PHẦN I: MỞ ĐẦU Đối với mỗi sinh viên thì việc tiếp xúc với thực địa sau khi đã học xong lý thuyết các môn là một yếu tố vô cùng quan trọng. Đặc biệt là đối với những môn chuyên ngành, việc thực tập không chỉ giúp cho sinh viên củng cố kiến thức đã học, nắm vững chuyên môn mà còn giúp cho sinh viên tiếp xúc với thực tế làm việc sau này . Đa dạng sinh học là môn khoa học chuyên ngành, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sinh viên ngành quản lý tài nguyên rừng và môi trường nói riêng và sinh viên một số ngành khác trong trường như khoa học môi trường, lâm nghiệp xã hội. Nghiên cứu môn học này không chỉ để hiểu được thế nào là đa dạng sinh học mà còn giúp chúng ta đánh giá được hiện trạng đa dạng sinh học, thực trạng suy thoái cũng như công tác bảo tồn đa dạng sinh học hiện nay như thế nào. Đồng thời môn học này còn giúp chúng ta làm quen, tiếp cận với công tác điều tra, giám sát đa dạng sinh học để xem xét diễn biến các tài nguyên sinh vật theo thời gian ở một khu vực cụ thể nào đó. Vì vậy để bổ sung kiến thức lý thuyết đã học đồng thời tập làm quen với công tác điều tra giám sát đa dạng sinh học, được sự đồng ý của nhà trường, khoa QLTNRMT, dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Đắc Mạnh và thầy Vũ Tiến Thịnh, chúng em đã được tiến hành thực tập 1 tuần ở Vườn quốc gia Cúc Phương. Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo Nguyễn Đắc Mạnh, thầy Vũ Tiến Thịnh đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ chúng em trong thời gian thực tập. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ, kinh nghiệm bản thân còn nhiều hạn chế nên bản báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn, để bản báo cáo hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn. Sinh viên thực hiện Lê Thị Thanh Bình ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô... tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới. Việt Nam được Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu; Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife) công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng về thực vật. Việt Nam còn là một trong 8 trung tâm giống gốc của nhiều loại cây trồng, vật nuôi như có hàng chục giống gia súc và gia cầm. Tuy nhiên trong những năm gần đây vấn đề suy thoái đa dạng sinh học đang trở nên ngày càng nghiêm trọng. Một trong những dấu hiệu quan trọng nhất của sự suy thoái đa dạng sinh học là sự tuyệt chủng loài do môi trường sống bị tổn hại. Tốc độ tuyệt chủng các loài đang ở mức báo động. Vườn quốc gia Cúc Phương là một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học cao nhất nước ta, là nơi tập trung nhiều loài quý hiếm, đặc hữu có tầm quan trọng trong khu vực.Nên cần phải có những nghiên cứu đánh giá cụ thể về tính đa dạng sinh học của khu vực này để có được những giải pháp bảo tồn hợp lý và tốt nhất. Bò sát, Ếch nhái cũng là nguồn tài nguyên động vật có giá trị cao bên cạnh các tài nguyên thú, chim và cá. Trong các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái nhân văn ở mọi miền của nước ta, nguồn tài nguyên Bò sát, Ếch nhái có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống đối với các cộng đồng. Trong cuộc sống hàng ngày Bò sát, Ếch nhái là đội quân cần mẫn giúp con người tiêu diệt các loài côn trùng gây hại cho nông lâm nghiệp và tiêu diệt những vật chủ trung gian mang mầm bệnh lây truyền cho con người và gia súc. Nhiều loài Bò sát, Ếch nhái là nguồn thực phẩm có giá trị và ưa thích của nhân dân ta như: các loài Trăn, Rắn, Ba ba, Ếch nhái,...Nhiều loài còn là nguyên liệu để bào chế các loại thuốc quý hiếm phục vụ cho đời sống con người. Trong các phòng thí nghiệm phòng thực hành Bò sát, Ếch nhái còn được dùng làm tiêu bản và một đối tượng nghiên cứu. Vấn đề nóng bỏng hiện nay là nguồn tài nguyên động vật rừng nói chung và nguồn tài nguyên Bò sát, Ếch nhái nói riêng đang bị suy giảm mạnh. Nhiều loài đã trở nên rất hiếm, thậm chí một số loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Chính vì vậy chúng em đã được tiến hành thực tập 1 tuần tại Vườn quốc gia Cúc Phương để bước đầu điều tra đánh giá tính đa dạng bò sát ếch nhái tại khu vực này. Đối tượng nghiên cứu Vì thời gian và nguồn nhân lực có hạn nên chúng em chỉ tập trung nghiên cứu về nhóm bò sát ếch nhái và tìm hiểu mô hình bảo tồn rùa ở khu vực vườn quốc gia Cúc Phương
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
Đối với mỗi sinh viên thì việc tiếp xúc với thực địa sau khi đã học xong lýthuyết các môn là một yếu tố vô cùng quan trọng Đặc biệt là đối với những mônchuyên ngành, việc thực tập không chỉ giúp cho sinh viên củng cố kiến thức đãhọc, nắm vững chuyên môn mà còn giúp cho sinh viên tiếp xúc với thực tế làmviệc sau này
Đa dạng sinh học là môn khoa học chuyên ngành, có ý nghĩa đặc biệt quan trọngđối với sinh viên ngành quản lý tài nguyên rừng và môi trường nói riêng và sinhviên một số ngành khác trong trường như khoa học môi trường, lâm nghiệp xã hội Nghiên cứu môn học này không chỉ để hiểu được thế nào là đa dạng sinh học màcòn giúp chúng ta đánh giá được hiện trạng đa dạng sinh học, thực trạng suy thoáicũng như công tác bảo tồn đa dạng sinh học hiện nay như thế nào Đồng thời mônhọc này còn giúp chúng ta làm quen, tiếp cận với công tác điều tra, giám sát đadạng sinh học để xem xét diễn biến các tài nguyên sinh vật theo thời gian ở mộtkhu vực cụ thể nào đó
Vì vậy để bổ sung kiến thức lý thuyết đã học đồng thời tập làm quen với công tácđiều tra giám sát đa dạng sinh học, được sự đồng ý của nhà trường, khoaQLTNR&MT, dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Đắc Mạnh vàthầy Vũ Tiến Thịnh, chúng em đã được tiến hành thực tập 1 tuần ở Vườn quốc giaCúc Phương Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo Nguyễn Đắc Mạnh,thầy Vũ Tiến Thịnh đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ chúng em trong thời gian thựctập Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ, kinh nghiệm bản thân cònnhiều hạn chế nên bản báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mongnhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn, để bản báo cáo hoànthiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn.!
