ĐẶT VẤN ĐỀBệnh quanh răng là một trong hai bệnh vùng răng miệng mà theo WHO là hiểm họa thứ ba của loài người sau các bệnh ung thư và tim mạch [31].Theo điều tra của các nước trên thế gi
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh quanh răng là một trong hai bệnh vùng răng miệng mà theo WHO
là hiểm họa thứ ba của loài người sau các bệnh ung thư và tim mạch [31].Theo điều tra của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì bệnh vùngquanh răng gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt với hơn 70% số người trưởng thành ởcác nước mắc bệnh này và không có sự khác biệt về tỷ lệ bệnh giữa nhữngnước phát triển và nước đang phát triển Bệnh lý vùng quanh răng rất phứctạp và bao gồm hai tổn thương chính: Tổn thương viêm và tổn thương thoáihóa Giai đoạn đầu, quá trình viêm gây hôi miệng, chảy máu lợi khi đánh rănghoặc chảy máu tự nhiên, dần dần răng di lệch, thưa ra, tụt lợi, hở cổ chân rănggây ê buốt Giai đoạn nặng, tổ chức quanh răng bị phá hủy nhiều làm rănglung lay, sức nhai kém và cuối cùng gây mất răng, ảnh hưởng nhiều tới thẩm
mỹ và phát âm của bệnh nhân
Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh khá phổ biến ở nước ta cũng nhưtrên thế giới, Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2002), tỷ lệ người mắc bệnh tâmthần phân liệt chiếm khoảng 0,48 - 0,69% dân số và mỗi năm cứ 10000người dân từ 12 đến 60 tuổi có một người mắc tâm thần phân liệt [17],[44] Tại Việt Nam, theo Trần Văn Cường (2002) tỷ lệ mắc bệnh tâm thầnphân liệt chiếm khoảng 0,3 - 1% dân số [2]
Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng có xu hướng tiến triểnmạn tính, làm suy giảm nặng nề các chức năng tâm thần, mất đi khả năng laođộng và làm tan rã nhân cách của người bệnh dẫn đến sa sút trí tuệ Bệnhnguyên, bệnh sinh của bệnh cho đến nay vẫn chưa được hiểu biết rõ ràng
Những biểu hiện của bệnh gồm các triệu chứng rối loạn về tư duy, hành
vi, nhận thức, cảm xúc, tri giác Triệu chứng đặc trưng của bệnh là tính bịđộng , bị chi phối trong các biểu hiện loạn thần như hoang tưởng, ảo giác và
Trang 2một số các triệu chứng âm tính mà hậu quả của nó là khó khăn trong việcgiao tiếp với mọi người xung quanh, sự tan rã sâu sắc nhân cách và suy giảmnhận thức của người bệnh, làm họ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.[15], [27]
Bệnh răng miệng ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thường phức tạp hơn
vì những rối loạn tâm thần khiến họ thay đổi hành vi, không quan tâm đến sứckhỏe nói chung và răng miệng nói riêng, cũng như hình thành thói quen xấutrong vệ sinh răng miệng hoặc không vệ sinh răng miệng Ngoài ra, liệu phápđiều trị như việc dùng các loại thuốc chống động kinh, trong một thời giandài cũng làm tăng nguy cơ và thời gian mắc bệnh răng miệng [70] Cácnghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân tâm thần phân liệt có
tỷ lệ bệnh viêm quanh răng cao hơn, vệ sinh răng miệng kém hơn và bị khômiệng thường xuyên hơn so với những người khác [39] [64]
Hiện nay ở nước ta những công trình nghiên cứu bệnh quanh răng trênbệnh nhân tâm thần còn rất ít Để có số liệu cho các hoạt động chăm sóc răng
miệng cho đối tượng này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhận xét
tình trạng bệnh quanh răng ở bệnh nhân tâm thần phân liệt tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương”, với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng bệnh quanh răng ở bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương.
2 Đánh giá nhu cầu điều trị bệnh quanh răng ở các đối tượng trên.
Trên cơ sở kết quả thu được đề xuất các biện pháp thích hợp cho việc chăm sóc răng miệng cho các bệnh nhân tâm thần phân liệt.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 BỆNH QUANH RĂNG
Viêm quanh răng là bệnh có từ lâu đời, qua các nghiên cứu trên sọ cổthấy bệnh đã có từ 3.000 năm trước công nguyên Từ cuối thế kỷ 19 nhiềucông trình nghiên cứu về bệnh này đã được tiến hành và ngày càng có nhữngbước tiến quan trọng ở nhiều lĩnh vực: dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, cácphương pháp chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh
Về dịch tễ học: VQR đã được nghiên cứu một cách hệ thống bắt đầu từnhững năm 40 của thế kỷ trước: Masshall (1944) điều tra ở Ấn độ, Shwor vàMosFler (1950) điều tra ở Ý [31] Những cố gắng của các nhà lâm sàng cho thấygiá trị của dịch tễ học trong việc tìm hiểu bệnh và đi đến kết luận rằng: VQR là 1bệnh rất phổ biến, tỷ lệ bệnh tăng dần theo tuổi và nếu giữ vệ sinh răng miệng tốtthì tỷ lệ bệnh giảm nhiều
1.1.1 Cơ chế sinh bệnh quanh răng
Từ lâu người ta đã nhận thấy các ảnh hưởng qua lại phức tạp của yếu tốtoàn thân, tại chỗ cũng như ngoại cảnh đối với sự hình thành và phát triển củabệnh quanh răng
Trong những năm 1960 đa số các giả thuyết cho rằng VQR là donguyên nhân toàn thân và yếu tố tại chỗ (tại chỗ là vi khuẩn và sang chấnkhớp cắn) Vai trò của vi khuẩn với các men của nó là mắt xích đầu tiên trongquá trình phá hủy tổ chức quanh răng: Green (1960), Ramfjord (1961) và Loe(1965) đã chứng minh ảnh hưởng của mảng bám răng tới viêm lợi [22].Rosling (1976) cũng kết luận: nếu kiểm soát được mảng bám răng và vệ sinhrăng tốt bệnh sẽ ổn định, xương ổ răng bị tổn thương sẽ được phục hồi [8]
Trang 4Ngày nay người ta nhấn mạnh vai trò của vi khuẩn trong mảng bámrăng và sự đáp ứng miễn dịch của từng cá thể, đây là hai yếu tố chính khởiphát bệnh quanh răng Ngoài ra người ta còn thấy yếu tố làm bệnh nặng thêmnhư sang chấn khớp cắn hoặc những bệnh toàn thân khác trong một số hộichứng [22].
Các yếu tố toàn thân liên quan tới VQR: bệnh đái tháo đường, xơ gan,bệnh nội tiết, bệnh tim mạch và cả những điều kiện khác như hình thể, vị trírăng, bất bình thường của cung răng, những sai sót trong điều trị trong đóbệnh đái tháo đường có liên quan rất mật thiết đến bệnh VQR
1.1.1.1 Mảng bám răng (MBR)
- Cấu tạo: MBR bản chất là vi khuẩn, trung bình 1mm3 có 108 vi khuẩngồm 200 loại khác nhau có loại đã biết nhưng có loại chưa biết Mảng bámhoàn chỉnh sau 14-21 ngày có khả năng gây bệnh
- Những loại vi khuẩn liên quan tới các thể bệnh viêm lợi và VQR: + Bacteroides Intermedius
3 tuần, tỷ lệ trực khuẩn và cầu khuẩn gram (-) bằng các loại gram (+), tỷ lệ vikhuẩn yếm khí và trực khuẩn gram (-) tăng
Trang 5 MBR dưới lợi: là mảng bám hình thành ở dưới lợi Theo một số tácgiả: khi lợi phù nề do viêm, nó phủ một phần MBR để trở thành MBR dướilợi, nó phát triển độc lập với sự tham gia của dịch rỉ viêm, làm thức ăn cho vikhuẩn phát triển, vi khuẩn yếm khí ngày càng tăng, đánh răng lúc này khôngcòn kết quả Tuy chưa biết hết các loại vi khuẩn nhưng người ta cũng đã thấytrong VQR có nhiều vi khuẩn gram (-) và một số vi khuẩn đặc biệt gây bệnh.
