Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu, mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ cho khách hàng.1 Với một
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ MAI
ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ DÂN CƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM,
CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THANH MINH
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công bố tại bất cứ nơi nào Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin xác thực
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình nghiên cứu làm luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ của thầy giáo hướng dẫn, các anh, chị, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình tôi đã tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thiện luận văn này
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thanh Minh, thầy giáo hướng dẫn luận văn cho tôi, thầy đã giúp tôi có phương pháp nghiên cứu đúng đắn, nhìn nhận vấn đề một cách khoa học, lôgíc, qua đó đã giúp cho đề tài của tôi có ý nghĩa thực tiễn và có tính khả thi
Tiếp theo, tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Đầu tư Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên, khách hàng và các đồng nghiệp đã giúp tôi nắm bắt được thực trạng, cũng như những vướng mắc và
đề xuất trong công tác đẩy mạnh hoạt động huy động dân cư tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và các đồng nghiệp đã góp ý
và tạo điều kiện cho tôi để tôi có thể hoàn thành luận văn
Ngoài ra, bên cạnh sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn, các đồng nghiệp, tôi còn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè và gia đình để hoàn thành luận văn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Thanh Minh đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 2
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ DÂN CƯ 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1.Tổng quan về nguồn vốn và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 5
1.1.2 Hoạt động huy động vốn từ dân cư của NHTM 13
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn từ dân cư của NHTM 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Kinh nghiệm huy động vốn từ dân cư tại một số ngân hàng thương mại 23
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam 27 Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 29
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 29
2.2.3 Phương pháp tổng hợp thông tin 31
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 32
Trang 533
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 34
Chương 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ DÂN CƯ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM, CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN 35
3.1 Đặc điểm của tỉnh Thái Nguyên 35
3.1.1 Vị trí địa lý 35
3.1.2 Nhân khẩu của tỉnh Thái Nguyên 36
3.1.3 Về văn hóa, y tế, giáo dục 36
3.1.4 Về tiềm năng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên 36
3.2 Giới thiệu về BIDV và BIDV Thái Nguyên 37
3.2.1 Giới thiệu về BIDV 37
3.2.2 Giới thiệu về BIDV Thái Nguyên 38
3.3 Thực trạng hoạt động huy động vốn dân cư 45
3.3.1 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn từ dân cư tại BIDV chi nhánh Thái Nguyên 45
3.3.2 Các sản phẩm huy động vốn dân cư của BIDV và các dịch vụ đi kèm 55
3.3.3 Chính sách khách hàng 60
3.3.4 Thực trạng hoạt động huy động vốn dân cư tại BIDV Thái Nguyên 61
3.3.5 Vị thế của BIDV thể hiện qua kết quả khảo sát về hoạt động huy động vốn dân cư 68
3.4 Kết quả phân tích mô hình SWOT trong lĩnh vực huy động vốn dân cư tại BIDV Thái Nguyên 74
3.4.1 Điểm mạnh 74
3.4.2 Điểm yếu 75
3.4.3 Cơ hội 75
3.4.4 Thách thức 76
3.5 Đánh giá chung về hoạt động huy động vốn dân cư tại Thái Nguyên 76
3.5.1 Những kết quả đạt được 76
3.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 78
Trang 6Chương 4 CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
TỪ DÂN CƯ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM, CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN 82
4.1 Quan điểm định hướng huy động vốn từ dân cư của BIDV chi nhánh Thái Nguyên 82
4.1.1 Dự báo tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 82
4.1.2 Chiến lược phát triển của BIDV 83
4.1.3 Định hướng phát triển hoạt động huy động vốn trong dân cư của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Thái Nguyên 84
4.1.4 Quan điểm của tác giả đối với phát triển huy động vốn từ dân cư tại BIDV chi nhánh Thái Nguyên 85
4.2 Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động huy động vốn trong dân cư 85
4.2.1 Giải pháp chính sách lãi suất 85
4.2.2.Giải pháp tăng cường công tác truyền thông quảng cáo thương hiệu BIDV trên địa bàn 86
4.2.3 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 89
4.2.4 Giải pháp về công nghệ thông tin 91
4.2.5 Giải pháp về nâng cao chất lượng phục vụ 91
4.2.6 Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng kênh phân phối 94
4.3 Kiến nghị 96
4.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 96
4.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 96
4.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 97
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 104
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AGRIBANK : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam
BIDV : Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và
Phát triển Thái Nguyên BIDV Thái Nguyên : Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam, Chi nhánh Thái Nguyên BSMS : Dịch vụ tin nhắn của ngân hàng
IBMB : Giao dịch ngân hàng trên Internet - giao
dịch ngân hàng trên điện thoại di động
VIETCOMBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại
thương Việt Nam VIETINBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Công
thương Việt Nam
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứu 30
Bảng 2.2: Số mẫu cá nhân điều tra theo các tiêu chí giới tính, độ tuổi, học vấn 31
Bảng 2.3: Số mẫu cá nhân điều tra theo tiêu chí thu nhập 31
Bảng 3.1: Nguồn vốn huy động của BIDV Thái Nguyên giai đoạn 2010-2012 40
Bảng 3.2: Huy động vốn và thị phần huy động vốn của các NHTM trên địa bàn cuối các năm 2010 - 2012 41
Bảng 3.3: Dư nợ của BIDV Thái Nguyên giai đoạn 2010-2012 42
Bảng 3.4: Dư nợ tín dụng và thị phần dư nợ tín dụng của các NHTM trên địa bàn năm 2010-2012 43
Bảng 3.5: Kết quả hoạt động kinh doanh BIDV Thái Nguyên năm 2010 - 2012 45
Bảng 3.6: Các văn bản quy định trần lãi suất tiền gửi năm 2012 49
Bảng 3.7: Hệ thống mạng lưới của BIDV Thái Nguyên và các NHTM trên địa bàn năm 2012 53
Bảng 3.8: Tiêu thức Phân đoạn khách hàng tiền gửi tại BIDV 60
Bảng 3.9: Phân đoạn khách hàng tiền gửi tại BIDV Thái Nguyên 61
Bảng 3.10: Huy động vốn dân cư và thị phần huy động vốn dân cư của các NHTM trên địa bàn cuối năm 2010 - 2012 61
Bảng 3.11: Tỷ trọng nguồn vốn huy động từ dân cư trong tổng nguồn vốn huy động của các ngân hàng trên địa bàn năm 2012 62
Bảng 3.12: Quy mô tăng trưởng huy động vốn của BIDV phân theo khách hàng giai đoạn 2010-2012 63
Bảng 3.13: Tỷ trọng nguồn vốn huy động dân cư trong tổng nguồn huy động năm 2010-2012 64
Bảng 3.14: Nguồn vốn huy động dân cư phân theo kỳ hạn 64
Bảng 3.15: Nguồn vốn huy động dân cư phân theo loại tiền 65
Bảng 3.16: Số lượng khách hàng cá nhân, khách hàng sử dụng sản phẩm huy động vốn dân cư năm 2010-2012 67
Bảng 3.17: Kết quả và cơ cấu huy động vốn từ dân cư theo nhóm khách hàng từ 2010-2012 68
Trang 9Bảng 3.18: Mức độ hài lòng của khách hàng 71Biểu 3.19: Thông báo lãi suất của BIDV Thái Nguyên, Vietinbank Thái Nguyên,
Agribank Thái Nguyên ngày 24/12/2012 72Bảng 3.20: Mức độ trung thành của khách hàng đối với BIDV Thái Nguyên 73Bảng 4.1: Dự kiến kế hoạch đến 2015 huy động vốn dân cư (HĐVDC) của toàn hệ
thống BIDV 84Bảng 4.2: Dự kiến kế hoạch đến 2015 huy động vốn dân cư (HĐVDC) của BIDV
Thái Nguyên 85
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh BIDV Thái Nguyên 51 Biểu đồ 3.2 Các nhân tố tác động đến quyết định sử dụng sản phẩm huy động vốn
của khách hàng 69 Biểu đồ 3.3 Kênh thông tin quảng bá thương hiệu và các sản phẩm huy động vốn
được quan tâm 70
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải
có vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh
Riêng đối với Ngân hàng - doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt là “tiền
tệ”, với đặc thù hoạt động kinh doanh là “đi vay để cho vay”, vốn đóng vai trò hết
sức quan trọng
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu, mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ cho khách hàng.1
