SỞ Y TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNGBỆNH VIỆN TÂM THẦN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ KHẢO SÁT MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI DO SỬ DỤNG CÁC CHẤT TÁC ĐỘNG TÂM THẦN
Trang 1SỞ Y TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
BỆNH VIỆN TÂM THẦN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
KHẢO SÁT MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI DO SỬ DỤNG CÁC CHẤT TÁC ĐỘNG TÂM THẦN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH
VIỆN TÂM THẦN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Người thực hiện CKI ĐD: BÙI THỊ ANH THƯ CNĐD: HỒ VĂN DƯƠNG ĐD: THI LÝ BÌNH
Đà Nẵng, tháng 9 năm 2015
Trang 2KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CSSK: Chăm sóc sức khỏe
ICD-10: Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10
DSM-IV: Thống kê và chẩn đoán của hội tâm thần học Hoa Kỳ lần thứ IV BGĐ: Ban giám đốc bệnh viện
EU: Các nước thành viên trong khối liên minh châu Âu
PTTH: Phổ thông trung học
PTCS: Phổ thông cơ sở
TC-CĐ- ĐH: Trung cấp, cao đẳng, đại học
TP Đà Nẵng: Thành phố Đà Nẵng
NVYT: Nhân viên Y tế
PYNC: Khoa Pháp y nghiện chất
BN: Bệnh nhân
Trang 3MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU………3
1 Sự hài lòng của bệnh nhân đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe………3
2 Một số đặc điểm của bệnh nhân rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần………5
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….8
1 Đối tượng nghiên cứu………8
2 Phương pháp nghiên cứu……….……8
4 Xử lý số liệu:………8
3 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin………8
IV KẾT QUẢ………9
1 Đặc điểm lâm sàng……….…………9
2 Sự hài lòng của bệnh nhân 12
V BÀN LUẬN 16
1 Đặc điểm lâm sàng 16
2 Sự hài lòng của bệnh nhân 17
VI KẾT LUẬN 20
VII KIẾN NGHỊ 21
Trang 4I ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự hài lòng của người bệnh là tiêu chí quan trọng nhất dùng để đo lường
sự đáp ứng của cơ sở y tế đối với những mong đợi của người bệnh đối với cácdịch vụ y tế Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ngành y tế ViệtNam đã và đang mang lại cho bệnh nhân cơ hội được hưởng những thành tựuphát triển của ngành y học trên thế giới và trong nước Tuy nhiên chất lượngchăm sóc không chỉ phụ thuộc vào máy móc, trang thiết bị mà còn phụ thuộc vàorất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan như kiến thức, kỹ năng tay nghề, tínhhợp lý của quy trình chăm sóc cũng như tinh thần thái độ của cán bộ y tế
Cùng với phát triển dân trí, nhu cầu của con người về vật chất và tìnhthần ngày càng cao, vì vậy mọi lĩnh vực của đời sống đều phải nâng lên đểđáp ứng nâng cao chất lượng cuộc sống
Sự kém hài lòng của người bệnh có quan hệ nhân quả với khiếu kiện và
là nguyên nhân thúc đẩy ý định khiếu kiện Xu hướng khiếu kiện gia tăng luôn
là mối quan tâm không chỉ đối với người lãnh đạo bệnh viện mà còn tất cả cáccán bộ y tế lâm sàng Khiếu kiện làm mất khách hàng trung thành, phá vỡ mốiquan hệ thầy thuốc người bệnh, làm giảm hình ảnh của ngành y tế, đồng thờilàm gia tăng phí tổn y tế cho cả người bệnh và cơ sở y tế do phải đương đầuvới khiếu kiện Vì vậy, sự hài lòng của người bệnh là tài sản của bệnh việntrong nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ và duy trì người bệnh đây là mộtkhách hàng thân thiện[2]
Theo các nhà tâm thần học thì các bệnh tâm thần phân liệt, trầm cảm.động kinh, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ, loạn thần sau chấn thương sọ não,chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần do rượu, rối loạn hành vi ở thanhthiếu niên, rối loạn tâm thần do ma túy đã có 14,9% dân số mắc các bệnh này.Khi nhu cầu của người dân và xã hội càng tăng cao thì nguồn nhân lựcchăm sóc sức khỏe tâm thần còn thiếu, sự chuyên nghiệp trong chăm sóc chonhững bệnh nhân nghiện chất đang là vấn đề nóng của toàn xã hội Mô hình
Trang 5điều trị hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy trong cộng đồng là mô hình mới được ápdụng, vì vậy mà ngành y tế cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa và đặc biệt làchuyên ngành tâm thần[8].