- MBR và vai trò của nó trong bệnh sinh quanh răng: MBR thực chất
là màng vi khuẩn gây hại vùng quanh răng bởi hai cơ chế tác động:
+ Tác động trực tiếp: các sản phẩm chuyển hoá trong quá trình sốngcủa vi khuẩn là các men và nội độc tố Men làm mềm yếu sợi keo, phân hủy
tế bào, làm bong rách biểu mô dính dẫn đến viêm Nội độc tố kích thích tiếtProstaglandine làm tiêu xương
+ Tác động gián tiếp: vi khuẩn và chất gian khuẩn đóng vai trò khángnguyên, gây bệnh bằng cơ chế miễn dịch tại chỗ Vi khuẩn và chất gian khuẩnkích thích tổ chức huy động hệ thống miễn dịch Sản phẩm từ Lymphocyte vànhững yếu tố hoạt hóa đại thực bào làm phá hủy tổ chức quanh răng [8]
Những vi khuẩn ở mảng bám răng kích thích làm khởi động hoạt hóanhững cơ chế miễn dịch (Miễn dịch dịch thể, miễn dịch qua trung gian tếbào), hoặc ức chế phòng vệ của túc chủ Trong tác động gián tiếp hệ thốngmiễn dịch tế bào đóng vai trò liên quan trực tiếp đến phản ứng viêm vùngquanh răng và phản ứng viêm được biết rõ nhất bằng tỷ lệ protein C phản ứngtăng cao trong huyết thanh [40]
Trang 6- Cao răng trên lợi: có màu vàng hoặc nâu xám, thường có ở nhữngrăng cạnh lỗ tuyến nước bọt, mặt ngoài răng 6-7 hàm trên, mặt trong nhómrăng cửa và răng 6 hàm dưới.
- Cao răng dưới lợi: nhìn rõ khi lợi bong ra khỏi cổ răng, màu xám,bám chắc vào răng, có thể nhìn thấy qua lợi, ánh sáng đèn và phim sau ổ răng
1.1.1.3 Vi khuẩn trong mảng bám răng
Vai trò gây bệnh của vi khuẩn trong mảng bám răng đã được chứngminh từ những công trình gây viêm thực nghiệm của Loe (1965) Đây lànguyên nhân chủ yếu gặp hầu hết trong các bệnh quanh răng
Qua nhiều năm nghiên cứu các quần thể khác nhau trên thế giới thấyrằng có sự liên quan chặt chẽ giữa MBR (hay mảng bám vi khuẩn) với tỷ lệbệnh quanh răng và mức độ trầm trọng của bệnh
Cho đến nay bệnh viêm lợi và VQR phải được coi như là những bệnhnhiễm khuẩn (Page và Schroeder 1992), trong đó mỗi bệnh được đặc trưngbởi sự chiếm ưu thế của một hay nhiều vi khuẩn đặc hiệu:
- VQR cấp ở người trẻ:
+ Actinobacillus Actinomycetemcomitans (Slots và cộng sự 1976)+ Bacteroides Gingivalis (Tanner và cộng sự 1979)
+ Eikenella Corrodens (Mandel 1984)
- VQR tiến triển nhanh:
Trang 7Tuy những vi khuẩn tác động tại chỗ nhưng theo sự khác nhau trongphản ứng của cá thể, có khi cùng một lượng mảng bám răng cũng sẽ gây ranhững mức độ viêm khác nhau ở những cá thể khác nhau.
Hiện nay sức đề kháng của vùng quanh răng chúng ta hiểu như là khảnăng của tổ chức quanh răng chống lại sự phát sinh của MBR bao gồm:
- Sự sắp xếp giải phẫu của vùng quanh răng là tối ưu nhất
- Phản ứng miễn dịch của vùng quanh răng là có tác dụng và có ý nghĩanhất trong sự bảo vệ các phương tiện quanh răng chống MBR Phản ứng miễndịch bao gồm: đặc hiệu và không đặc hiệu [22]
1.1.2 Phân loại bệnh viêm lợi và viêm quanh răng [21], [6]
Phân loại bệnh quanh răng là cần thiết cho việc chẩn đoán và điều trị
Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả phân loại: năm 1884 Rhein đưa ra phânloại đầu tiên, sau này Hội răng miệng Quốc tế năm 1931 (F.D.I-FederationDentaire International) và Hội nghiên cứu bệnh quanh răng được thành lập(ARPA-Association Pour Les Paradontopathies) và đã đưa ra phân loại bệnhquanh răng năm 1988, phân loại của viện hàn lâm bệnh quanh răng Mỹ AAPnăm 1986 (American Academy of Periodontology)
Hiện nay trên lâm sàng chủ yếu sử dụng phân loại bệnh quanh răng củaWHO năm 1999:
A Bệnh ở lợi
Các bệnh viêm lợi do MBR:
- Viêm lợi do MBR đơn thuần
- Viêm lợi do MBR phối hợp với các yếu tố toàn thân: Nội tiết,bệnh máu,
- Viêm lợi do thuốc
- Viêm lợi do thiếu dinh dưỡng: thiếu Vitamin C,
Các bệnh ở lợi không do MBR:
Trang 8- Do vi khuẩn đặc hiệu: Neiseseria gonorrhe, Treponia pallidium,
- Do virus: herpes,
- Do nấm: Candida,
- Do di truyền: U lợi xơ dạng lông
-Do bệnh toàn thân biểu hiện ở lợi: dị ứng,
- Do sang chấn
- Phản ứng kháng nguyên
B VQR mạn tính: Khu trú, toàn bộ
C VQR tiến triển nhanh: Khu trú, toàn bộ
D VQR là biểu hiện của bệnh toàn thân: Bệnh máu, bệnh liên quanđến thay đổi gen
E Hoại tử quanh răng: Viêm lợi loét hoại tử, viêm quanh răng loéthoại tử
F Apxe quanh răng: Apxe lợi, apxe quanh răng
G VQR phối hợp với tổn thương nội nha
H Dị dạng bẩm sinh hay mắc phải:
Yếu tố tại chỗ tăng MBR: Giải phẫu, chất hàn răng,
Dị dạng niêm mạc: Giảm độ sâu ngách tiền đình, bất thường phanhmôi, má,
Biến dạng lợi- niêm mạc và bờ xương ổ răng: Thiếu chiều caoxương ổ răng, tăng sản lợi,
Sang chấn khớp cắn
1.1.3 Các chỉ số đánh giá tình trạng quanh răng [23]
Cho tới nay để đánh giá và quản lý bệnh quanh răng, các chỉ số được sửdụng rộng rãi trên thế giới là [23]:
- Chỉ số lợi GI (Gingival Index)
- Chỉ số quanh răng PI (Periodontal Index)
Trang 9- Chỉ số bệnh quanh răng PDI (Periodontal Disease Index)
- Chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng CPITN (CommunityPeriodontal Index of Treatment Needs)
- Chỉ số vệ sinh miệng đơn giản OHI-S (Oral Hygiene Index Simplified)
- Chỉ số mảng bám răng PlI (Plaque index)
- Chỉ số cao răng CI (Calculus index)
1 .2 TÌNH TRẠNG BỆNH QUANH RĂNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM.
1.2.1.Trên thế giới
Tình trạng bệnh quanh răng trên thế giới.
