Trong một số trường hợp, bệnh kết thúc bằng khỏi hoàn toàn hay gần như hoàn toàn Bên cạnh các triệu chứng dương tính và âm tính của bệnh tâm thần phân liệt, các triệu chứng suy giảm nhận
Trang 1Người thực hiện: BSCKII Lâm Tứ Trung
Đà Nẵng, tháng 10 năm 2017
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ, DỊCH TỄ HỌC VÀ BỆNH NGUYÊN CỦA TÂM THẦN PHÂN LIỆT 3
1.1.1 Khái niệm về tâm thần phân liệt 3
1.1.2 Lịch sử bệnh tâm thần phân liệt 3
1.1.3 Dịch tễ học 4
1.1.4 Nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt 5
1.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA TÂM THẦN PHÂN LIỆT 6
1.2.1 Các nhóm triệu chứng theo ICD-10 6
1.2.2 Suy giảm nhận thức trong tâm thần phân liệt: 7
1.2.3 Chẩn đoán tâm thần phân liệt 8
1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT 11 1.3.1 Nguyên tắc chung 11
1.3.2 Điều trị cụ thể 12
1.3.3 Điều trị bằng liệu pháp sốc điện 13
1.3.4 Điều trị tâm lý – xã hội 13
1.3.4.1 Liệu pháp tâm lý 13
1.3.4.2 Liệu pháp lao động và sự phục hồi chức năng 13
1.4 LIỆU PHÁP KÍCH HOẠT HÀNH VI 13
1.4.1 Tổng quan về liệu pháp kích hoạt hành vi 13
1.4.2 Liệu pháp kích hoạt hành vi trong tâm thần phân liệt 14
Chương 2 ĐỐI TƯƠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.1.1 Tiêu chuẩn 17
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 17
2.2 Quy trình can thiệp 17
Trang 32.3 Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang, đánh giá định tính và
đinh lượng 17
2.3.1 Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân 17
2.3.2 Đánh giá hiệu quả của liệu pháp: 18
2.3.3 Đánh giá cảm nhận của người điều hành liệu pháp 18
2.4 Phương pháp xử lý số liệu: 18
2.4.1 Các số liệu định lượng: 18
2.4.2 Các số liệu định tính: được ghi nhận và lấy các ý chung để ghi nhận 18
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 19
3.1 Mô tả đối tượng nghiên cứu: 19
3.2 Đánh giá tuân thủ điều trị 20
3.3 Đánh giá hiệu quả của liệu pháp: 21
Chương 4 BÀN LUẬN 23
4.1 Mô tả đối tượng nghiên cứu 23
4.2 Mô tả các đặc điểm của nhà trị liệu nghiên cứu 24
4.3 Đánh giá tuân thủ điều trị 24
4.4 Đánh giá mức độ tích cực tham gia các buổi điều trị theo thể bệnh TTPL 24
4.5 Đánh giá hiệu quả của liệu pháp 25
4.6 Mức độ ý nghĩa của từng buổi của liệu pháp 25
4.7 Số bệnh nhân tham gia lao động sau điều trị 26
4.8 Đánh giá cảm nhận của nhà trị liệu 26
4.8.1 Đánh giá ý nghĩa của liệu pháp 26
4.8.2 Đánh giá tính thực tiển của liệu pháp 27
4.8.3 Các khó khăn khi giúp bệnh nhân thực hành 27
KẾT LUẬN 28
ĐỀ NGHỊ 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Mô tả các đặc điểm của bệnh nhân nghiên cứu 19
Bảng 3.2 Mô tả các đặc điểm của nhà trị liệu nghiên cứu 20
Bảng 3.3 Số buổi tham gia điều trị của các thể TTPL 20
Bảng 3.4 Đánh giá mức độ tích cực tham gia các buổi điều trị theo thể bệnh TTPL 21
Bảng 3.5 Mức độ ý nghĩa của liệu pháp theo các thể TTPL 21
Bảng 3.6 Mức độ ý nghĩa của từng buổi của liệu pháp 22