Với một quốc gia trên 90 triệu dân như Việt Nam, dân cư là thị trường huy động đầy tiềm năng của các ngân hàng thương mại (NHTM) Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khi kinh tế vĩ mô có nhiều bất ổn cũng như đứng trước sức ép cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM, hoạt động huy động vốn từ dân cư của các NHTM nói chung và Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nói riêng gặp nhiều khó khăn Đặc biệt, từ năm 2011 đến nay, trần lãi suất được Ngân hàng Nhà nước thiết lập và dần hạ xuống đã làm giảm tính hấp dẫn của kênh gửi tiền đối với dân cư Chính vì vậy, một yêu cầu đặt ra cho các NHTM
là phải đưa ra các chiến lược huy động phù hợp để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn
Với tầm nhìn đến năm 2015, BIDV trở thành NHTM hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực Ngân hàng bán lẻ (NHBL), ngang tầm với các ngân hàng thương mại tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á; cung cấp các sản phẩm, dịch vụ NHBL đồng
bộ, đa dạng chất lượng tốt nhất phù hợp với các phân đoạn khách hàng mục tiêu; huy động vốn từ dân cư được Ngân hàng xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong toàn
bộ hoạt động của ngân hàng
Việc xem xét đánh giá khả năng huy động vốn, những khó khăn, trở ngại và nguyên nhân của nó Từ đó đề ra những giải pháp đẩy mạnh hoạt động huy động vốn từ dân cư là việc làm cần thiết
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã chọn nội dung “Đẩy mạnh hoạt động huy
động vốn từ dân cư tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp thạc
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu, phân tích thực trạng và đánh giá hoạt động huy động vốn từ dân cư tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thái Nguyên (BIDV Thái Nguyên) từ đó đưa ra những giải pháp cũng như kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động huy động vốn từ dân cư tại BIDV Thái Nguyên
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về nguồn vốn, hoạt động huy động vốn, huy động vốn từ dân cư của Ngân hàng Thương mại, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn từ dân cư
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn từ dân cư tại BIDV Thái Nguyên trên cơ sở đi sâu vào các điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình thực hiện
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động huy động vốn từ dân
cư tại BIDV Thái Nguyên
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Huy động vốn từ dân cư tại BIDV Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn từ dân cư tại BIDV Thái Nguyên
- Về không gian: Đề tài được thực hiện tại BIDV Thái Nguyên
- Về thời gian: Số liệu nghiên cứu phân tích trong 3 năm (2010-2012)
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
- Về ý nghĩa khoa học, đề tài góp phần hệ thống hoá và hoàn thiện lý luận về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại đặc biệt là huy động vốn dân
cư Áp dụng cả phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp định tính để phân tích thực trạng, từ đó đề xuất một số giải pháp trên cơ sở những căn cứ đảm bảo tính khoa học
Trang 14- Về thực tiễn, nghiên cứu này được triển khai góp phần giải quyết một thực tế
mà BIDV cũng như nhiều ngân hàng thương mại khác đang phải đối mặt, đó là mục tiêu phát triển, giành thị phần nhưng gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động trong đó
có hoạt động huy động vốn dân cư
* Tính mới của luận văn:
- Hoạt động huy động vốn và huy động vốn dân cư đã được các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các nghiên cứu sinh thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng nghiên cứu dưới nhiều giác độ khác nhau và đã đạt được những kết quả nhất định Một số công trình nghiên cứu đáng chú ý như:
+ Luận văn thạc sỹ kinh tế (2011) “Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Chi
nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thái Nguyên”, tác giả Trần Thị Thúy đã có
những nghiên cứu, phân tích về hoạt động huy động vốn tại BIDV Thái Nguyên song nội dung hướng tới đánh giá tổng quan chung về huy động vốn (gồm cả cá nhân, doanh nghiệp), chưa đi sâu phân tích đến huy động vốn dân cư
+ Luận văn thạc sỹ kinh tế (2012): “Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên”,của tác giả Nguyễn Xuân Dương, nội dung chủ yếu nghiên cứu
các hoạt động ngân hàng bán lẻ, chưa chi tiết đến hoạt động huy động vốn dân cư
Qua quá trình tìm hiểu và khảo sát tại BIDV Thái Nguyên đến thời điểm
hiện tại tác giả chưa thấy đề tài nào nghiên cứu về “Đẩy mạnh hoạt động huy động
vốn từ dân cư tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thái Nguyên”
Đây là nghiên cứu đầu tiên về hoạt động huy động vốn dân cư của BIDV tại tỉnh Thái Nguyên sau thời kỳ tăng trưởng nóng của nền kinh tế Nghiên cứu này sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, nghiên cứu khảo sát thăm dò để tìm ra các nhân tố có ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn dân cư
Trên cơ sở kết quả phân tích thực trạng và kết quả điều tra, tác giả đề xuất những giải pháp mới có tính khả thi để thực thi trong hoạt động huy động vốn dân
cư tại địa bàn nghiên cứu, góp phần nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của BIDV Thái Nguyên trong bối cảnh kinh tế cả nước nói chung và địa phương nói riêng còn nhiều khó khăn, bất ổn
Trang 155 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của Luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động vốn từ dân cư
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Chương 3: Thực trạng hoạt động huy động vốn từ dân cư tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thái Nguyên
- Chương 4:Giải pháp đẩy mạnh hoạt động huy động vốn từ dân cư tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thái Nguyên
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ DÂN CƯ 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.Tổng quan về nguồn vốn và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Vốn của ngân hàng thương mại (sau đây gọi là ngân hàng hoặc NHTM) có thể hiểu là những giá trị tiền tệ được NHTM tạo lập bằng các hoạt động huy động,
đi vay để đáp ứng những hoạt động sử dụng vốn như cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác Vốn của ngân hàng gồm: vốn chủ sở hữu và vốn nợ.2
* Vốn chủ sở hữu: Đây là là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được,
thuộc sở hữu của ngân hàng Nó mang tính ổn định và là loại vốn ngân hàng có thể
sử dụng lâu dài để tài trợ cho tài sản cố định của ngân hàng (nhà cửa, máy móc, trang thiết bị…) Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng cũng như yêu cầu và sự phát triển của thị trường Trong đó có:
+ Nguồn vốn hình thành ban đầu: Ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đặc thù, do đó để được pháp luật cho phép hoạt động, nguồn vốn ban đầu phải đáp ứng mức tối thiểu, được gọi là vốn pháp định Tuỳ theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau Đối với ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, nguồn này được cấp từ ngân sách Nhà nước Đối với ngân hàng cổ phần, các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần Đối với ngân hàng liên doanh, vốn hình thành ban đầu do các bên liên doanh góp
+ Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn, ngân hàng có thể bổ sung vốn chủ sở hữu tùy từng điều kiện cụ thể Trong đó, nguồn bổ sung quan trọng nhằm tái đầu tư là thu nhập ròng Tỷ lệ tích lũy phụ thuộc vào vào sự cân nhắc giữa tích lũy và tiêu dùng của chủ ngân hàng Ngoài
ra, vốn chủ sở hữu có thể được bổ sung một cách không thường xuyên thông qua
2
Phan Thị Thu Hà (2009), Quản Trị Ngân hàng Thương mại, Nhà xuất bản giao thông vận tải, Thành phố
Hồ Chí Minh
Trang 17phát hành thêm cổ phần, vốn góp thêm của các thành viên hay được ngân sách Nhà nước cấp phát thêm
+ Các quỹ: Nguồn gốc của quỹ được trích từ lợi nhuận sau thuế, mỗi quỹ có mục đích riêng Quỹ dự phòng tổn thất được trích lập hàng năm và được tích luỹ lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra Quỹ bảo toàn vốn nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác động của lạm phát Quỹ thặng dư là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới Tuỳ theo quy định cụ thể, các ngân hàng còn có thể có quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, …
+ Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng mà có khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận của vốn sở hữu của ngân hàng (vốn bổ sung) do nguồn này có thể sử dụng lâu dài và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn
* Vốn nợ: là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ
chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn để kinh doanh Vốn nợ
là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng có quyền sử dụng và phải hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn Nguồn vốn này luôn biến động, tuy nhiên nó đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động của ngân hàng Vốn nợ gồm:
+ Tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn, bao gồm các khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế (TCKT), cá nhân, tổ chức tín dụng (TCTD)… Tiền gửi được NHTM huy động dưới nhiều hình thức khác nhau:
* Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán): Là loại tiền gửi có thể rút ra
bất kỳ lúc nào theo yêu cầu của người gửi Đối với loại tiền gửi này, lãi suất thường thấp hơn lãi suất trả cho các khoản tiền gửi có lãi khác nhưng khi khách hàng mở và
sử dụng tài khoản này thì ngân hàng cung ứng các loại dịch vụ miễn phí hoặc với mức phí rất thấp Do vậy tài khoản này đem lại cho khách hàng sự an toàn trong việc thanh toán và bảo quản vốn Còn ngân hàng phải bỏ ra một số chi phí cho bộ máy kế toán theo dõi và ghi chép các nghiệp vụ phát sinh, chi phí phát hành séc, chi phí bảo hiểm tiền gửi Chi phí này khá lớn nhưng nó được bù đắp lại bởi trên thực
tế, do lượng tiền gửi vào và rút ra không cùng một lúc và chủ tài khoản thường
Trang 18không dùng hết số tiền trên tài khoản của mình, số dư ấy ngân hàng được phép dùng
để đầu tư, cho vay đối với các doanh nghiệp, TCTD hay các cá nhân thiếu vốn kinh doanh để thu lợi nhuận Do tính chất thường xuyên biến động nên ngân hàng không thể định ra kế hoạch sử dụng trước được mà chỉ dựa vào kinh nghiệm quản lý, ngân hàng có thể tận dụng ở một mức độ cho phép
* Tiền gửi có kỳ hạn (của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội): là khoản
tiền tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định Khoảng thời gian này được xác định trước Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút tiền ra khi đến hạn và được hưởng số tiền lãi trên
số tiền gửi đó,không được sử dụng các hình thức thanh toán như đối với tiền gửi thanh toán Hiện nay, để thu hút vốn các NHTM cho phép khách hàng rút tiền trước
kỳ hạn nhưng khách hàng không được hưởng lãi suất ấn định trước mà chỉ được hưởng theo lãi suất của loại tiền gửi không kỳ hạn Do tính chất của nguồn này tương đối ổn định ngân hàng lại có thể sử dụng được phần lớn số dư từ loại nguồn vốn này
để cho vay trung và dài hạn nên đã tạo điều kiện cho ngân hàng trong quá trình kinh doanh Để thu hút được nhiều khách hàng ngân hàng đã đưa ra nhiều loại kỳ hạn với các mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng
* Tiền gửi tiết kiệm: Đây được coi là công cụ huy động truyền thống của
ngân hàng, là khoản tiền để dành của mỗi cá nhân gửi vào ngân hàng Khách hàng nhận được một sổ tiết kiệm - đây được coi như giấy chứng nhận gửi tiền vào ngân hàng Đến thời hạn ghi trên sổ, khách hàng rút tiền ra và được nhận một khoản tiền lãi trên tổng số tiền gửi tiết kiệm
* Tiền gửi của TCTD khác: Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số
mục đích khác, các NHTM có thể mở tài khoản tiền gửi ở các NHTM khác Tuy nhiên, quy mô của nguồn này thường không lớn
+ Tiền vay: Bên cạnh tiền gửi - nguồn quan trọng nhất của NHTM, các NHTM còn có thể vay mượn thêm Tại nhiều nước, ngân hàng Trung ương còn quy định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn của chủ sở hữu Do vậy nhiều ngân hàng vào những giai đoạn cụ thể phải đi vay để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế
Trang 19* Vay ngân hàng Trung ương: Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu
thanh khoản cấp bách của ngân hàng thương mại Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc,dự trữ thanh toán), NHTM thường vay NHNN Hình thức cho vay chủ yếu là tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn) thông qua công cụ là các giấy tờ có giá (thương phiếu, trái phiếu…) Khi có nhu cầu, các NHTM mang những giấy tờ
có giá này lên tái chiết khấu tại NHNN Nghiệp vụ này làm tài sản là giấy tờ có giá của NHTM giảm đi và dự trữ (tiền mặt hoặc tiền gửi tại các ngân hàng Nhà nước) tăng lên Nghiệp vụ này được NHNN điều hành, kiểm soát một cách chặt chẽ Thông thường, NHNN chỉ tái chiết khấu cho những giấy tờ có giá có chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của ngân hàng trong từng thời kì Trong điều kiện chưa có giấy tờ có giá, NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.3
* Vay các TCTD khác: Đây là nguồn vay mượn lẫn nhau giữa ngân hàng và
các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do dồi dào về nguồn huy động hoặc có nhu cầu giảm cho vay sẽ có thể cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn Ngược lại các ngân hàng thiếu hụt dự trữ lại có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản.Như vậy nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN Quá trình vay mượn rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý (hoặc NHNN) Khoản vay
có thể không cần đảm bảo hoặc có thể đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và của ngân hàng đi vay tăng lên
* Vay trên thị trường vốn: Giống tương tự như các doanh nghiệp khác,các
ngân hàng cũng vay mượn bằng cách phát hành các công cụ nợ (kì phiếu,tín phiếu,trái phiếu…) trên thị trường vốn Do thiếu nguồn tiền gửi trung dài hạn, nhiều NHTM không cân đối được nhu cầu cho vay trung dài hạn Vì vậy, NHTM phát hành các công cụ nợ để bổ sung thiếu hụt nguồn tiền gửi trung dài hạn Thông thường đây là khoản tiền không đảm bảo, những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi
3
Phan Thị Thu Hà (2009), Quản Trị Ngân hàng Thương mại, Nhà xuất bản giao thông vận tải, Thành phố
Trang 20suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này, họ thường phải vay mượn thông qua các ngân hàng đại lí hoặc được báo lãnh của ngân hàng Đầu tư Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính,tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ
nợ dài hạn của ngân hàng Đây là nghiệp vụ tương đối phức tạp, đòi hỏi các ngân hàng phải nghiên cứu kĩ thị trường để quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp
+ Các nguồn khác: Bao gồm nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán và các nguồn khác
Nguồn uỷ thác: NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay,uỷ
thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ… Các hoạt động này tạo nên nguồn uỷ thác tại ngân hàng Cùng với sự phát triển của các mối quan hệ đa phương, rất nhiều các tổ chức kinh tế xã hội có cùng mục tiêu phát triển của ngân hàng,có nguồn tài chính, đã sử dụng mạng lưới ngân sách như các kênh dẫn vốn tới các mục tiêu.Kết quả là hình thành các nguồn ủy thác, làm gia tăng nguồn vốn ngân hàng
Tiền trong thanh toán: Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt cũng
có thể hình thành nguồn trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ
mở thư tín dụng…) Những ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư từ tiền của các ngân hàng thành viên để chuyển về thực hiện cho vay
Tiền khác: là các khoản nợ khác như các khoản thuế phải nộp ngân sách Nhà
nước, các khoản nợ lương…
1.1.1.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh Ngân hàng
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt là “tiền tệ’’ với đặc thù hoạt động kinh doanh là đi vay để đem cho vay, nên nguồn vốn có vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nó còn phản ánh năng lực cạnh tranh, quyết định khả năng kinh doanh của mỗi ngân hàng Như vậy, vốn được coi là yếu tố quyết định đến khả năng sinh lời, sức cạnh tranh, cũng như khả năng phòng chống rủi ro của NHTM.4
* Vốn quyết định đến quy mô hoạt động tín dụng của ngân hàng: Một
NHTM có nguồn vốn lớn, dồi dào sẽ là điều kiện tiên quyết để ngân hàng đó thực hiện đa dạng hoá các sản phẩm của mình để đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của
4
Nguyễn Minh Kiều (2008), Nghiệp vụ ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội
Trang 21khách hàng Không những vậy, nó còn giúp các NHTM chủ động hơn trong việc quyết định thực hiện chiến lược kinh doanh của mình, tạo ra một hình ảnh với ấn tượng riêng cho khách hàng Từ đó sẽ tạo được sức hút đối với khách hàng, góp phần mở rộng quy mô hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng
+ Trong các nguồn vốn của NHTM, phải kể đến đầu tiên đó là vốn tự có Vốn tự có của ngân hàng một phần được sử dụng để xây dựng, thuê trụ sở, mở rộng mạng lưới chi nhánh, mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị, đồng thời cũng là căn cứ để giới hạn các hoạt động kinh doanh tiền tệ bao gồm cả hoạt động tín dụng Vai trò quản lý, điều tiết thị trường của NHNN được thể hiện qua các quy định về tỷ
