài lựa

chọn nghiên cứu: “Đánh giá nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích thực trạng về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp củasinh viên trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội, phát hiện những yếu tố ảnh hưởngđến nhu cầu đó và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tưvấn hướng nghiệp cho sinh viên

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nhu cầu tư vấnhướng nghiệp

Đánh giá thực trạng nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên trường

ĐH Nông nghiệp Hà Nội

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn hướng nghiệp,đáp ứng nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên trường ĐH Nông nghiệp

Hà Nội

Trang 15

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp củasinh viên trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

a Phạm vi nội dung

Nghiên cứu về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên và công tác

tư vấn hướng nghiệp tại địa bàn trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội

Trang 16

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CỦA SINH VIÊN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Tư vấn hướng nghiệp

2.1.1.1 Khái niệm

a.Tư vấn

Trong từ điển tiếng Việt “tư vấn” được định nghĩa là “Phát biểu ý kiến

về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định”.Trong từđiển tiếng Anh chữ “consultation” được định nghĩa là “The act, process ofconsulting” nghĩa là “Hành động, quá trình tư vấn”

Người tư vấn có thể đóng vai trò như người chịu trách nhiệm tìm

ra những giải pháp (R Schein, 1969); hay thu thập thông tin, chẩn đoán vấn

đề và đề xuất giải pháp (D.J Kurpius & J.C Brukbaker, 1976);hoặc là ngườiđịnh hướng, điều phối tiến trình giải quyết vấn đề (R Blake & J.S Mouton,1976)…(trích từ “Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh lớp 12 trung họcphổ thông tỉnh Kiên Giang” Nguyễn Thị Thanh Thảo, 2010)

Tư vấn có thể được xem là mối quan hệ mà ở đó người chuyên gia đưa

ra sự trợ giúp cho cá nhân hay tổ chức có nhu cầu giải quyết vấn đề khó khăn(A.M Douherty, 1990)

Tư vấn là một nghề đòi hỏi phải thành tâm và có tấm lòng cao cả Nóthu hút những tâm hồn biết quan tâm, tâm tình cởi mở, thân thiện và nhạycảm với nhu cầu giúp đỡ con người (Myrick, 1997) (trích từ “Nhu cầu tư vấnhướng nghiệp của học sinh lớp 12 trung học phổ thông tỉnh Kiên Giang”.Nguyễn Thị Thanh Thảo, 2010)

Với tác giả Trần Thị Giồng (2012) thì “Tư vấn là một tiến trình cần có

sự tương tác và tham gia của thân chủ, giúp thân chủ có được tự tin vào chính

Trang 17

tiềm năng của mình và dám đưa ra quyết định để giải quyết vấn đề của bảnthân, dần dần dẫn đến thay đổi hành vi theo chiều hướng tích cực hơn”

Nhìn chung, theo định nghĩa của các tác giả thì tư vấn chính là quátrình thu thập thông tin, chẩn đoán vấn đề thân chủ đang vướng mắc, sau đóbằng những kỹ năng và kiến thức chuyên môn giúp thân chủ tìm ra hướnggiải quyết tốt nhất

Tóm lại, tư vấn là quá trình trợ giúp của nhà tư vấn đối với thân chủ

bằng cách sử dụng tối đa những kiến thức chuyên môn và kỹ năng mà nhà tư vấn có để giúp thân chủ giải quyết những vấn đề khó khăn đang vướng mắc.

Tư vấn vừa phải có tính chuyên nghiệp,vừa phải có tính hệ thống.

b Hướng nghiệp

Theo quan điểm trước đây về hướng nghiệp: Hướng nghiệp là hệ thốngnhững biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, giáo dục học, xã hộihọc và một số khoa học khác nhằm giúp con người định hướng nghề nghiệpmột cách đúng đắn, từ đó chọn nghề phù hợp với nguyện vọng, năng lực, đặcđiểm tâm sinh lý cá nhân và hoàn cảnh sống, phù hợp với nhu cầu của xã hội,nhờ vậy có thể tiến tới đỉnh cao của nghề nghiệp, cống hiến được tối đa cho

xã hội và xây dựng được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân và gia đình

Theo quan niệm mới về hướng nghiệp: Hướng nghiệp (orentation) làmột quá trình liên tục giúp đỡ mọi người suốt cả cuộc đời để họ thực hiệnđược dự án cá nhân, cũng như nghề nghiệp của mình bằng cách xác địnhnhững mong muốn và năng lực của mình thông qua thông tin và tư vấn vềthực tế thế giới công việc, sự phát triển của nghề nghiệp, thị trường lao động,thực tiễn kinh tế và nhu cầu trong đào tạo” (Sách trắng về Giáo dục và đào tạo

ở châu Âu)

c.Tư vấn hướng nghiệp

Tư vấn hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp tâm lí - giáo dụcnhằm đánh giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh niên, đối chiếu

Trang 18

các năng lực đó với những yêu cầu do nghề hay nhóm nghề đặt ra đối vớingười lao động, có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của địa phương và xã hội.Trên cơ sở đó cho họ những lời khuyên về chọn nghề có căn cứ khoa học, loại

bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề

Theo quan niệm mới, tư vấn hướng nghiệp là một quá trình, không chỉdiễn ra ở một thời điểm của cuộc đời mà diễn ra trong suốt đời người Mụcđích không chỉ giúp con người lựa chọn nghề nghiệp phù hợp mà còn hỗ trợ conngười vượt qua khó khăn, thích ứng với hoàn cảnh của một xã hội phát triển và

có nhiều thay đổi, phát huy được tối đa năng lực của mình để đạt được thànhcông trong nghề nghiệp, xây dựng được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân

Tuy nhiên để phù hợp với đề tài, chúng tôi thống nhất sử dụng kháiniệm sau đây để làm công cụ tiến hành việc nghiên cứu:

“Tư vấn hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp nhằm đánh giá

toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh niên, đối chiếu các năng lực đó với những yêu cầu do nghề hay nhóm nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của địa phương và xã hội Trên cơ sở đó cho đối tượng cần tư vấn những lời khuyên về chọn nghề có căn cứ khoa học, loại

bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề”.

2.1.1.2 Vai trò của tư vấn hướng nghiệp

Khi tham gia các hoạt động hướng nghiệp, nhận thức về ý nghĩa, tầmquan trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên được nâng cao Đây

là yếu tố quan trọng bậc nhất để các sinh viên có thể tiến hành lựa chọn nghềnghiệp một cách đúng đắn, khoa học Nếu không nhận thức được điều này, sựlựa chọn nghề nghiệp của sinh viên với tư cách là một trong những việc quantrọng nhất của cuộc đời thường dễ tiến hành một cách ngẫu nhiên, cảm tính.Đồng thời thông qua việc được tư vấn, giới thiệu về thế giới nghề nghiệp, cácsinh viên sẽ được trang bị các thông tin về thế giới nghề nghiệp, nhu cầu củathị trường lao động, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trang 19

một cách đầy đủ Cũng thông qua hoạt động tư vấn hướng nghiệp, sinh viên

sẽ được trang bị đầy đủ hơn về cơ cấu nghề nghiệp trong tương lai, nhữngngành nghề có triển vọng, những ngành nghề sẽ dần mất đi Nhận thức vềnhu cầu của thị trường lao động, về thế giới nghề nghiệp một cách đầy đủ là

cơ sở để giúp việc chọn nghề của các sinh viên đúng với yêu cầu của xã hội,tránh tình trạng lãng phí về thời gian, kinh phí học tập

