1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội

78 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Nâng Cao Kỹ Năng Làm Việc Theo Nhóm Trong Học Tập Của Sinh Viên Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Trường học Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2010 - 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp thống kê so sánh: Từ việc tổng hợp thông tin đưa ra đánh giá, so sánh về kĩ năng làm việc nhóm của sinh viên các khối ngành trong trường; Đồng thời so sánh ảnhhưởng cũng như

Trang 1

PHẦN I

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển nguồn nhân lực luôn là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia, trong nhữngnăm qua, công cuộc cải cách nền giáo dục nước ta và việc đổi mới phương pháp dạy và họcdiễn ra mạnh mẽ Điều đó đã mang lại cho nền giáo dục một bộ mặt mới thể hiện chủ trương,đường lối đúng đắn của nhà nước Không nằm ngoài xu thế đó, trường Đại học Nông nghiệp

Hà Nội (NNHN) đang có những chuyển biến mạnh mẽ hiệu quả trong phương pháp đào tạomới là đào tạo tín chỉ Đổi mới từ hình thức đào tạo niên chế sang hình thức đào tạo tín chỉ, cónghĩa là phát huy tính chủ động, tính tự giác, tính tự nghiên cứu…của mỗi sinh viên, nhưngphải làm như thế nào để các sinh viên có thể phát huy hiệu quả nhất trong học tập là việc cầnphải làm sáng tỏ Phương pháp học tập theo nhóm và “Kĩ năng làm việc theo nhóm của sinhviên” đã góp phần giải quyết câu hỏi trên Kỹ năng này đã phát huy ưu điểm làm việc nhanh

và hiệu quả khi các vấn đề đưa ra được nhìn nhận, khai thác từ nhiều khía cạnh khác nhau củamỗi thành viên trong nhóm, dựa trên sự tôn trọng, hợp tác, đóng góp tích cực…từ đó đưa rakết quả thống nhất Như vậy, kỹ năng làm việc nhóm không chỉ giúp cho sinh viên giỏi vềchuyên môn, đồng thời thành thạo những kỹ năng mềm để đáp ứng nhu cầu xã hội Kỹ năngnày là một trong những kỹ năng rất cần thiết mà sinh viên không thể thiếu trong học tập vàcông việc, sẽ là tố chất quan trọng cho mỗi sinh viên muốn thành công

Thực tế tại trường Đại học NNHN, làm việc nhóm trong học tập của sinh viên diễn rathường xuyên Đối với sinh viên khóa 53 và 54 - là sinh viên năm thứ 4 và thứ 3 - được đàotạo theo hình thức tín chỉ nên thời gian tự học, làm việc nhóm nhiều hơn so với thời gian trênlớp Giáo viên hướng dẫn cách học đồng thời giao bài tập ở nhà, đặc biệt là bài làm theonhóm có báo cáo kết quả Do vậy, nếu sinh viên có các kĩ năng mềm như làm việc nhóm tốtthì hiệu quả học tập sẽ cao và ngược lại

Từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao kỹ năng làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội”.

Trang 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Tìm hiểu thực trạng kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên trường Đạihọc NNHN, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng làm việc nhóm cho sinhviên của trường

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về kỹ năng làm việc nhóm trong học tập

- Đánh giá thực trạng kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên trường Đại học NNHN

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng làm việc nhóm để đạt kết quả cao trong họctập cho sinh viên của trường Đại học NNHN

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về làm việc nhóm, kỹ năng làm việc nhóm trong học tập vàgiảng dạy ở trường Đại học NNHN Để có được kết luận đúng đắn nhất về thực trạng làm việcnhóm, kỹ năng làm việc nhóm chúng tôi đã tiến hành đánh giá vấn đề dựa trên thông tin haichiều từ sinh viên và giảng viên

1.4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung đánh giá kĩ năng làm việc nhóm và giải pháp nâng cao kỹnăng làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường Đại học NNHN

- Phạm vi không gian: Trường Đại học NNHN

- Phạm vi thời gian: Năm học 2010 - 2011 và một số thông tin về các năm học trước đó

1.5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Cách tiếp cận

- Tiếp cận có sự tham gia: Các khâu, các hoạt động của đề tài đều sử dụng phương pháp tiếpcận này, đặc biệt trong thiết kế phiếu điều tra, thiết kế hệ thống câu hỏi phục vụ cho quá trìnhphỏng vấn trực tiếp, điều tra thu thập số liệu thực tế nhằm phát huy tối đa sự phối hợp chặtchẽ giữa các bên tham gia và liên quan đến đề tài đó là sinh viên và giáo viên giảng dạy

- Tiếp cận theo ngành, theo khóa học: Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm tìm ra giải pháp nângcao kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên Sinh viên là đối tượng trung tâm trong hoạt động này nêncác hoạt động nghiên cứu đều tiếp cận đến sinh viên và được điều tra theo từng khối ngành (Kỹthuật và Kinh tế xã hội) và khóa học (Khóa 52, 53, 54, 55) để có sự so sánh và nhìn nhận, đánh giátoàn diện, khách quan nhất về làm việc nhóm và kỹ năng làm việc nhóm trong học tập

Trang 3

1.5.2 Phương pháp nghiên cứu

1.5.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành điều tra sinh viên trong trường Đại học NNHN và chọn mẫunghiên cứu theo 2 khối ngành chính: ngành Kinh tế xã hội (KTXH) và ngành Kỹ thuật (KT)

1.5.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu

- Nguồn số liệu thứ cấp: Đề tài có sử dụng một số tài liệu liên quan tới kỹ năng làm việcnhóm được thu thập từ sách báo, tạp chí, bài viết trên báo điện tử… Bên cạnh đó, thông tintình hình chung về kết quả học tập được thu thập từ phòng Đào tạo đại học của trường Đạihọc NNHN

- Nguồn số liệu sơ cấp: Chúng tôi tiến hành thu thập thông tin và số liệu bằng cách điều tra, phỏngvấn trực tiếp dựa vào những bảng hỏi đã chuẩn bị trước, bằng phương pháp điều tra ngẫu nhiêncác sinh viên, cũng như các giảng viên trường Đại học NNHN

+ Điều tra 120 sinh viên của 2 khối ngành KTXH và KT:

Bảng 1.1 Mẫu điều tra sinh viên theo khóa học và khối ngành

Khóa học KTXH (sinh viên)Khối ngànhKT (sinh viên) Tổng (sinh viên)

+ Phỏng vấn sâu 20 Giảng viên đại diện cho giảng viên của hai khối ngành

1.5.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin/số liệu

Các thông tin/số liệu thu thập được tổng hợp sau đó được xử lý bằng phần mềm SPSS

để phù hợp với mục đích của đề tài

Phương pháp thống kê mô tả: Dùng để hệ thống hóa tài liệu từ đó đưa ra các đánh giá

về kĩ năng làm việc nhóm cũng như ảnh hưởng của nó đến kết quả học tập, tổng hợp một sốyếu tố ảnh hưởng đến các kĩ năng trên

Phương pháp thống kê so sánh: Từ việc tổng hợp thông tin đưa ra đánh giá, so sánh về

kĩ năng làm việc nhóm của sinh viên các khối ngành trong trường; Đồng thời so sánh ảnhhưởng cũng như hiệu quả của kĩ năng trên với kết quả học tập của sinh viên từng khối ngành.Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nâng cao kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinhviên trường Đại học NNHN

Trang 4

1.5.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

- Nhóm chỉ tiêu thể hiện sự tham gia làm việc nhóm: số môn tham gia học tập theonhóm, mức độ tham gia làm việc nhóm trong học tập…

- Nhóm chỉ tiêu thể hiện kỹ năng làm việc nhóm: những kỹ năng trong làm việc nhóm

- Nhóm chỉ tiêu thể hiện các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm trong họctập: Mức độ sử dụng thành thạo các kỹ năng làm việc nhóm, quy mô làm việc nhóm, mức độhiệu quả trong làm việc theo nhóm

Trang 5

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP

2.1 Cơ sở lý luận về kỹ năng làm việc nhóm trong học tập

2.1.1 Các khái niệm có liên quan

Học tập theo nhóm đòi hỏi mỗi thành viên trong nhóm cùng thực hiện một cam kết làmviệc nhất định không có sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên mà dựa trên sự hợp tác và phâncông công việc hợp lý trong nhóm

Học tập theo nhóm được biểu hiện:

+ Mọi thành viên trong nhóm đều hướng đến mục tiêu chung nhất định

+ Có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên

+ Có trách nhiệm, lợi ích liên đới trong sản phẩm nhóm

Trang 6

* Kĩ năng

Kỹ năng là thao tác thực hiện một hoạt động nào đó Về cơ bản nó được hiểu là hành

vi hay sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi Hoặc cóthể hiểu là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (cảm thấy như thế nào, tintưởng vào giá trị nào ) thành hành động (làm gì và làm như thế nào ?)

Từ điển của tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên, tác giả đã có một cách hiểu khác về Kỹnăng: “Năng lực vận dụng có kết quả có tri thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội thực hiệnnhững nhiệm vụ tương ứng” Có nghĩa kỹ năng hoàn thành qua luyện tập, có nghĩa kỹ năng làmột trong những năng lực mà cá nhân có thể rèn luyện và hình thành phát triển qua quá trìnhhọc tập thực tiễn

- Kỹ năng gồm kỹ năng mềm và kỹ năng cứng:

Kỹ năng mềm là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống conngười như: kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian,thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới

Kỹ năng cứng thường được hiểu là những kiến thức, đúc kết và thực hành có tính chấtnghề nghiệp Kỹ năng cứng được cung cấp thông qua các môn học đào tạo chính khóa, có liên kếtlogic chặt chẽ, và xây dựng tuần tự Thời gian để có được kỹ năng cứng thường rất dài, hàng chụcnăm, bắt đầu từ những kiến thức-kỹ năng cơ bản ở nhà trường phổ thông và những kiến thức kỹnăng này được phát triển dần lên các mức độ cao hơn, thông qua giảng dạy, thực hành và tự họcmột cách hệ thống

Kỹ năng mềm khác với kỹ năng cứng để chỉ trình độ chuyên môn, kiến thức chuyênmôn hay bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn

* Kĩ năng làm việc nhóm

Là khả năng thực hiện hành vi nhằm tiến tới mục tiêu chung của một tập thể người haychính là sự chuyển đổi kiến thức để phù hợp với điều kiện hoạt động vì mục đích nào đó Kỹ nănglàm việc nhóm có thể hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện Nó được hiểu như năng lực