lệ cho vay, tỷ lệ huy động vốn trên vốn tự có của các NHTM nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng và đảm bảo quyền, cũng như lợi ích hợp pháp của người gửi tiền ví dụ như mức cho vay một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có Qua những quy định của NHNN đối với các NHTM ta có thể thấy vốn tự có là một nhân tố quyết định tới hoạt động tín dụng, cũng như khả năng huy động vốn của NHTM vì thế những NHTM có lượng vốn tự có càng lớn thì khả năng huy động vốn, quy mô hoạt động tín dụng càng lớn và ngược lại
+ Bên cạnh đó, chúng ta cần phải kể đến nguồn vốn huy động, bởi không những vốn tự có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà nguồn vốn huy động cũng ảnh hưởng rất lớn đến những hoạt động này Ta có thể thấy, vốn tự
có rất quan trọng nhưng chỉ chiếm một phần nhỏ trong cơ cấu tổng nguồn vốn của ngân hàng Trong khi đó, nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất và là nguồn vốn chủ yếu để các NHTM tiến hành những hoạt động kinh doanh của mình Do đó, ngân hàng nào có lượng vốn huy động được càng lớn thì khả năng cấp tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế càng lớn và các hoạt động khác càng được mở rộng
*Vốn quyết định đến khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của các ngân
hàng thương mại trên thị trường:Tham gia vào hoạt động kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường, uy tín là vấn đề mà bất cứ tổ chức kinh tế nào cũng cần đặt lên hàng đầu, đặc biệt đối với các NHTM thì nó được coi là vấn đề sống còn Một NHTM có uy tín, sẽ là điều kiện để ngân hàng đó có thể dễ dàng huy động được nguồn tiền nhàn rỗi từ các cá nhân, tổ chức kinh tế trong nền kinh tế… Nhưng để
Trang 22có được uy tín đó, trước hết các ngân hàng phải luôn đảm bảo sẵn sàng thanh toán các khoản tiền gửi cho khách hàng Với một nguồn vốn có quy mô đủ lớn sẽ giúp ngân hàng có khả năng chống đỡ tốt hơn đối với việc rút tiền đồng loạt vào một thời điểm nhất định của khách hàng Đồng thời, khi có nguồn vốn lớn, các ngân hàng còn có thể quyết định dự trữ thứ cấp lớn hơn tức là thực hiện đầu tư vào các giấy tờ có giá có tính lỏng cao
*Vốn ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường: Như đã
biết, đối với một tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường thì năng lực cạnh tranh có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
tổ chức đó Nhận thức được điều đó, các NHTM luôn tìm mọi cách để nâng cao năng lực này Và để tạo ra được sức mạnh cạnh tranh, các NHTM cần có vốn Khi NHTM có nguồn vốn đủ lớn sẽ dành ưu thế hơn so với các ngân hàng khác cả về giá và chất lượng các sản phẩm, dịch vụ mà mình cung cấp Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng có thể đa dạng hoá các loại hình dịch vụ để đáp ứng tốt những nhu cầu khác nhau của khách hàng từ đó tạo sức hút khách hàng đến với ngân hàng, góp phần mở rộng thị trường
1.1.1.3 Hoạt động huy động vốn của NHTM
Huy động vốn là một nghiệp vụ cơ bản của NHTM nhằm thu hút vốn từ các
tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế để phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình Hoạt động huy động vốn của ngân hàng có thể được chia thành các nhóm đối tượng
để thực hiện hoạt động huy động, bao gồm các nhóm sau:
+ Huy động vốn từ khu vực dân cư: Bộ phận dân cư được coi là bộ phận thường xuyên có nguồn tiền nhàn rỗi do tạm thời chưa dùng đến hoặc do tâm lý, thói quen tích lũy tiền ở hiện tại để phục vụ cho nhu cầu tài chính trong tương lai Trong nền kinh tế thị trường, các trung gian tài chính phát triển mạnh mẽ tạo cho người dân có rất nhiều lựa chọn để tích lũy vốn Trước hết họ có thể giữ tiền trong két sắt nhưng việc giữ tiền như vậy sẽ không an toàn, hơn nữa đồng tiền để trong két sắt có thể bị mất giá do lạm phát ngày càng có xu hướng tăng cao Lựa chọn thứ hai, họ có thể mua cổ phiếu của các công ty cổ phần hoặc mua trái phiếu của chính phủ và các công ty; việc đầu tư vào chứng khoán mang lại lợi
Trang 23nhuận cao song hoạt động này lại chứa đựng nhiều rủi ro hoặc ít có khả năng thanh toán Do đó, họ có lựa chọn thứ ba do ngân hàng mang lại đó là gửi tiền vào ngân hàng để vừa giữ được vốn tích lũy của mình một cách an toàn, lại vừa thu được một khoản tiền lãi nhất định Đa số người dân đều không thích rủi ro, mạo hiểm, không biết đầu tư số tiền nhàn rỗi vào đâu nhưng vẫn muốn khoản tiền của mình sinh lời nên đây là nguồn có tiềm năng rất lớn và tính ổn định cao Nếu tiếp cận và khai thác nguồn này một cách có hiệu quả sẽ đem lại cho ngân hàng nguồn vốn dồi dào phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình Ngân hàng huy động nguồn này qua các hình thức như tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi,
+ Huy động vốn từ các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một bộ phận vốn nhàn rỗi tạm thời như khấu hao đã trích nhưng chưa đem vào sử dụng chính thức, tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên vật liệu đầu vào; trả lương; các quỹ đầu tư phát triển, phúc lợi, khen thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng đến Để đảm bảo an toàn tài sản mà đồng vốn vẫn sinh lời, các tổ chức kinh tế có thể gửi số vốn đó vào ngân hàng, hoặc để thuận tiện cho quá trình sử dụng vốn doanh nghiệp có thể thanh toán qua ngân hàng cũng như sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng Khi đó doanh nghiệp cần phải gửi vốn vào ngân hàng dưới hình thức mở tài khoản tiền gửi thanh toán Đây là nguồn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động được của ngân hàng nhưng lại chứa đựng nhiều biến động nhất do nhu cầu thu chi của doanh nghiệp thay đổi thường xuyên theo chu kỳ hoạt động
Duy trì và tăng trưởng nguồn này cũng là một trong những mục tiêu chiến lược của ngân hàng so chi phí huy động từ nguồn này thấp mà ngân hàng lại thu được nhiều phí dịch vụ cũng như có thể đầu tư sinh lời trên số vố đó
+ Đi vay NHNN và các TCTD khác: Khi các NHTM có sự mất cân đối giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn, xảy ra hiện tượng thiếu vốn đột xuất Để đảm bảo khả năng thanh toán của mình, các tổ chức tín dụng vay vốn của nhau qua thị trường liên ngân hàng Thị trường này giúp cho NHTM bổ sung nguồn vốn cho nhau, nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt vốn trong thanh toán Nguồn vốn này tuy
Trang 24không thường xuyên và ngân hàng chỉ huy động khi thực sự cần thiết nhưng nó có thể cung cấp vốn trong thời gian rất ngắn giúp ngân hàng tận dụng được các cơ hội kinh doanh hấp dẫn Có thể nói hoạt động của thị trường này đã tận dụng đến mức cao nhất các khả năng sẵn có của các tổ chức tín dụng, trước khi có nhu cầu vay vốn của NHNN Việc thực hiện quan hệ tín dụng giữa các NHTM phải được tiến hành theo nguyên tắc đi vay cho vay và phải được thoả thuận trên cơ sở hợp đồng tín dụng, vốn vay phải đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố (tiền mặt tại quĩ và các chứng từ
có giá trị), hay NHTM đi vay có thể xin ngân hàng Nhà nước bảo lãnh để vay vốn các ngân hàng khác Các ngân hàng đi vay phải chấp hành đầy đủ các quy chế dự trữ bắt buộc và an toàn vốn, phải có tài khoản tiền gửi thanh toán hoạt động thường xuyên tại NHNN.Khi các NHTM đã hết khả năng vay mượn của nhau mà vẫn thiếu vốn hoặc mất khả năng thanh toán, các NHTM thực hiện vay vốn tại NHNN để tạo thêm nguồn vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh của mình Việc NHNN cho các NHTM vay đã làm tăng khả năng thanh toán cho các NHTM Nguồn vốn của NHNN là nguồn vốn cuối cùng, làm cho khả năng thanh toán của nền kinh tế được bình thường Nếu như thiếu nguồn vốn này thì sẽ xuất hiện các cuộc khủng hoảng tài chính khi các NHTM mất khả năng thanh toán Tuy nhiên các NHTM thường hạn chế đi vay NHNN và chỉ vay khi các nguồn trên chưa huy động được vì phải đáp ứng nhiều điều kiện mới có thể nhận được vốn từ nguồn này và việc vay vốn này còn phải phù hợp với chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nguồn vốn này cũng
có tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM nhưng lại là nguồn “cứu cánh” cuối cùng khi các NHTM lâm vào trạng thái khủng hoảng.Tóm lại các nguồn vốn đi vay từ các tổ chức tín dụng khác, từ NHNN để đảm bảo khả năng thanh toán chỉ được thực hiện trong những trường hợp thật sự cần thiết Cho nên thời hạn vay thường ngắn, lãi suất thường cao hơn các hình thức huy động vốn khác của NHTM
1.1.2 Hoạt động huy động vốn từ dân cư của NHTM
1.1.2.1 Nguồn vốn từ dân cư của NHTM
* Khái niệm: Nguồn vốn từ dân cư là một phần của vốn nợ mà NHTM có được