2.1.1.3Một số nội dung của hoạt động tư vấn hướng nghiệp

* Các hình thức tư vấn hướng nghiệp

1) Tư vấn thông tin hướng dẫn: Nhằm giới thiệu nghề, nhóm nghề màthanh thiếu niên định chọn qua các bản mô tả nghề Ở đây, người cán bộ tưvấn sẽ giới thiệu về những yêu cầu do nhóm nghề đề ra đối với những phẩmchất cá nhân của con người, đồng thời chỉ ra con đường để đạt được nghềnghiệp và triển vọng nâng cao tay nghề

2) Tư vấn chẩn đoán: Trên cơ sở nghiên cứu và đo đạc nhân cách conngười một cách toàn diện được thực hiện bằng các kiểm tra như: tìm hiểuhứng thú xu hướng nghề; tìm hiểu kiểu thần kinh khí chất; trắc nghiệm tưduy; trắc nghiệm trí nhớ; trắc nghiệm trí tưởng tượng không gian; trắc nghiệmchú ý; trắc nghiệm khả năng giao tiếp; trắc nghiệm khả năng kinh doanh đểtìm hiểu hứng thú, thiên hướng, năng lực và những phẩm chất nghề chuyênbiệt của con người Mục đích của tư vấn chẩn đoán là xác định trong nhữnglĩnh vực hoạt động nào con người có thể lao động thành công nhất, tức là đemlại lợi ích tối đa cho xã hội, đồng thời cũng đem lại niềm vui và sự hài lòngcho bản thân người lao động

3) Tư vấn y học: Người làm tư vấn đo đạc các chỉ số tâm sinh lý nhưthị giác, thính giác, xúc giác, sự phối hợp cảm giác vận động, sự phối hợphành động Nếu như người được tư vấn mắc một trong những bệnh thuộc loạichống chỉ định của nghề thì người cán bộ tư vấn sẽ khuyên nên chọn mộtnghề khác gần gũi với thiên hướng và hứng thú, đồng thời phù hợp với trạng

Trang 20

thái sức khoẻ của người đó Chẳng hạn, những người rối loạn sắc giác sẽkhông được chọn những ngành nghề giao thông vận tải, thông tin tín hiệu

4) Tư vấn hiệu chỉnh: được tiến hành trong trường hợp ý định nghềnghiệp của con người không phù hợp với khả năng và năng lực thực tế của

họ Trong trường hợp này, kế hoạch nghề nghiệp của cá nhân cần được xemxét và uốn nắn lại cho phù hợp với tình hình Ví dụ: trên cơ sở những cứ liệuthu được khi nghiên cứu nhân cách con người, cán bộ tư vấn sẽ khuyên thanhthiếu niên nên chọn một nghề khác, phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lýcủa mình hơn

* Ngoài ra, người ta có thể chia tư vấn hướng nghiệp thành 2 loại: tưvấn sơ bộ và tư vấn chuyên sâu

1) Tư vấn sơ bộ: loại này đơn giản có thể thực hiện ở nhiều trường vìkhông đòi hỏi phải có thiết bị, các phương tiện kỹ thuật Chẩn đoán nhữngphẩm chất nhân cách của sinh viên không cần đòi hỏi phải có đội ngũ chuyêngia tư vấn hướng nghiệp có tay nghề cao, am hiểu sâu sắc các lĩnh vực tâmsinh lý, giáo dục học, y học, kinh tế học Ở đây, giáo viên đóng vai trò “nhà tưvấn” cần có những hiểu biết về yêu cầu của một số ngành nghề ở một sốtrường hoặc ở địa phương, về nhu cầu nhân lực, về năng lực của sinh viên Từ

đó cho sinh viên lời khuyên nên học nghề gì và học ở đâu Hoặc là qua nhữngđiều giảng giải của giáo viên để sinh viên tự trả lời được 3 câu hỏi: Em cómuốn (thích) học nghề đó không? Em có khả năng làm nghề đó không?Xãhội, địa phương có cần nghề đó không?

2) Tư vấn chuyên sâu: loại này phức tạp vì việc tư vấn được tiến hànhtrên cơ sở khoa học thực sự, đảm bảo độ chính xác cao nhờ một số máy móchiện đại (ví dụ máy đo độ chính xác của các cử động, sự khéo léo vận độngcủa 2 tay ) Điều kiện để tư vấn hướng nghiệp chuyên sâu là phải có đội ngũchuyên gia tư vấn hướng nghiệp được đào tạo có trình độ chuyên môn nghiệp

vụ cao gồm các nhà tâm lý học, giáo dục học, kinh tế học, bác sĩ có kinh

Trang 21

nghiệm thực tế Họ phải được huấn luyện nghiêm chỉnh để có kiến thức về thếgiới nghề nghiệp, về yêu cầu của nghề, về nhân cách, trước hết về động cơ,hứng thú, khuynh hướng và năng lực nghề nghiệp của sinh viên, về kinh tế, vềnhu cầu phát triển nhân lực của các ngành nghề kinh tế quốc dân và địaphương Đặc biệt phải có kiến thức sâu sắc về hướng nghiệp, tư vấn hướngnghiệp chọn nghề, kỹ thuật tư vấn hướng nghiệp, biết sử dụng thành thạo cácphương pháp kiểm tra chẩn đoán khả năng trí tuệ, khả năng vận động và nhâncách của sinh viên Đương nhiên, kèm theo các phương pháp này là nhữngmáy móc, thiết bị, những phương tiện kỹ thuật.

2.1.1.4 Các nội dung tư vấn hướng nghiệp

1) Giúp sinh viên tìm hiểu thế giới nghề nghiệp: họ biết được tính đadạng phong phú của nghề, xu hướng phát triển của nghề, các yêu cầu củanghề, đặc biệt là các yêu cầu về tâm sinh lý, những điều kiện học nghề và vàonghề… Đồng thời, qua quá trình tìm hiểu nghề, ở sinh viên sẽ xuất hiện vàphát triển hứng thú nghề nghiệp Từ đó hình thành ở sinh viên những biểutượng đúng đắn về những nghề cần phát triển; hình thành và rèn luyện cho họphương pháp tìm thông tin Một số thông tin cụ thể như: thông tin về ngành,nhóm nghề và nghề cụ thể; thông tin về cơ sở đào tạo; thông tin về nghềnghiệp và cơ sở đào tạo mà bản thân sinh viên thích

2) Giúp sinh viên tìm hiểu thông tin về định hướng phát triển kinh tế

-xã hội, về thị trường lao động ở địa phương, cả nước và xa hơn nữa là trongkhu vực và thế giới; giúp sinh viên tiếp cận dần về hệ thống thông tin về đàotạo nhân lực và việc làm, giúp họ quen dần với những tính chất, quy luật củathị trường lao động; giúp họ thấy được đòi hỏi mới về nhân lực phục vụ sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá để họ có trình độ tự chủ cao hơn, có kỹnăng giao tiếp, tinh thần trách nhiệm và sáng kiến trong lao động Do tínhbiến động của thị trường lao động, người lao động cũng cần thể hiện tínhnăng động, thích ứng qua việc không ngừng nâng cao trình độ tay nghề, trình

Trang 22

độ chuyên môn hoá Và những nội dung này cũng có tính đến đặc điểm nhậnthức, tâm sinh lý lứa tuổi Các nội dung cụ thể: thông tin về phương hướngphát triển kinh tế - xã hội; thông tin về thị trường lao động.