Bảng 3.7 Số bệnh nhân tham gia lao động sau điều trị 22
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Tâm thần phân liệt (Schizophrenia) là một bệnh loạn thần nặng, có khuynh hướng mạn tính và hay tái phát Tâm thần phân liệt có đặc điểm là người bệnh có những suy nghĩ, hành vi kỳ dị, khó hiểu; người bệnh dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu vào thế giới bên trong; tình cảm trở nên khô lạnh, khả năng làm việc học tập ngày một sút kém; ý thức còn rõ ràng và năng lực trí tuệ thường được duy trì Theo tài liệu của Tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt là 1% dân số, bất kỳ ai cũng đều có thể mắc chứng bệnh này Bệnh thường phát sinh ở lứa tuổi trẻ (18 – 35 tuổi), hai giới
bị bệnh gần như bằng nhau Trong một số trường hợp, bệnh kết thúc bằng khỏi hoàn toàn hay gần như hoàn toàn
Bên cạnh các triệu chứng dương tính và âm tính của bệnh tâm thần phân liệt, các triệu chứng suy giảm nhận thức xuất hiện ngay từ đầu khi bệnh xuất hiện Các triệu chứng này dai dẵng cho dù các triệu chứng dương tính và
âm tính đã thay đổi Chức năng sống của bệnh nhân bị suy giảm nhiều chủ yếu do các triệu chứng suy giảm nhận thức Ước tính 98% bệnh nhân TTPL
có suy giảm nhận thức Loạn chức năng nhận thức biểu hiện trong giai đoạn sớm của TTPL với các biểu hiện loạn trí nhớ gần, học các thông tin mới bị giảm, không chú ý và khó tập trung Các triệu chứng này không có thuốc để điều trị Bằng các hoạt động chức năng nhận thức của bệnh nhân được thuyên
giảm dần Do đó chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá hiệu quả liệu pháp kích hoạt hành vi nhóm cho bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵnng” với các mục tiêu sau:
1 Đánh giá hiệu quả của liệu pháp kích hoạt hành vi nhóm trên các triệu chứng nhận thức và triệu chứng âm tính của bệnh nhân tâm thần phân liệt
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị của liệu pháp
Trang 6Để đánh giá bước đầu chúng tôi chú ý đến mục tiêu ngắn hạn sau:
3 Đánh giá sự tuân thủ điều trị của các bệnh nhân tâm thần phân liệt với liệu pháp kích hoạt hành vi
4 Đánh giá hiệu quả của liệu pháp kích hoạt hành vi
5 Đánh giá cảm nhận của người điều hành chương trình
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ, DỊCH TỄ HỌC VÀ BỆNH NGUYÊN CỦA TÂM THẦN PHÂN LIỆT
1.1.1 Khái niệm về tâm thần phân liệt
Tâm thần phân liệt (Schizophrenia) là một bệnh loạn thần nặng, có khuynh hướng mạn tính và hay tái phát Tâm thần phân liệt có đặc điểm là người bệnh có những suy nghĩ, hành vi kỳ dị, khó hiểu; người bệnh dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu vào thế giới bên trong; tình cảm trở nên khô lạnh, khả năng làm việc học tập ngày một sút kém; ý thức còn rõ ràng và năng lực trí tuệ thường được duy trì
1.1.2 Lịch sử bệnh tâm thần phân liệt