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Thanh Bình
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong 16 quốc gia có tính đa dạngsinh học cao nhất trên thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn sanhô tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dãtrên thế giới Việt Nam được Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận
có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu; Tổ chức bảo tồn chim quốc tế(Birdlife) công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn thiênnhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng về thực vật Việt Namcòn là một trong 8 "trung tâm giống gốc" của nhiều loại cây trồng, vật nuôi như cóhàng chục giống gia súc và gia cầm
Tuy nhiên trong những năm gần đây vấn đề suy thoái đa dạng sinh học đang trởnên ngày càng nghiêm trọng Một trong những dấu hiệu quan trọng nhất của sựsuy thoái đa dạng sinh học là sự tuyệt chủng loài do môi trường sống bị tổn hại.Tốc độ tuyệt chủng các loài đang ở mức báo động
Vườn quốc gia Cúc Phương là một trong những khu vực có tính đa dạng sinhhọc cao nhất nước ta, là nơi tập trung nhiều loài quý hiếm, đặc hữu có tầm quantrọng trong khu vực.Nên cần phải có những nghiên cứu đánh giá cụ thể về tính đadạng sinh học của khu vực này để có được những giải pháp bảo tồn hợp lý và tốtnhất
Bò sát, Ếch nhái cũng là nguồn tài nguyên động vật có giá trị cao bên cạnh cáctài nguyên thú, chim và cá Trong các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh tháinhân văn ở mọi miền của nước ta, nguồn tài nguyên Bò sát, Ếch nhái có vai trò vôcùng quan trọng trong cuộc sống đối với các cộng đồng Trong cuộc sống hàngngày Bò sát, Ếch nhái là đội quân cần mẫn giúp con người tiêu diệt các loài côntrùng gây hại cho nông - lâm nghiệp và tiêu diệt những vật chủ trung gian mangmầm bệnh lây truyền cho con người và gia súc Nhiều loài Bò sát, Ếch nhái lànguồn thực phẩm có giá trị và ưa thích của nhân dân ta như: các loài Trăn, Rắn, Ba
ba, Ếch nhái, Nhiều loài còn là nguyên liệu để bào chế các loại thuốc quý hiếm
Trang 3phục vụ cho đời sống con người Trong các phòng thí nghiệm phòng thực hành Bòsát, Ếch nhái còn được dùng làm tiêu bản và một đối tượng nghiên cứu
Vấn đề nóng bỏng hiện nay là nguồn tài nguyên động vật rừng nói chung vànguồn tài nguyên Bò sát, Ếch nhái nói riêng đang bị suy giảm mạnh Nhiều loài đãtrở nên rất hiếm, thậm chí một số loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Chính vì vậy chúng em đã được tiến hành thực tập 1 tuần tại Vườn quốc gia CúcPhương để bước đầu điều tra đánh giá tính đa dạng bò sát ếch nhái tại khu vựcnày
* Đối tượng nghiên cứu
Vì thời gian và nguồn nhân lực có hạn nên chúng em chỉ tập trung nghiên cứu vềnhóm bò sát- ếch nhái và tìm hiểu mô hình bảo tồn rùa ở khu vực vườn quốc giaCúc Phương
* Mục tiêu
- Đánh giá được thành phần loài bò sát - ếch nhái của khu vực, xác định được mật độ,
sự phân bố của các loài theo sinh cảnh và đai cao
- Đánh giá được tính đa dạng sinh học (đa dạng về loài, đa dạng về quần xã) của thànhphần bò sát ếch nhái tại khu vực nghiên cứu và ở Vườn quốc gia
- Xác định được giá trị tài nguyên, giá trị bảo tồn của các loài bò sát ếch nhái tại khuvực Vườn quốc gia
- Tìm hiểu công tác tổ chức quản lý từ đó làm cơ sở đưa ra các giải pháp quản lýbảo vệ và phát triển rừng một cách hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo ra sự pháttriển bền vững
- Nắm được điều kiện tự nhiên của Vườn quốc gia
- Nắm được phương án quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn quốc gia
- Nắm được những thuận lợi và khó khăn khi tiến hành các giải pháp bảo tồn ĐDSH tại Vườn quốc gia (bảo tồn nội vi, bảo tồn ngoại vi, bảo tồn bằng pháp chế,bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng, )
Trang 4* Nội dung
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên của Vườn quốc gia và các sinh cảnh khu vựckhảo sát
- Đánh giá tính đa dạng sinh học bò sát-ếch nhái của VQG và khu vực khảo sát
- Đánh giá tính đa dạng sinh học theo sinh cảnh ở khu vực khảo sát
- Giám sát các nhóm loài bò sát- ếch nhái tại khu vực khảo sát
- Tìm hiểu hiện trạng công tác quản lý, quy hoạch bảo tồn tại Vườn quốc gia
* Địa điểm nghiên cứu
Trong vườn quốc gia Cúc Phương chúng em đã được tiến hành điều tra nghiên
cứu tại khu du lịch hồ Mạc
Tọa độ địa lý:
Từ 22º37’ đến 22º42’ độ vĩ bắc
105º72’ đến 105º78’ độ kinh đông
- Diện tích của khu vực khảo sát là khoảng 3.600ha
- Chiều dài mỗi tuyến điều tra là 1500m, chiều rộng là 5m