để hoàn thành mục tiêu chung của một tập hợp người để đạt được hiệu quả nhất (Kỹ năng làm

việc theo nhóm hiệu quả

http://teambuilding.com.vn/bai-viet-teambuilding-183/ky-nang-lam-viec-theo-nhom-hieu-qua-504.aspx)

Trang 7

2.1.2 Phân loại nhóm trong học tập

Đề tài sử dụng cách phân loại nhóm theo tính chất công việc, gồm 3 hình thức:

+ Nhược điểm: Đòi hỏi nhóm trưởng phải thực sự có năng lực và có sự phối hợp chặt chẽgiữa các thành viên trong nhóm

* Nhóm kết hợp

Tất cả các thành viên trong nhóm đều phải làm tất cả các công việc

+ Ưu điểm: Thành viên biết hết kiến thức trong bài và sử dụng tối đa thời gian

+ Nhược điểm: Mất nhiều thời gian, công sức, dễ gây tình trạng chép bài của nhau

Như vậy mỗi hình thức nhóm làm việc đều có ưu và nhược điểm riêng Vì vậy, khi áp dụngcác hình thức trên, các nhóm cần phải lựa chọn linh hoạt để đem lại hiệu quả cao nhất

2.1.3 Vai trò của làm việc nhóm trong học tập

Học tập theo nhóm một cách khoa học và hợp lý sẽ đem lại rất nhiều lợi ích Cụ thể:+ Góp phần xây dựng tinh thần đồng đội, sự tương hỗ gắn kết giữa các thành viên trongnhóm nhằm hướng đến một mục tiêu chung

+ Đáp ứng nhu cầu học tập cá nhân, phù hợp với việc học hướng tới người học; khuyếnkhích tính độc lập tự chủ trong học tập Các thành viên được đưa ra quan điểm riêng của mình vềchủ đề thảo luận, từ đó phát triển tư duy độc lập và trao đổi lẫn nhau trong nhóm

Trang 8

+ Do có sự bàn bạc, thảo luận và sàng lọc thông tin mà sản phẩm của nhóm là sản phẩm củatrí tuệ tập thể, tập hợp kiến thức phong phú và phù hợp nhất Từ đó giúp các thành viên hiểu và nhớkiến thức lâu hơn.

+ Tăng cường khả năng hòa nhập, tinh thần học hỏi, sự lắng nghe cũng như khả năngphản biện thông qua phần trình bày của mình và phản hồi của thành viên khác

+ Tạo cơ hội cho các thành viên rèn luyện các kỹ năng như: kỹ năng thuyết trình trướcđám đông, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức các buổi họp; tạo tiền đề cho làm việc trong

môi trường tập thể đạt hiệu quả (Lợi ích của làm việc nhóm

http://kynangsong.xitrum.net/congso/14.html)

2.1.4 Các kỹ năng học tập theo nhóm

Theo bài viết “Một số kỹ năng học tập cần thiết cho sinh viên theo phương thức đào tạo hệ thống tín chỉ” của Nguyễn Thị Hat, Đại học Hồng Đức ta có thể khái quát một số kỹ năng như sau:

- Kỹ năng lập kế hoạch hoạt động nhóm: Nhóm được hoạt động dựa trên kế hoạch có trước

sẽ đảm bảo cho các thành viên chủ động và có định hướng trong công việc

- Kỹ năng xây dựng nội quy nhóm: Nhóm có nội quy rõ ràng thì các thành viên sẽ nghiêm

túc và có trách nhiệm trong công việc chung đem lại hiệu quả cho cả nhóm

- Kỹ năng phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý: Sự phân công càng rõ ràng và hợp lý thì các thành

viên càng có trách nhiệm cũng như ý thức được vai trò của mình đối với sản phẩm chung

- Kỹ năng thảo luận, trao đổi: Điểm đặc trưng nhất của học tập theo nhóm là sự hợp tác

nhằm xây dựng một sản phẩm trí tuệ tập thể bằng việc thống nhất các ý kiến thông qua sựthảo luận, trao đổi giữa các thành viên trong nhóm Do vậy đây là kỹ năng có vị trí rất quantrọng trong hoạt động nhóm Kỹ năng này không chỉ giúp ta thống nhất được ý kiến mà còngiúp mỗi thành viên học hỏi lẫn nhau, giúp nhau cùng phát triển

- Kỹ năng thuyết trình: Đây là một kĩ năng quan trọng để truyền đạt ý tưởng và thông tin đến các

thành viên trong nhóm Bởi đó là cách trình bày bằng lời trước nhiều người về một vấn đề nào đónhằm cung cấp thông tin hoặc thuyết phục, gây ảnh hưởng đến người nghe Công cụ giao tiếp hiệuquả sẽ đóng góp cho sự thành công của mỗi cá nhân trong nhóm, các thành viên sẽ rèn luyện được sự

tự tin khi thảo luận trước đám đông

Trang 9

- Kỹ năng nghiên cứu tài liệu: Đây là một kỹ năng cần thiết trong học tập theo nhóm Để có

được các thông tin có ích thì các thành viên trong nhóm phải biết cách tìm kiếm tài liệu, đánhgiá, chọn lọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu theo mục tiêu của nhóm

- Kỹ năng lắng nghe người khác một cách chủ động, tích cực: Trong học tập theo nhóm, kỹ năng

lắng nghe là rất cần thiết vì đây là phương pháp cơ bản để tập hợp và chọn lọc thông tin

- Kỹ năng tổng hợp và phân tích thông tin: Tổng hợp thông tin là hoạt động phân loại, sắp xếp

thông tin thu thập được một cách có hệ thống theo yêu cầu của bài tập nhóm đặt ra

- Kỹ năng chia sẻ thông tin: Làm việc nhóm là hợp tác trên cơ sở chia sẻ kiến thức và thông

tin từ nhiều người để hoàn thiện bài tập chung một cách tốt nhất Nếu biết chia sẻ thông tin thìcác thành viên khác sẽ có thêm thông tin từ đó có thể học hỏi lẫn nhau

- Kỹ năng chia sẻ trách nhiệm: Để cho hoạt động của nhóm đạt chất lượng và không khí làm

việc trong nhóm vui vẻ, đoàn kết mọi thành viên cần phải chia sẻ trách nhiệm với nhau Từ đótạo nên động lực giúp hoạt động nhóm đạt hiệu quả cao hơn

- Kỹ năng giải quyết xung đột: Nếu không có kỹ năng giải quyết xung đột thì nhóm có thể

tan rã hoặc kết quả hoạt động thấp do tồn tại xung đột giữa những cái tôi cá nhân

- Kỹ năng tự kiểm tra - đánh giá hoạt động của nhóm: Cần phải thường xuyên tự kiểm tra,

đánh giá hoạt động của mình để tự điều chỉnh kịp thời (nếu thấy cần thiết)

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến làm việc nhóm và hiệu quả làm việc nhóm trong học tập

2.1.5.1 Quan niệm về làm việc nhóm trong học tập

Để hoạt động học tập theo nhóm đạt kết quả, trước hết mọi thành viên trong nhóm cầnphải hiểu rõ thế nào là học tập theo nhóm, ưu thế của học tập theo nhóm, từ đó mới thấy đượctrách nhiệm của bản thân và có định hướng hoạt động nhóm đạt hiệu quả (Kỹ năng làm việc theo

nhóm hiệu quả nhom-hieu-qua-504.aspx)

http://teambuilding.com.vn/bai-viet-teambuilding-183/ky-nang-lam-viec-theo-2.1.5.2 Cơ cấu và tổ chức nhóm

* Một nhóm muốn hoạt động hiệu quả cần có cơ cấu tổ chức chặt chẽ Cơ cấu của nhóm gồm:

- Một nhóm trưởng có trách nhiệm tổ chức, điều hành mọi hoạt động của nhóm

- Một nhóm phó (nếu quy mô nhóm lớn) để thay thế, hỗ trợ nhóm trưởng khi nhóm trưởngvắng mặt

- Một thư ký để ghi chép nội dung, diễn biến cuộc họp, thảo luận của nhóm, thư ký có thểđược thay đổi theo từng cuộc họp nhóm hoặc cố định từ đầu đến cuối

Trang 10

* Để có được chất lượng cao trong việc học tập theo nhóm thì cách thức hoạt động của nhóm

phải phù hợp nhằm đạt được mục tiêu mà nhóm đã đặt ra

2.1.5.3 Năng lực, kĩ năng của người trưởng nhóm

Người trưởng nhóm có vai trò quan trọng và năng lực, kĩ năng làm việc của trưởngnhóm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động của nhóm Nhóm trưởng có năng lực, nhiệttình, hòa đồng thì nhóm làm việc sẽ hiệu quả

2.1.5.4 Các kỹ năng học tập theo nhóm

- Kỹ năng lập kế hoạch hoạt động nhóm

- Kỹ năng xây dựng nội quy nhóm

- Kỹ năng phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý

- Kỹ năng thảo luận, trao đổi

- Kỹ năng thuyết trình

- Kỹ năng nghiên cứu tài liệu

- Kỹ năng lắng nghe người khác một cách chủ động, tích cực

- Kỹ năng tổng hợp và phân tích thông tin

- Kỹ năng chia sẻ thông tin

- Kỹ năng chia sẻ trách nhiệm

- Kỹ năng giải quyết xung đột

- Kỹ năng tự kiểm tra - đánh giá hoạt động của nhóm

2.1.5.5 Vai trò của các thành viên trong nhóm

Sự hợp tác là nền tảng căn bản trong việc học tập theo nhóm Nó đòi hỏi các thànhviên trong nhóm phải có tinh thần tự giác, tích cực vì công việc tập thể Mỗi thành viên đều cóvai trò rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của nhóm do vậy cần phải ý thức đượctrách nhiệm của mình đối với nhóm từ đó làm việc sao cho hiệu quả

2.1.5.6 Một số nhân tố khác

- Chủ đề thích hợp: Sự cần thiết cũng như phù hợp của chủ đề sẽ tạo động lực cho sinh viên làm

việc nhóm hiệu quả Yếu tố này cũng tác động không nhỏ đến chất lượng hoạt động nhóm

- Đảm bảo các điều kiện: cơ sở vật chất, phương tiện để thực hiện hoạt động nhóm được

đảm bảo thì khả năng tiếp cận với thông tin, tài liệu hữu ích sẽ được nâng cao

- Sự hướng dẫn của giảng viên: Sự định hướng phù hợp của giảng viên sẽ chỉ ra con