Tâm thần phân liệt (TTPL) được dịch từ chữ Schizophrenie Phrenie là tâm thần và Schizo là chia cắt, không hoà hợp, không thống nhất hay phân liệt Bệnh tâm thần phân liệt đã được các nhà y học biết đến từ thời xa xưa nhưng được mô tả dưới nhiều tên gọi khác nhau:
- 1857 R Morel (Pháp) gọi là bệnh "mất trí sớm"
- 1863 K Kahlbanm và 1870 Hecker E (Đức) gọi là tâm thần thanh xuân
- 1893 Mangan (Pháp) gọi là hoang tưởng mãn tính
- 1898 E Kraepelin (Đức) thống nhất các bệnh cảnh khác nhau nói trên dưới tên gọi chung là bệnh Mất trí sớm (Dementia Praecox) thuật ngữ này có nghĩa là bệnh phát sinh ở tuổi trẻ và nhất thiết đưa đến trí tuệ sa sút
- 1911 D E Bleuler (Thuỵ Sĩ) - đã nghiên cứu thống nhất được các bệnh lý ấy dưới một tên gọi chung là bệnh tâm thần phân liệt và được toàn thế giới sử dụng cho đến bây giờ Như vậy tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhưng cũng có một
Trang 8đặc điểm lâm sàng chung là tính phân liệt biểu hiện bằng sự thiếu hoà hợp giữa hoạt động của tư duy, cảm xúc, ý chí
Trong gần một thế kỷ qua, các nhà khoa học trên toàn thế giới đã tập trung trí tuệ nghiên cứu bệnh này, vì đây là một bệnh loạn thần nặng nhất, phức tạp nhất
Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh phổ biến trên thế giới và nước ta chiếm tỷ lệ từ 0,3-1% dân số
Nhiều thành tựu lớn đã đạt được: các nhà khoa học đã tìm ra được những quy luật hình và tiến triển các thể bệnh tâm thần phân liệt, giúp cho các thầy thuốc tâm thần trên thế giới ngày càng gần nhau hơn trong chẩn đoán, từ đó ngày càng mở rộng sự hợp tác quốc tế nhằm làm sáng tỏ nguyên nhân bệnh này
- 1992 Tổ chức y tế thế giới tập hợp được trí tuệ của 915 nhà tâm thần học có uy tín ở 52 nước trên thế giới thống nhất đưa ra bảng phân loại bệnh quốc
tế lần thứ 10 và xếp bệnh TTPL ở mục F20-F29 Và từ đó bệnh TTPL được trình bày kết hợp giữa lâm sàng cổ điển và quan điểm tâm thần học hiện đại
1.1.3 Dịch tễ học
Theo tài liệu của Tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt là 1% dân số, bất kỳ ai cũng đều có thể mắc chứng bệnh này Bệnh thường phát sinh ở lứa tuổi trẻ (18 – 35 tuổi), hai giới bị bệnh gần như bằng nhau Trong một số trường hợp, bệnh kết thúc bằng khỏi hoàn toàn hay gần như hoàn toàn
Theo một nghiên cứu dịch tễ học bệnh tâm thần phân liệt được thực hiện lần đầu tiên ở Việt Nam tại một phường thành thị, một xã nông thôn đồng bằng và một xã miền núi với tổng dân số 23 758 Kết quả: phát hiện 131 bệnh nhân tâm thần phân liệt đủ tiêu chuẩn chẩn đoán của bảng phân loại quốc tế ICD-10 Tỷ lệ mắc chung là 0,52 – 0,61% dân số Tỷ lệ mắc điểm là 0,49 – 0,53% Tỷ lệ mới mắc trong một năm 0,29 – 0,56‰ Xác suất mắc bệnh 1,26 – 1,44% Tỷ số bệnh nhân nữ/nam là 0,9 Số bệnh nhân khởi phát ở
Trang 9độ tuổi 15 – 25 có tỷ lệ cao nhất (49 – 65%) Tuổi khởi phát trung bình ở nam