- Dạng sinh cảnh chủ yếu: Ở Vườn quốc gia Cúc Phương có rất nhiều dạng sinhcảnh, rất nhiều trạng thái thảm thực vật khác nhau, tuy nhiên do điều kiện thờigian không cho phép nên chúng em tiến hành chủ yếu trên các dạng sinh cảnh làsinh cảnh rừng tự nhiên trên sườn núi đá vôi, và rừng tự nhiên trên đất bồitụ.Ngoài ra nhóm còn tiến hành điều tra ở sinh cảnh là khu định cư của con ngườitại khu du lịch hồ Mạc
Trang 6PHẦN II
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Cúc Phương nằm ở phía Tây tỉnh Ninh Bình, cách quốc lộ 1A
40 km và cách Thủ đô Hà Nội 130 km về phía Nam Vườn quốc gia Cúc Phươngnằm ở phía tận cùng phía Đông Nam cả dãy núi đá vôi chạy theo hướng Tây Bắc –Đông Nam Vườn quốc gia Cúc Phương có tọa độ địa lý như sau:
20º 14’ - 20º 24’ vĩ độ Bắc
105º 29’ - 105 º44’ kinh độ Đông
Vườn quốc gia Cúc Phương nằm trong khối núi đá vôi mà ranh giới bao gồmđường ven chân núi đá vôi
- Chạy dọc theo hướng Tây Bắc Đông Nam là các xã thuộc huyện Lạc Sơn và các
xã thuộc huyện Yên Thủy của tỉnh Hòa Bình
- Phía Đông Nam giáp xã Yên Quang huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
- Phía Tây Nam giáp xã Kì Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
- Phía Tây Nam và Tây Bắc giáp các xã Thành Lâm, Thành Mỹ, Thành Yên thuộchuyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
Diện tích Vườn quốc gia nằm trong phần đất thuộc 14 xã, trong đó có 7 xã của 2huyện Lạc Sơn và Yên Thủy, tỉnh hòa Bình; 4 xã của huyện Nho Quan tỉnh NinhBình và 3 xã của huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa
Tổng diện tích tự nhiên của Vườn quốc gia là 22.200 ha, trong đó:
- Huyện Lạc sơn và Yên Thủy của tỉnh Hòa Bình là 5.850 ha
- Huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình là 11.300 ha
- Huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa là 5.000 ha
2.2 Địa hình
Dãy núi đá vôi Cúc Phương là phần cuối của khối núi đá vôi chạy từ Sơn La vềtheo hướng Tây Bắc – Đông Nam Xen kẽ giữa 2 hệ thống núi đá chạy gần songsong là các đồi đất thấp phát triển trên đất đá sét với những thung lũng cùng hướng
Trang 7với núi Độ cao trung bình của các thung lũng khoảng 200 – 350m và thường ngăncách bởi các quèn thấp như Quèn Đang, Quèn Voi, Quèn Xeo…
Địa hình Cúc Phương chủ yếu là đá vôi có độ chênh cao trung bình so với mặtbiển 400-500m, cao nhất là đỉnh Mây Bạc (656m) nằm ở phía Tây Bắc CúcPhương có 3 dạng địa hình chính liên quan tới hai loại sản phẩm cấu tạo đất chủyếu với các loại đá mẹ khác nhau
- Địa hình núi cao dốc đứng: sản phẩm đá vôi
- Địa hình bãi bằng thung lũng hẹp: sản phẩm bồi tụ
- Địa hình núi thấp và ít dốc: sản phẩm đá sét
2.3 Khí hậu, thủy văn
Theo số liệu của trạm khí tượng Nho Quan( 27.3.09) nhìn chung nhiệt độ tại khuvực nghiên cứu như sau:
- Nhiệt độ trung bình năm là 22,8ºC
- Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 16,2ºC (tháng 1)
- Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28,5ºC ( tháng 6)
Lượng mưa trung bình năm là 1908,6mm, tháng thấp nhất là 21,4mm( tháng 1)
và nhóm bò sát - ếch nhái nói riêng phát triển, đa dạng phong phú về thành phầnloài và số lượng cá thể
* Chế độ gió: Vườn quốc gia nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa chịuảnh hưởng bởi gió mùa đông bắc về mùa đông và gió mùa đông nam về mùahè.Ngoài ra khu vực còn chịu ảnh hưởng của gió mùa tây nam khô nóng thổi mạnh
từ tháng 4 đến tháng 7.Tuy vậy do điều kiện địa hình, gió sau khi vượt qua các yên
Trang 8ngựa và hẻm núi đi sâu vào rừng đã bị thay đổi hướng rất nhiều, tốc độ gió khoảng1-2 m/s
* Thủy văn:
Do ở Cúc Phương là địa hình Karst nên ở đây có ít dòng chảy, ngoại trừ sông Bưởi
và sông Ngang ở phía Bắc có nước quanh năm, còn lại các khe suối cạn có nướctheo mùa Sau cơn mưa khe khô dãn nước vào lỗ hút, chảy ngầm rồi phun ra ở một
số mó nước Chỗ nào nước không thoát kịp thì ứ đọng lại gây ngập úng tạm thời
2.4 Địa chất thổ nhưỡng
Nền địa chất Cúc Phương được tạo thành bởi chuyển động tạo sơn kỉ Mê ri đầunguyên đại trung sinh kỷ Triat trung, bậc Ca-do-ni tầng Đồng Giao
Đất Cúc Phương có 2 nhóm với 7 loại đất chính:
Nhóm A gồm 4 loại đất phân bố ở nơi cao nhất đến nơi thấp nhất của núi đá vôi.Nhóm B gồm 3 loại đất phân bố ở nơi đồi cao dốc xuống nơi thấp không có đávôi Đá mẹ có cấu tạo khối phiến đá dày đến đá mẹ có khối phiến đá mỏng, từ đá
mẹ thô đến đá mẹ mịn hơn, từ đá mẹ không hay ít biến chất đén đá mẹ biến chất
- Kiểu rừng phụ thứ sinh nhân tác trên núi đá vôi
- Quần lạc cây bụi, cây gỗ rải rác trên núi đá vôi
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu cây lá rộng, đát phong hóa từ
đá phiển có độ cao dưới 500m
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu cây lá rộng, đát phong hóa từ
đá phiển có độ cao trên 500m
- Rừng thứ sinh nhân tác trên núi đất vùng thấp phong hóa từ đá sét
Trang 9- Rừng thứ sinh nhân tác tre nứa nhiệt đới.