Những nghiên cứu từ xưa cho đến nay đều chỉ ra rằng bệnh răng miệngnói chung và bệnh quanh răng nói riêng có từ lâu đời và đến nay vẫn là bệnhphổ biến, có xu hướng lan rộng và tiến triển của bệnh rất phức tạp Bệnh lưuhành rộng giữa các châu lục, các quốc gia, liên quan đến tuổi, giới, điều kiệnkinh tế- xã hội, vùng địa lý… cho nên đã được nhiều tác giả chú ý nghiên cứudịch tễ học trên phạm vi toàn cầu Người ta đã cố gắng tìm ra các chỉ số nhằmthống nhất hơn trong việc mô tả tình trạng của bệnh cũng như nhu cầu điều trịbệnh quanh răng cộng đồng Trong những năm 1950 người ta có các biệnpháp làm sáng tỏ nguyên nhân của bệnh quanh răng (Russel- 1956, Ramfford S P- 1959) [71], những năm 1970 các nhà khoa học đã đánh giá giá trịcủa các phương pháp điều trị khác nhau để giải quyết vấn đề viêm quanh răng(Ramf ford và cộng sự - 1975, Ainamo J và Ray I- 1975, Rooling B và cộngsự- 1976) [1], trên cơ sở sự kết hợp giữa hệ thống nhu cầu điều trị tổ chứcquanh răng: PTNS của Johansen và cộng sự- 1973, sự phân chia hàm thành 6vùng lục phân của O Leary- 1967 [67], với sự ghi nhận phân đôi củaAinamo J và Ainamo A- 1978, chỉ số quanh răng cộng đồng về nhu cầu điềutrị: CPITN đã ra đời Sau những thảo luận mở rộng và kiểm tra, CPITN đãđược hoàn chỉnh và mô tả năm 1982 (Ainamo, Barmes Beagrie và cộng sự)
Trang 10được WHO, FDI thông qua năm 1984, được nhiều nước trên thế giới áp dụng.Mục đích và mục tiêu cho sức khỏe quanh răng đã được đề nghị- CPITN đượcxem ở mức độ quốc gia, sau hội nghị Hội nha khoa quốc tế (FDI) năm 1985,
nó mang tính toàn cầu [81]
Trên thế giới nhiều nghiên cứu về dịch tễ học bệnh của vùng quanhrăng được thực hiện Người ta thấy tất cả những thương tổn của tổ chứcquanh răng trong đó viêm lợi và viêm quanh răng mãn là những bệnh phổbiến nhất [84]
- Tình trạng viêm lợi:
Được phát hiện những năm 1930, từ 40 năm sau đó các chỉ số đánh giátình trạng lợi như SBI, GI ra đời, phát triển và đạt được những kết quả thốngnhất hơn Người ta chứng minh rằng, viêm lợi xuất hiện và lưu hành rất cao ởnhóm tuổi vị thành niên: Theo Muhleman và Mazor (1958) tuổi 13 ở Thụyđiển bị viêm lợi là 93%, theo Rosenzwing (1960), tuổi 17 ở Ấn độ bị viêmlợi là 100% [57], ở Mỹ (1974) 6-7 tuổi viêm lợi 23% và 18-74 tuổi viêmlợi là 25% [83], ở Trung Quốc theo Bian Jin You ở vùng Yungcheng tỷ lệviêm lợi là 99% (1986) và theo nghiên cứu của Yupin ở Changmai TháiLan cho thấy 93% viêm lợi, chỉ có 0,7% người có lợi hoàn toàn khỏe mạnh
ở lứa tuổi 35- 44
Viêm lợi tuy là bệnh phổ biến, nhưng mức độ viêm lợi cũng có sự thayđổi, bởi vì sự thay đổi này liên quan đến nhiều vấn đề như sự thay đổihormon, sự mọc và thay răng, tuổi dậy thì, đặc biệt liên quan mật thiết đếntình trạng vệ sinh răng miệng Nghiên cứu của Anerud và CS năm 1979-1983
ở nhóm tuổi vị thành niên nếu thực hiện các biện pháp dự phòng và điều trị
QR tốt thì hơn 90% có răng lợi khỏe mạnh và duy trì suốt lứa tuổi này [33].Ngược lại những người không chải răng, hoặc không có chương trình chămsóc RM nào cả thì tất cả các đối tượng nghiên cứu đều bị viêm lợi [57]
Trang 11- Tình trạng viêm quanh răng:
Người ta đã sử dụng nhiều cách đánh giá để nghiên cứu về dịch tễ họccủa viêm QR: Dựa trên sự tiêu xương đo được trên phim X quang (Marshall –Day và CS.1995), sự hiện diện của túi quanh răng (Greene – 1963, Russell –
1971 và đo lường sự mất bám dính của tổ chức quanh răng (Loe và CS-1978)
để xác định bệnh [57]
Số liệu về tình trạng viêm quanh răng ở các lứa tuổi và ở các nước cũngkhác nhau Theo Brown và CS, 1981 ở Mỹ: 65% người ở lứa tuổi từ 19-65 cótúi lợi sâu ≥ 3mm, 28% có túi lợi sâu 4-6mm và 8% có túi lợi sâu > 6mm
So với các châu lục trên thế giới, thì các nước Châu Á có tỷ lệ % ngườilành thấp (thông qua các cuộc điều tra ở một số nước và khu vực đại diệnChâu Á: Bangladesh- 1982, Nhật Bản- 1984, Nêpan- 1984, Srilanka- 1984 vàHồng Kông-1984): 3%, trong khi các châu lục khác khả quan hơn, Châu Âu:4,75% (thông qua điều tra tại : Phần Lan- 1984, Hungari- 1985, Italia- 1985,
Hy lạp- 1985, Hà Lan- 1981, Bồ Đào Nha- 1984, Tây Ban Nha- 1985), ChâuÚc: 11% (Australia- 1984 Tỷ lệ các nước Đông Nam Á có mức trung bìnhcộng là: 6% (qua điều tra tại Thái Lan- 1982 và Indonesia- 1984) [85]
Về nhu cầu điều trị: Nhờ có các chương trình tuyên truyền và hướngdẫn VSRM cộng đồng, một số nước đã có sự thay đổi về tỷ lệ viêm lợi vàviêm quanh răng Trong một nghiên cứu của Bian Jin You ở vùng Yuncheng(Trung Quốc) sau chiến dịch “Ngày cho hàm răng của bạn”- do họ phát động,thì tỷ lệ viêm lợi giảm xuống từ 99% (1990) còn 63% và tỷ lệ cao răng cũnggiảm từ 85% xuống 43% (1996)
Tuy nhiên, một số nước khu vực Đông Nam Á nhu cầu điều trị vẫn còn
ở mức cao Chẳng hạn như Thái Lan là một nước đẩy mạnh công tác chămsóc sức khỏe răng miệng cộng đồng, nhưng qua kết quả điều tra toàn quốc, thì
Trang 12nhóm tuổi 35- 44 mới có hơn 1% lợi hoàn toàn khỏe mạnh, 58% có túi lợinông và 11% có túi lợi sâu [78].
ở người lớn sau 35 tuổi
Trong công trình nghiên cứu của Vũ Xuân Uông, Lê Hoàng Hải vàcộng sự ở lứa tuổi từ 6 đến 65 tuổi ở Cao Thành, Ứng Hòa, Hà Sơn Bình(1978) cho thấy bệnh quanh răng có tỷ lệ mắc cao ở lứa tuổi 45 đến 54 và caonhất ở lứa tuổi 65 (51,47%), thấp nhất ở lứa tuổi từ 15-19 (1,44%) Theo sốliệu điều tra lần này, có thể nói bệnh viêm quanh răng găp bệnh viêm quanhrăng gặp nhiều ở người già và tỷ lệ mắc ở nam cao hơn nữ (18,62% và17,92%) là không có sự khác biệt [25]
Những năm gần đây việc điều tra xác định bệnh quanh răng người tađánh giá bằng các chỉ số trong đó chỉ số nhu cầu điều trị bệnh quanh răngcộng đồng CPITN đã được áp dụng tại Việt Nam
Theo kết quả điều tra cơ bản trong toàn quốc tiến hành từ năm
1981-1983 của Phân viện và Viện Răng Hàm Mặt Trung Ương, Nguyễn Văn Cát vàcộng sự cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở Miền Nam: 91,3% và Miền Bắc: 82,10% [30]
Theo số liệu kết quả cuộc điều tra cơ bản SKRM toàn quốc tiến hànhnăm 1990 ở các tỉnh đại diện (Phía Bắc, phía Nam, miền Trung, đồng bằngChâu Thổ, Trung du, miền Núi, Nông thôn và Thành thị) ở các nhóm tuổi (12,
Trang 1315 và 35- 44) [31] thì tỷ lệ mắc bệnh quanh răng cao, đặc biệt là chỉ số viêmlợi và cao răng ở 3 nhóm tuổi đều trên 90%.
