1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần

115 919 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 308,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước nhữngtác động của môi trường không thuận lợi, những người ở độ tuổi này thườngphải đối mặt với nhiều áp lực trong cuộc sống như học tập quá căng thẳng, yêucầu đòi hỏi quá cao nhất

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn trầm cảm (RLTC) là một bệnh lý cảm xúc biểu hiện đặc trưngbởi khí sắc trầm, giảm hoặc mất sự quan tâm, thích thú, giảm năng lượng dẫntới tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, các biểu hiện này tồn tại trong thời gian

ít nhất hơn hai tuần [1], [2], [3]

Ngày nay, trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến và

có xu hướng ngày một tăng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đangphát triển Trầm cảm là một vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt trong côngtác chăm sóc sức khoẻ ban đầu Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO), ước tính có khoảng trên 200 triệu người bị rối loạn trầm cảm điểnhình, nghĩa là khoảng5% dân số toàn cầu mắc bệnh này, ở Việt Nam tỷ lệ này

là 2,8% Trầm cảm là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tự sát,

45 – 70% những người tự sát mắc bệnh trầm cảm và 15% số đó đã tử vong dothực hiện được hành vi tự sát [4], [5]

Trầm cảm có thể gặp ở mọi dân tộc, mọi vùng dân cư và mọi lứa tuổi,tần suất trầm cảm thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nghề nghiệp, giớitính, trình độ, mức sống, văn hoá, xã hội và lứa tuổi [6] Ngày nay,tỷ lệ trầmcảm ở lứa tuổi trẻ có xu hướng ngày càng tăng Kết quả nghiên cứu trầm cảm

ở học sinh trung học phổ thông Hà nội năm 2002 của Nguyễn Bá Đạt trên 566học sinh THPT thì có 8,8% học sinh bị trầm cảm[7].Nghiên cứu của Tô ThanhPhương (2005) tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở độ tuổi từ 16 – 25 cao nhất (38,84%), độtuổi từ 36 – 45 tỷ lệ trầm cảm thấp nhất (13,64%) [8]

Kết quả nghiên cứu của Coben (1993): trẻ từ 11 – 20 tuổi tỷ lệ trầm cảm

là 1,6% Kết quả nghiên cứu của Pine (1998): Trẻ 17 – 26 tuổi tỷ lệ rối loạntrầm cảm là 5,0% Kết quả nghiên cứu của Kessler và Walter (1998): cho thấy

độ tuổi từ 15 đến 24: tỷ lệ có rối loạn trầm cảm là 5,8% trong 1 tháng, 12,4%trong 1 năm và 15,3% mắc cả đời [9]

Trang 2

Đặcbiệt, giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi là lứa tuổi có hoạt động sinh lý, tâm

lý nổi bật, hoạt động nhận thức cũng phát triển không ngừng Mặt khác, đời sốngcảm xúc, tình cảm của độ tuổi này cũng rất phong phú và đa dạng Trước nhữngtác động của môi trường không thuận lợi, những người ở độ tuổi này thườngphải đối mặt với nhiều áp lực trong cuộc sống như học tập quá căng thẳng, yêucầu đòi hỏi quá cao nhất là những mốc lớn của quá trình học tập như tốt nghiệptrung học phổ thông, thi đại học hay cao đẳng và sau đó là tốt nghiệp đại học,cao đẳng, kiếm được việc làm hay thất nghiệp, xây dựng gia đình … dễ dẫn đến

những phản ứng cảm xúc – hành vi lệch lạc, mà nổi bật là trầm cảm [10].

Theo số liệu của Viện sức khỏe Tâm thần (VSKTT) Quốc gia năm 2011

có 818 bệnh nhân ở độ tuổi từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại Viện, số bệnh nhânđược chẩn đoán rối loạn trầm cảm là 109 bệnh nhân(chiếm tỷ lệ 13%) Trong

đó, chẩn đoán giai đoạn trầm cảm có 67 bệnh nhân, rối loạn cảm xúc lưỡng cựcgiai đoạn trầm cảm có 11 bệnh nhân, trầm cảm tái diễn có 15 bệnh nhân và trầm

cảm trong rối loạn sự thích ứng có 5 bệnh nhân [11].

Ở Việt nam, rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi từ 19 đến 29còn chưa thực sựđược quan tâm, chưa có các công trình nghiên cứu đầy đủ về rối loạn trầmcảm ở độ tuổi này

Với mong muốn tìm hiểu được toàn bộ bệnh cảnh lâm sàng, hình tháitiển triển của bệnh lý này một cách hệ thống, để giúp cho việc phát hiện sớm

và can thiệp kịp thời các rối loạn trầm cảm ở độ tuổi này Do vậy, chúng tôi

chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ởlứa tuổi từ

19 đến 29 điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần” nhằm mục tiêu:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần.

2 Nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

Hiện nay, theo mô tả trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10(ICD-1-0), trầm cảm là một hội chứng bệnh lý, biểu hiện đặc trưng bởi khísắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dễ mệt mỏi, phổ biến

là tăng mệt mỏi rõ rệt nhiều khi chỉ sau một cố gắng nhỏ Kèm theo là cáctriệu chứng phổ biến khác như: giảm sút tập trung chú ý, giảm sút lòng tựtrọng và lòng tự tin; có ý tưởng bị tội và không xứng đáng; bi quan về tươnglai; có ý tưởng và hành vi tự huỷ hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ; giảm cảm giácngon miệng Ngoài ra còn có các triệu chứng loạn thần Các biểu hiện trên tồn

tại trong một khoảng thời gian tối thiểu hai tuần liên tục [12].

Trang 4

hoàn; năm 1882 nhà Tâm thần học người Đức Karl Kahlbaum dùng thuật ngữ

“Cyclothymia” (bệnh khí sắc chu kỳ) để mô tả hưng cảm và trầm cảm là cácgiai đoạn cảm xúc của cùng một bệnh; năm 1899 nhà Tâm thần học ngườiĐức Kraepelin mô tả thao cuồng và sầu uất là hai hình thái đối lập nhau trong mộtbệnh cảnh và đặt tên là loạn thần hưng trầm cảm (Psychose – Manico – Depressive)[1] Năm 1950 Kleist phân ra hai thể loạn thần hưng trầm cảm lưỡng cực và đơncực Quan điểm này được chấp nhận cho đến năm 1962 khi Leonard và cộng sự đềxuất sự phân loại thành ba nhóm: Trầm cảm đơn cực, hưng cảm đơn cực và nhữngbệnh nhân bị cả rối loạn TC và hưng cảm (lưỡng cực) Trầm cảm đã được các nhàTâm thần học mô tả một cách cụ thể hơn vào những năm 80 của thế kỷ XXvới đặc trưng: cảm xúc, hành vi và tư duy đều bị ức chế

- Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD 10: trầm cảm được xếp ở các mục [12]:

+ F41.2: Rối loạn hỗn hợp lo âu – trầm cảm

+ F43.20 và F43.21: Trầm cảm trong rối loạn sự thích ứng

+ F20.4: Trầm cảm sau phân liệt

1.2 Vài nét về dịch tễ học và tình hình nghiên cứu rối loạn trầm cảm

1.2.1.Trên thế giới

Rối loạn trầm cảm là một bệnh lý khá phổ biến Theo J.Angst (1992),L.Judd (1994) và một số tác giả khác, rối loạn trầm cảm chiếm tỷ lệ 4 - 6,5%dân số [13] Ở Pháp có khoảng 10% dân số mắc RLTC, tỷ lệ mắc bệnh chungtại một thời điểm là 2- 3% dân số và ở nhiều nước là từ 3 - 5% Nghiên cứu

Trang 5

của M.M Weissman và của nhiều tác giả khác cho thấy tỷ lệ mắc trong đờicủa rối loạn trầm cảm từ 1,5% - 19,0% dân số và tỷ lệ mắc hàng năm từ 0,8 -5,8% [14], [15], [16]

Tỷ lệ tự sát ngày càng tăng có liên quan đến trầm cảm [17] Ở Pháp sốngười tự sát tăng từ 8.300 người (năm 1975) lên 10400 người (năm 1980) và

12041 người (năm 1994) Theo M.L.Bourgeois (1998), trong số người tự sát,rối loạn tâm thần chiếm 90% (trong đó trầm cảm chiếm 46%) [9] Tự sátnguyên nhân do trầm cảm không giảm, mà còn có xu hướng tăng cao hơnnhiều bệnh lý khác

1.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt nam, hơn một thập kỷ gần đây vấn đề sức khoẻ tâm thần nóichung và trầm cảm nói riêng được đề cập đến nhiều hơn, đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về trầm cảm ở các khía cạnh khác nhau

Theo Ngô Ngọc Tản và Cao Tiến Đức (2001), rối loạn trầm cảm chiếm3,4% khi điều tra các bệnh tâm thần ở một phường thuộc khu vực thành thị LãThị Bưởi điều tra các bệnh tâm thần ở một phường của một thành phố lớn chothấy rối loạn trầm cảm chiếm 4,1% Nguyễn Văn Siêm và cộng sự thấy rối loạntrầm cảm chiếm 8,35% dân số khi điều tra ở một xã vùng nông thôn [18]

Theo Trần Văn Cường và cộng sự (2002), trầm cảm điển hình chiếm2,8% khi điều tra dịch tễ học lâm sàng một số bệnh tâm thần thường gặp ở cácvùng kinh tế - xã hội khác nhau [19]

