1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu - chi nhánh Long Biên

45 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 363,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những sản phẩm chiếm tỉ trọng cao trong hoạt động của ngân hàng bán lẻ, đó là cho vay tiêu dùng.. Đối với Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam Eximbank Vietnam, mở rộng cho vay ti

Trang 1

Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng

Lời mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Ngân hàng bán lẻ là loại hình ngân hàng chuyên phục vụ cho đối tượng khách hàng là cá nhân Các sản phẩm dịch vụ được cung cấp phổ biến bao gồm tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, cho vay cá nhân, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng… và rất nhiều dịch vụ khác Một trong những sản phẩm chiếm tỉ trọng cao trong hoạt động của ngân hàng bán lẻ, đó là cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng đã xuất hiện ở các nước phát triển từ những năm 70 của thế kỉ trước ỞViệt Nam, hoạt động này mới chỉ được các ngân hàng thương mại chú ý khoảng 20 năm trở lại đây, và hiện nay, đây là mảng thị trường tiềm năng mà tất cả các ngân hàng đều hướng tới Việt Nam với dân số khoảng 85 triệu người và mức thu nhập của người dân ngày càng tăng hứa hẹn

sẽ là sân chơi bán lẻ rộng mở cho các ngân hàng thương mại nói riêng và tất cả các tổ chức tín dụng nói chung

Đối với Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank Vietnam), mở rộng cho vay tiêudùng là mục tiêu trước mắt và lâu dài của ngân hàng, nhằm mục tiêu phát triển hoạt động ngân

hàng bán lẻ cũng như giữ vững vị trí một trong những NHTM hàng đầu Việt Nam

Chính vì vậy, đề tài “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhậpkhẩu - chi nhánh Long Biên” đã được lựa chọn nhằm mục tiêu

nghiên cứu, tìm hiểu hoạt động cho vay tiêu dùng ở chi nhánh Eximbank Long Biên, từ đó đưa

ra các kiến nghị và đề xuất để phát triển hoạt động này

2 Mục tiêu nghiên cứu.

Chuyên đề tốt nghiệp hướng vào 3 mục tiêu sau:

- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng của các NHTM

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng EximbankLong Biên

- Đề xuất giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng ở Eximbank Long Biên

3 Đối tượng nghiên cứu

Căn cứ vào ba mục tiêu trên, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của công trình tập trungvào hoạt động cho vay tiêu dùng ở Eximbank Long Biên trong 3 năm 2008-2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 2

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp thu thập thông tin vàphương pháp phân tích Thông tin thu thập được thông qua nhiều kênh như quá trình thực tập trựctiếp tại chi nhánh, phỏng vấn các cán bộ công nhân viên của ngân hàng, các báo cáo tài chính năm,báo cáo tín dụng… Phương pháp phân tích sử dụng các thông tin này, kết hợp với phương pháp sosánh, đối chiếu, tổng hợp thông tin, từ đó đưa ra những nhận định về tình hình cho vay tiêu dùng ởEximbank Long Biên.

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương:

Chương I: Lý luận chung về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại (NHTM).

Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu – chi nhánh Long Biên.

Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu – chi nhánh Long Biên.

HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.

Khái quát về hoạt động tín dụng của NHTM.

1.

Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng (credit), xuất phát từ tiếng Latinh là credo – là sự tin tưởng, sự tín nhiệm và được định nghĩa dưới nhiều giác độ khác nhau:

- Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả

- Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vật trên nguyên tắc cóhoàn trả

- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sửdụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu

- Tín dụng là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức, cá nhânnày cho một tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàntrả

Trang 3

Như vậy, tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đi vay và một bên là người cho vay trên

cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi

Đối với một ngân hàng thương mại, tín dụng là chức năng cơ bản của ngân hàng, là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng Tín dụng ngân hàng được định nghĩa như sau:

Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay

sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

2 Các hình thức của tín dụng ngân hàng

1 Căn cứ vào mục đích vay:

- Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất độngsản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ

- Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu độngcho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ

- Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón,thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu,

- Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tàichính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác

- Cho vay cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vậtdụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thôngqua phát hành thẻ tín dụng

- Cho thuê: Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê vận hành và chothuê tài chính Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, trong đó chủ yếu là máy móc

- thiết bị

2 Căn cứ vào thời hạn cho vay:

- Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp

sự thiếu hụt vốn lưu động Của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân

- Cho vay trung hạn: Có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm chủ yếu được sử dụng để đầu tưmua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,xây dựng các dự án mới, có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Trong nông nghiệp, chủyếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: Máy cày, máy bơm nước, xây dựng cácvườn cây công nghiệp như cà phê, điều,

Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu dộng thường xuyên của các doanh nghiệp dặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập

- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến20-30 năm, một số trường hợp cá biệt cá thể lên đến 40 năm

Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới

Trang 4

3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:

- Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảolãnh của bên thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng

- Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc cầm

cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba

4 Căn cứ theo phương thức hoàn trả:

- Cho vay có thời hạn: Là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợpđồng.Cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau:

+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ (cho vay phi trả góp)

+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể (Cho vay trả góp)

+ Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể

- Cho vay không có thời hạn cụ thể: Đối với loại cho vay không có thời hạn thì ngân hàng cóthể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thờigian hợp lý, thời gian này có thể được thoả thuận trong hợp đồng

5 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng

- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đivay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng

- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ướchoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán

Các ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:

+ Chiết khấu thương phiếu:

+ Mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp

+ Nghiệp vụ thanh tín (factoring):

3 Vai trò của tín dụng ngân hàng.

Trong nền kinh tế thi trường, tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng được thực hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ có hiệu quả cho nền kinh tế.Trong nguồn

vốn của doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm vốn tự có và vốn từ bên ngoài như ngân hàng, doanh nghiệp khác Song tín dụng ngân hàng là nguồn tài trợ có hiệu quả hơn cả bởi vì nó thoả mãn nhu cầu về số lượng và thời hạn đồng thời chi phí sử dụng vốn tín dụng ngân hàng thấp hơn các chi phí từ chủ thể khác

Thứ hai:Tín dụng ngân hàng là công cụ để giải quyết mâu thuẫn giữa người thừa vốn và

người thiếu vốn vì tín dụng Ngân hàng thu hút tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, dân cư để đầu tư cho quá trình mở rộng sản xuất, tăng trưởng kinh tế đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn thúc đẩy tái sản xuất mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền vững Trong quá trình hoạt động đó, Ngân hàng thu được lợi tức cho vay để duy trì và phát triển hoạt động của chính bản thân ngân hàng Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường hiệnnay huy động và cho vay bao nhiêu có đáp ứng được hay không là vấn đề đặt lên hàng đầu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Do vậy, mỗi ngân hàng phải có nghệ thuật trong kinh doanh, phải tìm mọi biện pháp hữu hiệu nhằm thu hút tối đa nguồn vốn tiềm tàng với chi phí thấp nhất