Trong một điều tra riêng rẽ về bệnh quanh răng ở các tỉnh phía NamViệt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh [1] tác giả Nguyễn Cẩn cho biết tỷ lệngười có cao răng rất cao, xuyên suốt các lứa tuổi, gần giống như các nước,đặc biệt là các nước thuộc thế giới thứ 3, viêm lợi luôn đi với cao răng, 1/3viêm lợi sẽ tiến triển sang viêm quanh răng sau một thời gian, thường thì sau
Theo tác giả Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn, Trịnh Đình Hải trongbáo cáo điều tra SKRM toàn quốc năm 2001 thì tỷ lệ người có bệnh quanhrăng rất cao ở mức 96,7% trong đó có 31,8% có túi lợi bệnh lý nông và sâu [24]
Những số liệu trên cho thấy tỷ lệ (%) người mắc bệnh quanh răng cao,mức độ bệnh nặng Theo kết quả điều tra kiến thức, thái độ và hành động vềphòng và điều trị bệnh quanh răng của nhân dân còn nhiều hạn chế chưa thíchhợp và khoa học Để đẩy mạnh hơn nữa công tác chăm sóc SKRM cộng đồngtránh sự tổn phí tiền của và công sức của nhà nước và nhân dân, nghành rănghàm mặt đã tiến hành các biện pháp dự phòng:
+ Giáo dục VSRM cộng đồng phù hợp với điều kiện kinh tế và nhậnthức của nhân dân
+ Hướng dẫn vệ sinh ăn uống cho dân hợp lý và cân bằng
+ Huấn luyện VSRM đúng cách như: Sử dụng Fluor tăng cường sức đềkháng của men răng, diệt khuẩn làm vùng quanh răng sạch và răng chắc hơn,cách chải răng, dùng bàn chải kẽ, chải lưỡi,…
Trang 14+ Tiến hành điều trị viêm quanh răng không phẫu thuật: Lấy cao răng,làm nhẵn bề mặt cổ chân răng, điều chỉnh khớp cắn sang chấn, sửa hàm giả,răng hàn sai kỹ thuật,…
1.3 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT
Các triệu chứng lâm sàng của bệnh TTPL vô cùng phong phú, phức tạp
và luôn biến đổi trên các mặt hoạt động tâm thần Đa số các tác giả đều thốngnhất chia làm 2 nhóm triệu chứng chính đó là: các triệu chứng âm tính và cáctriệu chứng dương tính Ngoài ra các nhóm triệu chứng: suy giảm nhận thức,triệu chứng trầm cảm ngày càng có một vai trò quan trọng trong lâm sàng củabệnh tâm thần phân liệt và được các tác giả quan tâm nghiên cứu [3], [[17], [73]
1.3.1 Triệu chứng âm tính.
Là các triệu chứng thể hiện sự tiêu hao, mất mát các hoạt động tâm thầnsẵn có, mất tính toàn vẹn, tính thống nhất của hoạt động tâm thần Triệuchứng âm tính được thể hiện bằng tính tự kỷ và giảm sút thế năng tâm thần[3], [17]
1.3.1.1 Tính tự kỷ.
Là hậu quả khi phát triển đến mức độ cao của tính thiếu hoà hợp, nổi bật
là tính dị kỳ khó hiểu, khó thâm nhập Người bệnh xa rời thực tại, cắt đứt vớithế giới bên ngoài, quay vào thế giới nội tâm trong đó các quy luật tự nhiên và
xã hội đều bị đảo lộn Người bệnh nghĩ và làm những điều dị kỳ không aihiểu được [17]
1.3.1.2 Giảm sút thế năng tâm thần.
Đó là giảm sự năng động, nhiệt tình trong mọi hoạt động tâm thần, cảmxúc ngày càng cùn mòn, khô lạnh, tư duy ngày càng nghèo nàn, ý chí suy đồi,hoạt động giảm dần và không thiết làm gì
Các triệu chứng âm tính thường tiến triển dần dần, âm ỉ làm tan rã nhâncách của người bệnh một cách sâu sắc [17]
Trang 151.3.1.3 Các triệu chứng âm tính thường gặp
Các triệu chứng âm tính là khá phong phú song theo các tác giả: KaplanH.I và CS (1994) thấy các triệu chứng âm tính thường gặp trong bệnh TTPL
là [50]:
* Các rối loạn tư duy:
+ Tư duy chậm chạp: khả năng suy nghĩ rất khó khăn, dòng ý tưởng rấtchậm sau mỗi câu hỏi bệnh nhân phải suy nghĩ rất lâu mới trả lời được
+ Tư duy ngắt quãng: khi đang nói chuyện, dòng ý tưởng của bệnh nhânnhư bị cắt đứt làm cho bệnh nhân không nói được nữa Mãi sau mới lại tiếptục nói về một chủ đề khác
+ Tư duy nghèo nàn: ngôn ngữ nghèo nàn cả về lượng từ và nội dung,giảm vốn từ, lượng từ khi nói Giảm sút các ý tưởng diễn đạt, nội dung sơ sài,đơn điệu
* Các rối loạn cảm xúc:
+ Cảm xúc cùn mòn: biểu hiện đặc trưng bởi nét mặt khô khan, vô cảm.Nghèo nàn trong cử chỉ biểu lộ cảm xúc, trong giao tiếp không dùng lời nhưbiểu hiện nét mặt, tiếp xúc bằng mắt, âm điệu lời nói kém linh hoạt
+ Cảm xúc không thích hợp: là trạng thái mất sự phù hợp giữa nội dung
tư duy và biểu lộ cảm xúc như tin vui thì khóc, chuyện buồn lại cười
+ Các biểu hiện khác của cảm xúc: lãnh đạm, thờ ơ, giảm hoặc mất hammuốn và hứng thú, thu rút xã hội Người bệnh hoàn toàn không muốn tiếp xúc, xalánh tất cả mọi người Họ tách rời khỏi thế giới thực tại xung quanh, thu rút vàothế giới tự kỷ bên trong của riêng mình mà chỉ có bệnh nhân mới hiểu được
* Các rối loạn hoạt động có ý chí:
+ Thiếu ý chí, bị động và thiếu sáng kiến Chậm chạp tâm lý vận động,hoạt động kém Giảm hoặc mất khả năng tự chăm sóc bản thân và kém hoạtđộng xã hội
Trang 16Đó là tình trạng người bệnh không thể kiểm soát và duy trì các hoạtđộng có mục đích, dẫn đến xu hướng thụ động và thiếu sáng kiến, kém hiệu quảtrong mọi hoạt động, từ việc tự chăm sóc bản thân, đến các hoạt động xã hội Họluôn ở trong trạng thái lờ đờ, chậm chạp, vô cảm, mất năng lực và mất ý chí.
1.3.1.4 Các triệu chứng âm tính nguyên phát và thứ phát.
Kecskemeti S và CS (2001) cho rằng các triệu chứng âm tính trongbệnh TTPL là biểu hiện sự sa sút của các hoạt động thần kinh dưới cấu trúc vàđược gọi là các triệu chứng âm tính nguyên phát Nhưng tác giả cũng thấyrằng triệu chứng âm tính của TTPL có thể xuất hiện như là hậu quả của rấtnhiều yếu tố hoàn toàn không liên quan đến sự suy giảm các hoạt động thầnkinh dưới cấu trúc Các triệu chứng âm tính đó được gọi là “triệu chứng âmtính thứ phát”, nguyên nhân thường gặp nhất là [52]:
1 Tác dụng phụ của thuốc an thần kinh
2 Trầm cảm thường gặp trong TTPL, đặc biệt ở giai đoạn di chứng
3 Sự đáp ứng với chính các trải nghiệm loạn thần (ví dụ: sự né tránh xãhội thứ phát do tình trạng paranoia) và đáp ứng với các khía cạnh bệnh y sinh(ví dụ: cưỡng bức nằm viện, bắt phải uống thuốc )
4 Hậu quả của việc bệnh nhân phải sống nhiều trong môi trường ít có điềukiện được tiếp xúc với cộng đồng (ví dụ: nằm tại các cơ sở từ thiện lâu dài).Một trong những tiêu chí phân biệt triệu chứng âm tính nguyên phát vàthứ phát đó là các triệu chứng âm tính phải chiếm ưu thế ít nhất là 12 thángtrong khi không có các nguyên nhân thứ phát
1.3.2 Triệu chứng dương tính.
Đó là các triệu chứng rất phong phú, đa dạng và luôn luôn biến đổi, chúng
có thể xuất hiện riêng lẻ, nhưng cũng có thể kết hợp với nhau thành những hội
Trang 17chứng Các triệu chứng dương tính thường gặp là các hoang tưởng, ảo giác, kíchđộng tâm thần vận động.
Theo Snejnhepxki A.V (1982) có 9 hội chứng dương tính thay thế nhau
4 Các rối loạn hình thức tư duy dương tính:
- Tư duy lệch lạc (derailment): dòng tư duy lúc đầu tưởng như theo đúngmột chủ đề, sau đó lại chệch sang chủ đề khác
- Tư duy sai chủ đề (tangentiality): dòng tư duy ngay từ đầu đã sai chủ đề
Trang 18- Tư duy không liên quan (incoherence).