- Quần lạc cây bụi cây gỗ rải rác trên núi đất phong hóa từ đá sét
- Quần lạc trảng cỏ nhiệt đới
- Đất canh tác nông nghiệp
2.6 Tài nguyên đa dạng sinh học của Vườn quốc gia
Cúc Phương có hệ thực vật, động vật phong phú Cúc Phương có hệ sinh tháikhá phong phú và đa dạng, gồm 2406 loài thực vật, 608 loài động vật có xươngsống trong đó có 125 loài thú , 308 loài chim, 76 loài bò sát, 46 loài lưỡng cư, 65loài cá và hàng nghìn loài côn trùng Có 108 loài động thực vật được ghi trongSách đỏ Việt Nam
Thảm thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương ưu thế bởi rừng trên núi đá vôi Ởmột đôi chỗ, rừng hình thành nên nhiều tầng tán có thể đén 5 tầng rõ rệt, trong đótầng vượt tán đạt đến độ cao trên 40m Do địa hình dốc, tầng tán thường khôngliên tục và đôi khi sự phân tầng không rõ rệt Nhiều cây rất phát triển hệ rễ bạnh
vè để đáp ứng với tầng đất mặt thường mỏng
Cúc Phương là nơi sinh sống của một vài quần thể thú quan trọng về mặt bảotồn, trong đó có phân loài linh trưởng đang bị đe dọa trên mức toàn cầu Nhiềunhóm sinh vật khác cũng đã được nghiên cứu ỏ Cúc Phương
2.7 Điều kiện dân sinh kinh tế của khu vực
2.7.1 Dân số và lao động
Dân số ở đây chủ yếu là dân tộc Kinh và Mường, mật độ của toàn vùng là 138
người/km2, nhưng dân số phân bố không đều như Cúc Phương 23 người/ km2, YênTrị 354 người/ km2 , Yên Quang 559 người/ km2
Do đặc điểm dân cư chủ yếu tập chung ở các vùng thấp gần các trục đường giaothông nên phân bố lao động sản xuất cũng chủ yếu tập chung ở đây
Lực lượng sản xuất đông đảo nhưng cơ cấu ngành nghề đơn giản Hoạt động sảnxuất chủ yếu là nghề nông, chăn nuôi gia súc, gia cầm Một số ít người làm về y
tế, giáo dục, dịch vụ, sản xuất thủ công nghiệp Vấn đề này đã một phần tạo sức épđối với tài nguyên của vườn quốc gia Cúc Phương
Trang 10Các xã trong khu vực đều có trạm xá nhưng chưa có bác sĩ chỉ có y tá là người cótay nghề và kỹ thuật cao nhất.
Giáo dục phát triển tương đối tốt Số trường lớp các cấp phát triển khá đồng đều
ở các xã Tuy nhiên ở các bản vùng sâu vùng xa vẫn còn hiện tượng mù chữ và tái
mù chữ
2.8 Tác động của động vật và con người lên các điều kiện tự nhiên (tích cực và tiêu cực)
Ở khu vực Vườn quốc gia còn xảy ra hiện tượng chăn thả gia súc phổ biến, người
dân vẫn thường vào rừng soi cá, ếch vào buổi tối đặc biệt là sau những trận mưalàm cho trong rừng có các dòng suối chảy thì lượng người vào rừng soi cá hay ếchnhái là khá nhiều
Do trong khu vực trồng cỏ nên lượng người cũng như xe cộ, đặc biệt là xa bò kéo
ra vào rất thường xuyên tạo ra các tuyến đường mòn khá lớn, hoạt động này cũngphần nào gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của một số loài động vật , gây chia cắtsinh cảnh
Trang 11Hoạt động khai thác tiềm năng du lịch ở Vườn quốc gia như khu du lịch hồ Mạctuy mang lại hiệu quả kinh tế rất cao nhưng về mặt sinh thái thì hoạt động nàycũng gây chia cắt sinh cảnh sống của các loài động vật trong khu vực, do lượng dukhách ra vào khu vực là rất đông và thường xuyên nên sẽ gây ảnh hưởng xấu và cóthể dẫn đến làm thay đổi tập tính sinh hoạt của một số loài sống trong khu vựcnày.
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở khoa học
- Tham khảo một số tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến, phương pháp ô tiêu chuẩn và kết hợpvới phương pháp điều tra nhanh để đánh giá diễn biến đa dạng sinh học tại khuvực nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp đa tiêu chuẩn để đánh giá, phân chia các sinh cảnh và diễnbiến đa dạng sinh học của khu vực nghiên cúu
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các cán bộ của VQG
3.2 Phương pháp thu thập số liệu
1 Thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và hiện trạng công tác quản lý, quy hoạch bảo tồn tại Vườn quốc gia
- Tham khảo từ các nguồn tài liệu (thư viện, internet, trung tâm du khácht, ).