thông qua việc huy động vốn từ các cá nhân trong xã hội nhằm phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình.Theo như phân tích ở trên, ta có thể dễ dàng thấy được
Trang 25dân cư chính là bộ phận thường xuyên có nguồn tiền nhàn rỗi và đây chính là mục tiêu nhắm đến của các NHTM trong quá trình huy động vốn của mình
* Đặc điểm của nguồn vốn huy động từ dân cư: Gia tăng vốn huy động từ dân
cư luôn là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các NHTM Hiện nay các NHTM luôn tìm mọi cách để duy trì và thu hút thêm càng nhiều vốn huy động từ dân cư bởi những đặc điểm rất quan trọng của nguồn vốn này đối với các hoạt động kinh doanh của NHTM:
+Trước hết, đây là nguồn vốn có quy mô lớn trong tổng nguồn vốn huy động của NHTM Điều này là do bản chất của những khoản huy động từ dân cư chính là những khoản tiền nhàn rỗi nhất trong xã hội và được tiết kiệm để tái đầu tư sinh lời thông qua NHTM Chính vì vậy mà chi phí huy động vốn từ dân cư sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí huy động chung của tổng nguồn vốn huy động và là một trong những chỉ tiêu quan trọng để NHTM quyết định lãi suất cho vay
Thứ hai, vốn huy động từ dân cư là nguồn ổn định nhất, là cơ sở để NHTM quyết định tỷ lệ cho vay và tỷ lệ dự trữ Vốn huy động từ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế xã hội hay từ các tổ chức tín dụng khác thường không ổn định do sự chuyển động liên tục của các dòng tiền trong nền kinh tế Còn vốn chủ sở hữu có chi phí huy động rất lớn nên không có hiệu quả cao khi cho vay; trong khi đó, vốn huy động từ dân cư có tính chất ổn định do người dân khi gửi tiền vào ngân hàng thường do mục đích tích lũy để tiêu dùng cho những nhu cầu tài chính trong tương lai, do đó có kế hoạch và có thể dự báo được thời điểm tăng giảm
Thứ ba, vốn huy động từ dân cư là nguồn tiền có thời hạn tương đối dài, là tiền để NHTM cho vay trung và dài hạn Điều này được quyết định bởi hành vi tích lũy của người dân khi gửi tiền Các nguồn khác lãi suất cao nên không thể có được thời hạn dài, hoặc vay của các tổ chức kinh tế xã hội thì thời hạn thường rất ngắn hoặc không kỳ hạn do việc sử dụng vốn thường xuyên của các tổ chức này
Thứ tư, do nguồn là ổn định và có quy mô lớn nên vốn huy động từ dân cư
có vai trò chủ chốt trong việc các NHTM ra quyết định cung ứng vốn cho nền kinh
tế Nếu nguồn này nhỏ, các NHTM sẽ không thể cho vay được nhiều cũng như thực hiện các hoạt động đầu tư khác Tuy nhiên, nếu nguồn vốn này quá lớn, trong khi
Trang 26khả năng cho vay của các NHTM có hạn sẽ làm cho chi phí hoạt động của NHTM
bị đẩy lên rất cao, làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Ngoài ra, tổng nguồn vốn huy động từ dân cư của các NHTM tăng trưởng sẽ là “nguồn bổ sung rất lớn cho nền kinh tế”, giúp Nhà nước giảm bớt gánh nặng cung cấp vốn cho các chương trình Quốc gia, giúp cho các doanh nghiệp có khả năng tài chính lớn mạnh
để đầu tư sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và tăng thu nhập cho nền kinh tế
Như vậy, vốn huy động từ dân cư không chỉ là một nguồn huy động chủ yếu,
mà còn là đòn bẩy hoạt động của nền kinh tế Các NHTM phải luôn coi trọng nguồn vốn này và có các biện pháp duy trì, ổn định và phát triển sao cho có hiệu quả nhất
1.1.2.2 Các hình thức huy động vốn từ dân cư của NHTM
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, thu nhập của người dân ngày càng một cao hơn Điều này đồng nghĩa với việc nguồn tiền tạm thời chưa được dùng đến cũng ngày một lớn, trong khi đó nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh cũng không ngừng tăng cao đã thúc đẩy các ngân hàng phải không ngừng tìm cách duy trì và tăng cường một bộ phận nguồn vốn quan trọng - luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của các NHTM này Ở các NHTM hiện nay, việc huy động vốn từ khu vực dân cư chủ yếu được thực hiện thông qua các hình thức sau :
* Tiền gửi thanh toán: Tiền gửi thanh toán hay còn gọi là tiền gửi có thể phát
séc (tiền gửi giao dịch, tiền gửi theo yêu cầu) Tiền gửi thanh toán gửi vào ngân hàng nhằm sử dụng các tiện ích do ngân hàng cung cấp như thanh toán hộ, chi trả
hộ, thu hộ Ngân hàng mại buộc các khách hàng muốn được ngân hàng cung cấp các loại dịch vụ ngân hàng thì cần phải có một lượng tiền kí quỹ tối thiểu, điều này giúp cho ngân hàng có thể sử dụng lượng vốn này Tiền gửi thanh toán có số dư tại ngân hàng, thời kì đầu có thể bị thu phí, về sau để khuyến khích khách hàng gửi tiền, ngân hàng không thu phí cho các số dư Về sau, các ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau, từ việc thu phí, đến không thu phí, ngân hàng thương mại còn trả lãi cho các số dư tại ngân hàng Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng ở tài khoản này không nhằm mục đích thu lãi, mà là sử dụng các tiện ích do các ngân hàng cung
Trang 27cấp như: khách hàng có thể thanh toán gửi rút tiền linh hoạt, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn dịch vụ, phát hành thẻ nội địa hoặc thẻ quốc tế,… Ngân hàng thường trả lãi rất thấp cho số dư từ tài khoản tiền gửi thanh toán vì vậy chi phí huy động vốn thấp Đây là ưu điểm của nguồn vốn này Nhưng tính ổn định của nó là kém
do khách hàng gửi vào đây với mục đích thanh toán nên họ có thể rút ra để chi trả, thanh toán bất cứ lúc nào, mà ngân hàng không được phép từ chối Biến động của tiền gửi thanh toán phụ thuộc vào nhu cầu rút vốn của khách hàng
* Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân gửi vào tài
khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác định trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi suất theo quy định của ngân hàng và được bảo hiểm theo quy định về bảo hiểm tiền gửi Từ lâu đây đã được coi là công cụ huy động vốn lưu truyền của các NHTM Vốn huy động từ các khoản tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tiền gửi Ngân hàng Tiền gửi tiết kiệm bao gồm các loại sau: loại không kỳ hạn, loại có kỳ hạn ngắn hạn và loại kỳ hạn dài hạn
+ Tiết kiệm không kỳ hạn: thực chất đây là khoản tiền gửi tiết kiệm thông thường Đối với khoản tiền này chủ tài khoản có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không phải báo trước Khi có nhu cầu khách hàng có thực hiện rút ra một phần hoặc toàn
bộ sổ tiết kiệm Lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thường rất thấp Khác với loại tiền gửi thanh toán, người gửi tiền không được sử dụng các công cụ thanh toán
để chi trả cho người khác Số dư tài khoản này thông thường không lớn nhưng ít biến động hơn so với các loại tiền gửi thanh toán
+ Tiết kiệm có kỳ hạn: loại hình tiết kiệm quen thuộc và phổ biến nhất Các NHTMcó thể huy động tiết kiệm với nhiều kỳ hạn khác nhau Về nguyên tắc, một khi khách hàng đã gửi tiền vào tài khoản này họ sẽ không được rút ra (cả gốc và lãi) trừ khi đã hết hạn gửi tiền Để tăng sức cạnh tranh trong thu hút tiền gửi, một số Ngân hàng thương mại vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước hạn Tuy nhiên, nhằm tránh việc khuyến khích khách hàng rút tiền trước hạn, một phần trong tiền lãi khách hàng được hưởng đã bị khấu trừ (có thể là Ngân hàng không chấp nhận trả lãi cho một số tháng nào đó hoặc cũng có thể khách hàng chỉ được hưởng một mức lãi
Trang 28Trong thời hạn gửi khách hàng không nộp thêm tiền vào sổ tiết kiệm, khách hàng chỉ được nộp thêm tiền vào ngày đáo hạn của sổ tiết kiệm Vào ngày đáo hạn, khách hàng không ra lĩnh, ngân hàng tự động chuyển sang một kỳ hạn tiếp theo hoặc kỳ hạn ngắn hơn liền kề nếu trong thời điểm đó ngân hàng không huy động kỳ hạn cũ Lãi suất của kỳ hạn tiếp theo được áp dụng theo lãi suất công bố tại thời điểm đáo hạn.Để huy động nguồn vốn này, ngân hàng cần chú ý tới nhu cầu tiết kiệm từ dân
cư, lượng tiền gửi phụ thuộc vào thu nhập của dân cư, vào xu hướng tiết kiệm, các đặc tính về dân số- xã hội, tình hình kinh tế xã hội Muốn huy động nguồn tiền gửi tiết kiệm , ngân hàng cần phải chú ý đến các yếu tố thuộc về khách hàng này và điều chỉnh lãi suất huy động cho phù hợp
*Huy động vốn qua phát hành công cụ nợ: Bên cạnh phương thức nhận tiền
gửi (tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm) các NHTM còn phát hành các loại giấy tờ có giá như: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu Thực chất các nghiệp này là ngân hàng huy động vốn tiền tệ bằng việc phát hành chứng chỉ có giá trị Trong đó chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định, trái phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn Các loại phiếu nợ trên được ngân hàng phát hành từng đợt, tùy theo mục đích.Việc huy động các chứng chỉ tiền gửi thuộc loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý tài sản nợ hơn là biện pháp để các Ngân hàng thương mại huy động vốn, bởi nó chỉ được sử dụng khi cần thiết Mức lãi được trả cho các chứng chỉ tiền gửi loại này được quy định ở mức