- Tư duy không logic (illogicality)
- Tư duy lai nhai (circumstantiality)
- Ngôn ngữ bị ép buộc (pressure of speech)
- Ngôn ngữ hỗn loạn (distractive speech)
- Tư duy vang thành tiếng (clanging)
Trong các nghiên cứu các tác giả đều thống nhất dùng các triệu chứng dươngtính làm cơ sở để chẩn đoán các thể của bệnh tâm thần phân liệt [3], [17]
1.3.3 Triệu chứng trầm cảm trong tâm thần phân liệt.
Trầm cảm là một triệu chứng thường gặp trong bệnh tâm thần phân liệt.Các triệu chứng trầm cảm đôi khi là biểu hiện thứ phát trong TTPL hoặc rốiloạn trầm cảm sau phân liệt Một số nghiên cứu cho kết quả khoảng 25% tất
cả số bệnh nhân TTPL đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm sau loạnthần của TTPL Một số nghiên cứu thấy rằng có một mối liên quan giữa trầmcảm với sự tồn tại của triệu chứng ngoại tháp do thuốc an thần kinh (ATK) vàcho rằng các bệnh nhân TTPL có trầm cảm thường nhạy cảm với các tác dụngphụ ngoại tháp của ATK
1.3.4 Triệu chứng suy giảm chức năng nhận thức trong tâm thần phân liệt.
Theo Hardy-Bayle M.C và CS (2003): “Nhận thức là hoạt động của trí
óc qua đó con người hiểu biết về sự vật, hiện tượng được phản ánh trong suynghĩ Nhận thức bao gồm tất cả các mặt của sự hiểu biết, suy nghĩ và ghi nhớ”.Trên phương diện sinh lý thần kinh “Nhận thức có thể hiểu là quá trình tiếpnhận, xử lý, lưu trữ và sử dụng các thông tin” có liên quan chặt chẽ với hoạtđộng chức năng và giải phẫu của não [46]
Suy giảm nhận thức là tình trạng suy giảm các hoạt động nhận thức nhưchú ý, trí nhớ, sự định hướng, tri giác, tư duy… Đa số các nhà khoa học đều
Trang 19công nhận rằng có sự suy giảm nhận thức nhiều mức độ trong bệnh TTPL.Suy giảm nhận thức được coi là một đặc điểm phổ biến của bệnh Suy giảmtrong chức năng nhận thức có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới khả năng sống tựlập cũng như khả năng thích ứng và tái hòa nhập xã hội của người bệnh [62].
Sự suy giảm chức năng nhận thức có tính chất tăng dần trong TTPL đãđược biết đến Peled A (1999) nhận thấy các thiếu sót về nhận thức xuyênsuốt quá trình tiến triển của bệnh, sự thiếu sót nhận thức thể hiện ở khả năngnhận thức về bản thân, về mức độ bệnh lý của mình và nhận thức về các sựkiện cuộc sống cũng như mục đích sống [69]
a Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy bịphát thanh
b Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động có liên quan rõrệt với vận động thân thể hay các chi, hoặc liên quan với những ý nghĩ, hành
vi hay cảm giác đặc biệt, hoặc tri giác hoang tưởng
c Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hoặccác loại ảo thanh khác xuất hiện từ một bộ phận nào đó của cơ thể
d Các hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hóa vàhoàn toàn không đồng nhất về tôn giáo, chính trị, hoặc những khả năng vàquyền lực siêu nhân (thí dụ: có khả năng điều khiển thời tiết hoặc đang tiếpxúc với những người của thế giới khác)
Trang 20e Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng thoáng quahay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng, hoặc kèm theo ý tưởngquá dai dẳng, hoặc xuất hiện ngày càng nhiều trong nhiều tuần, nhiều tháng.
f Tư duy bị gián đoạn hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liênquan hay lời nói không thích hợp, ngôn ngữ bịa đặt
g Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng, uốn sáptạo hình, phủ định, không nói hay sững sờ
h Các triệu chứng âm tính: vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các đápứng cảm xúc cùn mòn hay không thích hợp thường đưa đến cách ly xã hộihay giảm sút hiệu suất lao động
i Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tậptính cá nhân biểu hiện: mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác, thái độ mêmải suy nghĩ về bản thân và cách ly xã hội
1.3.5.2 Các thể lâm sàng theo ICD–10 (1992).
+ Tâm thần phân liệt thể Paranoid (F20.0):
Triệu chứng nổi bật nhất là các hoang tưởng (HT) và ảo giác (AG) Đặctrưng của HT là tính bị động, bị chi phối hay bị hại…,đặc trưng của AG là ảogiác giả, hay gặp ảo thanh bình phẩm hoặc ra lệnh Ảo khứu, ảo vị, ảo thị ítgặp hơn
Hoang tưởng và AG thường kết hợp với nhau thành hội chứng tâm thần
tự động rất đặc trưng trong TTPL thể paranoid
Rối loạn cảm xúc ở thể này thường nhẹ Triệu chứng âm tính thường kínđáo Thể này thường xuất hiện muộn hơn các thể khác
+ Tâm thần phân liệt thể thanh xuân (F20.1).
Một thể bệnh TTPL nổi bật là rối loạn cảm xúc, hoang tưởng và ảo giácthoáng qua và rời rạc, tác phong vô trách nhiệm và không thể lường trước.Cảm xúc hời hợt, không thích hợp và thường kèm theo cười một mình Tưduy lộn xộn, lời nói dông dài và rời rạc Có khuynh hướng sống cô độc Hành
Trang 21vi thiếu mục đích và thiếu cảm xúc Thể này thường bắt đầu giữa tuổi 15 và
25 và có tiên lượng xấu do các triệu chứng âm tính tiến triển nhanh, đặc biệtcảm xúc cùn mòn và mất ý chí
Thể thanh xuân thường được chẩn đoán đầu tiên đối với thanh thiếu niênhay người thành niên trẻ Nhân cách tiền bệnh lý có tính đặc trưng là tính hơinhút nhát và cô độc, nhưng không nhất thiết phải có Để chẩn đoán thể thanhxuân đáng tin cậy cần phải theo dõi liên tục từ 2 đến 3 tháng
+ Tâm thần phân liệt thể căng trương lực (F20.2):
Bệnh biểu hiện bằng các hành vi xung động, có tính chất định hình, bốirối, hoạt động không có mục đích Tiếp đó là sự xen kẽ giữa trạng thái kíchđộng và bất động, căng trương lực, phủ định chống đối BN duy trì các tư thếkhông tự nhiên có thể trong một thời gian dài như gối không khí, uốn sáp, tạohình hoặc thụ động Triệu chứng âm tính xuất hiện sớm và trầm trọng hơn thểhoang tưởng
+ Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3).
Thể này bao gồm các trạng thái đáp ứng tiêu chuẩn chung của TTPLsong không đáp ứng với bất cứ thể nào đã mô tả trong TTPL Bệnh cảnh biểuhiện với các nhóm triệu chứng mà không có một nhóm nào đặc trưng, chiếm
ưu thế rõ ràng trên lâm sàng
+ Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt (F20.4).
Một trạng thái trầm cảm kéo dài, xuất hiện sau một quá trình phân liệt
rõ, một số triệu chứng phân liệt vẫn còn song không chiếm ưu thế trong bệnhcảnh lâm sàng Các triệu chứng đó thường là âm tính nhiều hơn
Hội chứng trầm cảm ở đây không trầm trọng và mở rộng đến mức đápứng tiêu chuẩn một giai đoạn trầm cảm trong rối loạn cảm xúc
+ Tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5).
Thể này là một giai đoạn mạn tính trong tiến triển của TTPL Các triệuchứng dương tính mờ nhạt và không còn ảnh hưởng đến cảm xúc hay hành vi
Trang 22của bệnh nhân nữa Triệu chứng âm tính nổi bật lên như cảm xúc cùn mòn,ngôn ngữ nghèo nàn, kém chăm sóc bản thân và hoạt động xã hội.
+ Tâm thần phân liệt thể đơn thuần (F20.6).
Bệnh bắt đầu bằng các triệu chứng âm tính như giảm sút dần khả nănghọc tập, công tác, không thích ứng với các yếu tố xã hội, cảm xúc cùn mòn, ýchí giảm sút Các triệu chứng này ngày càng sâu sắc, BN thu vào thế giới tự
kỷ Triệu chứng dương tính như HT, AG không rõ ràng như các thể khác
+ Các thể tâm thần phân liệt khác (F20.8).