đường giúp nhóm hoạt động có hiệu quả

Trang 11

- Sự đánh giá và kết luận của giảng viên: Sự đánh giá và kết luận của giảng viên sẽ đưa

ra được những ưu điểm, khuyết điểm mà nhóm đạt được từ đó có động lực để phát huy cái tốt

và hạn chế được những mặt chưa hiệu quả Ngược lại, nếu giảng viên không đánh giá sảnphẩm và sự làm việc của sinh viên sẽ khiến sinh viên mất đi hứng thú và động lực làm việc vànhư vậy hoạt động nhóm sẽ không thể có hiệu quả

- Độ lớn của nhóm: Số lượng phù hợp là 3 đến 7 thành viên Nếu quá ít hoặc quá nhiều

sẽ khó phát huy được sự hợp tác, chia sẻ công việc giữa các thành viên

2.2 Cơ sở thực tiễn về kỹ năng làm việc nhóm trong học tập

2.2.1 Nguồn gốc hình thành phương pháp làm việc nhóm

Trong xã hội loài người nhóm hình thành rất sớm Từ thời tiền sử, con người đã hìnhthành nhóm để chống thú dữ, săn bắn, xây dựng chỗ ở chống chọi với thiên nhiên

Đầu thế kỷ 20 đã có nhiều nghiên cứu về nhóm trong sản xuất công nghiệp, ảnh hưởngcủa nó tới năng suất lao động của từng người và nhóm người cũng như tác động thay đổi hành vi,ứng xử của cá nhân Phát hiện của các nhà xã hội học Âu - Mỹ cho thấy nhóm tác động tích cực

và tiêu cực đến mọi mặt hoạt động xã hội: giáo dục, sản xuất, nghiên cứu

Cụ thể là hình thức Teambuilding xuất hiện trên thế giới vào khoảng cuối những năm 20 vàđầu những năm 30 của thế kỷ XX Elton Mayo (1880 - 1949), chính là người đầu tiên nghiên cứunhững hoạt động này, ông đã khai sáng ra “hoạt động tương quan giữa người và người” (HumanRelations Movement)

Cùng thời kì đó, Abraham Maslou đã đưa ra thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs), cóliên quan đến động cơ thúc đẩy và thi hành Qua nhiều thử nghiệm và nghiên cứu, có nhiều tậpđoàn đã tổ chức hoạt động nhằm chứng tỏ hiệu quả lớn lao của làm việc nhóm

Hình thức Team building được hiểu là tổng hợp của việc xây dựng nhóm và làm việcnhóm Đây là một quá trình lâu dài mà một tổ chức, tập thể thực hiện để gắn kết các thànhviên lại với nhau, để các thành viên phối hợp, đoàn kết tạo ra hiệu quả công việc cao hơn

2.2.2 Thực tiễn về làm việc nhóm trong học tập ở các trường đại học hiện nay

Có thể nói khối lượng kiến thức giảng dạy ở bậc đại học là vô cùng lớn, phương phápgiảng dạy và môi trường học tập cũng khác xa bậc học phổ thông Vì vậy, sinh viên cần phải

có phương pháp học tập thích hợp để có thể tiếp thu hết khối kiến thức đó Hiện nay sinh viên

ở các trường đại học đang áp dụng phương pháp học tập theo nhóm như chìa khóa dẫn tới

Trang 12

việc đạt hiệu quả tốt trong học tập Ở các trường khối KTXH như Đại học Ngoại thương, Đạihọc Kinh tế quốc dân, Đại học Công đoàn… phương pháp học tập theo nhóm đã được đa sốsinh viên áp dụng thành công và hiệu quả Các bài thảo luận, thuyết trình và bài tập nhóm đãgiúp sinh viên đào sâu kiến thức, nâng cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu, nâng cao các kỹnăng cần thiết cho công việc tương lai như giao tiếp, làm việc nhóm, thuyết trình Đối với cáctrường thuộc khối KT như Đại học Bách Khoa, Đại học Xây dựng… do đặc thù của trườngthuộc khối ngành KT nên việc áp dụng phương pháp học tập theo nhóm chưa được thể hiệnnổi bật Phương pháp học tập mà sinh viên ở các trường này thường áp dụng là phương pháp

tự học Bên cạnh những mặt tích cực trên thì học tập theo nhóm của sinh viên ở các trường đạihọc hiện nay còn những mặt cần xem xét Một số sinh viên coi bài tập nhóm là công việc củatập thể nên thường có tâm lý “ không phải việc của mình” Một hạn chế nữa đó là sự phâncông công việc không rõ ràng Thực tế cho thấy công việc thường bị dồn quá nhiều cho nhómtrường, thậm chí sản phẩm đôi khi là kết quả của riêng nhóm trưởng chứ không phải là sảnphẩm của cả nhóm

2.2.3 Kinh nghiệm về làm việc nhóm hiệu quả

Kinh nghiệm của cựu sinh viên K03 - Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM - NguyễnVăn Hoàng chia sẻ về cách làm việc nhóm hiệu quả:

- Hãy tập thói quen tạo thời gian biểu cho từng công việc vì khi đó bạn biết phải làm cái gì vàlàm sao để làm được nó Hơn nữa bạn sẽ kiểm soát được công việc của mình

- Liên lạc hiệu quả cũng là một trong những điều rất quan trọng để có thể hoàn thành tốt côngviệc

- Quản lý công việc và thời gian như thế nào là một vấn đề rất lớn và cũng rất khó, nhưng nếu làmđược thì việc sử dụng thời gian sẽ vô cùng hiệu quả, các bạn có thể bàn với nhau để gặp nhau,phân chia công việc theo chủ đề, theo năng lực để dễ làm việc với nhau

- Khả năng báo cáo tốt chứng minh bạn nắm việc trong nhóm tốt và luôn tham gia nhóm

(Các kỹ năng cần thiết trong học tập, làm việc theo nhóm

http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2007/11/16/45178/)

Trang 13

PHẦN III THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG

HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NNHN

3.1 Thực trạng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên trường Đại học NNHN

Trường Đại học NNHN là cơ sở giáo dục Đại học trực thuộc Bộ GD & ĐT Ngày 12 tháng

10 năm 1956 theo Nghị định số 53/NĐ-NL của Bộ Nông Lâm Tính đến nay trường đã trải qua 55năm xây dựng và trưởng thành Hiện nay, quan điểm của nhà trường theo hình thức học tập mới

là Tín chỉ đang hướng tới việc lấy người học làm trung tâm, coi người học là chủ thể của quátrình dạy và học, rèn cho sinh viên tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong nhận thức và hànhđộng Với sinh viên, có nhiều phương pháp học tập được áp dụng và đã đem lại những kết quả nhấtđịnh Tuy nhiên, không có phương pháp học tập nào là chìa khóa vạn năng để lĩnh hội được tất cảtri thức mà nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Tổng quát lại, có hai phương pháp học tập cơ bảnđược sinh viên sử dụng chủ yếu là phương pháp tự học và phương pháp học tập theo nhóm

Với yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy và học, phương pháp học tập theo nhóm được

áp dụng phổ biến hơn Nó tạo nên sự tương tác mạnh mẽ giữa các thành viên, phát huy được sứcmạnh của tập thể đem lại hiệu quả trong học tập Mặc dù vậy, do sinh viên vẫn chưa thực sự chủđộng nên những ưu thế của phương pháp này vẫn chưa được phát huy

Phương pháp học tập theo nhóm là một trong những phương pháp học tập đã và đangđược sinh viên trường Đại học NNHN sử dụng trong quá trình học tập Thực tế nó đã đem lạimột số hiệu quả nhất định đối với việc học tập của đa số sinh viên

Mong muốn của chúng tôi khi thực hiện đề tài này là tìm ra cách thức, phương pháp và

kĩ năng làm việc nhóm hiệu quả giúp cho sinh viên học tập tốt hơn đồng thời phải phù hợp tìnhhình thực tiễn của Trường Đại học NNHN Tuy nhiên, để đưa ra được giải pháp đúng đắn thìcần có cái nhìn khách quan và toàn diện về tình hình làm việc nhóm trong học tập của sinh viêntrường ta hiện nay Chúng tôi tiến hành khái quát thực trạng áp dụng phương pháp làm việc theonhóm dưới sự nhìn nhận theo nhiều góc độ khác nhau Cụ thể:

- Thực trạng học tập theo nhóm theo từng khối ngành: KTXH và KT

- Thực trạng học tập theo nhóm theo từng khóa học

- Thực trạng học tập theo nhóm theo điều kiện nơi ở: nội trú, ngoại trú

- Thực trạng học tập theo nhóm theo giới tính: nam và nữ

Trang 14

3.1.1 Thực trạng học tập theo nhóm theo từng khối ngành KTXH và KT

Thực tế áp dụng phương pháp học tập theo nhóm cũng có những phản ứng khác nhaugiữa hai khối ngành KT và KTXH Điều đó sẽ được phân tích cụ thể ở các khía cạnh dưới đây

Thứ nhất: Mức độ tham gia làm việc nhóm trong học tập

Theo số liệu mà nhóm chúng tôi thu thập được thì có đến gần 99% sinh viên củatrường tham gia nhóm học tập, trong đó khối ngành KTXH là 100%, còn khối ngành KT là98,3%; Ngoài ra sinh viên làm việc nhóm ở nhiều hoạt động phong trào khác Có sự khác biệtlớn ở đây cũng là do đặc thù của mỗi khối ngành Với khối KTXH thì vấn đề làm việc nhómlại thường xuyên và cần thiết hơn rất nhiều, bởi đó chính là kỹ năng quan trọng cho nghềnghiệp tương lai của sinh viên

Biểu đồ 3.1 Mức độ làm việc nhóm trong học tập của sinh viên theo khối ngành

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Sự phân hóa mức độ thường xuyên trong làm việc nhóm giữa các khối ngành cũngđược thể hiện rõ rệt Khối ngành KTXH có đến 51,7% sinh viên thường xuyên và liên tục làmviệc nhóm trong học tập, còn KT là 45% Như vậy, ở khối ngành KTXH làm việc nhóm tronghọc tập được tiến hành thường xuyên hơn hẳn so với khối ngành KT Sở dĩ có sự chênh lệchnhư vậy cũng là do sinh viên khối KTXH cần phải có kỹ năng mềm nhiều hơn so với khốiKT

Như vậy, việc trang bị những kỹ năng làm việc nhóm trong suốt quá trình học tập chosinh viên là rất cần thiết để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của xã hội