Trong năm 2014 bệnh viện tâm thần Đà Nẵng đã tiếp nhận điều trị 139bệnh nhân liên quan tới bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu với
số ngày điều trị trung bình là 15 ngày, có 115 bệnh nhân điều trị bệnh do matúy gây nên tổng số ngày điều trị trung bình là 07 ngày Như vậy, tổng số ngàyđiều trị trung bình của bệnh nhân rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng cácchất tác động tâm thần điều trị nội trú trong năm qua 11 ngày, so với ngàyđiều trị trung bình của các bệnh tâm thần khác là 45 ngày thì còn thấp so vớicác rối loạn khác
Nhằm có cơ sở khoa học chứng cứ để lãnh đạo có kế hoạch cụ thể cải tiếnphương cách phục vụ và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tạo cơ sở đểcán bộ y tế có thể thay đổi phong cách phục vụ người bệnh nhằm tăng về uytín, thương hiệu, chất lượng dịch vụ và tình cảm của người bệnh rối loạn tâmthần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần điều trị nội trú dànhcho bệnh viện, tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học :
“Khảo sát mức độ hài lòng của bệnh nhân rối loạn tâm thần và hành vi
do sử dụng các chất tác động tâm thần điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng”
Mục đích:
- Xác định mức độ hài lòng của bệnh nhân rối loạn tâm thần và hành vi
do sử dụng các chất tác động tâm thần đối với Bệnh viện
Trang 6II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Sự hài lòng của bệnh nhân đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Chỉ số hài lòng của khách hàng lần đầu tiên được ra đời tại Thụy Điển(1989), sau đó được phát triển và ứng dụng rộng rãi ở các quốc gia EU trongcác lĩnh vực dịch vụ Chỉ số này có thể thực hiện trên phạm vi quốc gia, trongnội bộ mỗi ngành, trong mỗi tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ và so sánhgiữa các thời điểm khác nhau để đánh giá sự thay đổi Vì vậy, chỉ số hài lòngcủa người bệnh được nhiều bệnh viện các nước phát triển trên thế giới sử dụng
để hoạch định chiến lược duy trì khách hàng, tiếp thị, xây dựng thương hiệu
và gia tăng năng lực cạnh tranh[4]
Tổ chức y tế thế giới định nghĩa “ sức khỏe không chỉ là trạng thái không
có bệnh tật mà còn là trạng thái thoải mái hoàn toàn về các mặt cơ thể, tâmthần và xã hội” Sức khỏe giúp cho con người làm việc tốt và chủ động thamgia các hoạt động đời sống kinh tế xã hội và cộng đồng Vì vậy muốn pháttriển thì phải quan tâm tới yếu tố sức khỏe, lấy con người làm trung tâm
Trên quan điểm lấy bệnh nhân làm trung tâm, thì sự hài lòng của bệnhnhân đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe là vấn đề cần được quan tâm Sự hàilòng của bệnh nhân được thể hiện ở sự thỏa mãn, cảm thấy có lợi và hiệu quảcủa mỗi cá nhân nhận được từ các nhà cung cấp dịch vụ y tế qua các dịch vụ
và sản phẩm của họ[1]
Những khía cạnh liên quan tới sự hài lòng của bệnh nhân bao gồm:
- Tôn trọng giá trị, sở thích và ngu cầu tình cảm của bệnh nhân (bao gồmtác động của bệnh tật và điều trị trên chất lượng sống, liên quan tới quyết định,nhân phẩm, nhu cầu và tính tự chủ)