mà người gửi tiền có thể chấp nhận được.Xuất phát từ thực tế khách quan: những người mua chứng chỉ tiền gửi này rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất Để huy động được vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu thanh toán hay nhu cầu tín dụng, các Ngân hàng thương mại có thể đưa ra các mức lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi hoặc cũng có thể cao hơn mức lãi suất của trái phiếu kho bạc.Như vậy, khi thực hiện huy động vốn dưới hình thức này, các ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động Vốn này đủ được huy động trong một thời gian nhất định, khi đã huy động đủ
Trang 29khối lượng vốn theo dự kiến các Ngân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán) kỳ phiếu, trái phiếu
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn từ dân cư của NHTM
1.1.3.1.Các nhân tố thuộc về khách hàng
* Thu nhập: Thu nhập có thể được coi là yếu tố tiên quyết quyết định hành vi
gửi tiền của người dân Nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho thu nhập của người dân ngày càng cao hơn, các khoản chi tiêu cho những nhu cầu thiết yếu của đời sống vật chất và tinh thần cũng ngày một được đáp ứng đầy đủ hơn Với dòng thu nhập chưa có nhu cầu sử dụng đến ở hiện tại giúp họ nghĩ đến việc phải bảo toàn và đầu tư sinh lời trên số tiền dôi ra đó Và khi đó ngân hàng là một trong những địa chỉ mà họ tìm đến Thu nhập gia tăng là điều kiện để gia tăng quy mô và thay đổi kỳ hạn các nguồn huy động của ngân hàng Tuy nhiên, điều quan trọng là các NHTM cũng cần phải phân đoạn thị trường dân cư một cách hợp lý (có thể theo thu nhập, mục đích, ); các hoạt động marketing quảng bá các sản phẩm, dịch vụ phải hướng tới những thị trường có mức thu nhập cao hoặc có mức thu nhập tiềm năng lớn, qua
đó thu hút được nhiều sự quan tâm đến việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng cá nhân, nhờ đó làm gia tăng lượng tiền gửi vào ngân hàng
*Tâm lý tiêu dùng và sử dụng dịch vụ ngân hàng của người dân: Tâm lý tin
tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định lượng tiền gửi vào, rút
ra và ngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền trong tương lai sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt vốn là mối lo ngại lớn của mọi ngân hàng Một đặc điểm quan trọng của đối tượng khách hàng là mức độ thường xuyên của việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng Mức độ sử dụng càng cao, ngân hàng càng có điều kiện mở rộng việc huy động vốn
Người dân có được lượng tiền nhàn rỗi chủ yếu là nhờ việc tiết kiệm trong tiêu dùng của họ Thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng của người dân ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình huy động vốn của ngân hàng Nếu ở những vùng dân
cư quen sử dụng tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ thì việc huy động vốn của NHTM gặp khó khăn Còn khi người dân có nhu cầu hưởng lãi hoặc bảo quản tài sản thì họ gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn, do đó cơ hội huy động vốn của ngân
Trang 30hàng tăng lên.Ở những nước phát triển, nhu cầu giao dịch qua ngân hàng rất phát triển Hầu hết người dân có thu nhập đều mở tài khoản Séc để thanh toán qua NHTM Tuy nhiên ở những nước kém phát triển, thu nhập của người dân thấp, nhu cầu giao dịch thanh toán qua NHTM còn hạn chế nên ít có nhu cầu mở tài khoản tại ngân hàng Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thì trình
độ dân trí của người dân ngày càng được nâng cao Người dân gửi tiền vào ngân hàng không chỉ với mục đích hưởng lãi mà còn có mục đích sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp như các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, séc, thẻ tín dụng, thẻ rút tiền Và khi thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng của người dân được hình thành thì các NHTM sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc huy động vốn từ dân cư Có thể nói đây không phải là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng hiệu quả huy động vốn của ngân hàng nhưng nó có giá trị là nó khiến cho gần hết tiền nhàn rỗi của dân cư luân chuyển vào ngân hàng
Mặt khác, ta cũng có thể thấy tâm lý của người gửi tiền cũng có nhiều tác động đến lượng tiền gửi của khách hàng tại hệ thống NHTM Nếu khách hàng tin tưởng vào sự phát triển bền vững của ngân hàng trong tương lai thì sẽ tạo ra sự ổn định trong lượng tiền gửi vào, rút ra; còn trong điều kiện nền kinh tế bất ổn, tâm lý
lo lắng sẽ gây nên hiện tượng rút tiền hàng loạt Do đó, các NHTM phải nắm bắt được yếu tố tâm lý của khách hàng, từ đó đưa ra được các hình thức huy động vốn phù hợp nhằm thu hút nhiều hơn nữa lượng tiền nhàn rỗi của dân cư, gia tăng nguồn vốn cho ngân hàng
1.1.3.2 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
* Chính sách lãi suất: Là một nhân tố quan trọng, có tác động mạnh đến việc
huy động vốn của NHTM; đặc biệt là đối với các khoản vốn mà người gửi đầu tư vào ngân hàng với mục đích hưởng lãi Chính sách lãi suất bao gồm các chính sách, quyết định liên quan đến lãi suất của một ngân hàng trong một thời kỳ nhất định.Việc duy trì cạnh tranh lãi suất tiền gửi giữa các NHTM với nhau đã giữ vị trí quan trọng trong việc thu hút những khoản tiền gửi của khách hàng mới và duy trì lượng tiền gửi hiện có Điều này lại càng đúng khi lãi suất huy động trên thị trường
ở mức tương đối cao Các NHTM cạnh tranh vốn không chỉ với nhau mà còn với
Trang 31các tổ chức tiết kiệm khác trên thị trường tiền tệ và với những nhà phát hành những công cụ tài chính khác trong thị trường tài chính Hơn nữa, trong thời kỳ khan hiếm tiền gửi, một chút khác biệt dù nhỏ về lãi suất huy động cũng sẽ thúc đẩy người gửi tiền và nhà đầu tư chuyển vốn của mình từ ngân hàng này sang ngân hàng khác hoặc từ hình thức đầu tư này sang loại hình đầu tư khác.Do đó, chỉ một sự khác biệt nhỏ về lãi suất có thể đẩy dòng vốn nhàn rỗi trong xã hội đầu tư theo những chiều hướng khác nhau Và đó cũng là lý do, động lực để các nhà đầu tư hoặc người gửi tiền chuyển vốn từ ngân hàng này sang ngân hàng khác.Tóm lại, để xác định một mức lãi suất hợp lý, linh hoạt và có tính cạnh tranh là một vấn đề vô cùng quan trọng, phải được nghiên cứu, cân nhắc, tính toán tỷ mỉ và toàn diện Tuy nhiên, ngân hàng phải tính toán sao cho lãi suất vừa có tính cạnh tranh, vừa phải đảm bảo được chi phí đầu vào thấp nhất mà kinh doanh vẫn có lãi
* Chính sách khách hàng: Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay
gắt, do vậy ngoài sản phẩm tiện ích, phong cách phục vụ chuyên nghiệp của cán bộ thì chính sách khách hàng là một nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của NHTM, trong đó có chính sách dành cho khách hàng bán lẻ Chính sách chăm sóc khách hàng - khuyến mại, tặng quà, miễn phí sử dụng dịch vụ, chăm sóc khi khách hàng đến giao dịch, nhân dịp sinh nhật, lễ, tết… và chia khách hàng thành các phân đoạn phù hợp (khách hàng quan trọng, khách hàng thân thiết, khách hàng phổ thông) để chăm sóc và có chính sách bán hàng phù hợp với các phân đoạn khách hàng đó Khi khách hàng quyết định sử dụng một sản phẩm nào đó thì ngoài việc thỏa mãn về phong cách phục vụ, sự chuyên nghiệp của cán bộ, họ còn cần được sử dụng sản phẩm với chất lượng cao Do vậy hiện nay chính sách khách hàng luôn được các NHTM quan tâm và chú trọng xây dựng phù hợp với mục tiêu, định hướng từng thời kỳ và đây cũng chính là bí quyết, là thế mạnh trong cạnh tranh để phát triển giữa các NHTM
* Uy tín và vị thế của ngân hàng: Uy tín và vị thế của ngân hàng có ý nghĩa
quan trọng trong việc lựa chọn của khách hàng, thể hiện cụ thể ở năng lực tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, quá trình lịch sử, chất lượng marketing…Người gửi tiền thường lo sợ trước sự biến động thường xuyên của nền kinh tế Do đó họ thường có sự cân nhắc và lựa chọn Ngân hàng nào được họ thừa nhận là an toàn và
Trang 32thuận lợi nhất hay nói cách khác là có uy tín nhất đối với người gửi tiền Vì vậy, các ngân hàng thông qua hoạt động của mình, bằng chất lượng dịch vụ, công nghệ hiện đại và phong cách làm việc văn minh, lịch sự … thoả mãn tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng, là hành động thiết thực nhất nhằm nâng cao uy tín và vị thế của mình trên thị trường
*Các hình thức huy động và dịch vụ kèm theo:Hình thức huy động vốn của