Trang 15

Thứ 2: Cách thức thành lập nhóm trong học tập

Việc thành lập nhóm chủ yếu là do yêu cầu của môn học ở cả hai ngành KTXH và KTvới tỷ lệ lựa chọn từ 60 – 68% Trong đó, việc thành lập nhóm theo hình thức tự chọn chiếm

tỷ lệ lớn vì khi đó các thành viên sẽ quen biết và hiểu nhau giúp cho việc hợp tác dễ dàng hơn

Biểu đồ 3.2: Cách thức thành lập nhóm theo từng khối ngành

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Thứ 3: Cơ cấu nhóm trong học tập

Cả hai khối ngành đều có sự lựa chọn cơ cấu nhóm theo hình thức có nhóm trưởng vàthư kí nhóm, với tỉ lệ như nhau Như vậy, cơ cấu nhóm này được hầu hết sinh viên lựa chọn

và có thể đây là cơ cấu đem lại hiệu quả trong học tập theo nhóm

Biểu đồ 3.3: Cơ cấu nhóm của từng khối ngành

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Trang 16

Thứ 4: Nội dung làm việc nhóm trong học tập

Biểu đồ 3.4: Nội dung làm việc theo nhóm của từng khối ngành

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Kết quả điều tra về nội dung này một lần nữa cho thấy sự khác biệc lớn trong học tậptheo nhóm giữa 2 khối ngành Với đặc điểm các ngành KT, vấn đề thực hành, thí nghiệm diễn

ra thường xuyên, điều đó giải thích vì sao tỉ lệ nội dung làm việc nhóm thực hành của khốingành này là 16,7% trong khi khối ngành KTXH là 5% Bên cạnh đó, xét về yêu cầu làm việcnhóm của giảng viên thì cả 2 khối ngành đều đạt mức 63,3% Tuy nhiên, nếu xét về nội dungnhóm tự chọn nội dung phù hợp với môn học, thì khối ngành KTXH lại có sự lựa chọn với tỷ lệcao hơn Như vậy, sinh viên của ngành KTXH sẽ chủ động hơn lựa chọn những nội dung phù hợp

và đáp ứng được những thiếu sót của bản thân họ để góp phần nâng cao chất lượng học tập

Thứ 5: Phương pháp tổ chức nhóm trong học tập

Trang 17

Biểu đồ 3.5: Phương pháp tổ chức họp nhóm ở 2 khối ngành KTXH và KT

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Do việc học theo hình thức tín chỉ vì vậy việc tập hợp các thành viên để họp nhóm gặprất nhiều khó khăn Bởi lẽ đó mà việc không tổ chức họp thường xuyên chiếm tỷ lệ cao ở cả 2khối ngành Mức độ thường xuyên của việc họp nhóm ở khối KTXH chiếm tỷ lệ cao hơn sovới khối KT Điều đó càng chứng tỏ việc áp dụng làm việc nhóm trong học tập của ngànhKTXH mạnh hơn so với ngành KT

Thứ 6: Nguồn tài liệu sử dụng để làm nhóm trong học tập

Biểu đồ 3.6: Nguồn tài liệu sử dụng thuộc 2 khối ngành KTXH và KT

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Nguồn tài liệu được sử dụng nhiều nhất hiện nay là từ internet, tiếp theo là giáo trình, bàigiảng… Do cốt lõi vấn đề học tập theo nhóm liên quan đến bài học trên lớp, nên sinh viên chorằng bám sát vào thông tin từ giáo trình, bài giảng là rất quan trọng đối với họ

Thứ 7: Địa điểm làm việc nhóm trong học tập

Trang 18

Biểu đồ 3.7: Địa điểm tổ chức làm việc nhóm của 2 khối ngành KTXH và KT

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Lợi thế về giảng đường giúp sinh viên có địa điểm làm việc nhóm thường xuyên Tỷ lệ sửdụng giảng đường cho làm việc nhóm đối với khối ngành KTXH cao hơn hẳn so với khối KT.Địa điểm được sinh viên ưa thích tiếp theo đó là thư viện_nơi có nguồn tài liệu phong phú đápứng nhu cầu tìm hiểu tại chỗ phục vụ học tập

3.1.2 Thực trạng làm việc nhóm trong học tập theo từng khóa học

Qua kết quả trên ta thấy hầu hết sinh viên đều tham gia học tập theo nhóm Tỉ lệ thamgia học tập theo nhóm là rất cao Với sinh viên năm thứ 4, mức độ tham gia nhóm trong học tập

là cao nhất chiếm 63,3% Đây là thời gian mà sinh viên đã ý thức được những việc cần làm, nênlàm từ đó có phương pháp, thái độ học tập phù hợp đạt mục tiêu đã đề ra

Mức độ làm việc theo nhóm của sinh viên trường Đại học NNHN có sự tăng dần lên

rõ rệt giữa sinh viên năm 2, năm 3, với năm 4 nhưng giảm ở năm thứ 5 do những sinh viênnăm thứ 5 đều thuộc khối ngành KT và khi đó họ thường tập trung tự nghiên cứu riêng biệt.Mức độ làm việc theo nhóm thường xuyên cũng được tăng lên vào năm 3 và 4 là điều phù hợpvới khách quan bởi đây là thời kì các sinh viên bước vào môn học chuyên ngành, sinh viênđược thầy cô giao cho tiếp xúc với những kiến thức mang tính chuyên môn sâu nhiều hơn, yêucầu về mức độ hoàn thiện cũng như hiệu quả của những bài làm này cũng cao hơn Vì thế, sựhợp tác thường xuyên giữa các sinh viên theo nhóm sẽ đưa ra hướng giải quyết tốt nhất cho chủ

đề mà nhóm theo đuổi

Về cách thức thành lập nhóm, cơ cấu nhóm, nội dung làm việc nhóm, phương pháp tổchức, nguồn tài liệu sử dụng và địa điểm họp nhóm giữa các khóa học hầu như không có sựkhác biệt nhiều Vì thế, ở đây chúng tôi không phân tích sâu Các số liệu cụ thể về cách thức

Trang 19

thành lập nhóm, cơ cấu nhóm, nội dung làm việc nhóm, phương pháp tổ chức, nguồn tài liệu sửdụng, địa điểm họp nhóm theo các khóa học sẽ được thể hiện chi tiết ở phụ lục.

3.1.3 Thực trạng học tập theo nhóm theo điều kiện nơi ở (nội trú, ngoại trú) và theo nhóm theo giới tính (nam và nữ)

Qua khảo sát và điều tra có thể thấy điều kiện nơi ở và giới tính ít có ảnh hưởng tới khảnăng làm việc nhóm của sinh viên Điều này đã được thể hiện thông qua số liệu mà chúng tôithu thập được, khi tỷ lệ của các chỉ tiêu đưa ra so sánh thường không có sự khác biệt nhiều.Tuy nhiên tỷ lệ sinh viên nữ tham gia hoạt động nhóm trong học tập nhiều hơn so với sinhviên nam… Bởi vì sinh viên nữ trong trường Đại học NNHN chiếm số lượng nhiều hơn hẳn

so với sinh viên nam Tuy nhiên các bạn nữ lại cho rằng khả năng làm việc nhóm của sinhviên nam thường là tốt hơn so với nữ, điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu vì khả năng hoà nhập

và tiếp thu thông tin của nam bao giờ cũng nhanh nhạy hơn, các ý tưởng đưa ra mang tính táobạo hơn và thường thẳng thắn trong công việc, ít bị tình cảm chi phối hơn so với nữ giới.Trước bất kì một vấn đề được đưa ra thì nữ giới thường có xu hướng thận trọng trong suynghĩ và ra quyết định nên không phù hợp với những công việc đòi hỏi tính sáng tạo, cập nhật,thời sự

Tương tự, ở đây không có sự sai khác nhiều về tham gia nhóm trong học tập dưới tiêuthức điều kiện nơi ở và giới tính nên chúng tôi không phân tích sâu Các số liệu cụ thể về cáchthức thành lập nhóm, cơ cấu nhóm, nội dung làm việc nhóm, phương pháp tổ chức, nguồn tàiliệu sử dụng, địa điểm họp nhóm theo nơi ở (nội trú và ngoại trú) và theo giới tính (nam và nữ)cũng sẽ được thể hiện chi tiết ở phụ lục phân tích theo chương trình SPSS

3.2 Thực trạng kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên trường Đại học NNHN

Hầu hết sinh viên trường Đại học NNHN đều tham gia làm việc nhóm trong học tập.Tuy nhiên, không hẳn sinh viên nào cũng sử dụng các kỹ năng làm việc nhóm trong học tậpmột cách thành thạo và đem lại hiệu quả Các kỹ năng cơ bản cần có trong làm việc nhómnhư: lập kế hoạch hoạt động nhóm, phân công nhiệm vụ, thảo luận, tổng hợp phân tích tài liệuđều được sinh viên nắm khá rõ Song các kỹ năng cần thiết để quản lý hoạt động của nhóm thìchưa được sinh viên chú ý tới như xây dựng nội quy hoạt động nhóm, chia sẻ trách nhiệm, giảiquyết xung đột, tự kiểm tra đánh giá hoạt động của nhóm Để đánh giá một cách cụ thể chúngtôi đã phân tích theo các tiêu chí như: Theo khối ngành (KTXH và KT), theo khóa học (từ nămthứ 2 đến năm thứ 5), theo nơi ở (nội trú và ngoại trú) và theo giới tính (nam và nữ)

3.2.1 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên theo khối ngành KTXH và KT

Trang 20

Do nhóm sinh viên KTXH tham gia làm việc nhóm nhiều hơn nhóm sinh viên KT nênhầu hết các sinh viên KTXH cần có nhiều kỹ năng hơn sinh viên KT Hai kỹ năng phân côngnhiệm vụ rõ ràng và thảo luận trao đổi được sinh viên sử dụng rất nhiều, có tới 91,67 -96,67% với sinh viên khối ngành KT và KTXH đã sử dụng các kỹ năng đó trong làm việcnhóm.