- Tham dự các báo cáo chuyên đề
- Phỏng vấn cán bộ Vườn quốc gia
2 Chuẩn bị khu vực khảo sát thực địa
- Lựa chọn khu vực khảo sát trên bản đồ và ngoài thực địa
- Phân chia khu vực đã lựa chọn thành một số dạng sinh cảnh chính
- Lập một số tuyến-điểm điều tra, giám sát trong khu vực
Trang 123 Điều tra theo tuyến
Đối với nhóm bò sát - ếch nhái ta tiến hành điều tra theo tuyến dạng băng vớichiều rộng của tuyến là 5m, chiều dài tuyến là 1500m, sau khi tiến hành điều traxác định các loài cũng như số lượng các loài xuất hiện trên tuyến điều tra ta ghikết quả vào mẫu biểu 01-b
Mẫu 01-b: PHIẾU ĐIỀU TRA THEO TUYẾN DẠNG BĂNG
(điều tra bò sát, ếch nhái và cây gỗ)Tên tuyến: Người điều tra: Ngày điều tra: Thời tiết: Thời gian bắt đầu: Thời gian kết thúc: Sinh cảnh Thời gian Tên loài Số lượng Mô tả cá thể loài
4 Giám sát bò sát- ếch nhái bằng bẫy hố.
- Trên tuyến cấp I ( tuyến dạng băng), ở mỗi dạng sinh cảnh chọn một vị trí để đàocác hố giám sát
- Đào hố sâu khoảng 60 – 70 cm, rộng 25 x 25 cm Sau đó buổi tối thắp đèn dưới
hố để cho con vật dễ bị sa bẫy Kiểm tra bẫy vào buổi tối và sáng sớm
- Phân tích bò sát-ếch nhái sa bẫy theo mẫu biểu 05
Mẫu 05: PHIẾU PHÂN TÍCH BÒ SÁT, ẾCH NHÁI SA BẪY
Tên tuyến: Tổng số bẫy hố:………Số Bò sát, Ếch nhái sa bẫy:……… Ngày phân tích Người phân tích: Tổng thời gian mở nắp bẫy: Thời tiết trong thời gian mở nắp bẫy:
Tìnhtrạngsinhsản
Kích thước (mm)
Ký hiệuđánhdấu
Lt Lchi sau Đầu Miệng
Trang 133.3 Phương pháp tiến hành xử lý dữ liệu
1 Biên tập các bản đồ chuyên đề (sinh cảnh, tuyến- điểm khảo sát, điểm ghi nhận các loài động vật) của Vườn quốc gia và khu vực khảo sát.
- Tham khảo bản đồ giấy (tỉ lệ 1: 25.000) và bản đồ số của Vườn quốc gia
- Lựa chọn lớp thông tin để biên tập các bản đồ chuyên đề (Scan trên giấy bóng mờ)
- Phóng to (giảm tỉ lệ) các bản đồ chuyên đề thể hiện khu vực khảo sát
2 Lập danh lục các nhóm sinh vật (thú, chim, Bò sát-Ếch nhái, thực vật) của Vườn quốc gia: theo mẫu biểu 08
- Căn cứ vào hệ thống phân loại trong bản danh lục của các nhóm sinh vật trêntoàn quốc Đối với nhóm bò sát-ếch nhái ta căn cứ vào hệ thống phân loại củaNguyễn Văn Sáng và cộng sự năm 2005
- Căn cứ vào 4 nguồn thông tin: Tham khảo tài liệu, Phỏng vấn, Phân tích mẫuvật, Khảo sát thực tế
- Căn cứ vào Sách Đỏ Việt Nam- 2007, Nghị định 32/2006-CP, Sách Đỏ thế giới,
và công ước CITES để xác định giá trị bảo tồn cho các loài trong khu vực nghiêncứu
Mẫu 08: DANH LỤC CÁC LOÀI BÒ SÁT - ẾCH NHÁI TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC
PHƯƠNG
TT Bộ- Họ- Loài Nguồn thông tin Tình trạng bảo tồn
Tên phổ thông Tên khoa học QS MV PV TL SĐVN NĐ32 SĐTG CITES
3 Thống kê sự phân bố của các quần thể loài theo sinh cảnh và tính các chỉ số đa dạng sinh học
Trên mỗi dạng sinh cảnh khác nhau ta tiến hành điều tra, quan sát để xác địnhthành phần và số lượng các cá thể xuất hiện trong mỗi sinh cảnh, từ đó thống kêđược sự phân bố của các loài theo các dạng sinh cảnh khác nhau
- Chỉ thống kê các loài quan sát thấy ngoài thực địa (điều tra theo tuyến- điểm,điều tra ô tiêu chuẩn và bẫy bắt) Kết quả điều tra được thống kê vao mẫu biểu 09
Trang 14Mẫu 09: SỰ PHÂN BỐ CỦA CÁC NHÓM SV THEO CÁC DẠNG SINH CẢNH
TT Tên loài Tổng số cá thể đã quan sát Các dạng sinh cảnh (số cá thể)
- Tính các chỉ số đa dạng
* Đa dạng về loài trong mỗi sinh cảnh ( tính chỉ số đa dạng Margalef - d)
Chỉ số đa dạng Margalef được sử dụng để đánh giá tính đa dạng loài trong mỗisinh cảnh do ông Margalef xây dựng năm 1958.Trong các dạng sinh cảnh khácnhau nếu sinh cảnh nào có chỉ số đa dạng d càng lớn thì chứng tỏ tính đa dạng vềloài của sinh cảnh ấy càng cao Như vậy chỉ số đa dạng Margalef có thể dùng để
so sánh tính đa dạng về loài giữa các sinh cảnh khác nhau trong khu vực Côngthức xác định được tính như sau:
+ Đa dạng alpha: là tổng số loài trong một sinh cảnh hay một quần xã
+ Đa dạng bêta: là mức độ dao động thành phần loài giữa các sinh cảnh hay quần
xã khi môi trường thay đổi
+ Đa dạng gamma: là tổng số loài tồn tại trong một quy mô địa lý
* Đa dạng về quần xã sinh vật trong mỗi sinh cảnh (tính chỉ số đa dạng D)
Simpson-Chỉ số đa dạng Simpson được sử dụng để xác định tính đa dạng về quần xã sinhvật trong mỗi sinh cảnh do ông Simpson xây dựng năm 1949 Với hai kiểu sinhcảnh khác nhau nếu sinh cảnh nào có chỉ số đa dạng D cao hơn thì sinh cảnh ấy cótính đa dạng về quần xã cao hơn và ngược lại Như vậy sử dụng chỉ số này ta có
N
S d
Trang 15thể so sánh được tính đa dạng về quần xã sinh vật giữa các sinh cảnh khác nhau.Công thức xác định chỉ số đa dạng Simpson được tính như sau:
Pi: Xác suất “vai trò”của loài i
S: T Tổng số loài trong sinh cảnh
Pi = ni/N
ni: Số lượng cá thể (hay sinh khối/đối với cây gỗ) của loài thứ i
N: Tổng số cá thể (hay sinh khối/đối với cây gỗ) của các loài trong sinh cảnh
N: Tổng số cá thể loài quan sát được
n: Số đơn vị (tuyến/điểm) điều traS: Diện tích mỗi đơn vị quan sát
10000
nS N
M
Trang 16PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
4.1 Đa dạng về thành phần loài bò sát - ếch nhái trong Vườn quốc gia Cúc Phương và khu vực nghiên cứu
Khi đề cập đến tính đa dạng sinh học thì ta có thể thấy rằng cấp độ đa dạng loài làquan trọng nhất, vì đa dạng về loài là yếu tố quyết định đến đa dạng gen cũng nhưảnh hưởng sâu sắc đến đa dạng hệ sinh thái
* Ở Vườn quốc gia
Căn cứ vào quá trình điều tra và tài liệu đã thu thập được ta thấy thành phần loài
bò sát - ếch nhái ở Vườn quốc gia Cúc Phương là 133 loài thuộc 23 họ của 4 bộ
và bộ phụ thuộc 2 lớp là lớp bò sát và lớp ếch nhái
Trong đó:
- Lớp bò sát có 3 bộ và bộ phụ là bộ rùa, bộ phụ rắn và bộ phụ thằn lằn với 17 họ
và 86 loài
- Lớp ếch nhái có 1 bộ là bộ không đuôi với 6 họ và 47 loài
(Danh lục các loài bò sát - ếch nhái vườn quốc gia được thể hiện ở phụ lục 1)
- Lớp bò sát ghi nhận được 7 loài của 5 họ trong 2 bộ và bộ phụ
- Lớp ếch nhái ghi nhận được 12 loài của 5 họ trong 1 bộ
(Danh lục các loài bò sát ếch nhái ở khu vực nghiên cứu thể hiện ở phụ lục 2)
Sau khi xây dựng được danh lục bò sát ếch nhái ở vườn quốc gia cũng như điều trađược các loài bò sát ếch nhái ở khu vực nghiên cứu, ta có thể so sánh được tỉ lệphân bố các loài bò sát ếch nhái tại khu vực nghiên cứu so với toàn bộ vườn quốcgia, cụ thể như sau:
Ta có bảng phân loại như sau:
Trang 17Tên bộ Họ Loài Ghi chú
- Đối với bộ không đuôi ở vườn quốc gia có 6 họ, thì ở khu vực nghiên cứu qua 2ngày điều tra đã xác nhận được 5 họ, chiếm tỉ lệ 83,33% Và số loài ở khu vựcnghiên cứu sau khi điều tra đã ghi nhận được 12 loài trên tổng số 47 loài của vườn,chiếm tỉ lệ 25,53%
- Đối với bộ phụ thằn lằn cũng điều tra được 4 họ trên tổng số 6 họ, chiếm 66,66%
và tìm được 6 loài trong số 27 loài có trong khu vực Vườn quốc gia, chiếm tỉ lệ22,22%
=> Như vậy có thể thấy rằng chỉ trong một thời gian điều tra rất ngắn mà
chúng em đã điều tra được khá nhiều loài bò sát - ếch nhái thuộc nhiều họ khác nhau Chứng tỏ ở khu vực nghiên cứu là hồ Mạc có tính đa dạng loài về bò sát ếch nhái là khá cao Điều đó cũng có nghĩa là sinh cảnh, điều kiện môi trường sống ở khu vực này rất phù hợp cho nhóm bò sát ếch nhái phát triển, đặc biệt là lớp ếch nhái (bộ không đuôi).
* Kết quả điều tra theo tuyến dạng băng
Đối với việc điều tra theo tuyến, nhóm em đã chia ra 2 tuyến điều tra đi qua cácdạng sinh cảnh khác nhau Tuyến 1 đi qua sinh cảnh rừng tự nhiên trên đất bồi tụ,
Trang 18ven theo bờ suối, với chiều dài là 1500m, chiều rộng 5m Tuyến 2 đi qua sinh cảnhrừng tự nhiên trên sườn núi đá vôi, chiều dài tuyến là 1500m, chiều rộng 5m Diệntích của mỗi tuyến điều tra là 7500m2.