Theo Tô Thanh Phương (2005) Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạntrầm cảm nặngcho thấy tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở độ tuổi từ 16 – 25 cao nhất(38,84%), độ tuổi từ 36 – 45 tỷ lệ trầm cảm thấp nhất (13,64%) [8]

Trang 6

1.3 Bệnh nguyên, bệnh sinh của trầm cảm

1.3.1.Bệnh nguyên

Kielholf.P 1973 chia nguyên nhân gây trầm cảm làm 3 nhóm:

1.3.1.1 Do căn nguyên tâm lý

Brice Pitte (1982) cho rằng trầm cảm là một đáp ứng cảm xúc tự nhiên

và bình thường của con người trước những mất mát to lớn, tuyệt vọng, lo âutrước những mối nguy hiểm đe doạ Trầm cảm được xem là bệnh lý khimức độ nặng của trầm cảm hoặc sự kéo dài các biểu hiện của trầm cảm khôngtương xứng với các tác nhân kích thích gây ra [20]

Đây là nguyên nhân thường gặp gây trầm cảm Sang chấn tâm lý có thể đến từbên ngoài cơ thể như những mâu thuẫn trong gia đình, bạn bè, công việc v.v hoặc những căng thẳng cũng có thể đến từ bên trong cơ thể như bị các bệnhnặng, nan y (HIV-AIDS, ung thư v.v ) Tuy nhiên cần đánh giá đúng mức độảnh hưởng của những stress này khi chẩn đoán vì có thể một mình yếu tốcăng thẳng ấy đã đủ gây ra trầm cảm (như người thân qua đời hay thiên taithảm khốc v.v hoặc những căng thẳng không nặng nhưng kéo dài, trườngdiễn như sức ép công việc kéo dài, mệt mỏi trong quan hệ vợ chồng, giađình, bệnh nặng kéo dài v.v ) Các yếu tố gây stress và những biến cốtrong cuộc sống nếu kéo dài, tích luỹ lại gây ra sự quá tải về tâm lý tácđộng vào nhân cách dễ bị tổn thương là nguyên nhân gây trầm cảm[21]Việc chẩn đoán đúng mức độ ảnh hưởng của những sang chấn tâm lýnày sẽ rất có ích trong điều trị trầm cảm

Giai đoạn từ 19 tuổi đến 29 tuổi, là giai đoạn cuộc sống có nhiều áp lựcnhư: học tập căng thẳng, công việc khó khăn, không có việc làm, tình trạngthất nghiệp, đời sống thiếu thốn Đồng thời, đặc điểm tâm lý ở giai đoạn này

có nhiều biến động không ổn định Đó là những yếu tố đóng vai trò quantrọng trong rối loạn trầm cảm ở thanh niên độ tuổi này [10]

Trang 7

1.3.1.2 Do các nguyên nhân là bệnh lý thực tổn, các rối loạn thoái triển hoặc do sử dụng các chất gây nghiện và thuốc ức chế tâm thần

Bệnh lý thực tổn não được thừa nhận là đóng vai trò quan trọng và phổbiến trong lâm sàng tâm thần học người cao tuổi Nhưng là nguyên nhân ítgặp trong lâm sàng rối loạn trầm cảm ở tuổi thanh niên

Robert C Baldwin (1993) nêu ra 50% các bệnh nhân đột quỵ cấp cócác biểu hiện trầm cảm rõ rệt trên lâm sàng Tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhânAlzheimer là 15 – 40% [22]

Các chất gây nghiện hoặc các chất tác động tâm thần:Như Heroin,Amphetamin (thuốc lắc), rượu, thuốc lá v.v Đặc điểm chung của các chấtnày là giai đoạn đầu thường gây kích thích, sảng khoái, hưng phấn nhưng sau

đó thường rơi vào trạng thái trầm cảm, mệt mỏi, uể oải, giảm sút và ức chếcác hoạt động tâm thần (giai đoạn ức chế)

Đặc biệt, lứa tuổi từ 19 đến 29, là lứa tuổi rất nhạy cảm, dễ bị lôi kéo.Trong xã hội hiện nay, tình trạng lứa tuổi này sử dụng các chất gây nghiện vàcác chất tác động tâm thần có xu hướng ngày càng tăng Theo báo cáo của BộLao động Thương binh và Xã hội về tình hình sử dụng ma tuý ở Việt namnăm 2011: gần 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi dưới 30 tuổi (năm 1995 tỷ

lệ này chỉ khoảng 42%) Hơn 95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là namgiới Tuy nhiên, tỷ lệ người nghiện là nữ giới cũng đang có xu hướng tăngtrong những năm qua [23] Do vậy, sử dụng ma tuý và các chất tác động tâmthần cũng là một trong những căn nguyên quan trọng gây nên trầm cảm ở lứatuổi từ 19 đến 29

1.3.1.3 Do nội sinh

Khi đã loại trừ tất cả các nguyên nhân trên Do rối loạn hoạt động của cácchất dẫn truyền thần kinh trong não như: Serotonin, Noradrenalin thường làdẫn đến trầm cảm nặng, có thể có ý tưởng và hành vi tự sát, kèm theo các rối

Trang 8

loạn loạn thần như hoang tưởng bị tội, ảo thanh sai khiến tự sát v.v Loại trầmcảm này điều trị rất khó khăn và thường dễ tái phát.

Cho đến nay trầm cảm nội sinh vẫn dựa vào giả thuyết đa yếu tố như là:Các giả thuyết về di truyền, giả thuyết về các amin sinh học, thuyết về thần kinhnội tiết và thuyết về hệ thần kinh trung ương

1.3.2.Bệnh sinh

Trầm cảm có cơ chế bệnh sinh khá phức tạp, có nhiều giả thuyết khácnhau về căn nguyên, cơ chế bệnh sinh, hình thái bệnh học, tiến triển bệnh,điều trị … Tuy hiện chưa có một giả thuyết nào hoàn toàn thoả mãn được cácnhà nghiên cứu, nhưng các học giả đã thống nhất: trầm cảm là một hình tháiđáp ứng phức hợp tâm sinh – xã hội làm thay đổi rất nhiều không chỉ lànhững rối loạn đặc trưng về tâm thần, mà còn gây ra những biến đổi cơ thể(thần kinh, nội tiết, chuyển hoá…) Vai trò của các monoamine như serotonin,noradrenalin, dopamine … đã được ghi nhận Những thay đổi này và nhữngtác động của nó đến trầm cảm còn được tiếp tục quan sát, nghiên cứu [9],[24], [25], [26]

1.3.2.1 Các Giả thuyết về sinh học

Các amin sinh học:

Giả thuyết Amine sinh học nhận thấy Reserpine là chất gây trầm cảm, làm giảmcác Amine sinh học (Cathecholamines) và Indoleamines trong khi các thuốcchống trầm cảm (CTC) làm tăng các Amine sinh học Tuy nhiên, các nghiên cứuchỉ ra sự thay đổi không giống nhau trong rối loạn điều hòa chất dẫn truyền thầnkinh Người ta đã tìm thấy những bất thường trong chuyển hóa Cathecholamine

và Indoleamine (5-hydroxyindoleacetic acid [5HIAA], Homovanillic acid [HVA],3-methoxy-4-hydroxyphenylglycol [MHPG] trong máu, nước tiểu, dịch não tủy ởnhững bệnh nhân rối loạn khí sắc [27], [28], [29], [30]

Trang 9

- Norepinephrin:

Sự tương quan được chỉ ra bởi các nghiên cứu sự điều chỉnh của thụcảm β - adrenergic và những đáp ứng lâm sàng của thuốc CTC cho thấy vaitrò trực tiếp của hệ thống noradrenergic trong trầm cảm Trong trầm cảm, mật

độ thụ thể β - adrenergic giảm sút đáng kể so với người bình thường Bằngchứng khác cũng thấy có sự liên quan đến receptor trước synape β2 -adrenergic trong trầm cảm, khi hoạt hoá thụ thể này sẽ làm giảm bớt lượng

xác định nằm trên các neuron thần kinh serotonergic và điều hoà lượngserotonin Hiệu quả lâm sàng các thuốc CTC tác dụng lên noradrenergic nhưSertraline làm tăng cường vai trò của norepinephrine trong sinh lý bệnh cáctriệu chứng của trầm cảm [27], [29]

- Serotonin: Người ta nhận thấy trong rối loạn trầm cảm, nồng độ

Serotonin tại khe synap thần kinh ở vỏ não giảm sút so với người bình thường(có trường hợp chỉ còn bằng 30% so với người bình thường) Bên cạnh đó,nồng độ các sản phẩm chuyển hóa của Serotonin trong máu, trong dịch nãotủy cũng giảm thấp Giảm Serotonin có thể làm suy nhược cơ thể nặng thêm

và một số bệnh nhân có ý tưởng thôi thúc tự sát, có sự giảm tập trung các chấtchuyển hóa Serotonin ở dịch não tủy và giảm tập trung ở vị trí hấp thụSerotonin trên tiểu cầu Tác dụng ức chế chọn lọc tái hấp thu Serotonin(SSRIs) như Fluoxetine sẽ làm tăng nồng độ Serotonin ở khe synap và có tácdụng trong điều trị trầm cảm Hơn nữa SSRIs và các thuốc CTC khác giảiphóng Serotonin cũng có hiệu quả trong điều trị chống trầm cảm Như vậySerotonin trở thành chất dẫn truyền thần kinh sinh học phổ biến nhất liênquan đến sinh lý bệnh của trầm cảm [27],[30]