3) Giúp sinh viên tự đánh giá hứng thú và năng lực nghề nghiệp củabản thân: Hứng thú là một động lực hết sức quan trọng để con người gắn bóvới nghề; hứng thú được coi như một chỉ số quan trọng hàng đầu để xét sựphù hợp người của con người Bên cạnh đó, để có thể gắn bó với nghề, đạtnăng suất lao động cao, người lao động cần phải có năng lực chuyên môn thật

sự, đóng góp được sức lực, trí tuệ một cách hữu hiệu với nghề mình yêu thích.Hơn nữa, nghề nghiệp cũng không chấp nhận những người thiếu năng lực, do

đó giúp sinh viên tự đánh giá và phát triển hứng thú, năng lực nghề nghiệptương lai của họ trên cơ sở phân tích những đặc điểm, những điều kiện, nhữnghoàn cảnh riêng của từng cá nhân một

2.1.1.5 Các phẩm chất đạo đức của nhà tư vấn hướng nghiệp.

Mỗi nghề đều có những yêu cầu, đòi hỏi nhất định về phẩm chất vànăng lực của người lao động Để thích ứng được với nghề và đạt năng suất laođộng cao nhất, người lao động cần có những phẩm chất năng lực tương ứngđáp ứng đòi hỏi của nghề Tư vấn là một nghề mang tính chuyên nghiệp cao

Vì vậy nghề này cũng đòi hỏi các chuyên gia phải có những phẩm chất nhấtđịnh Trong nghề tham vấn, các chuyên gia tham vấn thông thường phải cócác phẩm chất đặc trưng sau:

- Sự thông minh, nhanh nhạy

- Chân thật

- Khát vọng giúp đỡ người khác

- Tính cởi mở, nhạy cảm, nhân ái với mọi người

- Có tấm lòng khoan dung, độ lượng và khả năng giao tiếp hoàn hảo.Đặc biệt đối với quá trình tư vấn hướng nghiệp thì yêu cầu trong phẩmchất “Sự thông minh, nhanh nhạy” bao hàm thêm rất nhiều các phẩm chất

Trang 23

khác như:

- Sự hiểu biết về nghề, trường thi (chỉ tiêu), loại hình đào tạo, hình thứcđào tạo, yêu cầu đặc điểm của nghề, trường

- Hiểu biết về sự thay đổi yêu cầu của xã hội đối với nghề nghiệp

- Các kỹ năng để đánh giá các đặc điểm tâm sinh lý, xu hướng, khí chấtriêng của từng cá nhân

2.1.1.6 Một số nguyên tắc tư vấn hướng nghiệp cơ bản

Nguyên tắc tư vấn là những quy định mang tính chỉ đạo hoạt động củanhà tư vấn trong suốt quá trình tư vấn, các nguyên tắc tư vấn chính là yếu tốphân biệt với tư cách là hoạt động nghề nghiệp của họ

Những nguyên tắc này được xây dựng dựa trên cơ sở triết lý Mục đíchcủa nghề và những kinh nghiệm của các tổ chức, cá nhân được đúc kết tronglịch sử phát triển của nghề tư vấn Thực hiện đúng theo tư vấn, hoạt động tưvấn sẽ diễn ra với hiệu quả trợ giúp cao, và ngược lại, thậm chí sẽ làm hại đếnthân chủ Vì vậy, nhà tư vấn cần nắm vững và quán triệt tốt các nguyên tắcnày Hiện nay, ở Việt Nam, các trung tâm tư vấn, các tổ chức giáo dục đào tạođều có tiến hành hoạt động tư vấn hướng nghiệp, các nhà giáo dục, khoa họccũng đưa ra rất nhiều quan điểm về cơ sở lý luận của tư vấn hướng nghiệp.Tuy nhiên, đây là một mô hình mới được phát triển ở Việt Nam vài năm trởlại đây, bên cạnh đó là có sự tiếp nhận các quan điểm về tư vấn hướng nghiệpcủa Pháp, Mỹ… và các nước phát triển khác Vì vậy, hệ thống cơ sở lý luận

về tư vấn hướng nghiệp mà được Bộ Giáo dục – Đào tạo công nhận và đưavào làm kim chỉ nam trong hoạt động công tác tư vấn hướng nghiệp thì hiệnnay mới đang được xây dựng, thông qua các ý kiến chuyên gia Tạm thời tưvấn hướng nghiệp trong nhà trường được coi là một mảng của tư vấn họcđường, các nguyên tắc trong tư vấn hướng nghiệp được lấy và vận dụng mộtcách linh hoạt trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của tư vấn Một sốnguyên tắc tư vấn cơ bản nhất:

Trang 24

- Nguyên tắc tôn trọng thân chủ trong quá trình tư vấn Dành quyền tựquyết cho thân chủ Tất cả vì lợi ích của thân chủ.

- Nguyên tắc chấp nhận, không phán xét mọi hành vi, xúc cảm của thân chủ

- Nguyên tắc thấu cảm

- Nguyên tắc đảm bảo tính bí mật thông tin cho thân chủ

Tuy nhiên, đối với tư vấn hướng nghiệp, mỗi nguyên tắc này thể hiệnbằng những biểu hiện khác nhau, cụ thể là:

- Nguyên tắc tôn trọng thân chủ trong quá trình tư vấn – nhà tư vấn cần tôntrọng sinh viên như một nhân cách độc lập, tin vào khả năng của sinh viên

Mức độ thông hiểu nguyên tắc này được thể hiện bằng dấu hiệu nhà tưvấn chỉ ra được các lý do hợp lý của việc cần phải tôn trọng sinh viên, cầnphải tin tưởng sinh viên trong quá trình tư vấn Và ý thức được tác dụng cũngnhư hậu quả khi thực hiện tốt hay không tốt về nguyên tắc này trong quá trình

tư vấn

- Với nguyên tắc dành quyền tự quyết cho thân chủ, thể hiện sự thônghiểu trong nguyên tắc này của nhà tư vấn đó chính là chỉ ra được bản chất tưvấn không áp đặt đối tượng, mà tin tưởng ở đối tượng trên cơ sở phân tíchmột cách khách quan, khoa học vấn đề mà đối tượng vướng mắc, đưa ra gợi

ý Cuối cùng để đối tượng tự cân nhắc và đưa ra cách giải quyết vấn đề củamình vì lợi ích của bản thân

- Nguyên tắc thấu cảm: Sự nhận biết của nhà tư vấn về nguyên tắc này thểhiện ở chỗ: nhà tư vấn cần đặt vị trí của mình vào vị trí của sinh viên để đồngcảm và hiểu những cảm xúc của họ Nhà tư vấn cần tránh sự đồng nhất giữa

“thấu cảm” và “đồng cảm”, cũng như ý tưởng tạo lập một khoảng cách giữa nhà

tư vấn và sinh viên nhằm để giữ “uy” với mục đích “giáo dục” sinh viên

- Nguyên tắc chấp nhận, không phê phán sinh viên: nhà tư vấn khôngnên phê phán, uốn nắn, giáo dục sinh viên một cách cứng nhắc như trong hoạtđộng giáo dục - hoạt động mà họ đang thực hiện; cần phải biết lắng nghe và

Trang 25

chấp nhận sinh viên, chấp nhận vô điều kiện.