Trang 5

để kinh doanh Có thể nói, tín dụng ngân hàng góp phần quan trọng vào quá trình vận dụng liên tục của nguồn vốn, đẩy nhanh tốc chu chuyển tiền tệ trong xã hội

Thứ ba: Tín dụng Ngân hàng giúp thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Tín dụng ngân hàng

góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Trong lĩnhvực sản xuất kinh doanh và dịch vụ để tái sản xuất mở rộng hoạt động, mỗi chu kỳ đều phải bắt đầu từ tiền và kết thúc bằng tiền (T-H-T’)(T-T’) Do đó để tăng nhanh vòng quay vốn, mỗi chủ thể kinh doanh phải tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp như cải tiến kỹ thuật, tìm kiếm thị trường mới Tất cả những công việc đó đòi hỏi phải có vốn đầy đủ và kịp thời Tín dụng ngân hàng là nguồn cung ứng vốn cho các nhu cầu đó Mặt khác vốn ngân hàng cung ứng cho các nhà kinh doanh bằng việc cho vay với điều kiện phải hoàn trả cả gốc và lãi theo thời hạn quy định.Vì vậy các nhà quản trị doanh nghiệp phải tìm nhiều biện pháp để sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi Chính quá trình này làm cho nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển cao

Thứ tư: Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu

kinh tế quốc tế Trong điều kiện hiện nay việc phát triển kinh tế của mỗi nước luôn phải gắn với

sự phát triển kinh tế thế giới, xu hướng quốc tế hoá và hội nhập ngày càng được mở rộng theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi giữa các nước trong khu vực và trên thế giới Trong đó vốn đầu

tư ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là hai lĩnh vực hợp tác quốc tế thông dụng và phổ biến giữa các nước Vốn là nguyên nhân quyết định cho việc thực hiện quá trình này Nhưng trên thực tế không phải một tổ chức kinh tế nào, một tổ chức kinh doanh nào cũng có

đủ vốn để hoạt động Ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động tín dụng, sẽ là trợ thủ đắc lực về vốn cho các nhà đầu tư vào kinh doanh xuất - nhập khẩu hàng hoá

Thứ năm: Tín dụng Ngân hàng là công cụ để Nhà nước điều tiết khối lượng tiền tệ lưu

thông trong nền kinh tế, kiểm soát tiền và lưu thông qua kênh cung ứng tín dụng Bởi vì, Ngân hàng là một chủ thể quan trọng tham gia vào quá trình tạo tiền lưu thông qua hoạt động tín dụng

và thanh toán Trong điều kiện cần mở rộng, thu hẹp khả năng cung ứng vốn sẽ tác động đến việc cấp tín dụng của Ngân hàng Khi Nhà nước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì NHNN

có thể tăng hạn mức tín dụng của các NHTM đối với nền kinh tế và ngược lại

Thứ sáu: Tín dụng ngân hàng thoả mãn nhu cầu tiết kiệm và mở rộng đầu tư của nền kinh

tế vì qua việc cung ứng vốn sẽ góp phần mở rộng đầu tư bằng việc cấp vốn cho các doanh nghiệp Đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường chế độ hạch toán kinh tế trong hoạt động kinh doanh

Thứ bẩy: Tín dụng ngân hàng là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho bản thân các

ngân hàng Trong quá trình sử dụng vốn ngân hàng thường tập trung vào hai loại hình chủ yếu là

sử dụng tài sản sinh lời và tài sản không sinh lời Song trên thực tế đại bộ phận vốn của các NHTM được đầu tư vào tài sản sinh lời mà lớn nhất là qua kênh tín dụng Chính hoạt động đầu

tư này tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững của hệ thống các NHTM từ đó ảnh hưởng đến nền kinh tế

Trang 6

Thứ tám: Tín dụng ngân hàng góp phần tích cực vào việc phát triển công ty cổ phần Để

thành lập được công ty phải có một số vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp và ngân hàng có thể

là một cổ đông lớn Hơn nữa trong quá trình sản xuất kinh doanh các công ty cổ phần thường có nhu cầu tăng thêm vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh Việc tăng thêm vốn có thể thông qua nhiều giải pháp trong đó việc huy động góp vốn bằng việc phát hành cổ phiếu mới là hình thức phổ biến Chính sự hoạt động của thị trường vốn, thị trường tiền tệ mà việc phát hành cổ phiếu, chuyển nhượng và mua bán cổ phiếu mới quyết định một phần không nhỏ đến chất lượng cổ phiếu Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính có khả năng chi phối hoạt động của hệ thống tài chính và thực hiện phần lớn hoạt động của các trung gian tài chính như: Việc tổ chức thu thập và xử lý thông tin, tham gia các nghiệp vụ bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu ) làm tăng tính lưu thông cho chứng từ, từ đó tạo uy tín cho các công ty cổ phần đó

Như vậy, Tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nó giải quyết mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững Tuy nhiên, để tín dụng ngân hàng phát huy được hết vai trò của nó thì các nhà quản lý ngân hàng cũng như các cơ quan chức năng phải tạo ra một hành lang pháp lý cũng như các quy định chặt chẽ, tạo điều kiện cho cả người cho vay và người đi vay trong nền kinh tế

Như chúng ta đã biết, cho vay của các NHTM hiện nay luôn là hoạt động chính mang lại cho ngân hàng một nguồn thu chủ yếu Không những thế việc cho vay còn phản ánh được năng lực hoạt động cũng như khả năng cạnh tranh của ngân hàng với các ngành khác Có rất nhiều hình thức cho vay trong đó không thể không kể đến cho vay tiêu dùng Tuy hình thức cho vay này nó chưa hoàn toàn phổ biến ở nước ta, nhưng nó ngày càng khẳng định được vị trí cũng như tầm quan trọng của mình trong hoạt động cho vay của NHTM Trong nền kinh tế hiện nay, các ngân hàng đang phải bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt thì đây là điều kiện nhằm tăng sức cạnh tranh cho các ngân hàng cũng như khẳng định được vị trí trong nền kinh tế Việt Nam khi tham gia vào các tổ chức quốc tế Từ đó hình thành nên tính tất yếu khách quan của cho vay tiêu dùng

Bên cạnh đó, nhờ hình thức cho vay này mà các NHTM đã thu hút được khách hàng là cánhân tham gia vào hoạt động kinh doanh của mình.Đồng thời,nó còn giải quyết được vấn đề tâm

lí cho các cá nhân Bởi với họ bên cạnh việc gửi tiền vào ngân hàng thì họ cũng cần thấy hết được khả năng vay tiền từ chính ngân hàng đó Như vậy với những lí do đó phần nào khẳng đình đựoc tính tất yếu ra đời của cho vay tiêu dùng trong các ngân hàng thương mại

3 Đặc điểm của hình thức cho vay tiêu dùng (CVTD)

- Quy mô của từng hợp đồng cho vay thường nhỏ,dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao,vì lãisuất CVTD thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho trong lĩnh vực thương mại và côngnghiệp

Trang 7

- Nhu cầu CVTD của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế.