- Dopamine: chất dẫn truyền thần kinh Dopamine không đóng vai trò lớn

trong trầm cảm như Norepinephrine và Serotonin Nhiều bằng chứng cho thấy

Trang 10

hoạt tính của Dopamine giảm trong trầm cảm và tăng trong hưng cảm Khámphá các kiểu thụ thể Dopamine mới và tăng hiểu biết về sự điều tiết trướcsynap và sau synap được phong phú hơn khi tiến hành nghiên cứu mối liênquan giữa Dopamine và các rối loạn khí sắc Các thuốc làm giảm độ tập trungDopamine như Reserpine (Serpasil) và các bệnh giảm dopamine như bệnhParkinson có sự liên quan với các triệu chứng trầm cảm Ngược lại, các thuốclàm tăng độ tập trung dopamine như Tyrosine, Amphetamine và Bupropion(Wellbutrin), làm giảm các triệu chứng của trầm cảm Hai học thuyết gần đây

về Dopamine và trầm cảm là thuyết dẫn truyền trung gian hệ viền có thể hoạt

hoạt động trong trầm cảm [27], [30]

Các yếu tố hóa học thần kinh khác:

Mặc dù các số liệu cho đến nay vẫn chưa thuyết phục, acid amine dẫn truyềnthần kinh (đặc biệt là γ- aminobutyric acid) và hoạt động các peptid thần kinh(vasopressin và các opiate nội sinh) liên quan đến bệnh sinh của các rối loạnkhí sắc Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống điều chỉnh thông tin thứhai như adenylate cyclase, phosphatidylinositol và calcium cũng có thể vừa lànguyên nhân vừa là hậu quả Các acid amin glutamate và glycine là chất kíchthích dẫn truyền thần kinh chủ yếu trong hệ thống thần kinh trung ương.Glutamate và glycine tập trung ở vị trí liên kết với thụ thể N-methyl-Daspartate (NMDA) và khi thừa quá có thể gây hậu quả nhiễm độc thần kinh.Hồi hải mã có sự tập trung cao thụ thể NMDA, thêm vào đó là glutamate có

sự liên quan đến tăng cortisol máu làm ảnh hưởng khả năng nhận thức dostress mạn tính [6], [27]

1.3.2.2 Các thuyết về những bất thường thần kinh nội tiết

Hoạt động của hệ limbic có vai trò trung gian liên quan đến các trạngthái cảm xúc điều khiển giải phóng các hormone tuyến yên - một tuyến quan

Trang 11

trọng trong hệ thống nội tiết các hệ trục: "Dưới đồi - tuyến yên - tuyến giáp"(HPT), "dưới đồi - tuyến yên - thượng thận" (HPA) và "dưới đồi - tuyến yên -tuyến sinh dục" (HPGH) Hormone tăng trưởng (GH) khi bị rối loạn sẽ dẫnđến thay đổi về nội tiết và có liên quan đến RLCX Sự bài tiết GH tăng vềđêm và giảm trong ngày, GH giảm đáp ứng với Clonidine và Apomorphinexảy ra ở các bệnh nhân trầm cảm Sự tăng hoạt động của hệ trục HPA đượcnhận thấy ở ít nhất 50% bệnh nhân trầm cảm: khi mất điều hòa hệ thống HPAlàm tăng cortisol trong máu dẫn tới làm giảm serotonin Test giảmDexamethasone không đặc hiệu cho bệnh trầm cảm Rối loạn hoạt động củatrục HPT cũng được nhận thấy ở bệnh nhân trầm cảm: TRH của vùng dướiđồi kích thích tuyến yên giải phóng TSH - có vai trò điều hòa sản xuấthormone tuyến giáp T3, T4 Khi TSH tăng cao dẫn tới rối loạn cảm xúc lưỡngcực Khoảng 4% bệnh nhân rối loạn cảm xúc có tăng nồng độ TSH, hơn nữa

có khoảng 25 - 70% bệnh nhân giảm đáp ứng TSH đối với TRH [6], [31].Một số nghiên cứu nhận thấy rối loạn trầm cảm hay gặp ở phụ nữ, các giaiđoạn trầm cảm thường xuất hiện liên quan với các thời kỳ dậy thì, có thai, sausinh đẻ, chu kỳ kinh nguyệt [31]

1.3.2.3 Các giả thuyết về di truyền

Các yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của rốiloạn trầm cảm Các nghiên cứu về gia đình và các cặp sinh đôi ủng hộ giảthuyết này[24].Những người họ hàng mức độ 1 của bệnh nhân trầm cảm cónguy cơ bị trầm cảm cao hơn người bình thường từ 2-3 lần

- David nhận thấy bố mẹ, anh chị em ruột và con cái của những bệnhnhân bị trầm cảm nặng có nguy cơ bị rối loạn này lên đến 10 - 15% so vớinguy cơ trong dân số là 1 - 2% và tỷ lệ này ở những cặp sinh đôi cùngtrứng là 23%

Trang 12

1.3.2.4 Giả thuyết về hình thái của hệ thần kinh trung ương

Các nghiên cứu gần đây cho thấy có vài vùng não bị thay đổi cấu trúc,thay đổi chuyển hoá, teo hay chết một số tế bào thần kinh đặc hiệu trong nãocủa những người rối loạn trầm cảm

Nghiên cứu trên hình ảnh CT – sọ não ở bệnh nhân trầm cảm, Targum

SD (1983) [32] thấy rõ giãn rộng não thất bên (phụ thuộc vào tuổi khởi phát

và thời gian kéo dài của bệnh)

Các nghiên cứu hình ảnh não bằng chụp cộng hưởng từ thấy bệnh nhântrầm cảm có loạn thần có não thất giãn rộng hơn nhóm chứng và có kíchthước chất trắng lớn hơn bệnh nhân trầm cảm không có loạn thần

Đặc biệt những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng thể tích hồi hải mã bịgiảm, có kèm theo sự giảm sinh tế bào thần kinh mới ở hồi hải mã Người tacòn thấy hiện tượng teo vỏ não trước trán và hạnh nhân là những vùng kiểmsoát về cảm xúc, khí sắc, dẫn đến giảm tính linh hoạt của tế bào thần kinh và

điều này có thể đóng vai trò chủ yếu trong bệnh nguyên của trầm cảm [33].

1.3.2.5 Các giả thuyết về tâm lý - xã hội – văn hoá

Giả thuyết về nhận thức:

Theo Sadock các rối loạn chức năng nhận thức là cốt lõi của trầm cảm.Các thay đổi về cơ thể, cảm xúc và liên quan khác của trầm cảm đều là hậuquả của rối loạn nhận thức

Các tác giả đưa ra bộ ba triệu chứng về nhận thức của trầm cảm:

- Sự tự nhận, đánh giá về mình một cách tiêu cực: là người có nhiềuthiếu sót, khuyết điểm, không có năng lực, không ai ưa thích

- Khuynh hướng xem xét thế giới xung quanh với màu sắc tràm cảm,

âm tính: là một thế giới đầy tiêu cực, luôn chờ đợi một điều không may mắn

sẽ xảy ra, một sự trừng phạt khó tránh khỏi

Trang 13

- Sự cam chịu, sẵn sàng để sống một cuộc sống vất vả, khó khăn, chịuđựng mọi thua thiệt, bị tước đoạt và thất bại.[34].

Các sự kiện sang chấn trong cuộc sống:

Các sang chấn tâm lý thường là nguyên nhân hoặc yếu tố khêu gợitrạng thái trầm cảm nhẹ như trầm cảm phản ứng, cũng có thể stress là nguyênnhân và là yếu tố làm nặng thêm các trường hợp trầm cảm nặng Paykel(1978) và Brown cùng cộng sự (1973) thấy nguy cơ phát bệnh trầm cảm tăng

6 lần trong 6 tháng kể từ khi trải qua những biến cố bất lợi liên quan đến cuộcsống của cá nhân và gia đình như: mất mát do chết chóc, đổ vỡ trong tình yêuhoặc tổn thất lớn về kinh tế, mất việc, sự xúc phạm nặng nề, bệnh cơ thểnặng, mạn tính [35] Tình trạng hôn nhân tan vỡ, thất nghiệp kéo dài và tự sát

là cũng phổ biến Các báo cáo từ nhiều quốc gia cho thấy có 8- 20% nhữngngười rối loạn cảm xúc nghiện rượu kết thúc cuộc sống của họ bằng tự sát(Ritson 1977) [36] Có khi có những hành vi vi phạm pháp luật từ nhẹ nhưgây rối trật tự xã hội đến hành vi giết người [37]

Thuyết hành vi - nhận thức[34].