Tóm lại, tư vấn hướng nghiệp không chỉ dừng lại ở việc cung cấp chosinh viên những thông tin liên quan đến nghề, yêu cầu của nghề đối với ngườilao động, nhu cầu xã hội, hay hệ thống trường đào tạo…mà còn phải giải đápđược các thắc mắc của sinh viên, giúp sinh viên hiểu được ý nghĩa, tầm quantrọng của việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai, gợi ý và định hướng cho sinhviên tìm hiểu những thông tin nào là quan trọng và cần thiết cho quá trìnhchọn nghề, giúp sinh viên có được kỹ năng tự đánh giá được năng lực bảnthân và điều kiện gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp, biết cách tìmkiếm được những thông tin nghề và thông tin cơ sở đào tạo cần thiết cho bảnthân trong việc chọn nghề, biết cách định hướng và lựa chọn nghề nghiệp chobản thân Bên cạnh đó, tư vấn hướng nghiệp giúp sinh viên có thái độ chủđộng và tự tin trong việc chọn nghề phù hợp, có hứng thú và khuynh hướngchọn nghề đúng đắn Tuy nhiên, tư vấn hướng nghiệp cần phải được hiểu mộtcách rộng hơn, là không chỉ tác động và làm thay đổi nhận thức của cá nhânđối với nghề định chọn, mà còn phải biết làm cho cá nhân đó hiểu được giá trịcủa nghề, hình thành hứng thú với nghề và tận tâm cống hiến với nghề đãchọn Nói cách khác, tư vấn hướng nghiệp phải làm cho cá nhân thấy đượchạnh phúc khi cống hiến toàn bộ tinh thần và sức lực cho nghề mình chọn, coiviệc hoạt động trong lĩnh vực nghề là một lẽ sống chứ không chỉ là phươngtiện kiếm sống

2.1.2 Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên

2.1.2.1 Khái niệm

a Nhu cầu

Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu khách quan của mỗi con người trongnhững điều kiện nhất định cảm thấy cần được thoả mãn để tồn tại và pháttriển Nhu cầu thúc đẩy con người tích cực hoạt động nhằm tạo nên nhữngđiều kiện, những phương tiện tương ứng để thoả mãn những đòi hỏi của mình

Trang 26

Nếu nhu cầu của con người được thoả mãn đầy đủ sẽ tạo ra điều kiện cần thiết

để làm cho nhân cách phát triển toàn diện và làm phát triển toàn bộ xã hội

Nói một cách cụ thể, nhu cầu là thuộc tính cơ bản của cá nhân Nó cótác dụng xác định xu hướng của cá nhân, xác định thái độ của người đó đốivới hiện thực và đối với trách nhiệm của bản thân, xét đến cùng, nó xác địnhlối sống và hoạt động của cá nhân

Có nhiều định nghĩa về nhu cầu của nhiều tác giả trong và ngoài nước,nhưng trong quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả cho rằng các định nghĩa sausát và phù hợp với đề tài nghiên cứu hơn

Theo từ điển Tâm lý học “nhu cầu là một trạng thái của cá nhân đượctạo ra do cá nhân đó thiếu những đối tượng cần cho sự tồn tại và phát triển và

là nguồn gốc hoạt động của cá nhân đó”

Theo A G Covaliov (1971), nhu cầu là sự cần thiết mà con người cảmthấy cần phải thoả mãn của những điều kiện nhất định của cuộc sống và sựphát triển

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn (1998), khái niệm nhu cầu được phátbiểu như sau “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoảmãn để tồn tại và phát triển”

Trong đề tài này, chúng tôi chọn định nghĩa sau về nhu cầu làm cơ sở

cho việc nghiên cứu “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần

được thoả mãn để tồn tại và phát triển”.

b Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp

Nếu nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của sự tồn tại và phát triển của conngười nói chung thì nhu cầu tư vấn hướng nghiệp là nhu cầu thiết yếu đối vớimỗi cá nhân khi đứng trước quyết định chọn cho mình một nghề phù hợp vàhoạt động tốt ở lĩnh vực nghề đó

Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp thuộc nhu cầu về nhận thức của conngười, nhu cầu nhận thức một lĩnh vực riêng, như vậy nhu cầu này sẽ có đầy

Trang 27

đủ các đặc điểm chung của một nhu cầu nhận thức nói chung, đồng thời cóthêm những đặc điểm riêng của tư vấn hướng nghiệp Từ cơ sở lý luận về nhu

cầu nói chung, nhu cầu nhận thức nói riêng, chúng tôi cho rằng “Nhu cầu tư

vấn hướng nghiệp là nhu cầu cần được tư vấn về các nội dung có liên quan đến lĩnh vực nghề nghiệp và trên cơ sở đó mỗi cá nhân có sự đối chiếu với năng lực bản thân để chọn cho mình một nghề phù hợp”.

Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp với tư cách là nhu cầu nhận thức, ngoàinhững đặc điểm của nhu cầu nói chung, có những đặc điểm riêng của mình.Đối tượng của nhu cầu tư vấn hướng nghiệp là những thông tin về nghềnghiệp (đặc điểm của nghề, yêu cầu của nghề đối với người lao động, chốngchỉ định trong nghề), hệ thống trường đào tạo nghề, nhu cầu của thị trườnglao động… Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp được nảy sinh trong quá trình cánhân tìm kiếm thông tin liên quan đến lĩnh vực nghề nghiệp và trước khiquyết định chọn nghề, từ đó cá nhân sẽ tìm phương thức để thoả mãn nhu cầunày, đó là cá nhân tìm đến các tổ chức hoặc các chuyên gia tư vấn Đồng thời,

cá nhân có xem xét những điều kiện bên ngoài cũng như điều kiện của bảnthân (sở thích, năng lực, điều kiện sức khoẻ, điều kiện kinh tế gia đình…) đểbiết cách điều chỉnh nhu cầu cho phù hợp và đạt được mục đích

c Sinh viên

Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trungcấp chuyên nghiệp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngànhnghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận quanhững bằng cấp đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theophương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học(theo Wikipedia)

d Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên

Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên là nhu cầu cần được tư vấn

về các nội dung có liên quan đến lĩnh vực nghề nghiệp của sinh viên và trên

Trang 28

cơ sở đó mỗi sinh viên có sự đối chiếu với năng lực bản thân để chọn cho mình một nghề phù hợp.