- Nhu cầu CVTD của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất.Thông thường, người đi vayquan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu

- Mức thu nhập và trình đọ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu vaytiêu dùng cả khách hàng

- Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao

- Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làmviệc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của ngững người này

- Tư cách của khach hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàntrả của khoản vay

4 Các hình thức CVTD của NHTM

1 Căn cứ vào mục đích vay

- CVTD cư trú: Là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạonhà ở của khách hàng

- CVTD phi cư chú: Là các khoản vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ,

đồ dùng gia đình, chi phí giáo dục, y tế, giải trí v.v

2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả

Theo phương thức này ta có ba loại:

- CVTD trả góp: Là hình thức cho vay trong đó người đi vay phải trả cho ngân hàng tiền gốc

và lãi làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận Các khoản vay loại này nhằm tài trợcho nhu cầu mua sắm vật dụng đắt tiền như ôtô, xe máy hoặc trang trải các khoản nợ của giađình, tồn tại dưới khoản vay ngắn hạnhoặc trung hạn vì giá trị thường không lớn

Đối với CVTD loại này, các ngân hàng cần phải chú ý đến một số vấn đề như:

+ Loại tài sản được tài trợ

Ngân hàng thường chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản có thời hạn sử dụng lâu bền và có giá trị lớn.Như vậy, với những loại tài sản như vậy,người tiêu dung sẽ hưởng được những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài

+ Số tiền phải trả trước

Thông thường ngân hàng yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay Số tiền này một mặt làm cho người đi vay nghĩ rằng họ là chủ sở hữu của tài sản, mặt khác có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng vì tài sản đảm bảo cũng chính là tài sản hình thành từ vốn vay

Số tiền trả trước nhiều hay ít tuỳ thuộc vào các yếu tố sau:

 Loại tài sản: Đối với các tài sản có mức đọ giảm giá nhanh thì số tiền trả trướcnhiều và ngược lại

 Thị trường tiêu thụ tài sản sau đã khi sử dụng: Nếu tài sản đã sử dụng nếu vẫn cóthể được tiếp tục mua, bán dễ dàng thì số tiền trả trước có xu hướng thấp và ngược lại

Trang 8

 Môi trường kinh tế.

 Năng lực tài chính của người đi vay

+ Chi phí tài trợ

Chi phí tài trợ là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng Chi phí tài trợ chủ yế bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liên quan

+ Điều khoản thanh toán

 Số tiền thanh toán mỗi kỳ phải phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng

 Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng

 Thời hạn trả nợ không nên quá dài, liên quan đến thời hạn hoạt động của tài sản tàitrợ và thiện trí trả nợ của khách hàng

Có ba phương pháp trả góp phổ biến:

* Phương pháp gộp: Theo phương pháp này, trước hết lãi được tính bằng cáchlấy vốn gốc nhân với lãi suất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp vào vốn gốc rồi chiacho số kỳ hạn phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán mỗi kỳ

* Phương pháp lãi đơn: Vốn gốc được thanh toán đều nhau giữa các kỳ, còntiền lãi được tính trên số dư nợ còn lại

* Phương pháp hiện giá: Số tiền thanh toán bằng nhau mỗi kỳ hạn gồm cả gốc

và lãi được tính bằng cách quy về giá trị hiện tại của khoản tiền trong tương lai

- CVTD phi trả góp: Là các khoản vay đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời của cá nhân và hộgia đình, được thanh toán một lần khi đáo hạn Thường thì các khoản vay này có quy mô tươngđối nhỏ và tồn tại dưới dạng vay ngắn hạn

- CVTD tuần hoàn: Là khoản vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tíndụng hoặc phát hành loại séc được thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai

3 Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ

- CVTD gián tiếp: Là hình thức cho vay trong dó ngân hàng mua lại các khoản nợ phát sinh

do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng CVTD gián tiếpđược thực hiện theo sơ đồ sau:

Trang 9

(2): Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị hàng hoá

(3): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng

(4): Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng

(5): Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ

(6): Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng

 Ưu điểm của CVTD gián tiếp:

+ Cho phép ngân hàng tăng doanh số CVTD

+ Cho phép ngân hàng tiết giảm chi phí cho vay

+ Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàngkhác

+ Nếu ngân hàng có mối quan hệ tốt với công ty bán lẻ thì CVTD gián tiếp an toàn hơnCVTD trực tiếp

 Nhược điểm của CVTD gián tiếp:

+ Ngân hàng không trực tiếp tiếp xúc vời người tiêu dùng

+ Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu hànghoá

+ Kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính phức tạp cao

Do ngững nhược điểm trên mà rất nhiều ngân hàng không mặn mà với hình thức CVTD này Còn những ngân hàng tham gia vào hoạt động này thì đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng chặt chẽ

Các phương thức CVTD gián tiếp

 Tài trợ truy đòi toàn bộ: Công ty bán lẻ cam kết thanh toán cho ngân hàng toàn bộcác khoản nợ nếu đến hạn người tiêu dùng không thanh toán nợ cho ngân hàng

 Tài trợ truy đòi hạn chế: Trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với khoản nợ khikhách hàng không thanh toán cho ngân hàng chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định, tuỳtheo thoả thuận giữa ngân hàng với công ty bán lẻ

 Tài trợ miễn truy đòi: Công ty bán lẻ hoàn toàn không chịu trách nhiệm về khoản

nợ sau khi đã bán nợ cho ngân hàng Phương thức này chứa đựng rủi ro cao cho ngân hàng nênchi phí tài trợ được mua cũng được kén chọn rất kỹ Hơn nữa ngân hàng cũng phải rất tin tưởngvào uy tín của công ty bán lẻ

 Tài trợ có mua lại: Nếu người tiêu dùng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì ngânhàng có thể bán trở lại cho công ty bán lẻ phần nợ mình chưa được thanh toán, kèm với tài sản đãđược thụ đắc trong một thời hạn nhất định

- CVTD trực tiếp: Là hình thức CVTD trong đó ngân hàng trực tiếp cho vay đối với ngườitiêu dùng cũng như trực tiếp thu nợ đối với họ CVTD trực tiếp được thực hiện theo sơ đồ sau: NGÂN HÀNG (3) CÔNG TY BÁN LẺ

Trang 10

(1) (5)