Peter Lewinsohn cho rằng trầm cảm xuất hiện là do có những hoạtđộng tích cực (positive reinforcements) trong cuộc sống hàng ngày tác độngvào,sự tác động này có thể xảy ra theo hai cách:

dụ như ở trong môi trường cách ly do đó các kỹ năng xã hội nghèo nàn)

Martin Seligman đã phát triển học thuyết “không được giúp đỡ tậpnhiễm” (learned helplessness) từ những thí nghiệm trên động vật Từ đó, ôngcho rằng trầm cảm xuất hiện là do sự mất kiểm soát (có thể thật sự hoặc dotưởng tượng) đối với những sự kiện tiêu cực hàng ngày trong cuộc sống

Trang 14

Aaron Beck đã phát triển học thuyết nhận thức hành vi (cognitivebehavioural theory) về trầm cảm Ông cho rằng trầm cảm được hình thành là

do bệnh nhân diễn giải sai lệch những sự kiện trong cuộc sống Điểm cốtlõi của học thuyết này bao gồm bộ ba nhận thức trong trầm cảm, đó là:

 Cái nhìn tiêu cực về bản thân: ví dụ mọi việc đều tệ hại vì tôi là người xấu

đều luôn luôn tệ hại

Nguyên lý cơ bản của học thuyết nhận thức hành vi là bệnh nhân diễngiải thế giới theo chiều hướng tiêu cực Những sai lệch về nhận thức điểnhình bao gồm:

kiện tiêu cực là do lỗi của bản thân mình

những yếu tố tiêu cực trong những thông tin tích cực

mạnh đến các yếu tố tiêu cực và không chú ý đến những điểm tíchcực của sự việc

những sự việc trải nghiệm một ý nghĩa riêng và phản ứng lại với ý nghĩa

đó chứ không phải phản ứng với chính bản thân sự việc

1.4 Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán rối loạn trầm cảm

1.4.1 Đặc điểm lâm sàng

1.4.1.1.Theo kinh điển:Trầm cảm điển hình là một quá trình ức chế toàn bộ

các hoạt động tâm thần thể hiện qua cảm xúc, tư duy và hành vi biểu hiệnbằng các triệu chứng sau[6]:

Trang 15

+ Cảm xúc bị ức chế: khí sắc trầm, buồn rầu, ủ rũ, mất thích thú cũ,nhìn xung quanh thấy ảm đạm.

+ Tư duy bị ức chế: suy nghĩ chậm chạp, liên tưởng khó khăn, tự chomình là hèn kém, bi quan về tương lai, mất tin tưởng vào bản thân Trongtrường hợp nặng có hoang tưởng bị tội hay tự buộc tội, ảo thanh nghe tiếngnói tố cáo tội lỗi của mình hay báo trước về những hình phạt sẽ xảy đến vớimình làm cho bệnh nhân xuất hiện ý tưởng hoặc hành vi tự sát

+ Vận động bị ức chế: bệnh nhân ít hoạt động, ít nói, ăn uống kém,thường hay ngồi hoặc nằm lâu ở một tư thế, trường hợp nặng có thể có bất động

1.4.1.2.Theo Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) của Tổ chức Y tế Thế giới [12]

Rối loạn trầm cảm là một giai đoạn rối loạn khí sắc kéo dài ít nhất là 2tuần Giai đoạn trầm cảm được chia thành các mức độ khác nhau như: GĐTCnhẹ, GĐTC vừa, GĐTC nặng và kèm theo các triệu chứng loạn thần hay cáctriệu chứng cơ thể Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn trầm cảm dựa vào 3triệuchứng đặc trưng và 7 triệu chứng phổ biến

* 3 triệu chứng đặc trưng bao gồm: khí sắc trầm, mất mọi quan tâm vàthích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động

* 7 triệu chứng phổ biến bao gồm:

- Giảm sút sự tập trung, chú ý

- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin

- Xuất hiện những ý tưởng bị tội và không xứng đáng

- Nhìn vào tương lai ảm đạm, bi quan

- Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại cơ thể hoặc tự sát

- Rối loạn giấc ngủ: Bệnh nhân thường mất ngủ vào cuối giấc

- Ăn ít ngon miệng

Trang 16

Ngoài ra bệnh nhân còn có biểu hiện của mất hoặc giảm khả năng tìnhdục, các triệu chứng của lo âu, rối loạn thần kinh thực vật Trong nhữngtrường hợp trầm cảm nặng bệnh nhân có thể xuất hiện hoang tưởng tự buộctội, hoang tưởng về những tai họa sắp xảy ra hoặc ảo thanh với những lời kếttội, phỉ báng, ảo khứu với mùi thịt thối rữa.

1.4.2 Chẩn đoán trầm cảm (Theo ICD 10)

1.4.2.1 Chẩn đoán giai đoạn trầm cảm

* Chẩn đoán giai đoạn trầm cảm: dựa vào những triệu chứng sau:

+ Khí sắc trầm+ Mất mọi quan tâm và thích thú+ Giảm năng lượng dẫn đến mệt mỏi và giảm hoạt động

+ Giảm sút sự tập trung và sự chú ý+ Giảm sút tính tự trọng và lòng tin+ Những ý tưởng bị tội và không xứng đáng+ Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan+ Ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát+ Rối loạn giấc ngủ

+ Ăn ít ngon miệng

 Các triệu chứng cơ thể

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD- 10, trầm cảm được chẩn đoán theo

3 mức độ: nhẹ, vừa và nặng tùy thuộc vào số lượng của các triệu chứng đặctrưng và phổ biến (các triệu chứng này đã được liệt kê ở mục 1.1.4) và cáctriệu chứng này phải kéo dài trong thời gian ít nhất 2 tuần[12]

Trang 17

Các mức độ

- Trầm cảm mức độ nhẹ:

Chẩn đoán mức độ này khi bệnh nhân có ít nhất 2 trong số các triệuchứng đặc trưng và ít nhất 2 trong số các triệu chứng phổ biến và không cótriệu chứng nào trong số những triệu chứng này ở mức độ nặng Các triệuchứng này làm bệnh nhân gặp khó khăn trong các hoạt động xã hội, công việcthường ngày nhưng vẫn có thể tiếp tục được Trong trầm cảm mức độ nhẹbệnh nhân có thể có hoặc không có những triệu chứng cơ thể

- Trầm cảm mức độ vừa:

Khi bệnh nhân có ít nhất 2 trong số 3 triệu chứng đặc trưng và ít nhất 3trong số các triệu chứng phổ biến Các triệu chứng này gây khó khăn đáng kểtrong việc tiếp tục các chức năng nghề nghiệp, xã hội hoặc các sinh hoạt tronggia đình Bệnh nhân có thể có hoặc không có các triệu chứng cơ thể

- Trầm cảm mức độ nặng:

Khi bệnh nhân có cả 3 triệu chứng đặc trưng và ít nhất 4 trong số cáctriệu chứng phổ biến, vài triệu chứng trong số này phải ở mức độ nặng Tuynhiên, nếu như bệnh nhân có kích động hoặc chậm chạp tâm thần vận động rõrệt thì khó có thể mô tả các triệu chứng khác một cách chi tiết Do đó, trầmcảm nặng vẫn được chẩn đoán trong trường hợp này Nếu các triệu chứngtrầm cảm xuất hiện nặng nề và khởi phát nhanh thì thời gian dùng để chẩnđoán có thể < 2 tuần Trong giai đoạn trầm cảm nặng bệnh nhân không thểtiếp tục sinh hoạt và làm việc được

Trong trầm cảm mức độ nặng được phân thành hai loại là trầm cảmmức độ nặng không có các triệu chứng loạn thần và trầm cảm mức độ nặng cócác triệu chứng loạn thần Các triệu chứng loạn thần có thể là hoang tưởngliên quan đến những ý nghĩ về sự nghèo đói, tội lỗi hoặc những thảm họa sắpxảy ra mà bệnh nhân là người gây ra nó Ảo giác có thể là ảo thanh với lời lẽkết tội, phỉ báng bệnh nhân hoặc ảo giác khứu giác với mùi thịt thối rữa

Trang 18

1.4.2.2.Chẩn đoán trầm cảm tái diễn

Biểu hiện đặc trưng bởi sự lặp đi lặp lại những giai đoạn trầm cảm đãđược biệt định như giai đoạn trầm cảm nhẹ, giai đoạn trầm cảm vừa hoặc giaiđoạn trầm cảm nặng không có rối loạn khí sắc đáng kể Bao gồm các nhómnhỏ sau[12]:

Có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn và giai đoạn hiệnnay phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn trầm cảm nhẹ

Có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn và giai đoạn hiệnnay phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn trầm cảm vừa

chứng loạn thần

Có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn và giai đoạn hiệnnay phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn trầm cảm nặng không kèm theocác triệu chứng loạn thần

loạn thần

Có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn và giai đoạn hiệnnay phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn trầm cảm nặng có kèm theo cáctriệu chứng loạn thần (có các hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ trầm cảm)

1.4.2.3 Chẩn đoán RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm

Bệnh nhân được chẩn đoán là trầm cảm trong RLCXLC đáp ứng đầy

đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD -10 (1992) ở các thể:[12]:

+ Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn cho một giai đoạntrầm cảm nhẹ hoặc vừa

Trang 19

+ Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng cảm hoặc hỗn hợp trong quá khứ.

II TRẦM CẢM Ở LỨA TUỔI TỪ 19 – 29

2.1 Quan niệm về tuổi trưởng thành

 Theo Trường phái Hippocrate:

 Theo WHO:

- Tuổi trưởng thành: Mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi dân tộc khác nhau

có độ tuổi trưởng thành khác nhau

- Ngày nay, do trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển,đời sống con người được nâng cao, tuổi thọ con người đượckéo dài hơn Yêu cầu lao động đòi hỏi kỹ thuật công nghệ cao,thời gian học tập kéo dài, độ tuổi trưởng thành của con ngườichậm hơn [38]

Trang 20

Theo các nhà tâm lý học:, thời kỳ đầu tuổi trưởng thành bắt đầu từ khoảng

tuổi 20 và kéo dài đến khoảng 40 tuổi Trong thời kỳ phát triển này, sự thay đổi

cơ thể diễn ra chậm hơn và ít rõ ràng hơn so với các giai đoạn trước Điểm đặcbiệt ở giai đoạn này là sự biến đổi rất phức tạp của các yếu tố xã hội đòi hỏi

con người phải có sự thích ứng về tâm lý với những biến đổi đó[39] Levison

cho rằng:sự trưởng thành của cá nhân trong giai đoạn đầu tuổi trưởng thành làgiai đoạn giải quyết các cuộc xung đột tuổi vị thành niên đi tìm vị trí củamình trong xã hội của người trưởng thành, hình thành các khuôn mẫu ứng xử

ổn định Giai đoạn này được chia thành 3 giai đoạn nhỏ: giai đoạn chuyểntiếp từ tuổi vị thành niên sang tuổi trưởng thành, giai đoạn thâm nhập vào thếgiới người lớn và giai đoạn chuyểnthành người lớn Những khủng hoảng của

cá nhân khi gặp khó khăn có thể diễn ra ở bất kỳ giai đoạn nào đó trong 3 giai

Từ 30 sự phát triển thể chất bắt đầu giảm xuống Hoạt động của hệ thống sinh

hoạt đều giảm sau 40 tuổi[40] [41].