2.1.2.2 Đặc điểm về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên

a, Đặc điểm tâm lý sinh viên

Khi nói đên đặc điểm tâm lý thanh niên sinh viên người ta thường đề cậptới một số đặc điểm cơ bản về sinh lý, tâm lý và mặt xã hội của nhóm tuổi này

Về mặt sinh lý: Ở lứa tuổi từ 18 đến 23-25 tuổi, hình thể đã đạt được sựhoàn chỉnh về cấu trúc và sự phối hợp các chức năng Đầu thời kỳ này, conngười đạt được 9/10 chiều cao và 2/3 trọng lượng của cơ thể trưởng thành.Riêng não bộ đã đạt được trọng lượng tối đa (trung bình là 1.400 gram) và số

tế bào thần kinh đã phát triển đầy đủ tới hơn một trăm tỷ nơron Quan trọnghơn, chính ở lứa tuổi này, hoạt động thần kinh cao cấp đã đạt đến mức trưởngthành Khoa học đã chứng minh rằng: ở nơron của lứa tuổi sinh viên hoàn hảohơn, cách ly tốt hơn, đốt nhánh nhiều; nhiều tế bào thần kinh não đến tuổisinh viên có thể nhận tin từ 1.200 nơron trước và gửi đi 1.200 nơron sau Điềunày đảm bảo một sự liên lạc vô cùng rộng, chi tiết, tinh tế giữa vô số kênh vào

và vô số kênh ra, làm cho trí tuệ của sinh viên vượt xa trí tuệ của học sinh phổthông Ước tính có tới 2/3 số kiến thức học được trong một đời người do đượctích lũy trong thời gian này (Lê Quang Long.1989) Đặc điểm quan trọng củathời kỳ này là chức năng sinh sản bắt đầu quá trình phát triển đầy đủ Giớitính đã phân biệt rõ rệt và phát triển đầy đủ ở mỗi giới cả về biểu hiện bênngoài lẫn biểu hiện nội tiết tố Hơn nữa, ở lứa tuổi thanh niên sinh viên còn cónhiều yếu tố bẩm sinh di truyền đã được biến đổi dưới ảnh hưởng của điềukiện sống và giáo dục

Về mặt tâm lý: Thời kỳ này sự phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sựnâng cao năng lực trí tuệ, biểu hiện rõ nhất trong việc tư duy sâu sắc và rộng,

có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn, phức tạphơn, có tiến bộ rõ rệt trong các lập luận logic, trong việc lĩnh hội tri thức Ở

Trang 29

lứa tuổi này trí tưởng tượng, sự chú ý và ghi nhớ đã phát triển thành khả nănghình thành những ý tưởng trừu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết

và học tập Một đặc trưng quan trọng trong phát triển trí tuệ của thời kỳchuyển tiếp là “tính nhạy bén cao độ” Sinh viên có khả năng giải thích và gán

ý nghĩa cho những ấn tượng cảm tính nhờ vào những kinh nghiệm và tri thức

đã có trước đây Chính sự phát triển nêu trên kết hợp với óc quan sát tích cực,nghiêm túc sẽ tạo cho sinh viên biết cách lĩnh hội một cách tối ưu và đó chính

là cơ sở của toàn bộ quá trình học tập ở đại học và sau khi tốt nghiệp

Sự phát triển tình cảm của lứa tuổi sinh viên được đặc trưng bằng “thời

kỳ bão táp và đầy căng thẳng” Đây là một thời kỳ đầy cảm súc đối với mỗi cánhân Có nhiều tình huống mới nảy sinh trong cuộc sống sinh viên, đỏi hỏi họphải phán đoán và quyết định trong khi họ còn thiếu kinh nghiệm và hiểu biết

xã hội Vì vậy, dễ nảy sinh những tình cảm không thích hợp khi phải ứng xửtrước nhiều tình huống đó Do quá nhạy cảm, sinh viên thường bị lúng túngkhi phải giải quyết các tình huống mới, nhất là khi bị phê bình, nhận xét nặnglời, thiếu tôn trọng, … Khi bị lâm vào hoàn cảnh đó, sinh viên dễ xuất hiệnnhững phản ứng tiêu cực như: thiếu tự tin, “khùng”, từ chối công việc hoặclàm một cách miễn cưỡng…

Đặc điểm tâm lý quan trọng của thời kỳ chuyển tiếp ở lứa tuổi thanhniên sinh viên là sự phát triển tự ý thức Tự ý thức là một loại đặc biệt của ýthức trong đời sống cá nhân, có chức năng điều chỉnh nhận thức và thái độ đốivới bản thân Tự ý thức là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự kiểm tra, tựđánh giá về hoạt động, kết quả của hành động của chính bản thân về mặt tưtưởng, tình cảm, phong cách, đạo đức, hứng thú,… Tự ý thức chính là điềukiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách theo yêu cầu của

xã hội Tự ý thức của sinh viên được hình thành trong quá trình xã hội hóa vàliên quan chặt chẽ với tính tích cực nhận thức của sinh viên

Về mặt xã hội: Nét đặc trưng của lứa tuổi thanh niên là hình thành con

Trang 30

đường sống Vì vậy khi xét đến mặt xã hội trong đời sống tâm lý của sinhviên ta phải quan tâm đến “kế hoạch đường đời và tự xác định nghề nghiệpcủa thanh niên”.

Kế hoạch đường đời là một hiện tượng đồng thời của thể chế xã hội vàpháp quyền Kế hoạch đường đời cũng chính là kế hoạch hoạt động của sinhviên và nó được bắt đầu bằng sự lựa chọn nghề nghiệp Việc lựa chọn nghềnghiệp của thanh niên sinh viên không chỉ theo ý thích mà nó còn thể hiệntrình độ đạo đức “… chúng ta lựa chọn nghề nghiệp phải vì quyền lợi củanhân loại và vì sự hoàn thiện của riêng ta…” (Suy nghĩ của thanh niên khichọn nghề.C.Mác-Ph.Ănghen, 1956)

Trong thời gian học tập ở đại học, do ảnh hưởng của nội dung các mônkhoa học (cơ bản, cơ sở và chuyên ngành) và do tham gia vào đời sống xãhội, nên xu hướng nghề được hình thành và phát triển ở sinh viên Nghĩa là,

họ củng cố thái độ tốt đối với nghề tương lai của họ, củng cố hứng thú,khuynh hướng và năng lực đối với nghề đã chọn; mong muốn hoàn thiện trình

độ nghiệp vụ sau khi tốt nghiệp… phát triển quan điểm, niềm tin, uy tín nghềnghiệp trong cách nhìn nhận của người chuyên gia tương lai

Tóm lại: Sinh viên thuộc tầng lớp thanh niên có độ tuổi từ 18 đến

23-25, là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về thể lực sang sự trưởng thành về phương diện tâm lý – xã hội Lứa tuổi này được đánh giá là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức và thẩm mỹ; là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách; đặc biệt là sinh viên đã có vai trò “người lớn” thực sự (họ có quyền công dân, quyền xây dựng gia đình, quyền lao động kiếm sống…) Họ

có kế hoạch riêng cho hoạt động của mình, chịu trách nhiệm về hành vi và độc lập trong phán đoán Đây là thời kỳ có nhiều biến động mạnh mẽ về động

cơ, về thang giá trị xã hội Sinh viên đã biết xác định con đường sống tương lai, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu dấn thân thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.