- Sự phối hợp và thống nhất trong chăm sóc bao gồm: Chăm sóc lâmsàng, dịch vụ hỗ trợ và phụ thuộc, chăm sóc ngay tại cộng đồng
Trang 7- Thông tin tuyên truyền và giáo dục (bao gồm tình trạng lâm sàng, diễntiến và tiên lượng, quá trình chăm sóc, điều kiện tự chủ, tự chăm sóc và nângcao sức khỏe)
- Hỗ trợ về thể chất (bao gồm kiểm soát đau, giúp đỡ những hoạt độnghàng ngày, môi trường xung quanh và môi trường bệnh viện)
- Chia sẻ cảm xúc và làm giảm sự lo sợ (bao gồm tình trạng lâm sàng,điều trị và tiên lượng, tác động của bệnh tật với cá nhân và gia đình, tác độngcủa tài chính)
- Ảnh hưởng của gia đình và bạn bè (bao gồm những hỗ trợ về xã hội,tình cảm, ảnh hưởng về những quyết định, hỗ trợ chăm sóc, tác động trênđộng lực và nhiệm vụ của gia đình)
- Thời kỳ theo dõi, duy trì (bao gồm thông tin về thuốc, các dấu hiệunguy hiểm phải để ý sau khi rời viện, sự hợp tác và những hỗ trợ về theo dõi)
Những đặc điểm của sự hài lòng có thể liệt kê thành các nhóm
- Tôn trọng con người
+ Tôn trọng giá trị con người
+ Sự bí mật (xác định ai được xem hồ sơ y tế của bệnh nhân)
+ Tự chủ tham gia lựa chọn dịch vụ CSSK của chính mình
Trang 8- Các yếu tố tác động tới sự hài lòng của người bệnh bao gồm: mối quan
hệ thầy thuốc - người bệnh, sự mong đợi của người bệnh, chất lượng sảnphẩm/dịch vụ người bệnh cảm nhận được và giá trị của dịch vụ so với chi phíphải trả và thời gian người bệnh phải chờ đợi
- Dựa vào đó mà chúng tôi đánh giá sự hài lòng theo những vấn đề;
+ Lịch hẹn tiếp cận dịch vụ
+ Thủ tục hành chính
+ Sự hài lòng khi giao tiếp với nhân viên y tế
+ Thái độ nhân viên y tế
+ Sự hài lòng về cơ sở vật chất
+ Sự hài lòng về kết quả khám chữa bệnh[5]
2 Một số đặc điểm của bệnh nhân rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần
Theo kết quả điều tra dịch tễ các nhà tâm thần học Việt Nam cho rằngchỉ tính riêng 10 bệnh tâm thần hay gặp như bệnh tâm thần phân liệt, trầmcảm, động kinh, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ ở người già, loạn thần sau chấnthương sọ não, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần do rượu, rối loạnhành vi ở thanh thiếu niên, rối loạn tâm thần do ma túy đã có 14,9% dân sốmắc các bệnh này
Trước đây, người ta xem những người sử dụng chất tác động tâm thần(nghiện rượu, ma túy) là một tệ nạn xã hội, cần giải quyết bằng các vấn đềmang tính xã hội, đặc biệt là hệ thống pháp luật hình sự Người ta cũng chorằng những người này là những người yếu ớt, hư hỏng, xấu xa, không tự rènluyện hoặc không làm chủ hành vi của mình[8]
Ngày nay, người ta cho rằng những người sử dụng chất tác động tâm thần(nghiện rượu, ma túy) là một bệnh tái phát mạn tính của bộ não Chính vì lẽ đó
mà trong ICD - 10 cũng có phân chia các bệnh liên quan đến vấn đề này, trongtiêu chuẩn chẩn đoán nghiện chất, lạm dụng chất, nhiễm độc chất, hội chứng
Trang 9cai theo sách thống kê & chẩn đoán của hội tâm thần học Hoa Kỳ lần thứ IV(DSM IV) cũng có phân thể.