Đặc điểm phát triển của hệ thần kinh giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi: Trọnglượng não đạt đến mức tối đa, số lượng nơron thần kinh lên tới mức cao (14 –

16 tỉ) Quá trình myelin hoá cao độ tạo nên chất lượng nơron thần kinh hoànhảo Số lượng synap của các tế bào thần kinh đảm bảo cho sự liên lạc rộngkhắp, chi tiết, tinh tế và linh hoạt giữa các kênh làm cho hoạt động của não bộ

Trang 21

trở nên nhanh nhạy, chính xác hơn so với các lứa tuổi khác[42], [43] Vào độ

tuổi này, những ai là sinh viên có thể tích luỹ được 2/3 lượng tri thức củacuộc đời trong thời kì học đại học (nhận định của giáo sư sinh học Lê QuangLong – ĐHSP Hà Nội)

Đặc điểm hệ xương và cơ bắp: Hệ xương và cơ bắp phát triển một cách

ổn định, đồng đều, tạo vóc dáng ở người trưởng thành Đồng thời sức nhanh,sức bền, sự dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ sự phát triển ổn định củacác tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng các hormôn giới tính Tuy nhiên, sựphát triển ở hai giới là không giống nhau Ở nữ có sự phát triển thể chất sớmhơn nam 1, 2 năm: sự không giống nhau giữa nam và nữ thể hiện ở đặc điểm

cơ thể như: Tổ chức cơ bắp chân tay của nữ kém hơn nam; xương và khớp chinhỏ hơn nam; tổ chức cơ bắp ở chân tay của nữ kém hơn nam; phổi của namlớn gấp rưỡi nữ; mỗi phút tim của nam đập trung bình 72 lần/phút, nữ là 80 lần/phút Nam trung bình có 4,5 lít máu, nữ là 3,6 lít máu 40% cơ thể nam do cơ

bắp tạo nên, nữ là 35%.[39], [40], [41].

2.3.Đặc điểm phát triển tâm lý xã hội giai đoạn từ 19 – 29 tuổi

Trong sự phát triển tiếp diễn suốt cuộc đời Con người phải trải qua cácgiai đoạn, thời kì với những đặc điểm tâm sinh lí khác nhau Khác với quátrình phát triển ở tuổi vị thành niên, quá trình phát triển ở thời kỳ từ 19 đến 29tuổi, là thời kì đầu trưởng thành (hay còn gọi là thời trưởng thành trẻ tuổi) cónhững thay đổi rất phức tạp trong nhận thức, tư duy, thái độ… Sự thay đổi đóphụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội, văn hoá và nền giáo dục của từng cộng đồng,từng dân tộc, trong các thời đại khác nhau mà cá nhân đó sống và hoạt động

Dấu hiệu đặc trưng của độ tuổi này là khả năng phản ứng với nhữngthay đổi và thích nghi với các điều kiện mới Trong cuộc sống hàng ngày, cầnphải đưa ra những quyết định và vượt qua những khó khăn một cách độc lập

Trang 22

nhất định, việc giải quyết các khó khăn mâu thuẫn, các vấn đề nảy sinh tronghoạt động sống một cách tích cực[39], [40], [41].

Năm 1985, Birren và Cunningham đã xác định các thời kì phát triểncủa người trưởng thành theo “Ba yếu tố cấu thành độ tuổi” đó là: Sinh học, xãhội và tâm lí Trong mỗi một nền văn hoá, xã hội khác nhau,có các đặc điểmtâm sinh lý, độ tuổi của người trưởng thành cũng khác nhau Các yếu tố này

có quan hệ mật thiết với nhau Thế nhưng không phải cả ba yếu tố này xuấthiện cùng một thời điểm trong mỗi con người, mà ở người này yếu tố tâm lí,

xã hội hình thành trước yếu tố sinh học, ở người khác yếu tố sinh học lại hìnhthành trước yếu tố tâm lí xã hội… Những công trình nghiên cứu về xã hộihọc, tâm lý học trên thế giới cho thấy sự chín muồi sinh học thường diễn rasớm hơn yếu tố tâm lý, xã hội Việc ba yếu tố này có quan hệ mật thiết vớinhau nhưng không chín muồi cùng một thời điểm cũng gây ra không ít khókhăn cho mỗi cá nhân con người Nó là một trong những nguyên nhân gâynên sự khủng hoảng tâm lí lứa tuổi này Đây là một giai đoạn ảnh hưởng lớnnhất đến đời sống của con người [39], [45] ], [45]

đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy Các nghiên cứutâm lý học cho thấy rằng hoạt động tư duy của lứa tuổi này rất tích cực và tính

lý luận phát triển mạnh và rất ưa thích khái quát các vấn đề Sự phát triểnmạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo có thể tựphát hiện ra những cái mới

đó Một mặt các quan hệ xã hội được mở rộng Trong các quan hệ đó đòi hỏimỗi cá nhân phải có các cách ứng xử phù hợp Những thay đổi quan hệ trong

xã hội, sự thách thức khách quan của cuộc sống làm xuất hiện những nhu cầu

Trang 23

về hiểu biết thế giới, hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ người người, hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã hội[10].

nhà tâm lý học nhận thấy rằng có nét khác biệt rõ rệt so với tuổi vị thành niên

Ở tuổi vị thành niên thường nêu lên những đặc điểm mang tính nhất thời liênquan đến những hoàn cảnh cụ thể trong các mối quan hệ với bố mẹ hoặc thầy

cô giáo Đối với lứa tuổi này, thường chú ý nhiều hơn đến những phẩm chấtnhân cách có tính bền vững như các đặc điểm trí tuệ, năng lực, tình cảm, ýchí, thái độ đối với lao động, quan hệ với những người khác trong xã hội…

Từ chỗ nhìn nhận được những phẩm chất mang tính khái quát của người khácdần dần con người tự phát hiện ra thế giới nội tâm của bản thân mình[10]

thành niên sang tuổi trưởng thành là một trong những yếu tố tâm lý góp phầntạo nên những mối quan hệ bất bình ổn giữa cha mẹ và con cái, làm cho tần

số giao tiếp giữa cha mẹ và con cái giảm xuống và thay vào đó là nhu cầugiao tiếp với bạn đồng lứa tăng lên Xu hướng vươn tới các giá trị của ngườilớn, so sánh mình với người lớn, mong muốn được tự lập, tự chủ trong giảiquyết các vấn đề của riêng bản thân [39], [40], [41]

Việc xác định mục tiêu, khát vọng đối với mỗi người là khác nhau Ví

dụ có người mơ trở thành ngôi sao điện ảnh, có người ước mình là chính trị

Trang 24

gia, nhà tài phiệt, cô giáo viên, nhà báo, phi công, đậu vào trường đại học,được đi du học, có trình độ ngoại ngữ, tin học hoặc có một mái nhà khangtrang, gia đình hạnh phúc, con ngoan khỏe mạnh [10], [39], [40].

Thời kỳ đầu của độ tuổi trưởng thành khát vọng đó không nhất thiếtđều phải trở thành hiện thực Tuy nhiên, thông qua việc xác định khát vọng vàthực hiện nó, mỗi người sẽ tìm thấy được động cơ, hứng thú để làm việc, họctập và có ý chí quyết tâm trong công việc cũng như trong cuộc sống Đây làmột điểm tốt nhưng đồng thời chính nó cũng tạo ra áp lực và mâu thuẫn trongbản thân mỗi người, đó là sự mâu thuẫn giữa những hạn chế của bản thân vớinhu cầu hiểu biết vô tận Nếu những cá nhân không biết điều chỉnh và thíchứng tốt thì sẽ dần đến thái độ tự ti, tự chê trách bản thân, mặc cảm và nếu lâu

ngày sẽ trở thành bế tắc, khủng hoảng [10], [39],[40].

2.3.2 Đặc điểm về phẩm chất nhân cách

Theo S Freud và một số nhà tâm lý học khác, giai đoạn từ 0 – 5 tuổi làgiai đoạn quan trọng nhất, có ý nghĩa lớn nhất trong việc phát triển nhân cáchcủa con người Giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi là giai đoạn các thuộc tính củanhân cách tiếp tục được củng cố, có sự thay đổi và phát triển Đây là thời kìcon người thực hiện những nhiệm vụ có ảnh hưởng lớn, lâu dài và quyết địnhtới toàn bộ hoạt động sống ở các giai đoạn sau của cuộc đời

Theo Erickson, sự phát triển của con người gồm một chuỗi những mâuthuẫn trong bản thân mỗi người Những mâu thuẫn này là bẩm sinh nổi lên ởnhững giai đoạn khác nhau của hoàn cảnh sống,đòi hỏi những sự thích nghinhất định mà các cá nhân phải đương đầu Mỗi lần cá nhân phải đương đầu đểthích nghi với hoàn cảnh sống như vậy có thể xảy ra theo hướng thích nghi tốthoặc không tốt Erickson gọi đó là một lần khủng hoảng đòi hỏi mỗi ngườiphải vượt qua để chuyển sang một giai đoạn phát triển tiếp theo Nếu khủnghoảng xảy ra mà được giải quyết một cách hiệu quả sẽ góp phần tích cực vào

Trang 25

sự phát triển nhân cách của con người, có ảnh hưởng to lớn đến thái độ và sựphát triển của mỗi cá nhân sau này Những người không vượt quađược khủnghoảng sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển nhân cách, dễ bị tổn thương,

yếu đuối, dễ bị stress [39], [40], [41].