Sau khi tiến hành điều tra thu được kết quả trên các tuyến theo biểu như sau:
PHIẾU ĐIỀU TRA THEO TUYẾN DẠNG BĂNG
Tên tuyến: Tuyến 1 Người điều tra: Bình, Hiền, Tuấn, Diệu, Trang, Sơn, Cường Ngày điều tra: 18/9/2010 Thời tiết: Trời nắng, nóng
Thời gian bắt đầu:.7h 30 Thời gian kết thúc: 10h
Sinh cảnh Thời gian Tên loài Số lượng Mô tả cá thể loài
Cỏ thấp 8h10 Xác rắn hổ mang 1 xác
Ven suối 9h07 Ếch cây mép trắng 1con
PHIẾU ĐIỀU TRA THEO TUYẾN DẠNG BĂNG
Tên tuyến: Tuyến 2 Người điều tra: Viên, Hưng, Trình, Toản, Hoa, V.Linh Ngày điều tra: 18/9/2010 Thời tiết: Trời nắng, nóng
Thời gian bắt đầu:.7h Thời gian kết thúc: 10h30
Sinh cảnh Thời gian Tên loài Số lượng Mô tả cá thể loài
Thung núi đá sáng Nhái bầu hây môn 2con
Trang 19
Theo kết quả điều tra theo 2 tuyến như trên ta thấy ở tuyến 2, thuộc sinh cảnhthung núi đá thì ta bắt gặp số loài cũng như số lượng cá thể nhiều hơn so với ởtuyến 1 Từ kết quả trên ta có thể ước lượng được mật độ quần thể ở hai tuyến nhưsau:
- Tuyến 1: diện tích điều tra là 7500m2; số lượng cá thể bắt gặp là 6 cá thể => ướclượng mật độ là 8 cá thể/ ha
Như vậy ta có thể thấy rằng ở tuyến 2 có mật độ số lượng ếch nhái bò sát cao hơn
so với tuyến 1 Chứng tỏ ở tuyến 2 đa dạng hơn
Tần số bắt gặp nhiều nhất là cóc nhà, đây là loài sống phổ biến ở khắp mọi nơi
* Ếch nhái, bò sát ở Cúc Phương không chỉ đa dạng về thành phần loài mà còn
đa dạng cả về số loài trong mỗi họ, cụ thể được đánh giá ở biểu sau:
Số loài trong mỗi họ
Trang 20Nhìn vào biểu trên ta thấy:
- Bộ có số họ nhiều nhất là bộ có vảy với 12 họ chiếm 52.17% trong tổng số
họ, và có 71 loài chiếm 53.38% trong tổng số loài trong danh lục
- Các họ có nhiều loài là:
+ Họ rắn nước : 30 loài chiếm 22.56% tổng số loài+ Họ ếch cây : 16 loài chiếm 12.03% tổng số loài+ Họ ếch nhái : 13 loài chiếm 9.77% tổng số loài+ Họ thằn lằn bóng : 10 loài chiếm 7.52% tổng số loài
- Các họ có số loài ít nhất là:
+ Họ rùa núi : 1 loài chiếm 0.75% tổng số loài+ Họ nhái bén : 1 loài chiếm 0.75% tổng số loài+ Họ thằn lằn giun : 1 loài chiếm 0.75% tổng số loài+ Họ thằn lằn chính thức : 1 loài chiếm 0.75% tổng số loài+ Họ kỳ đà : 1 loài chiếm 0.75% tổng số loài+ Họ rắn mống : 1 loài chiếm 0.75% tổng số loài+ Họ trăn : 1 loài chiếm 0.75% tổng số loài+ Rùa đầu to : 1 loài chiếm 0.75% tổng số loài+ Họ rùa hai đầu : 1 loài chiếm 0.75% tổng số loài
4.2 Đặc điểm phân bố số loài theo sinh cảnh
Trong quá trình điều tra nhóm bò sát ếch nhái chúng em đã chia ra 3 dạng sinhcảnh chính như sau:
Trang 21- Sinh cảnh 1: Rừng tự nhiên trên đất bồi tụ
- Sinh cảnh 2: Rừng tự nhiên trên sườn núi đá vôi
- Sinh cảnh 3: Khu định cư ở khu du lịch hồ Mạc
Kết quả điều tra được ghi ở bảng sau:
Bảng phân bố số loài theo sinh cảnh
TT Tên loài Tổng số cá thể Sinh cảnh1 Sinh cảnh2 Sinh cảnh3
Trang 22- Sinh cảnh 3 điều tra được 12 cá thể (chiếm 25,00%) thuộc 8 loài
4.3 Tính đa dạng sinh học theo các dạng sinh cảnh
Theo kết quả điều tra ở 3 dạng sinh cảnh chính như trên, dựa vào công thức tínhchỉ số đa dạng sinh học của Simpson và Margalef ta tính được chỉ số đa dạng ở cácsinh cảnh như sau:
Dạng sinh cảnh Chỉ số Simpson - D Chỉ số Margalef - d
* Đa dạng loài (d): Theo kết quả trên cho thấy ở sinh cảnh 2 là sinh cảnh có tính
đa dạng loài cao nhất, chứng tỏ sự phân bố loài ở sinh cảnh 2 là phong phú và đadạng nhất, tiếp đó là đến sinh cảnh 1, rồi sinh cảnh 3 Như vậy ta có thể thấy sinhcảnh 2 là sinh cảnh có điều kiện tự nhiên phù hợp nhất cho các loài bò sát - ếchnhái sinh trưởng sinh sản và phát triển
* Mô tả quy mô đa dạng loài:
- Đa dạng alpha: ở sinh cảnh 1 là 9, sinh cảnh 2 là 12 và ở sinh cảnh 3 là 8 Nhưvậy ở sinh cảnh 2 có tổng số loài là nhiều nhất
- Đa dạng bêta: so sánh giữa sinh cảnh 1 và sinh cảnh 2 là 9, giữa sinh cảnh 2 vàsinh cảnh 3 là 14 và giữa sinh cảnh 1 và sinh cảnh 3 là 11
- Đa dạng gamma: ta thấy tổng số loài điều tra được ở cả 3 dạng sinh cảnh là 19loài
* Đa dạng về quần xã sinh vật trong mỗi sinh cảnh (D):
Theo kết quả ở bảng trên cho thấy mức độ đa dạng về quần xã sinh vật ở sinh cảnh
2 cũng là cao nhất Chúng tỏ sinh cảnh 2 có tính đa dạng cao nhất trong các sinhcảnh điều tra
=> Như vậy theo kết quả tính toán các chỉ số đa dạng cũng như quy mô về đa dạng loài ta có thể kết luận rằng mức độ đa dạng về bò sát ếch nhái ở sinh cảnh
Trang 23rừng tự nhiên trên sườn núi đá vôi là cao nhất, tiếp theo là sinh cảnh rừng tự nhiên trên đất bồi tụ và sinh cảnh khu định cư ở hồ Mạc có mức độ đa dạng thấp nhất.