(2) (4)

NGƯỜI TIÊU DÙNG

(1): Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay

(2): Người tiêu dùng trả trước một phần giá trị tài sản cho công ty bán lẻ

(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ

(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng

(5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng

 Ưu điểm của CVTD trực tiếp:

- Ngân hàng có thể tận dụng được năng lực của nhân viên tín dụng Họ là những người đượcđào tạo chuyên môn và có kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng Ngoài ra, họ có xu hướng chútrọng đến việc tạo ra khoản vay có chất lượng tốt trong khi nhân viên của các công ty bán lẻthường chú trọng đến việc tăng doanh số bán hàng Hơn nữa tại những điểm bán hàng quyết địnhtín dụng được đưa ra có phần vội vàng,nhanh chóng trong khi những khoản tín dụng ngân hàngcấp cho khách hàng đều qua một quá trình thẩm định chặt chẽ

- CVTD trực tiếp linh hoạt hơn CVTD gián tiếp, bởi vì ngân hàng sẽ chủ động hơn trongviệc đưa ra những khoản tín dụng với quy mô và thời hạn phù hợp Đồng thời việc tiếp xúc trựctiếp với khách hàng tạo điều kiện thoả mãn nhu cầu và lợi ích cho cả hai bên

Đối với phương thức này, chủ thẻ đã được ngân hàng bảo lãnh một số tiền nhất định, được coi là một đảm bảo cho người bán hàng

Trang 11

5 Lợi ích của cho vay tiêu dùng.

1 Đối với ngân hàng.

Đối với ngân hàng ngoài những nhược điểm chính là rủi ro và chi phí cao, CVTD có những lợi ích sau:

- Giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửicho ngân hàng

- Tạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tánrủi ro cho ngân hàng

2 Đối với người tiêu dùng.

Nhờ vay tiêu dùng họ được hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn nó rất cần thiết cho những trường hợp khi cá nhân có các chi tiêu có tinh cấp bách,như nhu cầu chi tiêu giáo dục y tế

Tuy vậy,người tiêu dùng cần tính toán để việc chi tiêu được hợp lý không vượt quá mức chophép và đảm bảo khả năng chi trả

3 Đối với nền kinh tế.

Cho vay tiêu dùng được dùng để tài trợ cho các chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ trong nước,

có tác dụng rât tốt trong việc kích cầu Nhờ cho vay tiêu dùng các doanh nghiệp đã đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hoá,ngân hàng rút ngăn khoảng thời gian lưu thông, tăng khả năng trả nợ cho ngân hàng, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

6 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng mở rộng của hoạt động cho vay tiêu dùng.

1 Nhân tố khách quan

1 Môi trường kinh tế

Yếu tố nói đến trước tiên ở đây là trình độ phát triển của nền kinh tế

Ở các nước phát triển, các thành phần kinh tế phát triển với một trình độ cao, tạo ra cơ sở hạ tầng thuận lợi phục vụ cho thói quen tiêu dùng của người dân Họ chi tiêu bằng thẻ thay vì dùng tiền mặt, và mỗi một điểm bán hàng hay dịch vụ đều là đơn vị chấp nhận thẻ Do đó, CVTD thông qua hình thức phát hành thẻ rất phát triển ở các ngân hàng Ngoài ra, người dân coi CVTD của ngân hàng là nguồn tài trợ phổ biến cho những nhu cầu tiêu dùng của mình thay vi tìm đến bạn bè, người thân Và ngược lại kinh tế phát triển ở trình độ thấp là một yếu tố khách quan hạn chế phần nào sự phát triển của hoạt động CVTD

Một yếu tố nữa phụ thuộc môi trường kinh tế là chu kỳ và mức độ ổn định của nền kinh tế Nền kinh tế ở giai đoạn tăng trưởng là điều kiện thuận lợi để các ngân hàng mở rộng CVTD Kinh tế tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người tăng, thất nghiệp giảm, sản xuất mở rộng, tiêudùng tăng dẫn đến tín dụng ngân hàng nói chung và CVTD nói riêng có cơ hội phát triển mạnh

Trang 12

Đồng thời, trong nền kinh tế ổn định, không có khủng hoảng người dân sẽ thấy yên tâm về công việc của mình và lạc quan về tương lai Từ đó họ có xu hướng muốn thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình để đạt được mức sống như mong muốn và tìm đến ngân hàng như một nguồn tài trợ hiệi quả Vì họ tin tưởng vào thu nhập của mình trong tương lai có thể chi trả được các khoản

nợ để phục vụ mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái và bất ổn, cá nhân và hộ gia đình cảm thấy không tin tưởng, nhất là khi họ thấy tình trạng thất nghiệp tăng lên và họ sẽ hạn chế việc mượn tiền từ ngân hàng Lúc này dân cư có xu hướng tích luỹ hơn là tiêu dùng

2 Môi trường xã hội

Có rất nhiều yếu tố thuộc môi trường xã hội ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng như: Thói quen, tập quán sinh hoạt, trình độ dân trí, tâm lý người dân, trật tự xã hội hay xu hướng gia tăng dân số thành thị

Tâm lý và thói quen tiêu dùng của người dân địa phương là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởngtrực tiếp đến tiềm năng phát triển dịch vụ CVTD của ngân hàng Ở một số nơi, người dân thường

có xu hướng lao động cật lực khi còn trẻ và sống tiết kiệm để đến khi nhiều tuổi cảm thấy có đủ điều kiện họ mới hướng đến việc hưởng thụ thành quả lao động và cải thiện tiện nghi cuộc sống

Do đó, việc vay mượn để mua sắm hay đi du lịch, giải trí nhất là vay từ ngân hàng là điều họ không muốn hay không quen làm

Thói quen chi tiêu bằng tiền mặt, đặc biệt là ở một số nước đang phát triển như Việt Nam cũng hạn chế việc cho vay qua phát hành thẻ tín dụng Tất nhiên, phần nhiều do trình độ phát triển của nền kinh tế, nhưng một phần cũng do người dân không muốn thay đổi thói quen của mình, ngoài ra còn do yếu tố tâm lý và trình độ dân trí Những người có hoc vấn và thu nhập cao thường có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình, mục đích là để đạt được mức sống như mong muốn