Bảng 3.1 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo từng khối ngành KTXH và KT

Kỹ năng cần có trong làm việc

Tỷ lệ (%)

Số sinh viên nhận định

7 Lắng nghe, học hỏi người khác

75.83

12 Tự kiểm tra – đánh giá hoạt

45.83

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Các kỹ năng lập kế hoạch hoạt động nhóm, lắng nghe học hỏi người khác, tổng hợpphân tích tài liệu, thuyết trình, nghiên cứu tài liệu cũng được sinh viên hai khối ngành sử dụngtương đối tốt với tỷ lệ trên 70% Đặc biệt ở đây có kỹ năng nghiên cứu tài liệu được sinh viên

KT sử dụng nhiều hơn sinh viên KTXH do đặc thù về các môn học cũng như lượng kiến thứctương đối lớn đòi hỏi độ chính xác của khối ngành KT nên sinh viên phải nghiên cứu kỹ mới

có thể đạt hiệu quả cao trong học tập Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy rõ sự không quantâm của sinh viên ở cả hai khối ngành đối với các kỹ năng xây dựng nội quy, chia sẻ trách

Trang 21

nhiệm, giải quyết xung đột trong làm việc nhóm (dưới mức 51%) Nguyên nhân là do ý thứccủa sinh viên đó là tính thụ động và ỷ lại đã ăn sâu vào ý thức của mỗi thành viên Tuy nhiên,bên cạnh đó chúng tôi cũng thấy rằng sinh viên áp dụng làm việc nhóm trong quá trình họctập song lại không biết nên bắt đầu từ đâu và không biết đầy đủ các kỹ năng làm việc nhóm.

Vì thế, hổng hay chưa biết về kỹ năng làm việc nhóm là vấn đề đáng được quan tâm nhằm nâng cao kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên của Đại học NNHN trong quá trình học tập.

3.2.2 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên theo khóa học

Qua bảng số liệu về thực trạng làm việc nhóm theo khóa học thì tỷ lệ sinh viên trườngĐại học NNHN tăng dần theo năm học Tuy nhiên, các kỹ năng trong làm việc nhóm có tăngdần hay không?

Bảng 3.2 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo từng khóa học

Kỹ năng cần có trong làm

việc nhóm

Năm học

Số sinh viên nhận định Tỉ lệ (%) Năm

2

Năm 3

Năm 4

Năm 5

Năm

Năm 4

Năm 5

7 Lắng nghe, học hỏi người

Trang 22

Kỹ năng cần có trong làm

việc nhóm

Năm học

Số sinh viên nhận định Tỉ lệ (%) Năm

2

Năm 3

Năm 4

Năm 5

Năm

Năm 4

Năm 5

12 Tự kiểm tra – đánh giá

4043,33

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Với bảng số liệu mà chúng tôi đã thu thập trên đây thì không phải kỹ năng nào cũngtăng theo năm học Hai kỹ năng có thể thấy rõ sự thay đổi tích cực theo năm học đó là kỹnăng thuyết trình và kỹ năng nghiên cứu tài liệu Năm thứ 2 là năm sinh viên bắt đầu họcnhững môn chuyên ngành tổ chức theo hình thức học tín chỉ, thời gian trên lớp nghe thầy côgiáo giảng là không đủ để có thể nắm bắt hết lượng kiến thức của từng môn học Do đó việchọc tập theo nhóm là cách để đạt kết quả tốt trong học tập Tỷ lệ sinh viên năm thứ 2 đã thựchiện hai kỹ năng kể trên là 76,67% ,73,33% và cũng hai kỹ năng đó ở sinh viên năm thứ năm

là 83,33% và 80% Tuy nhiên, có một vài kỹ năng lại có tỷ lệ giảm dần và thấp nhất vào nămthứ 5 Chẳng hạn như, lập kế hoạch hoạt động nhóm của sinh viên năm thứ 5 chỉ là 76,67%;trong khi ở sinh viên năm thứ 2 là 90% Như phần thực trạng đã nêu, năm thứ 5 chủ yếu làsinh viên khối ngành KT, sinh viên khối ngành này có tỷ lệ tham gia học tập nhóm ít hơn dotập trung cho nghiên cứu đề tài tốt nghiệp

Nhìn vào các con số trong bảng số liệu có thể nhận xét rằng các kỹ năng học nhóm đãđược sinh viên sử dụng và sử dụng nhiều nhất vào năm học thứ 3 và thứ 4 Vì năm thứ 3 và nămthứ 4 các môn học đều là môn chuyên ngành, thầy cô giáo giao nhiều bài tập tiểu luận, bài tậpnhóm đòi hỏi phải làm việc nhóm Còn đối với sinh viên năm thứ 2 đã được làm quen dần vớicách làm việc nhóm này nên các kỹ năng như phân công nhiệm vụ 96,67%, nghiên cứu tài liệu76,67% được ưu tiên sử dụng nhiều hơn cả

3.2.3 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên theo điều kiện nơi ở nội trú và ngoại trú

Điều kiện nơi ở cũng ảnh hưởng ít nhiều đến việc học tập nhóm của sinh viên Nhómsinh viên ở nội trú_ở ký túc xá có những điều kiện lợi thế riêng song không phải vậy mànhững kỹ năng làm việc nhóm của họ sử dụng hơn nhóm sinh viên ở ngoại trú

Trang 23

Bảng 3.3 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo nơi ở

Kỹ năng cần có trong làm việc

Tỷ lệ (%)

Số sinh viên nhận định

Tỷ lệ (%)

7 Lắng nghe, học hỏi người khác

12 Tự kiểm tra – đánh giá hoạt

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Qua bảng số liệu trên mà chúng tôi thống kê được thì có thể thấy rằng những kỹ năngđòi hỏi tính tập thể như phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý, trao đổi, giải quyết xung đột củanhóm sinh viên ở nội trú đều cao hơn so với nhóm sinh viên ở ngoại trú Chẳng hạn như kỹnăng phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý của nhóm nội trú là 95% so với 93,75% của nhómsinh viên ở ngoại trú… Bên cạnh đó, nhóm sinh viên ngoại trú với điều kiện thoải mái tự dohơn thì có các kỹ năng sắp xếp cũng như kỹ năng quản lý lại được sử dụng nhiều hơn nhómsinh viên nội trú: kỹ năng lập kế hoạch hoạt động nhóm có tỷ lệ 85% so với nhóm nội trú là82,5%, xây dựng nội quy hoạt động nhóm với tỷ lệ là 53,75% còn nhóm nội trú là 40%

Như vậy, điều kiện nơi ở cũng phần nào ảnh hưởng đến việc thực hiện các kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học NNHN.

3.2.4 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên theo giới tính

Trang 24

Qua khảo sát ở phần thực trạng chúng tôi thấy rằng tỷ lệ tham gia hoạt động nhóm củasinh viên nữ của trường đại học NNHN cao hơn sinh viên nam Tuy nhiên, không phải vì thế

mà sinh viên nữ luôn có kỹ năng làm việc nhóm tốt hơn sinh viên nam Sinh viên nam luôn cónhững ý tưởng mạnh dạn, suy nghĩ tốt nên họ có những kỹ năng xây dựng nội quy hoạt độngnhóm, thuyết trình, lắng nghe, học hỏi người khác một cách chủ động, chia sẻ thông tin tốthơn sinh viên nữ

Trang 25

Bảng 3.4 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo giới tính

Kỹ năng cần có trong làm việc

Số sinh viên nhận định

Tỷ lệ (%)

7 Lắng nghe, học hỏi người khác

12 Tự kiểm tra - đánh giá hoạt

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Chẳng hạn như ở kỹ năng thuyết trình cũng như lắng nghe học hỏi ở sinh viên nam có tỷ lệ là79,07% cao hơn so với 72,72% ở sinh viên nữ Sinh viên nữ thì luôn có những suy nghĩ chuđáo trước khi làm việc gì đó vì vậy họ có những kỹ năng phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý,tổng hợp phân tích tài liệu cao hơn so với sinh viên nam Tỷ lệ các kỹ năng phân công nhiệm

vụ, thảo luận của sinh viên nữ cao hơn sinh viên nam tương ứng là 12% và 7% thể hiện xu

hướng thận trọng trong suy nghĩ của nữ giới Vì vậy, khi làm việc nhóm người lãnh đạo, nhóm trưởng thường là nam giới vì họ có những tổ chức quản lý tốt hơn nữ giới như giải quyết xung đột 44,19% so với 32,47%

3.2.5 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên theo hình thức học nhóm tự nguyện và bắt buộc

Trang 26

Hình thức học tín chỉ đã được trường Đại học NNHN áp dụng được 4 năm, vì vậy kỹnăng làm việc nhóm của sinh viên sử dụng là cao Qua bảng số liệu trên có thể thấy hầu hết tỷ

lệ các tiêu chí mà chúng tôi đưa ra của nhóm có hình thức học tự nguyện cao hơn so với nhóm

có hình thức học nhóm bắt buộc

Bảng 3.5 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo từng hình thức học nhóm

Kỹ năng cần có trong làm việc nhóm

Hình thức học nhóm

Tự nguyện

Bắt buộc (theo yêu cầu của giảng viên)

Số sinh viên

Tỷ lệ (%)

Số sinh viên

Tỷ lệ (%)

7 Lắng nghe, học hỏi người khác một cách chủ

12 Tự kiểm tra – đánh giá hoạt động của nhóm 56 46.6 48 40.0

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Nhóm sinh viên học nhóm theo hình thức tự nguyện đều ý thức được rằng học nhóm

là điều có lợi trước hết cho chính bản thân mình nên họ đều trang bị các kỹ năng một cách khátốt Kỹ năng có tỷ lệ cao nhất là 78,3% còn thấp nhất 45% Đối với nhóm học bắt buộc (theoyêu cầu của giáo viên) thì họ phần lớn học vì điểm, không phải ai cũng ý thức học một cáchtốt nhất nên tỷ lệ các kỹ năng chưa cao và thấp hơn so với nhóm học tự nguyện Có một kỹnăng mà nhóm học bắt buộc cao hơn so với nhóm học tự nguyện đó là kỹ năng thuyết trình

Lý giải về điều này thì nhóm học tự nguyện chủ yếu là học nhóm để giúp đỡ những sinh viêncòn yếu, kém về một số mặt nào đó, còn nhóm học bắt buộc thì điều kiện là phải đứng lên

thuyết trình trên lớp trước thầy cô cũng như các sinh viên khác trong lớp Vì thế mà kỹ năng thuyết trình được nhóm học bắt buộc chú ý hơn so với các kỹ năng khác (tỷ lệ 50% cao thứ

4 so với 12 kỹ năng được đưa ra).