Trang 31

b, Đặc điểm về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên

Cũng như các loại nhu cầu về nhận thức khác, nhu cầu tư vấn hướngnghiệp của sinh viên cũng có những đặc điểm về đối tượng, về điều kiện vàphương thức thoả mãn nhu cầu, về tính chu kỳ, và mang đậm bản chất xã hội-lịch sử

Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng, và đối tượng của nhu cầu tư vấnhướng nghiệp của sinh viên chính là những tri thức về nghề nghiệp sinh viênđịnh chọn trong tương lai mà sinh viên muốn có khi tham gia hoạt động tưvấn hướng nghiệp Nói một cách cụ thể, đó chính là nhận thức đúng đắn củasinh viên về thế giới nghề nghiệp, về những đặc điểm tâm sinh lý của bảnthân, về những điều kiện riêng của bản thân, cũng như về nhu cầu của thịtrường lao động Từ sự nhận thức đó sẽ giúp cho sinh viên tạo lập được kỹnăng tìm kiếm và chọn lọc thông tin cần thiết, kỹ năng phân tích, đánh giá và

tự đánh giá bản thân trong mối tương quan với nghề nghiệp mà các sinh viênđịnh chọn Để có được sự nhận thức đúng đắn đó, các sinh viên cần đến sự hỗtrợ của những người làm công tác tư vấn hướng nghiệp

Để thoả mãn nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên thì bản thânhoạt động tư vấn hướng nghiệp phải được tổ chức dưới nhiều hình thức tư vấn

đa dạng, phong phú và nội dung tư vấn phải đầy đủ, sâu và rộng, giải quyếtđược những băn khoăn, thắc mắc của các sinh viên Thông qua các hoạt động

tư vấn hướng nghiệp nhằm giúp các sinh viên khám phá hứng thú, năng lựcbản thân, xây dựng kế hoạch nghề nghiệp, rèn luyện cho mình những kỹ năngtương ứng với nghề nghiệp tương lai

Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên năm cuối cũng mang tínhchu kỳ, có nghĩa là nhu cầu này chỉ được hình thành và củng cố trong điềukiện được thoả mãn một cách có hệ thống Nói một cách khác, nhu cầu nàyđược thể hiện ở các mức độ khác nhau theo các khối học khác nhau của sinhviên, và đòi hỏi sự thoả mãn ngày một cao hơn Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp

Trang 32

được củng cố tốt khi mà sinh viên có ý thức về ý nghĩa xã hội của nó, đồngthời con người ý thức được ý nghĩa của nó đối với bản thân con người, muốnđược vậy cần phải có sự hỗ trợ thêm của giáo dục và của dư luận tập thể Ởmức độcao nhất để thoả mãn nhu cầu, sinh viên sẽ chủ động tìm kiếm thôngtin và tham gia các hoạt động tư vấn hướng nghiệp để tự tin ra quyết địnhchọn lựa nghề nghiệp tương lai.

Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp mang bản chất lịch sử - xã hội bởi nó gắnliền với sự phát triển của xã hội Sự phát triển của xã hội đã đẩy nhanh quátrình mở rộng hệ thống ngành nghề cùng với những yêu cầu ngày càng caođối với người lao động đã làm cho đối tượng của nhu cầu tư vấn hướngnghiệp ngày càng phong phú hơn, và phương thức để thoả mãn được nhu cầucũng ngày càng đa dạng hơn

2.1.2.3 Các tiêu chí đánh giá về mức độ biểu hiện của nhu cầu tư vấn hướng nghiệp

a Nhóm tiêu chí đánh giá mức độ hiểu biết về nghề nghiệp nói chung+Tiêu chí đánh giá mức độ hiểu biết về các nội dung tư vấn (Hiểu biết

về thế giới nghề nghiệp cũng như hệ thống các trường đào tạo; hiểu biết về thịtrường lao động, nội dung và điều kiện lao động; hiểu biết về những yêu cầucủa nghề đối với người lao động và mức độ đáp ứng của bản thân; hiểu biết

về khả năng phát triển của nghề trong tương lai…)

+ Tiêu chí đánh giá mức độ hiểu biết về nghề nghiệp định chọn

+ Tiêu chí đánh giá mức độ quan trọng theo từng yếu tố của thị trườnglao động

+ Tiêu chí đánh giá mức độ cần thiết của việc chuẩn bị những phẩmchất và kỹ năng chung nhất định của nghề định chọn

b Nhóm tiêu chí đánh giá mức độ biểu hiện nhu cầu tư vấn hướng nghiệp

- Tiêu chí đánh giá mức độ quan tâm đến hoạt động tư vấn hướng nghiệp

- Tiêu chí đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến lựa chọn

Trang 33

nghề của sinh viên.

- Tiêu chí đánh giá mức độ quan trọng của từng nội dung tư vấn

- Tiêu chí đánh giá mức độ cần thiết của sự hiểu biết về thị trường laođộng khi quyết định chọn nghề

- Tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng đối với các tổ chức tư vấn trongviệc đáp ứng nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên

2.1.2.4 Yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên

Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viêngồm yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan

- Yếu tố chủ quan nằm ở chính bản thân của mỗi sinh viên:

+ Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc conngười, sự phản ánh đó không phải là hành động nhất thời, máy móc, đơn giản,thụ động mà là cả một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực, sáng tạo

Yếu tố nhận thức là rất quan trọng trong nhu cầu tư vấn hướng nghiệpcủa sinh viên Chỉ khi nhận thức được điều mình cần, mình muốn thì sinhviên mới có thể có được mục tiêu để thực hiện Khi sinh viên không nhậnthức được mình sẽ làm gì trong tương lai, không biết gì về nghề nghiệp màmình thì họ sẽ mất đi phương hướng, mất đi động lực để tồn tại Chỉ nào nhậnthức được tầm quan trọng của tư vấn hướng nghiệp thì họ mới tìm kiếmnhững nơi cung cấp tư vấn cho họ.Từ đó mới hình thành nhu cầu tư vấnhướng nghiệp của sinh viên

+ Điều kiện kinh tế của cá nhân sinh viên là số tiền của cá nhân mỗisinh viên có thể có từ gia đình, từ đi làm thêm và từ các nguồn khác mà không

vi phạm pháp luật

Sinh viên là những người đã qua tuổi 18, họ đã có quyền công dân nên

sẽ có tiền riêng và có quyền quyết định rằng mình sẽ làm gì với số tiền củachính mình Ngoài số tiền gia đình cho để đi học, để trang trải cho những chitiêu thiết yếu thì sinh viên có thể đi làm thêm để có thêm thu nhập Nếu gia

Trang 34

đình có điều kiện cho nhiều tiền hoặc là sinh viên đi làm thêm thì họ sẽ cóthêm tiền, khi đã biết mình cần tư vấn hướng nghiệp thì họ sẽ có tiền để được

- Yếu tố khách quan:

+ Các chính sách của nhà nước là tập hợp các chủ trương và hành động

về phương diện nào đó của Chính phủ bao gồm các mục tiêu mà Chính phủmuốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêunày bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xãhội – môi trường

Ở đây chính sách của nhà nước là tập hợp các chủ trương và hành động

về tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên Khi nhà nước có các chính sách

Trang 35

khuyến khích hỗ trợ hợp lý thì nhu cầu tư vấn hướng nghiệp sẽ được đáp ứng

và nhu cầu này sẽ tăng lên Ngược lại nếu chính sách không hợp lý thì nhucầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên sẽ bị giảm đi

+ Các chính sách của nhà trường là tập hợp các chủ trương và hànhđộng của nhà trường về tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên

Chính sách của nhà trường nằm trong những chính sách của nhà nước,nhưng những chính sách này cụ thể hơn, chi tiết hơn chính sách của nhà nước.Chính sách của nhà trường hợp lý thì nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viênmới được đáp ứng Nếu không hợp lý thì nhu cầu của sinh viên là cao

+ Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởicác mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệnuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trảiqua một quá trình phát triển lâu dài Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng vànhững tác động mạnh mẽ đến xã hội

Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của gia đình đối với mỗi cánhân Các cá nhân sẽ chịu ảnh hưởng rất nhiều từ truyền thống, điều kiện kinhtế,… của gia đình Bên cạnh đó, cha mẹ và người thân cũng có thể tiến hànhcác hoạt động tư vấn cho sinh viên vì thế mà nhu cầu tư vấn hướng nghiệpcủa sinh viên cũng sẽ chịu ảnh hưởng từ gia đình

+ Sự sẵn có của tổ chức có hoạt động tư vấn hướng nghiệp

Sự sẵn có của tổ chức có hoạt động tư vấn hướng nghiệp cũng ảnhhưởng rất nhiều đến nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên Nếu không

có các tổ chức hướng nghiệp thì sinh viên sẽ khó khăn trong việc tìm kiếmthông tin về nghề nghiệp và sẽ không được tư vấn chuyên sâu.Sinh viên dễmắc phải những sai lầm khi chọn nghề Dẫn đến nhu cầu của sinh viên trongviệc tư vấn hướng nghiệp sẽ không được đáp ứng đầy đủ, kịp thời

Trang 36

2.1.2.5 Nội dung nghiên cứu về đánh giá nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên tại trường đại học

a, Nghiên cứu về đặc điểm lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên trườngđại học

+ Mốc thời điểm khi sinh viên lựa chọn nghề: nhằm biết được thờiđiểm mà sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của công việc đối với bảnthân như thế nào

+ Dự định nghề nghiệp trong tương lai: biết được định hướng về côngviệc của sinh viên là như thế nào

+ Nhóm nghề định chọn của sinh viên: biết được nhóm nghề mà sinhviên yêu thích là gì

+ Sự hiểu biết của sinh viên với nghề định chọn: đánh giá được mức độhiểu biết về nghề nghiệp của sinh viên

+ Những cơ sở sinh viên dựa vào khi lựa chọn nghề: nhằm biết đượcsinh viên dựa vào những cơ sở nào để lựa chọn nghề

+ Sự cần thiết của việc chuẩn bị phẩm chất và kỹ năng của nghề nghiệptrong tương lai: đánh giá được nhận thức của sinh viên về việc chuẩn bị phẩmchất và kỹ năng của nghề trong tương lai

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên: xác địnhđược những yếu tố nào ảnh hưởng đến lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên

+ Những nguồn tư vấn mà sinh viên thường tìm đến: xác định nguồn tưvấn nào mà sinh viên thường tìm đến nhất, từ đó xác định tầm ảnh hướng củanhững nguồn tư vấn đó đối với nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên

+ Những khó khăn khi chọn nghề của sinh viên: xác định nhũng khókhăn mà sinh viên gặp phải khi quyết định chọn nghề

b, Nghiên cứu về thực trạng nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên.+ Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên theo giới: Đánh giá nhucầu của sinh viên theo giới có điểm gì khác nhau

Trang 37

+ Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên theo khóa: Đánh giá sựkhác nhau giữa nhu cầu tư vấn hướng nghiệp giữa các khóa.

+ Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên theo khối ngành: Đánhgiá sự khác nhau giữa nhu cầu tư vấn hướng nghiệp giữa các khối ngành

+ Mức sẵn lòng chi trả cho hoạt động tư vấn hướng nghiệp: xác địnhmức sẵn lòng chi trả để được tư vấn hướng nghiệp của sinh viên

c, Thực trạng tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên

+ Nhận thức và hiểu biết của giảng viên và cán bộ về tầm quan trọngcủa việc tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên: nhằm xác định tầm quan trọngcủa việc tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên đối với các giảng viên và cán bộtrong trường

+ Nội dung hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên: Đánh giá cácnội dung và tần suất tư vấn mà giảng viên, cán bộ trong trường đã tư vấn chosinh viên Xác định được phương thức tư vấn mà giảng viên và cán bộ trongtrường dung để tư vấn cho sinh viên

+ Đánh giá của sinh viên về hoạt động tư vấn hướng nghiệp: Nhằm cócái nhìn khách quan về công tác tư vấn hướng nghiệp tại trường của sinh viên

- Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên.Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinhviên Từ đó có những giải pháp nhằm giúp công tác tư vấn hướng nghiệp đạthiệu quả hơn

Trang 38

 Chính sách của nhà trường

 Gia đình

 Các tổ chức tư vấn hướng nghiệp

- Đề xuất giải pháp giúp cải thiện chất lượng của công tác tư vấn hướngnghiệp tại địa bàn

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp trên thế giới

Hướng nghiệp xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, bắt đầu từ năm 1850 đến 1940,gắn liền với những cá nhân như Francis Galton, Wilheim Wundt, JamesCattell, Alfred Binet, Frank Parsons, Robert Yerkes, và E K Strong Cuốinhững năm 1800, một hệ thống công nghiệp với quy mô lớn ra đời đã làmthay đổi mạnh mẽ môi trường làm việc và điều kiện sống Khu vực đô thị pháttriển, cùng với tốc độ phát triển và tập trung hoá công nghiệp đã thu hút rấtnhiều người dân lao động từ các khu vực nông thôn Để đáp ứng được các yêucầu của các nhà máy công nghiệp và điều kiện sống khắc nghiệt, chật chộitrong những khu nhà ổ chuột, một nhu cầu đổi mới đã xuất hiện, một vài nhànghiên cứu bắt đầu quan tâm đến hành vi con người, quan tâm đến các điềukiện sống và làm việc trong xã hội bị thay đổi bởi cuộc cách mạng côngnghiệp Những điều kiện khách quan trên để phôi thai và cho ra đời mộtngành khoa học, ngành tham vấn nghề

Nước Mỹ có phòng tư vấn nghề đầu tiên trên thế giới do Frank Parsonsthành lập vào năm 1908 ở Boston Nhiệm vụ của phòng này là tư vấn chothanh niên có nhu cầu tìm kiếm công ăn việc làm và giúp cho họ chọn đượcnhững nghề phù hợp với năng lực, sở trường của mình, nói một cách khác, họgiúp cho học sinh lựa chọn công việc một cách khôn ngoan, và thực hiện việc

di chuyển tiếp cận từ trường học đến công việc phù hợp

Hiện nay, ở Mỹ đã kết hợp chặt chẽ việc tư vấn nghề với chương trìnhcông nghệ và dạy nghề, họ cũng đã đưa môn “Hướng dẫn chọn nghề” (Career

Trang 39

Guidance) vào giảng dạy trong trường phổ thông Từ bậc trung học đến đạihọc đều có các cố vấn tâm lý làm việc trong trường.Công việc của họ xuấtphát từ nhu cầu lựa chọn một nghề phù hợp trong tương lai của học sinh, họđưa ra lời khuyên cho học sinh nên nộp đơn xin vào học trường đại học nàophù hợp với trình độ và năng khiếu học sinh.Chương trình giáo dục THPTđược cấu tạo mềm, gồm chương trình A và B Từ khi vào học lớp 9,người cốvấn đã chỉ cho học sinh nên học theo chương trình nào tuỳ theo nhu cầu,nguyện vọng của em đó sau này muốn học lên đại học ngành gì hay sau khihọc xong phổ thông sẽ đi làm.