Giai đoạn từ 19 – 29 tuổi, sự tự ý thức, tự đánh giá, tự trọng phát triểnmạnh mẽ Đây là những nền tảng quan trọng cho việc tự giáo dục, tự hoànthiện bản thân Tuy nhiên nếu không được định hướng và giáo dục đúng thì

sự phát triển của các phẩm chất trên cũng có thể dễ tự ti mặt cảm về hoàncảnh, về sự khiếm khuyết của cơ thể hoặc những hạn chế về năng lực củabản thân

2.3.3.Đặc điểm về sự phát triển định hướng giá trị

Hoạt động phát triển định hướng giá trị là nét tâm lý nổi trội của giaiđoạn từ 19 – 29 tuổi Ở giai đoạn này, mỗi cá nhân đã có thể hoạch định chomình những mục đích, mục tiêu, những công việc, kế hoạch cần thực hiệntrong tương lai Tuy nhiên, cuộc sống rất phức tạp, nhiều sự kiện diễn rakhông đúng theo dự định, kế hoạch Điều đó dễ dẫn đến nỗi thất vọng, khủng

hoảng [10], [39].

2.3.4 Đặc điểm về sự phát triển của đời sống cảm xúc và tình cảm lứa tuổi 19 - 29:

Ở giai đoạn này, sự phát triển đời sống tình cảm diễn ra theo hướng độclập và tự chủ Tình cảm đặc trưng ở lứa tuổi này là tình yêu nam nữ Đây làmột sự phát triển tâm sinh lý bình thường và tự nhiên của con người Mặt khácnhững cảm xúc, tình cảm của độ tuổi từ 19 đến 29 thường rất mãnh liệt và lãngmạn Nên khi bị ngăn cấm bởi gia đình, xã hội hoặc bị người yêu khước từ hay

là bỏ rơi dễ dẫn đến bị dồn nén, ức chế và dẫn đến bị trầm cảm [10], [39]

Trang 26

2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý ở lứa tuổi từ 19 – 29:

2.4.1 Yếu tố gia đình

trò rất quan trọng đối với con người Những gia đình có tình trạng bất hòa,xung đột kéo dài sẽtạo nên cuộc sống căng thẳng, nhiều áp lực và thườngdẫnđến tuyệt vọng, chán nản Bất hòa, có thể là bất hòa giữa cha mẹ, bất hòa giữacha mẹ và con cái hoặc là bất hòa giữa anh chị em với nhau và đặc biệt lànhững bất hoà, xung đột của các cặp vợ chồng trẻ với nhau.[10], [40]

bới, bóc lột sức lao động quá mức cũng là nguyên nhân dẫn đến bị stress

hoặc bị thất tình, bị chồng hay vợ phụ bạc, ngược đãi v.v cũng dễ dẫn đến bịtổn thương buồn chán, cô đơn và tuyệt vọng

Điều kiện gia đình kinh tế khó khăn, thu nhập thấp, bấp bênh không ổn định,làm ăn thua lỗ, thất bại cũng dẫn đến những căng thẳng về tâm lý, lo lắngkéo dài dẫn đến rối loạn trầm cảm [44] [45]

Đặc biệt, lứa tuổi 19 đến 29 phải trải qua những mốc lớn trong quátrình học tập như: tốt nghiệp trung học phổ thông, thi vào đại học hay caođẳng và sau đó phải tốt nghiệp cao đẳng hay đại học Với đòi hỏi rất cao của

Trang 27

những mốc quan trọng này, nhiều học sinh, sinh viên bị khủng hoảng và dễdẫn đến chán nản, mệt mỏi [40], [41].

Ngoài việc tạo ra áp lực trong học tập, nhà trường cũng là nới có thểxảy ra nhữngmâu thuẫn và xung đột như sự coi thường, la mắng của thầy côhay sự trêu chọc, kích động của bạn bè cũng khiến cho nhiều người bị mất tựchủ, chán nản, thất vọng và dẫn đến bị trầm cảm

2.4.3 Yếu tố xã hội

Xã hội ngày nay cũng tạo ra nhiều áp lực khiến cho con người dễ bị stress,

dễ bị trầm cảm Đó là:

nền kinh tế có nhiều biến động không thuận lợi Nhiều người sau khi họcxong không kiếm được việc làm hoặc bị mất việc làm do doanh nghiệp bị phásản, cuộc sống khó khăn, thiếu thốn Điều đó dễ dẫn đến tình trạng chán nản,thất vọng và bế tắc[10], [40]

nạn…cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của mỗi cá nhân

thường, tẩy chay, kích động, bị lạm dụng tình dục hay đe dọa của người kháccũng là một nguyên nhân lớn dẫn đến trầm cảm

như: nghiện ma tuý, nghiện rượu, bia, nghiện internet, nghiện chơi cờ bạc củalứa tuổi từ 19 – 29 ngày càng gia tăng Chính tình trạng này mang lại nhiềunguy cơ dẫn đến các xung đột, áp lực căng thẳng và dẫn đến trầm cảm Đồngthời, chính những chất kích thích như rượu, ma tuý cũng là những tác nhân dẫnđến trầm cảm ở độ tuổi này trong giai đoạn xã hội hiện nay.[45], [46]

Trang 28

2.5 Các nghiên cứu về trầm cảm ở lứa tuổi từ 19 – 29

2.5.1 Dịch tễ học trầm cảm lứa tuổi 19 – 29

Rối loạn trầm cảm có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào Hiện naynhiều tác giả thấy khoảng 20% các bệnh nhân RLTC có các triệu chứng khởiđầu ở thời kỳ giữa tuổi niên thiếu và giai đoạn đầu tuổi trưởng thành Một sốnghiên cứu dịch tễ học gần đây nhận thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh của trầm cảmđiển hình tăng lên ở những người trước lứa tuổi 20, có thể liên quan tới tìnhtrạng lạm dụng rượu, ma túy [26], [46], [47]

Theo Weissmann và cộng sự (1996) tuổi khởi phát trung bình củaRLCXLC là 21 tuổi sớm hơn so với trầm cảm điển hình khoảng 6 tuổi [48].Lisa Jones (2005) và cộng sự nghiên cứu thấy tuổi khởi phát trung bình củaRLCXLC là 25,74 và trầm cảm tái diễn là 27,63 tuổi [49]

Nghiên cứu về trầm cảm trong RLCXLC của Trần Thu Hà năm 2007 –

2008 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nghiên cứu ở độ tuổi từ 20 – 29 gặp nhiều nhất(có 14/40 trường hợp, chiếm 35%) và tỷ lệ bệnh nhân khởi phát bệnh ở tuổitrước 30 là trên 60%, trong đó có 14 bệnh nhân nữ và 10 bệnh nhân nam.[50]

Số liệu thống kê của VSKTT Quốc gia số bệnh nhân từ 19 đến 29 tuổiđiều trị nội trú tại Viện được chẩn đoán là rối loạn trầm cảm trong năm 2011

là 109 bệnh nhân và năm 2012 là 97 bệnh nhân [11]:

2.5.2.Đặc điểm lâm sàng RLTC ở lứa tuổi từ 19 – 29

Với đặc thù phát triển ở giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi rất phức tạp, sựchín muồi của 3 yếu tố cơ bản là sinh học, tâm lý và xã hôi không đồng nhất,yếu tố sinh học thường chín muồi sớm hơn yếu tố tâm lý, xã hội Giai đoạn từ

19 – 29 tuổi có đặc điểm là: tuy đã trưởng thành về mặt sinh học, nhưng vềtâm lý có nhiều biến đổi phức tạp, chưa chín muồi Nên các biểu hiện trầmcảm ở lứa tuổi này có nhiều điểm tương đồng với trầm cảm ở tuổi vị thànhniên [39], [51]

Trang 29

2.5.2.1 Đặc điểm lâm sàng thời kỳ khởi phát [10].[51], [51], [53].