ngân hàng ngày càng phong phú, linh hoạt bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế càng lớn bấy nhiêu Đa dạng hoá sản phẩm trong lĩnh vực ngân hàng đã khó, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn lại càng nan giải hơn Tuy nhiên, các NHTM đã cho ra đời nhiều sản phẩm vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính hiện đại như: Tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, với sự phong phú về kỳ hạn, mệnh giá và chủng loại Qua đó từng bước đã thu hút được nhiều khác hàng hưởng ứng Một NHTM có sự đa dạng trong nghiệp vụ huy động vốn trong nền kinh tế, thoả mãn được nhu cầu của người gửi tiền; một sản phẩm phù hợp sẽ làm họ quan tâm và thúc dục họ gửi tiền vào ngân hàng hơn là tìm kiếm các hình thức đầu tư khác Vì vậy hình thức huy động và dịch vụ đi kèm trong huy động vốn có thể coi là” cuộc chạy đua” không có đích cuối cùng của các NHTM hiện nay
* Chính sách quảng cáo: Chính sách quảng cáo đóng vai trò quan trọng đối
với tất cả các ngành trong thời đại ngày nay, trong đó không loại trừ ngành ngân hàng Để tạo được hình ảnh đẹp trong con mắt khách hàng thì NHTM cần phải thực hiện đồng bộ nhiều yếu tố trong đó không thể không kể đến các hình thức quảng cáo như: Quảng cáo trên tạp chí, Panô, láp phích, Internet Việc tuyền truyền, quảng cáo để mọi tầng lớp dân cư hiểu biết về các thông tin là rất cần thiết Trên cơ
sở hiểu biết công tác huy động của ngân hàng thì người dân mới có thể nhiệt tình hưởng ứng
*Mạng lưới hoạt động kinh doanh ngân hàng: thể hiện qua việc phân bổ các
chi nhánh, phòng giao dịch Mạng lưới huy động được mở rộng không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền, mà còn thuận tiện cho việc áp dụng các chính sách khác của ngân hàng tới khách hàng Do đó, ngân hàng cần phát triển mạng lưới phục vụ khách hàng cả về chiều rộng và chiều sâu Về chiều sâu tức là nâng cao
Trang 33chất lượng phục vụ tại các chi nhánh, phòng giao dịch đó Về chiều rộng, ngân hàng cần mở rộng địa bàn hoạt động bằng cách đặt các chi nhánh, phòng giao dịch ở cả những vùng cách xa trung tâm kinh tế như nông thôn để tối đa hóa hiệu quả hoạt động huy động vốn Tuy nhiên, việc mở rộng mạng lưới cũng cần phải tính tới sự phù hợp với điều kiện năng lực của ngân hàng
* Cơ sở vật chất, trình độ công nghệ của ngân hàng: Cơ sở vật chất đầy đủ,
tiện nghi, công nghệ hiện đại là yếu tố đầu tiên thu hút sự chú ý của khách hàng Khách hàng luôn mong muốn tiến hành các giao dịch với một ngân hàng có trụ sở khang trang, bề thế, được trang bị các thiết bị hiện đại Cùng với việc đổi mới hoạt động NHTM, các NHTM ngày càng trang bị các công nghệ tiên tiến vào hoạt động NHTM, nhất là khâu thanh toán, làm cho vốn luân chuyển nhanh, thuận tiện, đảm bảo an toàn cho khách hàng trong quan hệ gửi tiền, rút tiền, vay vốn Nếu thực hiện tốt khâu này thì sẽ giảm bớt lưu thông tiền mặt vừa không hiệu quả, vừa không an toàn Nếu tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt tăng lên thì NHTM thu hút được các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế vào hệ thống NHTM Để thực hiện tốt vấn đề này ngân hàng cần phải trang bị những công nghệ hiện đại nhất, nhất là khâu thanh toán Mặt khác NHTM cần nghiên cứu đưa ra các hình thức huy động vốn thích hợp, chặt chẽ Từ đó tạo khâu thanh toán nhanh và kiểm soát được thuận tiện Đây
là một yếu tố rất quan trọng giúp ngân hàng cạnh tranh phi lãi suất vì khách hàng
mà ngân hàng phục vụ, không quan tâm đến lãi suất mà quan tâm đến chất lượng và loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng Với cùng một lãi suất huy động như nhau, ngân hàng nào cải tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện hơn cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn
* Đội ngũ cán bộ ngân hàng: Cách thức phục vụ của cán bộ NHTM đối với
khách hàng cũng có những ảnh hưởng lớn đến việc huy động vốn cho NHTM Hơn
ai hết, nhân viên ngân hàng là người trực tiếp giao tiếp với khách hàng Nếu cán bộ ngân hàng giao tiếp với khách hàng một cách lịch sự, nhã nhặn, nhiệt tình thì sẽ tạo được cảm tình tốt với khách hàng, tạo uy tín cho ngân hàng về phục vụ khách hàng
Vì vậy để thu hút khách hàng gửi tiền thì trong quá trình phục vụ, cán bộ ngân hàng
Trang 34không phải chỉ có trình độ chuyên môn về nghiệp vụ mà còn phải chú ý đến thái độ phục vụ của mình sao cho vừa lòng khách hàng
1.1.3.3.Các nhân tố khác
* Môi trường kinh tế: Động thái của nền kinh tế chính là cơ sở đầu tiên
để người gửi tiền ra quyết định nên gửi tiền vào Ngân hàng, tích trữ vàng, Đô
la Mỹ (USD) hay mua sắm các tài sản khác Trong điều kiện nền kinh tế bất ổn định, giá cả và sức mua của đồng tiền biến động mạnh thì người dân có xu hướng tích trữ vàng, USD hoặc các dạng tài sản khác thay vì đem số tiền đó gửi tại NHTM Ngược lại, một nền kinh tế phát triển ổn định với tỷ lệ lạm phát hợp
lý thì người dân sẽ có cái nhìn khả quan hơn và xu hướng tiền gửi ở các NHTM tăng lên là một điều tất yếu
* Môi trường pháp lý: Nghiệp vụ huy động vốn của các NHTM chịu sự điều
chỉnh rất lớn của môi trường pháp lý Có nhiều Luật điều chỉnh trực tiếp như: Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức tín dụng, Các Luật này quy định về tỉ lệ huy động vốn của NHTM so với vốn tự có, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các quy định khác về hoạt động gửi tiền và sử dụng tài khoản tiền gửi Các Luật tác động gián tiếp đến hoạt động các NHTM như: Luật đầu tư nước ngoài Bên cạnh những Luật đó thì chính sách tài chính tiền tệ của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động huy động vốn của các NHTM Nó được thể hiện qua mục tiêu của chính sách tiền tệ, ví dụ khi nền kinh tế có lạm phát cao, Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thông qua cách cho phép tăng lãi suất huy động tiền gửi để thu hút tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế giúp cho NHTM huy động vốn dễ dàng hơn Như vậy, môi trường pháp lý là nhân tố khách quan có tác động rất lớn tới hoạt động huy động vốn của các NHTM Mục tiêu hoạt động của các NHTM được xây dựng trong những đạo luật, quy định của Nhà nước để đảm bảo an toàn
và phát triển cho hệ thống ngân hàng và khách hàng.5
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm huy động vốn từ dân cư tại một số ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
Là ngân hàng có lịch sử hình thành và phát triển tương đương với BIDV, Vietcombank hiện là một trong những NHTM có quy mô tài sản, kết quả kinh
Hồ Chí Minh
Trang 35doanh lớn nhất hệ thống Tiền thân là Cục ngoại hối (thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), Vietcombank có nhiều thuận lợi do được kế thừa trong đó không thể không nhắc đến thế mạnh về ngoại tệ Trên thế giới, hiện tại Vietcombank có quan
hệ ngân hàng đại lý với khoảng 1.700 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng tại hơn
120 quốc gia và vùng lãnh thổ6, trong đó Vietcombank luôn đặt quan hệ đại lý chính với các ngân hàng hàng đầu tại từng quốc gia và vùng lãnh thổ đó Tại Việt Nam, Vietcombank có quan hệ với tất cả các ngân hàng hoạt động tại Việt Nam (gồm các Ngân hàng Quốc doanh, Ngân hàng khối TMCP, Ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài) Chính vì vậy, Vietcombank có thể huy động được lượng lớn nguồn tiền thanh toán trong - ngoài nước, đồng thời khẳng định được vị thế hàng đầu về kinh doanh ngoại tệ Điều này đã làm nên uy tín của Vietcombank đối với huy động vốn ngoại tệ của dân cư
Bên cạnh thế mạnh ngoại tệ, Vietcombank còn có thế mạnh không thể không nhắc tới đó là thẻ.Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với gần 2.000 máy ATM và trên 43.500 điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.700 ngân hàng đại lý tại trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ Để phục vụ các chủ thẻ một cách tốt nhất, Vietcombank không ngừng mở rộng mạng lưới Đơn vị chấp nhận thẻ cũng như mạng lưới ATM Đến nay, hệ thống thanh toán của Vietcombank đạt hơn 23.000 đơn vị chấp nhận thẻ ĐVCNT và 1835 máy ATM trên khắp các tỉnh và thành phố sẵn sàng đáp ứng nhu cầu sử dụng thẻ của khách hàng trong và ngoài nước.7
Đặc biệt, thẻ ghi nợ nội địa (Vietcombank Connect24) tích hợp nhiều tính năng nổi trội đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, dẫn đầu thị phần thẻ ghi nợ nội địa Loại thẻ này đã vinh dự nhận biểu tượng “Thương hiệu quốc gia” Trong lĩnh vực thanh toán, Vietcombank là ngân hàng duy nhất tại Việt Nam chấp nhận thanh toán cả 7 loại thẻ ngân hàng thông dụng trên thế giới mang thương hiệu American Express, Visa, MasterCard, JCB, Diners Club, Discover và UnionPay Vietcombank cũng là ngân hàng dẫn đầu về thị phần phát hành và thanh toán thẻ trên thị trường thẻ Việt Nam Nhờ các tiện ích của thẻ, Vietcombank đã huy động được nguồn tiền gửi
6
http://www.vcb.com.vn/About/General.aspx