là 20 – 25, ở nữ là 25 – 30 Tỷ lệ độc thân ở bệnh nhân nam là 40,58%, ở bệnh nhân nữ là 38,71% Tỷ lệ ly hôn, ly thân là 5,33% Tỷ lệ bệnh nhân mạn tính và hay tái phát là 88 – 94% Tiên lượng: số bệnh nhân lành bệnh (ổn định trên 7 năm) khoảng 13% (bệnh nhân nữ lành bệnh so với nam là 5/1); tỷ lệ thuyên giảm tốt là 33%, cả khá và tốt là 50 – 77% Các yếu tố tiên lượng tốt là: thể bệnh paranoid và không biệt định; kiểu khởi phát cấp; giới nữ; tuổi khởi phát muộn; có rối loạn cảm xúc kết hợp, bệnh cảnh lâm sàng ít triệu chứng âm tính, thuyên giảm sâu sắc giữa các đợt bệnh, ít di chứng, tuân thủ điều trị, tiền sử gia đình không có bệnh nhân phân liệt nhân tố nâng đỡ dung nạp tích cực của gia đình và xã hội
1.1.4 Nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt
Hiện vẫn chưa được xác định Theo nhiều tác giả, bệnh Tâm thần phân liệt do nhiều yếu tố gây nên như: di truyền những bất thường về gen, thay đổi cấu trúc não, biến đổi sinh hóa não, môi trường sống, nhiễm virus Hiện nay, hai lĩnh vực được tập trung nghiên cứu nhiều nhất đó là: bất thường về gen và những bất thường về chất dẫn truyền thần kinh Nhiều nghiên cứu cho tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt ở những người thuộc thế hệ thứ 1 (có bố, mẹ, anh chị em ruột bị TTFL) xấp xỉ 10% so với những người thuộc thế hệ thứ 2 (có
cô, dì, chú, bác bị TTFL) và so với 1% ở dân số nói chung
Người ta chú trọng một số nguyên nhân như sau:
Yếu tố di truyền: Trong gia đình có bố hoặc mẹ mắc tâm thần phân liệt, khoảng 10% con sinh ra có khả năng mắc bệnh
Yếu tố sinh học: Các sang chấn từ bên ngoài có thể liên quan tới sự xuất hiện của bệnh tâm thần phân liệt Những chấn thương não, tiếp xúc với virus hoặc các chất độc khi trong bụng mẹ cũng dẫn tới khả năng mắc bệnh
Các mối quan hệ trong gia đình: Hiện chưa có nhiều bằng chứng nào cho thấy mối quan hệ gây bệnh trong gia đình Tuy nhiên, một số người mắc
Trang 10tâm thần phân liệt nhạy cảm với bất cứ sự căng thẳng nào trong quan hệ gia đình và có thể liên quan tới khả năng tái phát bệnh
Môi trường sống: Điều kiện sống không tốt, môi trường làm việc nhiều áp lực dẫn tới những tình trạng căng thẳng, stress cũng là nguyên nhân khiến giới trẻ ngày nay càng có nhiều người mắc tâm thần phân liệt
1.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA TÂM THẦN PHÂN LIỆT
1.2.1 Các nhóm triệu chứng theo ICD-10
a) Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy
bị phát thanh
b) Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động, có liên quan rõ rệt với vận động thân thể hay các chi hoặc có liên quan với những ý nghĩ, hành vi hay cảm giác đặc biệt; tri giác hoang tưởng
c) Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay thảo luận với nhau về bệnh nhân hoặc các loại ảo thanh khác xuất phát từ một
bộ phận nào đó của thân thể
d) Các loại hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hóa
và hoàn toàn không thể có được như tính đồng nhất về tôn giáo hay chính trị hoặc những khả năng và quyền lực siêu nhân ( thí dụ : có khả năng điều khiển thời tiết, hoặc đang tiếp xúc với nhưng người của thế giới khác.)
e) Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng thoáng qua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc kèm theo ý tưởng quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng
f) Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan hay lời nói không thích hợp hay ngôn ngữ bịa đặt
g) Tác phong căng trương lực như : kích động, giữ nguyên dáng hay uốn sáp, phủ định, không nói, hay sững sờ…
Trang 11h) Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các đáp ứng cảm xúc cùn mòn hay không thích hợp thường đưa đến cách ly xã hội; phải rõ ràng là các triệu chứng trên không do trầm cảm hay do tác dụng của thuốc tác động tâm thần
i) Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập tính cá nhân biểu hiện như mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác, thái độ
mê mải suy nghĩ về bản thân và cách ly xã hội
Như vậy trong các tiêu chuẩn người ta không quan tâm nhiều đến vấn
đề suy giảm nhận thức của bệnh nhân
1.2.2 Suy giảm nhận thức trong tâm thần phân liệt:
Tỷ lệ bệnh nhân TTPL có công việc thấp.Một trong những nguyên nhân đó là do suy giảm nhận thức Có nhiều ý kiến cho rằng suy giảm nhận thức là do chính rốiloạn TTPL gây ra.Tuy nhiên có những quan điểm đề cập đến suy giảm nhận thức do các thuốc hướng thần và ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý xã hội
Có nhiều nghiên cứu đưa ra các phương pháp điều trị suy giảm nhân thức của bệnh nhân TTPL Một trong những biểu hiện chính của TTPL là nhận thức bị suy giảm.Tuy nhiên mức độ nặng nề và kiểu thiếu sót nhận thức ở bệnh nhân TTPL bị lần đầu chưa được điều trị bằng an thần kinh và hiệu quả của các thuốc chống loạn thần trên các thiếu sót này vẫn chưa được nghiên cứu rỏ ràng Các bệnh nhân TTPL thường biểu hiện thấp hơn nhóm chuẩn 0,5 đến 1,5 độ lệch chuẩn trong các test tâm thần kinh, điều đó thể hiện bệnh nhân
ở mức độ suy giảm nhân thức mức độ nhẹ đến trung bình Thiếu sót nhận thức xảy ra trong cáclãnh vự: trí nhớ, chú ý, trí nhớ công việc, chức năng thực thi, tốc độ của tiến trình và nhận thức xã hội Các thiêu sót này thường xuất hiện ở mức độ nhẹ trước khi khởi phát các triệu chứng lâm sàng, nó thể hiện ở các thanh thiếu niên có nguy cơ bị TTPL và những người giai đoạn tiền triệu Thiếu sót biểu hiện đáng kể ở người thân thế hệ một của bệnh nhân TTPL,
Trang 12điều nàythể hiện rằng suy giảm nhận thức tối thiểu nó có di truyền một phần Các thiếu sót nhận thức ở bệnh nhân TTPL thường dai dẵng và tương đối ổn định trong sốt cuộc đời của bệnh nhân không liên quan đến sự thuyên giảm của triệu chứng loạn thần và ảnh hưởng đáng kể đến chức năng tâm lý xã hội
và hòa nhập xã hội Suy giảm nhân thức là một trong các cản trở quan trọng nhất để hồi phục ở bệnhnhân TTPL
Ước tính 98% bệnh nhân TTPL có suy giảm nhận thức Loạn chức năng nhận thức biểu hiện trong giai đoạn sớm của TTPL với các biểu hiện loạn trí nhớ gần, học các thông tin mới bị giảm, không chú ý và khó tập trung
Vô cảm hoặc mất năng lượng và sinh lực, thường biểu hiện như sự không quan tâm và mệt mỏi Người thường mất hứng thú trong các hoạt động sáng tạo cũng như các thiên hướng khác đòi hỏi các quá trình tâm thần cao hơn, nhạy cảm với người khác Mất sự đồng cảm được thấy ở các bệnh nhân này có lẻ là thể hiện sự vô cảm cùng như nét tồi tệ của cảm xúc