Gồm: TTPL thể loạn cảm giác bản thể Rối loạn dạng phân liệt khôngxếp cách khác [34]
1.3.5.3.Tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Tâm thần học Mỹ (DSM-IV) : [36],
[86]
A – Các triệu chứng đặc trưng:
Có hai (hay nhiều hơn) các nhóm triệu chứng sau đây, mỗi triệu chứngtồn tại trong phần lớn khoảng thời gian một tháng (hoặc ngắn hơn nếu đápứng tốt với điều trị)
1 – Các hoang tưởng
2 – Các ảo giác
3 – Sự thiếu mạch lạc trong ngôn ngữ (như ngôn ngữ rời rạc hoặc thườngxuyên bị lệch lạc)
4 – Hành vi tác phong căng trương lực
5 – Các triệu chứng âm tính như cảm xúc thờ ơ, không phù hợp, ngônngữ nghèo nàn hoặc mất quan tâm thích thú
B – Các rối loạn hoạt động nghề nghiệp, xã hội:
Hoạt động của các chức năng nghề nghiệp, các mối quan hệ xã hội, sựchăm sóc bản thân đều giảm sút rõ rệt so với trước khi bị bệnh (nếu rối loạnxuất hiện ở thanh thiếu niên thì người bệnh không có khả năng đạt được mức
độ phát triển xã hội thông thường)
Trang 23C – Thời gian:
Thời gian các rối loạn này kéo dài liên tục ít nhất là 6 tháng Thời gian
6 tháng này bao gồm ít nhất là một tháng tồn tại những triệu chứng của giaiđoạn toàn phát (hoặc ngắn hơn nếu đáp ứng tốt với điều trị) trong đó có nhữngtriệu chứng tâm thần đặc trưng cho bệnh TTPL (tiêu chuẩn A) Có hay không cókèm theo các giai đoạn tiền triệu hay di chứng Các triệu chứng này có thể chỉ làtriệu chứng âm tính hoặc hai hay nhiều hơn các triệu chứng trong tiều chuẩn Anhưng dưới dạng nhẹ hơn (những ý tưởng kỳ dị, các tri giác bất thường)
D – Không có các rối loạn phân liệt cảm xúc và các rối loạn cảm xúc có các triệu chứng loạn thần:
- Hoặc là không có cơn trầm cảm, hưng cảm nặng hoặc cơn hỗn hợpxảy ra đồng thời với các triệu chứng giai đoạn cấp
- Hoặc là nếu có các cơn cảm xúc xảy ra trong giai đoạn triệu chứngcấp thì thời gian toàn bộ của cơn này phải ngắn hơn thời gian của giai đoạncấp và giai đoạn di chứng
E – Không có các bệnh nội khoa và trạng thái nghiện chất:
Các rối loạn này không do hậu quả sinh lý trực tiếp của việc nghiệnchất (một chất ma túy, một loại thuốc) hoặc một trạng thái bệnh cơ thể
F – Liên quan với rối loạn sự phát triển lan tỏa:
Nếu trong tiền sử có rối loạn tự kỷ hoặc một số rối loạn sự phát triểnlan tỏa khác, thì chẩn đoán TTPL chỉ được thêm vào khi có sự hiện diện nổibật các hoang tưởng hay ảo giác trong thời gian tối thiểu một tháng hoặc ngắnhơn nếu điều trị tốt
1.3.6 Đặc điểm tiến triển [14].
1.3.6.1 Các giai đoạn tiến triển:
A Giai đoạn khởi đầu:
Các triệu chứng báo trước thường là những biến đổi không rõ ràng, là
lạ trong người Người bệnh ngày càng giảm sút khả năng học tập và công tác,
Trang 24đầu óc mù mờ khó suy nghĩ Cảm xúc lạnh nhạt dần, khó thích ứng với ngoạicảnh, khó tiếp thu cái mới, giảm dần các thích thú trước đây Một số bệnhnhân biểu hiện trạng thái giống suy nhược thần kinh, đau đầu, mất ngủ, chóngmệt mỏi, bồn chồn lo lắng, dễ nổi nóng, dễ bùng nổ Các cảm giác bị độngtăng dần thấy như đuối sức trước cuộc sống Một số cảm thấy có những biếnđổi kỳ lạ trong người như thay đổi nét mặt, màu da Có những bệnh nhân trởnên say sưa đọc sách, lý luận viển vông không thực tế.
Giai đoạn khởi đầu có thể cấp diễn với rối loạn tác phong trầm trọnghoặc âm ỉ với các ý nghĩ và hành vi kỳ dị phát triển từ từ
B Giai đoạn toàn phát:
Các triệu chứng TTPL trong giai đoạn đầu tăng dần lên, đồng thời xuấthiện các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo giác, tâm thần tự động,hoặc các triệu chứng âm tính như khó hiểu, khó thâm nhập, hành vi kỳ dị, thumình, ngại tiếp xúc
Trong giai đoạn toàn phát tùy theo nhóm triệu chứng nào nổi bật lênhàng đầu và thời gian kéo dài của các triệu chứng mà có thể phân biệt các thểbệnh lâm sàng khác nhau của bệnh TTPL
C Giai đoạn di chứng:
Các triệu chứng dương tính như ảo giác, hoang tưởng, hiện tượng tâmthần tự động thường mờ nhạt dần và mất đi, chỉ còn lại các triệu chứng âmtính như cảm xúc cùn mòn, ngôn ngữ nghèo nàn, bị động trong cuộc sống,kém chăm sóc bản thân, lang thang không mục đích
Thông thường bệnh TTPL tiến triển qua các giai đoạn khởi đầu, tànphát và di chứng nói trên, tuy nhiên thời gian tồn tại từng giai đoạn rất khácnhau ở từng bệnh nhân Có một số trường hợp ngay từ thời kỳ đầu bệnh đãphát triển dưới một thể nhất định hoặc sớm xuất hiện những triệu chứng như
âm tính
Trang 251.4 Các nghiên cứu về bệnh quanh răng ở bệnh nhân tâm thần trên thế giới.