Những người sử dụng chất tác động tâm thần (nghiện rượu, ma túy) đượcxem như là một rối loạn tâm, sinh lý, xã hội, ngoài ra các yếu tố về chất matúy, các yếu tố về xã hội, môi trường sống, nhân cách, bệnh lý tâm thần, yếu
tố di truyền, bạn bè, gia đình, nó đan xen nhau ảnh hưởng tới quá trình sửdụng, điều trị và tái nghiện
Đa số những người bắt đầu sử dụng chất ma túy ở nước ta thuộc vào lứatuổi thanh thiếu niên
Ta có thể thấy một số nguyên nhân nổi bật của nhóm thanh thiếu niênnày:
Một số thanh thiếu niên là người có xu hướng thử nghiệm cái mới, thanhthiếu niên có thể dùng chất tác động tâm thần do tính tò mò và mạo hiểm củalứa tuổi, muốn trải nghiệm những cảm giác kỳ lạ (do bạn bè kể lại), bất chấp
sự ngăn cản của gia đình và xã hội, bất chấp những hậu quả nghiêm trọng màbản thân cũng đã nhận thấy ở những người nghiện khác
- Một số thanh thiếu niên do thiếu khả năng và ý chí vượt qua hoàn cảnh,thiếu kỹ năng ứng phó với những hoàn cảnh có vấn đề xảy ra trong cuộc sống,với cái nhìn bi quan về cuộc sống, về tương lai, không đặt ra mục đích chotương lai từ thực tiễn cuộc sống của mình Với cuộc sống trống rỗng và thiếumục đích rất có thể làm cho con người trở nên gắn bó với chất tác động tâmthần
- Một số đối tượng nghiện ma túy do sự bất mãn với gia đình, để tránhcác căng thẳng trong xã hội dùng chất tác động tâm thần để tự khẳng địnhmình
- Một số đối tượng tìm đến chất tác động tâm thần do các trạng thái bệnh
lý tâm thần nhất thời hoặc trường diễn Thường gặp nhất là trang thái lo âu,trầm cảm hoặc nhân cách bệnh Bên cạnh đó người ta chú ý đến những người
Trang 10có tính khuynh hướng lạm dụng chất Một số sử dụng chất tác động tâm thần
do ảnh hưởng hay áp lực của bạn bè nghiện chất tác động tâm thần
- Những xung đột giữa sự ham muốn khẳng định mình và sự phụ thuộctrước đây Người nghiện thường bị rối loạn nhân cách kiểu chống đối xã hộihoặc là nhân cách ranh giới
Để có được sự hài lòng của người bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do
sử dụng các chất tác động tâm thần là cả một nghệ thuật, không đơn giản vàkhông thể làm trong thời gian ngắn mà là cả một quá trình lâu dài
Điều trị bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác độngtâm thần không chỉ là việc cho thuốc của các bác sỹ chuyên khoa mà còn đòihỏi sự kết hợp chặt chẽ, đồng bộ với đội ngũ y tá điều dưỡng và các nhân viên
y tế phục vụ khác mới đạt được kết quả tốt thực sự cho người bệnh
Sự hài lòng của người bệnh trong thời gian điều trị là mục tiêu của bệnhviện cần đạt được, là thước đo để đánh giá chất lượng chăm sóc và điều trị[8]
Trang 11III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
- Tất cả các bệnh nhân rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các
chất tác động tâm thần (do ma túy, do rượu) được điều trị nội trú tại khoaPháp y nghiện chất bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng từ tháng 4 năm
2015 đến tháng 9 năm 2015
- Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
+ Các bệnh nhân điều trị nội trú được bác sĩ chuyên khoa chẩn đoánmục các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thầntheo bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 của tổ chức y tế thế giới (F10-F19)