1.2.3 Chẩn đoán tâm thần phân liệt
Các rối loạn tâm thần thường được đặc trưng bởi sự biến dạng đáng kể và đặc trưng của tư duy và nhận thức, cũng như những ảnh hưởng không đầy đủ
Rõ ràng ý thức và khả năng trí tuệ thường được bảo tồn, mặc dù trong quá trình thời gian có thể có sự giảm sút về khả năng nhận thức Các triệu chứng bệnh tâm thần quan trọng nhất bao gồm cảm giác phản chiếu tư tưởng (tiếng vang), chèn người khác hoặc bắt cóc suy nghĩ của mình, chuyển suy nghĩ sang một khoảng cách; nhận thức mơ hồ và sự mê hoặc của sự kiểm soát từ bên ngoài; sự trơ trơ; chứng ảo giác thính giác, bình luận hoặc thảo luận về bệnh nhân ở người thứ ba; rối loạn tư tưởng và các triệu chứng của chủ nghĩa tiêu cực
Quá trình rối loạn tâm thần có thể kéo dài hoặc kéo dài với sự tiến triển hoặc sự ổn định của rối loạn; nó có thể là một hoặc nhiều giai đoạn của bệnh với hoàn toàn hoặc không đầy đủ Khi có các triệu chứng trầm cảm trầm trọng hoặc trầm cảm, chẩn đoán tâm thần phân liệt không nên được thực hiện cho
Trang 13đến khi rõ ràng là các triệu chứng tâm thần phân liệt trước rối loạn tình cảm Không chẩn đoán tâm thần phân liệt và với sự hiện diện của bệnh não rõ ràng, cũng như trong khi say hoặc ngưng thuốc Các rối loạn tương tự phát triển với chứng động kinh hoặc các bệnh não khác nên được mã hoá như F06.2 , và nếu chúng là do sử dụng chất gây nghiện, F10-F19 có dấu hiệu chung thứ tư
F20.0 Bệnh tâm thần phân liệt Paranoid schizophrenia
Hình thức hoang tưởng của tâm thần phân liệt, trong đó một sự vô nghĩa, hoang tưởng hoang tưởng thường chiếm ưu thế trong hình ảnh lâm sàng, thường đi kèm với ảo giác, đặc biệt là thính giác và rối loạn nhận thức Rối loạn cảm xúc, ý chí, triệu chứng nói và catatonic không có hoặc tương đối nhẹ Bệnh tâm thần phân liệt Không được bao gồm: trạng thái hoang tưởng xâm lược ( F22.8 ) của chứng hoang tưởng ( F22.0 )
F20.1 Bệnh tâm thần phân liệt kích động thanh xuân
Hình thức tâm thần phân liệt, trong đó sự thay đổi tình cảm chiếm ưu thế Delirium và ảo giác là bề ngoài và phân mảnh, hành vi là vô lý và không thể đoán trước, thường là cách cư xử Tâm trạng thay đổi và không đầy đủ, suy nghĩ là không tổ chức, nói là không mạch lạc Có một khuynh hướng cô lập xã hội Tiên đoán thường không thuận lợi do sự phát triển nhanh chóng của các triệu chứng "tiêu cực", đặc biệt là tình trạng làm phẳng và mất ý chí Gebefreniya chỉ nên chẩn đoán ở thanh thiếu niên và thanh thiếu niên Phân tâm tâm thần phân liệt Gebethrenia
F20.2 Bệnh tâm thần phân liệt Căng trương lực
Trong hình ảnh lâm sàng của bệnh tâm thần phân liệt, sự xáo trộn các rối loạn thần kinh của một nhân vật cực chiếm ưu thế, chẳng hạn như dao động giữa hyperkinesis và stupor hoặc tự động phụ và negativism Các tình huống bị ràng buộc có thể tồn tại trong một thời gian dài Một tính năng đáng chú ý của nhà nước có thể là trường hợp kích thích mạnh Các biểu hiện catatonic có thể kết hợp với tình trạng ngủ (onyroid) với ảo giác phong cảnh
Trang 14Catatonic Stupor Bệnh tâm thần phân liệt : catalepsy catatonia tính linh hoạt của sáp