Ngoài ra ở một số nước xu hướng đô thị hoá, di dân từ nông thôn ra thành thị làm cho dân số thành thị ngày càng gia tăng Đây là một điều kiện tốt cho các ngân hàng mở rộng loại hình dịch

vụ này

3 Môi trường pháp lý

Mọi hoạt động trong nền kinh tế đều dưới sự điều chỉnh của các quy định pháp luật, CVTD của NHTM cũng như vậy Bên cạnh những quy định của Ngân hàng Nhà nước, hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và CVTD nói riêng đều liên quan đến rất nhiều quy định của các ngành, lĩnh vực khác có liên quan Nếu như không có một luật hay quy chế, quy định điều chỉnh hoạt động CVTD của các ngân hàng một cách rõ ràng và chặt chẽ thì sẽ gây cản trở cho hoạt động này được diễn ra thông suốt và phát triển bền vững, đồng thời ảnh hưởng đến lợi ích của cảhai phía ngân hàng và khách hàng, đặc biệt là khi xảy ra tranh chấp.Có thể nói có một hành lang pháp lý rõ rang cho hoạt động CVTD của các ngân hàng là cơ sở rất quan trọng để hoạt động nàyphát triển và mở rộng Bên cạnh đó, trình độ pháp luạt của xã hội nói chung cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động ngân hàng cũng như trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng Nếu các bộ luật, các quy định pháp luật ở mọi ngành nghề, lĩnh vực không xây dựng được một cách chặt chẽ, đồng

Trang 13

bộ, chồng chéo và không ổn định thì các thành phần kinh tế sẽ không an tâm, chần chừ và e ngại trong việc mở rộng hoạt động đồng thời tạo ra một môi trường đầu tư không an toàn Điều này gây ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và tấ nhiên,gián tiếp ảnh hưởng đến việc mở rộng quy môtín dụng ngân hàng cũng như hoạt động CVTD

4 Sự ổn định của chính trị và các chính sách nhà nước

Đối với mọi quốc gia, chính trị ổn định là cơ sở quan trọng nhất để phát triển kinh tế và duy trì

sự phồn thịnh của xã hội Sự bất ổn của chính trị như: Thay đổi thể chế chính trị, khủng bố, chiếntranh sẽ dẫn đến hậu quả xấu cho bộ mặt của đất nước, thể hiện ở nhiều khía cạnh như: Mất an ninh trật tự xã hội, chính sách đường lối phát triển của nhà nước thay đổi, thoái lui đầu tư, nền kinh tế suy thoái Và tất nhiên, tất cả các thành phần kinh tế đều bị ảnh hưởng, trong đó có hệ thống ngân hàng Người dân sẽ thấy không an tâm, bi quan và mất niềm tin vào ngân hàng Do

đó, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động huy động vốn cũng như hoạt động tín dụng của ngân hàng

2 Nhân tố chủ quan.

1 Nhân tố thuộc về bản thân khách hàng.

Khách hàng là yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đối với mọi tổ chức kinh doanh cũng như đối với ngân hàng

Trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng, có nhiều yếu tố thuộc về phía khách hàng ảnh hưởng đến chấtlượng của một khoản CVTD như: Đạo đức, năng lực pháp lý, khả năng tài chính, tài sản đảm bảo

Một khách hàng có đầy đủ các điều kiện về pháp lý, tài chính nhưng không có thiện chí trả nợ thì khoản vay khó có khả năng được hoàn trả Đây là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng,đòi hỏi cán bộ tín dụng phải hết sức chú ý khi thẩm định khách hàng, phải đảm bảo rằng khách hàng vay vốn ý thức rõ ràng về trách nhiệm hoàn trả đầy đủ đầy đủ và đúng hạn khoản nợ

Ngoài việc kiểm tra về năng lực pháp lý là yếu tố cơ bản để khách hàng có quyền tham gia tín dụng, xác nhận thu nhập thường xuyên và sự ổn định trong thu nhập của khách hàng là việc rất quan trọng vì đây là nguồn trả nợ cho khoản vay

Ngoài những yếu tố trên, nhu cầu của khách hàng được coi là nhân tố hàng đầu tác động đến hoạt động CVTD của ngân hàng Ngân hàngphải luôn tìm hiểu nhu cầu hiện tại và tìm ra nhưng nhu cầu tiềm ẩn trên thị trường Từ đó có những chiến lược kinh doanh đúng đắn, đưa ra những loại hình dịch vụ CVTD phù hợp

2 Nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng

* Chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Để lĩnh vực tín dụng tiêu dùng là một trong những thế mạnh của ngân hàng thì các nhà quản trị ngân hàng cần coi CVTD là chiến lược kinh doanh của mình và xây dựng một chính sách tín dụng riêng cho mục đích này Không những thế, chính sách tín dụng cần phải thông thoáng, linh hoạt và hiệu quả để có thể tạo ra những khoản vay an toàn và thu hút khách hàng Trên cơ sở xây

Trang 14

dựng một chiến lược cụ thể ngân hàng có thể phân bổ nguồn lực về vốn, nhân lực một cách phù hợp và đưa ra những mục tiêu hoạt động cả trong ngắn hạn và dài hạn Còn nếu ngân hàng không chú trọng đến mảng dịch vụ này và không có một chiến lược nào cả thì hoạt động CVTD

sẽ không có cơ hội phát triển

* Tiềm lực về vốn và công nghệ

Các khoản CVTD tuy có quy mô nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn Do đó, muốn đẩy mạnhCVTD, ngân hàng cần tập trung một tỷ lệ nguồn vốn đáng kể vào khoản mục tài sản này Nếu ngân hàng không tạo ra được thế mạnh về vốn, cả vốn tự có và vốn huy động thì sẽ khó đáp ứng được nhu cầu kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường, cũng như là nhu cầu vốn cho tín dụng tiêu dùng

Bên cạnh đó, công nghệ hiện đại là cơ sở quan trọng để các ngân hàng triển khai dịch vụ ngân hàng bán lẻ Nhờ có công nghệ hiện đại nên ngân hàng mới có thể xây dựng được những kênh phân phối an toàn, đa dạng và hiệu quả đến khách hàng là cá nhân

* Chất lượng cán bộ tín dụng

Đối với mọi lĩnh vực hoạt của ngân hàng, yếu tố con người luôn được coi là một trong những yếu tố chiến lược Trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng, chất lượng cán bộ tín dụng bao hàm các yếu tố như: Trình độ, kinh nghiệm và đạo đức

Kinh nghiệm đi trước ở các nước phát triển cho thấy, Cán bộ tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc thẩm định khách hàng Họ có thể phát hiện ra những biểu hiện không trung thực hay những nhược điểm trong tính cách cũng như sự thành thật của người đi vay thông qua gặp gỡ phỏng vấn trực tiếp khách hàng Đó là những việc mà không một máy móc, chương trình tự độngnào có thể làm được

Bên cạnh đó, đạo đức của nhân viên tín dụng là yêu cầu quan trọng để ngân hàng có thể tránh được những rủi ro và tổn thất về cả vật chất và uy tín Đồng thời tránh được những tranh chấp, kiện tụng liên quan đến pháp luật-vốn là vấn đề luôn mất nhiều thời gian và công sức để giải quyết, ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của ngân hàng

* Quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng bao gồm các bước thực hiện từ khi thẩm định khách hàng cho tới khi thu hồi

đủ nợ Nếu các bước đó được xây dựng một cách khoa học hợp lý, phân công nhiệm vụ thích hợp, quy trình thẩm định không rườm rà và nhanh gọn thì sẽ tạo ra các khoản vay có chất lượng, giảm thiểu rủi ro và tạo điều kiện cho ngân hàng gia tăng doanh số cho vay và ngược lại

* Thông tin tín dụng

Thông tin tín dụng là cơ sở quyết định sự thành công hay thất bại của quan hệ tín dụng Thông tin tín dụng trong CVTD bao gồm các thông tin về khách hàng cá nhân như: Họ tên, chứng minh thư, địa chỉ, tình hình quan hệ tín dụng, thu nhập bình quân tháng, thời gian sống ở nơi cư trú

Trang 15

hiện tại ; Thông tin kinh tế tổng hợp trong nước - rất quan trọng vì môi trường kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động CVTD của ngân hàng và thông tin ngoài nước

Đặc biệt thông tin về khách hàng là quan trọng nhất, quyết định đến chất lượng khoản vay, giúp ngân hàng tránh được rủi ro tín dụng và lựa chọn đối nghịch do thông tin không cân xứng Ngược lại, khách hàng cũng cần được cung cấp thông tin đầy đủ về chi phí và thời kỳ các khoản vay, về chính sách ưu đãi của ngân hàng, thậm chí cá nhân và hộ gia đình có thể soát lại hồ sơ tíndụng của mình và yêu cầu có sự điều tra và sửa chữa những thông tin sai lệch Đó là những quyền lợi chính đáng của khách hàng và điều đó giúp cho khách hàng yên tâm hơn khi đến với dịch vụ của ngân hàng

CHƯƠNG II :THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM – CHI NHÁNH LONG BIÊN

1 Tổng quan về ngân hàng TMCP xuất nhạp khẩu Việt Nam – chi nhánh Long Biên.

1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt

Nam – chi nhánh Long Biên.

3 Giới thiệu về ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam (ngân hàng Eximbank)

Eximbank được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Bank), là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam

Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990 Ngày 06/04/1992, Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 11/NH-GP cho phép Ngân hàng hoạt động trongthời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng VN tương đương 12,5 triệu USD với tên mới là Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export ImportCommercial Joint - Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank Đến nay vốn điều lệ của

Eximbank đạt 8.800 tỷ đồng Vốn chủ sở hữu đạt 13.627 tỷ đồng Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở Chính đặt tại TP Hồ Chí Minh và 124 Chi nhánh, phòng giao dịch được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Vinh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình

Dương, Tiền Giang, An Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đắc Lắc, Lâm Đồng và TP.HCM Đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 750 Ngân hàng ở tại 72 quốc gia trên thế giới và hoạt động

4 Sự ra đời và phát triển ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam – chi nhánh Long

Biên.

Trang 16

Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam – chi nhánh Long Biên được thành lập theo tờ trình

số 177/EIB-HĐQT ngày 16/3/2004 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHTMCP xuất nhập khẩu Việt Nam và hồ sơ kèm theo về việc mở chi nhánh cấp II Long Biên trực thuộc Chi nhánh Hà Nội Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam đã được Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP HàNội chấp nhận bằng văn bản số 237/NHNN-HAN7 ngày 27/4/2004.Chi nhánh Long Biên chính thức được thành lập vào ngày 13/08/2004, địa điểm hiện tại : 558 đường Nguyễn Văn Cừ - quận Long Biên – Hà Nội Là chi nhánh cấp II trực thuộc chi nhánh ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam tại Hà Nội (Eximbank Hà Nội)

Quy mô ban đầu của chi nhánh chỉ bao gồm 11 người, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của ban giám đốc và lỗ lực hết mình của cán bộ nhân viên Chi nhánh đã có tiến độ phát triển nhanh chóng, toàn diện và đã đạt được những thành tích đáng kể Chi nhánh ngày càng phát huy vai trò của mình để thúc đẩy nền kinh tế phát triển Hiện nay, chi nhánh đã mở rộng thêm 3 phòng giao dịch trực thuộc tại địa bàn Hà Nội đó là PGD Đồng Xuân, PGD Nguyễn Thái Học, PGD Lò Đúc

2 Nhiệm vụ của chi nhánh Eximbank Long Biên

Eximbank Long Biên cũng như toàn bộ hệ thống Eximbank cung cấp đầy đủ các dịch vụ của mộtNgân hàng tầm cỡ quốc tế, cụ thể sau:

- Huy động tiền gởi tiết kiệm, tiền gởi thanh toán của cá nhân và đơn vị bằng VND, ngoại tệ

và vàng

- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn; cho vay đồng tài trợ; cho vay thấu chi; cho vay sinhhoạt, tiêu dùng; cho vay theo hạn mức tín dụng bằng VND, ngoại tệ và vàng với các điềukiện thuận lợi và thủ tục đơn giản

- Thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu hàng hóa, chiết khấu chứng từ hàng hóa và thực hiệnchuyển tiền qua hệ thống SWIFT với các hình thức thanh toán bằng L/C, D/A, D/P, T/T,P/O, Cheque

- Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng nội địa và quốc tế, chấp nhận thanh toán thẻ quốc tếVisa, MasterCard, JCB thanh toán qua mạng bằng Thẻ

- Thực hiện giao dịch ngân quỹ, chi lương, thu chi hộ, thu chi tại chỗ, thu đổi ngoại tệ, nhận

và chi trả kiều hối, chuyển tiền trong và ngoài nước

- Các nghiệp vụ bảo lãnh trong và ngoài nước

- Dịch vụ tài chính trọn gói hỗ trợ du học.Tư vấn đầu tư-tài chính-tiền tệ

- Giám đốc

Trang 17

Phòng giao dịch

Phòng dịch vụ khách hàng

Phòng tín dụng tổng hợp

Trang 18

Phòng giao dịch Nguyễn Thái Học

Phòng giao dịch Lò Đúc

Phòng giao dịch Đồng Xuân

Phòng khách hàng cá nhân

Trước những biến động về giá huy động vốn trên thị trường, Eximbank Long Biên đã chủ động

áp dụng nhiều công cụ huy động vốn mới như lãi suất bậc thang, các loại hình tiết kiệm dự thưởng với chương trình khuyến mại hấp dẫn Chính sự linh hoạt và chủ động trong việc điều chỉnh lãi suất đã góp phần giảm tối thiểu tác động của thị trường tới việc huy động vốn, nâng caohiệu quả kinh doanh của ngân hàng.Không những thế, trong những năm qua dưới sự chỉ đạo