Sở dĩ như vậy là vì ta biết rằng điều kiện môi trường sống, đặc biệt là yếu tố nhiệt
độ, độ ẩm, thảm thực vật… có ảnh hưởng quyết định đến sự phân bố của các loài động vật nói chung và nhóm bò sát ếch nhái nói riêng, khu vực nào có điều kiện thích hợp nhất cho các loài đương nhiên khu vực đó sẽ tập trung nhiều loài sinh sống cũng như số lượng cá thể của từng loài cũng cao hơn so với các khu vực khác
Ở sinh cảnh 2, đây là khu vực có hệ thực vật phát triển ổn định, lớp thảm thực vật khá dày, độ ẩm thông thường sẽ cao hơn các khu vực khác, nhiệt độ sẽ thấp hơn
về mùa hè và cao hơn về mùa đông so với các khu vực khác vì có sự che chắn của tầng cây cao và thảm thực vật phát triển Vì vậy khu vực này rất thích hợp cho nhóm bò sát - ếch nhái sinh sống cũng như sinh trưởng phát triển.
Sinh cảnh 1 là khu vực có hệ thực vật khá phong phú, tuy nhiên thảm thực vật không dày, không ổn định do khu vực này thấp nên về mùa mưa hay thậm chí chỉ cần có những trận mưa tương đối lớn thì lượng nước sẽ đổ dồn về đây, tạo ra khá nhiều khe suối nhỏ và sau đó mấy ngày nước lại rút đi nhanh chóng Vì vạy ở đay chỉ thích hợp cho một số loài ếch nhái sinh sống như ếch cây mép trắng, hiu hiu… Sinh cảnh 3 là khu vực có lượng người ra vào, sinh hoạt rất đông và thường xuyên, thảm thực vật không có nên nhiệt độ, độ ẩm không giống như trong rừng, vì vậy không phù hợp với điều kiện sống của nhóm bò sát ếch nhái Chỉ có một số loài có bản tính mạnh dạn như cóc nhà, hay nhanh nhẹn như các loài thạch sùng, thằn lằn mới hoạt động tập trung ở đây.
Trên đây là một số nguyên nhân dẫn đến sự phân bố các loài cũng như số lượng các cá thể trong loài phân bố không đồng đều giữa các dạng sinh cảnh trong khu vực điều tra nghiên cứu.
4.4 Đa dạng về mức độ quý hiếm (giá trị bảo tồn của các loài trong Vườn quốc gia Cúc Phương).
Trang 24Bò sát, Ếch nhái không những đa dạng về thành phần loài, dạng sống, giá trị
sử dụng mà nó còn đa dạng cả về mức độ quý hiếm Sau khi thu thập tài liệu có liên quan dựa vào sách đỏ Việt Nam, Nghị định 32/CP Sách đỏ thế giới, công ước CITES cùng với danh lục Bò sát, Ếch nhái Vườn quốc gia Cúc Phương chúng em đã thống kê được số loài Bò sát, Ếch nhái đang ở các cấp độ đe doạ khác nhau như sau Kết quả thể hiện ở biểu sau:
2 Rồng đất Physigthus concincinus VU IIB
4 Rắn sọc đốm đỏ Elapheporphyraceae
nigrofasciata
10 Rắn cạp nong Bungarus fasciatus EN IIB
11 Rắn cạp nia bắc Bungarus multicinctus IIB
18 Rùa núi vàng Indotestudo elongata EN IIB EN II
Trang 2524 Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale EN DD
Có 16 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam chiếm 13.11% tổng số loài trong đó:
- Cấp VU có 4 loài chiếm 3.28 % tổng số loài
- Cấp EN có 9 loài chiếm 7.38% tổng số loài
- Cấp CR có 3 loài chiếm 2.46% tổn số loài
Có 13 loài nằm trong công ước CITES chiếm 10.66% tổng số loài, trong đó:
- Phụ lục I có 1 loài chiếm 0.82% tổng số loài
- Phụ lục II có 8 loài chiếm 6.56% tổng số loài
- Phụ lục III có 4 loài chiếm 3.28% tổng số loài
Có 8 loài trong sách đỏ thế giới, chủ yếu là cấp EN, các loài có trong sách đỏ thếgiới chủ yếu thuộc bộ rùa (7 loài)
Có 11 loài nằm trong nghị định 32/2006 của chính phủ
4.5 Đa dạng về giá trị sử dụng
Cũng như các tài nguyên động vật rừng khác, Bò sát, Ếch nhái là nhóm có giá trịnhiều mặt: Cung cấp thực phẩm, nguồn dựoc liệu quý, là tác nhân bảo vệ môitrường, một số loài có giá trị bảo tồn nguồn gen và là đối tượng nghiên cứu khoa
học Ếch nhái được coi là vật chỉ thị môi trường vì nòng nọc của chúng chỉ phát
triển được ở môi trường không hoặc ít bị ô nhiễm Ếch nhái cũng là mắt xích quantrọng trong chuỗi thức ăn tự nhiên, đảm bảo sự cân bằng sinh thái
- Đối với con người, ếch nhái được sử dụng cho nhiều mục đích: tôn giáo, làmthực phẩm, vật nuôi làm cảnh và làm dược liệu Ở Việt Nam một loài ếch nháiđược nuôi để lấy thịt (ếch đồng, ngoé), làm cảnh (cá cóc, ếch cây) và làm dượcliệu (cóc, cá cóc)
- Nhóm có giá trị thực phẩm gồm các loài như Ngóe (Limnonectes limnocharis),Ếch đồng (Hoplobatrachus rugulosus), Cóc nhà (Bufo melanostistus), Rắn cạp nianam (Bungarus candidus), Rắn cạp long (Bungarus fasciatus) ….