Trang 27

3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến kĩ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên

Khi nghiên cứu vấn đề làm việc nhóm và kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên thì ngoàisinh viên là trọng tâm, cốt lõi thì vẫn có các vấn đề xoay quanh như sau: Quan niệm về họctập theo nhóm, mức độ đóng góp của các thành viên trong nhóm, các điều kiện học tập, sựhướng dẫn của giảng viên, năng lực, kỹ năng của người trưởng nhóm, số lượng của các thànhviên trong nhóm…

Chúng ta đều biết kỹ năng và nhận thức hoạt động nhóm là 2 vấn đề khác nhau Kỹ năng làkhả năng, năng lực thực hiện một công việc hay mục đích nào đó, thì nhận thức lại mang lại cho conngười tư duy, đánh giá về sự vật hiện tượng Nhóm nghiên cứu muốn thông qua nhận thức của sinhviên về hoạt động nhóm, để từ đó lý giải các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng kỹ năng làm việcnhóm trong học tập của sinh viên

Để đơn giản hơn cho việc phân tích các nhân tố này, chúng tôi phân thành 2 nhóm:yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan

3.3.1 Yếu tố chủ quan

Yếu tố chủ quan có ảnh hưởng tới kỹ năng làm việc nhóm bao gồm: quan niệm họctập theo nhóm, mức độ đóng góp của các thành viên trong nhóm…

3.3.1.1 Quan niệm làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường ĐH NNHN

Nhận thức đúng đắn về học tập theo nhóm có vai trò rất quan trọng, nó là tiền đề đểhoạt động nhóm đạt được hiệu quả Bởi vì nếu nhận thức sai thì chắc chắn sẽ không thể thựchiện hoạt động nhóm đúng được Trên thực tế, thông qua điều tra quan niệm của các bạn sinhviên Đại học NNHN về học tập theo nhóm, chỉ có 10,8% các sinh viên cho rằng mỗi ngườilàm tất cả công việc theo ý riêng rồi gộp chung lại lấy kết quả tốt nhất Có gần 91% sinh viênphát biểu học tập theo nhóm là một phương pháp học tập hay, mang lại nhiều lợi ích cho cácthành viên như: học hỏi lẫn nhau, phát huy tinh thần - trí tuệ tập thể, rèn luyện nhiều kỹ năngmềm, trong đó việc phát huy tinh thần học tập cao nhất 49,2% Các bạn đều cho rằng đây làphương pháp học tập rất cần thiết cho sinh viên đại học, nên cần được tăng cường sử dụng và pháthuy trong học tập của sinh viên Điều này cho thấy phần lớn các bạn sinh viên trường Đại họcNNHN đã có quan niệm khá đúng đắn về hoạt động học tập theo nhóm và đã nhận thức được vaitrò của nó đối với việc học tập của sinh viên

Bảng 3.6 Quan niệm và lợi ích làm việc trong học tập của sinh viên

STT Quan niệm và lợi ích làm việc trong học tập của sinh viên Ý kiến

(%)

I Quan niệm về làm việc theo nhóm trong học tập

1 Mỗi người làm tất cả công việc theo ý riêng rồi gộp chung lại lấy kết 10.8

Trang 28

II Quan niệm về Lợi ích của làm việc theo nhóm học tập

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Tuy nhiên, vẫn còn một số sinh viên (đặc biệt là sinh viên năm thứ 3) còn suy nghĩ mơ

hồ về phương pháp học tập theo nhóm Hầu hết các sinh viên đó cho rằng, học tập theo nhóm làchia bài tập giảng viên giao thành những phần nhỏ rồi chia cho mỗi thành viên một phần về nhà

làm, kết quả là sự chắp nối các phần đó lại với nhau (tới 80% ý kiến nhận) Học tập theo nhóm

là giao bài tập nhóm cho một vài thành viên xuất sắc trong nhóm thực hiện và coi là sản phẩm đó của tập thể Đây là những quan niệm chưa đúng về học tập theo nhóm đang tồn tại trong một bộ phận sinh viên trường Đại học NNHN.

3.3.1.2 Ý thức và sự tích cực đóng góp của các thành viên trong nhóm

Mỗi thành viên là nhân tố quan trọng cấu thành nên một nhóm, vừa chịu ảnh hưởng củanhóm lại vừa tác động đến hiệu quả làm việc của nhóm, đây chính là sự tương tác qua lại giữa

cá nhân với tập thể, đóng góp của mỗi người tạo nên kết quả của quá trình làm việc nhóm, vàkết quả cuối cùng đó lại phản ánh năng lực cũng như phần nào phản ánh được mức độ hiệu quảlàm việc của nhóm đó Vì vậy, đóng góp của mỗi cá nhân được coi là một trong những nguyênnhân quan trọng nhất tác động đến hiệu quả làm việc nhóm

Trang 29

Biểu đồ 3.8: Mức độ đóng góp của thành viên trong nhóm

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Qua điều tra có 87% ý kiến nhất trí rằng ý thức làm việc nhóm của các thành viên là yếu

tố tác động lớn nhất đến hiệu quả làm việc của nhóm Điều này cho thấy hầu hết sinh viên đánhgiá rất cao yếu tố ý thức thành viên trong hoạt động nhóm

Trong thực tế, hầu hết các sinh viên đều có ý thức khi tham gia hoạt động nhóm, phầnlớn sinh viên nhiệt tình, năng nổ xây dựng ý kiến cho bài tập nhóm Tuy nhiên, các bạn sinhviền đều cho rằng mức độ đóng góp của bản thân vào hiệu quả của nhóm chủ yếu là mực độbình thường 40%, mới ở mức chung chung Bên cạnh đó cũng có một bộ phận không nhỏ cácthành viên chưa có ý thức trong hoạt động nhóm Các bạn coi bài tập nhóm là công việc của

tập thể, của mọi người, ai cũng “trừ mình ra” và kết quả là “cha chung không ai khóc” Do có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào kết quả làm việc của người khác nên một số sinh viên chỉ tham gia làm việc nhóm mang tính hình thức.

3.3.1.3 Kết quả học tập của các thành viên ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm

Như nhóm đã trình bày ở phần thực trạng làm việc nhóm của sinh viên ở các ngànhhọc KTXH như Kinh tế, Phát triển nông thôn, Kế toán và quản trị kinh doanh… cho thấymức độ làm việc nhóm trong học tập của sinh viên khối này là rất thường xuyên và cần thiết

Do vậy, những ai đã biết làm việc nhóm, biết cách liên kết năng lực các thành viên trongnhóm thì thường sẽ có ưu thế hơn hẳn Điều đó được thể hiện rõ nét nhất là ở kết quả học tập

và kết quả hoạt động nhóm của họ Chính vì vậy nhóm chúng tôi sẽ tiếp tục phân tích và kiểm

Trang 30

định mối quan hệ giữa hiệu quả làm việc nhóm và kết quả học tập của sinh viên để xác địnhlại mức độ chính xác của nhận định trên.

Biểu đồ 3.9: Mối quan hệ giữa điểm với hiệu quả làm việc nhóm

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Sau khi thống kê, nhóm nghiên cứu chúng tôi tổng hợp được những nhóm cho rằng hiệuquả làm việc nhóm thấp chủ yếu từ các thành viên chỉ có điểm trung bình dưới 7 (chiếm85.71%) và 14.29% thành viên có điểm trung bình từ 7 đến 8 và không có sinh viên nào cóđiểm trung bình trên 8.0 Trong khi gần 80% những thành viên cho rằng hiệu quả làm việcnhóm cao có điểm trung bình từ 7.0 trở lên, trong đó có đến 40% đạt điểm trung bình trên 8.0

Theo nhận xét của các giảng viên trong trường và theo các thông tin truyền thông có

đề cập thì đây là mối quan hệ 2 chiều, bởi lẽ khi các sinh viên nâng cao được hiệu quả củaviệc làm nhóm thì lúc đó kết quả công việc cũng sẽ được nâng cao Ngược lại, thông thườngcác sinh viên có điểm học tập cao thì năng lực và kỹ năng của các sinh viên này thường caohơn mọi người Vì thế, họ có khả năng làm việc nhóm, có khả năng hoàn thành công việc vàliên kết mọi người lại với nhau, từ đó tạo ra được hiệu quả làm việc nhóm cao hơn những sinh

viên khác Do đó, sinh viên trường Đại học NNHN nên luyện tập cho mình kỹ năng làm nhóm, không phải chỉ để thu lại được kết quả học tập mà để thu về cho mình những kỹ năng cần thiết cho công việc sau này.

3.3.2 Yếu tố khách quan

Trang 31

Bên cạnh những yếu tố chủ quan mà mỗi sinh viên có thể tự khắc phục và thay đổi thìvẫn tồn tại những yếu tố khách quan khác tác động đến hiệu quả làm việc nhóm Một vài yếu

tố khách quan quan trọng nhất là: Cơ cấu, tổ chức hoạt động làm việc của nhóm, vai trò củanhóm trưởng, quy mô và thời gian họp của nhóm, mục tiêu của nhóm, vai trò của giảng viên,chủ đề học tập, cơ sở vật chất - phương tiện kỹ thuật…

3.3.2.1 Cơ cấu, tổ chức hoạt động làm việc của nhóm.

Trước tiên phải nói đến cơ cấu và cách thức tổ chức làm việc của nhóm Theo nhậnđịnh của các chuyên gia cũng như kết quả điều tra của nhóm thì đây là yếu tố quan trọng nhấtảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc làm nhóm

Thông qua quá trình quan sát, phỏng vấn chúng tôi nhận thấy rằng, trong thực tế hầuhết các nhóm học tập của sinh viên trường Đại học NNHN đều có cơ cấu tổ chức nhóm khá rõràng với một nhóm trưởng (thường được cố định trong suốt thời gian nhóm tồn tại), một thư

ký (thường được thay đổi theo từng cuộc họp); phần lớn các nhóm đều xây dựng nội quy, quyđịnh của nhóm, quy định trách nhiệm và vai trò của từng vị trí trong nhóm

Tuy nhiên, các nhóm chưa chú trọng đúng mức tới việc xây dựng mối quan hệ giữa cácthành viên trong nhóm Điều này đã ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của nhóm

Ngoài ra, để đánh giá sự ảnh hưởng của cách thức tổ chức nhóm đến kết quả làm việcnhóm thì bảng số liệu sau đây sẽ thể hiện kết quả điều tra của chúng tôi Giữa cách thức hoạtđộng nhóm và hiệu quả làm việc nhóm trong học tập có quan hệ chặt chẽ với nhau Bởi lẽkhông có một nhóm nào có thể đạt được hiệu quả cao khi cách thức hoạt động của nó khôngtốt Số liệu trên đã cho thấy khi làm việc nhóm có cách thức hoạt động tốt thì hiệu quả làmviệc của nhóm tập trung chủ yếu ở mức hiệu quả cao với tỷ lệ từ 75,3 – 87,7% Trong khi đónhững nhận định là làm việc nhóm có cách thức hoạt động không tốt và bình thường thì hiệuquả làm nhóm thường chỉ tập trung ở mức bình thường với tỷ lệ từ 47,6 – 59,8%

Trang 32

Bảng 3.7 Mối quan hệ giữa cách tổ chức hoạt động với hiệu quả làm việc nhóm trong học tập

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Như vậy, nếu nhóm làm việc có cách thức tổ chức tốt, hay nói cách khác là có kỹ năng làm việc nhóm tốt thì hiệu quả công việc mang lại sẽ cao và ngược lại.