Trang 19

đúng đắn của ban Giám đốc cùng với sự nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên

mà Eximbank Long Biên đã phấn đấu đạt được những kết quả đáng khích lệ.Cụ thể xét nguồn vốn huy động của ngân hàng theo cơ cấu sau :

Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại NHTMCP xuất nhập khẩu Việt Nam – Chi nhánh Long Biên (Eximbank Long Biên)

Phân loại theo đối tượng

- Tiền gửi của dân cư 151,64 27,04 227,05 30,24 539,69 45

- Tiền gửi của các tổ chức kinh tế 409,26 72,96 523,80 69,76 659,62 55

Phân loại theo thời hạn

- Tiền gửi không kỳ hạn 95,51 17,03 155,12 20,66 241,98 20,18

 Phân theo đối tượng:

+ Tiền gửi của dân cư : tính đến ngày 31/12/2010 tổng số tiền là 539,69 tỷ đồngchiếm 45% trong tổng nguồn vốn huy động,tăng so với năm 2008 là 388,05 tỷđồng (255,89 %), tăng so với năm 2009 là 312,64 tỷ đồng (137,70%) Tỷ trọngtiền gửi của dân cư tăng đều qua các năm

+ Tiền gửi của các tổ chức kinh tế :tính đến ngày 31/12/2010 tổng số tiền là 659,62

tỷ đồng chiếm 55% trong tổng nguồn vốn huy động,tăng so với năm 2008 là250,37 tỷ đồng (61,18 %), tăng so với năm 2009 là 135,82 tỷ đồng (25,93) Tỷtrọng tiền gửi của các tổ chức kinh tế có xu hướng giảm nhẹ qua các năm

Trang 20

→ Điều này cho thấy, Ngân hàng đã có sự điều chỉnh về khách hàng.Thay vì tập trung vàocác Tổ chức kinh tế thì nay ngân hàng còn quan tâm chú trọng đến đối tượng khách hàng

là tín dụng tiêu dùng cá nhân Không những thế, từ kết quả khách quan trên còn cho tathấy ngân hàng đã chiếm được lòng tin của khách hàng đặc biệt là công tác quản lý tiềngửi của dân cư với các chính sách hợp lý như đa dạng hóa sản phẩm tiền gửi, nâng lãisuất tiết kiệm linh hoạt

 Phân theo thời hạn:

+ Tiền gửi không kỳ hạn (KKH):tính đến ngày 31/12/2010 tổng số tiền là 241,98 tỷđồng chiếm 20,18 % trong tổng nguồn vốn huy động,tăng so với năm 2008 là146,47 tỷ đồng (153,35 %), tăng so với năm 2009 là 86,87 tỷ đồng (56 %) Tỷtrọng trên tổng NVHĐ có xu hướng giảm nhẹ qua các năm

+ Tiền gửi có kỳ hạn: tính đến ngày 31/12/2010 tổng số tiền là 957,33 tỷ đồng chiếm79,82% trong tổng nguồn vốn huy động,tăng so với năm 2008 là 491.94tỷ đồng(105,71%), tăng so với năm 2009 là 361,60 tỷ đồng (60,70%) Tỷ trọng tăng đềuqua các năm

→ Tuy nhiên ta thấy rằng tỷ trọng tiền gửi VNĐ so với tổng nguồn vốn giảm nhẹ qua từngnăm tuy rằng tổng lương tiền gửi VNĐ vẫn tăng.Có thể giải thích điều này là do ngânhàng bắt nhịp với thị trường,đa dạng hóa danh mục tiền gửi,nâng dần tỷ trọng tiền gửi làngoại tệ.Ngoài ra, việc tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ tăng có thể do Eximbank là ngân hàngxuất nhập khẩu nên gia tăng lượng vốn ngoại tệ là điều luôn được quan tâm.Eximbank đãtập trung tín dụng vào các DN xuất khẩu để gia tăng nguồn thu ngoại tệ Thêm vào đóviệc Eximbank thực hiện thành công các mối quan hệ chiến lược với tập đoàn ngân hàngSumitomo Mitsui và 2 quỹ đầu tư nước ngoài vào năm 2008 đã giúp Eximbank tăngnguồn vốn ngoại tệ của mình.Đáng chú ý là tổng nguồn ngoại tệ của chi nhánh vào năm

2010 đã tăng hơn so với 2009 dù tình hình lãi suất, tỷ giá ngoại tệ vàng năm này có nhiềubiến động, đây có thể coi là một thành công của Eximbank Long Biên

 Phân theo loại tiền:

+ VNĐ:tính đến ngày 31/12/2010 tổng số tiền là 695,60 tỷ đồng chiếm 58 % trongtổng nguồn vốn huy động,tăng so với năm 2008 là 307,85 tỷ đồng (79,39 %), tăng

so với năm 2009 là 242,63 tỷ đồng (53,57%) Tỷ trọng nguồn vồn huy động này

có xu hướng giảm nhẹ qua các năm

+ Ngoại tệ:tính đến ngày 31/12/2010 tổng số tiền là 503,71tỷ đồng chiếm 42% trongtổng nguồn vốn huy động,tăng so với năm 2008 là 330,57 tỷ đồng (190,92 %),tăng so với năm 2009 là 205,83 tỷ đồng (69,10%) Tỷ trọng của TG ngoại tệ tănglên

→ Điều này cho thấy, Nguồn vốn huy động từ tiền gửi KKH tăng là do số lượng các đơn vị,

cá nhân mở tài khoản thanh toán qua Chi nhánh tăng, đây là loại tiền gửi có chi phí huyđộng vốn thấp nên việc tăng tiền gửi không kì hạn đã làm giảm chi phí đầu vào đáng kểcho ngân hàng.Tuy nhiên vì tính không ổn định của nguồn vồn này nên tỷ trọng trongtổng nguồn vốn của Chi nhánh còn thấp Còn nguồn vốn huy động từ tiền gửi có kỳ hạntăng có thể do Eximbank đã đưa ra các mức lãi suất có kì hạn tăng cao,lãi suất hấp dẫn

Trang 21

với những kì hạn dài nhằm nâng cao tỷ lệ vốn trung dài hạn trong cơ cấu nguồn vốn đểđảm bảo khả năng thanh khoản cho mình.