F20.3 Bệnh tâm thần phân liệt không biệt định
Tình trạng rối loạn tâm thần đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán cơ bản cho tâm thần phân liệt, nhưng không tương ứng với bất kỳ hình thức nào của
nó được phân loại trong các phân nhóm F20.0 đến F20.2 hoặc có các tính năng có nhiều hơn một trong các hình thức trên mà không có sự ưu việt nổi bật của một bộ đặc tính chẩn đoán cụ thể Bệnh tâm thần phân liệt không điều trị ( F20.2 )
F20.4 Trầm cảm sau khi tâm thần phân liệt
Một giai đoạn trầm cảm có thể kéo dài, phát sinh như là kết quả của tâm thần phân liệt Một số triệu chứng của tâm thần phân liệt ("dương tính" hoặc "âm tính") vẫn nên có, nhưng chúng không còn chiếm ưu thế nữa Những điều kiện trầm cảm này có liên quan đến nguy cơ tự tử gia tăng Nếu bệnh nhân chưa có triệu chứng tâm thần phân liệt thì nên chẩn đoán trầm cảm ( F32.- ) Nếu các triệu chứng tâm thần phân liệt vẫn còn sáng và rõ ràng, bạn nên chẩn đoán đúng loại bệnh tâm thần phân liệt ( F20.0 - F20.3 )
F20.5 Tâm thần phân liệt di chứng
Giai đoạn mãn tính trong sự phát triển của tâm thần phân liệt, trong đó
có sự chuyển đổi rõ ràng từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối, đặc trưng bởi các triệu chứng "tiêu cực" dài (mặc dù không nhất thiết không thể đảo ngược), như chậm phát triển tâm thần; hoạt động thấp; sự mờ nhạt cảm xúc; thụ động
và thiếu sáng kiến; nghèo đói về nội dung bài phát biểu; sự nghèo đói của các tương tác phi ngôn ngữ thông qua biểu hiện trên khuôn mặt, sự biểu hiện của đôi mắt, ngữ điệu và tư thế; giảm sự tự chăm sóc và khan hiếm hành động xã hội Bệnh tâm thần phân liệt mãn tính Không phân biệt Bệnh tâm thần phân liệt còn lại
F20.6 Loại bệnh tâm thần phân liệt đơn thuần
Trang 15Một rối loạn trong đó có một sự phát triển không rõ ràng nhưng tiến bộ
về sự khác biệt trong hành vi, không có khả năng đáp ứng các yêu cầu của xã hội và sự suy giảm trong tất cả các hoạt động Các đặc tính tiêu cực đặc trưng của tâm thần phân liệt còn lại (ví dụ, làm phẳng ảnh hưởng và mất ý chí) phát triển mà không có bất kỳ triệu chứng rõ ràng về bệnh tâm thần
1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT
Hiện tại, điều trị cho bệnh tâm thần phân liệt có hiệu quả khi chúng được kết hợp: về thuốc, tâm lý liệu pháp, hỗ trợ về gia đình – xã hội Sự hỗ trợ và tham gia của gia đình là một phần cốt yếu cho sự thành công
1.3.1 Nguyên tắc chung
1) Xây dựng sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc, bệnh nhân và gia đình bệnh nhân Mục đích làm cho bệnh nhân và gia đình tin tưởng để cung cấp thông tin đầy đủ liên quan tới sự phát sinh, tiến triển bệnh, để bệnh nhân tuân thủ điều trị và cùng thầy thuốc đánh giá kết quả điều trị
2) Khám xét và giải quyết vấn đề toàn diện dựa trên tiếp cận sinh học- tâm lý- xã hội Dùng thuốc là một biện pháp quan trọng nhất để điều trị bệnh tâm thần phân liệt nhưng không phải là tất cả Thầy thuốc và các nhà tâm lý lâm sàng cần kết hợp và nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện để lựa chọn các phương pháp điều trị thích hợp
3) Chẩn đoán Bệnh chính xác
Điều trị bệnh tâm thần phân liệt nên theo 2 giai đoạn:
- Giai đoạn cấp tính: điều trị làm giảm đến mức tối thiểu các triệu chứng của bệnh Bệnh nhân cần điều trị nội trú tại bệnh viện để có điều kiện đánh giá bệnh, chẩn đoán chính xác, chọn thuốc và liều thuốc, điều trị tấn công (liều cao, tiêm), hay sử dụng các biện pháp điều trị tích cực khác và theo dõi tác dụng phụ được sát sao
- Giai đoạn bệnh ổn định: cho thuốc liều thấp để điều trị duy trì phòng ngừa tái phát
Trang 161.3.2 Điều trị cụ thể
Giai đoạn cấp tính (tốt nhất điều trị nội trú trong bệnh viện) có thể
kéo dài tù 4 – 8 tuần với mục tiêu làm giảm các triệu chứng tâm thần nặng Tùy theo tình trạng bệnh để chọn thuốc, liều và đường dùng cho phù hợp, thường dùng đường uống là phổ biến Thường chọn một trong các thuốc sau:
- Thuốc chống loạn thần điển hình (có nhiều tác dụng phụ)
+ Clorpromazine (aminazin, largactil…) viên, 25mg liều ban đầu 50 100mg /ngày liều trung bình 50-300mg/ngày
-+ Haloperidol (haldol…) viên 1,5mg, 2mg liều ban đầu 1-5mg/ngày liều trung bình 5-15mg/ngày tối đa 30mg/ngày
+ Levomepromazine (tisercine…) viên, liều trung bình 25-250mg/ngày + Thioridazine (melleril) viên 10mg, 25mg liều trung bình từ 25 – 250mg/ngày
- Thuốc chống loạn thần không điển hình (ít tác dụng phụ): có tác
dụng cả tren triệu chứng âm tính và dương tinh
+ Zyprexa (olanzapin) viên 5 mg, 10mg, 15 mg và 20mg, liều trung bình 5 -20mg/ngày
+ Risperidone: viên 1mg, 2mg liều dùng trung bình 1-6mg/ngày
+ Amisulpride(solian) viên 50mg, 200mg liều trung bình 100 – 400mg/ngày
+ Quetiapne (seroquel)viên50mg,100mg,200mg,300mg, liều trung bình
100 -600mg/ngày
+ Clozapine (leponex) viên 25mg, 100mg, liều trung bình 75 – 300mg/ngày
Giai đoạn ổn định (điều trị tại bệnh viện hoặc tại nhà) nhằm củng cố
hiệu quả, ngừa tái phát do điều trị gián đoạn hoặc người bệnh bị stress, giai đoạn này có thể kéo dài 6 tháng sau đợt cấp
Trang 17Giai đoạn duy trì (điều trị tại nhà) có thể kéo dài nhiều năm, nhằm
phòng tái phát và giúp bệnh nhân tái hòa nhập cộng đồng Liều thuốc duy trì
là liều thuốc thấp nhất có hiệu quả (thường bằng khoảng 20% liều giai đoạn cấp tính)
1.3.3 Điều trị bằng liệu pháp sốc điện
Sốc điện hiện nay thường dùng sốc điện có gây mê và được chỉ định
hạn chế, chỉ định đối với các trường hợp sau:
- Kích động kéo dài, dùng thuốc kém hiệu quả;
- Kích động trầm cảm với ý tưởng và hành vi tự sát mãnh liệt;
- Kích động căng trương lực, bỏ ăn;
Sốc điện mỗi lần trong một ngày và mỗi đợt kéo dài 6 – 8 lần
1.3.4 Điều trị tâm lý – xã hội
1.3.4.1 Liệu pháp tâm lý
- Giải thích cho gia đình nhận thức được bệnh, xác định cần điều trị
duy trì lâu dài, chấp nhận sống chung với bệnh nhân, quan tâm đến bệnh nhân, giúp bệnh nhân yên tâm tin tưởng vào điều trị, tránh mặc cảm, kỳ thị Uống thuốc đều và biết tác dụng phụ của thuốc
- Các liệu pháp tâm lý gồm:
+ Trị liệu gia đình;
+ Trị liệu nhóm;
+ Trị liệu cá nhân
1.3.4.2 Liệu pháp lao động và sự phục hồi chức năng
Hướng dẫn người bệnh tham gia các lao động đơn giản, vệ sinh cá nhân, các chức năng sinh hoạt, giao tiếp, tâm lý xã hội, lao động nghề nghiệp giúp phục hồi chức năng đã mất dần đưa bệnh nhân trở lại cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng
1.4 LIỆU PHÁP KÍCH HOẠT HÀNH VI
1.4.1 Tổng quan về liệu pháp kích hoạt hành vi