3.3.2.2 Vai trò của nhóm trưởng

Mức độ hiệu quả làm việc nhóm cũng chịu tác động mạnh bởi vai trò của nhómtrưởng Một nhóm không thể hoạt động tốt khi không có một nhóm trưởng có năng lực vàtrách nhiệm Để đánh giá mức độ hiệu quả của nhóm trưởng chúng ta xem xét những yếu tố

sau đối với một nhóm trưởng: Tinh thần trách nhiệm, biết cách quản lý và điều hành nhóm, biết cách phân chia công việc cho hiệu quả…

Chúng ta có thể xem qua tổng quan về mức độ đánh giá vai trò của nhóm trưởng và sựtác động giữa mức độ hài lòng của sinh viên đối với nhóm trưởng của họ đến hiệu quả hoạtđộng nhóm

Bảng 3.8 Quan niệm về vai trò của nhóm trưởng

1 Điều hành và tổ chức công việc của cả nhóm 82,5

2 Chịu trách nhiệm chung của cả nhóm trước mọi hoạt động 3,3

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Nhóm trưởng là người có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hoạt độngcủa nhóm 82,5% ý kiến nhất trí rằng nhiệm vụ lớn nhất của người trưởng nhóm là điều hành

và tổ chức công việc cho cả nhóm Để thực hiện được nhiệm vụ này người nhóm trưởng cầnrất nhiều kỹ năng

Thông qua quan sát và lấy ý kiến các sinh viên đã và đang làm nhóm trưởng của cácnhóm làm việc nhóm trong học tập của trường Đại học NNHN, chúng tôi được biết thực tếcác bạn nhóm trưởng đều là những người có năng lực về học tập, linh hoạt và có trách nhiệm

Trang 33

Hầu hết trưởng nhóm được các bạn trong nhóm tín nhiệm bầu lên nên nhận được sự ủng hộcủa các thành viên Đây là những điều kiện rất thuận lợi để nhóm trưởng thực hiện tốt cácnhiệm vụ của mình

Bên cạnh những mặt mạnh thì đội ngũ nhóm trưởng các nhóm học tập trong trườngcòn có một số hạn chế nhất định như: Tổ chức và điều hành nhóm còn thiếu khoa học, thiếu

kế hoạch; phân công nhiệm vụ chưa phù hợp; ít lắng nghe và tạo cơ hội cho người khác phátbiểu ý kiến; ôm đồm công việc; chưa giải quyết được các tình huống xung đột xảy ra trongnhóm Đặc biệt nhóm trưởng hầu hết luôn được cố định một bạn nào đó mà ít có sự thay đổinên đã gây ra sự nhàm chán và không tạo cơ hội thử sức với vai trò nhóm trưởng cho cácthành viên khác

Thực tế có nhiều nhóm trưởng chưa thực hiện hết trách nhiệm của mình, các bạnkhông vạch ra kế hoạch hoạt động cụ thể cho nhóm và điều hành nhóm thực hiện các mục tiêu

mà chỉ làm cho có, được chăng hay chớ, không lôi cuốn, thu hút được sự tham gia hiệu quảcủa các thành viên Có những nhóm trưởng không quyết đoán để cho ý kiến thành viên chiphối nên hiệu quả hoạt động nhóm không cao Đồng thời cũng có không ít nhóm trưởng quánhiệt tình, ôm đồm nhiều công việc, phân chia không hợp lý khiến thành viên ít có cơ hội pháthuy khả năng của mình

Chúng ta có thể xem xét về mức độ hài lòng của sinh viên trường Đại học NNHN đốivới nhóm trưởng của họ như sau:

Khoảng 40% sinh viên trường Đại học NNHN hài lòng với nhóm trưởng của mìnhkhông phải là con số quá nhỏ nhưng cũng không phải là con số quá lớn Bởi vì vẫn cònkhoảng 6-9% còn lại không hài lòng và rất không hài lòng với nhóm trưởng hiện tại của mình

Trang 34

Bảng 3.9 Mức độ hài lòng về nhóm trưởng

Mức độ hài lòng về nhóm trưởng (%)

Rấtkhônghài lòng

Khônghài lòng

Bìnhthường Hài lòng

Rất hàilòng

1 Cách điều hành công

2 Trách nhiệm của nhóm

3 Cách phân chia công

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Do đó, để có thể nâng cao hiệu quả của việc làm nhóm thì trước hết chúng ta nên nâng cao tỉ lệ hài lòng của các thành viên đối với nhóm trưởng lên mức cao hơn bằng nhiều cách như thay đổi nhóm trưởng, nâng cao năng lực cũng như phẩm chất của người nhóm trưởng.

3.3.2.3 Quy mô của nhóm

Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng đối với mức độ hiệu quả làm việc củanhóm là quy mô và thời gian họp của nhóm Tuy quy mô của nhóm không tác động trực tiếpvào hiệu quả làm việc của nhóm do nó còn tùy thuộc vào mức độ khó và lớn của công việcchung mà nhóm phải làm nhưng xét trên phương diện quy mô một cách tương đối thì quy mônhóm cũng có những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của làm việc nhóm Đầu tiên đó nhậnxét thực trạng về quy mô nhóm của các bạn sinh viên hiện nay và xác định một nhóm với quy

mô như thế nào là hoạt động hiệu quả

Bảng 3.10 Quy mô làm việc nhóm của sinh viên trường Đại học NNHN

Quy mô nhóm (%)

3 - 5 thành viên

6 - 8 thành viên

>8 thành viên

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Thông qua quan sát thực tế các nhóm học tập của sinh viên trường Đại học NNHN,chủ yếu từ 6 - 8 thành viên (chiếm 52.5%) Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều nhóm từ 8 thành viêntrở lên, có những nhóm lên đến 14 hay 16 thành viên Bởi lẽ, số lượng sinh viên học theo hìnhthức tín chỉ đối với một lớp là rất đông nên số lượng sinh viên bình quân mỗi nhóm thường

Trang 35

cao Với số lượng thành viên đông như thế sẽ rất khó để nhóm làm việc hiệu quả, đặc biệt làkhi nhóm mới hình thành và người trưởng nhóm còn chưa có kinh nghiệm điều hành nhóm.

Các bạn sinh viên đều cho rằng để một nhóm hoạt động có hiệu quả thì số lượng thànhviên của mỗi nhóm chỉ nên từ 3 - 5 thành viên hoặc từ 5 - 8 thành viên Tỉ lệ cho rằng 3 - 5thành viên cao hơn tỉ lệ 5 - 8 thành viên, suy nghĩ này có thể xuất phát từ thực tế khi nhóm cónhiều người khó thống nhất ý kiến, tâm lý phụ thuộc vào thành viên khác, không phân chiakhối lượng công việc cho các thành viên hợp lý

Sự ảnh hưởng đó được nghiên cứu và thể hiện qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 3.10: Ảnh hưởng của yếu tố quy mô nhóm đến hiệu quả làm việc nhóm

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Như vậy, có thể nhận thấy được mức độ hiệu quả của quy mô nhóm nhỏ hơn 8 thànhviên sẽ nhỉnh hơn so với những nhóm trên 8 thành viên Quy mô nhóm nhỏ hơn 8 thành viên sẽmang lại hiệu quả hoạt động cao Cụ thể là với quy mô 3 - 5 thành viên thì nhóm hoạt động hiệuquả cao đạt hơn 55% Lý do dễ hiểu để giải thích cho vấn đề trên chính là mức độ kết hợp nănglực giữa các thành viên trong nhóm lại, cũng như mức độ tương tác giữa các thành viên trongnhóm, các bạn sinh viên thuận tiện hơn trong việc trao đổi Theo John C.Maxwell (tác giả củacác nguyên tắc vàng khi làm việc nhóm) thì nhóm có thể chấp nhận được trong khoảng nhỏ hơn

16 thành viên Tuy nhiên, để nhóm có thể phát huy hết được năng lực của mỗi cá nhân, và

có sự tương tác tốt thì nhóm chỉ nên có quy mô nhỏ hơn 8 thành viên mà thôi Đây là con số vừa đủ để có thể đảm nhận những công việc khó khăn và cũng là con số phù hợp để có được

sự tương tác tốt giữa các thành viên trong nhóm.

3.3.2.4 Thời gian họp nhóm

Trang 36

Cũng như các yếu tố khác, thời gian họp nhóm cũng quyết định đến hiệu quả.

Biểu đồ 3.11: Thời gian họp nhóm hiệu quả

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Theo điều tra cho thấy các bạn sinh viên chủ yếu cho rằng thời gian họp nhóm hiệuquả là từ 45 - 60 phút (chiếm 80% trong tổng ý kiến đánh giá) Do khoảng thời gian này làvừa phải không quá ngắn mà cũng không quá lâu, các thành viên tận dụng thời gian này hoạtđộng với hiệu quả cao nhất có thể được, không phí phạm thời gian này cho những công việcngoài lề

3.3.2.5 Vai trò của giảng viên, chủ đề học tập, cơ sở vật chất - phương tiện kỹ thuật

- Vai trò của giảng viên và chủ đề học tập

Đôi khi, nhóm có đạt được thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự mạch lạctrong giải thích yêu cầu đề bài cũng như tiêu chí đưa ra từ phía giảng viên Công việc của nhóm

là phân tích và thống nhất cách giải quyết vấn đề Quá trình công việc sẽ chỉ có hiệu quả khi có

sự hướng dẫn của thầy cô Các sinh viên cần nắm rõ và chuẩn bị kỹ càng lượng kiến thức, thôngtin cho đề tài hay vấn đề mà nhóm đang cần hoàn thiện Các công việc của nhóm cần được xâydựng sao cho không thành viên nào trong nhóm bỏ qua nỗ lực công việc của các thành viên khác

- Chủ đề học tập nhóm: Thông qua quan sát và phỏng vấn chúng tôi nhận thấy rằng chủ đề

mà giảng viên giao cho các nhóm sinh viên hiện nay đều rất phù hợp cho học tập nhóm Cónhững bài tập nhóm lớn đòi hỏi nhiều thời gian sinh viên được giao nhiều thời gian để nghiêncứu, có những bài tập ngắn hơn sinh viên làm việc nhóm ngay trên lớp