+ Các bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Các bệnh nhân đã được điều trị và được bác sĩ xác định đã ổn định
về tâm thần và hành vi, hết hội chứng cai
- Tiêu chuẩn loại trừ
+ Các bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
- Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện
3 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin
- Hồ sơ điều trị nội trú của bệnh nhân
- Bảng phỏng vấn về mức độ hài lòng
- Các bệnh nhân được phỏng vấn trực tiếp bằng bảng phỏng vấn, vàothời điểm các bác sỹ nhận xét bệnh ổn định, hết hội chứng cai trong quá trìnhđiều trị nội trú tại bệnh viện
4 Xử lý số liệu:
- Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5
- Tính tỷ lệ %
Trang 13Nhận xét: Trình độ PTTH chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu
1.5 Đặc điểm về hôn nhân
Trang 14Nhận xét: Điều kiện kinh tế chủ yếu là mức độ trung bình
1.9 Đặc điểm thời gian sử dụng chất gây nghiện
Nhận xét: Chiếm tỷ lệ cao nhất là thời gian sử dụng chất từ 6-10 năm
1.10 Đặc điểm về số lần cai nghiện
Trang 15Nhận xét: Tỷ lệ rượu và ma túy trong nghiên cứu gần bằng nhau
2 Sự hài lòng của bệnh nhân
2.1 Nhân viên Y tế tiếp đón niềm nở, phổ biến nội qui, giải thích bệnh, chẩn đoán và điều trị
Mức độ
NVYT đón tiếp NVYT phổ biến
nội qui
Giải thích tình trạng bệnh Số
Nhận xét: Mức độ hài lòng về sự tiếp đón chiếm tỷ lệ 100%, mức độ
chưa hài lòng về phổ biến nội qui còn chiếm tỷ lệ 2,70%, mức độ chưa hài lòng về giải thích tình trạng bệnh, chẩn đoán, điều trị chiếm tỷ 9,6
2.2 Nhân viên Y tế sắp xếp giường nằm, giúp BN vệ sinh ăn uống, giải thích và động viên trước khi làm các thủ thuật
Trang 16Mức độ
NVYT sắp xếp giường nằm
NVYT giúp BN vệ sinh, ăn uống
Giải thích trước khi làm thủ thuật Số
Chưa
Nhận xét: : Mức độ hài lòng về sắp xếp giường nằm chiếm 100%, mức
độ chưa hài lòng về giúp đỡ trong ăn uống, vệ sinh chiếm tỷ lệ thấp 1,30%,mức độ chưa hài lòng về giải thích trước khi làm thủ thuật chiếm tỷ lệ đáng kể8,20%
2.3 NVYT công khai thuốc, có lời nói cử chỉ thân thiện, tận tình giúp
đỡ, không ban ơn, không gợi ý nhận tiền, quà
Mức độ
NVYT công khai thuốc
NVYT có cử chỉ lời nói thân thiện
NVYT không có ban ơn, gợi ý
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Rất hài
Trang 17Nhận xét: Mức độ chưa hài lòng về công khai thuốc chiếm tỷ lệ đáng
quan tâm (13,70%), mức độ hài lòng về lời nói, hành vi thân thiện chiếm tỷ
lệ cao, sự hài lòng của bệnh nhân về sự không ban ơn và gợi ý chiếm tỷ lệ cao100%
2.4 Thủ tục hành chính không phiền hà, NVYT hợp tác tốt trong điều trị, chăm sóc, BN hài lòng với kết quả điều trị, chăm sóc
Mức độ
Thủ tục hành chính không phiền
hà
NVYT hợp tác tốt trong điều trị, chăm sóc
BN hài lòng với điều trị , chăm sóc
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Rất hài
Nhận xét: Sự chưa hài lòng về thủ tục chiếm tỷ lệ rất thấp, mức độ
chưa hài lòng về sự hợp tác chiếm tỷ lệ rất thấp(1,30%), mức độ hài lòng về điều trị và chăm sóc chiếm tỷ lệ cao(98,70%)
2.5 Người bệnh hài lòng về vệ sinh khoa, phòng, không gian khoa, phòng điều trị
Nhận xét: Sự hài lòng về vệ sinh khoa, phòng điều trị chiếm tỷ lệ cao,
sự chưa hài lòng về không gian khoa điều trị chiếm tỷ lệ đáng kể (28,80%)