+ Ngoài ra,cổ phiếu Eximbank trên thị trường OTC cũng là một trong những cổphiếu ngân hàng được sự quan tâm lớn của nhà đầu tư, vì vậy, chi nhánh cũng huyđộng được một lượng vốn đáng kể thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu

Kết luận: Như vậy, qua số liệu phân tích ở trên chứng tỏ Chi nhánh ngân hàng Nông

Eximbank Long Biên đã thực sự làm tốt công tác huy động vốn của mình, điều này sẽ là một lợi thế tốt để có thể đáp ứng được một cách đầy đủ nhu cầu về vốn cho khách hàng và tạo thế chủ động cho phát triển kinh doanh của Chi nhánh, đồng thời góp phần điều hòa chung cho toàn hệ thống

2 Tình hình sử dụng vốn.

1 Hoạt động tín dụng.

Bên cạnh việc coi trọng công tác huy động vốn, thì ngân hàng Eximbank Long Biên cũngđăc biệt chú trọng tới công tác sử dụng vốn vì đây là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Mặt khác nếu làm tốt công tác sử dụng vốn có thể tác động trở lại thúc đẩy hoạt độnghuy động vốn Như chúng ta đã biết, hiện nay nghiệp vụ tín dụng vẫn là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các NHTM Việt Nam nói chung và của chi nhánh ngân hàng Eximbank Long Biên nói riêng Do đó Eximbank Long Biên đã hướng hoạt động tín dụng trong năm theo mục đích nâng cao chất lượng tín dụng đi đôi với kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế nợ quá hạn, nợ xấu phát

sinh Ngân hàng luôn luôn thực hiện cho vay với 3 mục tiêu cơ bản: Hiệu quả, an toàn vốn đầu

tư và phát triển Dựa vào 3 mục tiêu co bản đó ngân hàng không ngừng đẩy mạnh cho vay đối

với doanh nghiệp vừa và nhỏ ( đây là hoạt động cho vay chủ yếu tại ngân hàng), tài trợ xuất

nhập khẩu, mở rộng hạn mức tín dụng đối với khách hàng có uy tín, tiếp tục tạo sự gắn kết giữa hoạt động tín dụng và tài trợ thanh toán qua nghiệp vụ xuất nhập khẩu trọn gói

Tình hình tín dụng của Eximbank Long Biên được thống kê cụ thể qua bảng sau:

Bảng 2.2 Hoạt động tín dụng tại Eximbank Long Biên.

(Đơn vị tính:Tỷ đồng)

Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)

Tổng dư nợ cho vay 507,86 100 849,95 100 1.304,91 100

Doanh số cho vay 751,98 1.712,58 3.049,59

Trang 22

Phân loại theo loại tiền

- VNĐ 382,02 75,22 655,68 77,14 1.046,67 80,21

- Ngoại tệ 125,84 24,78 194,27 22,86 258,24 19,79

(Nguồn: Báo cáo tài chính tổng hợp giai đoạn 2008-2010, Phòng Tín dụng tổng hợp

Eximbank Long Biên)

Qua bảng số liệu trên ta có thể nhận xét về tình hình sử dụng vốn của chi nhánh như sau:

 Về doanh số cho vay: ta thấy doanh số cho vay đều tăng lên qua các năm Cụ thể, năm

2010 vào thời điểm cuối năm doanh số cho vay là 3.049,59 tỷ đồng, tăng so với năm

2008 là 2.2297,62 tỷ đồng (305,54%) và tăng so với năm 2009 là 1.337,01 tỷ đồng(78.07%) Như vậy, từ những con số tính toán trên cho ta thấy được sự cố gắng của chinhánh trong công tác cho vay Cụ thể, khi nền kinh tế-xã hội nước ta năm 2008 diễn ratrong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khólường.Thì Eximbank Long Biên dã không ngừng mở rộng qui hoạt động, cho dù nền kinh

tế gặp nhiều khó khăn, tăng trưởng tín dụng chậm nhưng chi nhánh vẫn đạt chỉ tiêu doHội đồng quản trị giao.Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng doanh số cho vaytrong 3 năm liên tiếp này là nhờ các chính sách kích thích kinh tế hợp lý của Chính Phủnhằm khơi thông dòng chảy tiền tệ

 Về doanh số thu nợ: ta thấy nó tăng liên tục qua các năm Năm 2010, doanh số thu nợ của

chi nhánh là 2.553,52 tỷ đồng , tăng 2.074,50 tỷ đồng (433,08%) so với năm 2008, vàtăng 1.130,88 tỷ đồng (79,49%) so với năm 2009.Điều này cho thấy, công tác quản lýcũng như chính sách sử dụng vốn của ngân hàng hết sức hiệu quả và phù hợp với tìnhhình hoạt động kinh doanh lúc bấy giờ Cụ thể, ta nhìn lại năm 2008-2009 là năm kinhdoanh làm ăn vô cùng khó khăn của các doanh nghiệp.Đặc biệt là các doanh nghiệp vừa

và nhỏ.Mà hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ yếu của ngânhàng Điều này cho thấy công tác quản lý vốn của chi nhánh là rất tốt

 Tổng dư nợ cho vay: Năm 2010 là 1.304,91 tỷ đồng, so với năm 2008 tăng lên là 797,06 tỷ

đồng (156,95%) , so vói năm 2009 tăng lên là 454,96 tỷ đồn (53,53%) Ta xem xét thêmkết cấu dư nợ của chi nhánh qua các hình thức sau :

+ Kết cấu dư nợ theo thời hạn:

Qua bảng 2.2 ta thấy dư nợ cho vay ngắn hạn và trung dài hạn Cụ thể,dư nợ ngắn hạn năm 2010 là 1.043,93 tỷ đồng, chiếm 80 % trong tổng dư nợ cho vay, và tăng so với năm 2008,

2009 lần lượt là 650,58 tỷ dồng (165,39%); 383,98 tỷ đồng (58,18 %).Tỷ trọng này có xu hướng tăng nhẹ trong các năm

Dư nợ trung dài hạn : Năm 2010 là 260,98 tỷ đồng, chiếm 20% trong tổng dư nợ cho vay.So với năm 2008 tăng lên là 146,48 tỷ đồng (127,93%), so với năm 2009 tăng lên là 70,99 tỷ đồng (37,36%)

Ngày đăng: 14/01/2016, 18:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại NHTMCP xuất nhập khẩu Việt Nam – Chi nhánh  Long Biên (Eximbank Long Biên) - Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu - chi nhánh Long Biên
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn tại NHTMCP xuất nhập khẩu Việt Nam – Chi nhánh Long Biên (Eximbank Long Biên) (Trang 19)
Bảng 2.2 Hoạt động tín dụng tại Eximbank Long Biên. - Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu - chi nhánh Long Biên
Bảng 2.2 Hoạt động tín dụng tại Eximbank Long Biên (Trang 21)
Bảng 2.4: Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Eximbank  Long Biên. - Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu - chi nhánh Long Biên
Bảng 2.4 Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Eximbank Long Biên (Trang 36)
Bảng 2.4: Phân loại dư nợ cho vay tiêu dùng theo kì hạn - Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu - chi nhánh Long Biên
Bảng 2.4 Phân loại dư nợ cho vay tiêu dùng theo kì hạn (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w