- Khí sắc: Ở lứa tuổi này thường có biểu hiện cảm giác buồn chán mơ

hồ, không giải thích được nguyên cớ, hay cáu kỉnh, dễ kích thích hoặc tâmtrạng tức giận thay vì buồn bã, thanh niên bị trầm cảm có thể gắt gỏng, thùđịch, dễ bực tức, giận dữ [10], [51]

- Thay đổi giấc ngủ: thức giấc sớm hoặc ngủ nhiều

- Giảm những sở thích vốn có của bản thân

- Giảm quan hệ trong gia đình, xã hội

- Giảm năng lượng, Giảm hứng thú trong học tập, công việc được giaophó, cả trong các sinh hoạt nhóm hay đoàn thể

- Tư duy: Khó tập trung chú ý, khó tiếp thu học tập, kết quả học giảmsút khó khăn trong việc tập trung, ghi nhớ hoặc đưa ra quyết định

- Cực kỳ nhạy cảm với những lời chì trích

- Rối loạn ăn uống: có thể chán ăn hoặc thèm ăn Những hành vi ănuống bất thường mang tính bệnh lý thường xuất hiện sớm ở thời kỳ khởi phátcủa rối loạn trầm cảm, là triệu chứng thường thấy ở lứa tuổi này

- Các triệu chứng cơ thể, đặc biệt đau là triệu chứng hay được kể đến

nhất Thường là đau đầu, đau bụng, đau ngực, ngột ngạt kèm cảm giác lobuồn, chán nản …Chính vì các biểu hiện triệu chứng cơ thể nổi bật nên đốivới các thể trầm cảm nhẹ, có nhiều tác giả gọi là trầm cảm che đậy bởi cáctriệu chứng cơ thể (hay trầm cảm ẩn) Các thể này thường không được pháthiện chẩn đoán sớm và không được điều trị Đa phần các trường hợp nàyđược khám ở các cơ sở nội nhi, thường được chẩn đoán và điều trị các bệnh lý

cơ thể như: tim mạch, tiêu hoá, thần kinh … Nhưng không hiệu quả hoặckhông tìm thấy các bằng chứng tổn thương thực thể rõ ràng [51], [52], [53]

Các nhà nghiên cứu cho rằng việc phát hiện những dấu hiệu sớm củabệnh kết hợp với can thiệp kịp thời trong 1-2 tuần đầu, khi mức độ trầm trọng

Trang 30

của triệu chứng và mức độ giảm sút chức năng còn nhẹ sẽ làm tăng hiệu quảđiều trị với thời gian thuyên giảm nhanh hơn.

2.5.2.2 Đặc điểm lâm sàng thời kỳ toàn phát:

- Khí sắc trầm là phổ biến nhất gặp từ > 80% - 100% số bệnh nhân.[54]

- Mất quan tâm thích thú và giảm năng lượng cũng thấy có ở đa số cácbệnh nhân

- Giảm tập trung chú ý, khó suy nghĩ hoặc đưa ra quyết định

- Giảm lòng tự trọng, không tự tin vào bản thân

- Bi quan về tương lai

- Các triệu chứng cơ thể của thời kì toàn phát: Mất ham thích những hoạtđộng thường ngày là triệu chứng hay gặp nhất, Tiếp đến là thiếu, mất phản ứngcảm xúc với môi trường xung quanh.Rối loạn về ăn uống: giảm, mất cảm giácngon miệng, sút cân,Giảm hoặc mất hưng phấn tình dục [53], [54], [55]

- Trầm cảm và tự sát:

Ở lứa tuổi từ 19 - 29, trầm cảm không chỉ biểu hiện qua rối loạn cảmxúc (khóc lóc, mất hứng thú, chán nản) mà nó còn có thể biểu hiện qua nhữnghành vi bất thường (ức chế, mệt mỏi khi hoạt động, mất hứng thú với các trògiải trí, xung động, có hành vi hung bạo…) hay những rối loạn cơ thể (đauđầu, rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống…).[10], [53]

Một trong những nguyên nhân của trầm cảm ở tuổi 19 - 29 là do ở tuổinày thường dễ cảm thấy thất bại khi không đạt được lý tưởng của cái tôi quá cao

Rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi này nếu không được nhận biết và canthiệp kịp thời dễ dẫn tới những ý tưởng tự sát và những hành vi nguyhiểm như: đe dọa, xung đột, đánh cuộc hoặc phó thác vào số phận Nhữnghành vi này thường thể hiện sự lo âu, sợ hãi sâu sắc và để chống lại sự lo sợ

đó, người bệnh thường có những hành vi dưới nhiều phương diện khác nhaunhư.[10], [53], [55]

Trang 31

+ Chơi thể thao quá mức.

+ Quan hệ tình dục không an toàn, không sử dụng bao cao su hoặc cácbiện pháp tránh thai gây nên nguy cơ mang thai ngoài ý muốn và nguy cơ lâynhiễm HIV hoặc các bệnh truyền nhiễm khác lây qua đường tình dục

+ Nghiện (ma tuý, rượu, Internet, cờ bạc): Lứa tuổi từ 19 – 29, khi bịtrầm cảm, thường có hành vi muốn tìm cách chống lại sự buồn chán, bế tắc

và khó chịu, đồng thời muốn tạo ra sự thích thú thoải mái Nên dẫn đếnnghiện Nghiện là những hành vi nguy cơ đáng lo ngại nhất ở lứa tuổi này: nóảnh hưởng sâu sắc tới cấu trúc tâm lý sau này ở tuổi trưởng thành[55]

2.6 Các thang đánh giá trầm cảm

Có nhiều thang đánh giá trầm cảm đang được sử dụng như thang pháthiện trầm cảm Beck, thang đánh giá trầm cảm của Hamilton, thang đánh giátrầm cảm của Raskin, thang đánh giá trầm cảm Montgomery Asberge(MADRS) Trong số này có hai thang thông dụng thường được sử dụng ởViệt Nam là thang Beck, thang Zung để đánh giá lo âu (riêng thang Beck vàthang zung sẽ được đề cập chi tiết trong phần Đối tượng và Phương phápnghiên cứu)

Trang 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành tại:

+ Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia

+ Bệnh viện Tâm thần Hà nội

+ Bệnh viện Tâm thần Trung ương I

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 06/2013 đến tháng 12/2013

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhânnghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi bao gồm tất cả các bệnh nhân từ 19 đến 29

tuổi, đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10 (1992)[12] nằm

điều trị nội trú tại VSKTT Quốc gia, BVTT Hà Nội và BVTT Trung ương I

từ tháng 06/2013 – 12/2013 Bao gồm các chẩn đoán sau:

*T rầm cảm tái diễn: mục F33 chương F3.Bao gồm các chẩn đoán sau:

chứng loạn thần

loạn thần

Trang 33

* RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm:gồm các chẩn đoán sau:

*Cácbệnh nhân trên đều tự nguyện tham gia vào nhóm nghiên cứu và

được sự đồng ý của gia đình bệnh nhân

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

Không đưa vào nghiên cứu những trường hợp sau:

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nhóm nghiên cứu

- Trầm cảm sau phân liệt

- Rối loạn phân liệt cảm xúc loại trầm cảm

- Các bệnh nhân không đáp ứng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầmcảm theo ICD-10

- Loại trừ những bệnh nhân trầm cảm do căn nguyên thực tổn và nghiện chất

- Bệnh nhân chậm phát triển tâm thần

- Trầm cảm do thuốc: Một số thuốc có thể gây rối loạn trầm cảm nhưcorticoid, -Methyldopa …

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

- Sử dụng nghiên cứu mô tả cắt ngang, quan sát, mô tả các triệu chứngtrầm cảm phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

Trang 34

2.3.2.Cỡ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu được tính theo công thức “Ước tính một tỉ lệ trong quần thể” [56]

n = Z 1−α/2

2 p(1− p)

(p ε)2

Trong đó:

n : là cỡ mẫu nghiên cứu

p : là tỷ lệ bệnh nhân ởđộ tuổi trưởng thành có rối loạn trầm cảm biểuhiện bằng 3 triệu chứng đặc trưng là: Khí sắc trầm, mất mọi quantâm thích thú, giảm năng lượng theo nghiên cứu trước đó >90%(2005) [64]

 : ước tính trong nghiên cứu = 0,05 ứng với độ tin cậy là 95%

Z2 - α / 2 : là hệ số tin cậy = 1,96 (với  = 0,05)

ε: khoảng sai lệch mong muốn giữa mẫu và quần thể Ước tính = 0,95

Do vậy n tối thiểu = 43

Như vậy cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu này là 43 bệnh nhân Nghiên cứu của chúng tôi gồm tất cả bệnh nhân tuổi từ 19 – 29, đượcchẩn đoán là rối loạn trầm cảm điều trị nội trú tại VSKTT Quốc gia và BVTT

Hà Nội từ 06/2013 – 12/2013, tối thiểu phải có từ 45 bệnh nhân trở lên

2.3.3 Công cụ thu thập thông tin để chẩn đoán và đánh giá

- Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD - 10F) mục chẩn đoánrối loạn trầm cảm

- Sử dụng bệnh án nghiên cứu theo mẫu thiết kế chi tiết

- Dùng test Beck để đánh giá mức độ trầm cảm:

Đây là thang đánh giá để khảo sát các RLTC (Beck DepressionInventory - BDI) Thang đánh giá này do A.T Beck và cộng sự giới thiệunăm 1974 từ những quan sát lâm sàng bệnh nhân trầm cảm, được Tổ chức Y

tế Thế giới (WHO) thừa nhận để đánh giá trạng thái trầm cảm và hiệu quả của

Trang 35

Phân tích kết quả: Từ ≥ 50% tổng số điểm, tức là ≥ 40 điểm: có lo âu

≤ 50% tổng số điểm: Không có lo âu

2.3.4 Các phương pháp thu thập thông tin

2.3.4.1 Phương pháp lâm sàng

ngoài, điệu bộ, cách ăn mặc, thái độ ứng xử, hành vi, cách giao tiếp

- Tiếp xúc với người bệnh để thăm khám lâm sàng, khai thác bệnh sử,

các biểu hiện lâm sàng, các vấn đề liên quan đến bệnh, hướng dẫn làm cáctrắc nghiệm tâm lý