Trang 37

- Sự hướng dẫn của giảng viên: Thực tế khi giao bài tập nhóm cho sinh viên phần lớn

giảng viên có hướng dẫn cho sinh viên cách làm việc nhóm, nhưng sự hướng dẫn này chỉ vàonhững thời điểm cần thiết hoặc khi sinh viên hỏi Bên cạnh đó, có một số giảng viên khônghướng dẫn cách làm việc nhóm, sinh viên phải tự tìm hiểu, mò mẫm cách làm do vậy gặp rấtnhiều khó khăn ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động nhóm đặc biệt với những sinhviên mới vào trường chưa có kiến thức và kinh nghiệm về học tập theo nhóm

- Sự đánh giá của giảng viên: Nhìn chung, hầu hết các giảng viên đều tiến hành đánh giá

bài tập nhóm của sinh viên khi sinh viên hoàn thành và trình bày bài tập nhóm Có nhiềugiảng viên đánh giá cụ thể từng mặt ưu - nhược của từng nhóm rồi đưa ra kết luận chung vềbài tập để sinh viên lĩnh hội Điều này giúp sinh viên nắm vững hơn kiến thức, đồng thời biếtđược ưu - nhược của mình để rút kinh nghiệm và biết cách khắc phục

Tuy nhiên, vẫn còn một số giảng viên giao bài tập nhóm cho sinh viên nhưng khôngđánh giá sản phẩm và sự làm việc của sinh viên, cũng không nêu kết luận, bài học mà sinhviên phải nắm Điều này đã làm cho một số nhóm không đầu tư cho bài tập nhóm (vì đầu tư

mà không được đáng giá cũng bằng không đầu tư); không thu nhận được kiến thức, nội dungcủa vấn đề, dẫn đến sinh viên không thích học tập theo nhóm khi giảng viên giao bài tậpnhóm

- Cơ sở vật chất và phương tiện kĩ thuật: Đây là yếu tố rất quan trọng tác động không

nhỏ tới hiệu quả làm việc nhóm Nhưng thực tế nguồn cơ sở vật chất – phương tiện kĩ thuậtdành cho học tập nhóm hiện nay ở trường còn rất thiếu thốn: không có bàn học đa năng nênkhi thảo luận nhóm sinh viên phải sắp xếp lại bàn ghế rất mất thời gian nhưng cũng khôngthuận tiện cho nhóm làm việc; thư viện nhỏ không có đủ không gian cho nhiều nhóm cùng

làm việc, nguồn tài liệu tại thư viện còn hạn chế Vai trò của cơ sở vật chất kĩ thuật, trang thiết bị là rất quan trọng đối với các sinh viên, đặc biệt sinh viên khối ngành KT.

3.4 Hiệu quả của làm việc nhóm trong học tập của sinh viên

Có thể nói hiệu quả làm việc nhóm là vấn đề được quan tâm nhất đối với hầu hết tất cảnhững ai sẽ, đang và đã làm việc nhóm Nó là kết tinh của quá trình liên kết, hợp tác giữa cácthành viên trong nhóm, và là biểu hiện duy nhất có thể phản ánh được một cách tổng quan vàchính xác nhất về năng lực làm việc, hoạt động của một nhóm Hiện nay đã có rất nhiều sáchbáo, các buổi hội thảo, các kênh thông tin đề cập và hướng dẫn cách làm việc để có thể đạtđược hiệu quả tối đa khi làm việc nhóm Nhưng trên thực tế, ít có ai lại có thể phát huy đượctối đa hiệu quả của việc làm nhóm, đặc biệt là sinh viên, học sinh - những người lần đầu tiếp

Trang 38

cận với làm việc nhóm Qua quá trình nghiên cứu thực trạng làm việc nhóm trong học tập củasinh viên hiện này thì chúng tôi đã đưa ra một số tiêu chí đánh giá hiệu quả làm việc nhómmột cách tương đối như:

- Chất lượng công việc khi làm việc nhóm thể hiện chủ yếu qua kết quả học tập của bài tiểuluận, đề tài hay các công việc khác mà nhóm thực hiện Mức độ hiệu quả của cách thức hoạtđộng theo nhóm

- Lượng kiến thức và kỹ năng của các thành viên sau khi làm việc nhóm như: kỹ năng lập kếhoạch, kỹ năng trình bày, kỹ năng làm việc với người khác, kỹ năng tổng hợp thông tin, kỹnăng viết báo cáo…

- Sự đoàn kết và thấu hiểu nhau trong một nhóm

Sau khi khảo sát 120 sinh viên trường Đại học NNHN và phỏng vấn 20 giảng viênchúng tôi có kết quả như sau Ở đây xin chúng tôi xin được xét ở 2 khía cạnh tiêu biểu nhất đó

là: (i) Chất lượng và lượng kiến thức nhóm nhận được khi thực hiện làm việc nhóm trong học tập, (ii) Kỹ năng mà sinh viên thu được khi làm việc nhóm.

3.4.1 Theo khía cạnh đánh giá mức độ chất lượng công việc và kiến thức thu được

Về chất lượng công việc có đến gần 45% cho rằng kết quả công việc nhóm thực hiện làcao và 4,2% rất cao, không có sinh viên nào cho rằng kết quả là thấp Số còn lại cho rằng kếtquả công việc của nhóm là bình thường Đây cũng là con số đáng khích lệ, bởi nhìn chung kếtquả công việc sinh viên trường đạt được là khá cao

Bảng 3.11 Hiệu quả làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên

Thấp thường Bình Cao Rất cao

3 Kiến thức mà các thành viên nhận được 7,5 53,3 36,7 2,5

4 Kỹ năng mà các thành viên

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

Tuy nhiên, khi xét về khía cạnh lượng kiến thức mà sinh viên nhận được khi làm việc nhómvới nhau thì có sự khác biệt rất lớn đối với chất lượng công việc đạt được Có đến 53.3% sinh viêncho rằng lượng kiến thức mà mình nhận lại sau khi làm việc nhóm là ở mức bình thường trở xuống.Đáng chú ý hơn là trong đó có đến 7.5% cho rằng lượng kiến thức thu về là ít và rất ít Và chỉ có36.7% cho rằng lượng kiến thức mình nhận được là cao và 2.5% rất cao Điều này cho thấy được

Trang 39

phần nào hoạt động và học tập theo nhóm của sinh viên trường Đại học NNHN hiện nay là quan tâm đến chất lượng công việc của nhóm hoàn thành hơn là lượng kiến thức mà từng cá nhân nhận được Vì thế sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến với thái độ tham gia làm việc nhóm trong học tập của từng cá nhân sinh viên

3.4.2 Theo khía cạnh đánh giá mức độ kỹ năng thu được

Qua bảng 3.16 ta thấy kỹ năng mà các thành viên nhận được qua làm việc nhóm tronghọc tập chỉ ở mức trung bình Để đi sâu hơn, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục đánh giá tới từng kỹnăng mà các thành viên nhận được Mức độ các kỹ năng thu được khi học tập theo nhóm ởsinh viên trường Đại học NNHN, cụ thể như sau:

Bảng 3.12 Đánh giá của sinh viên về mức độ thực hiện các kỹ năng làm việc nhóm trong

học tập

STT

Các kỹ năng

Mức độ thực hiện các kỹ năng (%) Thành

thạo

Tương đối TT

Chưa thành thạo

Không thành thạo

7 Lắng nghe,học hỏi người khác một

12 Tự kiểm tra - đánh giá hoạt động của

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra

- Về kỹ năng lập kế hoạch hoạt động nhóm

Có 87% ý kiến đánh giá đây là một kỹ năng mà các bạn sinh viên thực hiện trong hoạtđộng học tập theo nhóm Tuy nhiên, mức độ thực hiện thì chỉ có 13,3% là thành thạo, 56,7%tương đối thành thạo, còn chưa thành thạo và không thành thạo lên đến 30% Qua những sốliệu này cho thấy mặc dù lập kế hoach hoạt động nhóm là một kỹ năng vô cùng quan trọng,tác động mạnh tới kết quả hoạt động nhóm nhưng các bạn sinh viên lại chưa thành thạo kỹnăng này Trong thực tế hầu hết các nhóm đều không vạch kế hoạch cụ thể trước khi thựchiện một bài tập nào đó, hoặc có lập nhưng không hợp lý, vì thế nhiều khi không chủ động

Ngày đăng: 30/08/2023, 11:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Mẫu điều tra sinh viên theo khóa học và khối ngành - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 1.1 Mẫu điều tra sinh viên theo khóa học và khối ngành (Trang 3)
Bảng 3.1  Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo từng khối ngành KTXH và KT - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 3.1 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo từng khối ngành KTXH và KT (Trang 20)
Bảng 3.2  Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo từng khóa học - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 3.2 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo từng khóa học (Trang 21)
Bảng 3.3 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo nơi ở - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 3.3 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo nơi ở (Trang 23)
Bảng 3.4  Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo giới tính - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 3.4 Kỹ năng làm việc nhóm trong học tập theo giới tính (Trang 25)
Bảng 3.7 Mối quan hệ giữa cách tổ chức hoạt động với hiệu quả làm việc nhóm trong học tập - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 3.7 Mối quan hệ giữa cách tổ chức hoạt động với hiệu quả làm việc nhóm trong học tập (Trang 32)
Bảng 3.8 Quan niệm về vai trò của nhóm trưởng - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 3.8 Quan niệm về vai trò của nhóm trưởng (Trang 32)
Bảng 3.9  Mức độ hài lòng về nhóm trưởng - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 3.9 Mức độ hài lòng về nhóm trưởng (Trang 34)
Bảng 3.10  Quy mô làm việc nhóm của sinh viên trường Đại học  NNHN - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 3.10 Quy mô làm việc nhóm của sinh viên trường Đại học NNHN (Trang 34)
Bảng 3.11  Hiệu quả làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 3.11 Hiệu quả làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên (Trang 38)
Bảng 3.12 Đánh giá của sinh viên về mức độ thực hiện các kỹ năng làm việc nhóm trong học tập - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 3.12 Đánh giá của sinh viên về mức độ thực hiện các kỹ năng làm việc nhóm trong học tập (Trang 39)
Bảng 3.13 Mức độ áp dụng hình thức làm việc nhóm của giảng viên trên lớp - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Bảng 3.13 Mức độ áp dụng hình thức làm việc nhóm của giảng viên trên lớp (Trang 47)
Hình thức học nhóm - Giải pháp nâng cao kỹ thuật làm việc theo nhóm trong học tập của sinh viên trường đại học nông nghiệp hà nội
Hình th ức học nhóm (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w