Ở Pháp, năm 1948 đã xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” đềcập đến vấn đề hướng nghiệp cho thanh niên Để phát triển nhân cách toàndiện cho học sinh, nhà trường Pháp đặt giáo dục lao động, thủ công và nghềnghiệp bình đẳng với các loại hình hoạt động khác của nhà trường, đào tạo

“tiền nghề nghiệp” là cơ sở cho việc học tập liên tục về sau và chuẩn bị chohọc sinh bước vào cuộc sống lao động Tháng 3/1991 các nhà tư vấn hướngnghiệp trở thành nhà tư vấn hướng nghiệp - tâm lý Các nhà tư vấn hướngnghiệp - tâm lý được phân về trường phổ thông và đại học là công chức nhànước Toàn bộ khu vực chuyên môn do các nhà chuyên môn đảm nhiệm.Cùng với giáo viên và phụ huynh học sinh theo thời điểm mong muốn, cácnhà tư vấn hướng nghiệp tổ chức thường xuyên, liên tục các kiểm tra hệ thống

về sự phát hiện bằng các trắc nghiệm tâm lý, kiến thức để đưa ra các thông tinxác đáng Từ đó cho học sinh những lời khuyên nhằm tránh những thiênhướng sai lệch, hướng học sinh vào con đường thành công đúng theo nhu cầu

và nguyện vọng của học sinh

Theo truyền thống, hệ thống trường phổ thông Đức quán triệt nguyêntắc hướng nghiệp để chuẩn bị cho học sinh đi vào trường đào tạo nghề tuỳtheo trình độ học tập của mỗi em Khi học sinh có nhu cầu tìm hiểu nghềnghiệp mình muốn học thì giáo viên chủ nhiệm liên hệ với nhiều cơ sở hướng

Trang 40

nghiệp, với những trường dạy nghề để tư vấn cho học sinh.

Ở các nước trong khu vực Châu Á cũng có sự quan tâm đến vấn đề này.Tại trường trung học phổ thông, dù là trường công lập hay tư thục thì ở các

em bắt đầu xuất hiện nhu cầu tìm hiểu và lựa chọn nghề nghiệp tương lai Vàviệc định hướng tương lai cho học sinh đều bắt đầu từ năm lớp 10 thông quagiờ hoạt động câu lạc bộ hoặc hướng dẫn riêng cho từng em của giáo viên chủnhiệm Lớp 11 nhà trường mời các giảng viên ở bên ngoài như những sinhviên đã ra trường hay những lãnh đạo các doanh nghiệp đến nói chuyện vềkinh nghiệm bản thân hay hoạt động ở doanh nghiệp của họ Lớp 12 nhàtrường tổ chức cho học sinh đi tham quan để định hướng cho tương lai

Ngoài các nội dung giáo dục bắt buộc trong chương trình dạy học, đa

số các nước đều có môn tự chọn tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh pháttriển các xu hướng học lên (Academic) hoặc học một nghề phù hợp với nhucầu xã hội cũng như nhu cầu và điều kiện cụ thể của từng học sinh

Như vậy, việc điểm qua tình hình của một số nước trên thế giới cho tathấy việc tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên là một xu thế tất yếu củathời đại Vì vậy, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên kết hợp những tiêuchí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai Nhà trường cần phải cónhững nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp học sinh, sinh viên lựachọn khoá học thích hợp với nhucầu, hứng thú, năng lực của học sinh, sinhviên (có tính đến nhu cầu của thị trường lao động), dự báo những khó khăntrong học tập và giúp học sinh, sinh viên giải quyết những khó khăn đó

2.2.2 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở Việt Nam

Ở Việt Nam, tư vấn hướng nghiệp là một phân ngành khá mới trongngành tham vấn tâm lý.Do vậy, hầu như chưa có nơi nào đào tạo về tư vấnhướng nghiệp một các chính thống và bài bản Phần lớn những người làmcông tác tư vấn hướng nghiệp chưa được đào tạo chuyên sâu về vấn đề này,nên họ vừa làm vừa học Tuy nhiên trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây

Ngày đăng: 18/10/2014, 15:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1 Thời điểm lựa chọn nghề của sinh viên Thời điểm Số lượng chọn Tỷ lệchọn(%) - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.1 Thời điểm lựa chọn nghề của sinh viên Thời điểm Số lượng chọn Tỷ lệchọn(%) (Trang 51)
Bảng 4.2 Dự định nghề nghiệp trong tương lai của sinh viên - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.2 Dự định nghề nghiệp trong tương lai của sinh viên (Trang 52)
Bảng 4.3 Nhóm nghề định chọn của sinh viên - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.3 Nhóm nghề định chọn của sinh viên (Trang 54)
Bảng 4.4 Những cơ sở sinh viên dựa vào khi chọn nghề - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.4 Những cơ sở sinh viên dựa vào khi chọn nghề (Trang 56)
Bảng 4.6 Các đối tượng ảnh hướng đến sự lựa chọn nghề nghiệp - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.6 Các đối tượng ảnh hướng đến sự lựa chọn nghề nghiệp (Trang 59)
Bảng 4.7 Các nguồn tư vấn hướng nghiệp mà sinh viên tìm đến - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.7 Các nguồn tư vấn hướng nghiệp mà sinh viên tìm đến (Trang 61)
Bảng 4.8 Những khó khăn khi chọn nghề của sinh viên - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.8 Những khó khăn khi chọn nghề của sinh viên (Trang 63)
Bảng 4.9 Sự khác biệttrong mức độ hiểu biết về những yêu cầu của công - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.9 Sự khác biệttrong mức độ hiểu biết về những yêu cầu của công (Trang 64)
Bảng 4.10 Sự khác biệt về mức độ quan tâm đến tư vấn hướng nghiệp - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.10 Sự khác biệt về mức độ quan tâm đến tư vấn hướng nghiệp (Trang 65)
Bảng 4.13 Sự khác biệt mức độ quan tâm đến tư vấn hướng nghiệp - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.13 Sự khác biệt mức độ quan tâm đến tư vấn hướng nghiệp (Trang 67)
Bảng 4.12 Sự khác biệt về mức độ hiểu biết về những yêu cầu của công - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.12 Sự khác biệt về mức độ hiểu biết về những yêu cầu của công (Trang 67)
Bảng 4.14 Sự khác biệt về các nội dung mà sinh viên quan tâm cần được - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.14 Sự khác biệt về các nội dung mà sinh viên quan tâm cần được (Trang 68)
Bảng 4.15 Sự khác biệt về mức độ hiểu biết về những yêu cầu của công - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.15 Sự khác biệt về mức độ hiểu biết về những yêu cầu của công (Trang 69)
Bảng 4.17 Sự khác biệt về các nội dung mà sinh viên quan tâm cần được - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.17 Sự khác biệt về các nội dung mà sinh viên quan tâm cần được (Trang 70)
Bảng 4.18 Những lý do sinh viên không tìm đến các đơn vị tư vấn tại - ĐÁNH GIÁ NHU cầu tư vấn HƯỚNG NGHIỆP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học NÔNG NGHIỆP hà nội
Bảng 4.18 Những lý do sinh viên không tìm đến các đơn vị tư vấn tại (Trang 71)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w