- Tiếp xúc với người chăm sóc (bố, mẹ, anh chị em, bạn bè thân …) để

khai thác về các biểu hiện bệnh, tiền sử và các vấn đềvề gia đình, các vấn đề ởtrường học, các biến cố liên quan đến người bệnh và các biểu hiện lâm sàng…

- Khám toàn diện các triệu chứng cơ thể, các triệu chứng thần kinh,

khám nội khoa đánh giá chức năng các cơ quan

Trang 36

- Khám tâm thần: Đặc biệt chú ý các rối loạn cảm xúc, tư duy, hành

vi Trong thời gian nằm điều trị nội trú bệnh nhân được thăm khám mỗingày để đánh giá các triệu chứng của bệnh

lý về các vấn đề của người bệnh

2.3.4.2 Phương pháp cận lâm sàng

Sử dụng các trắc nghiệm tâm lý phục vụ cho chẩn đoán bệnh, đánh giá

sự tiến triển của bệnh bao gồm:

- Trắc nghiệm Beck: Để đánh giá trầm cảm và các mức độ trầm cảm

- Thang đánh giá lo âu Zung để đánh giá rối loạn lo âu

2.3.5 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

- Các biến số độc lập: Tuổi, giới, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, tìnhtrạng hôn nhân, tiền sử, hoàn cảnh kinh tế

- Các biến số phụ thuộc: các đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm

2.3.5.1.Biến số khảo sát về đặc điểm chung của bệnh nhân

- Đặc điểm về tuổi

- Đặc điểm về giới: Nam, nữ

- Tình trạng hôn nhân: có gia đình, độc thân, ly hôn, ly thân, goá bụa

- Trình độ học vấn: Đại học - cao đẳng, trung học phổ thông, trung học

cơ sở, tiểu học

- Đặc điểm về nghề nghiệp: cán bộ công chức, công nhân, nông dân, tự

do, sinh viên

- Tiền sử gia đình: có người bị tâm thần (RLTC, RLCXLC, Tâm thầnphân liệt, rối loạn tâm thần khác)

- Đặc điểm về tuổi khởi phát, tuổi tại thời điểm nghiên cứu

- Thời gian mắc bệnh (từ lúc khởi phát đến thời điểm nghiên cứu): tínhbằng năm

Trang 37

2.3.5.2 Các biến số khảo sát về đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi 19 – 29

Đặc điểm lâm sàng giai đoạn khởi phát:

- Lý do đến khám bệnh

- Thời gian từ khi bắt đầu cấc triệu chứng bệnh đến khi biểu hiện bệnh

rõ ràng

- Tính chất khởi phát bệnh cấp tính hay từ từ.

- Các chẩn đoán ở tuyến trước

- Các triệu chứng lâm sàng ở giai đoạn sớm của bệnh

 Đặc điểm lâm sàng giai đoạn toàn phát;

- Đặc điểm rối loạn giấc ngủ

- Đặc điểm rối loạn hành vi

Đánh giá các biểu hiện lâm sàng ở giai đoạn toàn phát: Các triệu chứngcủa trầm cảm (các triệu chứng chủ yếu, các triệu chứng phổ biến, đặc điểmcác triệu chứng cơ thể của trầm cảm)

 Đặc điểm cận lâm sàng

- Kết quả trắc nghiệm Beck

- Kết quả trắc nghiệm Zung

2.3.5.3 Các yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở độ tuổi từ 19 – 29

 Các yếu tố chung cho mọi lứa tuổi:

- Tiền sử người mẹ trong quá trình mang thai

- Tiền sử phát triển và bệnh tật, khả năng thích nghi

- Tính cách

Trang 38

- Tiền sử gia đình; Bệnh nặng, mạn tính, bệnh tâm thần

- Tình trạng kinh tế và các mối quan hệ trong gia đình của người bệnh

- Tìm hiểu hoàn cảnh sống; chăm sóc, ngược đãi, phân biệt đối xử,

lạm dụng

 Các y u t ếu tố ố liên quan c a l a tu i nghiên c u: ủa lứa tuổi nghiên cứu: ứa tuổi nghiên cứu: ổi nghiên cứu: ứa tuổi nghiên cứu:

- Tìm hiểu các mối quan hệ của người bệnh: Quan hệ với các thành viên

trong gia đình, quan hệ với bạn bè thầy cô giáo, quan hệ với đồng nghiệp

- Các yếu tố liên quan đến nhà trường: áp lực học tập, áp lực liên quan

đến các kỳ thi

- Các yếu tố xã hội: không có việc làm, mất việc làm, thu nhập không

ổn định, tính chất công việc căng thẳng…

- Tìm hiểu một số vấn đề khác; lạm dụng chất gây nghiện, ham mê

Internet, các biến cố xảy ra đối với người bệnh (chuyển trường, thất tình ….)

2.4 Phương pháp xử lý số liệu

- Dùng phương pháp thống kê toán học theo chương trình SPSS 16.0theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới

- Kết quả thu thập được lập thành bảng, biểu đồ để minh họa

2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Thông báo rõ mục đích nghiên cứu với bệnh nhân và gia đình bệnhnhân và chỉ đưa vào danh sách nghiên cứu khi được sự đồng ý của họ

- Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đồng ý tự nguyện tham gia nghiêncứu và có quyền rút khỏi nghiên cứu không cần phải giải thích lý do

- Các thông tin do đối tượng nghiên cứu cung cấp được đảm bảo giữ bí mật

- Đây là nghiên cứu mô tả, không can thiệp nên mọi chỉ định dùngthuốc đều do bác sỹ điều trị quyết định theo tình trạng của người bệnh

- Những kết quả nghiên cứu, ý kiến đề xuất, giải pháp can thiệp được

sử dụng vào mục đích nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho lứa tuổi

từ 19 – 29

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU3.1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm giới tính, hôn nhân, trình độ văn hoá, nghề nghiệp

Bảng 3.1: Phân bố giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ văn hoá, nghề

nghiệp của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Trang 40

Nhận xét:

- Trong số 45 bệnh nhân có 22 bệnh nhân nam (48,9%) và 23 bệnh

nhân nữ (51,1%), tỷ lệ nữ/nam là 1/1,05

Tỷ lệ này chứng tỏ nữ và nam mắc bệnh tương đương nhau

- Tỷ lệ bệnh nhân chưa có gia đình là: 25 bệnh nhân (55,6%), số bệnh

nhân đã kết hôn là 20 (44,4%)

- Nghề nghiệp của nhóm nghiên cứu: bệnh nhân là học sinh – sinh viên

có 15 bệnh nhân chiếm tỷ lệ cao nhât (33,3%), tiếp đến là chưa có việc làm

có 13 bệnh nhân (32,5%), làm ruộng có 10 bệnh nhân (22,2%), chỉ có 7 bệnhnhân là công nhân và viên chức (15,6%)

- Trình độ học vấn:Gặp nhiều nhất là trình độ Đại học – Cao đẳng: 24bệnh nhân (53,3%); THPT: Có 18 bệnh nhân (40,0%); THCS: có 2 bệnh nhân(4,0%) và chỉ có 1 bệnh nhân ở trình độ tiểu học

3.1.2 Đặc điểm về tiền sử gia đình có người bị bệnh tâm thần

Bảng 3.2: Đặc điểm về tiền sử gia đình có người bị bệnh tâm thần

Ngày đăng: 10/10/2014, 23:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Phân bố giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ văn hoá, nghề nghiệp của nhóm bệnh nhân nghiên cứu - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.1 Phân bố giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ văn hoá, nghề nghiệp của nhóm bệnh nhân nghiên cứu (Trang 39)
Bảng 3.3: Phân bố theo nhóm tuổi phát bệnh lần đầu - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.3 Phân bố theo nhóm tuổi phát bệnh lần đầu (Trang 41)
Bảng 3.5: Thời gian từ khi phát bệnh đến khi được chẩn đoán xác định - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.5 Thời gian từ khi phát bệnh đến khi được chẩn đoán xác định (Trang 42)
Bảng 3.6: Chẩn đoán của tuyến trước - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.6 Chẩn đoán của tuyến trước (Trang 43)
Bảng 3.7: Các triệu chứng biểu hiệu sớm của giai đoạn trầm cảm - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.7 Các triệu chứng biểu hiệu sớm của giai đoạn trầm cảm (Trang 44)
Bảng 3.9. Các thể lâm sàng - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.9. Các thể lâm sàng (Trang 45)
Bảng 3.10: Các triệu chứng đặc trưng - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.10 Các triệu chứng đặc trưng (Trang 45)
Bảng 3.11: Các triệu chứng cơ thể của nhóm NC - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.11 Các triệu chứng cơ thể của nhóm NC (Trang 46)
Bảng 3.12: Đặc điểm rối loạn giấc ngủ - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.12 Đặc điểm rối loạn giấc ngủ (Trang 48)
Bảng 3.16: Các triệu chứng khác - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.16 Các triệu chứng khác (Trang 50)
Bảng 3.18: Các yếu tố stress trong gia đình - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.18 Các yếu tố stress trong gia đình (Trang 51)
Bảng 3.17: Kết quả các trắc nghiệm tâm lý - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.17 Kết quả các trắc nghiệm tâm lý (Trang 51)
Bảng 3.19: Các yếu tố stress trong mối quan hệ của nhóm NC - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.19 Các yếu tố stress trong mối quan hệ của nhóm NC (Trang 52)
Bảng 3.21: Các yếu tố stress trong công việc của nhóm NC - nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi  từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần
Bảng 3.21 Các yếu tố stress trong công việc của nhóm NC (Trang 53)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w