Trang 36thanh toán không nhỏ từ dân cư, đem lại nguồn vốn đầu vào lãi suất thấp, tăng cạnh tranh lãi suất đầu ra tăng lợi nhuận
1.2.1.2 Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank)
Đồng hành với BIDV và Vietcombank, Vietinbank cũng là ngân hàng Quốc doanh có thâm niên hoạt động lâu năm trên thị trường Là ngân hàng có tăng trưởng tín dụng mạnh trong những năm gần đây, hiện tại Vietinbank là ngân hàng có lợi nhuận dẫn đầu hệ thống Vietinbank đã phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ dành cho cá nhân Song song với đó, với uy tín lâu năm trên thị trường và lãi suất huy động tương đối cạnh tranh (mặt bằng chung Vietinbank cao hơn Vietcombank), Vietinbank là điểm đến tin cậy của đông đảo khách hàng cá nhân
Với phương châm là “đi vay để cho vay” ngân hàng công thương Việt Nam (Vietinbank) hết sức coi trọng công tác huy động vốn cũng như nâng cao hiệu quả huy động vốn và coi đây là một trong những nhiệm vụ chủ yếu nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình Nhìn nhận từ quan điểm đó, Vietinbank luôn chú trọng đến công tác huy động vốn tại chỗ Vietinbank luôn coi trọng chiến lược khách hàng trong huy động vốn và đưa ra mọi biện pháp nhằm khai thác nguồn vốn như: vận động khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng, luôn lắng nghe ý kiến đóng góp từ phía khách hàng,… Nhờ vậy, hiệu quả huy động vốn của Vietinbank được nâng cao, biểu hiện:
- Trong những năm qua Vietinbank luôn đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho hoạt động của mình Khối lượng vốn huy động được không ngừng tăng trưởng qua các năm với cơ cấu đa dạng, hợp lý
- Danh mục sản phẩm được cải tiến Các sản phẩm huy động vốn có kỳ hạn linh hoạt: theo tuần, theo tháng, theo năm,
- Huy động được nguồn vốn có giá đầu vào thấp: Nhờ làm tốt công tác thanh toán nên Vietinbank đã thu hút được một lượng lớn các doanh nghiệp, tổng công ty
và đặc biệt là Kho bạc Nhà nước mở tài khoản thanh toán và giao dịch qua hệ thống Vietinbank, nâng cao tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn trong tổng nguồn vốn của Vietinbank, góp phần đáng kể vào việc giảm lãi suất đầu vào
Đạt được kết quả như vậy là do Vietinbank đã sử dụng các hình thức huy động vốn phong phú, đa dạng, cố gắng đáp ứng nhiều hơn nhu cầu của khách hàng Với
Trang 37nguồn vốn ngày càng lớn đã tạo điều kiện để Vietinbank mở rộng hoạt động cho vay, đầu tư của mình, từ đó tạo điều kiện nâng cao hiệu quả huy động vốn
Hơn nữa, Vietinbank đã thu hút ngày càng nhiều khách hàng mở tài khoản và gửi tiền vào ngân hàng làm cho tỷ trọng nguồn vốn huy động qua hình thức nhận tiền gửi khách hàng ngày càng tăng lên, tạo ra nguồn vốn có chi phí thấp, góp phần đáng kể trong việc giảm thấp chi phí đầu vào
1.2.1.3 Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (TechCombank)
(Techcombank) cũng phải đối mặt với không ít khó khăn tại thị trường hơn 90 triệu dân nước ta như: nhu cầu đối với các dịch vụ ngân hàng hiện đại với với nhiều bộ phận dân cư không thực sự cấp bách, không cần phải có, nhiều người còn coi đây chỉ là dịch vụ dành cho những người nhiều tiền.Đối với dịch vụ thẻ, nhiều người còn cảm thấy rắc rối khi phải dùng tới thẻ, thậm chí mỗi người lại còn có rất nhiều thẻ của các ngân hàng, khả năng thanh toán bằng thẻ chưa cao, các tiện ích của thẻ chưa được khai thác hết, nhiều người vẫn quan niệm thẻ ATM là để rút tiền mặt.Mặt khác, tâm lý người Việt rất ngại để người khác biết thu nhập của mình, kể
cả trong trường hợp là các nguồn thu nhập hợp pháp, họ sợ lộ bí mật …nên nhiều người không mặn mà mở tài khoản, thanh toán qua ngân hàng mà vẫn thanh toán bằng tiền mặt và người bán lại mang tiền vào ngân hàng nộp.Nhìn chung, khách hàng chưa được đặt vào vị trí trung tâm, chưa được quan tâm, chăm sóc chu đáo
Nhận thấy những tồn tại trên đây, Techcombank đã tung ra chương trình
“Gắn kết bền lâu” Có thể nói đây là chương trình chăm sóc khách hàng một cách toàn diện đầu tiên trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam Techcombank đã áp dụng cho các khách hàng thân thiết của mình khi sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính cá nhân như: thẻ tín dụng, gửi tiết kiệm, tài khoản thanh toán cá nhân… Khách hàng được tích lũy điểm thưởng và đổi lấy những phần quà có giá trị từ xe máy, máy tính bảng Ipad, tivi LCD, điện thoại di động sành điệu… cho đến những chuyến du lịch thú vị hay những dịch vụ giải trí, chăm sóc bản thân và gia đình (voucher spa, cafe, mua sắm, ) Ngoài quà tặng, khách hàng còn có cơ hội nhận những ưu đãi về dịch vụ Danh hiệu “Ngân hàng bán lẻ tốt nhất năm 2011 của Việt
Trang 38Nam” do tạp chí Asian Banking and Finance trao tặng cũng một phần nhờ vào những chương trình chăm sóc khách hàng sáng tạo và linh hoạt của Techcombank trong thời gian qua
Việc tạo ra các giá trị gia tăng gắn liền với những dịch vụ tài chính trực tiếp cho khách hàng - những người đã đồng hành với quá trình phát triển của mình là quan trọng Bởi chính khách hàng là người có nhiều trải nghiệm, có tích lũy vốn và
có nhu cầu cân bằng cuộc sống và công việc Những dịch vụ cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính cũng cho thấy xu hướng của thị trường tài chính ngày nay không chỉ
là dịch vụ tài chính thuần túy mà cần những giá trị gia tăng phù hợp và tiện ích để khách hàng nhận biết rằng mình đang được phục vụ tốt nhất
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam
Từ thực tiễn hoạt kinh nghiệm của các ngân hàng trên đặc, có thể thấy: biệt
là Vietcombank,Vietinbank, Techcombank chúng ta rút ra một số bài học kinh nghiệm cho BIDV như sau:
Thứ nhất, uy tín là yếu tố tác động lớn đến hành vi gửi tiền của dân cư
Hiện tại, ở Việt Nam, số lượng các TCTD khá lớn bên cạnh đó là sự kiện sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng trong những năm gần đây Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý của người dân, nhiều người lo sợ rằng các khoản tiền gửi không được bảo đảm Do đó, tâm lý tin và gửi tiền vào các ngân hàng lớn, có
uy tín là tất yếu Sẵn có nền tảng lâu năm, củng cố uy tín chính là điều mà BIDV cần phải tiếp tục củng cố
Thứ hai, cần có chính sách lãi suất linh hoạt hướng đến từng phân khúc khách
hàng cụ thể để vẫn huy động được khối lượng vốn cần thiết với chi phí hợp lý
Thứ ba, nhu cầu các cá nhân ngày càng đa dạng và không chỉ bó hẹp trong
các sản phẩm tiền gửi truyền thống Khách hàng không chỉ có nhu cầu gửi tiền nhằm hưởng lãi, mà còn sử các tiện ích khác để có được sự thuận tiện về không gian, thời gian Vì vậy, việc phát triển đa dạng các sản phẩm dành cho cá nhân từ tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán cùng các dịch vụ đi kèm như thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử là việc cần chú trọng
Trang 39Thứ tư, trong thời buổi kinh tế thị trường với sự cạnh tranh ngày càng gay
gắt, với nhiều lựa chọn gửi tiền và thường được coi như “thượng đế” Sự thoải mái khi được phục vụ, chăm sóc tốt là có thể coi là một trong những yếu tố quyết định đến quyết định gửi tiền của khách hàng Đây cũng là tiêu chí đánh giá hình ảnh một ngân hàng hiện đại, năng động Do đó, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ là điều tất yếu
Trang 40Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết được mục tiêu và đáp ứng nội dung nghiên cứu của đề tài cần trả lời các câu hỏi sau:
- Thực trạng về hoạt động huy động vốn từ dân cư của BIDV Thái Nguyên như thế nào? Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân hạn chế là gì ?
- Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn từ dân cư ?
- Những giải pháp nào để đẩy mạnh hoạt động huy động vốn từ dân cư tại BIDV Thái Nguyên?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thái Nguyên
là một ngân hàng lớn trên địa bàn nhưng có mạng lưới chưa phát triển mạnh so với các ngân hàng bạn như Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp vì thế hoạt động huy động vốn từ dân cư còn nhiều hạn chế nên sẽ tập trung nghiên cứu, đánh giá để đưa ra giải pháp đẩy mạnh hoạt động huy động vốn từ dân cư tại ngân hàng này
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
Để thực hiện được nghiên cứu, tác giả tiến hành thu thập 2 nguồn tài liệu là: tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp bằng nhiều phương pháp khác nhau
2.2.2.1 Tài liệu thứ cấp
Số liệu được thu thập thông qua việc thống kê, nghiên cứu các văn bản pháp quy của Nhà nước, các ấn phẩm, các tài liệu, báo cáo, luận văn, website viết về hoạt động huy động vốn và huy động vốn trong dân cư của ngân hàng thương mại Nguồn tài liệu chủ yếu từ các thư viện, trường Đại học kinh tế quốc dân, BIDV, Ngân hàng Nhà nước tỉnh Thái Nguyên, các cơ quan của tỉnh Thái Nguyên