Trên thế giới chưa có nghiên cứu nào riêng biệt về bệnh quanh răng trênbệnh nhân TTPL Tuy nhiên đã có nhiều nghiên cứu thực hiện trên bệnh nhântâm thần trong đó có bệnh nhân TTPL, kết quả đã cho thấy ảnh hưởng củabệnh tâm thần lên tình trạng bệnh quanh răng nói riêng và tình trạng bệnhrăng miệng nói chung thông qua: Sự thay đổi hành vi và tác động của các loạithuốc chống động kinh
Tác động của các loại thuốc chống động kinh đến vùng quanh răng đãđược nghiên cứu từ rất lâu, loại thuốc gây ra phì đại lợi đầu tiên được ghinhận là phenytoin (Dilantin) Dilantin là một hydantoin, do Merritt và Putnamsản xuất vào năm 1938 để điều trị các chứng động kinh [63] Không lâu sau
đó, người ta đã tìm ra mối liên hệ giữa nó với chứng phì đại lợi Các chấthydantoin khác được xem là tác nhân gây ra phì đại lợi bao gồm ethotoin vàMephenytoin [45] Các loại thuốc chống động kinh khác có cùng tác dụngphụ này có thể kể đến succimides, methsuxinimide, và axit valproic [45].Khoảng 50% bệnh nhân dùng thuốc chống động kinh bị phì đại lợi [74],mặc dù những nghiên cứu khác cho thấy con số này là vào khoảng 3% chođến 84,5 %, bệnh nhân càng trẻ càng dễ bị phì đại lợi Mức độ phì đại vànguy cơ phì đại không phụ thuộc vào liều lượng thuốc sau khi đã vượtngưỡng gây phì đại lợi, tuy nhiên cũng có một số báo cáo mức độ phì đại liênquan với liều thuốc[51], [54]
Các thí nghiệm về nuôi cấy mô chỉ ra rằng phenytoin kích thích sự pháttriển của các tế bào giống nguyên bào sợi và tế bào biểu mô[75] Hai dạngcủa phenytoin (1-allyal-5- phenylhydantoinnate và 5- methyl- 5-
Trang 26phenylhydanto-inate) đều có chung một tác động lên các tế bào giống nguyênbào sợi[76] Tế bào nguyên bào sợi tạo ra từ phì đại lợi do phenytoin cho thấy
sự tổng hợp ngày càng cao muối sun- phát glycosaminoglycan trong ốngnghiệm [49] Phenytoin làm giảm sự thoái hóa collagen do quá trình bất hoạtcác nguyên bào sợi collagenase[48]
Sự thay đổi hành vi ở đây bao gồm sự thay đổi về thói quen VSRM vàcác thói quen xấu khác ảnh hưởng đến vùng quanh răng
Nghiên cứu của Shweta UJaoney BDS và CS (2010)[77] tiến hành trên
100 bệnh nhân tâm thần trong đó có 50 bệnh nhân điều trị nội trú và 50 bệnhnhân điều trị ngoại trú với nhóm chứng là 50 người khỏe mạnh không mắcbệnh tâm thần trong cộng đồng đã đưa ra kết luận: Vấn đề lớn nhất đối nhómbệnh nhân thiệt thòi và thiếu sự quan tâm của xã hội này là ở chỗ những bệnhnhân này thiếu sự khéo léo, khả năng về thể chất và tinh thần để thực hiện cácbiện pháp vệ sinh răng miệng và do đó tình trạng sức khỏe răng miệng nhómdân số này rất kém Nhiều chứng rối loạn tâm thần khiến cho bệnh nhân tiêuthụ các loại thực phẩm có chứa đường và cùng với chứng khô miệng khiếncho họ dễ bị sâu răng Sợ hãi và lo lắng cũng được xem là những rào cản lớntrong việc áp dụng các dịch vụ chăm sóc nha khoa đối với bệnh nhân tâmthần (Longley và Doyle( 2003))[58] Và kết quả của nghiên cứu này đã chỉ rarằng cả bệnh nhân tâm thần được điều trị nội trú và không điều trị nội trú đều
có nhiều vấn đề về răng miệng hơn so với những người không mắc bệnh.Biểu hiện bởi:
Nhóm điều trị Nhóm điều trị Nhóm chứng
Trang 27nội trú ngoại trú
OHI-S
OHI-S phụ thuộc vào tuổi,
thời gian mắc bệnh tâm thần
- Túi lợi nông
- Túi lợi sâu
CPI phụ thuộc vào tuổi tác,
thời gian mắc bệnh tâm thần
Trang 28nhân mất một phần hoặc mất hoàn toàn khả năng tự lực Nghiên cứu này
Túi quanh răng nông: 35,3%
Túi quanh răng sâu: 7,8%
Nghiên cứu của Velasco E và CS (1999)[82] trên 565 bệnh nhân tâmthần tại Tây Ban Nha cho kết quả có 8,5% bệnh nhân có tình trạng quanh răngkhỏe mạnh, 43,8% bệnh nhân có cao răng, 24,6% bệnh nhân có túi quanhrăng nông, 8,9% bệnh nhân có túi quanh răng sâu Về nhu cầu điều trị bệnhquanh răng thì có 91,5% bệnh nhân cần hướng dẫn VSRM; 77,3% bệnhnhân cần hướng dẫn VSRM kết hợp với lấy cao răng, làm nhẵn mặt chânrăng [41]
Nghiên cứu của Svetlana Jovanovíc, Ivanka Gajic' và CS (2010)[80]trên 186 bệnh nhân tâm thần và nhóm chứng gồm 186 bệnh nhân không mắcbệnh tâm thần tại Serbia đã kết luận: Bệnh nhân tâm thần có tỷ lệ bệnh quanhrăng cao hơn và VSRM kém hơn nhóm đối chứng Nghiên cứu cũng cho thấychỉ số mảng bám có liên quan với tuổi tác, trình độ học vấn, thu nhập hàngtháng, kỹ thuật đánh răng và tần suất ăn vặt Với :Chỉ số PI: 2,78 ± 0,32
Fairouz Sayegh và CS (2010)[41] nghiên cứu trên 40 bệnh nhân tâm thần điều trị ngoại trú tại cộng đồng và nhóm chứng gồm 40 bệnh nhân khỏe mạnh, cũng cho kết luận: Nhóm bệnh nhân tâm thần có sức khỏe răng miệng kém hơn và có nhu cầu điều trị cao hơn so với nhóm đối chứng Với kết quả như sau:
Trang 29Nhóm nghiên cứu Nhóm chứng
Chải răng không thường
xuyên
Chải răng nhiều hơn 2
- Túi lợi nông
- Túi lợi sâu
Trang 3040% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu, nó có một tác động đáng kể đối vớisức khỏe răng miệng, làm tăng nguy cơ sâu răng, viêm quanh răng và cácbệnh nhiễm khuẩn răng miệng.
Ngoài ra một số hành vi liên quan đến sức khỏe răng miệng đã đượcđánh giá trong nghiên cứu trên như sử dụng thuốc lá và thói quen đánh răng.trong nghiên cứu này, nhóm bị bệnh tâm thần hút thuốc nhiều hơn và trongthời gian dài hơn so với những người khỏe mạnh Thêm vào đó việc chải răngtrong nhóm bệnh nhân tâm thần cũng bị xao nhãng hơn so với nhóm nhữngngười không mắc bệnh
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU.
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu:
- Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương- Thường Tín- Hà Nội:
+ Đây là cơ sở điển hình cho việc khám, điều trị bệnh tâm thần,với sốlượng lớn bệnh nhân đủ cho cỡ mẫu nghiên cứu
+ Bệnh viện có khoa răng hàm mặt thuận lợi cho quá trình thăm khámbệnh nhân
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu:
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán TTPL và được điều trị nội trú tạiBệnh viện Tâm thần Trung Ương – Thường Tín- Hà Nội thời gian từ15/2/2012 đến 30/11/2012
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Bệnh nhân mất răng toàn bộ
+ Bệnh nhân bị suy nhược cơ thể nghiêm trọng
+ Bệnh nhân hung hãn không hợp tác
+ Bệnh nhân có bệnh toàn thân cấp tính kèm theo
+ Bệnh nhân nghiện chất (ma túy, rượu, )
2.1.3 Thời gian nghiên cứu:
- Từ 15/2/2012 đến 30/12/2012
Trang 322.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu:
Áp dụng công thức ước tính một tỉ lệ trong quần thể:
n = Z2
1-α/2 DE
n : Cỡ mẫu nghiên cứu cần có
Z1- /2 :Hệ số tin cậy ở xác suất 95% là 1,96
p :Tỷ lệ đối tượng có bệnh quanh răng, ước tính = 0,8
ε : Mức chính xác tương đối, lấy = 0,1
DE (Design effect): Hệ số điều chỉnh, lấy = 2
Thay vào công thức, ta được: n= 193
2.2.3 Chọn mẫu.
Cỡ mẫu chúng tôi tính toán được là 193 bệnh nhân, nhưng trên thực tếtổng số bệnh nhân TTPL theo tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ củanghiên cứu này tại Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương là 222 bệnh nhân nênchúng tôi tiến hành chọn mẫu toàn bộ
2.2.4 Dụng cụ và phương tiện khám
- Khay khám gồm: Gương nha khoa, gắp, Sonde khám nha chu củaWHO, thám châm
- Sonde khám nha chu của WHO (Periodontal Probe):
Đây là dụng cụ thăm khám quanh răng đặc biệt của Tổ chức Y tế thếgiới Mục đích đo độ sâu của túi lợi, phát hiện cao răng dưới lợi, chảy máutrong và sau khi thăm khám
Trang 33Cây thăm dò có tay cầm mảnh, nặng 30 gam , đầu cây thăm dò có hìnhcầu đường kính 0,5 mm, có đánh dấu vạch màu đen, giới hạn dưới của vạchđen cách đầu tận cùng của cây thăm dò 3,5 mm, giới hạn trên của vạch màuđen cách đầu tận cùng của cây thăm dò 5,5 mm
Hình 2.1 Sonde khám nha chu của WHO (ảnh chụp)
* Cách sử dụng cây thăm dò:
- Cầm cây thăm dò sao cho trục của cây thăm dò song song với trục củarăng được khám, đưa đầu cây thăm dò nhẹ nhàng vào trong túi lợi (giữakhoảng cách răng và lợi) tới độ sâu nhất định cảm giác được
- Túi quanh răng:
+ Xác định vị trí của túi quanh răng: Dùng cây thăm dò quanh răng củaWHO thăm ở mặt ngoài và mặt trong của các răng
+ Đo độ sâu túi quanh răng: Là khoảng cách từ bờ của đường viền lợitới đáy của túi quanh răng Thăm túi quanh răng ở các mặt răng để xác định vịtrí của túi đồng thời đo và ghi lại chiều sâu của túi Lấy giá trị đo được ở vị trísâu nhất của túi tương ứng với mỗi mặt răng Mỗi răng đo 2 mặt (trong vàngoài), đo ở tất cả các răng (trừ răng 8)
- Mức mất bám dính quanh răng: Được tính từ chỗ nối men- xươngrăng tới đáy túi quanh răng Đo ở mặt trong và mặt ngoài của răng và lấy sốliệu ở vị trí sâu nhất cho mỗi mặt răng
- Theo dõi hiện tượng chảy máu lợi trong vòng khoảng 10 giây
Trang 342.2.5 Các thông tin thu thập
2.2.5.1.Thông tin chung của bệnh nhân: Giới, tuổi, trình độ học vấn, thời
gian phát bệnh TTPL, thói quen VSRM
2.2.5.2 Các chỉ số
Chỉ số vệ sinh miệng đơn giản OHI-S (Oral Hygiene Index Simplified)
- Mục đích: Đánh giá mức sạch của miệng dựa vào mức bám của caorăng và mảng bám trên bề mặt răng
- Thành phần: Chỉ số vệ sinh răng miệng có hai thành phần: chỉ số cặnđơn giản DI-S và chỉ số cao răng đơn giản CI-S Ghi hai chỉ số bằng hai mãkhác nhau hoặc có thể kết hợp
- Chọn mặt răng của 6 răng đại diện cho mỗi vùng lục phân:
R11, R31, R16, R26: khám mặt ngoài
R36, R46: khám mặt lưỡi
Khi các răng đại diện mất: Với răng hàm chúng tôi thay thế bằng rănghàm lớn thứ 2 (nếu có) Với răng cửa chúng tôi thay thế bằng răng cùng tênbên đối diện (nếu có)
- Tiêu chuẩn đánh giá:
+ DI-S: Cặn bám trong miệng là chất ngoại lai mềm phủ trên bề mặtrăng gồm có mảng bám vi khuẩn, bựa và thức ăn thừa
0: Không có cặn bám
1: Cặn mềm phủ không quá 1/3 bề mặt răng hoặc có cặn màu.2: Cặn mềm phủ 1/3 đến 2/3 bề mặt răng
3: Cặn mềm phủ > 2/3 bề mặt răng
Trang 35+ CI-S: cao răng là sự lắng cặn của các muối vô cơ bao gồm cóCanxicacbonate và Phosphat phối hợp với cặn mềm vi khuẩn và các tế bàobiểu mô bong ra.
0: Không có cao răng1: Cao răng trên lợi không quá 1/3 bề mặt thân răng2: Cao răng trên lợi bám từ 1/3 đến 2/3 bề mặt thân răng hoặccảm giác thấy cao răng dưới lợi quanh cổ răng
3: Cao răng trên lợi bám >2/3 bề mặt răng và có cao răng dưới lợiGhi 6 mã số mảng bám và 6 mã số cao răng từ 0-3 cho mỗi răng:
DI- S =
Tổng số mã số chất mảng bám
Tổng số răng khámCI-S =
Tổng số mã số cao răngTổng số răng khámCách tính cho một người: OHI-S = DI-S + CI-S
Cách tính cho một nhóm: cộng tất cả các chỉ số chia cho số người khám+ Tính ngưỡng chuẩn:
Trang 36Rất tốt 0
Chỉ số lợi GI (Gingival Index) theo Loe và Silness
- Mục đích: Đánh giá mức độ viêm của lợi dựa trên cơ sở màu sắc,
trương lực và chảy máu khi thăm khám
- Chọn răng và vùng lợi: 4 vùng lợi (xa, ngoài, gần, trong) được khámcho các răng đại diện (16, 21, 24, 36, 41, 44)
- Đánh giá chỉ số lợi với mã số sau:
Code 0: tổ chức quanh răng bình thường (lành mạnh)
Code 1: viêm nhẹ, nề nhẹ, không chảy máu khi thăm, lợi đổi màu ít.Code 2: viêm trung bình, lợi đỏ, nề láng bóng, chảy máu khi thăm.Code 3: lợi đỏ, nề loét, thăm chảy máu hoặc chảy máu tự nhiên
Trang 37+ GI cho một nhóm:
GI = Tổng GI người khámSố người khámChỉ số lợi chỉ có thể xác định với những răng đặc biệt, một nhóm răng,1/4 hàm hoặc một phía miệng
- Chỉ số dựa vào sự đánh giá những biểu thị về:
+ Tình trạng chảy máu sau thăm nhẹ
+ Sự có mặt của cao răng
+ Độ sâu của túi lợi
- Chia hai hàm răng thành 6 vùng, mỗi vùng còn ít nhất 2 răng hoặchơn còn chức năng
- Cách khám: Mỗi vùng thăm khám 1- 2 răng đại diện và là răng bệnh
lý nặng nhất Khi vùng chỉ còn 1 răng thì cho sang vùng bên cạnh Nếu vùng
Trang 38không còn răng nào thì gạch chéo (X) Chỉ tính răng 8 khi nó thế chỗ chứcnăng răng 7.
Dùng Sonde thăm khám nha chu của tổ chức y tế thế giới xác định độsâu của túi lợi Độ sâu của túi lợi là khoảng cách đo từ đáy túi lợi tới viền lợi.Dùng lực 15-25 gam, tránh gây khó chịu cho bệnh nhân Nhìn vào cột màu đểxác định độ sâu của túi lợi (< 3,5 mm, 3,5-5,5 mm và > 5,5 mm)
- Đánh giá: đánh giá theo 5 mức độ:
CPI0 : Tổ chức quanh răng bình thường (lành mạnh)
CPI1 : Chảy máu sau thăm nhẹ
CPI2 : Cao răng trên hoặc dưới lợi, túi lợi < 3,5 mm
CPI3 : Túi lợi 3,5-5,5 mm
CPI4 : Túi lợi bệnh lý > 5,5 mm
Ghi kết quả theo đồ hình nha chu, răng có code cao nhất sẽ là răng đạidiện cho vùng, nếu trong một vùng đã có một răng có code 4 thì không cầnkhám các răng còn lại
Phân loại nhu cầu điều trị quanh răng: bệnh nhân được phân loại cácmức (0, I, II, III), nhu cầu điều trị theo mã số cao nhất trong khi khám
TN0: Không cần điều trị (code 0)
TNI : Hướng dẫn vệ sinh răng miệng (code 1)
TNII: Hướng dẫn vệ sinh răng miệng, lấy cao răng và làm nhẵn mặtchân răng, loại trừ mảng bám, sửa lại sai sót trong hàn răng và chụp răng(code2 + code3)
Trang 39TNIII: Điều trị phức hợp lấy cao răng và làm nhẵn mặt chân răng,nạo mở có tê và phẫu thuật (code 4).
2.4 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU.
- Mọi thông tin thu thập được đảm bảo bí mật cho đối tượng lựa chọn,chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu được phản hồi cho địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu nhằm nâng cao sức khỏe răng miệng cho cộng đồng
2.5 XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Số liệu được thu thập và phân tích bằng phương pháp thống kê y học
sử dụng phần mềm SPSS 16.0 và Epi- Info 6.04
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 40Qua thu thập số liệu trên 222 bệnh nhân TTPL điều trị nội trú tại BệnhViện Tâm Thần Trung Ương từ tháng 3/2012 đến tháng 11/2012 và sử dụngthuật toán thống kê, chúng tôi thu được các kết quả sau:
3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đặc điểm bệnh nhân về giới.
142 (64.0%)
80 (36.0%)
Nam Nữ
Biểu đồ 3.1 Phân bố mẫu theo giới.
Nhận xét:
- Tổng số bệnh nhân là 222 người
- Số bệnh nhân nam là 142 người (chiếm 64%) và số bệnh nhân nữ là 80người (chiếm 36%)
- So sánh tỷ lệ giữa 2 nhóm bằng phương pháp kiểm định χ²
thấy sự khác biệt về tỷ lệ giữa bệnh nhân nam và nữ là có ý nghĩa thống
kê với độ tin cậy 99% (p<0,01)
3.1.2 Đặc điểm bệnh nhân về tuổi.